Khoa học và sự tái
sinh theo nhà Phật
Soạn dịch:
Nguyễn Điều
-Tập sách này được biên soạn với mục đích chân
thành cống hiến cho nền văn học đạo Phật và dân tộc Việt Nam.
- Kính dâng cha mẹ, thầy tổ, cùng những bậc hữu
ân của soạn giả.
- Thân tặng các con Alice Ngọc Thảo, Francois
Quang Tuân, Caroline Ngọc Vân, và những ai đã dành cho soạn giả nhiều
cảm tình trong việc truyền bá chánh pháp.
- Trao về Huệ Trinh, người bạn chắp nối, đã
luôn luôn khuyến khích việc biên soạn.
- Nguyện cầu cho tất cả chúng sinh được bình
an, nhất là nhân loại đừng oan trái lẫn nhau.
-Với tinh thần khoa học, đạo Phật nói gì về tâm
linh, giác thức, và sự tái sinh?
- Để giải tỏa phần nào câu hỏi ấy, mời quý vị
thử đọc qua những trang sách này!
Lời nói đầu
Tập sưu tầm nói về khoa học và sự tái sinh này gồm nhiều đoạn.
Mỗi đoạn đề cập đến một số “khía cạnh” của năng lực tinh thần, xuyên qua
thể xác đang sống. Cách diễn tả được trình bày dưới dạng một “liên quan”
khoa học. Tựu trung tất cả đều hướng về sự sống và tiềm lực tái sinh sau
khi chết, theo nhà Phật.
Đây là một đề tài rất khó khăn, đã làm tốn biết bao nhiêu trí lực, giấy
mực của các bác sĩ thần học, các triết gia, các tư tưởng gia, và những
nhà thông thái, chuyên nghiên cứu về các hiện tượng tâm linh. Nó vốn là
một vấn đề vừa thực tế vừa trừu tượng, huyền bí, nên soạn phẩm này cũng
chỉ có thể làm sáng tỏ một số vấn đề trên một vài phương diện chủ yếu
nào đó mà thôi.
Và châm ngôn thường được nhắc đến trong khi nghiên cứu Phật học, là “nên
giữ ý quên lời”…Vì lời lẽ, văn tự dù gọn ghẽ, rõ ràng, sắc bén đến đâu,
cũng chỉ là những phương tiện để “vận chuyển” cái “hiểu biết” của người
này, nhiệt thành cống hiến đến người khác. Nếu căn cứ vào văn tự để kết
luận cái “ngụ ý”thì không bao giờ nhận được sự cảm thông, nhất là trong
trường hợp “phải mượn chữ nghĩa chế định (prajnatti) để khả dĩ hiểu thấu
chỗ tương quan siêu việt (paramartha)”trong nhà Phật.
Lại nữa, khuôn khổ sinh sống không cho phép người viết dành trọn thì giờ
cho sự nghiên cứu lẫn thu thập tài liệu, nên thiếu sót là một điều khó
có thể tránh được. Soạn giả vẫn tự biết rằng một tập sưu tầm ngắn chắc
chắn không thể nào hoàn hảo, ngưỡng mong chư độc giả niệm tình và bổ túc
cho.
Thành thật cảm tạ.
SG
PHẦN I
TIỀM LỰC CỦA TINH THẦN TRONG CON NGƯỜI
Thông thường thì con người là cấu hợp sinh lý nhân
thể của nhiều thế hệ cha mẹ lưu truyền. “Cấu hợp sinh lý nhân
thể” này cũng được nuôi dưỡng bởi một môi trường đủ yếu tố thích hợp cho
sự sống, như ở đó phải có nước, có thực phẩm, có dưỡng khí, có ánh sáng,
có nhiệt độ, và có tỷ trọng v.v…
Nhưng đối với Phật giáo, tất cả những thứ ấy chỉ là vật chất, tức chỉ
thuộc về phần thể xác hữu hình, hay “Sắc pháp” (Rùpadhamma)
nơi con người mà thôi. Nói một cách khác có vẻ Phật học hơn, vật chất đó
ám chỉ tứ đại (Cattàro Mahàbhùtàni), gồm cả bốn thể
(biến năng) nòng cốt sau đây:
1-Thể
Địa và tánh cứng mềm của đất (Phạn ngữ là
“Phathavì”), cùng của tất cả những gì thuộc về “địa”, hoặc từ địa mà ra,
như các khoáng chất, bụi trần, cây cối, động vật v.v…
2-Thể
thủy và tánh trượt lên nhau, rồi kết hợp và tan rã của
nước (Phạn ngữ là “Àpo”), cùng của tất cả biến dạng của “thủy”, hòa
lẫn trong lòng đất hay trong bầu khí quyển.
3-
Thể hỏa và tánh co giãn, teo lại hay bành trướng
của lửa (Phạn ngữ là “Tejo”), cùng của các năng lực nóng lạnh do “lửa”,
hội tụ trong lòng đất hay tản mạn ngoài quả đất.
4-
Thể phong và tánh xê dịch cùng làm cho những cái khác
lưu động của gió, hay của không khí (Phạn ngữ là “Vàyo”), thường di
chuyển ngoài mặt đất và thông thấu trong địa chất.
Còn
phần “vô hình” nhà Phật gọi là “Danh pháp” (Nàmadhamma), một tổng
hợp liên quan, tương ứng với phần hữu hình hay Sắc pháp (vật chất). Đối
với nhà Phật, danh pháp là “nguyên lý” của mọi diệu hoạt, nên phải được
đặc biệt chú ý và phân tích tỉ mỉ, như một môn học tiến hóa và luân hồi
xuyên qua những phản ứng hóa năng và siêu năng trong sự sống.
Bốn
thể và tánh nêu trên luôn luôn hiện hữu
trong mọi “sắc pháp”. Sắc pháp ở đây chỉ chung cho tất cả các vật
chất đơn thuần hay các vật chất biến dạng.
Như
vậy đối với Phật giáo, bất cứ sắc pháp nào bên trong cũng chứa đủ
bốn thể và tánh nói trên, tức là chứa tứ đại (Địa, Thủy, Hỏa,
Phong). Duy một diều là tỷ lệ của bốn thể và tánh ấy khi quá chênh
lệch, thì người ta chỉ nhận thấy cái thể và tánh cực lớn,
mà không nhìn thấy cái thể và tánh cực nhỏ ẩn tàng trong
đó. Nó cực nhỏ đến độ tưởng chừng như không có.
Ví
dụ: Lúc quan sát một khối sắt hay một tảng đá, người ta chỉ có thể thấy
cái thể và tánh cứng (địa) cực lớn của khối sắt hay của tảng đá mà thôi.
Nhưng kỳ thực bên trong nó vẫn chứa ba thể và tánh kia với tỷ lệ cực
nhỏ. Vì nếu không chứa ba thể và tánh ấy, khối sắt hay tảng đá đã không
hiện hữu. Và nếu nó đã chứa và đang hiện hữu mà có một quyền lực nào đó
“tịch thu” mất ba thể và tánh ấy, thì khối sắt hay tảng đá sẽ lập tức rã
tan thành tro bụi, rồi loãng vào không khí. (Như những vật bị bom nguyên
tử thiêu đốt). Trong sự sâu sắc này, rõ ràng là nhà Phật đã nói đến bốn
thể và tánh của nguồn gốc vật chất do tứ đại hợp thành, một cách rất vi
tế, khoa học.
Tuy
nhiên, đối với “vật chất” là một con người, mà chúng ta
muốn khảo cứu ở đây, thì Phật giáo đã tiết lộ:
“Tứ
đại (toàn bộ vật chất) ấy chỉ là một yếu tố trong năm yếu tố để
tạo thành một nhân vật”.
Vậy
bốn “yếu tố” kia là gì? Bốn yếu tố kia được nhà Phật liệt kê, là
thọ, tưởng, hành, thức. Chúng còn có một cái tên chung khác là Danh
pháp. Nói tóm lại theo nhà Phật, con người sinh hoạt chỉ là một kết cấu
của danh pháp và sắc pháp, hay gọi tắt con người là tổng hợp của
danh và sắc.
Trong “Vi Diệu Pháp thống kê” (Abhidhammapitaka), tổng hợp “danh và sắc”
ấy còn được gọi là “ngũ uẩn”. Chữ Phạn dịch ra ngũ uẩn là “Panca
khandhà”, tương đương với tiếng Pháp là “cinq agrégats”, tức là sự phối
hợp của năm kết tập, cụ thể lẫn trừu tượng (vật chất và tinh
thần).
Ngũ
uẩn (hay năm kết tập) đó gồm Sắc uẩn
(Rùpa-khandhà), Thọ uẩn (Vedanà), Tưởng uẩn
(Sannà-khandhà), Hành uẩn (Sankhàra-khandhà) và Thức
uẩn (Vinnàna-khandhà).
Sắc uẩn ám chỉ xác thân, có hình thức khối lượng, biến đổi theo thời
gian, và sờ thấy được, nên nó cụ thể. Còn thọ uẩn, tưởng uẩn, hành
uẩn, và thức uẩn thì biến hiện, trừu tượng, vô hình, như điện
từ.
Bốn
uẩn này phải nương vào sắc uẩn (xác thân còn sinh hoạt) mới hiển lộng ra
được. Và người ta cũng căn cứ vào những hiển lộng ấy mà hiểu biết, xác
nhận sự hiện hữu của chúng.
Khi
hoạt động, bốn uẩn (hay danh pháp) ấy lại hiển lộng ra hai mặt, là
mặt nổi và mặt chìm:
Mặt nổi gồm thọ uẩn, tưởng uẩn, và hành uẩn.
Chúng hiển lộng xuyên qua năm cửa hướng ngoại và một
cửa qui nội của con người, là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và tư
ý. Năm cửa hướng ngoại và một cửa qui nội ấy, nhà Phật còn gọi bằng một
cái tên khác là lục căn, gồm nhãn căn (thị giác), nhĩ căn
(thính giác), tỷ căn (khứu giác), thiệt căn (vị giác), thân căn (xúc
giác), và ý căn (tâm tư). Tức là sáu cái ‘cơ sở’ để tinh thần (hay thức
uẩn) hoạt động.
Sáu
cơ sở này trong con người có thể ví như một ngôi nhà thí nghiệm khoa học
(laboratoire), mà nhãn căn là cái máy chụp hình, nhĩ căn là “ba động kế”
thu thanh, tỷ căn là dụng cụ tiếp mùi, thiệt căn là bộ phận ghi lại các
vị, thân căn là hệ thống đo lường sự cọ xát hay sức ép, và ý căn là chỗ
tích tụ và phản chiếu của năm hoạt động kia. Tập hợp của sáu sinh hoạt
chính ấy chính là “phần hành chung” của “bộ ba” thọ uẩn (cảm thọ), tưởng
uẩn (ghi tưởng), và hành uẩn (chuyển ý vận hành) trong ngũ uẩn của con
người.
Mặt chìm tuy chỉ có một mình thức uẩn (hay tinh thần)
hoạt động, nhưng nó lại rất đa diện, tốc hành, và hùng hậu. Xưa nay
những nhà nghiên cứu tâm linh thường gọi nôm na thức uẩn là tinh
thần hay linh hồn.
Nhưng theo Duy thức học trong Phật giáo, thì vì thức uẩn hùng hậu như
vậy nên nó tự thiết lập đến ba vòng ẩn hoạt, huyền bí vô
cùng, là vòng ngoài, vòng giữa, và vòng trong. Ví như chiều sâu của đại
dương gồm đáy biển, trung tầng, và thượng tầng.
Vòng
ngoài của thức uẩn tương ứng với thượng tầng của đại dương (kể cả mặt
nước), nơi hứng chịu mọi vật, và áp lực của gió bão. Còn vòng ngoài của
thức uẩn thì hướng qua năm giác quan, chịu tất cả ảnh hưởng của ngoại
trần. Vòng ngoài ấy được gọi một cách tổng quát là nhận thức.
Vòng giữa của thức uẩn tương ứng với trung tầng của đại dương, có
tác dụng phân biệt trước một đối tượng, để phản ứng ra ngoài hay nhận
vào bên trong, cũng như trung tầng của đại dương có tác dụng đẫy bất cứ
một vật thể gì lên mặt nước, hay nhận chìm vật ấy xuống đáy biển.
Vòng giữa này có một cái tên khác là tri thức.
Vòng trong cùng của thức uẩn tương ứng với đáy biển, có đặc tánh tự
nhiên là yên lặng thống kê mọi vật, và vô tư kết toán cáo nào mạnh
(nhiều), cái nào yếu (ít). Cũng như đáy biển là kho chứa tất cả những gì
chìm xuống đó và giữ nguyên vị, không dời chỗ. Vòng trong cùng,
hay trung tâm của thức uẩn này, được gọi là linh thức.
Và
chủ đích của tập sưu tầm này là nói về linh thức ấy, trong thân thể sinh
hoạt của con người, bằng một số ngôn ngữ tỷ giảo theo khoa học.
Qua
nhãn quan khoa học, người Phật tử có thể phát biểu rằng: Thân thể con
người khi còn sống là một cái máy năng động. Nó có thể phát sinh một hệ
thống “điện từ”(courant électro-magnétique).
Hệ
thống điện từ này biểu hiện cho sức mạnh tinh thần, rất ẩn lặng và vô
hình, mà nhiều nhà nghiên cứu Duy Thức trong Phật học gọi là Mạt-Na
A-Lại-Da thức (Màna-Àlaya), hay “linh hồn thức”, tức tổng hợp của thức
thứ bảy và thức thứ tám, có khả năng “tái tạo” sự sinh tồn dưới dạng này
hay dưới dạng khác. Nó là một “thanh khí” (créature éthérée) bao trùm,
thấu nhiễm não bộ, và toả đến toàn thân, không khác gì vùng thanh khí
(zone éthérée) xung quanh một tinh tú.
Luồng điện từ phát sinh nơi thân thể con người còn gọi là “nhân
điện”, một loại tĩnh điện (électrostatique), cũng có hai cực Âm và Dương
như trong dòng điện cơ khí. Cực Âm của tĩnh điện thân
người, nằm ở hạ đỉnh cung Tý (đúng lúc 0 giờ), và cực Dương nằm ở
thiên đỉnh cung Ngọ (lúc mặt trời đứng bóng) trên vũ trụ tuyến.
Hai cực này liên lạc với nhau bằng luồng từ điện có cái
tên là Tý Ngọ tuyến, tương đương với tên khoa học là “Kinh tuyến”
(Méridien).
Tý Ngọ tuyến này làm thành một (thùy trục) (Axe
cosmique). Thùy có nghĩa là từ trên xuyên đến dưới theo một đường vô
hình chạy từ đỉnh đầu đến lòng bàn chân trong thân thể con người. Đường
này phối hợp và thẳng góc (perpendiculaire) với các đường ngang di động,
làm thành toàn bộ “trực giác” trong sinh lực.
Kinh
tuyến thiên nhiên, hay thùy trục của quả đất, cũng là một trục vô hình
(do trí biết chứ không có sắc thể), khởi từ cực Bắc xuyên quả đất đến
cực Nam, làm trung tâm cho quả đất tự xoay tròn, và chạy quanh mặt Trời,
khoảng 2 triệu 400 ngàn cây số mỗi ngày, giữa không gian vô tận.
Và
trong thân thể con người thì thùy trục này xuyên từ đỉnh đầu đến lòng
bàn chân, nối liền hai điểm Tý Ngọ. Con người khi còn sống, nằm hẳn
trong một khung vô hình (trần gian), là khoảng tương giao (hay vùng giao
tuyến), thuộc hoành đồ sinh động, dung thông với trục trái đất và vũ trụ
tuyến. Thùy trục khởi từ đỉnh đầu xuyên đến lòng bàn chân con người,
cũng giống như thùy trục của trái đất, chạy từ Bắc cực đến Nam cực.
Vì tính lưu luyến của luồng từ điện nằm trong thùy trục con người,
mà tạo thành và sinh ra từ sự cảm ứng (induction) của nhân điện khí. Đó
cũng là từ lực của thân thể con người, tương đương với trọng lực của
trái đất, theo định lý Faraday.
(Ông Michael Faraday là người Anh, sinh năm 1791 tại Newington Survey và
mất năm 1867 tại Hempton Court. Ông là một nhà vật lý hoá học thiên tài,
đã khám phá ra hiện tượng cảm ứng của luồng từ điện quả đất, để làm kim
chỉ nam trong địa bàn).
Nghĩa là nếu so sánh, thân thể con người thì cũng giống như quả đất. Nó
có đường “kinh tuyến” làm trục cho sự xoay tròn, hoạt động.
Kinh
tuyến là “quỷ hình” của đường dọc, chạy suốt từ Bắc cực đến Nam cực, từ
khai thiên lập địa đã tập trung một cách sơ động hai sức nóng và lạnh
(nguyên nhiệt, nguyên hàn) của mọi vật hiện hữu. Rồi từ chỗ hội tụ
ban sơ đến chỗ tích lượng phát huy, tạo ra sự “cảm ứng” của
điện tử khí (électricité magnétique).
Kết
luận: “Sự cảm ứng (induction) của điện tử khí chính là hiện tượng cấu
kết của điện và từ lực sinh ra”, đã được nhà bác học vật lý Faraday
thí nghiệm mà tìm thấy, khiến công trình khám phá của ông trở thành một
đóng góp vĩ đại cho nền khoa học nhân loại mãi đến ngày nay. Tức là xác
nhận rằng tất cả những dòng điện đều có phát sinh ra “vùng từ lực”, và
vùng từ lực đó phải có sự cảm ứng của điện tử khí.
Tương tự như thế, thân thể con người khi hoạt động cũng sinh ra dòng
từ điện, tạo thành một lực cảm ứng, nối liền với
linh lực của con người.
Linh
lực này gồm có hai phần: Phần động (hiển lộng) gọi là Mạt-Na (Màna),
quen gọi là “hồn”, và phần tĩnh (an nhiên) gọi là A-Lại-Da, thường gọi
là “phách”. Đó là hai thức lực tiềm lặng ‘nằm’ vừa trong vừa
ngoài trí não con người. Hai loại siêu năng này biểu lộ
được là do động lực cảm ứng của dòng nhân điện lưu chuyển trong thân
thể.
Hồn lực Mạt-Na (còn gọi là thức thứ bảy) bao gồm tất cả tâm sở (Phạn
ngữ là Cetasikà) thuộc về dương tính (positive), chủ trì các sự hiếu
động và hành vi con người. Nó tượng trưng cho tiểu ngã, hay thường gọi
là tự ngã (tức là cái ta), nắm giữ toàn diện cá thể nhân sinh.
Cái “ta” này đối với bề ngoài (mặt nổi), thì phát ra lý trí và
tư vọng. Nhưng nó lại có tính thay đổi không ngừng, và phân biệt cái
này với cái kia, luôn luôn chạy theo các quy luận song đối, nhị biên
(dualité), như một số từ ngữ tượng trưng sau đây: có không, sáng tối,
đẹp xấu, trắng đen, phải trái, khôn dại, trên dưới, nam nữ, thuận
nghịch, thương ghét, ngon dở, xa gần, lớn bé, đa thiểu, đặc trống, kín
hở, trước sau, đông tây, nam bắc v.v… tổng cộng thành vô số từ ngữ,
không thể kể ra hết được. Nó hàm chứa toàn thể ý niệm, tư duy, tánh nết,
từ ti tiện cho đến cao thượng của mỗi cá nhân.
Hồn
lực Mạt-Na có tật ôm ấp lâu dài toàn bộ những cảm xúc và hiểu biết từ
lục thức (năm giác quan cộng với tâm tư) phản chiếu vào. Rồi sau khi đã
tự nhiễm hoàn toàn những cảm xúc và các hiểu biết ấy, nó lại
chuyển chúng vào trong phách lực A-Lại-Da (hay tàng thức), để thủ kết ở
đó.
Vì
phách lực A-Lại-Da (hay tàng thức) ẩn sâu trong tâm khảm
(sub-conscience), nên rất tiềm tàng. Bản tánh nó thuộc về âm (négative)
vốn tĩnh lặng, đễ luôn luôn chất chứa mọi pháp hành (nhân quả) trong bất
động. Cái “kho” A-Lại-Da cất giữ không những tất cả hiểu biết và kinh
nghiệm của hiện tại, mà nó còn tồn trữ toàn thể pháp hành từ vô thủy quá
khứ, đến mãi mãi muôn kiếp luân hồi trong tương lai. Nó là cái “thức
lực” vô khả duy lý, thuần tuý “vô tư”, khuyến tính phân biệt, không bị
hạn chế giữa hai tình trạng nhị biên, nên trong cái “kho” của nó có đủ
tất cả di sản, không thiếu bất cứ một hành nghiệp nào của mỗi sinh vật.
Nói
cách khác, nó ví như một bà mẹ mù , không biết phân biệt, chỉ
luôn luôn giữ kỹ, và nuôi dưỡng tất cả những đứa con, bất kể đẹp xấu,
mạnh yếu, lớn nhỏ.
Tuy
nhiên, với bản chất “thụ động” như thế trong tiểm thức một con người, nó
vốn có sự chuyển hoá phi thường: khi nó bị chất chứa nhiều quá bởi
một nghiệp quả nào đó, thì nó lại làm cho hiện thân cách sống của kẻ ấy
phải lộ ra, y như ưu thế của cái lượng nghiệp quả đang dồn cất trong nó.
Vì vậy mà trên cõi đời mới có hàng tỷ cá nhân, tuy nhìn bề ngoài là con
người, nhưng bên trong bản tánh mang nhiều tư cách khác nhau, không ai
giống ai, từ thực thà hay hung bạo như thú vật, đến thông minh hiền lành
hay khôn ngoan xảo quyệt như những đại danh nhân, hay đại gian hùng.
Phách lực hay tàng thức A-Lại-Da tượng trưng cho “đại ngã”, làm tiêu
biểu cho “bản thể vũ trụ”. Nó là “gạch nối” giữa tiềm thức với cõi vô
cùng, và là “pháp thân” của mọi sinh linh khi chưa chuyển động. Nó cũng
là “chân ngã” hay “tịnh ngã”, tức cái “ta thật” của mỗi chúng sinh lúc ở
chiều sâu.
Nó
giống như một mảnh đất, mà kinh gọi là “Địa Tạng”, nhận đủ
các loại hạt giống để làm mọc mầm, nuôi dưỡng cho lớn lên những thứ
nghiệp quả đã gieo vào đó. Nếu gieo giống Bồ Đề thì có cây Bồ Đề mọc và
lớn lên, nếu gieo giống cỏ độc thì có cỏ độc mọc.
Vì
hiện nay khoa học chưa có cách chứng minh phách lực A-Lại-Da, để cho ta
thấy biết tường tận, nên có nhiều người không tin là mình sẵn có một bảo
vật, một di sản nội tại vĩ đại, một sức mạnh phi thường, là phách lực
A-Lại-Da.
PHẦN II
TIỀM LỰC “TÁI SINH” QUA SỰ NGHIÊN CỨU NÃO
BỘ
Tái
sinh là một vấn đề vô cùng hóc búa trong khoa học tâm linh. Nó ám chỉ
khả năng của cái mà người ta gọi là tinh thần, hay linh hồn của một
người sau khi chết.
Các
nhà chuyên nghiên cứu về não bộ nhân thế, xưa nay vẫn chỉ công bố những
gì họ đã từng nhiều thế hệ khảo sát qua. Nhưng họ không bao giờ khẳng
định đó là kết luận cuối cùng. Nghĩa là họ chưa dám xác nhận rằng: Chẳng
còn gì để tìm hiểu thêm về tinh thần con người nữa. Vì quyết đoán như
vậy là đóng khung, là dừng lại, là phản tiến bộ, và phản khoa học.
Bác
sĩ Hyppocrate, người Hy lạp, sinh năm 377 trước kỷ nguyên, khi khám
nghiệm vết thương ở đầu đã nói:
“Do
não bộ và chỉ có não bộ mà thôi, mới cho chúng ta những lạc thú (như nụ
cười, nét hài hước), và cho chúng ta sự phiền muộn (như buồn rầu, sợ hãi
hay đau đớn)”.
Một
khoa học gia khác, ông Richard Restak chuyên về thần kinh, cũng phát
biểu: “Não bộ là nơi sinh ra thần trí (esprit) và lương tri (conscience)
của con người”.
Ngày
nay, nếu có một số nhà vật lý thần kinh học (Physico-Neurologur) đồng ý
với mấy câu nói nêu trên, thì cũng có những vị khác chẳng đồng các quan
điểm ấy. Và họ tuyên bố thẳng ra rằng: “Thật sự chúng tôi vẫn chưa
hiểu được thần trí và lương tri của con người nằm trong não bộ như thế
nào. Hy vọng một ngày kia khoa học sẽ rọi được ánh sáng vào đó ”.
Bàn
xa hơn, một nhà thần kinh học nọ, ông David H.Hubel lại phân trần: “Hai
chữ tinh thần của con người chẳng có giới hạn rõ ràng, chúng ta hãy tạm
gác nó ra ngoài khoa nghiên cứu cụ thể. Vì nó mang đặc tính bí hiểm, khó
hiểu như Ê-te(éther), một thứ tĩnh khí nằm trong vũ trụ, mà không ai
biết nguồn gốc”. Phải chăng ông muốn nói: Vị trí của tinh thần đối
với não bộ, có thể xem như vị trí của tâm thần học đối với khoa học nhân
thể thực nghiệm?
Nhưng theo cái nhìn thanh tịnh khoa học, trong đạo Phật,
sự “tương thông” giữa tinh thần và não bộ, có thể hiểu như sự phản
ứng của luồng điện khi gặp hoá chất sinh ra. Đó tuy là một
phối hợp có nguyên lý. Nhưng người ta không thể thực nghiệm,
tách rời được cái nguyên lý ấy ra khỏi phối hợp, bằng những chứng minh
cụ thể.
Các
nhà bác học về sinh hoạt cơ năng, khi nêu lên thuyết “Não bộ hoạt
động sinh ra tinh thần”, họ đã chỉ xem não bộ như một cái máy “phối
trí” (ordinateur). Nhưng “kẹt” một cái là máy phối trí lúc chạy, phải
tuân theo một chương trình đã hướng dẫn sẵn (Logiciel). Không có chương
trình ấn định trước, và không có ngón tay “khởi động” ấn vào nút “ra
lệnh”, thì máy phối trí trở thành vô dụng, không làm sao tự “kích thích”
để lấy đà, làm hết những việc còn lại. Nghĩa là máy phối trí dù tinh vi
đến đâu, cũng chỉ “thi hành” sau khi nhận lệnh, và luôn luôn làm việc
theo thứ tự, cái này trước cái kia sau, chứ nó chẳng bao giờ biết nhận
xét, để cân nhắc, uyển chuyển, thẩm định, tự chọn vào phút chót cái nào
quan trọng nhất, mà làm trước.
