Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Kinh Điển


 

 

Nhà xuất bản Tôn Giáo Hà Nội

PL: 2550 - DL: 2006

 

ĐẠI BI CHÚ GIẢNG GIẢI

Hoà Thượng Tuyên Hóa

MỤC LỤC

Tám quy luật phiên dịch Kinh điển Phật học

Hành trạng của HT. Thích Tuyên Hóa

Xem Kinh với lòng thành

Nguyên văn chú Đại Bi

Kệ tụng của HT. Thích Tuyên Hóa

Giảng giải chú Đại Bi (Cú giải)

 

TÁM QUY LUẬT CỦA NGƯỜI PHIÊN DỊCH KINH ĐIỂN PHẬT HỌC

1. Người dịch phải tự thoát mình ra khỏi động cơ truy tìm danh lợi.

2. Người dịch phải tu dưỡng thân tâm, dứt bỏ thói cao ngạo.

3. Người dịch phải tự chế, không được tự khen ngợi mình, chê bai người khác.

4. Người dịch không được tự cho mình là tiêu chuẩn, là thước đo, rồi hạ thấp người khác bằng cách tìm lỗi nơi tác phẩm của họ.

5. Người dịch phải lấy tâm Phật làm tâm mình.

6. Người dịch phải dùng Trạch Pháp Nhãn để phán xét đâu là chân lý.

7. Người dịch phải cung kính cầu thỉnh Cao Tăng Đại Đức mười phương chứng minh cho bản dịch.

8. Người dịch phải hoan hỷ truyền bá giáo nghĩa Phật học bằng cách in Kinh, Luật, Luận khi việc phiên dịch của mình được công nhận là chính xác.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

Kệ Khai Kinh

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp

Bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ.

Ngã kim kiếu văn đắc thọ trì

Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa

Phật pháo rộng sâu rất nhiệm mầu

Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu.

Con nay nghe thấy chuyên trì tụng

Nguyện rõ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.

 

HÀNH TRẠNG CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA

SHI HENG TUNG

• THỜI THƠ ẤU:

Vào ngày 17 tháng 03 năm Mậu Ngọ (1918), Hòa Thượng Tuyên Hóa sinh ra trong một gia đình họ Bạch, tại một ngôi làng nhỏ thuộc huyện Song Thành, tỉnh Cát Lâm, Đông Bắc Trung Hoa.

Ngay khi vừa sinh ra, Ngài khó suốt ba ngày, thương cho chúng sinh trong cõi Ta bà quá nhiều khổ lụy. Năm 11 tuổi, nhân thấy một em bé chết giữa vùng sa mạc hoang vu, Ngài có phần thức tỉnh, muốn rời bỏ cuộc sống gia đình, tu đạo để giải quyết vấn đề sinh tử lớn lao.

Năm lên 12 tuổi, Ngài bắt đầu sám hối tất cả mọi lỗi lầm của mình với hai đấng sinh thành, dự tính một lòng báo đáp hiếu đạo. Ngài lạy cha mẹ mình hằng ngày. Sau đó, Ngài cảm thấy lạy cha mẹ mình chưa đủ, Ngài lạy Trời Đất, Quốc vương, Sư trưởng. Ngài vẫn thấy chưa đủ. Vì thế, dần dần Ngài lạy đến cả mọi loài chúng sanh. Ngài lạy sáng và chiều, lỗi lần hơn 380 lạy, 5 thời mỗi ngày. Ngài lạy đến cả gió, mưa, tuyết, mong rằng qua cái lạy sẽ chuyển hóa được người xấu thành người tốt; hy vọng cái lạy sẽ đem bình an đến cho thế giới tao loạn này.

Năm 15 tuổi, Ngài quy y với Lão Hòa Thượng Thường Trí ở chùa Tam Duyên. Chính thức là Phật tử đã quy y Tam Bảo.. Ngài thân cận Hòa Thượng Thường Nhân. Đến năm 17 tuổi, Ngài chỉ đến trường học hai năm rưỡi. Do Ngài đạt được tâm chuyên nhất nên đọc qua một lần liền thuộc. Nhờ vậy, Ngài thông thạo Tứ Thư, Ngũ Kinh, Bách gia Chư Tử, Y học, Bốc phệ, Chiêm tinh, Vật lý, và các lĩnh vực học thuật khác của thế gian.

Vào năm 16 tuổi, Ngài đã bắt đầu giảng Kinh Pháp Bảo Đàn, Kinh Kim Cang, Kinh A Di Đà, và giảng giải Phật Pháp cho những người không biết chữ nghe.

Năm 18 tuổi, mẹ Ngài lâm bệnh. Ngài bỏ học ở nhà chăm sóc. Vì Ngài đã biết rõ khó khăn do không được học hành chu đáo, nên Ngài thành lập một lớp học miễn phí, dạy cho hơn 30 trẻ em nghèo, từ sáng đến tối không nghỉ.

Trong những năm đi học, Ngài còn tham gia nhiều hội đoàn từ thiện, như Hội Phật Học, Hội Đạo Đức, Hội Từ Thiện, Hội khuyến khích bỏ uống rượu, bỏ hút thuốc; khuyến khích từ bỏ những thói xấu, làm việc thiện. Ngài tu tập hạnh Bồ tát, nguyện cứu độ tất cả mọi loài.

* XUẤT GIA:

Năm 19 tuổi, mẹ Ngài, Hồ Thái qua đời. Ngày 08 tháng 04 ngày Đức Phật Đản sanh, Ngài đảnh lễ Lão Hòa thượng Trí Nhân ở chùa Tam Duyên, xin thế phát xuất gia. Được Lão Hòa thượng truyền giới Sa di, pháp danh là An Từ, pháp tự là Độ Luận. Ngài xin được y chỉ với Lão Hòa thượng Thường Nhân, trụ trì chùa Tam Duyên. Khi được Lão Hòa thượng Hư Vân truyền pháp, Ngài được ban pháp hiệu là Tuyên Hóa.

Trong suốt ba năm xuất gia, Ngài sống trong một túp ều đơn giản bên cạnh mộ mẹ Ngài. Người đời gọi Ngài là Bạch Hiếu Tử (người con hiếu họ Bạch).

Vào ngày 19 tháng 06, kỷ niệm khánh đản Bồ tát Quán Thế Âm, Ngài phát 18 lời nguyện lớn trước Chư Phật. Cuộc đời của Ngài là sự thực hành sống động 18 lời nguyện lớn này.

“Cúi đầu đảnh lễ Chư Phật mười phương cùng Tam Tạng Pháp quá khứ, hiện tại, vị lai cùng các Hiền Thánh Tăng, duy nguyện rủ lòng chứng minh cho đệ tử pháp danh Thích An Từ, tự Độ Luận, con nay phát tâm không vì tự mình cầu phước báo cõi Trời, Người, Thanh văn, Duyên giác cho đến các quả vị Bồ tát quyền thừa, chỉ y theo tối thượng thừa phát tâm Bồ đề. Con nguyện cùng chúng sinh trong cả pháp giới cùng lúc đều đạt được quả vị Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác.

1. Con nguyện vì hết thảy chư vị Bồ tát trong cùng tận hư không, khắp pháp giới, trong cả ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai, nếu như còn một vị nào chưa thành tựu quả vị Phật, thì con chưa thành Chánh giác.

2. Con nguyện vì hết thảy các vị Duyên giác trong cùng tận hư không, khắp pháp giới, trong cả ba đời, nếu như còn một vị nào chưa thành tựu quả vị Phật, thì con chưa thành Chánh giác.

3. Con nguyện vì hết thảy các vị Thanh văn trong cùng tận hư không, khắp pháp giới, trong cả ba đời, nếu như còn một vị nào chưa thành tựu quả vị Phật, thì con chưa thành Chánh giác.

4. Con nguyện vì hết thảy các loài ở cõi Trời trong tam giới, nếu như còn một vị nào chưa thành tựu quả vị Phật, thì con chưa thành Chánh giác.

5. Con nguyện cho hết thảy loài người, trong mười phương thế giới, nếu như còn một người nào chưa thành tựu quả vị Phật, thì con chưa thành Chánh giác.

6. Con nguyện cho loài người, loài Trời, hết thảy loài A tu la, nếu như còn một vị nào chưa thành tựu quả vị Phật, thì con chưa thành Chánh giác.

7. Con nguyện cho hết thảy các loài súc sanh, nếu như còn một vị nào chưa thành tựu quả vị Phật, thì con chưa thành Chánh giác.

8. Con nguyện cho hết thảy các loài Ngạ quỷ, nếu như còn một vị nào chưa thành tựu quả vị Phật, thì con chưa thành Chánh giác.

9. Con nguyện cho hết thảy chúng sanh trong địa ngục, nếu như còn một vị nào chưa thành tựu quả vị Phật, thì con chưa thành Chánh giác.

10. Con nguyện cho tất cả các loài Trời, Người, A tu la, các loài côn trùng, cho đến các linh giới như Rồng, Quỷ thần … đã từng quy y với con, nếu như còn một vị nào chưa thành tựu quả vị Phật, thì con chưa thành Chánh giác.

11. Con nguyện đem hết tất cả những phước lạc mà con đáng được hưởng, xin hồi hướng, bố thí, cúng dường cho hết thảy chúng sanh.

12. Con nguyện chọu thay hoàn toàn mọi khổ nạn chu chúng sanh trong pháp giới này.

13. Con nguyện phân thân vô số lượng để chuyển hóa hết thảy chúng sanh chưa có lòng tin với Phật Pháp, khiến họ bỏ việc ác làm việc lành, sám hối mọi tội chướng, quy y Tam Bảo, rốt ráo thành Phật.

14. Con nguyện cho hết thảy chúng sanh, khi được thấy mặt con, được nghe đến tên con, đều phát tâm Bồ đề, chóng thành Phật đạo.

15. Con nguyện hết lòng tôn kính giới luật đức Thế Tôn đã chế. Nguyện thực hành ăn một ngày một bữa vào lúc giữa trưa.

16. Con nguyện giác ngộ cho hết thảy chúng sanh hữu tình, nhiếp độ hết thảy mọi căn cơ.

17. Con nguyện tu tập để ngay đời này được ngũ nhãn ,lục thông, đến đi tự tại.

18. Con nguyện cho hết thảy những điều đã phát nguyện đều được viên mãn.

Cuối cùng:

Chúng sanh không ngằn mé, thệ nguyện độ hết thảy.

Phiền não không cùng tận, thệ nguyện đều dứt sạch.

Pháp môn không số lượng, thệ nguyện đều tu học.

Phật đạo không gì sánh bằng, thệ nguyện được viên thành.

* TRỊ TÂM BỆNH:

Hòa thượng Tuyên Hóa ngay từ thơ ấu đã có lòng nghĩa hiệp và lòng trắc ẩn. Ngài không chịu nỗi khi thấy người khác bị khổ. Vì vậy, Ngài nguyện chịu thay mọi khổ nạn cho chúng sanh. Ngài đã cứu chữa cho vô số người bị những chứng bệnh ngặt nghèo và quái dị. Những bệnh không còn phương cứu chữa, như bệnh ôn dịch, bệnh ma ám, bệnh do nghiệp chướng …

Hòa thượng nói: “Đây chẳng phải là do tôi có một năng lực gì đặc biệt hay thần thông diệu dụng gì cả. Đây là sức gia bị của Chư Phật và Chư Bồ tát. Khi tâm nguyện chí thành, sẽ nhận được sự cảm ứng của Chư Phật, Chư Bồ tát”.

Trong khi dùng lực gia trì để chữa bệnh cho mọi người, Ngài đều giải thích cho họ hiểu ý nghĩa chủ yếu của lực gia trì: “Các con không nên chỉ biết tìm kiếm sự gia bị ở bên ngoài, mà trước hết hãy tự mình gia bị cho chính mình, rồi mới có thể gia bị cho hết thảy mọi người. Đó là ý nghĩa chân chính của việc gia bị”.

Tại sao ta không có được sự cảm ứng khi tụng kinh, trì chú, niệm Phật? Vì chúng ta không thành thực, chúng ta đã nói dối. Chú là chân ngôn. Nếu mọi người không vọng ngữ thì mọi lời nói của họ đều có công hiệu. Nếu họ gọi Trời, Trời liền cảm ứng, gọi đất, đất liền linh hiển. Hòa thượng nói:

“Tôi là một người không có khiếu nói năng, vì tôi chỉ biết nói những điều chân thực và nói những điều mà mọi người muốn nghe, đặc biệt là trong việc phá trừ mê tín. Tôi chẳng ngại bị đắc tội với người. Nếu có điều gì cần phải nói, tôi sẽ nói ở bất cứ nơi đâu mà tôi đến. Nếu có điều gì không cần phải nói, tôi sẽ không nói. Đơn giản chỉ vì khi ta không vọng ngữ thì mọi chữ, mọi lời ta nói lên đều có một năng lực vô biên, có thể chữa lành những căn bệnh hiểm nghèo cho chúng sanh hữu tình cũng như vô tình. Như cơn bão lẽ ra sẽ đến, nó có thể chuyển sang hướng khác. Một trận động đất lớn giả sử sẽ xảy ra, nó sẽ được ngăn chặn. Nơi bị hạn hán, nước sẽ xuất hiện. Nơi không có mưa, sẽ có mưa. Chiến tranh và tai ương sẽ được dập tắt. Những điều xấu đang hiện hữu sẽ được làm cho biến mất, và những điều lành chưa hiện hữu sẽ được làm cho phát hiện. Bởi vì khi tâm ta chân thành đến cực điểm, sự cảm ứng tự nhiên sẽ dung thông, đáp ứng ngay tâm nguyện của mọi người. Chân lý ở nơi đâu thì nơi đó sẽ có hết thảy các loài Rồng, Chư Thiên và các thiên thần đến để hộ trì. Chân lý ở nơi đâu thì tất cả Chư Phật, Chư Bồ tát sẽ đến nơi đó để hộ trì”.