Nhưng não bộ của con người thì khác. Hiển nhiên nó kỳ lạ hơn cái máy
phối trí bội phần. (Danh từ ordinateur hiện nay được nhiều người Việt
dịch là máy vi tính, nhưng trong khuôn khổ bài này, chúng tôi xin
phép gọi là máy phối trí cho tiện, mong quý vị thông cảm).
Về
phương diện cấu tạo, não bộ có hàng triệu đường gân li ti, kết nối với
nhau chằng chịt trong một xương sọ chỉ lớn khoảng bằng quả dừa, để nó tự
giải quyết cùng một lúc khá nhiều vấn đề phức tạp khác nhau, mà trên khả
năng “vận chuyển”, một máy phối trí dù tối tân đến đâu cũng không thể
nào làm được.
Tuy
nhiên, máy phối trí và não bộ lại có một điểm tương đồng: Cả hai muốn
hoạt động phải nhờ dòng điện tử. Điện tử dùng cho não bộ do
biến hóa thân nhiệt con người cung cấp, còn điện tử chạy máy phối trí
(ordinateur) thì do cơ khí dẫn đến.
Như
trên đã nói, điểm đặc sắc mà máy phối trí muôn ngàn lần không thể nào bì
kịp não bộ, là não bộ tự nó thiết lập và thay đổi được chương trình. Còn
máy phối trí thì phải nhờ vào sự sáng tạo của con người. Tức là nhờ
chuyên viên tin học (informaticien) cho nó chương trình, rồi bảo gì thì
nó làm nấy.
Hơn
nữa, chưa có một máy phối trí nào có thể làm được những chuyện như mơ
mộng, tươi tỉnh, mỉm cười ý nhị, hay nóng nảy hậm hực, hoặc hờn giận lầm
lì một cách sâu sắc nham hiểm, mà người bàng quan khó đoán trước được
phản ứng ra hành động của người mang nét mặt ấy ra sao, tiếp theo sau
đó.
Nói
chung là sự biểu lộ những thất tình lục dục, thuộc về tinh thần (esprit)
và lương tri (conciense) của con người, thì máy phối trí hoàn toàn bất
lực.
Vì
thiếu tinh thần và lương tri, nên máy phối trí không thể phân biệt được
cái hay, cái dở, điều thiện, lẽ ác, như khả năng của tinh thần và lương
tri, kinh qua não bộ của con người. Khi luận về giá trị của tinh thần,
tư tưởng Á Đông còn đề cao lương tri (conciense), và cho rằng nếu không
có lương tri thì nhân loại không có sự tiếp tục tiến hóa.
Những người có một tâm tư chánh trực, tự tin, cao thượng và một lương
tri trong sáng, thì họ có một vùng hào quang vô hình bao quanh thân thể,
nhất là quanh đầu. Và chỉ có những bậc sống đời sống đạo đức, có tâm
thức an trụ, và có nhãn thức thanh tịnh, tức là có con mắt “thần diệu”
(oeil mystique), thì họ mới thấy được ánh hào quang này.
Nhiều nhà vật lý học tân tiến đã để công nghiên cứu ánh hào quang đó,
rồi giải thích như sau: Hào quang (hay thần quang) là sự xuất hiện của
những luồng sáng lượng tử (ondes quantiques), phát ra từ não bộ
con người, có sự liên quan đến không gian và thời gian (Espace-temps).
Các
nhà chuyên môn khảo cứu về lượng tử, thì cho rằng lượng tử là “phản lý”
của những sự hiểu biết thông thường. Phản lý vì lượng tử không có
định tướng, và không dựa vào lý lẽ, trong khi đó sự hiểu biết thông
thường của con người luôn luôn được đặt căn bản trên những định cứ liên
quan đến sắc thể và hệ luận, hay suy diễn quy nạp thuộc về duy lý
(logique).
Người ta quan sát và ghi nhận: khi hai bộ phận cách nhau bởi một khoảng
cách rất hẹp (micro-espace), và trong khoảng thời gian đầu chớp nhoáng
(flash temps), thì ánh sáng phát ra giữa hai bộ phận ấy. Ánh sáng đó
chứng minh rằng: Hai bộ phận kia khi vừa đến gần đã tự liên lạc với nhau
dưới dạnh phóng ra sóng lượng tử (Ondes quantiques).
Đó
là nguyên nhân của ánh hào quang. Và chung chung thì mọi người đều có
hào quang, mạnh hay yếu tùy theo tần lực khác nhau của mỗi cá nhân.
Nhưng vấn đề có thấy được nó hay không, lại là một chuyện khác. Không
phải ai cũng có thể thấy nó dễ dàng. Nhất là đại đa số phàm nhân, tâm
trí luôn luôn bị tham sân si làm cho loạn động, họ càng không thể tin
vào sự “hiện hữu” của nó, khoan nói đến chuyện thấy nó.
Theo
phát triển thân thể, thì những trẻ em từ 9 đến 10 tuổi hoạt động nhiều
với khối não bên mặt. Người ta đã chọn chúng để giảo nghiệm về tâm linh,
thì có 12 trẻ em trên 100 đứa, đã cho biết là chúng thỉnh thoảng thấy sự
chuyển động có màu sắc mờ ảo xung quanh đầu con người, trong một thời
gian rất ngắn. Các lứa tuổi lớn hơn, “tự tin” hơn, nhưng trí óc bắt đầu
bận rộn với ngoại cảnh, mất đi tính vô tư (hồn nhiên), thì tỷ lệ “thấy”
khá thấp, nên chúng thường lấy làm ngạc nhiên khi được hỏi về chuyện
này, vì chúng cho rằng ai cũng phải “thấy” như chúng.
Sự
chuyển động có màu sắc mờ ảo xung quanh đầu người nói trên là ánh hào
quang. Những người đã trưởng thành, thân thể đã quen sống với khối não
bên trái, thì không thể thấy được ánh hào quang đó.
Sự
giáo dục nặng về thực tế, trong gia đình ngày nay, cũng không cho phép
cái khả năng thấy ánh hào quang của các tâm hồn còn ngây
thơ đó được chú ý.
Như
câu cuyện điển hình sau đây:
Bé
Tâm có khuôn mặt đẹp và hao hao giống bà ngoại (transmission
héréditaire), nên được cậu Út rất thương. Mỗi lần đến thăm, cậu thường
nhìn bé Tâm một cách chăm chú, trìu mến, không chán, làm bé Tâm thích
lắm. Có mặt cậu trong nhà, tinh thần bé Tâm hân hoan, sung sướng, như
muốn biến mình lại còn chút xíu, để chui vào trong hai con mắt của cậu,
hầu giữ riêng cậu cho mình, không để cậu thuộc về kẻ khác.(Tâm lý trẻ
con).
Hôm
nay má bé Tâm mời cậu lại nhà ăn cơm. Khi cậu đến, chợt bé Tâm ngây thơ
kêu mẹ hỏi: “má ơi, có cái bóng gì màu đỏ mới chạy xung quang đầu của
cậu Út kia kìa? ” Thay vì âu yếm hỏi con xem nó thấy gì, và vui vẻ
giảng giải cho con biết, mẹ bé Tâm lại gắt lên “Không được hỗn hào,
hãy mau khoanh tay chào cậu đi”. Thế là bé Tâm cụt hứng, chẳng dám
nói gì thêm, liền ngoan ngoãn cúi đầu chào cậu, rồi bỏ đi chỗ khác. Bé
đinh ninh là mình bị hoa mắt nhận lầm, hay tự tưởng tượng mà thấy như
thế. Từ đó về sau, mỗi lần thấy như vậy, bé Tâm vội xem thường rồi bỏ
qua, và dần dần bé Tâm mất đi cái khả năng “thấy” ấy. Nghĩa là hoàn cảnh
giáo dục bắt bé không tin tưởng vào một số hiện tượng mà đôi mắt bé
tự nhiên thấy nữa.
Ánh
hào quang đó là sóng lượng tử (ondes quantques) trong đầu cậu nó
hướng về nó, phát ra (transmetteur). Và sức mạnh của tâm trường vô tư,
ngây thơ của nó, đã làm cho nó tiếp nhận được sóng lượng tử ấy qua thị
giác (récepteur).
Theo
vật lý học, thì lượng tử được dịch từ tiếng Pháp là “quant” (sức nặng).
Đó là thuyết do một bác học gia người Đức, ông Planck (1854-1947) đã lập
ra để giải thích các hiện tượng về hiệu năng và luồng quang điện.
Nhờ
sự hiểu biết về lượng tử ấy mà nhà bác học lừng danh Einstein mới có lý
do, đưa ra thuyết tương đối (relativisme). Thuyết này nhắc lại
chứng nghiệm cũ, là “Khi hai phân tử (vì khoảng trống ở giữa) không chạm
vào nhau, không tự phát được xúc năng, thì tuyệt đối không có cảm
ứng”. Nhưng khi hai phân tử ấy biểu lộ qua thông trường cơ năng lượng
tử thì khác hẳn, khoảng trống ở giữa không còn cách ngại nữa, vì sự
“liên lạc” của lượng tử nằm giữa hai phân tử, lại hiện ra dưới dạng
sóng quang điện. Sóng quang điện ấy, yếu mạnh tùy trường hợp. Nó
chính là ánh sánh (hay hào quang) rất khó thấy, bao xung quanh một vật
có điện từ. Trường hợp các tinh tú thì ánh sáng cực kỳ mạnh, “hào quang”
con người bình thường nhân lên cả hằng hà sao số tỷ tỷ lần cũng không
sao bì kịp.
Trở
lại sự tương ứng của tinh thần trong não bộ, chúng ta có thể căn
cứ vào một phát minh khoa học gần đây: Não bộ của con người thường phóng
những luồng âm ba (ondes), loang ra đến 40 chu kỳ (vòng) trong
một giây đồng hồ, mà con người không hề hay biết.
Chính do những luồng âm ba này mà khi chúng ta lái một chiếc xe trên con
đường quen thuộc, chúng ta không phải chăm chú nhiều, nhưng chiếc
xe vẫn chạy tốt. Đó là lúc các luồng âm ba tự động thay chúng
ta “chú ý”cho sự an toàn.
Hiện
tượng này được cắt nghĩa dựa theo “khoa học và tương quan tâm thức trong
Phật giáo” như sau: Những luồng “âm ba” ấy đối với não bộ (tượng
trưng cho tâm thức hay tinh thần) trong một con người, cũng giống như
những nhịp tim đập đối với hơi thở. Không phải vì người sống cố ý muốn
cho tim đập thì nó đập, cũng không phải vì họ không muốn thì nó ngưng,
mà một cách song song linh động, hễ hơi thở tiếp tục thì tim đập. Cũng
như khi toàn thể tế bào trong một não bộ của họ còn hoạt động ở trạng
thái bình thường, thì những luồng âm ba (sóng nhân điện) còn được tương
ứng phát ra mà không cần có chú ý.
Những luồng âm ba này, trong hầu hết trường hợp, khi loang đi, chạm vào
ngoại cảnh, rồi lấy đó làm mục tiêu, thì thoạt đầu chúng tuy phải duyên
theo tâm thức (Màna=conscience), xuyên qua ý thức (tức thức thứ sáu), để
“đồng sự” một sinh hoạt nào đó. Nhưng khi chúng đã tiếp giáp (va chạm)
hết các dữ kiện ngoại cảnh rồi, không còn gì mới để “so sánh”, kết tụ
vào đối tượng, cho ý thức phản chiếu nữa, thì chúng tách rời ý thức, để
tự vận hành một cách khá chính xác những năng lực chuyển động rất thứ tự
theo chu kỳ.
Vả
lại, xuất xứ của những luồng âm ba ấy vốn là “linh năng” của “mặt ngoài”
A-Lại-Da thức, hay tiềm thức (sub-conscience) phản ánh trên tâm thức.
Nên sau đó nó tự nhiên phải hiển lộng cái kỳ diệu độc lập, “bất hợp lý”,
của tiềm thức, khiến cho trên suy luận bình thường, chúng ta thấy vấn đề
thiếu căn cứ, là: “Lái xe trên con đường quen thuộc, tuy ít chú ý mà vẫn
an toàn”. Hiện tượng này Phật giáo gọi là “thục quả” trong hiện tại. Còn
khoa học gọi là “phản ứng theo thói quen”.
Nghĩa là khi người ta lái chiếc xe lần thứ nhất đi vào một con đường xa
lạ, thì tâm thức khởi đầu được tăng cường qua nhãn thức (thị giác chăm
chú), để nhận diện những hình ảnh “mới”. Nhưng khi tất cả đã “biết rồi”,
không còn gì đối chiếu với những cái “cũ” nữa, và động tác tiếp diễn chỉ
là sự lặp lại, thì ý thức liền buông thả, để cho những luồng “âm
ba nhiễm động” kỳ diệu ấy tự phát tác theo chu kỳ nhân và
quả, hay phản dụng vì đã tiếp thụ, tức là nó điều
động chân tay “làm việc không cần chú ý”, vì đó chỉ là sự xoay vần ngấm
ngầm qua ba uẩn (tích tụ) thọ, tưởng và hành.
Nói
cách khác, khi những âm ba ấy phát ra theo chu trình thọ-tưởng-hành,
“điều khiển” động tác đều đặn rồi, thì sự dồn năng lực của ý thức qua
thính giác, xúc giác, và nhất là thị giác (nhãn căn) trong nhân vật lái
xe nói trên không còn cần được vận dụng đúng mức như lúc đầu nữa.
Thêm
một ví dụ về thục quả trong hiện tại, là khi chúng ta bỏ
chân xuống giường, chúng ta ít chú ý đến việc tìm kiếm đôi dép
nhưng nhờ “âm ba trường”, của não bộ, loang ra từ xúc
giác đôi bàn chân, mà chúng liền có thể mang được đôi dép đúng cách dễ
dàng.
Quay
lại chuyện não bộ: Chúng ta không phải chỉ có một khối não, mà chúng ta
có đến hai khối não, một bên trái, và một bên mặt. Hai khối não này tuy
cách nhau bởi một màng gân li ti, có “diện nhiệt lượng” (corpus
callosum) giống như một lớp da mỏng. Bộ phận này động đậy luôn
luôn. Nó “chọn lựa” những thông tin, để chuyển từ khối não này sang khối
não kia, qua lại hai chiều, chẳng lúc nào được ngơi nghỉ.
Sự
nghiên cứu còn cho biết thêm: Người thuận tay trái thì bộ phận lớp da
mỏng này nở rộng hơn người thuận tay mặt 11%. Người thuận tay trái
thường có nhiều tham vọng. Và người thuận tay mặt thường ít bị kích
thích để bộ phận lớp da mỏng này liên lạc nhiều với khối não bên
trái.
Mỗi
khối não có phần hành riêng: Khối não bên trái là khối não hướng
ngoại, chú ý về tìm kiếm, phân tích. Nó thiên về sự so sánh, chọn
lựa hợp lý, và bộc phát ra lời. Nó là bộ phận của động cơ tiếng nói, của
động tác tay chân, của sự nhanh nhẹn v.v…Nếu khối não bên trái bị
thương, thì giọng nói, cử chỉ con người trong đời sống hằng ngày bị ảnh
hưởng rối loạn. Nhưng sự hiểu biết vẫn bình thường, vì sự hiểu biết
thuộc về khối não bên mặt. Còn khối não bên mặt là khối não hướng
nội, là trung tâm của sáng kiến, của phát minh. Khối não bên trái
tương ứng với Mạt-Na thức (conscience), và khối não bên mặt tương ứng
với A-Lại-Da thức.
Như
Tam Tự Kinh đã nói: “tánh tương cận, tập tương viễn”. Con người vì quen
hướng ngoại, và thích ôm đồm phân tích, lý luận những việc đời xa
gần, nên tâm thức “làm việc” đa số với khối não bên trái, thành ra nó
chịu ảnh hưởng sâu đậm ngoại giới, hay đối đãi khách quan trộn lẫn với
chủ quan, để bảo rằng “ta nói” “ta làm”. (Sinh ra tánh và tật).
Tuy
nhiên, khối não bên mặt cũng ảnh hưởng không ít đến những sinh hoạt. Nếu
khối não bên mặt bị thương, thì thần lực trong giọng nói mất hết linh
động, phát biểu ý kiến lộn xộn không ra hồn, vô trật tự và vô mạch lạc,
dẫn đến thất bại. vì không hướng ngoại, không bị động, nên khối não bên
mặt luôn luôn ở trong trạng thái yên lặng, suy tư, tượng hình
(idéogramme). Nhờ đó nó mới phát minh ra nhiều sáng kiến cần thiết cho
đời sống loài người.
Nếu
khối não bên trái là nơi để tâm thức phóng túng lung tung, hết hiện tại
đến quá khứ, hết quá khứ đến tương lai, để so đo mọi chuyện, săn đuổi
kinh nghiệm, thì khối não bên mặt thường được dùng vào sự suy tưởng,
định tĩnh, khám phá ra (hay giao cảm với) những cái cao xa chưa biết.
Khả năng của nó vì vậy mà có tầm sâu rộng hơn.
Nhà
hiền triết Marilyn Ferguson còn giải thích việc đó như sau: “Bán cầu
bên mặt bộ óc liên hệ với một linh lực Huyền Hư (Force ésotérique), là
khối não chủ việc tri cảm sâu sắc, đã có từ thưở xa xưa, với sự
cấu tạo đầy huyền bí và hư ảo, thuộc về ký ức của con người. Nó có khả
năng tự kích thích, và tự quán chiếu để sinh ra nhiều trạng thái đặc sắc”.
Hơn
nữa, trong sinh hoạt hàng ngày, hai khối óc bên mặt và bên trái thường
tranh thủ, tìm thế quân bình lẫn nhau. Đó là lý do làm người ta mất
nhiều thì giờ vì sự giằng co, giữa những vấn đề mâu thuẫn. Và mâu thuẫn
nghĩa là có cả cái đúng lẫn cái sai. Chẳng hạn như “thương
người thì phải hy sinh, không hy sinh thì chẳng thương người” mà hy
sinh và không hy sinh đều tỏ ra “hợp lý” cả. Tu hành giải thoát và hướng
đến giác ngộ cũng tương tự như vậy: Không thể vừa ích kỷ vì mình vừa đại
độ vì người cùng một lúc được.
Trong trường hợp này, khả năng của khối não bên mặt đã làm kinh ngạc
nhiều nhà nghiên cứu tâm thức không ít. Vì nó tự biểu thị sự thanh cao
của tâm hồn, để cho chúng ta ý thức, và tin tưởng vào thiện nghiệp, đạo
đức.
Mặt
khác, những tín hiệu của khối não bên mặt truyền sang bên trái, không do
một đường gân, mà do nhiều luồng từ điện song hành với nhau. Và
vì chúng nó đến từ khối não bên mặt, nên tự động biến thành những khả
năng phi thường của trí nhớ (Capacité extraoordinaire numérique).
Khoảng hơn mười năm gần đây, các nhà khoa học còn khám phá ra nhiều khả
năng khác của não bộ. Đó là việc khi nó bị kích thích thì tự tiết ra
những chất chống đau, như Endrophine, Bêta-Endropine, Enkephaline.
Những chất này hoá tánh giống như Morphine (thuốc phiện), nhưng
nhẹ hơn nhiều, vì không làm cho người ta lệ thuộc hay “ghiền”.
Còn
“phép lạ” nào đã kích thích não bộ làm như thế, thì không ai biết. Và
những nhà khoa học ấy cũng cho rằng: Khối não bên mặt là nơi tụ họp của
những hoá năng đặc biệt, như vậy rất có thể nó là “trú sở”
của linh lực tinh thần (?)
Người ta liền đặt câu hỏi: “Nếu tâm thức (tinh thần) nằm trong não
bộ, thì khi một người chết, não bộ ngừng hoạt động, xác thân bị tê liệt,
bên trong có một số cơ quan đã hư hỏng, tại sao tinh thần không chịu ảnh
hưởng mà vẫn còn nguyên, để đi tái sinh?”
Đây
là một câu hỏi dựa trên cấu tạo của vật hữu hình có giới hạn để định về
vật vô hình không giới hạn. Tương tự như nói: “Đèn tắt
rồi thì điện lực đi đâu?” Nếu dựa vào hình thức, chỉ cái “compteur”
thì người ta bảo đó là một bộ phận ghi con số, chứa cầu chì. Nếu chỉ qua
hai dây điện, thì người ta cũng chỉ đó là các sợi đồng bao nhựa. Tức là
thị giác và xúc giác của con người rất bị hạn chế, thành thử qua nó con
người không thể nào thấy hay rờ được những cái chỉ có trí thức mới xác
định nổi.
Theo
nghiên cứu tâm linh trong nhà Phật, phối hợp với khám phá khoa học, thì
tinh thần con người vừa nằm trong não bộ, vừa bao quanh thân thể, nhất
là quanh đầu, và giao thoa với “không trường” cực tiểu lẫn cực đại của
vũ trụ. Ví như bầu khí quyển vừa ở trong quả đất, vừa bao phủ địa cầu,
vừa tiếp giáp với vô biên chân không. Nhờ nó bao trùm thân thể, xuyên
trong ngoài như thế, mà ngũ quan xúc giác con người mới chiêu cảm, dung
thông biết được ngoại cảnh xa gần và ghi nhận, suy nghĩ.
Rồi
từ lực (force magnétique) của tinh thần lại luôn luôn gắn liền với các
hậu quả dây chuyền trong toàn thể sinh hoạt của một con người. Sự gắn
liền này là những thông số (Paramètres) của nhân-nghiệp và quả (hay của
bộ ba nhân-duyên-quả hợp lại).
Khi
dùng Électro Encéphalographie để đo điện từ ở đầu, thì người ta nhận
thấy não bộ thường xuyên hoạt động qua bốn giai đoạn, và phát ra những
luồng “âm ba” (ondes tạm dịch là sóng nhân điện) rất đều đặn, mang những
tần số (frequences) từ 1 đến 40 chu kỳ trong một giây, được đặt tên và
chia ra như sau:
Nếu
bộ óc bận rộn (nhiễu sóng tâm) với những vấn đề phức tạp trong
đời sống hằng ngày, thì nó phát ra luồng âm ba loạn động cao nhất gọi là
Bêta, từ 12 đến 40 chu kỳ trong một giây,. Nhưng khi con số ấy
thấp xuống thì chứng tỏ tâm trí được yên tĩnh.
Kế
đến là luồng âm ba Alpha, nằm giữa 7 đến 12 chu kỳ một giây. Ở
tình trạng “yên tĩnh” (ít phóng tâm suy nghĩ) này, con người có
thể dễ dàng đi vào giấc ngủ, hay nếu không ngủ thì đó là trạng thái trầm
tư mặc tưởng, nghỉ ngơi.
Tiếp
theo, luồng âm ba Thêta nằm thấp hơn, trong khoảng 4 đến 7 chu kỳ
một giây, tượng trưng cho trạng thái tinh thần an ổn. Nếu con người chưa
ngủ yến, thì đây là lúc họ tịnh tâm dưỡng tánh. Thiền học trong Phật
giáo cho đó là trạng thái tương đương với tâm thức gần an trụ vào đề mục
(sơ định).
An
ổn nhất là luồng âm ba Delta, tính trong khoảng từ 1 đến 4 chu kỳ
một giây. Nó chứng tỏ tinh thần lúc ấy nằm yên, tách rời khỏi ngũ quan
xúc giác (ngoại cảnh), để ở trong một vị trí “độc lập”. Đây giống như
trạng thái của một người được chụp thuốc mê hoàn toàn (Anesthésie
génerale), chuẩn bị để giải phẫu.
Ngoài trường hợp phẫu thuật, cũng có người ngủ mê đến nổi “gián đoạn”
cảm giác, tiếng động lớn xảy ra bên tai mà vẫn không nghe, thì tinh thần
người ấy lúc đó đã chìm sâu trong tiềm thức (Sub-Conscience). nếu so
sánh với trình độ tu thiền, thì đây là giai đoạn tương đương
với “nhất định”.
Trên
đây, soạn giả cố ý viết đậm và gạch chân hai chữ tương đương để
lưu ý quý vị rằng: Khi quan sát bề ngoài thì thấy người ngủ mê và thiền
giả nhập định có vẻ “tương đương”, vì ngũ quan cảm xúc của họ lúc
ấy tạm thời tách rời đối tượng, “ngưng hoạt động”.
Nhưng khi nghiên cứu vào chiều sâu nội thức, thì người ngủ say, nếu thân
thể bệnh hoạn, máu huyết chạy không đều, tinh thần họ có thể trải qua
nhiều ảo cảnh, mộng mị, kinh hoàng. Trong khi đó, người tu thiền, dù sức
khoẻ nằm trong tình trạng nào, nếu đạt được nhất định,
thì tâm thức của họ vẫn luôn luôn ở trạng thái rất nhẹ nhàng, thanh
thoát, tinh khiết, trong sáng và an ổn. Điều khác biệt rất quý báu, đáng
đề cao nằm ở chỗ đó.
Tuy
nhiên, nếu một người nhờ phúc đức kiếp trước và nghiệp lành hiện tại, có
thân thể khoẻ mạnh, mà ngủ yên được một giấc Delta như thế, thì
họ sẽ cảm thấy sảng khoái vô cùng. Các nhà khoa học còn tiết lộ rằng:
Trong vòng 24 giờ đồng hồ, người ta chỉ cần ngủ 1 giờ Delta là đủ
để thu hồi sức khoẻ. Xem như thề đủ thấy rằng sự thanh tịnh tinh thần
rất bổ dưỡng cho toàn cả thân thể.
PHẦN III
TIỀM LỰC TINH THẦN QUA TỪ TRƯỜNG VẬT LÝ
Năm
1970, một nhà phân tâm học người Âu, ông Pierre Wiel đã đưa ra một bản
kê khai 5 khả năng của tinh thần con người như sau:
1-
Khả năng thức tỉnh (hay giác ngộ): Dù sống trong môi trường nào,
con người không sớm thì muộn, cũng tự phân biệt được thiện ác.
2-
Khả năng siêu việt: Mỗi cá nhân đều nghĩ rằng mình có tiềm lực
vượt lên khỏi tính phàm, để trở thành siêu nhân hay thánh nhân.
3-
Khả năng vĩnh cửu: sự thánh thiện trong một con người là một tánh
linh bất diệt.
4-
Khả năng thiêng liêng: Con người tự cho mình là trung tâm giao
cảm giữa toàn thể vũ trụ.
5-
Khả năng không sợ chết: Mỗi con người có một lý tưởng riêng. Lý
tưởng ấy quý hơn sinh mạng, và họ có thể hy sinh mạng sống để bảo vệ lý
tưởng đó.
Liên
quan đến khả năng thứ năm này, một triết gia tên tuổi người cổ Hy Lạp
(Grec Antique) có lẽ rất đáng nhắc đến để làm tiêu biểu. Đó là ông
Sorcrate (470-399 avant J.C). Lý tưởng của ông là “Mình cần biết rõ
mình sẵn sàng vượt lên mọi khiếp sợ (trở ngại), để thể hiện cái mà chính
mình tin tưởng, và cho là cao đẹp”. Thưở ấy do bất đồng tư duy mà
ông đã bị “thẩm quyền trí thức” thành phố Nhã Điển (Athène) kết tội
chết, vì ông dám truyền bá tư tưởng “làm lung lay truyền thống
đương thời”. Những người có cảm tình và kính trọng ông đã tỏ ý
tạo điều kiện cho ông “trốn thoát” lánh nạn. Nhưng ông đã từ chối và cho
đó là một hành động vô trách nhiệm. Sau đó ông thản nhiên bưng chén
thuốc độc (cigue) uống cạn, để biểu lộ tính can đảm, “thẳng thắn” của
một công dân Nhã Điển (Citoyen d’ Athène) biết tôn trọng luật (ám chỉ
chấp nhận “phán quyết tử hình” của thẩm phán đoàn), đồng thời cũng chứng
minh tính trung thành với lý tưởng của chính mình.
Năm
khả năng nêu trên phải chăng là chung luận của triết học Tây
phương nói về tiềm lực tinh thần của con người. Chung luận đó chuyên chở
ý nghĩa tương đương với một nhóm từ tiếng Pháp là “La volonté d’être
en puissance”, tạm dịch như sau: “Ý muốn trở thành toàn năng” (?)
Dường như hiện nay văn hóa Tây phương chưa thoát khỏi ảnh hưởng của câu
danh ngôn Descartes là “Tôi tư tưởng, vậy có tôi ” (Je
pense donc je suis)?
Rõ
ràng là Descartes đã không chú ý đến khoa học tâm linh đơn thuần,
mà chỉ “ưu đãi” phần biểu lộ hình thức “có mặt” của tôi
(tức hành động “penser”), và coi nhẹ cái tiềm lực biến hóa kỳ
diệu, vượt khỏi khả năng suy nghĩ (penser)của con người,
(Privile1gier la notion d’avoir aux depens de celle d’Être).
Vì
vậy ngày nay người ta đã đặt quá nhiều quan trọng lên phần thân xác hiếu
động, mà dần dần coi nhẹ những giá trị tĩnh lặng, diệu
hoạt của tâm linh. Nghĩa là với câu châm ngôn của Decartes trên đây,
chúng ta có thể hiểu rằng “tinh thần chính là chúng ta đang sống,
biết suy nghĩ”. Còn khi chúng ta không suy nghĩ (như lúc ngủ
chẳng hạn), hoặc những trẻ con chưa ra khỏi bụng mẹ, chưa biết suy nghĩ,
thì không có tinh thần chăng? Và nếu có thì ‘nó’ ở đâu?
Mặt
khác, cũng vì một số đông (cũng may là không phải tất cả) các triết gia
Tây phương, mà khoa học (nhất là vật lý) từ trước đến giờ, đã chia sẻ
cách thấy của mình ra nhiều mảnh vụn, hậu quả lắm khi mâu thuẫn. Cho
nên, qua một khía cạnh nào đó, cái thấy của những người sống trong thời
đại khoa học đã bị méo mó và máy móc, mất đi sự chính xác. Vì vậy, khoa
học tâm linh ngày nay phải lãnh trách nhiệm điều chỉnh cái “thấy” đó,
đem nó trở lại với quan niệm căn bản của thông số biến hóa, thuộc thân
và tâm con người.
Hơn
nữa, thuyết luân hồi tái sinh trong nhà Phật không phải chỉ áp dụng cho
hai sự sống và chết của con người, mà nó còn có thể nghiệm đúng qua mọi
biến hóa của vạn vật, và của vũ trụ. Nếu không có sự trình bày sáng tỏ,
để nhân loại tiếp tục lẫn lộn giữa thuyết ấy theo nhà Phật với những
thuyết khác, thì thật là đáng tiếc.
Cuối
thế kỷ XIX, nhờ sự khám phá, phát minh ra từ tính
(Magnétisme) của hai ông Faraday và Maxwell mà cả thế giới vật lý (máy
móc) của Newton đã bị “tương đối hóa”. Từ tính có thể xem
là yếu tố quyết định để chứng minh sự liên hệ giữa cái thấy được
và cái không thấy được, giữa hữu hình và vô hình, hay “giữa thể xác và
tinh thần”. Sự khám phá này đã ảnh hưởng sâu đậm trong nền tảng tư tưởng
các khoa học gia ở thế kỷ XX và sau này.
Ra
đời trước Faraday 50 năm, ông Darwin (1731-1802), một nhà bác học khác,
cũng từng đưa ra thuyết tiến hoá (évolution). Thuyết này lập luận rằng
“Do sự cạnh tranh toàn diện mà mỗi sinh vật mới nẩy nở được những yếu tố
thay hình đổi dạng”. Tuy ông Darwin chưa nói rõ “năng lực nào đã hướng
dẫn sự cạnh tranh toàn diện”, nhưng khám phá của ông đã hiển
nhiên giới thiệu mặt nổi của sự tái sinh. Còn mặt chìm thì
có lẽ đối với ông, khoa học nói ra lúc đó quá sớm? Và năng lực (mặt
chìm) ấy phải chăng là thức ham sống?
Vào
năm 1905, nhà bác học Einstein đã đăng tải nhiều bài báo rất quan trọng,
làm thay đổi toàn bộ các định hướng của nền vật lý học. Ông đã phát biểu
về đặc tính của lượng tử (quantique) nằm trong quang tử (photons).
“Photons” tạm dịch nôm na là ánh sáng của vũ trụ. Einstein gọi đó là
những “chùm năng lực”, và xác nhận ấy là hình dáng căn bản của
tạo hoá.
Đối
với Einstein, quang tử là nguồn gốc của tất cả hiện tượng
(hữu hình lẫn vô hình). Từ quang tử (photons) mà sinh ra
dòng điện, điện tử, điện quang, từ trường, và lượng tử. Quang tử
ám chỉ những “linh quang” cực nhỏ, đến độ không còn vi thể
nữa, và di chuyển với tốc độ siêu ánh sáng: 297.300 cây số mỗi giây.
Thật
ra, khó mà quan niệm một cách chính xác, danh từ “photons” hay quang tử,
vì nó vừa là nguồn gốc của những hiện tượng, như phát điện
(nóng hay lạnh), phát quang (sáng hay tối), phát từ
(hướng hay phản), phát lượng (nặng hay nhẹ), nó vừa là
những linh tử cực vi, có thể tan biến (mất tích) trong vô biên vũ trụ.
Hiểu
được cái khó xác định của quang tử, thì mới có thể hiểu
được phần nào tinh thần của con người, vì nó nằm ngoài minh chứng vật
lý. Tuy nhiên cái tiến trình hoạt động của nó (là sự tái sinh) lại tương
ứng với tiến trình vật lý, thành thử người ta có thể dùng khoa học tâm
linh theo nguyên tắc vật lý mà suy nghiệm ra tinh thần được. Tức là “Hiểu
luật tái sinh một cách khoa học thì mới hiểu được tinh thần”,
chứ không phải “Cứ có linh hồn thì mới hiểu được tái sinh”. Và
phải dựa trên quan điểm khoa học lý hoá để hiểu sự tái sinh.
Vả
lại, khoa học lý hoá là gì nếu không phải là hiện tượng
của vật lý và hoá năng? Vật lý
tương đương với sắc pháp (Rùpa dhmmà), và hoá năng
tương đương với danh pháp (Nama dhammà) trong Phật giáo.
Vật lý không phải ám chỉ duy nhất những cái thô kệch, hữu dạng, có thể
thấy, sờ, ngửi, nếm, nghe được, mà nó còn ám chỉ tất cả sơ chất cực vi,
chẳng hạn như ánh sáng, nguyyên tử, điện tử, phân tử v.v…
Lại
nữa, nhờ phân tích khoa học “cụ thể”, mà người ta được biết một
hỗn hợp (nhiều nguyên chất), khi tan rã các đơn chất vẫn
còn dài dài, và chúng “biến hoá” như thế nào, chứ không
hoàn toàn tiêu mất. Nghĩa là tuy “cát bụi trở về với cát bụi”
nhưng vấn đề vốn “gồm nhiều chuyện lắm”, chứ không phải
‘tuyệt diệt’. Và cũng nhờ khoa học, nhất là khoa học tâm linh, mà trí
tuệ con người mới được dịp đào sâu trong Phật giáo, để tìm hiểu xa hơn
về “hoá năng” của một siêu hỗn hợp ‘danh sắc’ (Nàma-Rùpa)
mệnh danh là con người, khi ‘nó’ còn sống, và sau khi ‘nó’ chết, chuyển
kiếp ra làm sao. ‘Hỗn hợp’ đó tương đối phù du, vô thường, nhưng nó là
biểu tượng của tất cả pháp hành trong vũ trụ.
Nếu
xem đức Phật là một nhà khoa học, thì chúng ta không phải đợi đến năm
1905 và năm 1915, khi ông Einstein đưa ra hai thuyết vật lý mới, là
tương đối giới hạn (Relativisme limité), và tương đối
tổng quát (Relativisme général), để có căn cứ mà ý thức được
rằng “điểm cùng cũng là điểm bắt đầu” của
không gian và thời gian biến dịch vô hạn. Qua hai thuyết này, ông
Eisntein đã cho biết là “tốc độ làm giảm thời
gian và tốc độ cũng sẽ làm mất luôn (chấm dứt) thời gian, lúc nó
tận mức”.
Còn
đức Phật thì trước đây hơn 2500 năm Ngài đã cho biết “Vì không đủ ánh
sáng (hay vô minh=u mê mà cái nhân đầu tiên của vòng sinh tử luân hồi đã
phát sinh)”. Lời phát biểu này của đức Phật tìm thấy trong kinh Thập
Nhị Nhân Duyên (Paticcasamuppàdassutta). Và kinh ấy đã nêu ra một cái
vòng nhân duyên, luân hồi tái sinh gồm 12 khoen, là: 1/ Vô
minh (Avijjà) sinh ra hành. 2/ Hành (Sankhàrà)
sinh ra thức. 3/ Thức (Vinnàna) sinh ra danh sắc. 4/
Danh sắc (Nàmarùpa) sinh ra lục nhập. 5/ Lục nhập
(Sàlayatana) sinh ra xúc. 6/ Xúc (Phassa) sinh ra
thọ. 7/ Thọ (Vedanà) sinh ra ái. 8/ Ái (Tanhà)
sinh ra thủ. 9/ Thủ (Upàdàna) sinh ra hữu. 10/
Hữu (Bhava) sinh ra sanh. 11/ Sanh (Jàti)
sinh ra lão-tử. 12/ Lão-tử (Jaràmarana) sinh ra vô
minh.
Xin
nói rõ: Đối với Phật giáo, “vô-minh” ám chỉ sự không thấy, không biết,
lẫn lộn, vô phân biệt, thiếu trí tuệ, hay không đủ ánh sáng, chứ không
phải là hoàn toàn chẳng có ánh sáng.
Quay
lại nhà bác học Eisntein, hai luật tương đối nêu trên đã làm tỏ rõ ý
thức không gian và thời gian (espace et temps). Các sự chuyển động (với
tốc độ của vật thể trong không và thời gian ấy sẽ trở thành
tương đối và vô nghĩa. Vì qua thông số vũ trụ: Điểm xa nhất cũng là điểm
gần nhất. Với thông số ấy, người ta có thể nghĩ ra rằng: Trong khoảnh
khắc mình có thể chu du khắp vũ trụ, đến chỗ tận cùng của nó. Vì cái
‘thấy’ về tất cả hiện tượng vật lý, nằm trong cả thế giới không gian
và thời gian mà chúng ta đang sống, vốn tự nó ngay từ đầu đã bị
thiên lệch, ly trình, càng tiến tới càng uốn cong mình trong một vòng
luân hồi nhỏ hay lớn. Đâu lại hoàn đó. Động tử nào cũng đang đi
trên con đường trở lại hướng cũ. Nhưng khi chưa đến, nó cứ tưởng
là nó vĩnh viễn tiến tới chỗ mới.
Thành tích đặc sắc nhất của nhà bác học Eisntein là tìm ra công thức
E=MC bình phương, để quy định “Năng lực của một khối thể chất tương
đương với trọng lượng của khối ấy nhân với số bình phương (Le carré) của
tốc độ ánh sáng”. Thì ra, trong mọi vấn đề đều phải có đặc tính (hay
dấu tích liên quan) đến ‘ánh sáng’ dự phần vào đó. Bom nguyên tử
(hay sức thiêu đốt cực vi) cũng từ trong công thức ấy mà ra, nhưng nó
dùng để hủy hoại và củng cố tham vọng cho con người, nên không đáng bàn
vào đây.
Tuy
nhiên, đồng thời với Einstein còn có những nhà bác học khác. Chẳng hạn
như nhà thiên văn học người Hoà Lan (tên Sitter), lúc đó đã cho là công
thức của Einstein chỉ đúng với một thế giới đang trên đà bành
trướng. Nhà thiên văn học khác người Hoa Kỳ (ông Hubble) tiếp
theo thêm rằng “Tốc độ vật lý của mọi hiện tượng khi dãn ra càng xa thì
càng nhiều”. Đây phải chăng có thể xem như tương đương với tốc độ của
lòng tham vô đáy?
Năm
1913, nhà vật lý học người Đan Mạch, ông Niels Bohr (1885-1962) đã khám
phá một hình dạng nguyên tử trong hệ thống mặt trời, và qua dạng
ấy, ông đã nói về “Khái niệm của luồng sóng xác suất”,
(Conceptions des ondes de probabilité). Nhưng đặc biệt hơn nữa là vào
năm 1928, nhà vật lý học Paul Dirac (người Anh) đã tìm ra “chất”
đối nghịch với vật thể (Anti-matière), để từ đó mở ra con đường
nghiên cứu những cái linh động vô hình.
Về
phương diện tôn giáo, “chất” đối nghịch với vật thể ấy
phải chăng là tinh thần (hay linh hồn) con người?
Và
ngày nay, nhiều nhà thiên-văn vật-lý-học (Astro-physiciens) còn nói
rằng: Hiện có một cái hố đen đã xuất hiện trong vũ trụ của chúng ta.
Nó đang co rút lại và khi nó dãn ra (Big bang=Nổ tung?) thì sẽ xuất hiện
một vũ trụ mới, hoàn toàn độc lập và phức tạp, y như cái chúng ta đang
biết.
Nói
về một cái hố đen, câu chót của bài tán Phật, trong nghi
thức tụng kinh Thủ Lăng Nghiêm cũng ghi:
“Tứ
sanh cửu hữu, đồng đăng hoa tạng huyền môn, bát nạn tam đồ, cộng nhập tỳ
lô tánh hái”. Tạm dịch là “Bốn loại sinh ra, chín vật có hình, đều
đi vào trung tâm của cái cửa đen. Tám nạn ba đường đều đi vào trong biến
tánh tỳ-lô”.
Và
cái cửa đen hay biến tánh tỳ lô ấy là gì nếu
không phải là hố đen? Không biết vô tình hay cố ý mà kinh
Phật đã nói trước sự khám phá của khoa học ngày nay.
Nêu
vấn đề này có đáng gây cho chúng ta sự ngạc nhiên chăng? Hay đó chỉ là
chuyện nhắc lại cái nguyên tắc “Có vô thì phải có ra”, hay “Ra
vô xoay vần, như sống với chết”. Cái này không thể làm mất
cái kia. Vì cái này và cái kia là nguyên nhân hậu quả của
nhau, hễ cái này làm mất cái kia thì cái này cũng mất luôn, và
tuyệt đối không có gì hiện hữu nữa, kể cả chúng ta. Cũng như nếu
chết là hết thì cái sống trên mặt đất đã không có, làm sao có chết?
Vả
lại, vật thể vốn do năng lượng sinh ra, mà năng lượng thì không thể
chết. Chúng ta cũng là vật thể do “năng lượng” tinh thần sinh ra,
dù xác thân của chúng ta vì một lý do nào đó tiêu hoại, thì “năng lượng”
tâm thức cũng không thể nào mất được. Đây là một tư tưởng hoàn toàn khoa
học, chứ không phải duy tâm hay hoang đường chi cả. Chưa kể năng
lượng tinh thần là một năng lượng vừa siêu nhiên, vừa linh hoạt, mà
toàn thể chúng ta (duy linh hay duy vật) đều có thể dùng chính bản thân
mình, để tự nghiệm chứng. Còn năng lượng của vạn vật trong vũ trụ, thì
chỉ có một số nhà bác học mới đủ điều kiện kiến thức và dụng cụ để thí
nghiệm, hiểu thấu mà thôi.
Trải
qua những vòng biến hiện, từ vô thủy đến giờ, vạn vật đã dần dần tiến
hoá. sự tiến hoá ấy phản ảnh nguồn gốc tinh vi của năng lượng, tức là
tính thanh thoát của tinh thần. Chúng ta có thể tự hỏi “Không
biết năm, bảy chục ngàn năm nữa, tinh thần của con người sẽ tiến bộ,
siêu đẳng (thông thái) đến đâu? Hay chính lòng tham không đáy trong con
người, sẽ là động cơ khiến họ hủy diệt toàn bộ văn minh của nó (tinh
thần), để nhân loại lại bắt đầu từ con số không?”
Soạn
giả nêu ra câu hỏi này, vì nhớ lại kinh Phật nói rằng “Đạo đức
(tương đương với sự soi sáng) của bậc giác ngộ (=Phật) sẽ biến mất
vào 5000 năm, sau khi Phật Thích Ca nhập Niết Bàn”.
Nhìn
lại Phật lịch, chúng ta thấy đấng Toàn Giác đã “ra đi” cách nay hơn 2500
năm rồi. Non phân nửa tuổi thọ của Phật giáo còn lại phải chăng tiêu
biểu cho giai đoạn đạo đức của sự giác ngộ đã bắt đầu xuống dốc, để tiến
dần đến cảnh suy tàn (phản tiến hoá) theo chu kỳ, mặc dù còn đến những
non 2500 năm nữa.
Dĩ
nhiên cũng theo kinh Phật, sau giáo lý của đức Thích Ca thì sẽ đến giáo
lý của đức Di Lặc. Nhưng Phật tương lai thì chưa đến, chúng ta chỉ nên
tiến hoá với những pháp giác ngộ nào trong hiện tại, nhất là với nền văn
minh mà chúng ta đang sống. Và trên tinh thần thực tiễn, chúng ta không
thể nào khả dĩ “tưởng tượng” được bất cứ cái gì, sẽ xảy ra hơn 24 thế kỷ
sau, trước khi đức Di Lặc xuất hiện.
Nhưng đối với hiện tại, ngay cả các khoa học gia, những người khó có thể
tin được những gì mà họ không thể chứng nghiệm, cũng đã có những vị sẵn
sàng dùng vật lý để thuyết phục con người tin tưởng vào sự lành mạnh của
đạo đức, tin tưởng vào khoa học hợp lý trong tâm linh, và tin tưởng vào
sự siêu nhiên của tinh thần, hầu bảo vệ những gia sản vô giá của nền văn
minh nhân loại.
Chẳng hạn như ông Arthur Edington, nhà vật lý khoáng chất người Tô Cách
Lan, đã sốt sắng nói rằng: “Dù khoa học vật lý có tìm ra những cái
mới lạ, nhưng vẫn không đủ để bác bỏ những niềm tin xứng đáng của tôn
giáo”.
Và
ông còn nói “Tại sao chúng ta không thể thu hẹp các quyền năng hoang
đường của thượng đế, đem hệ thống các phương trình vi phân ra ứng dụng,
để hiểu cái ta linh động trong vũ trụ, thay vào sự hiểu cái ta cứng
ngắc, được tin là do thượng đế tạo ra?”
Và ở
thời kỳ nào cũng vậy, nếu có những bác học, cả đời xả thân trực tiếp hay
gián tiếp, nghiên cứu về những liên hệ giữa não bộ, và tâm linh hay
lương tri, để “tháo gỡ” sợi chỉ tinh thần vô hình kia, giúp cho
khả năng hiểu biết về khoa học trừu tượng của loài người, có những bước
tiến đáng kể, sáng suốt, thuận hành với vật lý, thì cũng có những cá
nhân, những bạo chúa, những “lãnh tụ” cuồng tín, say mộng, đã gây ra
không biết bao nhiêu tai hại, như kết tội các bác học trước đây. Và ngày
nay trong tư tưởng của những con người loại ấy vẫn còn dẫy đầy
tham lam, ích kỷ, độc đoán, mê muội, cuồng tín, tin vào thần quyền vạn
năng, để họ sẵn sàng tiêu diệt những ai không cùng chung tín ngưỡng với
họ.
Cũng
may hiện tại, các nhà sinh lý học, sinh hoá học, vật lý học, toán
học…đều chú ý đặc biệt khảo sát về lượng tử và tinh thần (cũng như lương
tri con người), dường như họ sợ kiến thức của mình không theo kịp những
biến chuyển các vấn đề hằng có trong vũ trụ. Vô tình họ đã làm
một cuộc đại khai sáng, vẹt mạnh những đen tối cố hữu,
trong các tín ngưỡng lỗi thời ngày xưa, hầu mang lại cho khoa học cụ
thể lẫn khoa học trừu tượng (tâm linh) một giá trị tương ứng
và thích hợp.
Đây
là lý do khiến cho hai năng lượng tàng ẩn trong một con người,
thường gọi là lương tri (Conscience), và tiềm thức (sub-Conscience) đã
được khoa học khám phá và nhìn nhận, như một vấn đề trọng yếu trong sự
sống nhân loại. Hai năng lực này không gì khác hơn là Mạt-Na thức (Màna)
và A-Lại-Da thức (Àlaya) trong Phật giáo.
Khi
khoa học vật chất và khoa học tinh thần đang
có sự song hành, nhiều học giả từ nhiều tôn giáo khác nhau, phải lần
lượt xuất hiện, để giải thích quan niệm của họ về vấn đề tâm linh, thì
đạo Phật cũng không ra ngoài thông lệ đó.
Câu
hỏi chung thường đặt ra cho tất cả nhân loại, chứ không riêng gì cho
những người tin thuyết tái sinh trong nhà phật, là “Đã có
rồi một đời sống trước khi sanh?” hay “Sẽ có chăng
một đời sống khác sau khi chết?”
Đồi
với đạo Phật, đây không phải là câu hỏi riêng ngày hôm qua, hay chỉ của
ngày hôm nay, mà là một thắc mắc nằm mãi trong tâm tư nhân loại, ngày
nào con người chưa đạt đến một trình độ tiến hoá tinh thần toàn giác,
thì họ khó có thể hiểu thấu được nó. Người Phật tử ý thức được cái “khó
hiểu thấu” đó, nên họ không để bị chặn đứng bởi quan
niệm: “Siêu hình nằm ngoài tâm tư phàm trần”, rồi mặc kệ cho “linh
tính” hướng dẫn. Họ cũng không chạy theo số đông tin hùa những
nghi lễ, phát nguồn từ các huyền thoại thiêng liêng, còn ảnh hưởng trong
dân gian, để tự đưa mình vào tình trạng tin tưởng qua thánh tượng, và
rơi hẳn trong tín ngưỡng sa mù. Mà trái lại, người Phật tử, với tinh
thần lành mạnh, thường trực tỉnh thức, và dựa vào định lực thanh tịnh
(kết quả của tu thiền), họ có thể đương nhiên được soi sáng trí tuệ. Rồi
nhờ công phu hành đạo đó, người Phật tử sẽ tuần tự đạt đến kiến thức vi
diệu, hiểu thấu mối liên quan trực tiếp hay gián tiếp giữa họ và ngoại
cảnh, vũ trụ.
Vả
lại, hướng dẫn giản dị và khách quan hơn nữa, trong kinh đức Phật đã
dạy, đại ý: Trước khi bàn sâu vào một vấn đề gì, chúng ta nên có một
thái độ thật vô tư, nghiêm chỉnh và thanh tịnh. Nghĩa là chúng ta không
để bị một thiên kiến, cảm tình, hay tín điều nào chi phối cả, thì chúng
ta mới có thể sáng suốt quán xét được.
Rồi
khi nghe phân tích về những điều thuộc loại siêu hình này, dù lời lẽ của
diễn giả có hiển nhiên đến đâu, hay khó hiểu cỡ nào, chúng ta cũng
chớ vội tin hay vội bỏ, mà suy nghĩ thật kỹ, thật nhiều lần,
sau cùng nên tìm thêm những dữ kiện chứng thật, trước khi tạm kết luận.
Xin nói rõ là chỉ tạm kết luận thôi, vì những gì chúng ta kết
luận ngày hôm nay, rất có thể ngày mai vẫn còn thiếu sót.
PHẦN IV
QUAY LẠI PHẬT HỌC
Phật
học biểu lộ rằng: có một chuỗi biến hóa, một sự sinh diệt được lặp lại.
Chuỗi biến hóa sinh diệt ấy là “hành trình”mang trọn nội dung
nghiệp quả của thức tái sinh (A-Lại-Da=tàng thức). Hành trình đó
trong kinh nguyên thủy của đạo Phật gọi là Samsàra, tạm dịch là
‘hằng lý tử sinh’, thường được Phật tử Tây Tạng biểu thị bằng một hình
vẽ, có thể gọi là ‘tái sinh đồ’, hay bản đồ của sự tái sinh. Đây
xin chớ hiểu lầm là một lý thuyết về sự “linh hồn cũ sẽ sống
lại nguyên vẹn trong một cái xác khác” sau khi chết.