* HOẰNG TRUYỀN CHÁNH PHÁP

Vào năm 1948, Hòa thượng sang Hồng Kông để truyền bá chánh pháp. Vào năm 1962, Ngài nhận lời cầu thỉnh sang Hoa Kỳ, nơi Ngài phát nguyện lớn hoằng truyền Phật pháp, dịch Kinh và giáo dục. Ngài còn dựng lập đạo tràng, nhận đệ tử, lập tông chỉ, đặt nền móng cơ bản cho việc truyền bá Phật pháp ở Tây phương. Hòa thượng thường nói:

“Tôi có thể không ăn một ngày, nhưng không thể bỏ phí một ngày mà không giảng giải Phật pháp”. – “Chỉ cần còn một chút hơi thở, là tôi còn giảng pháp”. – “Tôi sẽ giảng pháp, dù cho nhiều người, hoặc chỉ có ít người nghe. Dù chỉ có một người đến, tôi vẫn giảng. Dù chẳng có người nào đến, tôi cũng giảng cho quỷ thần nghe”.

Công hạnh một đời của Hòa thượng là nói và làm, tương ứng nhau khắp mọi nơi, vào mọi lúc. Đó là biểu hiện chân thật nhất của giáo pháp mà Ngài đã truyền bá.

* THÂN THUYẾT PHÁP

Ngài đã sống bên cạnh mộ của mẹ Ngài suốt ba năm. Đối với cha mẹ, Ngài là người con chí hiếu. Suốt đời, Ngài luôn kính trọng những người lớn tuổi, yêu mến trẻ thơ, và hết lòng thương xót các loài chúng sanh. Thấy nước Trung Hoa gặp nhiều tai ương trong chiến tranh, Ngài không từ bỏ nghĩa vụ công dân của một người Trung Hoa. Suốt trong thời gian hơn 30 năm ở nước Mỹ, Ngài tự nguyện làm việc vì lợi ích của nước Mỹ, trong khi Ngài vẫn kiên quyết giữ quốc tịch Trung hoa. Ngài hoàn toàn trung thành với cả hai quốc gia.

Ngài rất đơn giản trong việc sử dụng áo quần, thực phẩm, mọi đồ dùng riêng … để tiết kiệm nguồn năng lượng cho toàn thế giới. Ngài dùng một đôi giày suốt hơn 30 năm. Ngày chẳng có nhiều quần áo. Khi ăn cơm, nếu có một hạt cơm rơi xuống nền nhà, Ngài liền nhặt lên ăn. Khi uống nước, Ngài uống cạn sạch ly. Ngài dùng những thực phẩm đơn giản nhất, chỉ luộc chín, chẳng cần dầu và muối. Những của phước lạc riêng Ngài, Ngài đều xin hồi hướng bố thí cho tất cả chúng sanh. Ngài chẳng có riêng tài sản gì, vì Ngài đã cúng dường cho những quỹ từ thiện.

Không bao giờ theo hình thức bên ngoài. Ngài luôn hạ mình thấp nhất và sau hết mọi người. Ngài đã bắt đầu tu tập pháp lễ lạy khi Ngài còn 12 tuổi. Ngài lạy hết thảy mọi người suốt ngày không mệt. Sau khi đến Mỹ, Ngài còn lạy các đệ tử của Ngài. Ngài lạy cho đến khi các vị đệ tử chịu giảng dạy Phật pháp. Ngài lạy cho đến khi một số đệ tử phát nguyện thực hiện một cuộc hành hương với ba bước một lạy. Ngài lạy cho đến khi đệ tử Ngài chịu lạy những kẻ đã phỉ báng chính Ngài. Bất cứ khi đi đâu, Ngài đều nhường đệ tử mình đi trước. Ngài muốn đi sau rốt mọi người. Khi giảng pháp, Ngài để cho đệ tử giảng trước và Ngài là người giảng sau cùng. Ngài còn là người nguyện cho các đệ tử thành tựu Phật đạo trước mình. Ngài nguyện mình là người cuối cùng trong pháp giới thành tựu Chánh giác.

Dung mạo, oai nghi của Ngài rất hoàn chỉnh. Trong vẻ trang nghiêm đượm tính từ hòa. Đôi mắt luôn nhìn xuống, hai tay luôn luôn chấp lại ngang ngực. Nụ cười thường tỏa rạng trên môi. Trông dáng dấp Ngài rất oai nghiêm. Khi có người tiếp xúc với Ngài, Ngài luôn nhã nhặn và từ ái.

Ngài không bao giờ muốn làm phiền đến người khác. Ngài tự giặt giũ quần áo, tự mang hành lý. Ngài không muốn ai phục vụ cho Ngài, ngay cả khi bệnh nặng phải chống gậy mà đi. Ngay cả vào những năm cuối đời, khi Ngài phải dùng xe lăn, Ngài vẫn nài nỉ được tự mình mang túi xách trên vai hoặc ôm trong lòng khi Ngài di chuyển bằng máy bay từ Đạo tràng này sang Đạo tràng khác để giảng pháp trong tình trạng sức khỏe rất yếu. Ngài bảo: “Tôi muốn được đứng bằng đôi chân của tôi và sử dụng chính sức lực của mình. Tôi không muốn phụ thuộc vào ai cả”.

Ngài ở trong thiền định suốt cả ngày đêm. Công việc đến, Ngài liền ứng xử, giải quyết kịp thời và nhanh chóng. Xong việc, trở lại sự thanh thản thường xuyên. Ngài xử lý vô số việc trong ngày một cách tự nhiên, thoải mái. Ngài nói: “Tôi chẳng tụng Kinhm chẳng trì chú. Điều đơn giản là tôi không khởi vọng tưởng”. Ngài làm việc trong trạng thái nhất tâm. Ngài tức khắc nhận ra và nhắc nhở sửa lại những lầm lẫn của thông dịch viên khi chuyển lời Ngài sang tiếng Anh. Ngài không bao giờ bỏ quên vật gì, Ngài nhớ hết thảy tên, hoàn cảnh gia đình, tính tình, tập khí của mọi đệ tử mà không ba giờ lẫn lộn. Thậm chí Ngài còn nhớ chính xác Ngài đã đi bao nhiêu bước chân quy định trong ngày.

Trong suốt bao nhiêu năm Ngài truyền bá Chánh pháp ở Mỹ, người ta gọi Ngài là Đệ nhất Cao tăng trên thế giới, là Thượng nhân. Trường Cao Đẳng Tế Minh ở Sơn Đông, Trung Hoa muốn đổi tên trường thành Trường Cao Đẳng Tuyên Hóa. Có vị giáo thọ đề xướng thành lập “Pháp Giới Diệu Giác Sơn Nguyên Cứu Hội” để học tập công hạnh Ngài. Ngài bảo: “Đừng học theo tôi. Tôi chẳng có gì xứng đáng để học theo cả. Các bạn nên nghiên cứu học hỏi ở mọi người dân, đàn ông, phụ nữ, người xuất gia, giới cư sĩ, người già lão, trẻ em, người hiền lương, kẻ tai ác … hãy ghi nhận toàn bộ đời sống của họ, vì trong tương lai, nhờ những sự kiện này mà các bạn có thể giáo hóa, giúp đỡ cho mọi người. Đạo hạnh của tôi chưa đủ để cảm động đến Trời. Đức độ của tôi chưa dủ để chuyển hóa người. Người đời thích gán cho tôi những cái tên mà tôi không muốn. Tôi chẳng phải là cao Tăng cũng chẳng phải là Thượng Nhân. Tôi chỉ là một người bình thường, thích đặt mình dưới những người khác. Tôi tự gọi mình là “Xác chết biết đi”, “Thầy tu ở gò mả”, “Con kiến bé”, “Con muỗi nhỏ”, … Tôi thích đi sau tất cả mọi người. Mọi danh xưng đều chỉ là hư giả, không thật. Danh xưng chỉ tồn tại khi nó xứng hợp với mọi người, với mọi thời gian, mọi nơi chốn. Cái tên chẳng đáng tí nào cả, thế mà nhiều người chấp trước vào danh xưng mà nhọc thân, nhọc xác. Khi tôi còn sống cũng như sau khi chết, tôi không muốn mọi người chú ý đến tên tôi hay xây tháp kỷ niệm tôi. Tôi chẳng muốn lưu lại dấu vết gì cả. Tôi đến từ hư không, tôi trở về lại với hư không”.

* GIẢNG PHÁP BẰNG LỜI

Tại các đạo tràng chi nhánh của Hội Phật Giáo Pháp Giới, đều có những khóa giảng Kinh để giúp mọi người nhận ra chân lý. Do vậy, mỗi Đạo tràng đều có chương trình giảng Kinh hàng ngày. “Nước sông hằng luân lưu mỗi ngày thì dòng pháp ở vạn Phật Thành cũng sẽ được giảng nói suốt ngày đêm”. Có một thời gian Hòa thượng dùng phương pháp gọi là “Pháp Quán Chiếu để phát khởi trí tuệ vốn có”. Để hướng dẫn cho tứ chúng đồng tu. Phật tử có thể đến đây để thăm hỏi Phật pháp, để tập diễn giảng và thi diễn giảng. Hòa thượng thường xuyên mở lớp “Vấn đáp song đối” để giúp cho đệ tử tự khai mở trí tuệ bản hữu.

Tuỳ theo nhân duyên, Hòa thượng thường chọn các đề tài thích hợp để giảng nói cho người đang muốn nghe. Đối với tầng lớp bình dân, Ngài giảng về việc làm tròn bổn phận, nghĩa vụ cơ bản của mình. Đối với sinh viên, học sinh Ngài giảng về hiếu hạnh, trung tín, lễ nghĩa, liêm sỉ, ý thức về bản thân, yêu mến gia đình và nghĩa vụ đối với Tổ quốc. Đối với các vị giáo thọ, các vị hiệu trưởng, Ngài giảng về pháp môn giáo dục và thiên chức của giáo dục. Đối với giới chính trị gia, Ngài nói về đạo đức, liêm khiết và lòng thương yêu dân như con đẻ của chính mình.

Khi nhận lời mời giảng pháp, hòa thượng không bao giờ ước mong được mọi người biết tiếng. Bởi vì Hòa thượng chỉ muốn hoằng pháp giáo huấn để đào tạo con người. Ngài không bao giờ chỉ đi xa để giảng pháp. Hơn thế nữa, Ngài luôn luôn đưa các đệ tử theo để học hỏi những điều hay lạ ở xứ người. Chương trình hàng ngày của đoàn tham quan này rất nhiều chi tiết. Ngoài hai thời công phu sáng tối như thường lệ và lễ quá đường vào buổi trưa, còn có các thời lễ sám, tụng Kinh, nghe khai thị, dự lễ truyền Tam Quy, Ngũ giới cho Phật tử, dự các Pháp Hội Đại Bi, Pháp Hội Thủ Lăng Nghiêm … hoặc tiếp xúc với Phật tử. Không để một phút giây nào lãng phí. Hòa thượng nói: “Chúng tôi chẳng phải là đoàn tham quan du lịch, cũng chẳng phải là đoàn hoằng pháp. Chúng tôi đơn giản chỉ là đoàn người đi học hỏi. Chúng tôi chưa thông thạo nhiều vấn đề, và chúng tôi chưa đủ khả năng để làm việc hoằng pháp. Chúng tôi rất hoan hỉ được theo sau mọi người, mong được học hỏi các vị Đại đức, Trưởng lão ở khắp mọi nơi”

* KIẾN LẬP ĐẠO TRÀNG

Hòa thượng từ Trung hoa đến Hồng Kông rồi từ Hồng Kông sang Hoa Kỳ. Ngài phát nguyện: “Đào tạo người, không dựng chùa”. Ngài chủ yếu là đào tạo những vị Tổ sống, những vị A la hán sống, những Bồ tát sống và những đức Phật sống. Do vậy, trải qua rất nhiều điều kiện khó khăn, Ngài sửa chữa, trùng tu lại những cơ sở có sẵn làm Đạo tràng để giảng dạy giáo pháp kịp thời cho Phật tử. Ngài chủ trương hạ thủ công phu ngay tại những Đạo tràng vô hình tướng. Các Đạo tràng chi nhánh thuộc Hội Phật Giáo Pháp Giới ở khắp nơi bên ngoài có vẻ không giống với các tự viện truyền thống của Trung Hoa, nhưng người ta có thể nhận ra bên trong là cõi Tịnh độ, một khi họ đã đến đó và thực sự phát tâm tu hành.