Phật
lý tái sinh, hay tái trở thành (tiếng Phạn
là Punabbhava) được khám phá do ánh sáng toàn giác của một vị Phật, chứ
không do rút tỉa từ quan niệm cổ truyền nào của nền văn minh cổ Ấn Độ.
Thuật ngữ tái sinh (renaissance) là một thuật ngữ tổng
quát, tạm đủ nghĩa, so với hai thuật ngữ khác là đầu thai
(ré-incarnation) và chuyển kiếp (transmigration), mà nhiều
nhà viết sách Phật giáo thường dùng. Nó chỉ là một từ ngữ gần đúng, và
ít bị chỉ trích thôi, chứ nó không diễn tả đúng hẳn quan niệm của Phật
giáo.
Tưởng cũng nên ghi vào đây rằng: “Đầu thai” (ré-incarnation)
là một danh từ đối với người Âu châu, hay những cộng đồng theo nhất
thần giáo, có vẻ quen thuộc hơn. Đối với họ, danh từ ấy (đầu thai) có
nghĩa là “trở lại đời sống khác bằng xương bằng thịt, với một tinh
thần duy nhất (ngã thể bất biến)”. Nói cách khác, người Âu châu (hay
tín đồ nhất thần giáo) cho rằng “linh hồn bất biến có thể đi từ xác thân
này qua xác thân khác”, như viên tài xế thay xe hơi vậy.
Nhưng đạo Phật thì không tin như thế. Hai chữ tái sinh mà những nhà soạn
sách Phật giáo thường dùng không bao giờ mang ý nghĩa “Có một cái gì
đó bất biến, trường tồn nguyên vẹn, để sau khi chết, được ra toà nhận
phán quyết của thượng đế, rồi vâng lệnh bản án, đi đầu thai vào một khối
xương thịt mới, để sống lại đền tội hay hưởng phúc.”.
Từ
ngữ gốc Pàli, dùng trong kinh thời đức Phật, là tiếng “Punabbhava”, có
nghĩa là tái trở thành hay biến hiện ra cái mới, và chỉ có cái nhân của
sự trở thành ấy là có liên quan đến cái cũ mà thôi. Rồi cái mới cũng
không phải là “bản sao” (copie) của cái cũ, nên đương nhiên nó bất đồng
dạng với cái cũ. Nói cách khác, cái cũ và cái mới không phải là một, mà
cũng chẳng phải là hai. (Na ca so na ca anno).
Hơn
nữa, một số quy luật hay nguyên tắc phải được khảo sát, để thấu đáo
thuyết tái sinh trong nhà Phật. Trước tiên phải kể là luật biến dịch,
hay thay đổi (Anicca=impermanece). Nói cách khác, đó là sự
vô thường. Ba từ ngữ ấy (biến dịch=thay đổi=vô thường)
hiển nhiên có nghĩa là không có bất cứ một cái gì trên thế gian (hay
trong tam giới là trời, người, và đoạ cảnh) này là trường cửu cả. Mọi
vật vốn nằm hẳn trong định luật biến tính đổi dạng không ngừng.
Khi
nhìn một dòng sông, một người có thể nghĩ “dòng sông ấy với dòng sông mà
họ đã thấy trong chốc lát, tại cùng một địa điểm, phải chăng là một”(?).
Phật giáo chỉ rõ rằng: Đừng nói chi đến việc hai lần nhìn thấy dòng
sông kia, mà ngay cả con người ngó dòng sông ấy, trước đó một cái nháy
mắt và sau đó một cái nháy mắt, cũng đã biến hóa khác đi (cực vi) chứ
không thể coi tuyệt đối là một được.
Chúng ta hiện sống trong một thế giới không ngừng biến dịch, và ngay cả
chính bản thân chúng ta cũng đang ở trong một trạng thái thay đổi liên
tục. Đức Phật đã dạy: “Sabbe sankhàrà aniccà”. Giảng dịch
là “Tất cả pháp hành (được kết hợp theo một số điều kiện,
dù tự hoạt động được, hay không tự hoạt động được), đều phải biến
dịch”.
Đặc
điểm nòng cốt của luật biến dịch này là: Dù đổi thay liên tục,
không có một cái gì được coi là bị tiêu mất, hay tuyệt diệt. Chỉ
có hình thể của nó tự đổi dạng. Chẳng hạn như chất đặc có thể biến thành
chất lỏng, chất lỏng biến thành hơi, rồi hơi loãng vào không khí. Khi
người ta không nhìn thấy hình thể đặc, người ta cứ tưởng rằng vật ấy bị
tiêu diệt, nhưng trên chu kỳ hóa hợp nó vẫn còn đó. Nó chỉ ở trong
một trạng thái khác mà thôi.
Chính khoa học đã chứng minh như thế, và gọi là luật “di tồn nhiên
lực” (The law of conservation of energy). Như vậy, điều chính
yếu là phải tu, để “di tồn nhiên lực”như thế nào cho được trở thành
thanh cao, tiến hóa hơn, chứ không cần chấp cứng, ôm chặt cái hình
thức (thân xác) chẳng bền chắc, ngấm ngầm hư hoại, phù du kia. Và nhất
là không nên dành trọn thì giờ, để quay cuồng cung phụng cho cái thân
xác (giả ngã), với những lạc thú vốn không trực tiếp thì gián tiếp, có
phương hại đến kẻ khác. Càng không nên cuống quít lo sợ khi xác thân
hiện rõ mỗi ngày một tàn tạ, rồi băn khoăn tự hỏi “không biết ngày mai,
sau khi nhắm mắt, cái “ta” của mình sẽ còn hay mất?”.
Một
đặc điểm quan trọng khác của luật biến dịch, là không có ranh giới
tách rời giữa một điều kiện (hay trạng thái) này, với một điều
kiện (hay trạng thái) khác. Qua từng nháy mắt, cái trước bao giờ cũng
loãng vào trong cái sau. Chúng ta hãy quan sát những lượn sóng trên bể
cả, theo nhịp độ nhô lên rồi trầm xuống. Mỗi lần nhô lên thì chính là
điều kiện để trầm xuống và sức trầm xuống ấy lại đẩy nước cho nhô lên,
tạo ra một làn sóng khác. Hết lên đến xuống, hết xuống lại lên, hiện hữu
thành muôn ngàn đợt sóng. Mỗi cái này cứ biến hóa vào trong
cái kia, cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia
không, kế tiếp mãi mãi, không có sự tách rời giữa một làn
sóng này với một làn sóng khác, giữa trước và sau, giữa có và không.
Tương tự như thế, mỗi hợp thể trên đời này đều chịu luật biến dịch làm
cho hóa hiện nối tiếp nhau. Do đó, luật biến dịch không gì khác hơn là
chuỗi di tồn nhiên lực, kích đồng liên tục, giống như lực lôi
cuốn của dòng nước. Đây quả là một quan niệm Phật giáo hoàn toàn phù
hợp với tư tưởng khoa học hiện đại.
Hai
định luật (hay hai nguyên tắc) căn bản khác, quan hệ trực tiếp với luật
biến dịch, cũng cần được khảo sát để thấu hiểu sự tái sinh,
là luật trở thành (devenir) và luật tiếp tục
(continuité). Trong khi luật biến dịch nói rằng không có gì vĩnh
viễn, mà chỉ có thay đổi không ngừng, thì luật trở thành lại nêu lên “tất
cả mọi vật ở bất cứ thời điểm nào cũng đang trở thành một cái gì đó”.
Luật trở thành vì vậy được coi là kết quả tự nhiên của
luật biến đổi. Không có một thời điểm nào mà lúc ấy không có một vật
(hay một sinh vật) gì đó đang dần dần hóa ra cái khác.
Rồi
duyên theo luật trở thành là luật tiếp tục, mà một hình
thức ngắn hạn che khuất luật tiếp tục là sự hiện hữu.
Do đó chúng ta có thể nói rằng “trở thành dẫn đến hiện hữu”.
Hiện hữu để biến đổi. Nhưng vì người đời quá say mê, mắc dính, chủ
quan, cố chấp, ôm cứng cái hiện hữu thường biến một chiều, nên đã không
thể nào nhận ra sự liên tục vô hình, ngầm ngầm nối liền
giữa sống và chết, rồi giữa chết và sống (luân hồi).
Sau
cùng là luật của nghiệp. Thuyết nhà Phật nói về nghiệp
cũng cần được phân biệt với thuyết nghiệp ứng của các tôn giáo
khác, do những tư tưởng gia ngoài đạo Phật, có trước Phật giáo, đồng
thời với Phật giáo, hay sau thời đức Phật thuyết ra.
Theo
nhà Phật, nghiệp (Karma=Kamma) ám chỉ hành động có tác ý.
Luật của nghiệp được thành lập kể từ khi khởi tác ý. Luật của
nghiệp thoát dịch ra tiếng Pháp là “Lois de
Rétribution”. Đó là một chuỗi dài về nhân và quả, thấm nhiễm trọn
vẹn tinh thần của con người, để “hướng dẫn” nó đến sự tái sinh. Sức mạnh
vạn năng của nghiệp, gọi là nghiệp lực, chi phối tất cả sự
sống thể xác cũng như tinh thần, qua ba thời “giả danh luân phiên”
là quá khứ, hiện tại, và vị lai.
Sở
dĩ gọi là ba thời “giả danh luân phiên” vì “chúng” từ trong vòng
luân hành nghiệp báo mà ra, và các “tên gọi thời gian” tiêu biểu
cho chúng vốn không nhất định: Ngày hôm qua là hiện tại của chính
nó, nhưng cũng là quá khứ của ngày hôm nay, và là tương lai của ngày hôm
kia. Tương tự như thế, ngày hôm nay tuy nhất thời là hiện tại,
nhưng nó sẽ là quá khứ của ngày mai, và là tương lai của ngày hôm qua.
Rồi ngày mai cũng cùng một cách ấy, nó vừa là hiện tại của chính
nó, vừa là quá khứ của ngày mốt, vừa là tương lai của ngày hôm nay. Cứ
thế mà chúng luân phiên mang cả ba tên giả cùng một lúc.
Đối
với Phật giáo, tác ý trong tâm thức hiện tại, khi bị mắc dính trổ quả,
chính là nguyên nhân sinh ra ba thời giả danh ấy. Cho nên, đức Phật
trong nhiều bài pháp nói về nhiếp tâm, Ngài đã luôn luôn
khuyên các hàng đệ tử “chỉ tỉnh thức, quán xét thân tâm trong giây
phút hiện tại”, vì “dòng tâm thức hiện tại là sự thật của
tất cả”.Và đó là thiền pháp giải thoát, đủ năng
lực không để cho ba thời giả danh kia lôi kéo, gây chiêu cảm, rồi đóng
khung, cầm tù tâm thức.
Quay
lại vấn đề nghiệp lực, thì nó là một “sức phản động
và chuyển hóa” vô cùng diệu hoạt. Chỉ một niệm (kết quả của
chiêu cảm) loé lên trong tâm thức thôi, là nghiệp lực vi tế đã “vận
hành” rồi. Ở giai đoạn sơ khởi này, tuy nó còn yếu nhưng có khả năng
khuếch đại, hay làm nảy nở từ một niệm ra hàng vạn niệm, để tiếp theo
kết tụ tất cả, thành những chuỗi tác ý hướng về tạo tác.
Hai
chữ “nghiệp lực” mới nghe qua ai cũng có cảm tưởng là “dễ hiểu”, đại
khái nó có nghĩa : “Đó là sức mạnh của hậu quả
những hành động”. Nhưng trên thực tế, dù các nhà nghiên cứu Phật học
có viết hàng ngàn cuốn sách cũng không thể nào diễn tả chính xác cái
lực của nghiệp nó như thế nào. Duy một điều
nếu muốn biết nghiệp (khi chuyển ra hành động) nó biểu lộ
ở đâu, thì trong kinh, nhiều đoạn đức Phật đã nói rất rõ rằng: hành
nghiệp có ba nơi duyên theo, để phát sinh và lộng hành, là thân,
khẩu,và ý.
I-Thân nghiệp (Kàyakammà) gồm ba cặp tương phản nhau: 1/ Sát
sinh, hay phóng sinh, 2/ Trộm cắp, hay bố thí, 3/ Tà dâm, hay chính
hạnh.
II- Khẩu nghiệp (Vacìkammà)1/ Nói dối, hay nói thật, 2/ Nói
đâm thọc, hay nói đoàn kết, 3/ Nói đôi mách thị phi, hay bàn việc hữu
ích, 4/ Nói tưởng tượng, vô căn cứ, hay dựa trên thực tế.
III- Ý nghiệp (Manokammà) gồm ba cặp tương phản nhau: 1/ Tham
lam, hay xả bỏ những riêng tư, ích kỷ, 2/ Nóng giận, hay từ bi, mát mẻ,
3/ Si mê cuồng tín, hay tịnh trí trong sáng.
Nếu
phân biệt và làm ra hai bài toán cộng, tất cả hành nghiệp qua ba nơi
thân, khẩu, và ý, thì số thành sẽ là 10 nghiệp lành (thiện), và 10
nghiệp dữ (ác).
Mười nghiệp lành ấy là 1/ Không sát sinh (hay phóng sinh), 2/
Không trộm cắp (hay bố thí), 3/ Không tà dâm (hay đề cao chính hạnh), 4/
Không nói dối (hay kính trọng sự thật), 5/ Không đâm thọc (hay nói lời
đoàn kết), 6/ Không bàn chuyện thị phi (hay phát ngôn hữu ích), 7/ Không
nói chuyện hoang đường (hay lời lẽ luôn luôn thực tế), 8/ Không tham
lam (hay dẹp bỏ ích kỷ), 9/ Không sân hận (hay từ bi, mát mẻ), 10/ Không
si mê cuồng tín (hay tâm trí sáng suốt).
Mười nghiệp ác ấy là 1/ Sát sinh (hay hiếu sát), 2/ Trộm cắp
(hay đồng loã đạo tặc), 3/ Tà dâm (hay lăng loàn trắc nết), 4/ Nói dối
(hay thích lừa gạt người), 5/ Đâm thọc (hay dụng tâm chia rẽ), 6/ Ngồi
lê đôi mách (hay mê chuyện thị phi), 7/ Nói chuyện tưởng tượng (hay ham
thích chuyện hoang đường), 8/ Tham lam (hay cho rằng lòng tham là sức
mạnh), 9/ Nóng giận (hay sẵn sàng gây gỗ), 10/ Si mê (hay đề cao chuyện
mê tín dị đoan).
Tuy
nhiên, toàn thể hành nghiệp của một con người không phải chỉ có
thiện và ác, mà còn có những hành ngiệp vô
thiện vô ác nữa. Chẳng hạn như khi chúng ta thọc chân (thuộc về
thân) xuống giường mang đôi dép, hay chúng ta ngứa cổ (khẩu) ho khe khẽ,
hay chúng ta vô tư (ý) nghĩ đến một con số nào đó v.v… thì chúng ta cũng
hoàn tất một số hành nghiệp qua ba nơi thân, khẩu, và
ý vậy, nhưng những hành nghiệp ấy là những hành nghiệp vô
thiện vô ác (Avỳakatàdhammà).
Ngoài ra, nghiệp còn có hai loại là biệt nghiệp và
cộng nghiệp. Biệt nghiệp tác động trên một cá nhân thôi, nhưng
cộng nghiệp tác động trên cả cộng đồng (xã hội, dân tộc). Bởi thế, xúi
cho một người tin lầm thì hại ít, nhưng gây cho nhiều người mê tín thì
tai hại vô cùng.
Vả
lại, bản chất của đạo Phật là chống lại mọi hình thức ngu muội, vô minh,
tăm tối, tin không cần suy nghĩ, rồi giao phó sinh mạng cho thần linh.
Đức Phật Thích Ca là bậc đã trải qua vô lượng kiếp luân hồi, để làm
Bồ-tát tu hạnh trí tuệ (Pannadhika Bodhisatta), trước khi đắc
quả Chánh Đẳng Chánh Giác (Sammàsambuddha), nên giáo pháp cứu khổ của
Ngài luôn luôn đặt nền tảng trên năng lực trí độ.
Trong kinh Bát Nhã (Diễn giảng về độ lực của trí tuệ thanh tịnh, trong
suốt, tự tại đưa đến giải thoát, chữ Phạn của kinh ấy là Prajna
Sutra=Panna Sutta), đức Phật đã lấy “tinh thần thanh tịnh khoa học” mà
luận giải về những pháp trọng yếu của kinh “Dùng trí tuệ quán chiếu độ
ách”, là vì lý do ấy.
Ngày
nay, có một số hình thức hoạt động mê tín dị đoan dưới mái chùa, thì ấy
là sự bịa đặt để thu lợi của thiểu số lạm dụng. Những người chưa hiểu rõ
đạo Phật, không nên coi đó là pháp tu trong nhà Phật.
Trở
lại luật của nghiệp, nếu trong quá khứ con
người tạo nhân lành, thì hiện tại họ tự nhiên được quả lành, mà không
cần cầu khẩn ai cả. Ngược lại, nếu bây giờ họ hưởng hạnh phúc mà vì si
mê, tà kiến, tham lam tạo nghiệp ác, thì quả khổ chắc chắn sẽ đến cho họ
trong tương lai, không sao tránh khỏi, và cũng không ai có thể xá tội
cho được. Nghiệp đối với người tạo ác như bóng với hình.
Đoạn
thứ hai trong kinh pháp Cú (Dhammapàdasutta) đã chẳng có câu:
“…Cakkam và vahato padam ti”. Tạm dịch là:
“…Quả
báo theo tâm thức (tạo nghiệp) như bánh xe lăn theo chân con bò”.
Trong văn chương Việt Nam, cụ Nguyễn Du cũng nói:
“Đã
mang lấy nghiệp vào thân.
Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta.”
Và “lòng
ta” chính là tinh thần con người!
Đây
không phải dựa theo óc duy nghiệm, như trường phái triết học thực tiễn
(Empiriste) của Tây phương (Anh quốc) đưa ra trước đây, mà là một căn cứ
trên trên sự chứng thật qua giác lực Chánh Biến Tri của
đức Phật, ghi nhận cách nay hơn 2500 năm. Trường phái triết học “thực
nghiệm” nói trên ra đời vào khoảng hậu bán thế kỷ 17 và tiền bán thế kỷ
18, đã sản xuất ra nhiều triết gia có ảnh hưởng một thời.
Có
thể những người chưa am hiểu Phật giáo, vẫn nghi ngờ tánh Phật. Họ sẽ
đặt câu hỏi “Cái gì đảm bảo được sự hữu hiệu của nhân và quả (hay
của nghiệp lực) trong thâm tâm con người?”
Để
giải quyết vấn đề này, chúng ta có thể nhắc lại một pháp Phật rất khoa
học, ghi rõ trong kinh tạng Pàlì (Nam Phạn). Đó là hai câu “Cetasikà
kammadhammà hetupaccayabhavam”, tạm dịch “Tác ý khởi xướng
là nghiệp lực dây chuyền động và phản động”. Pháp này hoàn toàn
phù hợp với luật “xuất động/phản động” (action/ré-action) trong vật lý
học.
Đây
cũng là một định luật, hay một nguyên tắc căn bản, cần được nắm vững để
tìm hiểu vấn đề tái sinh. Định luật này xác nhận rằng bất cứ một khởi
động nào cũng gây ra phản động, hay hậu quả. Nghĩa là phản động
vì xuất động, hay ngược lại không phản động nếu không xuất động, (vô
quả tức là vô nhân).
Nói
cách khác, là nhắc lại: “Cái này có thì cái kia có”, hoặc
“Cái này không thì cái kia không”. Hai chân lý “có/có”,
“không/không”, hay xét qua khía cạnh khắc hợp biến hóa,
gọi là “tương sinh” và “tương diệt”, rút ra từ Phật giáo này, có lẽ rất
thích ứng và cần thiết, cho việc lập nguyên tắc, để bình an lẫn phát
triển xã hội con người ngày hôm nay, qua Phật lý tương sinh tương diệt.
Tương sinh để tiến bộ, thì nâng cao văn hóa (sinh được cái
tốt thứ nhất sẽ có cái tốt thứ hai). Tương diệt để
đào thải tệ nạn xã hội, thì ngăn chặn phạm tội, xung đột,
đau khổ (dẹp được cái xấu này tức làm mất giống cho cái xấu
kia).
Tâm
thức con người từ khi sinh ra cho đến lúc chết, luôn luôn bị tam độc
(tham, sân, si) dẫn qua ba nơi thân, khẩy, và ý để tạo nghiệp. Phút nhắm
mắt, nghĩa là lúc thân và khẩu đã bị tê liệt, còn ý chỉ
biết những nghiệp đã tạo, chứ không còn linh hoạt được
nữa, thì bộ ba tam độc lại tăng cường cái màng vô minh, để cho tâm thức
càng chìm sâu trong bể thụ động tối tăm, làm nền tảng cho nghiệp
lực phản ứng trổ quả, rồi đẩy tâm thức đi tái sinh, theo định
luật phản động vì đã động. Phản ứng trổ quả đẩy tâm thức đi tái sinh
ấy, Phật giáo gọi là dẫn nghiệp.
Dẫn
nghiệp để tái sinh theo biệt quả (vào một gia đình nào đó) thì
gọi là nghiệp báo. Dẫn nghiệp để tái sinh theo cộng quả
(đến một xã hội, hay xứ sở nào đó) thì gọi là nghiệp cảm.
Không phải do ngẫu nhiên ngày nay, những vấn đề khoa học, đặc biệt là
các vấn đề vật lý và nguyên tử, có thể soi sáng các tư tưởng Á Đông, một
minh triết chỉ nói về tuần hoàn nghiệp quả, mà Phật giáo từ lâu đã nói
đến một cách khoa học, những điều không thể chứng minh hữu hình được
trong chu kỳ sự sống.
Vì
khoa học Tây phương trước đây chủ về sự lý (logique), lấy lý
cụ thể để giải thích những vấn đề hiện hữu. Còn tư tưởng Á Đông chủ
về tâm linh (Spiritualité) trừu tượng, lấy vọng niệm tâm thức làm động
cơ dẫn đến mọi pháp hành, nên hai bên tưởng như không thể nào gặp nhau
được.
Nhưng dần dần, những sắc thái khoa học trong đạo Phật đã làm thành cái
cầu, nối liền hai nền “văn hoá” đó. Nhờ Phật học, mà Tây phương kỹ thuật
duy nghiệm lẫn duy lý, còn có thể hiểu được cả Lão giáo và Khổng giáo ở
Á Đông nữa.
Những sắc thái khoa học hằng có này của đạo Phật, đối với Tây
phương trước đây, đã bị coi thường, chôn vùi, vì tiến bộ Tây phương lúc
ấy chưa hướng nhiều về tâm linh. Toàn bộ các học thuyết và kỹ thuật của
họ lúc đó chỉ đựơc sử dụng cho việc thoả mãn tham vọng xâm lăng, bành
trướng đế quốc, nên chưa đựơc “nhiệt tình” giao lưu với các tư tưởng Á
Đông. Chung qui Tây phương lẫn Á Đông cũng chỉ đi tìm một cái duy nhất:
Sự thật về kiếp sống.
Và
theo Phật giáo, sự thật không thể khám phá trong đời sống
“văn minh vật chất”, gọi là “tối tân, sung túc”, cho dù khoa học đã đạt
đến mức tinh vi siêu đẳng nào. Vì sự thật khám phá trong “tiến
bộ” vật chất ấy, vốn vô định, chứa đầy điều kiện, chẳng bền vững,
không như chúng ta suy tưởng, mong ước. Và càng thanh tịnh, càng đào sâu
vào lãnh vực tâm linh, vạn vật sẽ không lộ ra như chúng ta nghiệm thấy
bằng tâm hồn khao khát.
Đừng
nói đến ngoại cảnh (như tiền tài, danh vọng, thân quyến), ngay cả bản
thân mỗi người chúng ta (tâm vật), qua tuổi đời chồng chất, chúng ta
cũng không cảm thấy có cùng một mạch sống nội tại, giống
như những gì chúng ta đã biết, đã nghĩ. Mà cái già, cái bệnh, và cái
chết là ba hóa năng tuyệt đối. Ba trạng thái suy tàn ấy lộ liễu lẫn ngấm
ngầm, cứ chắc chắn tuần tự đến gần. Chúng chẳng để yên cho chúng ta được
thụ động làm ngơ, để buông xuôi, kiểu nói rằng: “Thây kệ, chết là
hết, chết cho khoẻ”(?) Trái lại, chúng ta không ngừng “dồn ép”
thức ham sống của chúng ta tìm giải pháp khả hợp (hay
định hướng duy trì nhiên lực ), trong số nghiệp vốn chúng ta đã
tạo, tức là chúng ta đã nhận diện ra sự thật nào soi sáng tiến hóa, và
sự thật nào đưa tâm thức vào tối tăm sa đoạ, nhất là sự thật luân
hồi nào phải tránh trước, sau khi chúng ta xuôi tay, nhắm mắt.
Về
phương diện nghiệp báo, khoa học và “đạo Phật tri hành”
(tu thật mới biết), đã chẳng hẹn mà cùng không ngừng áp dụng chân pháp
nghiệm chứng, tức là quan sát và quy nạp, để sau cùng làm sáng tỏ một số
vấn đề trọng yếu trong năng lực linh động của tinh thần, trên cả hai mặt
nổi và chìm, hay biểu lộ và tàng ẩn. Kết quả soi sáng ấy có thể được
trình bày tiến trình nghiệp lực dẫn dắt tâm thức tái sinh như
sau:
Nghiệp lực cũ trổ quả, biến ra nguyên nghiệp báo (khởi
nghiệp báo), rồi nguyên nghiệp báo lột xác, hóa thành nhân dẫn nghiệp
(hạt giống nghiệp). Nhân dẫn nghiệp chính là “tạo hóa” đưa tâm thức
người chết vào tái hợp với một xác thân non mới, chứa đủ các thứ nhân
duyên quả báo tương ứng với nó.
Chưa
kể nghiệp lưu lại trong vô tỷ quá khứ vẫn “cấu kết” với toàn thể hiện
nghiệp, để trổ ra ba thứ quả, là hiện báo, sanh báo, và hậu báo.
Hiện báo là ngay trong đời này, có thuận duyên tương ứng, làm
lành được lành, làm dữ bị dữ. Sanh báo là tất cả nghiệp quả, tích
tụ trong quá khứ lẫn hiện tại, sẽ đến trong kiếp tái sinh. Hậu báo
là sự kết oán của toàn thể nghiệp quả ba thời, phải tiêu trừ hết
trước khi được giải thoát. (Đối với Thánh nhân).
Do
đó, không nên thấy những người trong hiện tại ăn ở hiền lành mà gặp
nhiều việc dữ, rồi cho là luật nhân quả không công bằng, minh bạch. Nói
cách dễ hiểu hơn là “làm việc tốt hiện tại thì quả lành rất hiếm khi
trổ trong hiện tại, mà chắc chắn sẽ đến trong kiếp sau, còn cái bất hạnh
phải gặp bây giờ là do mình đã tạo nghiệp xấu trong kiếp trước”.
Nghiệp cảm là khi nhân dẫn nghiệp (hạt giống nghiệp) của một
tâm thức trong một phôi thai cũng đồng tánh với nhân dẫn nghiệp của
nhiều tâm thức của nhiều phôi thai khác, thuộc một thế hệ sẽ tạo ra một
xã hội nào đó. Đây là biểu lộ của sự cộng nghiệp. Vì vậy
nhiều khi chúng ta thấy chỉ vì quả ác của một cá nhân đã làm, mà nhiều
người chịu khổ chung. Như câu người ta vẫn nói “Một người gây thù, cả
họ chuốc oán”.
Từ
khi thời gian bắt đầu, vũ trụ thành hình, thì tất cả sinh vật đã bị
nhiều thông số (Paramètres) ảnh hưởng và bao vây. Đứng đầu toàn
thể sinh vật là loài người vì biết suy nghĩ, phân biệt, nên những thông
số càng nghiệm đúng trong đời sống nhân loại. Và nghiệp cảm
chính là một trong những thông số đó.
Theo
định nghĩa, “thông số là một con số để “tham khảo”, hay để dựa theo
đó mà tìm ra diễn tiến (thực hiện) một vấn đề gì”. “Thông số
chung” của xã hội loài người là “dịch số”, hay hàm số biến đổi,
gồm bốn giai đoạn sinh, trụ, dị, biệt. Có nghĩa là hiện ra, trưởng
thành, thay đổi (hay tàn tạ), và biến mất. Quan sát và ghi nhận thì
người ta thấy rằng: Không một vật gì trên thế gian này mà được nằm ngoài
cái chu kỳ chứa bốn thông số đó.
Đức
Phật cũng xác nhận có bốn thông số ấy, và gọi chúng là sinh, lão,
bệnh, tử. Ngài còn khám phá ra chúng không nằm trên một đường
thẳng, mà là nằm trên đường cong, biến thành những vòng tròn không
đều, sai biệt ở điểm khởi đầu và điểm chấm dứt, cứ nối
tiếp nhau. Vì sự sai biệt này mà điểm chấm dứt của vòng trước lại chuyển
hướng (thăng hay đoạ), làm thành điểm khởi đầu của vòng sau, hết vòng
này đến vòng khác, để cho tâm thức kết hợp trong sự sống hóa hợp
vật chất, lăn mãi trên những vòng luân hồi lớn nhỏ bất tận.
Vòng
nhỏ tượng trưng cho kiếp sa đoạ thoái hóa (đời sống ngắn), và vòng lớn
tượng trưng cho kiếp thăng hoa tiến hóa (mạng sống dài). Càng đi vào
kiếp thoái hóa thì tâm linh càng trở nên ích kỷ, chật hẹp, quay cuồng,
xung đột, ham sống, si mê, khao khát, và hung bạo. Càng bước lên kiếp
tiến hoá thì tâm linh càng ung dung, rộng rãi, vị tha, trong sáng, và
thánh thiện.
Những chu kỳ tiến hóa và thoái hóa ấy có thể biểu thị như cái lò-xo
khổng lồ dài vô tận, co giãn chồng chất lên nhau, với hàng tỷ những vòng
tròn (tượng trưng cho vô số kiếp sống) lớn nhỏ không đều. Và có sự trùng
hợp đáng chú ý, là các nhà khoa học vật lý, sau khi quan sát một cách
cực vi những nguyên tử (Antome), cũng tượng trưng những vòng quay của
toàn bộ điện tử (Electrons) xung quanh một hạch nhân (Noyau) tương tự
như thế.
Nếu
chúng ta đặt mình trên “lò-xo” ấy, từ phía một vòng tròn lớn hơn, nhìn
vô những vòng tròn nhỏ dần, thì chúng ta sẽ thấy đó là một vũng
xoáy đen ngòm, mà chỗ nhỏ nhất là nơi tâm thức phải quay cuồng,
tù hãm (tương ứng với địa ngục).
Ngược lại, nếu chúng ta xem mình đang đứng trên một vòng tròn nào đó,
rồi hướng ra tìm kiếm cái vòng lớn nhất, thì chúng ta sẽ không bao giờ
thấy nó, mà chỉ thấy một số vòng lớn hơn, nằm phía ngoài cái vòng chúng
ta đang có mặt, rồi từ đó chúng loang ra đến vô cực.
Lý
do không thấy là vì cái vòng lớn nhất ấy nằm rất xa và
không có ở trong thị trường (tầm mắt) của chúng ta. Những vòng lớn đó
tượng trưng cho sự mở rộng, thoải mái, yên ổn, và thanh tịnh tiến hóa
hướng đến cực đại.
Đây
là một hình ảnh vật lý được ứng dụng trong khoa học tâm linh của đạo
Phật. Và như vậy đức Phật đã khám phá, và nêu ra thật pháp nhân
quả nhân duyên (Loi de causalité et d’interdépendance dans
l’ensemble des évolutions de vie. Phạn-ngữ là “Kamma-vipàkassa
paticcasamuppàdena hammam”), để chứng minh, và xác nhận cái mối
liên hệ giữa một vòng sống này với một vòng sống khác. Mối liên
hệ ấy tức là sự tái sinh của một sinh vật “ưu tú”, được gọi là
con người vậy.
Vả
lại, trong tiến trình tái sinh, nghiệp cảm (hay cộng
nghiệp, có giao duyên với kẻ khác) là một thông số có tính cách xã hội.
Nếu nó được hiểu biết đầy đủ, nó sẽ trở thành một ý thức liên đới xã
hội, cá nhân trách nhiệm, và tương sinh đại đồng, trong đời sống chung,
vốn tự bản chất đã chứa đầy xung đột (đau khổ) trên thế gian này.
Vì
xuyên qua vô số vòng luân hồi, tất cả mọi động tử (sinh vật) đều
có thể là cha mẹ, quyến thuộc, bạn bè, hay là người ơn của nhau. Hiểu rõ
chiều sâu ấy để thấy rằng, toàn thể cá nhân chúng ta, trong sự sống đầy
va chạm hiện tại, đã đang và sẽ vay trả không với ai khác, mà chỉ trả
vay với những “thân nhân” trong đại gia đình nhân loại (hay chúng sinh),
chằng chịt cộng nghiệp qua ba đời mà thôi. Ý thức được nghiệp cảm và
nghiệp báo ấy sẽ làm cho con người tỉnh ngộ, nhận ra số phận
chung, rồi sáng suốt, cởi mở, tạo nhiều nghiệp
lành, tránh tạo nghiệp ác, để về sau ít khổ và nhận quả tốt.
Nói
cách khác, khi ích kỷ, đóng khung thành kiến, ôm riêng quyền lợi, thì
bạn thân rất có thể biến thành kẻ thù, và kẻ thù thì muôn đời khó trở
thành bạn thân. Trường hợp nếu vì lợi chung mà thù thành bạn, thì mối
liên lạc ấy luôn luôn có điều kiện. Còn khi mọi tâm thức được soi sáng,
tất cả đều hướng về cải thiện số phận cộng nghiệp, cần sự
thịnh vượng, bình an chung cho toàn thể, thì kiếp sống của cá nhân và
của cộng đồng sẽ biến thành trợ duyên của nhau, để tất cả cùng tiến hoá.
PHẦN V
TÁI SINH QUA BIỆT NGHIỆP (cá nhân) VÀ
CỘNG NGHIỆP (xã hội)
Theo
nhà hiền triết Hobbes (1586-1678) thì: Con người khôn ngoan, “có khiếu
chỉ huy” thời xưa (chậm tiến, phong kiến) chỉ sống với mục đích duy nhất
là bắt kẻ khác phải phục tùng, để thoả mãn quyền lực của mình, và “hòa
bình xã hội chỉ có thể có, khi nào mọi kẻ khác cam phận tước bỏ tất cả
quyền lợi chính đáng của họ, để phục vụ và dâng trọn quyền hành cho mình”.
Rồi
ông kết luận: “Mỗu con người, nếu ‘khôn ngoan’ sẽ là một con sói dữ đối
với đồng loại”.
Nhưng theo đạo Phật, đây là điển hình của nguyên nhân vừa đưa đến
biệt nghiệp, vừa đưa đến cộng nghiệp. Khi một phần tử vì tham
vọng cá nhân, hẹp hòi, tự cho mình “cao” hơn người khác, tự cô
lập mình, tự đặt mình đơn độc vào một vị trí ác, thì tất nhiên họ đã đẩy
tất cả những người khác vào một vị trí ác khác. Đó là vị trí cùng nhau
oán hận độc quyền.
Kết
quả: Toàn dân có một cộng nghiệp là cùng oán ghét độc tài, bạo chúa. Khi
độc quyền bị hạ bệ thì cả đám dân đen nhào tới chà đạp, xé xác, cho dù
đó chỉ là cái xác không hồn. Nhưng ấy vẫn là lý do để đưa đến một hình
thức dã man cộng đồng. Ngược lại, khi đám dân đen lật đổ thất bại, thì
bạo chúa lại thẳng tay tàn sát tất cả. Nói cho cùng, thì biệt nghiệp
và cộng nghiệp khó tách rời nhau. Hễ đối với bên này nó là biệt
nghiệp, thì đối với bên kia nó là cộng nghiệp.
Một
nền văn minh được thành hình là nhờ trình độ hiểu biết của đa số (cộng
nghiệp), được soi sáng trong một dân tộc. Và nền văn minh nào cũng phải
trải qua bốn giai đoạn thành, trụ, hoại, không. Dù nó sau đó có thể biến
mất, nhưng quả báo của nó vẫn còn. Quả báo ấy chính là
ảnh hưởng của nó trong nền văn minh tiếp theo, kéo dài đến hiện tại.
Nếu
chúng ta nhìn nhận có cái ảnh hưởng đó, tức là chúng ta nhìn nhận
có nhân quả và có sự “tái sinh”, chỉ khác là nó “hiện ra” dưới một hình
thức mới, còn mang một ít dấu tích cũ hay hoàn toàn đổi dạng. Nhưng điều
chắc chắn là nó phải tiến bộ hơn hay lạc hậu hơn!
Thừa
hưởng cái hay của một nền văn minh, đồng thời cũng phải gánh chịu những
hậu quả xấu của nền văn minh đó, là một điều kiện tự nhiên. Đức
Phật không khuyên con người né tránh cái quả. Nhưng những giao động
theo chu kỳ được lập lại, giữa có rồi không,
giữa không rồi có, giữa sanh để tử, giữa
tử để sanh, nằm trong các thông số hoạt động, vốn là những hóa trình
khoa học trong vũ trụ, có liên quan trực tiếp đến tinh thần con người.
Vì tinh thần con người là tinh hoa, là động cơ của sự sống.
Theo
Einstein thì tốc lực của ánh sáng là nhanh nhất, nhưng sau đó nhà toán
học Nam Phi tên Ved Suwjathan lại nói rằng “Phải xét lại thuyết tương
đối của Einstein, vì thuyết này cho là không có gì qua mặt được tốc độ
của ánh sáng. Nhưng ngày nay, xuyên qua các cuộc thí nghiệm đào sâu và
tinh vi hơn nữa, người ta được biết có thứ đi mau hơn ánh sáng nhiều”.
Thành thử càng về sau, khoa học càng chứng minh có những cái không những
vượt khỏi hữu hình, mà còn vượt luôn cả những gì xưa nay chúng ta gọi là
vô hình nữa. Và tinh thần phải chăng là một cái đã vượt
khỏi cái vô hình đó, và nó có thể là một thứ “siêu ánh sáng”, hay
“tinh anh” của ánh sáng?
Tư
tưởng Á Đông có lẽ đã “linh nghiệm” được cái thứ siêu ánh sáng,
hay ánh sáng của ánh sáng ấy, và gọi nó là “linh hồn”, nên đạo
giáo Á Đông thường xem trọng những nghi lễ sau khi chết. Đây là lý do
tại sao phong tục “cúng kiến hương hồn người chết” ở Á châu đã hình
thành. Ai không biết tôn hành những ngày giỗ chạp, để tưởng nhớ đến linh
hồn những quyến thuộc đã quá vãng, hay đến tiền nhân, thì bị xã hội xem
là những kẻ vong ân bạc nghĩa.
Từ
đó, người Á Đông không có thói quen chú trọng đến ngày sinh nhật như ở
Tây phương, mà họ chỉ quan tâm để tưởng niệm ngày lìa trần của ông bà
cha mẹ. Bởi vì những gì sẽ diễn ra sau khi sinh (như trưởng thành, già
nua, bệnh tật, rồi chết), con người không khổ công tìm hiểu, cũng có thể
thấy biết được trong hiện tiền, và nếu lỡ thấy biết sai, chúng ta còn có
thể xem lại để có thể thấy biết đúng. Nhưng những gì sẽ xảy ra sau cái
chết, nếu hiện tại chúng ta không quan niệm một cách chân chính, thì
nhắm mắt rồi, hậu quả chắc chắn sẽ đến, không thể nào điều chỉnh được.
Vì vậy, càng hiểu biết đúng về sự chết là càng chuẩn bị tốt cho
những giai đoạn nối tiếp trong mạch sống, tức là củng cố cho một
tinh thần tích cực để tiến hóa về lâu về dài, chứ không thể nào hiểu lầm
cho là bi quan, tiêu cực được.
Tây
Tạng là nước Phật giáo tiêu biểu nhất trên thế giới về vấn đề này. Sách
Tây Tạng nói về sự chết (tử thư) hiện nay đang được phổ biến thịnh hành,
nhất là tại những nước có trình độ văn minh và dân trí khá cao. Vì vậy
từ năm 1970 đến nay, cái chết đã đưa ra trước ánh sáng
của lẽ phải, và của khoa học. Đặc biệt là trong vòng 15 năm gần đây, ở
Âu Mỹ xuất hiện nhiều nhà khảo cứu, chuyên về linh hồn và sự chết. Chẳng
hạn như bác sĩ Elisabeth Kubbler Ross (gốc Thụy Sĩ nhập quốc tịch Hoa
Kỳ), đã quan sát hàng ngàn người sắp chết, để biết “cái gì” đang đến với
họ, khi trí khôn của kẻ hấp hối đã lu mờ, tê liệt, biến đổi.
Công
việc của những nhà khoa học ấy nhắm vào một trong ba trường hợp sau đây:
1/
Phỏng vấn những người sống lại sau khi tim hết đập và bộ não nhưng hoạt
động.
2/
Kiểm chứng những câu chuyện của trẻ em nói về một hay nhiều kiếp trước.
3/
Phân tích các phản ứng tinh thần của những người lần đầu tiên thấy một
cảnh tượng nào đó, mà có cảm tưởng chắc chắn rằng “họ đã từng thấy qua”
nhiều lần, trong quá khứ (?)
Khi
gợi lại cái bí ẩn của tinh thần, hay nói một cách khoa học, là bàn đến
cái diệu năng của thứ siêu ánh sáng như từng đề cập trên đây,
không ai có thể kết luận “tâm linh được xác định như thế này, hay như
thế khác”, mà họ chỉ nói “tinh thần đã tự hiển lộng ra như vậy đó”.
Và những gì tâm linh “tiết lộ” đã được một số nhà khoa học, báo chí kiểm
chứng xem thật hay giả.
Câu
chuyện năm 1979 của một cậu bé 7 tuổi, người Tích Lan, con nhà nghèo,
chưa bao giờ được đi học. Sau một giấc ngủ dài 5 ngày, nó đã thức dậy,
rồi tự nhiên biết đọc biết viết một cách đẹp đẽ, văn chương bóng bẩy.
Người ta hỏi nó là ai, thì được nó trả lời nó chính là một nhà văn vừa
là họa sĩ nổi tiếng, đã qua đời cách đó 7 năm. Cuộc kiểm chứng tiếp tục:
Cậu bé còn nhớ rõ, tiết lộ địa chỉ xưởng vẽ và phòng văn của nó, với chi
tiết là năm nào đã viết xong cuốn sách gì, hay họa thành bức tranh nào,
và nội dung của tác phẩm ấy ra sao v.v… Thử hỏi: Những chuyện thật ấy
nếu không trở lại từ tiền kiếp, thì ở đâu ra?
Chỉ
có điều là những “người bỗng nhớ được tiền kiếp” ấy (như cậu bé vừa
nêu), hay những thần đồng, phô diễn lại một cách tài tình
cái điêu luyện thượng thặng lưu lại từ kiếp trước (như kỳ nhân
Mozart trong lịch sử âm nhạc chẳng hạn), hầu hết đã chết yểu. Còn
nếu có thần đồng nào sống lâu hơn, thì các khả năng độc đáo kia sau đó
lại tự nhiên biến mất.
Đối
với Phật giáo, đây là một “kết cuộc” phải đến, vì hiện tượng rất hiếm ấy
chỉ là sự biểu lộ của “dư quả nghiệp quá khứ”. Mà đã gọi là “dư quả”
(hoặc phần quả còn lại), thì nó vốn không thể có hiệu lực lâu dài.
Chưa
kể, nhiều người đã chết rồi (y học gọi là “mort clinique”), nhưng bỗng
hồi sinh trước vẻ kinh ngạc của nhiều bác sĩ. Sau đó họ thuật lại những
cái thấy biết của họ trong cuộc “du lịch” đến chỗ tận cùng của sự sống
và sự chết. Nhưng những “thính giả” không có mặt chứng kiến, đã mấy ai
tin?
Vì
vậy mà bác sĩ Elisabeth Kubbler Ross đã nhờ ban nghiên cứu của mình thu
thập khắp các nước Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, Âu, Á, Phi châu v.v…
tất cả những “nhân chứng” hấp hối, từ trẻ em 2 tuổi đến cụ già 97 tuổi,
thuộc các trình độ trí thức, tín ngưỡng, tập quán, giàu nghèo khác nhau,
để đi đến kết luận tổng quát rằng: Những người gần chết đa số đều có
trạng thái tinh thần hướng đến một cái gì khác, và tỏ ra phải từ giã
cuộc đời để đi đến một cảnh giới nào đó.
“Chết và tái sinh” là một vấn đề con người rất muốn biết, nhưng khoa
phân tâm học xã hội lẫn vật lý, trước nay luôn luôn lẫn tránh. Viện
dẫn rằng “Nói về chết nhiều là mang tư tưởng bi quan viễn vông, và trở
thành tiêu cực trong sự sống”. (?) Nhưng trên thực tế, đem toàn bộ hạnh
kiểm cả đời người nào, để bàn đến sự biến hóa của người ấy sau khi bỏ
xác thân này, là một điều hợp lý, nhất là hợp lý và xây dựng trên phương
diện đặt nền tảng cho một đạo đức sống chung.
Loài
người sở dĩ cao hơn súc vật là nhờ có lương tri và đạo đức. Bản năng của
thú vật là luôn luôn sợ chết, nhưng con người nhờ trình độ tiến hóa tinh
thần cao hay thấp, mà bản năng của con người lại khác. Con người chỉ có
thể sợ chết trong một số trường hợp, và không sợ chết trong một số hoàn
cảnh khác. Vì thế mới có những vị anh hùng, thà chết chứ không chịu
nhục, như Hai Bà Trưng, Trần Bình Trọng v.v…
Và ở
giờ phút lâm chung, mỗi cá nhân chúng ta ai cũng đều trải qua một
hành động cuối cùng của Ý, là “muốn sống tiếp”.
Nhưng hoàn cảnh thể xác trước mắt không cho phép (=nhân duyên đã tận),
thì Ý lại muốn hiện ra một sinh thân
khác. Thức hành ấy trong Phật giáo gọi là cận tử nghiệp.
Cận tử có nghĩa là kề chết, còn nghiệp ám chỉ thức hành của
Ý. Một người gần chết thì không thể hành động gì được bằng thân, hay
bằng khẩu (miệng), mà chỉ còn bằng Ý, là ý muốn hay thức hành. Do
đó cái nghiệp cuối cùng ấy là ý muốn sống
tương ứng với tất cả những gì mình đã làm, đã nói, và đã nghĩ suốt cuộc
đời. Nó chính là cái nghiệp cuối cùng của một tâm thức, như vừa
nói trên đây. Và nó cũng là cái “ý nghiệp” đầu tiên của tâm thức cho
kiếp sau.
Chính trong giây phút “dứt điểm” kiếp này, các hình ảnh của việc thiện
lẫn việc ác lại hiện ra trong ý thức của người hấp hối, với đầy đủ kết
quả của nó (thường là kết quả hài lòng ít, kết quả hối tiếc ăn năn
nhiều). Đây chính là một sự chuyển tiếp trộn lộn giữa cái dữ
và cái lành, giữa cái sáng suốt và cái tối tăm của một giác linh, trước
tổng hợp quả báo.
Vì
vậy mà trong đời sống con người, chúng ta thấy niềm vui và nỗi khổ bao
giờ cũng đi xen kẽ nhau. Hiện tượng “hạnh phúc tuy qua mau nhưng có
thể làm cho con người tạm quên đi nhiều đau khổ, và khổ sở tuy kéo dài,
nhưng con người vẫn kiên nhẫn gánh chịu, vì hy vọng ngày mai trời lại
sáng”, chính là biểu tượng của cái luật xen kẽ ấy. Nói
cách khác, thành công và thất bại, sung sướng và buồn rầu, may mắn và
xui xẻo, sum họp và chia ly..v.v…vốn cũng chỉ là những kết toán
nhỏ trong cái thông số vĩ đại, có tên là “nghiệp quả nhị
biên tương đối” trong thế gian pháp của sự sống.
Với
tinh thần hướng ngoại, tư tưởng con người luôn luôn bị vật chất làm cho
quay cuồng điên đảo, quên mất, nên tham sống sợ chết. Họ sợ đến
độ không muốn nghe ai nhắc, hay bàn luận đến cái chết. Nhưng họ quên
rằng dẫu sợ chết đến đâu, mỗi người cũng không tránh khỏi nó.
Và
bất luận họ sẽ chết như thế nào: Chết khi đã già hết tuổi thọ, chết tuổi
trẻ vì bệnh hoạn hủy hoại thân thể, hay chết vì tai nạn thình lình xảy
ra, thì tinh thần của con người vốn vẫn là một tiềm năng “di tồn
nhiên lực” (Convervation d’énergie). Nó “phổ biến” bàng bạc cả trong
lẫn ngoài cơ thể. Khi điều kiện vật chất không còn cho phép nó “hiển
hiện” được nữa, thì nó cũng phải thay đổi vật xúc tác. Sự “di
chuyển” của tinh thần, từ thân cũ đã chết qua thân mới bắt
đầu cử động, tuy thật vô cùng huyền diệu, nhưng cũng là lẽ tự nhiên.
Tuy
tốc độ tái sinh của nghiệp lực nhanh hơn ánh sáng, nhưng “thức
ham sống”(một tên khác của tinh thần) vẫn có thể mang đủ, vừa
tất cả quả báo ác lẫn thiện đã làm, vừa kết toán hỗn hợp để tạo
ra tánh và tướng, của một sự sống mới thô sơ, rồi từ đó lớn dần lên, quả
thật không có khoa vật lý cụ thể nào giải thích nổi.
Đối
với những cao tăng Tây Tạng nói riêng, và những bậc tu hành đắc đạo nói
chung, thì sự chết đánh dấu vừa làm xong các phận sự ở thế gian,
tinh thần của họ vốn sẵn sàng tách rời vật thể cát bụi, để tập trung
linh lực vào những tiềm năng hướng thượng. Tiềm năng hướng thượng
đó là sự giải thoát, dứt bỏ các dính mắc hẹp hòi vào ảo
ảnh vật chất, để cho ánh sáng trí tuệ có thể xuyên thấu, soi rõ mọi hình
thức tiến hóa cao siêu.
Các
Ngài còn dạy sâu xa, khoa học hơn rằng “Chết là một pháp hành bình
thường, không những xuyên qua xác thân nặng nề này, mà nó còn luôn luôn
ngấm ngầm tự lập lại, xuyên qua một chuỗi dài những điểm chuyển tiếp,
của vô số tế bào cũ bị đào thải, nhường chỗ cho những tế bào mới hiện ra”.
Nghĩa là từ khi một phôi thai thành hình trong bụng mẹ cho đến khi chào
đời, lớn lên, già nua, bệnh hoạn, rồi trút hơi thở cuối cùng, thân thể
con người đã trải qua nhiều tỷ lần sinh và diệt, chứ không phải
chờ đến lúc xuôi tay nhắm mắt, mới gọi là chết. Như vậy, chết chính là
biến hóa để tiếp tục sự sống, chứ không phải để mất.
Theo
tổng hợp các nghiên cứu siêu khoa học và đạo Phật, thì con người là sự
kiến tạo của bốn yếu tố vừa tạm thời vừa vô định, gồm:
1/
Xác thân, do cha mẹ sinh ra, ngày nay cũng có thể do khoa
học “chiết giống” (clonage) mà thành. Vả lại, khoa học là gì, nếu không
phải là kết quả của “sáng tạo thực nghiệm”, qua tâm thức hướng động,
tiến hóa?
2/
Địa khí (Éther), hay địa trường (sức hút), nằm bên trong
và xung quanh quả đất (bầu khí quyển).
3/
Thiên thể (Astral), hay “vô biên huyền diệu vũ trụ tuyến”
(rayons cosmiques indéfinis et mystiques), tức là “pháp giao thoa
hằng biến” của chân nguyên quang tử (photons), đến từ ngoài bầu khí
quyển, rồi phổ nhập với vật chất trên mặt đất.
4/
Hoạt lực nghiệp quả (Jìvitabàlam), tức là thức hành của
sinh động vật đã chết, nhất là giống có lương tri (có định hướng)
như loài người. (A-Lại-Da thức).
Vì
vậy, cái chết đương nhiên có thể hiểu không phải là một hạn cuộc, mà nó
là một biểu tượng cho tính chuyển tiếp của những chuỗi sống có chu kỳ
kéo dài.