Ngài còn có ước nguyện: “Từ chùa nhỏ, xây dựng nên chùa lớn”, và kiến lập những Đại đạo tràng công cộng. Mỗi khi dựng lập xong một Đạo tràng, Ngài lại cúng dường cho người khác. Ngài đã từng cúng dười hai Đại đạo tràng là Vạn Phật Thánh Thành và Pháp Giới Thánh Thành, cũng như những tự viện chi nhánh thuộc Hội Phật Giáo Pháp Giới. Ngài cúng dường cho tất cả mọi chúng sanh trên thế giới. Ngài đón nhận tất cả mọi người đến để tu học, không phân biệt quốc tịch, nòi giống, tuổi tác, địa phương … không kể thân sơ, bất luận họ thuộc truyền thống Phật giáo Bắc truyền hay Nam truyền, Ngài đều có ước nguyện hộ trì, cũng như bất cứ người nào đến Đạo tràng chân thật tu hành. Hòa thượng nói: “Chúng ta không phải là những người biến chùa thành nhà riêng. Mọi người từ mười phương đều có thể đến Đạo tràng này. Ở đây luôn chờ đợi một vị đạo cao đức trọng để làm Trụ trì. Tôi chỉ là người trông coi tạm thời. Chẳng có một Đạo tràng nào riêng thuộc về tôi cả”.

Ngài còn nói: “Phật Giáo là giáo lý về con người, giáo lý về tâm, giáo lý về chúng sanh và giáo lý về toàn thể pháp giới. Phật Giáo không phải là một pháp môn riêng biệt nào cả. Tôi cũng chẳng thuộc về một giáo phái nào cả. Thiên chúa giáo, Do thái giáo, Hồi giáo và tất cả tôn giáo khác đều có trong Phật giáo cả. Chúng ta luôn luôn chào đón mọi giáo phái khác đến Vạn Phật Thánh Thành để cử hành những nghi lễ của họ. Mọi tín đồ của mọi tôn giáo khác đều nên thực tập hạnh nguyện từ bi. Đó là nền tảng của mọi tôn giáo để cứu độ toàn thế giới. Mọi người nên giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau bắt tay làm việc để thiết lập nền tảng ban đầu cho sự thống nhất tôn giáo trên toàn cầu. Chúng sanh sẽ có một nơi để quy ngưỡng và chiến tranh sẽ kết thúc nhanh chóng”.

* THÂU NHẬN ĐỆ TỬ

Hòa thượng nói: “Vạn Phật Thánh Thành là nơi rồng rắn lẫn lộn, đủ mọi thành phần. Có người tu hành chí thiết, có người chẳng tu. Chúng ta nên tâm niệm sống trong Tứ vô lượng tâm: Từ bi hỷ xả. Đặc biệt, nên chú tâm đến những người chưa được hoàn thiện và hết sức chuyển hóa họ thành người tốt”.

* TIẾP NHẬN ĐỆ TỬ XUẤT GIA –

NHƯNG KHÔNG TỪ CHỐI MỘT CHÚNG SANH NÀO

Chánh pháp lưu hành nhờ chư Tăng, chánh đạo phải được truyền đến cho mọi người. Để cho Chánh pháp có được nền móng vững chắc ở Phương tây, ắt cần phải có những vị đã thực hành chánh đạo. Do vậy, Hòa thượng đặt ra một yêu cầu rất nghiêm khắc cho mọi người muốn theo Ngài xuất gia tu học, là phải tốt nghiệp Cao Đẳng và tụng thuộc lòng Chú Lăng Nghiêm. Sau khi được xuất gia, phải học Kinh Thủ Lăng Nghiêm, học cách giảng kinh, thuyết pháp, học phương pháp ngồi thiền và học cách nhẫn nại, chịu đựng cực khổ. Qua thời gian sau, Hòa thượng bắt đầu nhận mọi người xuất gia đủ mọi trình độ. Miễn là người đó có một chút thiện căn, Hòa thượng đều tiếp nhận khi họ có tâm nguệyn xuất gia. Người già đến 90 tuổi Ngài cũng tiếp nhận, miễn là họ có sự thiết tha tu niệm. Ngài cũng tiếp nhận trẻ em 6-7 tuổi, giúp cho thiện căn các em ngày càng tăng trưởng. Những người tàn tật, sáu căn không đủ, Ngài cũng tiếp nhận, cũng đều tạo nhân duyên lành giúp họ vượt thoát hệ lụy cõi trần.

* ĐỘ HẾT HÀNG CƯ SĨ – NHƯNG KHÔNG TRANH ĐỆ TỬ

Khuynh hướng Phật tử thời nay là thích quy y với nhiều thầy, nên Hòa thượng dạy: “Chỉ cần quy y với một thầy là đủ rồi. Đừng quy y với thầy này rồi bỏ thầy kia. Bạn quy y với quá nhiều thầy mà không nghe lời họ dạy, thế là vô ích. Không những việc này gây nên sự bất hòa trong hàng Pháp Sư khi họ tranh đệ tử, mà còn gây hậu quả cho những nơi có hàng Phật tử kỳ cựu sinh tâm rối loạn và nhầm lẫn. Việc này không tạo nên sinh khí mới cho Phật pháp mà ngược lại, sẽ làm cho Phật pháp trở nên hư hoại”.

Miễn là lòng người chân thành, Hòa thượng sa74n sàng truyền Tam quy, Ngũ giới ngay cả khi Ngài đang bệnh, Ngài chẳng bận tâm đến sự phiền lụy. Dù chỉ một người đến xin thọ giới, Ngài cũng sẵn sàng làm lễ truyền giới.

Có một số vị Đại đức. Cao Tăng xưa nay phát nguyện không tiếp nhận đồ chúng, ngại rằng vì bận rộn trách nhiệm dạy dỗ mà trở ngại công phu của riêng mình. Hòa thượng không như vậy, Ngài nhận hết thảy những người có tính khí ương ngạnh, mông muội và những kẻ có căn tính rất khó điều phục. Ngài nguyện rằng, thà xả bỏ đầu, mắt, tủy, não của mình, hơn là từ chối không độ thoat những người này.

* LẬP TÔNG CHỈ

“Mọi người đến Vạn Phật Thánh Thành đều phải tuân theo một số quy định. Rồng cũng phải cuộn mình mới có thể bay lên phun mưa tùy ý. Cọp cũng phải thu mình mới có thể đón hướng gió mà vồ mồi chính xác”. Tại Đạo Tràng Hội Phật Giáo Pháp Giới, mọi người đều phải phấn đấu thực hành ba tông chỉ và sáu nguyên tắc do Hòa thượng đề ra như một tiêu chuẩn để tu tập. Vạn Phật Thánh Thành là trung tâm của các Hội Phật Học này.

* BA TÔNG CHỈ VÀ SÁU NGUYÊN TẮC

Ba tông chỉ:

Ngay lúc vừa bắt đầu hai thời khóa tụng vào buổi sáng sớm, mỗi chiều tứ chúng đệ tử đều phải tự mình quán sát lại chính mình:

1. Dù lạnh đến chết, cũng không phận duyên; dù đói chết, không van nài; dù nghèo chết, không cầu cạnh.

2. Tùy duyên mà không biến đổi; không biến đổi nhưng tuỳ duyên.

3. Kiên quyết thực hành đúng theo ba tông chỉ. Nguyện xả bỏ thân mạng để làm tròn Phật sự. Chính mình có trách nhiệm chuyển hóa nghiệp riêng của mình. Xem công phu tu hành là sự nghiệp chính của Tăng sĩ.

Sáu nguyên tắc:

1. Ngay nơi Sự để sáng tỏ Lý. Lý sáng tỏ tức là Sự. Tu tập, xiển dương, lưu hành mạch phái Tổ sư đã truyền.

2. Tự hỏi mình thật sự đã là người không tranh chưa? Tự hỏi mình thật sự đã là người không tham chưa?

3. Tự hỏi mình thật sự đã là người không mong cầu chưa? Tự hỏi mình thật sự đã là người không vị kỷ chưa?

4. Tự hỏi mình thật sự đã là người không tư lợi chưa? Tự hỏi mình thật sự đã là người không nói dối chưa?

5. Tự hỏi mình thật sự đã là người ăn một bữa chưa?

6. Tự hỏi mình có luôn luôn đắp y không rời thân không?

Những điều này là gia phong của Vạn Phật Thánh Thành, không một người nào có thể thay đổi được.

* LUÔN LUÔN MẶC Y GIỚI

Để tuân thủ giới luật đức Phật đã chế và để hộ trì tăng tướng, Hòa thượng dạy chư Tăng luôn luôn đắp y và mang theo tọa cụ, không được để những vật này rời thân. Ngài dạy phải dẹp trừ ham muốn sử dụng y phục quý và đẹp.

* ĂN MỘT NGÀY MỘT BỮA TRƯA

Dùng nhiều thức ăn vào nhiều bữa trong ngày sẽ làm lớn mạnh tâm tham, khiến trở ngại công phu tu tập. Theo luật đức Phật đã chế, chư Tăng thực hành ăn một bữa vào buổi trưa và sử dụng bình lục bát ngọ trai. Rau luộc và “canh A la hán” là vị thuốc hay để hữa bệnh đói và khát. Mọi người đừng nên ăn quá no, nên ăn vừa đủ. Đừng tham ăn nhiều, đừng muốn ăn ngon, ta sẽ được tự tại thoát khỏi tham dục.

* ĐÊM KHÔNG NGỦ NẰM

Ngủ nhiều và hôn trầm khiến tâm ngu si tăng trưởng. Hòa thượng đã từng thực hành không bao giờ nằm ngủ vào ban đêm từ hồi còn trẻ, nên Ngài khuyến khích đệ tử ngủ ngồi, khiến tinh thần thanh thản, nhẹ nhàng, tỉnh táo. Nhờ đó có thể thoát khỏi sự cám dỗ của ma quỷ.

* KHÔNG GIỮ TIỀN BẠC

Tiền bạc là gốc tội lỗi. Người có tiền dễ sanh khởi vọng tưởng. Để đảo bảo cho công phu tu tập có hiệu quả, Hòa thượng dạy đệ tử tuân thủ luật đức Phật đã chế, không giữ tiền bạc làm của riêng mình. Tăng sĩ không được phép nhận của cúng dường riêng cho mình. Chư Tăng làm việc đều mang tính chất phục vụ. Khi bị bệnh hoặc có việc tăng sai thì có thể sử dụng quỹ của Tăng chúng để chi dùng. Hòa thượng bảo: “Người nào giữ được giới không cất giữ tiền của riêng tư, thì vị ấy chính là tăng sĩ xứng đáng với nghĩa ruộng phước thanh tịnh”.

* KHÔNG CÓ Ý NIỆM THỨ BẬC

Trong mọi Đạo tràng, tứ chúng đệ tử đều sinh hoạt và cùng nhau công phu tu tập. Mọi người đều hoàn chỉnh bổn phận của chính mình trong niềm vui của Chánh pháp. Không có danh lợi, không có quyền lực, không có lương bổng nên chẳng có những nỗ lực riêng tư để tranh đoạt quyền lợi cá nhân. Không có chức vụ Trị sự hay Trụ trì. Mọi người đều bình đẳng trong vai trò chính mình là chủ tự viện.

* NGHIÊM TÚC TRONG GIỚI HẠN NAM NỮ

Bất cứ lúc nào hai người cần tiếp xúc nhau, dù qua điện thoại, trao đổi thư từ … cũng nên có ít nhất hai người khác ở bên cạnh. Nguyên tắc này áp dụng cho cả bốn chúng để đảm bảo cho mọi nhân duyên giữ gìn giới hạnh thanh tịnh, thoát khỏi mọi ham muốn. Công việc hàng ngày chẳng rời công phu tu niệm: công phu tu niệm không tách rời công việc hàng ngày.

* TU TẬP TÙY CHÚNG

Thời khóa tu niệm hàng ngày gồm: công phu sáng, Lễ Phật, tụng Kinh hoa Nghiêm, trước thời qúa đường buổi trưa, lạy sám Đại Bi. Công phu chiều: nghe giảng Kinh, tụng Tâm Kinh. Còn có những nghi lễ, pháp hội riêng vào những ngày kỷ niệm, húy nhật chư Phật, chư vị Bồ tát, Đại pháp hội Thủy Lục Không … Mọi lúc, mọi người tùy khả năng của mình để đóng góp công quả vào các lĩnh vực giáo dục, phiên dịch kinh điển, xử lý công việc tự viện hàng ngày … Như thế, không để thời gian trôi qua vô ích.