Đây
là lý do một bậc tu hành đắc đạo và đắc quả
có thể biết trước được ngày giờ chết. Và nhờ linh lực thanh tịnh
của tâm trường toả rộng, họ cũng có thể biết rõ sự
diễn tiến trong phút lâm chung nơi ý thức người khác, không như đa số
phàm nhân tinh thần bấn loạn trong giây phút hấp hối, tắt thở.
Xin
lưu ý ở đây: “Đắc đạo và đắc quả” là sự thực chứng
siêu năng của các bậc thánh. Các Ngài thường ẩn
náu ở những nơi yên tịnh, vắng vẻ, hiếm khi lẫn lộn trong cuộc sống
hướng dục, nặng nề hình thức và danh lợi. Các Ngài càng ít nói ra thánh
quả của mình. Khi cần các Ngài chỉ từ bi, thanh tịnh thị hiện, dùng đạo
quả để tùy duyên cứu đời, chứ không dính mắc bởi danh vị. Ngược lại,
ngày nay có lắm “đạo sư”, không ai tra hỏi cũng tìm cách gián tiếp (qua
đệ tử trung thành), hoặc trực tiếp quảng cáo về hạnh “hy sinh”, về “đạo
quả” của mình như thế này, hay như thế khác, đặc biệt là họ bảo rằng
“thầy biết trước tất cả ngày giờ lâm chung của chư đệ tử v.v…”, thì đó
chỉ là cách bày chuyện để người khác tôn thờ mình của những “tu sĩ” giả
mạo.
Tử thư Tây Tạng còn có đoạn:
Khi
thần trí người chết dứt khoát ra khỏi trạng thái vật thể (Trung Ấm), thì
nó thấy nó ở trạng thái lơ lửng giữa không trung mờ đục, bao la vô
hạn, không có chỗ cùng. Và tỷ lệ ánh sáng được “nó” thấy của “bầu
vô minh” ấy cao thay thấp, sẽ tùy theo nghiệp lực.
Nếu
tỷ lệ ánh sáng cực thấp, huyền ảo u-minh, không cho thần trí có một hiểu
biết, khái niệm nào cả, thì đang bay lơ lửng, đọa nghiệp liền kéo nó rơi
vào chỗ tái sinh tăm tối, thoái hóa, đoạ đày.
Nếu
tỷ lệ ánh sáng được thấy ấy mạnh hơn một chút, trở thành mờ đục, thì
thần trí đang bay lơ lửng có chút khái niệm về sự vô định hướng của
mình, nên nó sẽ rất bấn loạn và hoang mang. Vì vậy nó sẵn sàng đi vào
cảnh nào hiện ra gần nhất, như súc sinh, ngạ quỷ.
Và
nếu tỷ lệ ánh sánh ấy cao hơn nữa, thấy rõ xung quanh trống không, làm
cho hụt hẫng chới với, khiến thần trí cảm thấy sợ sệt, khớp ngộp, không
dám nhìn xa, thì nó có thể tái sinh lại làm người trong cảnh nghèo khó,
hay sang giàu tùy theo quả phúc.
Nhưng nếu thần trí rơi vào khoảng một không gian đầy ánh sáng trong
suốt, huy hoàng rực rỡ, vô biên vô tận, mà nó vẫn định tỉnh, an trụ, tự
tin, cứ để tiếp tục lửng lơ, khinh thoát, không sợ sệt, tuồng như chỗ
trống không (chân tịnh) là điểm tựa của nó, thì nó sẽ đi
vào thiên đạo, hay thánh đạo.
Ở
phẩm cao nhất này, khi thánh nhân còn sống, sự chết đối với các Ngài là
tiến đến cứu cánh, là sẽ được nhập vào đại độ giải thoát. Vì lúc hiện
tiền, tánh linh của các Ngài không còn lưng chừng, khi tiến khi thoái,
khi thiện khi ác, khi thăng khi đọa, như các hạng chúng sinh trong tam
giới nữa. Nghĩa là đạo quả các Ngài đã chứng đắc trước khi xả báo thân
(chết), nên khi linh đức Thánh nhân lìa xác thân trung ấm, thánh đạo và
thánh quả tự nhiên hiện ra, quang minh, định tỉnh, không biên giới, chứ
Thánh đạo ấy không bao giờ bắt đầu, sau khi một người nhắm mắt.
Kinh
Phật ghi các hàng Thánh nhân có bốn bậc là:
1/Nhập lưu Tu-Đà-Hườn (Sotàpatti), còn tái sinh tối đa bảy kiếp nữa sẽ
hết sinh tử luân hồi.
2/
Nhất lai Tư-Đà-Hàm (Sakadàgàmi), chỉ còn tái sinh làm người một lần,
trước khi hoàn toàn giải thoát.
3/
Bất lai A-Na-Hàm (Anàgàmi), không còn tái sinh làm người nữa.
4/
Niết Bàn A-La-Hán (Arahatta), viên dung giải thoát.
Đến
đây tưởng cũng nên bàn sơ về cặp từ “Giải thoát” và “Niết Bàn” một chút.
Giải thoát là một từ ngữ rất thông dụng trong giới nghiên
cứu đạo Phật. Nó chính là ý nghĩa của hai chữ Niết Bàn,
một danh từ phiên âm “Hàn-Việt”, từ gốc Phạn ngữ “Nibbàna” hay “Nirvàna”
(tiếng nói mà đức Phật đã dùng ngày xưa). “Phạn ngữ” ấy có thể phân tích
như sau:
“NI”
có nghĩa là “không”, và “BÀNA” hay “VÀVA” có nghĩa là “vòng xiềng xích”,
(ám chỉ vòng sinh tử luân hồi). Khi hai phần đơn tự này được ráp lại
(Sanghi), thì luật văn phạm Phạn ngữ (Veyyàkarana) bắt phải gấp đôi phụ
âm “b” trong Nibbàna, hoặc thêm một phụ âm “r” trước “vàna” thành ra
“Nirvàna”, tức là không xiềng xích, hay thực sự tự do (tức
chân đế giải thoát, vô sinh tử).
“Không xiềng xích” (=Niết Bàn) theo Phật giáo, chính là cứu cánh
siêu độ. “Phật nhập Niết Bàn” tức là Ngài xả bỏ báo thân này,
rồi chẳng còn nằm trong cái vòng xiềng xích nhân duyên, tái sinh luân
hồi nào nữa, dù cho là tái sinh vào cõi trời cao nhất, vì ở đó tuy tuổi
thọ rất dài, không thể đếm được, so với tuổi thọ loài người, nhưng vẫn
còn tuổi thọ. Ngài đã thực sự giải thoát, thực sự tự do,
chẳng còn vướng mắc bởi một cái gì đóng khung, có nhân duyên, biên giới
sau đó.
Như
thế, hai chữ “Niết Bàn” không ám chỉ sự tự do tương đối,
như mãn kiếp làm người được thoát sinh lên cõi trời, hoặc mãn án tù được
sống ngoài ngục thất, hay tâm trí được thoát khỏi một vấn đề bế tắc nào
đó trong đời sống hàng ngày. Vì sự giải thoát tương
đối ấy (tự do theo hoàn cảnh, hay tâm trí thoát ra khỏi một mối
lo âu, để tạm gọi là “thảnh thơi”), tự nó đã có điều kiện và không bền
vững, nên phàm nhân thường chỉ thoát ra khỏi cái vòng này, để lọt vào
trong cái vòng kia. Còn sự siêu thăng lên các cõi trời, tuy có hạnh phúc
nhiều hơn, và tuổi thọ lâu hơn cõi người, nhưng chính sự hưởng phúc ấy
lại chính là nguyên nhân che mờ linh thức, để khiến chúng hành động lầm
lạc, cho đến khi hết tuổi thọ rồi có thể sẽ bị sa đọa.
Theo
đạo Phật, tam giới sinh tử luân hồi là ba môi trường chứa đầy những vòng
xiềng xích. Một chúng sinh nếu may mắn lọt khỏi vòng này thì lại rơi vào
vòng khác (lẩn quẩn). Đó là những vòng danh lợi, gồm tiền tài, danh
vọng, thanh sắc, ái dục (đụng chạm vừa lòng), luôn luôn bị nung nấu bởi
tham lam, sân hận, và si mê, rồi mắc dính, mà phàm nhân thường “cố ý”
(hay vô tình?) vướng vào, hơn là tìm cách thoát ra.
Trước cái vòng “xiềng xích” vật chất, như tiền bạc, của cải, vợ con, và
các vòng “xiềng xích” tinh thần, như danh dự, địa vị, tình yêu, đố kỵ,
cố chấp trong sự hiểu biết của mình v.v…trên đời này, có mấy ai
sẵn sàng “phá vỡ”, để đạt đến “Niết Bàn” như đức Phật?
Ví
như một tù nhân, tưởng ra khỏi ngục thất là được tự do giải thoát, hay
một người tăm tối, thiếu can đảm, bất lực, bi quan, yếm thế, tưởng xuất
gia đi tu là được an nhàn tự tại. Nhưng nào ngờ trong cái “tự do” ngoài
nhà tù, hay ngoài khuôn khổ gia đình ấy, tâm tư và thể xác của đương sự,
nếu không được thiện nghiệp và chánh kiến soi sáng, thì nó sẽ
lập tức tự rơi vào, hoặc bị bao vây chằng chịt, bởi những ràng buộc nặng
nề, phức tạp, vi tế khác. Rồi những thứ ràng buộc nguy
hiểm ấy, cũng có thể là lý do, sẽ đưa cựu tù nhân trở vào nhà giam sau
đó, hay đưa kẻ chạy trốn cuộc đời kia vào cảnh “tấn thối
lưỡng nan”, cuối cùng trở thành phần tử làm hoen ố cửa đạo, phá hoại văn
hóa.
Con
người không phải chỉ bị “bao vây” bởi sự sống hiện tại, mà họ còn bị
“điều kiện hóa” cho sự tái sinh trong tương lai. Cuộc sống trước mắt, ai
cũng biết là vui khổ lẫn lộn. Và nếu bình tâm kết toán, thì đa số
vui ít khổ nhiều. Nó chắc chắn sẽ dẫn đến một điểm chung là cái
chết, để bỏ lại tất cả những gì trọn đời một người, từng tốn hao rất
nhiều tâm huyết mới tạo được, xuyên qua hai nỗi phiền não luân phiên là
thương và ghét (hài lòng và bất mãn). Nhưng
khó ai biết được chiều sâu của những hiện tượng đó?
Nếu
không hiểu rõ đạo Phật, con người sẽ “tầm thường hóa” ý nghĩa hai chữ
“Niết Bàn” (không cho đó là cứu cánh tuyệt tịnh giải thoát, mà
chỉ coi ấy là cõi “đền bù cực lạc”). Họ sẽ quan niệm đó như biểu
tượng của cảnh tự do được ước mơ (một loại thèm khát trá
hình), hay xem đó như hiện thân của cái mà phàm tục gọi là “lý tưởng
thiêng liêng ”, hay “giá trị thiên phúc”, một thứ “lợi nhuận của công
đức” bao la cao thượng v.v…
Đây
là một con dao “tin tưởng” hai lưỡi. Nó có vẻ vừa siêu hình, cao
quý đáng tôn thờ, vừa “thực tế” trước mắt (vì đáp ứng được lòng tham
phúc đức vi tế, đa diện không đáy). Nhưng người ta nào biết rằng trong
chiều sâu, nó ngầm chứa bao vô minh, khao khát, dễ rơi vào lầm lạc, dẫn
đến tai hại nhiều đời nhiều kiếp cho tâm thức. Và vì họ quá tin
tưởng lẫn tôn sùng, không thanh tịnh cảnh giác, nên con dao hai lưỡi
mệnh danh là “siêu sinh cực lạc, tự do niết bàn” ấy, có thể trở thành
nguy hiểm, nhiều hơn hữu dụng, cứu rỗi.
Vì
trong sự tin tưởng ấy, tất cả chỉ khao khát làm sao cho
cái “ta” được “hưởng phúc” vĩnh viễn, hay ước mơ thường kiến,
(ngã sở bất biến), mà con người mù quáng, cứ quan trọng hóa và ôm chặt
cái xác thân thay đổi từng giây từng phút này, cho nó là
nến tảng cái ta của chính mình và của những kẻ yêu mến xung quanh mình.
Quan trọng hóa và ôm chặt đến nỗi, mà khi còn khoẻ mạnh, họ chẳng bao
giờ thích bậc thanh tịnh giác ngộ thản nhiên bảo nó vô nghĩa,
và nói đến lúc nó phải suy tàn, tan rã (chết), để hóa ra
cái khác.
Những người gọi là “duy tâm”, nếu không được soi sáng, và bị lòng tham
“phúc đức” thúc đẩy, rồi tin tưởng như thế thì không nói gì. Ngược lại
những người tự nhận mình là “duy vật”, dù ở địa vị xã hội nào (giàu sang
hay nghèo hèn, học thức hay ngu dốt), dù ở khuynh hướng triết học nào
(hiện nghiệm hay sử quan), nhưng lúc đến tuổi đã già, hay lúc lâm trọng
bệnh gần nhắm mắt, họ cũng đều luôn luôn hướng về “cõi chết”, như tin
vào một cảnh giới mà họ sẽ đến.
Nếu
bảo rằng “Do lòng tham thực tế sung túc hiện tại mà khi
chẳng đặng đừng (cận tử), những người duy vật tưởng tượng ra sự sống
trong tương lai như thế” thì vẫn không ổn. Bởi lẽ lòng tham duy vật
có mặt trái rất hùng hậu là tính nghi ngờ những gì không nghe, thấy, sờ,
nếm được, hay những gì chưa đến. Họ luôn luôn chọn thực tế hơn là xa
vời. Mà nghi ngờ thì không cho phép họ tin vào một cái gì chẳng cụ
thể.
Lòng
tham cuộc sống hiện tại, vốn ăn khớp với tư tưởng duy vật hơn là
ý thức duy tâm. Nếu lòng tham là động cơ chính của sự sống trước mắt,
thì con người (nhất là những bộ óc tuyệt đối duy vật) phải rất “thực
tế”. Buổi cuối đời hay khi gần chết, đúng ra họ phải yêu cầu thân nhân
giúp họ được thoả mãn tối đa những ước muốn vật chất, để phỉ lòng tham
hưởng thụ, vì chết là hết. Đằng này, chính những kẻ lúc đầy đủ sức khoẻ,
có tư tưởng duy vật mạnh nhất, lại là những người về già hay trước ngày
lâm chung lại tỏ ra đầy vẻ duy tâm. Họ làm toàn những việc hướng về siêu
hình, như cầu nguyện, tĩnh tâm (ngồi thiền), lễ bái, làm phúc, gần gũi
các nhà tu hành (theo tín ngưỡng nào thích hợp với họ nhất), dường như
để chuẩn bị cho một trợ duyên nào đó, cần thiết đối với tâm linh
sau này.
Nhóm
từ “Cần thiết đối với tâm linh” ở đây phải chăng có nghĩa
là “tinh thần họ sẽ nương nhờ vào đó”?
Từ
thư Tây Tạng há đã chẳng có đoạn hướng dẫn: “Khi tinh thần người chết
đi vào trạng thái Trung ấm (Bardo Thdol) (kéo dài tối đa 49 ngày sau khi
tắt thở). Thoạt tiên thần thức của họ không biết mình đã chết, vẫn tưởng
là còn sống, nên họ hết sức ngạc nhiên, thấy mọi người đều dửng dưng
trước mặt mình”.
Đoạn
trên ám chỉ rằng: Sự chết chỉ làm mất “khả năng nhớ biết chuyện cũ” của
thần thức người chết sau 49 ngày. “Năng lực nhớ biết” này đương
nhiên là vô hình. Nó có thể “hướng dẫn” thần thức di chuyển xuyên qua
các loại vật chất, mà đôi mắt thịt phàm tục bình thường của chúng ta
không thể nào theo dõi được.
Và
cũng vì sau khi chết, thần thức còn 49 ngày mắc dính với các nơi quen
thuộc, có thể lảng vảng đâu đó, không bị vật chất hay khoảng cách ngăn
ngại, nên Tử thư Tây Tạng đã khuyên chúng ta khi có thân
nhân qua đời, nên tụng kinh cầu nguyện ở những chỗ lúc còn sống
“họ” thường lui tới. Vì những làn sóng âm thanh của các lời kinh siêu độ
có “từ lực” truyền được sự cảm ứng của người sống
hướng về người chết. Mục đích là kích thích tinh thần người chết, nhớ
lại các thiện nghiệp đã từng làm, và sáng suốt thấu hiểu những giáo lý
giải thoát trong lời kinh.
Nghĩa là trong vòng 49 ngày sau khi chết, giữa thân nhân đang sống và
người chết còn có sự cảm ứng qua một “môi trường” duyên nghiệp vô hình,
và không biên giới. Nếu thân nhân đang sống vì hiếu nghĩa, biết giữ mình
(thân, khẩu, ý) thanh tịnh và định tâm giao cảm, thì họ còn mối
liên lạc cuối cùng với người quá vãng. Ngược lại nếu vì một lý do nào đó
(ích kỷ, duy vật) họ bỏ mặc, thì mối dây giao cảm kia sẽ hoàn toàn bị
cắt đứt, âm dương vĩnh viễn đôi đường. Rồi sự đối xử vô tình với người
chết trờ thành thói quen, về sau đến khi họ từ giã cõi đời, con cháu họ
cũng sẽ bỏ mặc họ như thế.
Đáng
tiếc thay, xã hội vật chất ngày nay đã biến đa số người, thành những kẻ
dễ quên người đã chết. Văn hóa hưởng thụ đang dành hết thì giờ cho cái
tôi đang sống (cá nhân chủ nghĩa) và cho “tinh thần thực tế ”,
nên người ta thường lý luận: kẻ sống thấy trước mắt còn không đủ thì giờ
để lo, hơi đâu mà bận tâm với linh hồn viễn vông, vô hình của người
chết?
“Văn
hóa cá nhân chủ nghĩa” ấy cũng không cho phép ngay cả đa số người hiện
sống trong một gia tộc, đơn phương tình nguyện chia sớt vật chất cho
nhau, mà không cần đền bù (thậm chí để “báo hiếu hiện tiền” đối với cha
mẹ), khoan nói đến sự quan tâm phần linh hồn vô hình. Huống chi chuyện
cầu siêu độ cho hương hồn “thân nhân” sau khi nhắm mắt, đòi hỏi một lòng
thành, với công đức tịnh hạnh của người sống? Đây chính là lý do tại sao
con người “tân tiến hiện đại” càng ngày càng bị mất dần sự cảm ứng trong
mối liên lạc với các thế giới tâm linh.
Thành thật mà nói, ngày nay giữa các thế hệ trong gia đình “tân tiến”,
như ông bà, cha mẹ, và con cháu chẳng hạn, vì văn hóa thiên hẳn vật
chất, hoặc vì phải chạy theo những nhu cầu hưởng thụ, đòi hỏi quay
cuồng, mà sự đối xử giữa các thế hệ “người thân” với nhau, cũng đã mất
đi phần cảm thông đang sống, nói chi đến chuyện trong tương lai khuất
bóng, xa vời. Và đặc thái của “sự tân tiến” ấy là nặng về hình thức, coi
nhẹ các giá trị tâm linh, hay nếu có thì cũng chỉ hành động theo tục lệ,
cho có vẻ trang trí, nhưng thiếu hiểu biết, không chiều sâu.
Kết
quả, người già thì càng ngày càng gần đất xa trời, nói đến chuyện duy
tâm là nói đến sự sống sau, nhưng sợ sẽ bị giới trẻ dùng duy vật bắt bí.
Còn tuổi trẻ thì cho rằng ông bà, cha mẹ theo xưa, bảo thủ truyến thống,
hay phong tục “mê tín”, nên mỗi lần trao đổi quan điểm về đời sống
tâm linh là hai bên gặp phải bất đồng ý kiến, bực bội, hơn là chia
sẻ niềm tin.
Nếu
nhất thời tất cả phải sống chung, chỉ vì các thế hệ trước đã sinh ra và
nuôi dưỡng các thế hệ sau, nhưng khi lớn lên, thấm nhiễm “văn minh” vật
chất hưởng thụ hiện tại và có dịp để ra riêng, “độc lập”, thì lớp trẻ
chắc chắn sẽ không tình nguyện hấp thụ và gìn giữ những gì gọi là “di
sản tinh thần” do ông bà, cha mẹ truyền lại.
Và
một trong những di sản mà thế hệ trước (theo đạo Phật) truyền lại cho
thế hệ sau, là niềm tin vào sự biến thiên của tinh thần.
Sự biến thiên đó đức Phật đã gọi là luật của nghiệp.
Trong kinh “Cùla kamma vibhanga”, thuộc bộ Majjhimanikàya (số
135) Ngài đã dạy như sau, xin tạm dịch:
“Nghiệp
(kamma=karma) là tác động. Còn sự kết thành từ tác động ấy là quả của
nghiệp (kamma vipàka). Hậu quả bao giờ cũng tương ứng với nhân và duyên.
Tất cả chúng sinh đều có nghiệp là của mình. Nghiệp là bản chất cố hữu,
là truyền thống, là điểm khởi đầu các vòng sinh tử luân hồi, là nơi
nương nhờ duy nhất”.
Trò
chơi bất tận của nghiệp và quả, của tác động và phản động, của hạt và
trái, để gây ra sự tái sinh, cứ nối tiếp nhau qua những vòng luân hồi
sai biệt. Mục đích của các vòng luân hồi ấy, như đã nói ở đoạn trước, là
để biến hiện, để trở thành, để tạo ra một chuỗi những thay đổi mới, từ
cái thực tại hiện hữu gồm tâm lý phối hợp với vật thể của mỗi chúng
sinh.
Thật
là hiển nhiên để thấy rõ rằng: Ý muốn hay tiềm lực hướng đến sự sống
chính là mầm tái sinh. Khi có Ý muốn sống, một sinh linh
sẽ tạo tác bằng tất cả những gì nó có. Người hiện tiền thì tạo tác bằng
thân, khẩu, và ý. Còn kẻ đã chết thì chỉ bằng Ý (hay linh hồn)
mà thôi. Vả hễ có ý xuất động, thì tất nhiên phải có
ý phản động. Rồi từ ý xuất động đến ý phản
động đã có sẵn môi trường nghiệp quả nhân duyên tích lũy nữa,
thì việc tái sinh là một việc chắc chắn phải đến chứ không có gì khó
hiểu cả. Duy một điều: “Sự tái sinh ấy sẽ hiện ra dưới dạng nào
(tiến hóa hay thoái hoá)?” mới là vấn đề quan trọng, đáng nghiên
cứu.
PHẦN VI
TÁI SINH KHÔNG PHẢI CHỈ LÀ KẾT QUẢ CỦA
MỘT KIẾP SỐNG
Lấy
một tiến trình dễ hiểu của tâm thức để làm thí dụ: Khát vọng sinh ra
hành vi. Hành vi (hợp với thuận duyên hay nghịch duyên), đem lại kết quả
tương xứng hay sai biệt. Rồi kết quả tương xứng hay sai biệt ấy, đến
lượt nó dẫn đến khát vọng mới, mang đầy đủ dư vị của tất cả khát vọng
cũ.Trong nhân có quả, trong quả có nhân. Tiến trình của
nguyên nhân và hậu quả, của tác động và phản động, của hợp rồi tan, của
tan rồi hợp, của có rồi không, của không lại có, là một định luật tự
nhiên, không do ai sắp đặt cả. Nhưng những ẩn số của nhân duyên quả xoay
vần bao giờ cũng được tổng hợp và nghiệm đúng, vì nghiệp báo vừa
là định lý vừa là hệ luận xác thật nhất cho “đáp số” tái sinh.
Từ
đó, tái sinh không phải là kết quả của một chu trình sinh diệt duy nhất,
mà nó là gạch nối luân hồi của vô số chu trình sinh diệt
nơi một cá nhân cho chính họ, và giữa họ với toàn thể những chu kỳ sinh
diệt của rất nhiều chúng sinh khác (tha nhân). Những chu kỳ sinh diệt
“tha nhân” ấy, bên cạnh nghiệp cảm và nghiệp báo này còn
mang một cái tên là cơ duyên.
Đây
là một tổng hợp tiền duyên dư quả, một trợ lực lưu
lai, vô cùng hùng hậu. Nó bao gồm nhiều mối dây “thân thuộc”,
làm gạch nối từ vô tỷ kiếp quá khứ vào hiện tại và tương lai của một
sinh linh.
Người duy vật thường nghĩ rằng chết là hết. Nhưng Phật giáo thuyết minh
ngược lại: Chết không phải là hết, mà là còn rất nhiều.
Cái nhiều ấy không phải chỉ chứa những gì của một kiếp vừa qua, mà nó
còn chất chứa tất cả vô số tiền duyên lệch quả trong vô tỷ
quá khứ nữa. Và xuyên qua cái duyên hệ bất tận ấy, mà tâm
thức mới có “môi trường chờ sẵn” để tái sinh luân hồi vậy.
Môi
trường chờ sẵn đó không gì khác hơn là không gian và thời gian, là toàn
bộ các cõi biến hóa, *có xoay vần sự sống, như hoàn cảnh
thiên nhiên, hoàn cảnh xã hội (nếu được tái sinh làm người),*có
hiện tượng linh động, như từ lực của ánh sáng, từ lực của thiên
thể (nếu được sinh vào các cõi trời), *có siêu năng diệu hữu,
như vô biên quang tử, như vũ trụ tuyến, như nguyên hành bất nhị (nếu
chứng đắc vào thánh lưu giải thoát).
Đây
chính là lý do mà đức Phật đã xác nhận không có một chúng sinh nào
còn luân hồi, mà mang một linh hồn “nhất định”, vĩnh viễn, bất biến,
như hầu hết các tôn giáo khác trên thế gian quan niệm.
Mặc
khác, theo Phật giáo không có cái gì mà không có nguyên nhân (Ahetuka),
hoặc rất hiếm những pháp chỉ cần một nguyên nhân (Ekahetuka) để sinh ra
nó, mà hầu hết phải cần có một số những nguyên nhân điều kiện (thuận
duyên lẫn nghịch duyên) phối hợp, mới lập thành một pháp hành (Sankhàra
dhamma), hay kết tụ thành ý muốn đưa đến hành động (tái sinh) của một
sinh vật. Tóm lại là tất cả tiến trình sinh hoạt luôn luôn cấu kết có
nguyên nhân, có điều kiện, tức là có nhân và có duyên
(Paticca samuppàda).
Và
con người, bằng kiến thức thanh tịnh, trong sáng (trí tuệ), thuận với lẽ
sống lành mạnh tự nhiên (đức hạnh), có thể hiểu biết, chỉ huy, và cải
thiện được vận mệnh (nghiệp quả) tương lai của chính mình, qua “phương
trình” tái sinh.
Do
đó, những phản ảnh của nghiệp quả lưu lai không phải là sức mạnh cố
định, đúc kết ra số phận của một sinh linh sau này, mà nghiệp quả
chỉ là một trong những yếu tố ráp thành cái bắt đầu sống sắp đến.
Nghĩa là, khi được sinh làm người, với trí tuệ giác ngộ, nghiệp quả xấu
từ vô tỷ quá khứ có thể được cải biến bằng những ý chí và hành
động lành mạnh trong đời sống hiện tại, để làm nẩy mầm cho nghiệp báo
tốt trong tương lai.
Điều
quan trọng xin nhấn mạnh ở đây, là chớ xem nghiệp quả
trong Phật giáo như một thuyết định mệnh cứng ngắc (fatalisme).
Ngược lại chính đạo Phật là “tôn giáo” luôn luôn xây dựng, chống lại cả
ba quan niệm đóng khung là: 1/ Thiên nhiên (hay vật
chất) định số mệnh (Svabhàvavàda=duyvật); 2/Thượng
đế toàn năng (hay thần linh) định số mệnh (Issarakaranavàda=duy
linh hay duy tâm); và 3/Nghiệp lực quá khứ (hay
nhân quả) định số mệnh (Pubbakammavàda=duy nghiệp, hay
duy lý).
Hai
trường hợp định số mệnh đầu là “thiên nhiên” và “thượng đế” đạo Phật
không bao giờ nhìn nhận, nhưng trường hợp định số mệnh thứ ba là nghiệp
lực, Phật giáo tuy thường thuyết minh “không một chúng sinh nào có
thể thoát nổi nghiệp báo”, nhưng Phật giáo cũng đồng thời bổ túc
“Ý chí tiến hóa trong mỗi con người có thể cải thiện được kết quả của
nghiệp lực”.
Vì
bên trong nghiệp lực nào cũng có ý chí tạo ngã (Attakàra),
mà ý chí tạo ngã chính là “động cơ căn bản” của tâm thức tìm kiếm một
cái gì mới cho mình, xuyên qua tái sinh. Khi ý chí tạo ngã được soi
sáng (có trí tuệ), thì sinh thức hướng thiện, tái sinh vào cảnh giới
tiến hóa hơn. Ngược lại nếu không được soi sáng (bị vô minh che áng),
thì nó hướng ác, tự tái sinh vào vòng sa đọa, thoái hóa.
Nói
cách khác, ý chí tạo ngã tuy là một “năng lực” bị ảnh hưởng sâu đậm bởi
nhân duyên, nghiệp quả, và điều kiện văn hóa (tín ngưỡng), vào giai đoạn
chót của một đời người, nhưng nó cũng chính là “yếu tố quan trọng” trong
sự “phối hợp” và tổng kết tất cả những cái có thể làm ra “tác phẩm” tái
sinh.
Cần
gì phải nhờ kinh nghiệm khoa học mới hiểu nổi xuất động sinh
phản động, hậu quả theo sau nguyên nhân, hay hạt trổ ra trái,
như…một lẽ tự nhiên? Nhưng để thấu đáo tiềm lực của nghiệp, cũng như sức
mạnh nơi ý chí tạo ngã đem lại chung quả trong kiếp
kế tiếp, sau khi tan rã xác thân này ra sao, thì thật là một điều rất
khó khăn đối với tư tưởng phàm tục, tinh thần chưa được thanh tịnh,
trong sáng. Chúng ta thử bàn về điều này:
Theo
Phật giáo, không có sự sống nào sau khi chết, hay một đời sống nào trước
khi sinh, mà độc lập với ảnh hưởng của cặp bài trùng là nghiệp báo
và ý chí tạo ngã. Cặp bài trùng này và tái sinh tuy hai mà
một, tuy một mà hai, luôn luôn đi sát cánh với nhau. Nếu chúng (cặp bài
trùng) đóng vai hệ luận hay kết quả tất nhiên của tái sinh, thì tái sinh
cũng là hệ luận hay kết quả tất nhiên của chúng (tức nghiệp báo và ý chí
tạo ngã).
Sinh đi trước tử, và tử cũng đi trước sinh. Chúng là một đôi
lần lượt đi trước và sau nhau, trong sự nối tiếp lầm lạc để tái tạo. Bởi
không bao giờ có một cái ngã tạm thời (thay đổi không ngừng) mà
lại trường tồn, được xem như một thực thể nhất định, để đi từ sự sinh
này đến sự sinh khác.
Hơn
nữa, trước vấn đề “tái sinh” Phật học đã thận trọng chỉ rõ: Cái mà các
tôn giáo khác gọi là “linh hồn bất diệt” hay “bản ngã trường cửu”, thì
từ ngữ có ý nghĩa tương đương đựơc dùng thời đức Phật là”Atta”
(Pàlì) hoặc “Atma” (Sanskrit). Nhưng để phủ nhận, đức Phật đã gọi
ngược lại là “Anatta” hay “Anatma” (tạm dịch là “vô
ngã”), chỉ để đánh tan sự cố chấp cho rằng “Dòng tâm thức thay
đổi không ngừng trong con người là cái ta”, hay “Xác thân
tạm bợ này là của ta, ta có bổn phận phải bảo vệ nó bằng mọi
giá”, mà thôi. Vì Phật giáo cho rằng quan niệm về cái ta như thế
thật là thiếu chính xác và đáng tiếc.
Lời
dạy của đức Phật trong kinh về “vô ngã” (=chẳng có cái ta) cũng không
ngụ ý chối bỏ sự hiện hữu của một con người, hay một sự sống. Phật giáo
chỉ nói rằng “không có cái cá nhân phàm tục, do vật chất tạm cấu kết
mà trường tồn”, cũng “không có một bản ngã hay linh hồn, sống
bằng điều kiện mà bất biến”. Nhân vị hay cá nhân, theo nhà Phật,
không phải là một thực thể, mà chỉ là một giá trị ước định. Nói đúng
hơn, nó là một chuỗi những cái phát sinh lý hóa rồi diệt đi, hay một
chuỗi những sự nuôi dưỡng, đốt cháy và bám víu, chứ không có gì giữ được
trạng thái nguyên vẹn cả.
Ngoài ra, kinh Phật còn nhiều đoạn xác nhận: Không một hiện tượng
nào đến từ chỗ không có. Nghĩa là không gì vô nguyên nhân. Mọi
sinh vật (cử động hay không cử động được) đều phát nguồn từ những nguyên
nhân, và bị ràng buộc bởi một số điều kiện. Sở dĩ đức Phật không nói đến
cái nguyên nhân thứ nhất, là vì nếu Ngài chỉ ra cái nguyên
nhân thứ nhất, người ta sẽ không hiểu hỏi tiếp “Vậy chứ cái nguyên nhân
của nguyên nhân thứ nhất đó là gì?”
Khi
nghiên cứu về những tuệ lực giải thoát hay các phẩm tính siêu việt
nơi đức Phật, chúng ta tự nhiên sẽ biết rằng “ngày nào con người chưa
tận diệt phiền não cố chấp, chưa chấm dứt đựơc mắc dính với tạm bợ, thì
ngày ấy họ không thể nào hiểu được cái nguyên nhân thứ nhất ấy”.Ví
như người chứ rời khỏi cặp kính màu thì họ không bao giờ thấy được trạng
thái thật của sự vật, dù cho đức Phật có nói rõ ra như thế
nào. (Cặp kính màu ở đây là tham, sân, si, khát vọng, cố chấp). Chưa kể
cặp kính màu ấy còn bị phủ dầy bởi bao lớp bụi thời gian ô nhiễm,
huân tập, mà ngoại trừ trí tuệ kim cương (Kim Cương
Bát-Nhã) của quả Phật ra, không một ý thức hệ triết học, hay cách mạng
nào của thế gian có thể dũa sạch nó được.
Kinh
Tạp A hàm (Samyutta Nikàya), quyển số 3, các trang từ 149 đến 151, có
đoạn xin tạm dịch như sau:
“Bánh
xe tái sinh này, (lăn trên) cái vòng sống chết này, sẽ không bao giờ đến
điểm chung (nếu tham lam, sân hận, và vô minh chưa bị tiêu diệt). Và chỗ
khởi đầu của tất cả chúng sinh (tức cái nguyên nhân thứ nhất), ngày nào
chúng sinh chưa thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, thì không bao giờ nhận
ra nó được”.
Vả
lại, vòng luân hồi không phải chỉ căn cứ trên những kiếp sống nhân sinh,
mà Phật học còn mô tả nó một cách sâu xa, tinh vi hơn, dựa theo những
chu kỳ “sát na”, gọi là “dòng luân hồi tâm thức” có liên
quan vừa trực tiếp vừa gián tiếp đến sự “tái sinh”.
Căn
cứ theo “Vi Diệu Pháp Thống Kê” (Abhidhamma-sangaha), thì có một
chớp tâm thức cuối cùng (Cuti Citta), hay một nhoáng ý
thức sau chót (Cuti Vinnàna) thuộc về chu kỳ sống (di tồn
nhiên lực) đi trước. Chính chớp nhoáng tâm thức hay ý thức cuối cùng ấy,
ngay khi chấm dứt dòng hoạt động, nó tự hóa thành điều kiện nẩy mầm
cho một chu kỳ tâm thức tiếp theo.
Phật
giáo gọi đó là “tâm thức gạch nối” (Patisandhi Vinnàna Citta).
Nói rõ hơn, là chính trong dòng tâm thức của một người đang sống, vốn đã
có vừa tử vừa sinh, cùng phát khởi ở một “xuất xứ”, như hai mặt
của một đồng tiền, không thể thiếu được. Nếu mặt trước là tử thì mặt sau
phải là sinh, hay ngược lại. Cả hai đều mang đặc tính “hỗ tương tạo
tác”. Tử tạo ra sinh, và sinh cũng tạo ra tử. Nhờ đó mà thức
tính ngây thơ của một cậu bé mới chào đời, mới có thể lớn dần qua
thời gian, trở thành một tâm hồn tích cực, của một thanh niên
năng động, vài ba mươi năm sau.
Cứ
như thế mà dòng tâm thức này “ra đời”, biến đi, rồi nhường chỗ cho một
dòng tâm thức khác, mới hiện hoạt động. Và về phương diện khoa học,
chuỗi những dòng luân hồi tâm thức ấy chính là động cơ kích thích trung
khu thần kinh, làm cho hàng triệu tế bào trong một thân thể non trẻ tiếp
nối nhau phát triển “sinh tồn”, để cho con người mỗi ngày một trở nên
“trưởng thành” (già dặn hơn).
Mái
tóc bạc đúng ra phải nói là hình thức mới của mái tóc
cũ (bởi nó xuất hiện sau), nhưng người ta chỉ muốn nô lệ, ôm
cứng màu tóc đen cũ, chối bỏ cái mới, nên vội vàng xuyên tạc, nhuộm nó
đi để bắt mình phải sống với giả tạo. Và dẫu làm gì đi nữa, thì cái biến
đổi nó vẫn biến đổi, còn luật trường cửu xoay vần nó vẫn
xoay vần trường cửu.
So
sánh qua tiềm lực tinh thần trong con người, thì tâm thức luôn
luôn biến đổi, nhưng dòng luân hồi tâm thức thì vĩnh viễn,
không bao giờ gián đoạn, vì nó là hiệu số của “di
tồn nhiên lực” (effet de conservation d’énergie), là hiệu số của
pháp hành hằng hữu, hay hiệu số của Phách lực A-Lại-Da. (Nói theo nhà
Phật).
Pháp hành ấy tuy chẳng được ai tôn sùng lên hàng tạo hóa toàn
năng, nhưng tưởng như không có một sinh thể nào trong tam giới có thể
thoát ra ngoài vòng “điều khiển” của nó được.
Tuy
nhiên, sự đắc quả Phật Chánh-Đẳng Chánh-Giác (Samà Sambuddha), của hoàng
tử Bồ-Tát Sĩ-Đạt-Ta (Siddhatta), dưới tàng cây Bồ-Đề ở Trung Ấn, trước
đây hơn 25 thế kỷ, đã tiết lộ rằng “Linh thức” nào không còn “mắc
dính” với hai trạng thái tạm thời là có và không, sinh và tử
trong ba cõi, thì “Linh thức” ấy vượt ra khỏi tam giới, và không
bị dòng luân hồi tâm ý ảnh hưởng, lôi cuốn nữa. Linh thức đó chắc chắn
là hiện thân của Niết Bàn (Nirvàna=giải thoát), vì Linh thức ấy chính là
Phật tánh, đã thấy rõ cái “nguyên nhân thứ nhất” dẫn đến
nghiệp báo và tái sinh.
“Phật tánh” này xưa nay vẫn là một thánh quả cao thượng, cao siêu
nhất, mà nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo còn nói là “bất khả thuyết, bất
khả tư nghì” (nghĩa là nhân thế không thể nghĩ bàn được). Như vậy, phải
chăng trí thức phàm nhân còn lặn hụp trong sinh tử luân hồi như chúng ta
chẳng thế nào hiểu thấu?
Theo
thiển kiến của chúng tôi, điều ấy chỉ tuyệt đối đúng khi xã hội loài
người còn sống trong thiếu học (ngu dân), lạc hậu, vô minh cố chấp, dị
đoan mê tín (tà kiến), luôn luôn trông cậy vào tha quyền tưởng tượng cứu
rỗi. Nhưng nếu nhân loại tiến dần đến một nền văn minh chân chánh, lành
mạnh, nhận diện được hai khía cạnh của tâm thức là sáng suốt và si mê,
tích cực và tiêu cực, đồng thời với sức đẩy hữu dụng và nguy hiểm, của
lòng tham là hướng thượng và buông xuôi, của trí tuệ là phá chấp và sở
tri chướng, và thường xuyên được khoa học tâm linh cũng như thực nghiệm
soi sáng, thì linh tánh tri hành tự lực trong mỗi con
người, khi được phát triển đúng mức, sẽ có thể giúp họ hiểu được giá trị
siêu độ của Phật quả, khởi đầu từ công phu tịnh hạnh trong nếp sống phàm
nhân khiêm nhượng này.
PHẦN VII
LÝ NHÂN QUẢ VÀ ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA
Lý
nhân quả trong nhà Phật không phải là một tín điều (doctrine). Nó không
tượng trưng cho cán cân công bằng thưởng phạt, của một linh quyền tạo
hóa toàn năng nào cả. Nó cũng không phải là một giáo thuyết
(enseignements religieux), do vị “giáo chủ” là đức Phật sáng chế ra, để
làm cho nền tảng cho những lập luận giảng đạo, dựa trên luật vay trả,
hằng mong ước của con người. Mà lý nhân quả trong nhà Phật là một
tiến trình tự nhiên của phản ứng lý hóa, nghĩa là một nguyên
hành khoa học thuộc về tâm và vật.
Qua
cái nhìn này, người Phật tử nhận thấy “lý nhân quả theo Phật giáo
bao giờ cũng nghiệm đúng”. Nó xác định nguyên tắc “có quả thì
phải có nhân”, hay ngược lại “không nguyên nhân nào mà chẳng đưa đến hậu
quả”. Hậu quả ấy, trong một số trường hợp, có thể tương xứng
với nguyên nhân, nghĩa là hợp lý. Và trong một số trường
hợp khác có thể bất tương xứng (đối chiếu với nguyên
nhân), hay bất hợp lý.
Trong khi hai thuật ngữ nghịch nghĩa Tây phương là “Logique” và “Illogique”,
tương đương với cặp từ Hán Việt, là “hợp lý” và “bất hợp lý”,
đang tỏ ra rất thông dụng trong các giới khoa học, nhất là giới chuyên
nghiên cứu về “Causalité de la matière” (1), thì nhóm chữ
“lý nhân quả” trong nhà Phật, vì bị coi thường (hay bỏ
quên) cái yếu tố tối quan trọng, là thực tế trợ duyên hay
văn hóa, nên làm cho người ta khi nghe nói, cảm thấy nó thuần
túy “tôn giáo” (như thuộc về linh quyền thưởng phạt), hay nó chỉ nằm
trong lãnh vực luân lý xã hội mà thôi.
Tự
điển Le Petit Larousse Illustré đã định nghĩa: “Causalité (du
phénomène) de la matière” est le “Rapport qui unit la
cause à l’effet”. Donc “Les mêmes causes dans les mêmes conditions
produisent les mêmes effets”.
Tạm
dịch: “Nhân quả (của hiện tượng vật chất) là mối
liên hệ, kết từ nguyên nhân đến hậu quả ”. Và từ đó suy
ra: “Những nguyên nhân giống nhau trong những điều kiện
giống nhau thì cho ra những hậu quả giống nhau”.
Để
đầy đủ hơn, soạn giả xin nêu câu hỏi, bổ túc vấn đề rằng: “Nhưng nếu
những nguyên nhân giống nhau, lại xảy ra trong những điều kiện (trợ
duyên=văn hóa) khác nhau, thì kết quả
sẽ ra sao?” “Mais si les mêmes causes ne se déroulent pas dans
les mêmes conditions, alors quels effets?”
Chúng ta không cần phải chờ tự điển “Le Petit Larousse Illustré” đồng ý
rằng: Nếu những nguyên nhân giống nhau, diễn ra trong những hoàn
cảnh khác nhau, thì hậu quả phải sai biệt, khác đi!
Rồi
lắm trường hợp xảy ra giữa đời sống hằng ngày: “Người ăn ở hiền lành thì
gặp nhiều bất hạnh, và kẻ gian manh hiểm ác, lại thường được phát đạt,
may mắn, bình an…”, càng làm cho tư tưởng chuộng hợp lý của con người
phân vân hơn nữa. Chưa kể một số cá nhân, chuyện lạm dụng thực tế phản
đạo đức để trục lợi, liền dựa vào đó, xuyên tạc kết luận rằng: “Luật
nhân quả nói chung, hay lý nhân quả trong nhà Phật nói riêng, chỉ là sự
suy tưởng hứa hẹn, an ủi hão huyền, nghe ‘công bằng’ trên lý thuyết,
nhưng khác xa thực tế…”
Lối
bài bác ấy tỏ ra khá “hiệu lực”, đối với những người chỉ quan niệm lý
nhân quả một cách đơn giản, cứng ngắc, xem đó như một “quy luật
bất biến”. Kiểu nhắm mắt nói rằng: “Làm việc lành thì luôn
luôn sẽ hưởng trọn quả lành, còn phạm điều ác thì chắc chắn phải
nhận đủ quả xấu” (?). Mà họ không biết hay không chú trọng
đến các yếu tố hoàn cảnh, tương duyên, liên đới, tức thực
tế xã hội (văn hóa).
Các
yếu tố này rất quan trọng, nhưng hầu hết người ta lại coi thường. Tỷ như
tin rằng “hễ đường tốt bột tốt, thì cái bánh nhất định sẽ ngon, mà không
cần nghĩ đến các yếu tố cần thiết như nhiệt độ, nghệ thuật làm việc, lẫn
phương tiện trộn và nhồi bột”. Trên thực tế, các yếu tố ấy mới chính là
“môi trường biến hóa” ra tất cả diễn tiến “từ đường bột đến cái bánh”
hay “từ nhân đến quả”.
Nghĩa là khi nghiên cứu cặn kẽ vào lý nhân quả một cách khoa học, qua
thực tế đời sống, với những điều kiện biến thiên giữa tâm và vật, nằm
trong tiến trình tương duyên không phải một chiều, mà là xoay
chiều (chu kỳ), được hoàn cảnh thực tại “pha trộn”, từ nhân đến
quả, rồi từ quả đến nhân, thì chúng ta sẽ nhận thấy lý nhân quả trong
nhà Phật là một “phương trình biến dịch toàn diện”.
Phương trình ấy có thể viết ra một cách rõ ràng: nhân cộng
với duyên thành ra quả (a+b=c), chứ không
phải “nhân nào quả nấy” (a=a’), như một số người thường tưởng. Từ
nhân đến quả phải xuyên qua duyên. Vì vậy “phương trìng tổng quát”
lý nhân quả ấy, vốn tất cả các “ẩn số” ắt có và đủ, hợp lý lẫn bất hợp
lý, tương xứng lẫn bất tương xứng. Những ẩn số luôn luôn bị thay đổi
tùy theo các điều kiện tương duyên (tức là tùy theo “dẫn số” b),
cấu kết giữa nhân và quả, trên một chuỗi chu kỳ.
Các
điều kiện tương duyên ấy rất quan trọng, vì nó dự phần chính
vào việc nghiệm đúng hay làm sai biệt “đáp số” dưới dạng kết quả. Thử
nêu vài ví dụ:
Anh
A có lượng hạt giống tốt. Nói chung thì hạt tốt thì phải sinh cây và
trái tốt (hiểu theo kiểu cứng ngắc “nhân nào quả nấy”). Vì tin như vậy
(giả dụ thế) nên anh A đã chẳng quan tâm đến trợ duyên, đem hạt tốt thờ
ơ gieo trên chỗ đất tầm thường hay độc địa sỏi đá. Anh lại ít chăm sóc,
cứ để cho nó “tự nhiên phát triển”. Kết quả đến mùa anh gặt hái chẳng
bao nhiêu, và quả thu lượm cũng không sung tốt như anh tin tưởng.
Trái
lại, anh B chỉ có những hạt giống không xuất sắc, hay tương đối xấu.
Trên nguyên tắc thì hạt xấu khó mọc, và nếu mọc thì cây sẽ yếu ớt, không
thể cho trái tốt được (lại cũng “nhân nào quả nấy”). Nhưng anh B nhờ có
tinh thần quan sát, biết được giá trị của hoàn cảnh trợ duyên.
Anh cẩn thận tìm chỗ đất thích hợp để gieo hạt. Anh cũng theo dõi, chăm
sóc cây từ lúc nẩy mầm, thường xuyên bón phân tưới nước. Nên đến mùa,
anh thu hoạch khá tốt, và quả mới còn chứa hạt giống cho kỳ sau, tốt hơn
hạt giống trước rất nhiều.
Ý
nghĩa cụ thể của hai thí dụ trên đây, tuy tầm thường, thuộc về vật chất,
nhưng ám chỉ (nghĩa bóng) của nó rất quan trọng, trong
lãnh vực xã hội biến hóa tâm linh con người (trừu tượng).
Ám chỉ ấy đã thường được đức Phật nhắc đến, một cách trực
tiếp hay gián tiếp, qua nhiều bài pháp, nhằm diễn tả tác-ý (nhân) phát
ra hành động (quả) nơi thân và tâm thức của một con người, bị ảnh hưởng
bởi hoàn cảnh xã hội đang sống, để sinh ra thục quả ra sao. Nhất là
chúng ta tìm thấy phản ảnh của các ám chỉ ấy
trong các bộ kinh phổ thông, thuộc Tam Tạng Phạn ngữ (Tipitaka) lưu lại,
như Túc-Sinh-Truyện (Jàtaka), còn gọi là kinh Bổn Sinh
(thuật lại mối liên quan với tiền kiếp), kinh Sa-Môn-Quả
(Samannaphalasutta), nói về phúc lộc xứng đáng nhãn tiền, hay quả báo sẽ
đến trong kiếp sau, của các bậc sa-môn tinh tấn tu hành, nghiêm trì
giới luật, hoặc của thiên chúng, hay của thiện nam tín nữ, cư sĩ tại
gia sống đời tịnh hạnh v.v…
Mục
đích của các kinh Phật ấy, là nêu lên vai trò then chốt của những
điều kiện trợ duyên trong lý nhân quả, tức hoàn cảnh thân cận
tương quan, chứa đựng những va chạm sống, của con người.
Nói cách khác, niềm tin trong hoàn cảnh văn hóa xã hội là
điều kiện trợ duyên chính, là yếu tố biến đổi một cách sâu xa cả “hai
cực” nhân và quả.
Hiệu
lực biến đổi hùng hậu và đa dạng ấy của
những sinh hoạt tương duyên hiện hữu, không ngừng chuyển
hoá tâm và vật trong ý thức của mỗi cá nhân, qua các trợ lực thuận
hay nghịch trong xã hội. Thuận (lành mạnh)
thì bổ khuyết, điều chỉnh, cải thiện cho hành động làm nghiệp nhân, tức
là dẫn ra lối sáng (tăng trưởng quả phúc). Và nghịch (tà kiến) thì biến
thành chật hẹp, kềm chế, ngăn trở, che khuất sáng suốt, đẩy pháp hành
trong hiện tại vào bóng tối (làm giảm, làm trổ lệch chiều, hay triệt
tiêu quả phúc).
Đó
chính là “đầu mối” của những “đáp số” sai
biệt. Nghĩa là cùng một nhân, mà trường hợp này thì chúng
cho quả (đáp số) tương xứng, nhân nào quả nấy, hợp lý hay tốt hơn. Còn
trường hợp khác, thì chúng hiện ra quả xấu, đáp số bất tương xứng, nhân
một đàng quả một nẻo, nhân cao quả thấp, hay bất hợp lý. Nói cách khác,
nhân lành mà hợp với duyên lành (thuận=soi sáng) thì mới sinh được quả
lành, còn nhân lành mà gặp phải duyên dữ (nghịch=có tham, sân, tà kiến,
vô minh), thì sẽ sinh ra quả xấu.
“Duyên lành” đối với con người, là được sinh ra trong một gia đình có
chánh kiến, đạo đức hoặc được gần gũi bạn hữu sáng suốt, lương thiện, và
nhất là được hướng dẫn bởi thầy tổ trong sạch, thanh tịnh, chân
tu. Nghĩa là được sống trong một khung cảnh sinh hoạt, mà định
hướng hành động của con người, được đặt nền tảng trên giá trị đạo đức.