* MỖI ĐẠO TRÀNG LÀ MỘT TRƯỜNG HỌC

Giáo dục là nền tảng của tất cả các pháp thế gian cùng pháp xuấ thế gian. Pháp môn vô số lượng, thệ nguyện đều tu học. Chúng ta đồng thời là thầy và trò, học tập lẫn nhau. Ở Vạn Phật Thánh Thành có trường Tiểu học Dục Lương, trường Trung học Bồi Đức, trường Đại học Phật Giáo Pháp Giới, cùng chương trình giáo dục cho Tăng sũ và Cư sĩ. Nhiều chi nhánh Đạo tràng đều có lớp học Phật pháp cuối tuần hay vào ngày Chủ nhật.

*TÌNH NGUYỆN GIẢNG DẠY LÀ QUY LUẬT

Giáo thọ sư tự nguyện giảng dạy không hưởng lương và không đình công. Mục đích việc giáo dục là làm sáng tỏ đạo lý, chứ không phải vì danh lợi. Dùng chương trình Nho giáo cho lớp cơ bản và Phật học cho lớp đệ tử đã quy y. Qua giáo dục sẽ phát hiện vào đào tạo nhân tài để phục vụ cho lợi ích toàn thế giới. Hòa thượng nói: “Người không cần tiền bạc là người chân chính”.

* NAM NỮ HỌC TẬP RIÊNG

Nam nữ được tổ chức học tập riêng biệt, để họ có thể tập trung vào việc học mà không bị phân tâm. Nhờ vậy nên có thể ngăn ngừa được những căn bệnh xã hội như: nam nữ giao thiệp nhau quá sớm, pháp thai, ly dị, đồng tính luyến ái … Những hiện tượng đó đều bị cấm tuyệt ở đây. Hòa thượng nói: “Giáo dụclà nền tảng tối yếu của quốc phòng, có thể cứu vãn cả xã hội và có thể giải quyết tận gốc mọi vấn đề của thế giới”.

* GIÁO DỤC TRONG TĂNG GIÀ LÀ CHỦ YẾU

Tăng sĩ có trách nhiệm làm mô phạm cho hết thảy mọi chúng sanh, nên họ phải tự rèn luyện, học tập Phật pháp hoàn hảo trước khi họ đảm nhiệm công việc dạy dỗ cho người khác. Do vậy, Hòa thượng đặc biệt giáo dục hàng đệ tử xuất gia rất nghiêm cẩn và yêu cầu rất cao ở họ.

Tùy thuộc vào năng lực của từng người, các đệ tử đều được phân công đảm nhiệm những công việc trong chúng để học hỏi thêm. Mọi người đều có được những cơ hội như nhau. Các giáo thọ thường cho học tăng những lời giáo huấn trực tiếp và gián tiếp cũng như những sự hỗ trợ cần thiết.

Các giáo thọ thường cho học tăng những bài khảo thí bất ngờ, như mời mọi người từ mọi giai tầng trong xã hội, ở khắp mọi quốc gia đến để giảng kinh, mở những khóa học tại Vạn Phật Thánh Thành hay những Đạo tràng chi nhánh khác. Hòa thượng bảo: “Mọi người cần phải có cái nhìn thấu suốt chân lý trạch pháp nhãn. Nếu nhận ra Đạo, hãy nên tiến tới, nếu chẳng phải Đạo thì nên thối lui. Hãy chọn những pháp thiện để hành trì theo, lọai trừ những tính bất thiện ở trong mình. Mọi việc đều là một sự khảo nghiệm cho chính mình, nếu ta chưa nhận ra được mặt mũi trước khi sinh ra là gì, thì phải cố gắng làm lại từ đầu”.

Các pháp vốn bất định. Pháp cố định là pháp chết. Con người là pháp sống động, bạn không nên mắc kẹt vào một lối đi cho đến khi nó dẫn bạn vào bóng tối.

Hòa thượng bảo: “Bạn phải tự làm sáng tỏ trí tuệ và tự tin nơi chính mình. Đừng tin vào tôi”.

Phong cách của Hòa thượng rất thoải máivà dân chủ. Ngài tôn trọng chúng đệ tử và không bao giờ tự ý chế định những iới điều. Khi có đệ tử làm điều gì sai trái. Ngài mới đưa ra quy định kịp thời để hộ trì cho công phu học tập.

Hòa thượng có một tấm lòng bao dung khoan thứ vô hạn. Bất luận người nào phạm lỗi lầm, miễn là họ khởi lên ý muốn sám hối, thì Hòa thượng sẵn lòng tha thứ.

Trực nhận tự kỷ thác: Nhận ngay lỗi của mình.

Mạc luận tha chi nhân: Không bàn luận đến sai trái của người khác.

Tha phi tức ngã phi: Xem lỗi lầm của người khác chính là lỗi của mình.

Đồng thể danh đại bi: Được gọi là đồng tâm thể đại bi của chư Phật.

Hòa thượng tự trách chính mình thay vì trách cứ người khác. Ngài nhận về phần mình hết thảy mọi lỗi lầm mê muội, nghiệp chướng, tập khí xấu của đệ tử. Ngài phát nguyện gánh vác hết nghiệp chướng.

Xem việc giáo dục chúng Sa di là nền tảng của việc giáo dục tăng chúng.

Vào những năm cuối cùng của cuộc đời, Ngài hết lòng chăm sóc giáo dục chúng Sa di và Sa di trẻ mới xuất gia. Ngài đích thân sắp xếp giáo thọ và thời khóa học. Ngài tự thân truyền thọ pháp môn Tứ thập nhị thủ nhãn ấn pháp cho chúng Sa di tu tập. Ngài đem hết tâm huyết để truyền thọ cho hai giới này, hy vọng sự đồng tu của tứ chúng, của lớp tăng trẻ từ 6 –17 tuổi này, chẳng bao lâu sẽ trở lên những mặt trời sáng rỡ của Phật pháp, sẽ truyền bá lòng từ bi vô hạn, niềm an nhiênhạnh phúc, hướng dẫn chúng sanh tu tập đạo Bồ tát, chuyển hóa tận cùng khổ đau sinh tử.

* ƯỚC NGUYỆN PHIÊN DỊCH TAM TẠNG KINH ĐIỂN PHẬT GIÁO

Từ hồi còn trẻ, Hòa thượng đã có ước nguyện truyền bá Phật pháp rộng khắp thế giới. Muốn vậy, Ngài phát nguyện tổ chức phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật giáo sang các thứ tiếng trên thế giới. Đây là công trình sự nghiệp ngàn năm. Ngài nói: “Phiên dịch Tam Tạng còn quan trọng hơn vãng sanh Tịnh độ”.

Hòa thượng là người đầu tiên trên thế giới dùng Trung văn để giảng Kinh, trước hết, Ngài dọc một đoạn Kinh từ trí nhớ, rồi liên tiếp giảng câu này sang câu khác mà không cần nhìn vào Kinh văn. Ngài chẳng cần ghi chép điều gì, Ngài giảng hoàn toàn lưu xuất tự tự tánh khiến ai ai cũng hiểu được. Ngài sử dụng tiếng bạch thoại thông dụng để giảng giải những ý nghĩa sâu rộng nhất của Kinh văn, bằng những ví dụ rất thực tế khiến mọi tầng lớp đều hiểu được. Hòa thượng nói: “Tôi chỉ biết cách đưa ra những ví dụ rất đơn sơ để chuyển ý Kinh do tôi giảng, gọi là “Bản dịch đơn giản”. Cũng như rau cải được luộc chín bằng nước sôi, trông có vẻ thanh đạm nhưng rất tốt cho sức khỏe”.

DỊCH SANG NHỮNG NGÔN NGỮ KHÁC:

Có hàng trăm bộ Kinh dịch xong đã được ấn hành. Nhiều nhất là tiếng Anh. Sau này sẽ in Kinh song ngữ Hoa Pháp, Hoa Việt …

Bên cạnh việc xuất bản Kinh sách, băng từ và băng video cũng được phát hành song ngữ. Hiện nay băng từ song ngữ cũng rất thông dụng để ghi và truyền các dữ liệu bằng tiếng Hoa và tiếng Anh.

THÀNH LẬP VIỆN PHIÊN DỊCH KINH ĐIỂN QUỐC TẾ:

Năm 1973, Viện Phiên dịch Tam Tạng Kinh Phật giáo Quốc tế đã được thành lập.

Năm 1992, thành lập Ban quản trị Hội Phật giáo Pháp giới. Chư Tăng cùng Cư sĩ từ khắp nơi đều tình nguyện đến đây để cộng tác dịch và ấn hành Tam Tạng Kinh mà không nhận bất cứ khoản thù lao nào.

TÁM QUY LUẬT CỦA NGƯỜI PHIÊN DỊCH KINH ĐIỂN PHẬT HỌC

1. Người dịch phải tự thoát mình ra khỏi động cơ tự truy cầu danh lợi.

2. Người dịch phải tu dưỡng thân tâm, dứt bỏ thói cao ngạo.

3. Người dịch phải tự chế, không được tự khen ngợi mình nhưng lại chê bai người khác.

4. Người dịch không được tự cho mình là tiêu chuẩn, là thước đo, rồi hạ thấp người khác bằng cách tìm lỗi nơi tác phẩm của họ.

5. Người dịch phải lấy tâm Phật làm tâm mình.

6. Người dịch phải dùng Trạch Pháp Nhãn để phân xét đâu là chân lý.

7. Người dịch phải cung kính cầu thỉnh Cao Tăng Đại Đức mười phương chứng minh cho bản dịch.

8. Người dịch phải hoan hỷ truyền bá giáo nghĩa Phật học bằng cách in Kinh, Luật, Luận khi việc phiên dịch của mình được công nhận là chính xác.

* THỊ HIỆN TƯỚNG BỆNH

Hàng phàm phu bị bệnh do nghiệp. Họ thọ nhận lấy những gì họ đã làm trong quá khứ. Tất cả các bệnh của họ đều do tham, sân, si. Còn bệnh của Thánh nhân là do nguyện lực. Các Ngài phát nguyện chịu thay nghiệp chẳng lành mà chúng sanh đã tạo lập. Vì chúng sanh bệnh nên Bồ tát bệnh, các bậc Thánh đã chuyển hóa xong toàn bộ ba món độc này rồi.

Ngài vốn không bệnh, nhưng lại muốn chịu thế mọi khổ đau cho chúng sanh, nhận hết bệnh của chúng sanh về phần mình, nên thânn Ngài có biểu hiện các triệu chứng của bệnh, với hy vọng chúng sanh khi thấy tướng bệnh, biết được nguyên nhân của bệnh, mới chịu quyết tâm tu hành.

Để hộ trì cho đệ tử bốn chúng tu hành. Ngài đã đi từ Đạo tràng này đến Đạo tràng khác. Những cuộc hành trình bằng xe hơi, giữa thời tiết nóng lạnh bất thường, xử lý vô số những công việc phức tạp, giúp cho người khác lực gia trì để tu tập. Điều ấy đã làm cho Ngài kiệt sức.

Mười năm trước đây Ngài đã phát bệnh nặng vì làm việc quá sức. Năm nay bệnh Ngài quá nặng đến nỗi Ngài không thể bước lên một bậc thềm. Ngay cả khi các bác sĩ chẩn đoán Ngài chỉ còn sống một tuần lễ nữa. Hòa thượng vẫn từ chối sự nghỉ ngơi để tìm phương cách trị liệu. Ngài vẫn chống tích trượng để đi hoặc ngồi xe lăn, tiếp tục đi đến khắp nơi để giảng pháp. Hai năm nay, bệnh đến liệt giường mà Ngài vẫn chỉ dạy các đệ tử khắp nơi bằng điện thoại, hay xuất hiện trong những giấc mơ của họ để giáo hóa.

Hòa thượng đã chữa trị bệnh cho vô số người, sao Ngài lại không chữa trị cho chính mình? Đó chẳng phải là Ngài không thể chữa, mà vì Ngài không muốn chữa. Một đời Ngài xưa nay chưa từng làm hoặc suy nghĩ một điều gì cho riêng mình. Ngay cả khi Ngài đau đớn cùng cực, Ngài cũng chẳng cần đến sự giúp đỡ cho riêng mình chút nào. Ngay cả khi Ngài an tường thị tịch vào ngày 06 tháng 07 năm ấy (1995)., bệnh Ngài và cơn đau cũng không giảm chút nào.

Ngài không thị hiện những điềm lạ, cũng chẳng lưu lại những kỳ tích. Ngài chỉ nói cho mọi người những bài học lớn lao về thành, trụ, hoại, không – sanh, lão, bệnh, tử.

Đây thật là bài học lớn lao mà Hòa thượng đã trao cho hàng đệ tử trên đường thực hành đạo Bồ tát. Từ vô lượng kiếp xa xưa, chư Bồ tát đã xả bỏ vô số thân để cứu độ chúng sanh. Chư vị hoàn toàn nghĩ đến mọi người chứ không nghĩ đến mình. Đối diện với những nỗi khổ khó chịu đựng này, người ta mới có thể tiếp tục can đảm tiến bước với niềm tin kiên định, không khuất phục khi tu hạnh Bồ tát, dũng mãnh tiếp nối công hạnh của người xưa. Đó chính là chất vàng không chảy của Hòa thượng trong lò lửa hừng hực.

Toàn bộ cuộc đời của Ngài là biểu hiện từ bộ Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm “Pháp giới bất khả tư nghì của chư Phật”, trong Kinh Hoa Nghiêm có nói rằng chư Phật Thế Tôn có mười Phật sự rộng lớn:

… “Các Phật tử, khi chư Phật nhập Niết bàn, vô lượng chúng sanh đau đớn khóc lóc, sanh tâm ưu bi khổ não. Chư Phật thấy vậy nên nói: Như Lai Thế Tôn có tâm đại từ bi, vì lòng thương xót và làm lợi lạc cho cả thế gian, là nơi nương tựa và cứu hộ cho muôn loài. Thật khó mà tính kể sự thị hiện của Như Lai trên thế gian này.

Ruộng phước vô lượng từ nay mất hẳn. Do vậy, vì khiến cho chúng sanh kính mến, ngưỡng mộ mà các Ngài làm Phật sự.

Chư Phật Thế Tôn tuy nhập Niết bàn nhưng vì chúng sanh mà tiếp tục làm ruộng phước bất khả tư nghì; làm ruộng phước tối thượng, vô tận phước đức; khiến cho chúng sanh có được đầy đủ thiện căn và ruộng phước tròn đầy”.

* * *

CHÚ ĐẠI BI

HÒA THƯỢNG THÍCH TUYÊN HÓA

GIẢNG GIẢI

XEM KINH VỚI LÒNG THÀNH

Kẻ hậu học khi xem kinh, nên có tâm thái như sau: ba nghiệp tâm, khẩu, ý phải được thanh tịnh. Ba nghiệp trên được lắng trong thì phước huệ tròn đầy.

1. Nên thẳng mình ngồi ngay như ngồi trước đức Phật. Đó là thân nghiệp được thanh tịnh.

2. Miệng không nói lời sai trái, không cười đùa. Đó là khẩu nghiệp được thanh tịnh.

3. ý không tán loạn, dứt sạch tâm phan duyên. Đó là thanh tịnh ý nghiệp.

Khi tâm an tịnh thì ngoại cảnh lắng trong, đó là khế ngộ nguồn tâm, diệu nhập pháp lý. Khi nước lắng trong thì vẻ sáng của ngọc tự chiếu soi, mây tan trăng tự hiển bày, đại nguyện thành tựu cũng như nhập vào biển diệu nghĩa. Thấu đạt ý kinh cũng chính là đến được đỉnh núi cao trí tuệ. Nếu hành giả muốn dễ thành tựu, phải gieo trồng Đại nguyện. Khi tâm, pháp đều quên, thì mình cùng pháp giới chúng sinh đều chung lợi lạc. Có được như thế mới mong báo đáp ân sâu của Chư Phật.

CHÚ ĐẠI BI

(Phần kinh văn)

1. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da

2. Nam mô a rị da

3. Bà lô yết đế thước bát ra da

4. Bồ đề tát đỏa bà da

5. Ma ha tát đỏa bà da

6. Ma ha ca lô ni ca da

7. Án

8. Tát bàn ra phạt duệ

9. Số đát na đát tả

10. Nam mô tất kiến lật đỏa y mông a lị da

11. Bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà

12. Nam mô na ra cẩn trì

13. Hê rị ma ha bàn đà sa mế

14. Tát bà a tha đậu du bằng

15. A thệ dựng

16. Tát bà tát đá, na ma bà tát đa (*) na ma bà già

(*) Các bản hiện đang lưu hành, được trì tụng rộng rãi ở Việt Nam thiếu năm chữ này.

17. Ma phạt thị đậu

18. Đát điệt tha, án

19. A bà lô hê

20. Lô ca đế

21. Ca ra đế

22. Di hê rị

23. Ma ha bồ đế tát đỏa

24. Tát bà tát bà

25. Ma ra ma ra

26. Ha hê ma hê, rị đà dựng

27. Cu lô cu lô yết mông

28. Độ lô độ lô phạt già ra đế

29. Ma ha phạt già ra đế

30. Đà la đà la

31. Địa lỵ ni

32. Thất phật ra da

33. Giá ra giá ra

34. Ma ma phạt ma ma

35. Mục đế lệ

36. Y hê di hê

37. Thất na thất na

38. A ra sam phật ra xá lợi

39. Phạt sa phạt sam

40. Phật ra xá da

41. Hô lô hô lô ma ra

42. Hô lô hô lô hê rị

43. Ta ra ta ra

44. Tất lỵ tất lỵ

45. Tô rô tô rô

46. Bồ đề dạ - bồ đề dạ

47. Bồ đà dạ - bồ đà dạ

48. Di đế rị dạ

49. Na ra cẩn tri

50. Địa lỵ sắt ni na

51. Ba dạ ma na

52. Ta bà ha

53. Tất đà da

54. Ta bà ha

55. Ma ha tất đà dạ

56. Ta bà ha

57. Tất đà du nghệ

58. Thất bàn ra dạ

59. Ta bà ha

60. Na ra cẩn trì

61. Ta bà ha

62. Ma ra na ra

63. Ta bà ha

64. Tất ra tăng a mục khư da

65. Ta bà ha

66. Ta bà ma ha a tất đà dạ

67. Ta bà ha

68. Giả cát ra a tất đà dạ

69. Ta bà ha

70. Ba đà ma yết tất đà dạ

71. Ta bà ha

72. Na ra cẩn trì bàn đà ra da

73. Ta bà ha

74. Ma bà lợi thắng yết ra dạ

75. Ta bà ha

76. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da

77. Nam mô a lị da

78. Bà lô kiết đế

79. Thước bàn ra dạ

80. Ta bà ha

81. Án tất điện đô

82. Mạn đà ra

83. Bạt đà dạ

84. Ta bà ha

KỆ TỤNG CỦA HÒA THƯỢNG

THÍCH TUYÊN HÓA

Thủ nhãn thông thiên đại tổng trì

Chấn động tam thiên thế giới thì

Hữu duyên vô duyên hàm nhiếp hóa

Từ bi phổ độ Diêm phù đề

 

 

 

PHẦN GIẢNG

(CÚ GIẢI)

Từ trước đến nay, nhiều người đã giảng rộng về Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, nhưng chưa có vị nào giảng giải về chú Đại Bi. Thực vậy, rất khó giảng giải về chú Đại Bi. Vì kinh văn thần chú này thuộc vào hệ mật ngôn chân ngữ. Nay để giảng giải về thần chú này, trước tiên tôi xin đưa ra một bài kệ để thuyết minh cho ý nghĩa của thần chú:

Đại bi đại chú thông thiên địa

Nhất bách nhất thiên thập vương hoan

Đại từ đại bi năng khử bệnh

Nghiệt kính nhất chiếu biến cao huyền.

Nghĩa là:

Thần chú Đại bi có công năng thông cả thiên đường, thấu cả địa phủ. Người nào thường trì niệm chú này mỗi ngày 108 biến, niệm ngàn ngày như thế thì có thể khiến Thập điện Minh vương hoan hỷ.

Năng lực Từ và Bi của thần chú có thể chữa lành tất cả mọi tật bệnh và làm cho đài gương chiếu tội sáng ngời ngời.

*Đại bi đại chú thông thiên địa

Khi quí vị niệm thần chú này thì trời đất đều chấn động, cả pháp giới chuyển rung. Trên thông cả cõi trời, dưới thấu khắp cả các cõi giới địa ngục. Khắp cả mọi pháp giới trời người đều cảm thông và tán dương công đức.

*Nhất bách nhất thiên thập vương hoan

Nếu quí vị niệm thần chú này mỗi ngày 108 biến, niệm ngàn ngày như vậy, tức là vào khoảng 3 năm. Niệm thần chú này liên tục trong 3 năm không gián đoạn, không bỏ sót một ngày, bất luận quí vị có bận rộn như thế nào cũng không quên niệm, thì có thể khiến cho mười vị vua điều hành công việc ở chốn địa phủ cũng phải hoan hỷ. Có nghĩa là từ vua Diêm La cai quản điện thứ 10, cùng tất cả các chung sinh đang bị tội báo ở trong 10 địa ngục ấy đều được vui mừng.

*Đại từ đại bi năng khử bệnh

Năng lực Từ và Bi của thần chú này có thể chữa lành tất cả mọi bệnh tật. Vì sao gọi là chú Đại Bi? Là vì: “Bi năng bạt khổ”. Nghĩa là Bi có công năng làm cho mọi khổ nạn của chúng sinh được tiêu trừ. Còn “Từ năng dữ lạc”. Lòng Từ thường đem lại niềm vui cho chúng sinh. Vì thần chú này khả năng bớt khổ ban vui cho mọi chúng sinh nên gọi là Chú Đại Bi. Chủ yếu nhất là công năng chữa lành mọi bệnh tật. Bất luận quí vị bị bệnh gì, nếu quí vị trì niệm Chú Đại Bi, thì mọi bệnh khổ đều được tiêu trừ.

Có người sẽ thắc mắc: “Tôi đã niệm Chú Đại Bi rồi, tại sao không lành bệnh?”

Quí vị chưa lành bệnh là vì quí vị chưa vận hết lòng thành trong lúc trì niệm. Với lòng chí thành, chắc chắn quí vị sẽ có được sự cảm ứng khi niệm chú.

*Nghiệt kính nhất chiếu biến cao huyền

Khi quí vị trì niệm mỗi ngày 108 biến chú Đại Bi, niệm trong 1000 ngày như thế thì Thập điện Minh Vương vui mừng và tất cả mọi bệnh tật đều được tiêu trừ. Trong suốt 1000 ngày, tức 3 năm này, quí vị đ• thành tựu được khá nhiều công đức rồi. Bởi vì trong 3 năm này, mỗi ngày quí vị đều gia tâm trì tụng thần chú nên không có điều kiện để tạo tác nghiệp nhân. Quí vị không uống rượu, không ăn thịt, không ăn ngũ vị tân.

Trong địa ngục có một đài gương báo tội gọi là “nghiệt kính đài”, nếu quí vị gây một nghiệp ác nào thì nghiệp ấy sẽ hiện rõ trong đài gương kia. Cũng giống như hình ảnh đang hiện ra trên màn ảnh xi nê vậy. Ví như một người, đời này gây tội sát nhân, thì trong gương báo tội sẽ hiện ra cảnh người ấy đang giết người. Nếu người ấy gây nghiệp trộm cắp thì trong gương sẽ hiện hình người ấy đang đi ăn trộm. Nếu người ấy gây nghiệp đốt phá nhà cửa người khác thì trong gương sẽ hiện ra rõ ràng hành động đốt nhà ấy.

Còn nếu quí vị không gây tạo ác nghiệp gì cả thì sao? Thì chẳng có gì hiện ra trong kính đó cả. Vậy nên, nếu quí vị trì tụng thần Chú Đại Bi trong 3 năm thì khi gương nghiệp soi chiếu đến, tội báo của quí vị sẽ được tẩy sạch. Nơi địa ngục ấy sẽ treo lên một tấm bảng ghi rằng: “Người này đã từng trì tụng Chú Đại Bi, tội báo của người này đều đã được hóa giải toàn bộ.”

Tất cả các vị quỷ thần trong địa ngục đều cúi đầu lễ bái sùng kính người trì chú này như lễ bái cung kính chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai vậy. Đồng thời các vị quỷ thần ấy sẽ hộ trì người trì chú cũng như họ thường hầu cận chư Phật vậy, và các vị quỷ thần đều thông báo cho nhau biết là không nên quấy nhiễu người trì chú này. Thần lực của chú Đại Bi thật là không thể nghĩ bàn.

CÚ GIẢI

(Giảng giải từng câu)

1. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da

Hàng ngày chúng ta vẫn thường tụng Nam mô A – di - đà Phật. Nam mô Bổn sư Thích – ca Mâu – ni Phật. Nhưng quí vị có biết Nam – mô có nghĩa là gì không? Chắc là rất ít người biết được. Cách đây vài năm, có lần tôi đã đặt vấn đề này trong một pháp hội nhưng chưa một người nào có được câu trả lời hoàn chỉnh cả.

Nam – mô, phiên âm chữ Nama từ tiếng Phạn. Trung Hoa dịch là “Quy y”; cũng dịch là “Quy mạng kính đầu”. Có nghĩa là: “Con xin đem toàn thể sinh mạng của con về nương tựa vào chư Phật”. Cái bản ngã của chính mình không còn nữa. Mà con xin dâng trọn vẹn thân mạng mình lên chư Phật. Nếu chư Phật cho con sống thì con sống; bảo con chết thì con chết. Con hoàn toàn tin vào chư Phật. Đó gọi là “Quy mạng”.

Còn “Kính đầu” có nghĩa là hết sức cung kính và nương tựa vào đức Phật. Đó là ý nghĩa của Nam – mô.

Còn “Quy y” có nghĩa là đem hết thân và tâm của mình, đem hết cả mạng sống của mình trở về nương tựa vào đức Phật.

Nói tổng quát. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có nghĩa là “Xin quy y Tam Bảo vô biên vô tận trong khắp mười phương”.

Đó chính là bản thể của Bồ – tát Quán Thế Âm. Quí vị nên khởi tâm Từ Bi mà trì niệm. Mặc dù đó là bản thể của Bồ – tát Quán Thế Âm, nhưng cũng có nghĩa là quy y với toàn thể chư Phật trong mười phương, suốt cả ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Khi quí vị trì niệm thần chú này. Không những chỉ nhắc nhở mình quy y với Tam Bảo thường trụ trong khắp mười phương vô biên vô tận mà còn khiến cho tất cả mọi loài hữu tình khi nghe được thần chú này cũng đều quay về quy y, kính lễ mười phương ba đời thường trụ Tam Bảo.

Quí vị có biết Tam bảo là gì không? Đó là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Quí vị nên biết rằng, trên thế gian này Phật bảo là cao quý nhất. Cũng thế, Pháp bảo và Tăng bảo là điều cao thượng và quý báu nhất. Không những cao quý ở thế gian mà còn cao quý đối với những cảnh giới xuất thế gian, cho đến đối với cõi trời phi tưởng phi phi tưởng nữa. Không còn có gì cao quý hơn Tam bảo trong Phật pháp nữa. Trong mười pháp giới thì cảnh giới Phật là cao nhất. Thế nên chúng ta cần phải cung kính quy ngưỡng và tín thọ nơi Tam bảo cao quý, phát khởi tín tâm kiên cố và thâm sâu, không một mảy may nghi ngờ.

Có người sẽ hỏi: Quy y Tam bảo sẽ có lợi ích gì? Tối thiểu nhất là khi quí vị quy y Phật rồi thì đời đời kiếp kiếp không còn đọa vào địa ngục nữa; khi quí vị quy y Pháp rồi thì đời đời kiếp kiếp không còn đọa vào hàng ngạ quỷ (quỷ đói) nữa; khi quí vị quy y Tăng rồi thì quí vị không còn bị đọa làm loài súc sinh nữa. Đây là những đạo lý căn bản của việc quy y Tam bảo.

Nhưng khi đã quy y rồi, quí vị phải tự nguyện và tinh tấn thực hành các việc lành, tương ứng với lời dạy của đức Phật thì mới xứng đáng gọi là quy y. Nếu quí vị vẫn còn giữ nguyên các tập khí ngày trước như sát sanh, trộm cắp, tà hạnh dâm dục, nói dối, nghiện ngập và làm mọi điều mình thích để thỏa mãn ngũ dục thì quí vị không thể nào tránh khỏi đọa vào 3 đường ác (ngạ quỷ, địa ngục, súc sinh). Bở vì trong Phật pháp không có sự nhân nhượng. Quí vị không thể nói: “Tôi đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng rồi, nên tôi sẽ không bao giờ bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nữa. Vậy nên tôi có quyền làm điều gì tôi muốn…”

Quí vị phải thay đổi, chuyển hóa mọi tập khí xấu của mình và tích cực thực hành những việc thiện, dứt khoát không bao giờ làm những việc ác nữa. Nếu quí vị còn tiếp tục làm những việc xấu ác, thì quí vị sẽ bị đọa ngay vào địa ngục.

Đạo Phật không giống như ngoại đạo. Họ tuyên bố rằng: “Quan trọng nhất là niềm tin. Nếu có niềm tin thì dù có làm việc ác, cũng có thể vào được thiên đường. Còn ngược lại, nếu ai thiếu lòng tin, dù có gắng sức làm việc phúc đức, thì cũng sẽ rơi vào hỏa ngục”.

Nếu quí vị tin vào đức Phật mà vẫn tạo các nghiệp ác thì nhất định quí vị sẽ bị đọa vào địa ngục. Dù quí vị không tin vào đức Phật, mà vẫn gắng sức làm việc phước thiện thì quí vị vẫn được lên thiên đàng. Phật pháp không bao giờ mê hoặc con người bằng cách nói: “Nếu quí vị tin vào đức Phật, thì mọi điều sẽ được như ý.” Ngược lại, nếu quí vị tin vào đức Phật mà vẫn không chịu từ bỏ các việc ác thì quí vị vẫn phải bị đọa vào địa ngục.

“Được rồi”. Quí vị lại thắc mắc: “Nếu đã tin Phật rồi mà cũng đọa vào địa ngục như không tin, thì tại sao phải quy y Tam bảo?”

Chân chính quy y Tam bảo có nghĩa là phải từ bỏ việc ác, quay về đường thiện, sửa đổi mọi lỗi lầm. Như một người được khai sinh lại với tên mới, từ đây chỉ làm thuần túy những việc lành. Không làm những việc xấu ác nữa. Như thế mới đạt được lợi ích thiết thực. Chính vì vậy mà câu chú: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có nghĩa là: “Quy y Tam bảo vô cùng vô tận trong khắp mười phương”.

Khi quí vị trì niệm chú này, cũng có thể giúp tiêu trừ được những ách nạn cho quí vị. Lúc gặp tai chướng, quí vị hay thường trì niệm: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da thì tai chướng ấy liền được tiêu trừ. Tai nạn lớn sẽ biến thành tai nạn nhỏ, và nếu gặp tai nạn nhỏ thì cũng sẽ được tiêu sạch. Chú này được gọi là “Tiêu tai pháp”, là một trong năm bộ chú hộ ma.

Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da cũng còn được gọi là “Tăng ích pháp”. Nghĩa là từ trước đến nay quí vị đã từng gieo trồng nhiều thiện căn, và vẫn thường trì tụng chú này, thì thiện căn của quí vị sẽ tăng trưởng thêm gấp nhiều lần, lợi lạc không kể xiết. Nên chú này được gọi là “Tăng ích pháp”.

Quí vị có thể niệm toàn bộ chú Đại Bi, hoặc chỉ cần niệm câu chú đầu tiên này thôi: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da là “Thành tựu pháp”, bất luận quí vị muốn điều gì, thì sở nguyện sở cầu của quí vị đều được thành tựu như ý muốn. Nếu quí vị không có con trai mà muốn cầu sinh con trai, hay niệm Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da sẽ sinh được con trai. Nhưng quí vị phải trì niệm với tâm trí thành, không phải chỉ niệm một hai ngày rồi thôI, mà phải niệm liên tục ít nhất là trong ba năm. Nếu quí vị không có được bạn tốt, mà muốn gặp được một người, hay niệm Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da thì liền gặp được ngay bạn lành. Nếu quí vị trì niệm được toàn thể bài chú Đại Bi thì quá tốt, nếu không chỉ cần niệm câu đầu tiên Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da, cũng sẽ thành tựu những công đức không thể nghĩ bàn.

Câu chú này cũng còn được gọi là “Hàng phục pháp”. Năng lực của câu chú đó có thể hàng phục thiên ma, chế phục ngoại đạo khi nó nghe đến câu chú này.

Tuy vậy, câu chú này không phải là “Câu triệu pháp”. Khi quí vị trì niệm một câu chú thuộc trong “Câu triệu pháp” thì tất cả các loại yêu ma quỷ quái khắp nơi đều đến trình diện và có thể bắt giữ, hoặc sai khiến được chúng.

Vậy nên, câu chú Nam mô hắc ra đát ra đá ra dạ da này có công năng rất mạnh, không thể suy lường được. Nếu nói chi tiết, thì không thể nào cùng tận được.

Tóm lại, trong câu Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da, thì Nam mô có nghĩa là “quy mạng kính đầu”. Hắc ra đát na là “bảo”. Đá ra dạ có nghĩa là “Tam”. Da nghĩa là “Lễ”.

Nghĩa toàn câu là: “Xin đem hết thân, tâm, tính mạng của mình quy y và kính lễ Tam Bảo vô tận vô biên trong khắp cả mười phương, suốt cả ba đời”. Chúng ta phải cúi đầu đảnh lễ thường trụ Tam bảo.

Vì sao gọi là vô tận vô biên? Vì chư Phật trong thời quá khứ là vô cùng vô tận. Chư Phật trong thời hiện tại là vô cùng vô tận. Chư Phật trong thời vị lai là vô cùng vô tận. Cho nên Tam bảo là vô biên vô tận.

2. Nam mô a rị da

Nam mô như đã giảng ở trên, nghĩa là “đem hết thân tâm, tánh mạng quy y và kính lễ, học tập chư Phật và chư Bồ – tát”.

A rị có nghĩa là “Thánh giả”. Có nghĩa là người xa lìa tất cả các ác pháp. Nên Nam mô A rị da có nghĩa là kính lễ các bậc Thánh giả, người đã xa lìa tất cả các pháp bất thiện.

3. Bà lô yết đế thước bát ra da

Bà lô yết đế có nghĩa là “quán” trong danh hiệu Quán Thế Âm Bồ – tát. Cũng được dịch là “quang” từ danh hiệu Vairocana (Tỳ – lô - giá - na) nghĩa là Quang Minh Biến Chiếu – hào quang chiếu khắp mọi nơi. Còn được dịch là: “Sở quán sát” nghĩa là cảnh giới được quán chiếu, được quán sát đến.

Thước bát ra da có nghĩa là “tự tại”.

Ý nghĩa toàn câu là quán chiếu quán sát một cách rộng khắp và tự tại. Đó chính là ý nghĩa của danh hiệu Bồ – tát Quán Tự Tại, Bồ – tát Quán Thế Âm. Có nghĩa là quan sát, lắng nghe âm thanh ở cõi thế gian để cứu độ một cách tự tại.

4. Bồ đề tát đỏa bà da

Mọi người đều biết Bồ đề xuất phát từ tiếng Phạn là Bodhi. Có nghĩa là Giác.

Tát đỏa có nghĩa là “độ” là vượt qua (bể khổ) cũng như đưa người khác vượt qua (bể khổ) đến bờ giải thoát.

Bồ Đề tát đỏa bà da có nghĩa là một vị Bồ – tát đã tự giác ngộ giải thoát và giúp cho mọi chúng sinh được giác ngộ giải thoát như mình.

Bà da có nghĩa là “đảnh lễ”.

Da có nghĩa là khấu đầu đảnh lễ. Cúi đầu đảnh lễ ai? Đảnh lễ các vị Bồ – tát đã tự giác ngộ giải thoát cho chính mình rồi, còn giúp cho người khác được giác ngộ giải thoát.

Câu thần chú này là muốn nhắc đến Bồ – tát Bất Không Quyến Sách áp đại binh. Nghĩa là khi quí vị tụng câu thần chú này thì Bồ – tát Bất Không Quyến Sách đem binh tướng của cõi trời đến để hộ trì cho quí vị.

5. Ma ha tát đỏa bà ha

Ma – ha có 3 nghĩa: Đại: lớn; Đa: nhiều; và Thắng: hoàn hảo.

Ma – ha với nghĩa là Đại: tức chỉ cho người phát tâm bồ đề rộng lớn.

Ma – ha với nghĩa là Đa: tức chỉ cho số lượng. Có rất nhiều người phát tâm bồ đề.

Ma – ha với nghĩa là Thắng: tức nói đến những người đã phát tâm bồ đề rộng lớn đều đạt đến chỗ thành tựu viên mãn, được nhiều lợi lạc rất thù thắng.

Tát - đỏa nghĩa của chữ Tát - đỏa trong câu chú này không giống như nghĩa trong câu trên. Trong câu chú trên, Tát - đỏa có nghĩa là “độ” – vượt qua bờ bên kia. Có nghĩa là giải thoát. Còn trong câu chú này. Tát - đỏa có nghĩa là “Dõng mãnh giả” là người can đảm, không sợ hãi. Cũng có nghĩa là “Tinh tấn giả”, là người tu hành rất siêng năng.

Bà - Da Hán dịch là “Hướng tha đảnh lễ” nghĩa là: “Con xin đê đầu đảnh lễ các vị đại Bồ – tát, là những người rất dõng mãnh, rất tinh tấn, không bao giờ sợ hãi, và nguyện phát tâm bồ đề trước chư vị Bồ – tát này.”

Các vị đại Bồ – tát đã tự giác ngộ, giải thoát cho chính mình rồi còn phát nguyện giúp cho vô số chúng sanh khác được giác ngộ và giải thoát như mình.

6. Ma ha ca lô ni ca da

Ma – ha có 3 nghĩa: lớn, nhiều và thù thắng như trên đã giảng.

Ca – lô Hán dịch là “Bi”.

Ni – ca nghĩa là “Tâm”.

Hợp lại, Ma ha ca lô ni ca có nghĩa là “Tâm đại bi”.

Da có nghĩa là đảnh lễ, như đã giảng ở trên. Toàn câu chú Ma ha ca lô ni ca da có nghĩa là: “Cúi đầu đảnh lễ thần chú Đại bi tâm Đà - la – ni.”

7. Án

Án nghĩa là “Bổn mẫu”, là “Chú mẫu” mẹ của tất cả mọi thần chú; cũng chính là “Phật mẫu” mẹ của tất cả chư Phật.

Mẹ của chư Phật có nghĩa là mẹ của nguồn tâm trong mọi loài chúng sinh, vì nguồn tâm của chúng sinh vốn có sẵn mọi trí tuệ, thường xuất sinh các pháp lành, nên gọi là “Bổn mẫu”.

Thông qua năng lực của thần chú mà mười pháp muôn được hiển bày.

1. Pháp môn thứ nhất là “Tự”: là đầu nguồn, làm xuất sinh mọi chủng tự.

2. Thứ hai là “Cú”. Trong kinh văn hoặc trong thần chú, “Cú” có nghĩa là một câu.

3. Thứ ba là “Quán”: là quán chiếu, quán sát, vận dụng năng lực quán chiếu mà hành trì.

4. Thứ tư là “Trí”: là trí tuệ, dùng thanh gươm trí tuệ để cắt đứt tất cả phiền não. Trí tuệ tức là pháp môn lưu xuất từ Bát Nhã Ba La Mật, đó là trí tuệ viên mãn nhất. Còn “quán” là lưu xuất từ pháp môn Thiền định Ba La Mật.

5. Thứ năm là “Hành”: nghĩa là tu tập, nương theo giáo pháp mà hành trì.

6. Thứ sáu là “Nguyện”: nghĩa là cần phải phát nguyện, nương theo giáo pháp chân chính mà tu hành.

7. Thứ bảy là “Giáo”: nghĩa là y cứ theo giáo pháp chân chính mà tu hành. Nếu quí vị không nương theo lời dạy của đức Phật mà tu hành, thì dù quí vị có tu hành đến nhiều kiếp như số cát sông Hằng đi nữa thì vẫn không có kết quả gì cả. Cũng như thể nấu cát mà mong thành cơm vậy.

Tuy nhiên, để có thể tu tập xứng hợp với giáo lý chân chính của đức Phật thì trước hết, quí vị phải thông hiểu về giáo pháp đó một cách tường tận.

8. Thứ tám là “Lý”: nghĩa là đạo lý. Nếu quí vị có thể nhập được vào Phật pháp vi diệu thì mới có được sự hiểu biết thông đạt về giáo pháp ấy. Nếu quí vị không khế hội được diệu pháp này, thì quí vị chỉ là người tu tập trong sự mù quáng. Dù quí vị có tu hành bao lâu đi nữa, cũng không đạt được sự thành tựu.

9. Thứ chín là “Nhân”: Trong đời này quí vị phải gieo trồng những nhân thù thắng, nhân tốt lành, nhân thanh tịnh, thì quá khứ quí vị sẽ gặt được quả thù thắng, quả vi diệu và quả thanh tịnh.

10. Thứ mười là “Quả”: Quả tương ứng sẽ đạt được sau khi đã gieo trồng nhân. Đó là diệu quả, quả vị giác ngộ tối thượng.

Như vậy từ chữ án, xuất sinh ra mười pháp môn vi diệu. Nên khi quí vị trì niệm thần Chú Đại Bi, niệm đến chữ án thì tất cả các loài quỷ thần đều chắp tay vô cùng cung kính, không dám tỏ ra khinh suất hoặc lơ là khi nghe hành giả trì tụng thần Chú Đại Bi. Chữ án có một năng lực mạnh mẽ mà đến nỗi khiến cho các loài ác quỷ, ác thần đều phải cung kính chấp trì. Công năng của thần chú thật to lớn, thần lực thật không thể nghĩ bàn.

8. Tát bàn ra phạt duệ

Tát bàn ra, Hán dịch là “tự tại”. Nghĩa là khi quí vị trì tụng thần chú này, thì Tứ đại thiên vương đều đến làm Hộ pháp cho quí vị.

Phạt duệ, Hán dịch là Thế tôn, cũng dịch là Thánh tôn.

Nguyên câu chú này có nghĩa là Tự tại Thế tôn. Tự tại Thánh tôn, tức là Đức Phật tự tại, ý là xưng tán Phật bảo.

9. Số đát na đát tả

Chữ Số có hai âm là Shù và Shùo. Người ta thường niệm là “Shù”.

Số Đát Na có nghĩa là “pháp” (Dharma). Pháp gì? Pháp này còn gọi là “Diệu thắng pháp”. Cũng gọi là “Cao thượng thắng sinh”. Có nghĩa là không có gì vượt trội hơn pháp này nữa. Thắng sinh có nghĩa là từ pháp này xuất sinh ra năng lực rất thù thắng.

Còn một cách dịch khác của chữ Số là “Diệu sinh” hoặc “Thắng thân”. Diệu sinh tức là vượt lên trên mọi sự vi diệu. Thắng thân nghĩa là thể của pháp ấy rất thù thắng.

Còn có một cách dịch khác nữa của chữ Số, là “Tối thượng thừa địa”. Nghĩa là cảnh giới của hành giả sẽ trải qua sau khi chứng được Thập địa của hàng Bồ – tát.

Đát Na là biểu tượng của Pháp bảo.

Đát Tả là biểu tượng cho Tăng bảo.

Cho nên toàn thể câu chú án tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tả là biểu tượng cho Tam bảo. Có nghĩa là chúng ta phải nên ngưỡng nguyện đến sự gia hộ của Tam bảo. Nên khi trì niệm đến câu thần chú này, có nghĩa là thỉnh cầu, ngưỡng nguyện đến lực gia trì của Tam bảo.

Đát tả còn có nghĩa là dùng giáo pháp để răn dạy các loài quỷ thần và dùng thần chú để triệu tập quỷ thần đến mà dạy bảo chúng theo tinh thần chánh pháp.

10. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a lị da

Xưa nay dường như quí vị luôn luôn Nam mô với một người nào khác chứ chưa bao giờ Nam mô với chính mình. Người tu hành không cần phải đi Nam mô một khách thể nào khác mà phải Nam mô ngay với chính mình.

Nam mô có nghĩa là tôi, chính tôi quay trở về quy y với Tam bảo vô cùng vô tận khắp mười phương.

Nam mô còn có nghĩa là đem tự ngã của chính mình thể nhập trọn vẹn vào cả pháp giới khắp cả mười phương. Tức là thể nhập vào Tam bảo vô cùng vô tận khắp cả mười phương.

Tất kiến lật có nghĩa là “hoàn toàn”. Tức là đem hết toàn tâm, toàn ý để quy y và đảnh lễ Tam bảo.

Đỏa y mông có nghĩa là “Ngã”. Đó chính là cái Ngã của Vô Ngã. Nên quí vị phải đem toàn tâm toàn ý đảnh lễ bản ngã của chính mình, nhưng đảnh lễ cái ngã của vô ngã. Như thế có nghĩa là không có mình hay sao? Ví như khi có người đánh quí vị, quí vị không cảm thấy đau; nếu họ mắng chửi, quí vị không thấy khó chịu; nếu họ nhục mạ, quí vị thấy như thể không có việc gì xảy ra. Quí vị không nhất thiết cần phải nhẫn nhục, vì nếu dùng phép nhẫn nhục, là quí vị đã rơi vào “đệ nhị nghĩa” rồi. Trong trường hợp này, quí vị không nhất thiết cần phải “nhẫn”, vì vốn không có một bản ngã để dùng pháp nhân và không có một bản ngã để cho pháp nhẫn ấy tác động tới. Có nghĩa là quí vị phải hành pháp nhẫn trong “vô nhẫn”.

Đó gọi là Ngã của vô ngã vậy.

A lị da ở trên đã giảng qua, có nghĩa là “Thánh giả”. ở đây tức là phải hết lòng đảnh lễ “cái ngã” ấy của Thánh giả. Vô lượng vô biên chư Bồ Tát, hết thảy Thiên Long bát bộ đều phải đảnh lễ cái ngã trong vô ngã của bậc Thánh giả. Cái ngã ấy bao trùm khắp vô lượng vô biên vũ trụ. Có rất nhiều bậc Thánh giả. Họ là ai? Dưới đây, tôi sẽ giảng rõ.

11. Bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà

Bà lô kiết đế dịch là “Quán”.

Thất Phật ra dịch là “Tự tại” hoặc là thế âm. Âm thanh ở trong thế gian. Đây chính là Bồ – tát Quán Thế Âm.

Bà lô kiết đế thất Phật ra là Quán Thế Âm, cũng chính là Quán Tự Tại. Hai danh hiệu này không nhất định phải là Bồ – tát Quán Thế Âm mới được gọi là Quán Tự Tại hay Quán Thế Âm, mà nếu khi quí vị đã đạt được tự tại rồi, thì quí vị chính là Bồ – tát Quán Tự Tại. Khi quí vị có được năng lực cứu độ tất cả mọi loài chúng sinh, thì quí vị chính là Bồ Tát Quán Thế Âm. Vì vậy, một khi quí vị đã thể nhập và vận dụng trọn vẹn pháp này rồi thì chính quí vị là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Nếu tôi đạt được tự tại trong việc vận dụng pháp này thì chính tôi cũng là hóa thân của Bồ – tát Quán Thế Âm.

Lăng đà bà dịch là “hải đảo”, chỉ cho núi Phổ Đà (Potala), nơi Bồ – tát Quán Thế Âm thường thị hiện. Có sách nói núi Phổ Đà ở nước Trung Hoa. Phổ Đà có nghĩa là “hoa trắng nhỏ” vì nơi núi ấy có loài hoa trắng nở rất nhiều. Trên núi có một cung điện được kiến tạo ở trong hang đá gọi là “Cung Từ Bi”, đó là nơi Bồ Tát Quan Thế Âm thường thị hiện. Nơi đó được trang hoàng bằng bảy thứ châu báu: vàng, bạc, xà cừ, pha lê, trân châu, ngọc bích, mã não. Nhưng không phải ai cũng đến được nơi cung điện này.

Bà lô kiết đế thất Phật ra là vị Bồ – tát có đầy tâm nguyện đại từ bi.

Lăng đà bà là cung điện Từ Bi, nơi Bồ – tát Quan Thế Âm thường thị hiện.

12. Nam mô na ra cẩn trì

Trong câu chú này, Nam mô vẫn có nghĩa là “quy y” và “quy mạng kính đầu”.

Na ra dịch nghĩa là “Hiền” – bậc hiền giả, chỉ cho hàng Bồ Tát.

Cẩn trì dịch là “ái”, có nghĩa là tình thương yêu. Trong ý niệm lòng Từ Bi bảo hộ, che chở cho mọi loài. Thế nên lòng từ bi của bậc Hiền giả (Bồ – tát) thường đem đến sự bao bọc, che chở cho chúng sinh. Trước đây tôi đã giảng về 10 loại tâm được đề cập trong Kinh Đại Bi Tâm Đà - la – ni. Quí vị nên y cứ theo mười loại tâm này mà công phu tu tập.

Na ra cẩn trì, Hán dịch là “Hiền ái thiện hộ” có liên quan đến nghĩa thứ nhất, nghĩa là thứ 6 và nghĩa thứ 10 trong 10 loại Tâm: Đó chính là Tâm Đại Bi, Tâm Cung Kính và Tâm Vô Thượng bồ đề.

Câu chú này đại biểu cho 3 loại tâm như trên.

13. Hê rị ma ha bàn đa sa mế

Hê rị có nghĩa là “Tâm”. Tâm này có ý nghĩa gì trong 10 nghĩa? Nghĩa thứ 4 là vô nhiễm trước tâm. Tâm này giúp cho quí vị duy trì bản tâm thanh tịnh của mình. Khi quí vị khởi tâm niệm tham, sân, si, mạn, nghi… thì tâm quí vị liền bị ô nhiễm, không còn thanh tịnh nữa. Khi tâm quí vị không mong khởi những niệm ô nhiễm ấy, thì tâm quí vị được thanh tịnh.

Ma ha có nghĩa là “Đại”, cũng có nghĩa là “Trường”.

Bàn đà sa mế nghĩa là sao? Nếu tôi không nói, chắc chắn quí vị chẳng thể nào biết được. Nên quí vị muốn biết thì trước tiên tôi phải giảng. Lúc đó quí vị mới hiểu được. Quí vị mới nói rằng: “Thì ra ý nghĩa của cân chú ấy là như thế”. Bàn đà sa mế có nghĩa là “đại quang minh” nghĩa là hào quang rực rỡ chiếu khắp.

Bàn đà sa mế lại còn được dịch là “Trường chiếu mệnh” nghĩa là ánh sáng thường chiếu soi rộng khắp mọi nơi.

Nguyên câu Hê rị ma ha bàn đa sa mế có nghĩa là “Tâm đại quang minh”. Nghĩa là ánh sáng của tâm lực, quang minh của tâm lực thường chiếu rộng khắp, mãi mãi siêu việt cả không gian vô cùng, thời gian vô tận; từ một vi trần cho đến vô cùng vô tận thế giới đều có sự hiện hữu của ánh sáng ấy.

Quí vị sẽ nói: “à, cái đại quang minh của tâm ấy, tôi đã nghe trong kinh giảng nói rất nhiều rồi, và…”

Vâng, nhưng trừ phi quí vị không nghe tôi giảng giải thần Chú Đại Bi thì quí vị không thể nào biết được. Tôi sẽ giảng cho quí vị rõ. Thật là khó gặp được người nào có thể giảng giải về Chú Đại Bi một cách rõ ràng tường tận. Thực vậy, hoàn toàn thực tình mà nói, không mấy người thể nhập được rốt ráo ý nghĩa của thần chú Đại Bi hoặc là chuyển được ý nghĩa của thần chú.

Sẽ có người hỏi: “Thế làm sao Sư phụ biết được?”

Quí vị khỏi cần phải hỏi tôi. Vì tôi đã không hỏi thì thôi, chứ quí vị đừng nên hỏi tôi tại sao mà tôi biết được. Dĩ nhiên là tôi phải biết. Nếu tôi không biết, tôi không thể nào giảng giải cho quí vị nghe được. Vì thế đừng nên hỏi tại sao tôi lại biết.

Thay vì quí vị hỏi tại sao tôi biết, thì quí vị hãy quay trở lại hỏi chính mình. Tại sao mình lại không biết? Nếu quí vị biết được lý do tại sao mình không biết, thì quí vị sẽ rõ được tại sao tôi biết. Trái lại, nếu quí vị không thể nào rõ được tại sao quí vị không biết, thì quí vị cũng không thể nào rõ được lý do tại sao tôi biết. Đó chính là điều làm nên sự kỳ diệu vậy.

Chẳng hạn có người đã hỏi tôi rằng: “Tại sao Thầy làm người xuất gia?” Tôi đã không trả lời câu hỏi đó mà hỏi lại rằng: “Tại sao anh lại không làm người xuất gia? Nếu anh biết được lý do vì sao anh không xuất gia, thì anh sẽ hiểu được vì sao tôi lại xuất gia”. Hỏi về đạo lý trong Phật pháp cũng như vậy. Thay vì quí vị hỏi: “Làm sao mà tôi hiểu được đạo lý ấy?”, thì quí vị hãy tự hỏi lại chính mình tại sao mình không hiểu được. Khi quí vị đã hiểu được tại sao mình không biết thì quí vị sẽ hiểu được tại sao tôi lại biết được đạo lý ấy. Nay quí vị đều là những người có nhiều thiện căn nên được dự pháp hội giảng chú Đại Bi. Vậy quí vị phải nên hộ trì, bảo trọng cho thiện căn của mình. Tự mình phải khéo vận dụng thiện căn ấy để tu học và liễu nhập Phật pháp, đừng để hoài phí một phút giây nào cả.

Hiện tại chúng ta đang sống vào thời mạt pháp. Chư Phật và Bồ – tát rất ít thị hiện ở thế gian. Thời gian này, lòng người đang tiến dần đến chỗ hoang liêu, điêu tàn, không dễ gì gặp được chánh pháp, cũng không dễ gì gặp được bậc chân thiện tri thức.

Có lần tôi bảo các đệ tử rằng: “ở Đài Loan có mở Đại giới đàn, năm huynh đệ các con nên đến đó cầu thỉnh để được thọ giới pháp”. Các đệ tử gửi thư cho tôi biết nhiều người ở Đài Loan nói với họ rằng: “Chẳng cần phải tu hành gì cũng có thể thành tựu đạo nghiệp”. Các đệ tử của tôi trả lời rằng: “Chúng tôi cũng là những con người như những con người khác, nếu không chịu tu hành thì làm sao có thể tựu thành Phật đạo? Nếu không công phu hành trì thì làm sao liễu ngộ được chánh pháp”. Nếu quí vị nói rằng không cần phải dụng công tu tập mà cũng thành Phật, liễu đạo thì trước đây đức Phật chẳng cần vào núi Tuyết tu suốt sáu năm làm gì, rồi sau đó đến ngồi dưới cội bồ đề tinh chuyên thiền định suốt 49 ngày, đến khi sao Mai vừa mọc thì Ngài tựu thành chánh giác.

Đức Phật còn phải tu hành mới thành tựu chánh giác. Còn mỗi chúng sinh như chúng ta, nếu không tinh tấn tu hành thì làm sao có thể thành Phật được? Ai ai cũng đều biết phải nhờ vào tu hành mới đạt được Phật quả, nhưng người chân thật tu hành thì rất ít; và ai cũng đều biết nếu không chịu tu hành thì đều có thể bị đọa vào địa ngục, nhưng người không chịu tu hành thì không sao kể xiết. Nghiệp lực thế gian thật là không thể nghĩ bàn!

Quí Phật tử! Sống trong thời mạt pháp mà có được điều kiện để nghiên cứu Phật pháp thì nên dõng mãnh tinh tấn lên, không nên biếng nhác, hãy siêng năng công phu, tinh cần đạo nghiệp mới mong có ngày thành tựu. Nếu không tinh tấn dõng mãnh mà mong thành tựu đạo nghiệp thì không thể nào có được.Vì thế nên quí vị đừng ngại gian nan, khổ nhọc, chướng duyên, tai ách… mọi thứ nên quên. Phải đánh trống dõng mãnh lên để cho tinh thần phấn chấn, chỉ một hướng thẳng đến công phu mới mong có ngày thành tựu quả vị Phật.

Tôi đang nói về sự vi diệu của Phật pháp. Nếu quí vị không phát khởi niềm tin vào trí tuệ siêu việt thì đạo lý này đối với quí vị cũng chẳng có lợi ích gì. Quí vị có thể thâm nhập Phật pháp từ mọi sinh hoạt trong cuộc sống, từ mỗi bước chân lặng lẽ của thời gian trong toàn thể pháp giới…

Trong Phật pháp, điều gì quí vị cũng muốn diễn bày cho rõ ràng minh bạch thì thường bị đánh mất những nghĩa lý sâu mầu vi diệu. Nay tôi dù có trình bày hết về diệu lý của Phật pháp, nhưng nếu quí vị không tin sâu và không hành trì thì điều tôi giảng không còn là diệu pháp nữa. Hơn nữa sự hành trì cần phải thường xuyên vào mọi lúc, mọi nơi với tinh thần tinh tấn, không lui sụt, không biếng nhác. Đây là điều khẩn thiết nhất. Nếu quí vị mọi thời, mọi lúc đều hướng về phía trước mà nỗ lực công phu thì nhất định một ngày kia sẽ trực nhận ra “mặt mày xưa cũ” của chính mình.

Bàn đà sa mế dịch nghĩa là “đại quang minh” hay “trường chiếu minh”, tiêu biểu cho nghĩa thứ năm trong mười nghĩa của tâm, đó là “quán tâm không”. Thông qua “quán tâm không”, hành giả mới có được trí tuệ. Với trí tuệ, hành giả mới có được quang minh. Có được quang minh, mới tỏa chiếu, soi sáng khắp mọi pháp giới được. Tức là không còn tối tăm, mê muội, tức là không còn vô minh.

Sao gọi là “vô minh”, vì tâm của quí vị không có được sự tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới, do vì quí vị không có được “đại quang minh”. Nếu quí vị có được “đại quang minh” thì tâm quí vị liền có được sự tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới, có nghĩa là quí vị đã chuyển hóa được vô minh. Một khi vô minh đã bị chuyển hóa sạch rồi, thì pháp tánh hiển hiện, đây chính là trí tuệ chân thật của quí vị.

Thuở xưa vào triều đại nhà Lương ở Trung Hoa có Thiền sư Chí Công là một bậc Đại đức cao tăng. Không sử sách nào ghi lại song thân của Thiền sư là ai. Người ta thường kể với nhau rằng: Một hôm nọ, có người phụ nữ nghe tiếng khóc của một hài nhi trên cành cây cao. Cô ta trèo lên, thấy một hài nhi nằm trong tổ chim ưng, bèn đem hài nhi về nuôi. Tuy thân thể hài nhi này hoàn toàn giống như người nhưng những móng tay, móng chân giống như móng chim ưng. Khi trưởng thành, xuất gia tu đạo, chứng được ngũ nhãn lục thông. Không biết cha mẹ Ngài là ai, chỉ biết Ngài sinh trong tổ chim ưng nên mọi người đều phỏng đoán Ngài được sinh ra từ trứng chim ưng vậy.

Thời ấy, vua Lương Vũ Đế cũng như mọi người đều rất kính trọng và tin phục các Thiền sư. Bất luận khi họ gặp những sự kịên gì trong đời sống, như sinh con, cha mẹ qua đời, cưới hỏi… họ đều cung thỉnh các Thiền sư đến để tụng kinh chú nguyện.

Một hôm, có một gia đình giàu có thỉnh Thiền sư đến tụng kinh chú nguyện nhân dịp đám cưới người con gái của họ, đồng thời thỉnh Thiền sư ban cho vài lời chúc mừng để mong rằng trong tương lai, việc hôn nhân đều được tốt lành như ý. Thiền sư Chí Công đến nhà ấy, khi nhìn thấy cô dâu chú rể, Ngài liền nói:

“Thật cổ quái, thật cổ quái!”

“Cháu cưới bà nội”

“Thật cổ quái” nghĩa là xưa nay chưa từng có một việc như vậy. Đây không phải là chuyện xưa nay thường xảy ra. Thật kỳ lạ khi nhìn một đứa cháu cưới bà nội mình làm vợ. Trên thế gian này, nếu không thông đạt những nhân duyên trong thời quá khứ thì không thể nào lý giải được những mối quan hệ cha con, mẹ con, vợ chồng, anh em, bè bạn… của nhau. Vì sao? Vì mọi người đều có thể là chồng hoặc vợ của nhau trong đời trước. Một người có thể là cha hoặc là con của nhau trong nhiều đời trước. Hoặc một người đều là mẹ và con gái của nhau trong đời trước. Ông nội của quí vị trong đời trước lại kết hôn với cháu gái của quí vị trong đời này. Hoặc là bà ngoại đời trước lại tái sinh làm con gái của quí vị. Tất cả mọi việc đều có thể xảy ra, và đều chịu sự biến hóa khôn lường.

Trong nhà này, chuyện “cháu cưới bà nội” là do trước kia, khi bà nội sắp mất, bà trăn trối lại với toàn gia quyến: “Con trai ta vừa mới cưới vợ và đã có con nối dòng. Con gái ta cũng đã có chồng, ta không còn bận tâm gì nữa”. Bà ta hoàn toàn thỏa mãn và đã gạt mọi sự bận tâm qua một bên, ngoại trừ một điều: còn đứa cháu nội, “tương lai rồi sẽ ra sao? Ai sẽ chăm sóc nó? Liệu người vợ của nó có đảm đang hay không? Ta không thể nào không lo cho nó được!”

Bà nắm tay đứa cháu nội và qua đời. Người ta bảo rằng nếu mọi việc đều toại nguyện, lúc lâm chung có được tâm trạng thơ thới thì người chết sẽ nhắm mắt. Còn nếu không, thì người chết không nhắm mắt được. Bà lão nói: “Bà rất lo lắng cho cháu, bà chết không nhắm mắt được”. Nói xong, bà ra đi mà mắt vẫn mở. Thần thức của bà vẫn còn lo âu. Khi đến gặp Diêm vương, bà ta than khóc, thưa rằng:

- Tôi còn đứa cháu nội, không ai chăm sóc nó.

Diêm vương đáp:

- Được rồi, bà hay trở lại dương gian chăm sóc cho nó

Nói xong, bà ta được đầu thai trở lại trong cõi trần. Khi đến tuổi thành hôn, bà ta lấy người cháu nội trước đây của bà ta. Vì vậy nên nói “cháu lấy bà nội”. Quí vị thấy có phải là cổ quái thật không?

Chỉ vì một niệm ái luyến không buông xả được mà tạo nên biết bao duyên nghiệp buộc ràng về sau. Bà ta chỉ vì bận tâm vì đứa cháu, mà về sau phải làm vợ cho nó. Quí vị thử nghĩ lại xem, đây chẳng phải là chuyện cổ quái hay sao?

Quí vị sẽ hỏi: “Làm sao mà Thiền sư Chí Công biết được điều ấy?” Thiền sư biết được là vì Ngài đã đạt được ngũ nhãn và lục thông. Nên chỉ cần nhìn qua, là Ngài liền biết được ngay kiếp trước của cô dâu vốn là bà nội của chú rể. Chỉ vì bà nội đã khởi một niệm ái luyến sai lầm nên nay phải đầu thai trở lại làm người, và làm vợ của đứa cháu nội mình. Một niệm lành còn như thế huống gì là niệm ác, hoặc khởi trùng trùng niệm ác thì luân hồi trong tam đồ lục đạo biết bao giờ dứt, biết bao giờ mới mong ra khỏi.

Thiền sư lại nhìn trong số khách đến dự đám cưới, có một bé gái đang ăn thịt, Ngài nói: “Con gái ăn thịt mẹ”.

Vì miếng thịt mà em bé đang ăn là thịt dê, con dê này vốn là mẹ của em bé đầu thai lại. Kiếp trước bà ta đã tạo nghiệp ác quá lớn nên đã phải đọa làm dê. Nay lại bị chính con mình ăn thịt. Vòng oán nghiệp khởi dậy do vô minh của chúng sinh không lời nào kể hết được. Chư Bồ Tát t