Về
phương diện xây dựng xã hội, muốn duy trì văn minh tiến bộ, thì
duyên lành ấy phải được coi trọng vào hàng đầu. Sau duyên lành
(trợ duyên hiện tại có soi sáng), mới kể đến cái nhân nghiệp
của tiền kiếp, đã cho quả tốt khả dĩ, “giúp” một người được tái sinh
bình thường, có đầy đủ ngũ quan cảm giác, không bị tàn tật trong kiếp
này. Cuối cùng mới nói đến sự trông cậy vào kết quả, của
những thiện nghiệp mà con người đã tạo trong quá khứ, hay đang làm trong
hiện tại.
Tâm lành, (như thực thà, thương người, từ bi, tin tưởng), tuy
là cái nhân tốt, nhưng nếu khi hành động thiếu trí tuệ và
dũng lực (tức thiếu hiểu biết sáng suốt, và thiếu
can đảm, sợ trở ngại, hay vì “nể” người, không muốn bị mích
lòng…rồi làm), thì hành động ấy chẳng khác nào anh A trong thí dụ gieo
hạt nói trên. Hạt giống (nhân) dù tốt đến đâu mà chẳng gặp đất thích hợp
(bất thiện thổ), thì chưa phải là yếu tố quyết định sự gặt hái (quả) như
ý muốn.
Lại
nữa, khi bàn đến lý nhân quả, cũng có lắm người gọi là “tu phước”,
thường đơn giản nói rằng: “Tôi cúng dường cho một đạo sĩ, vị ấy sống
trọn đời ở nơi thờ phượng, dưới hình thức của một nhà tu”. Rồi họ biện
luận một cách đơn phương rằng: “Phước báu nhiều hay ít là do lòng tin,
chứ không cần biết đối tượng có đức hạnh hay không. Mình cứ nghĩ tốt
cho người ta thì mình chắc chắn sẽ được quả phúc tròn đầy” (?). Họ
lẫn lộn giữa đức tin có khách quan hiểu biết vấn đề và
tin tưởng, nghe người ta nói (hay thấy bề ngoài), rồi chủ quan
nghĩ tưởng là như vậy.
Lối
suy nghĩ “đại lượng” này rất đáng khen trong một số trường hợp khác.
Chẳng hạn như trước kẻ xưa lầm lạc, cuồng tín, hung ác, nay thật tâm
muốn quay về nẻo thiện, thì cái quá khứ xấu xa của họ, chúng ta không
nên quan tâm, mà chỉ nghĩ đến hiện tại hướng thiện đáng quý
mà thôi. Nhưng đó không pảhi là trường hợp bất lành muốn ám chỉ ở đây.
Trở
lại quan niệm chủ quan về “tu phước” nêu trên: Đây là một suy luận lệch
lạc, khá tai hại, có thể sẽ là một trong những nguyên nhân khuyến khích
tính coi thường hạnh kiểm, và hủ hóa tu sĩ, làm suy đồi đạo Phật nói
riêng, và suy đồi văn hóa hướng thiện nói chung sau này.
Trong kinh Sa Môn Quả (Samannaphalasutta), đức Phật đã ví các hàng tỳ
kheo đệ tử của Ngài, như những phước điền (ruộng phước)
của nhân loại, để cho kẻ thiện tâm gieo trồng nghiệp phúc, tức là phát
triển những hạt giống lành tiến hóa. Phước điền ấy có cái giá trị (mầu
mỡ) tuyệt vời của nó, đã được đức Phật xác nhận, là giới đức thanh
tịnh.
Từ
đó suy ra, sự cúng dường chỉ đầy đủ quả phước cần hội đủ hai yếu tố (thứ
nhất, người thiện tín phải đủ lòng thành, có chánh
kiến, và thứ hai, đối tượng đạo sĩ, nhận sự cúng dường,
cũng phải là “phước điền mầu mỡ” tròn vẹn giới hạnh),
thì hạt giống tạo phước mới nẩy mầm mạnh mẽ, và đem lại nhiều hoa trái
tốt tươi.
Trái
lại với phẩm cách nói trên, nếu “phước điền” chỉ là loại giả mạo,
thì người “cúng dường” (gieo trồng) đã vô tình “đồng loã” với những phần
tử lừa bịp, buôn thần bán thánh, mà kinh Phật gọi là “đại đạo tặc”
(mahàcoro).
Viết
những dòng trên đây, soạn giả chỉ muốn làm công việc bảo vệ Phật giáo,
thanh cao văn hoá, chứ không cố ý nhắm vào tu sĩ nào. Soạn giả vẫn nhớ
câu “nhân vô thập toàn”. Chúng tôi chỉ thành tâm nêu lại, và đề
cao cái giới hạnh tối thiểu, của một nhà mô phạm đóng vai lãnh
đạo tinh thần. Để xứng đáng với lòng tin của tín đồ, họ ít nhất cũng giữ
được những giới luật căn bản. Còn các oai nghi, qui tắc phụ, “phàm tình”
có thể sơ sót, khó tránh khỏi, là một chuyện đáng thông cảm. (Nghĩa là
soạn giả không dám “quơ đũa cả nắm”, và bản thân lúc nào cũng tôn kính,
cùng tri ân các bậc chân tu, cả đời xả thân cho xã hội, chúng sinh).
Tuy
nhiên, sự cởi mở, “thông cảm” trước sơ sót phàm tình nói trên, hoàn toàn
không liên quan gì đến sự chấp nhận cho hành động lừa bịp trục lợi, của
những kẻ núp bóng tín ngưỡng, để đục khoét đạo Phật nói riêng, hay phá
hoại văn hóa nhân loại nói chung. Xin trình bày minh bạch, kẻo có sự lẫn
lộn.
Nghĩa là người thực thà, dễ tin, rồi cúng bái bất kể đến những phần tử
tự xưng “thầy tu”, đội lốt đạo sĩ lừa gạt, có thể như người đem hạt
giống gieo trồng nơi chỗ đất độc, quả tốt chắc chắn sẽ không có.
Còn nếu có thì ấy chỉ là trái bất lành, ai ăn vào phải nhiễm
bệnh. Vì người tín ngưỡng mù quáng kia chẳng những đã không có phúc, mà
còn vô tình làm trợ duyên cho tà quả, để lôi kéo nhiều đồng loại
nhẹ dạ khác, đi vào mê muội sau này.
Đây
chính là lý do, ngày nay ở nhiều nước tân tiến, như Anh, Pháp, Đức, Ý,
Nhật, Mỹ, Úc v.v… nhà cầm quyền đang cảnh giác, báo động về sự xuất
hiện của những giáo phái (sectes) đầy hiện tượng cực đoan, hành đạo
cuồng tín, mà các “nhân vật” cầm đầu là những phần tử với gốc tích mờ
ám, tự dưng cho mình đã đạt đến trình độ siêu quần, hay tự phong là
những xác phàm đã được Phật Trời tuyển chọn, để làm trung gian “giao
cảm” với các đấng linh thiêng, hầu biểu diễn quyền năng, giải trừ may
rủi v.v…
Tóm
lại, nếu nhìn sự sống qua lăng kính lý nhân duyên quả
trong Phật giáo, chúng ta có thể mạnh dạn phát biểu rằng: Duyên
lành văn hóa hay niềm tin chân chánh, trong một xã hội, mới là điều tối
quan trọng, để duy trì các thành tựu, tiến bộ sinh tồn. Còn nhân và quả
chỉ là hai yếu tố làm “vật liệu” tự nhiên, cho những chu kỳ sống chung
cộng nghiệp, qua nguyên tắc xuất động và phản động, chứ “nhân trước”
không phải là yếu tố bảo đảm sự trọn vẹn phẩm giá của “quả sau”.
Nói
cách khác, cái quả của nhân quá khứ, tuy chúng ta không thể né tránh,
hay chọn lựa, nhưng đón nhận cái quả ấy ở hiện tại bằng thái độ văn hóa
nào, và trong môi trường có trợ duyên gì, là quyền của chúng ta. Triết
nhân Đông phương đã từng tán đồng quan điểm trên, khi gián tiếp nói “tận
lực tri thiên mạng”. Hay tục ngữ Tây phương cũng có câu tương đương:
“Aides toi, Dieu t’aidera” (Tạm dịch là “hãy tự giúp mình, rồi Trời sẽ
giúp cho”).
Cả
hai châm ngôn Đông và Tây nêu trên đều ngụ ý rằng: Quá khứ tuy đã qua
(không ai có thể kéo thời gian lại để điều chỉnh những lầm lỗi được),
nhưng hành động hiện tại và thọ nghiệp tương lai của người nào thì hoàn
toàn nằm trong tay kẻ ấy, không ai có quyền quyết định cả. Nghĩa là sống
trong xã hội, con người có thể bị ảnh hưởng bởi xã hội, nhưng con người
cũng chính là động cơ sáng tạo thay đổi định hướng của xã hội.
Xem
như thế đủ thấy rằng một nền văn hóa lành mạnh, soi sáng,
không mê tín ngu dân, chính là động cơ then chốt, để đẩy tâm thức một xã
hội tiến hóa, và từ đó nó mới đủ khả năng bảo tồn những nền văn minh, mà
nhân loại đã trải qua bao nhiêu thế kỷ mới đạt được. Đây chính là lý do
tại sao đạo Phật luôn đề cao bi-trí-dũng, nhất là trí tuệ
(Bát Nhã), vì nó nguồn gốc của văn hóa lành mạnh, thanh tịnh, và
khoa học, để soi sáng cho “tâm thức trong hiện tại”.
“Tâm
thức trong hiện tại” ở đây không ám chỉ đơn giản sự đang sống,
biết suy nghĩ, có cử động qua hình dạng của thân thể, mà “tâm thức
trong hiện tại” chính là “chân tri diệu hoạt” của
linh quang chính trực, bất biến, vĩnh cửu, có tiềm năng
soi thấu một cách minh bạch, mọi chu kỳ sinh động, xuyên qua thời gian
và không gian.
“Tâm thức trong hiện tại” siêu việt đó bao gồm và đồng hóa cả trước
và sau. Còn quá khứ lẫn tương lai, mà phàm nhân chúng ta hằng
tạm dùng để phân biệt, phát nguồn từ tham vọng, vốn không thật. Chúng
chỉ là hai chiêu cảm, sinh ra từ tật lười biếng, chướng ngại, thụ động,
vừa nuối tiếc chuyện đã qua, vừa mong chờ (mơ ước) việc chưa đến, được
nuôi dưỡng bởi vô minh, cố chấp và mắc dính vào ảo ảnh vật chất, vô
thường, hữu hạn, trong cái ta đóng khung, nặng về hình thức,
giả tạo, tối tăm, bạc nhược.
Thực
ra, quá khứ và tương lai chỉ là hai giả tưởng, con người vốn sống với
những hiện tại nối tiếp nhau. Nếu chúng ta biết sống lành mạnh và
trọn vẹn trong hiện tại, tức là quá khứ và tương lai đã được điều chỉnh.
Nhưng có mấy ai biết sống như thế. Hay phần đông đã chối bỏ hiện tại.
Đứng núi này trông núi nọ, bất mãn và khinh thường những gì mình đang
có, nếu không muốn nói là phá hoại nó.
Và
tâm thức trong hiện tại ấy cũng đồng nghĩa với phẩm cách “thấy”
được “lối vào” thánh lưu Tu-Đà-Hườn đạo (Sotàpattimagga), hướng đến giác
ngộ, giải thoát Niết Bàn, một phẩm cách của thường trụ, thuần thiện,
thanh tịnh, để sau cùng chắc chắn đạt đến quả Phật giải thoát.
Cũng
vì luận cứ vừa nêu mà nhiều trí giả liễu đạo ngày xưa,
trong lịch sử Phật giáo, đã lưu lại cho hậu thế, một số soạn phẩm hướng
thiện tuyệt vời, trong đó các Ngài dám mạnh dạn diễn tả bằng cách nhân
cách hoá, rằng: “Cõi Phật hoàn toàn trong sáng, phúc đức vô lường,
không có tuổi thọ” (hay vô lượng quang, vô lượng thọ công đức).
Chỉ một việc “cõi Niết Bàn” không có tuổi kiếp, nghĩa là “ở đó
” không sanh, không già, không bệnh, và không chết thôi, cũng đủ thấy
không còn phúc đức nào quý hơn, khoan nói đến những gì cao siêu khác.
Quần
chúng bình dân Việt Nam, nói về trợ duyên lý nhân quả, há đã chẳng
truyền khẩu các câu tục ngữ rất Phật giáo, “gần mực thì đen, gần đèn thì
sáng” đó sao? Tục ngữ này phải chăng đã từ lâu xác nhận rằng “cái quả
hiện tại đối với số mệnh con người hẳn không cố định, nó có thể được cải
thiện, nếu chúng ta biết tạo duyên thân cận với bạn lành?” (Gần đèn
thì sáng!)
Thử
nêu thêm hai trường hợp có thể xảy ra sau đây, để chúng ta cùng suy gẫm:
Một
người vì kiếp trước tối tăm, tham lam, keo kiệt, nên kiếp này sinh vào
cảnh nghèo khó, bơ vơ, dốt nát. Nhưng nếu vì thuận tiện nào đó, người ấy
ở gần kẻ dồi dào kiến thức, là bậc nhiều đức hạnh, như siêng năng, nhẫn
nại, sáng suốt, và hiền lành. Rồi người kém phúc đức kia được ảnh hưởng
gương tốt (trợ duyên văn hóa), chăm chỉ làm việc, đêm về còn chịu khó
học hỏi với hiền nhân…thì cái quả khổ bắt đầu từ thưở chào đời, trong
kiếp hiện tại của người ấy, không nhiều thì ít, chắc chắn phải được cải
thiện, hóa giải. Và tổng kết cuộc đời, thân phận của người này ra sao,
có tương xứng với nhân xấu kiếp trước, sinh quả thấp hèn kiếp này, từ
khi lọt lòng mẹ hay không, soạn giả xin nhường sự nhận xét cho quý vị.
Một
người khác nhờ tiền kiếp có tinh thần thương người, từng bố thí, giúp đỡ
kẻ nghèo khó, nên kiếp này được sinh ra trong gia đình giàu sang, đủ
điều kiện để ăn học thành tài. Nhưng bởi lý do dễ duôi, ỷ lại, khi lớn
lên người ấy lại giao duyên, kết bạn với những kẻ vô loại, nên trở thành
hư hỏng, học hành bê tha, chuyên dùng tiền bạc của cha mẹ để ăn chơi,
phung phí, hư thân, mất nết, sa đoạ. Sau khi song thân qua đời, thì tất
cả tài sản của người ấy tiêu tán hết, thân xác bạc nhược, thậm chí không
ai thèm mướn y làm tôi tớ. Như vậy cái quả lành mở đầu kiếp hiện tại,
được sinh ra trong nhung lụa, bởi nhân tốt từ trong quá khứ kia, kết
toán cuộc đời người này, có tương xứng với nhân lành kiếp trước hay
không, soạn giả cũng xin dành lời đáp cho quý vị.
Ngoài ra, như đã nói ở đoạn trước, lắm hiện tượng “bất công” trong đời
sống hàng ngày, nếu xét thoáng qua, dựa trên thuyết nhân quả cứng ngắc,
người ta không tránh khỏi hoang mang. Ví như nghiệp ác trong đời này của
một tên trọc phú, thì trổ quả xấu qua kiếp sau, chứ nó không biểu lộ
nhãn tiền. (Trồng cây còn phải chờ thời gian mới ăn trái, huống chi là
nghiệp). Còn nghiệp thiện nào đó của y trong quá khứ, lại trổ quả tốt,
đúng vào lúc y bóc lột đồng loại trong hiện tại. Thành thử hiện tượng “nguời
làm chuyện gian ác, lại được may mắn, bình an” có thể trở thành
“biện chứng”, cho những kẻ phản đạo đức có thêm luận cứ phá hoại, giữa
một xã hội chẳng may đã nhiễm không ít “văn hoá mê tín” ngu dân. Họ nào
biết rằng: Tên trọc phú kia hưởng quả lành trong hiện tại, mà y không
vun bồi phước đức, lại hành động tàn ác, thì cái quả tốt đó sẽ sớm cạn
đi. Thay vì y có thể hưởng trọn đời, thì y sẽ chỉ toại hưởng trong một
thời gian nào đó.
Nhắc
lại quan niệm nhân quả cứng ngắc: Nếu nhân tốt nhất định
sinh ra quả tốt vuông tròn, bất chấp ảnh hưởng của hoàn cảnh sống (văn
hóa), và nhân xấu tuyệt đối đẻ ra quả xấu trọn vẹn, qua ba thời chiêu
cảm (quá khứ, hiện tại, vị lai), thì thực tại tương quan tâm vật đã
không có gì đáng nói, và khoa học thực nghiệm đơn thuần, hay khoa học
thực nghiệm phối hợp với tâm linh, cũng không thể hiện hữu. Bởi vì khi
nghĩ rằng hậu quả chỉ là kết đọng cố định
của nguyên nhân, không có gì biến thiên, để tiến hóa hay
thoái hóa cả, thì chẳng có gì đáng phân tích, so sánh, nghiên cứu nữa.
Chưa
kể một số “tôn giáo” vẫn ôm cứng định kiến: Mọi vật phải tuyệt đối rập
khuôn theo “thiên ý” (nguyên nhân thứ nhất), tức là họ chủ trương tuyệt
đối tin theo thuyết định mệnh (Fatalisme). Hễ “thiên ý” cho cái “nguyên
nhân thứ nhất” thuộc về thấp hèn, thì tác phẩm chúng sinh ấy muôn kiếp
chịu sa đọa. Còn hễ “thiên ý” cho cái “nguyên nhân thứ nhất” thanh cao,
thì chúng sinh ấy vĩnh viễn siêu thăng (?) Nếu đúng như thế thì tất cả
sinh vật khởi thủy trên quả địa cầu phải còn nguyên dạng, đầy đủ tánh
chất, không thể nào có một số đã biến hóa, mất hình thức cũ. Và con
người cũng phải muôn đời ăn lông ở lỗ chứ không thể nào có tiến hóa, cải
thiện khá nhiều như ngày nay.
Hơn
nữa, khoa học nghiên cứu sự biến thiên theo chu kỳ vạn vật, đã chứng
minh hoàn toàn trái ngược (với thuyết “định mệnh”) rằng: Khi tâm trí con
người, được kinh nghiệm sống thúc đẩy, tự nó soi sáng đặt câu hỏi: “Vậy
tại sao thiên ý lại vô lý tạo ra những nguyên nhân thứ nhất
bất đồng như thế?”, thì câu hỏi chẳng ai có thể trả lời, cho dù
óc thông minh của các giáo chủ, hay của những tín đồ “tin” nó, xuất sắc
đến đâu. Từ đó, tín điều ấy tự nó tỏ ra vô căn cứ.
“Nguyên nhân thứ nhất” nói ở đây nằm trong cái thuyết mơ hồ của “thượng
đế toàn năng”, đã dựng nên vũ trụ cùng muôn loài vạn vật, nhất là ám chỉ
“Trời Phạm Thiên=Brhamadeva” trong Bà-La-Môn giáo, nguồn gốc tai
hại của tình trạng phân chia giai cấp tại Ần Độ xưa và nay. (Xin
chớ lầm lẫn “nó” với cái “nguyên nhân thứ nhất” là vô minh
trong thập nhị nhân duyên, khởi sự của những vòng sinh tử luân
hồi, theo nhà Phật, cũng xin chớ lẫn lộn “nó” với cái “động cơ thứ nhất”
(Le Premier Moteur=L’Eidos) trong triết học Aristote (384-322 trước CN),
thuộc cổ Hy Lạp, mà luận lý tư tưởng vẫn còn giá trị ở Tây phương tân
tiến ngày nay).
Các
tu sĩ đạo Bà-La-Môn cổ Ấn Độ (cùng thời với đức Phật), đã tuyên truyền
mê hoặc, xác quyết rằng “Linh hồn con người thuộc giai cấp nào, sẽ vĩnh
viễn tái sinh trong giai cấp đó”(?) Còn đức Phật thì Ngài đã thẳng thắn,
thanh tịnh vạch rõ tính hoang đường, và chủ đích ngu dân của giáo điều
ấy. Hiệu lực của nó chỉ để giúp cho một giai cấp phong kiến, cuồng tín,
độc tài, tàn ác, lợi dụng tình trạng thực thà, kém hiểu biết của dân
đen, hầu áp đặt một quan niệm an phận, khuất phục, qua hình thức giai
cấp, cho họ dễ bề cai trị.
Xin
nói thêm rằng đạo Bà-La-Môn, Brhamanisme (hay Ấn Độ giáo, Hindouisme)
xưa và nay, không phải là tín ngưỡng duy nhất chủ trương như thế, mà
hiện tại vẫn còn những tôn giáo (cổ truyền), gọi là “lớn” khác, đã được
“hiện đại hóa” (hay chính trị hóa), cũng giáo điều không kém, chỉ khác ở
chỗ họ chủ trương ngu dân một cách đa dạng, và tinh vi hơn.
Những tôn giáo “hiện đại” này thừa khôn khéo nhân danh thần linh hay
“thượng đế”, dùng vật chất mua chuộc, đồng thời sử dụng phương tiện “tối
tân” lôi kéo, miễn sao nắm được “niềm tin” của tối đa quần chúng, nhất
là quần chúng bất hạnh ở những nước nghèo khổ, kém mở mang. Cái bao tử
xẹp lép không cho phép các quần chúng nghèo khổ, bất hạnh ấy từ chối bất
cứ cái gì, không thích hợp với tinh thần tỉnh táo, sáng suốt.
Kết
quả, trong xã hội không thiếu chi hiện tượng người gian ác mà trung
thành với giáo chủ, thì được “thiêng liêng” ban phước dồi dào. Sự “ban
phước” này thường được thể hiện xuyên qua các chức sắc “lãnh đạo tinh
thần”. Nhưng trên thực tế, khi giai cấp “lãnh đạo tinh thần” ấy muốn
củng cố quyền lực tôn giáo, thì họ chỉ cần bí mật ra lệnh, và “yểm trợ
phương tiện” (tiền bạc) cho những tín đồ “trung thành vì đạo”, để những
phần tử này “phục vụ” tín ngưỡng. Từ đó xuất hiện những “thế lực tôn
giáo tài phiệt” siêu chính trị, hùng hậu kinh khủng, (vì nguồn đóng góp
của bá tánh dồn cho tín ngưỡng không bao giờ ngưng), khiến cho ngay cả
nhà nước (chính quyền) cũng khó kiểm soát được gốc gác. Khoan nói đến
chuyện đám đông thường dân thật thà, ngoại cuộc bàng quan, làm sao có
thể nhìn thấy sự thật. Trái lại không khéo họ còn có thể ngẫu nhiên, hay
vô ý trở thành “hậu thuẫn quần chúng” cho một số “dịch vụ xã hội” của
kinh tài tôn giáo là đàng khác.
Và
một số dân chúng lành mạnh, sáng suốt, hay không ít những người thận
trọng, trầm lặng sẽ chứng kiến trước mắt bao cảnh: Làm ác hay làm thiện
không thành vấn đề, miễn tuyệt đối tin theo một đấng toàn năng vô hình,
và trung thành với giáo sĩ, thì tín đồ ấy chẳng những sẽ có dịp phát
đạt, mà còn được “bề trên” hậu thuẫn cho nữa.
Nhưng gương sáng của đức Phật ngày xưa đã hoàn toàn ngược lại. Ngài vốn
là một hoàng tử, đang sống trong cung vàng điện ngọc, có đủ các ưu thế
quyền lực, và hưởng thụ sắc đẹp thể xác. Vì muốn tìm ra con đường cứu
khổ cho nhân loại chúng sinh, lẫn cho mình, Ngài đã coi thường tất cả
(nếu không muốn nói là vất bỏ, với ý nghĩa giải thoát, mọi danh lợi ở
đời), thì trong giáo lý nhà Phật không thể có hiện tượng tu hành
trong địa vị, danh lợi. Và sau khi thành Phật, Ngài đã được
nhiều thiên chúng, vua chúa, và đại phú gia danh tiếng ngưỡng mộ, tôn
thờ. Họ sẵn sàng hiến dâng cho riêng Ngài những trú sở huy hoàng nhất.
Nhưng trước khi họ có thể thực hiện chuyện đó, đức Phật đã từ bi soi
sáng tinh thần họ, để họ hiểu thấu “nhân duyên quả dẫn đến giải thoát
tam giới”, khác với “nhân duyên quả đem lại luân hồi”
như thế nào, để họ sớm nhận ra con đường chân thật.
Nghĩa là đạo Phật xưa và nay vốn không thích hợp với những đạo sĩ dùng
tôn giáo như một phương pháp thu hoạch phúc lợi, hay để tiến thân, đạt
danh vọng, dù dưới hình thức nào.
Quay
lại chủ đề nhân-duyên-quả “tam hợp”. Đoạn trước soạn giả
đã mạn phép mô tả một cách tổng quát, về lý nhân quả, hiểu qua khía cạnh
hạt và trái. Tạm thời trong giai đoạn đầu,
nó được biểu thị cho luận giải một chiều, giữa hai điểm khởi
động (nguyên nhân) và phản động (hậu quả), như một
“vecteur” trong toán học, đi từ A đến B, trên một đường nối dài.
Nhưng khi chúng ta đào sâu hơn nữa, nghiên cứu chi tiết về biến
thiên lý nhân quả một cách khoa học, qua phương diện tâm thức
động và phản động, giao thoa với trợ duyên, trên cả hai chiều
“vecteur” từ A đến B, rồi từ B trở về A. Nghĩa là nhân quả phản
hồi dây chuyền như một chu kỳ (luân chuyển): Trong nhân có quả,
trong quả có nhân. Nếu A là nhân của B thì
B cũng là nhân của A’ (sai biệt) sau đó, cứ thế
dây chuyền mãi mãi, thì ảnh hưởng của lý nhân duyên quả
trong tâm thức sẽ vô cùng vô tận, và rất liên hoàn vi diệu, lẫn đa dạng.
Nó còn được coi là nguyên tắc của vô tỷ chu kỳ luân
hồi tâm thức trong một đời người, hay vộ tỷ luân hồi kiếp
sống của mỗi chúng sinh trong vũ trụ.
Vô
tỷ Luân hồi kiếp sống thì chúng ta ai ai cũng từng nghe
qua, trong giáo pháp nhà Phật. Đó là “vấn đề tìm hiểu muôn đời của nhân
loại”, và là nội dung tổng quát của chương sách này. Tuy nhiên, vô tỷ
chu kỳ luân hồi tâm thức lại là “cốt lõi” của lý
nhân quả. Nói cách khác, chu kỳ luân hồi tâm thức vừa là
trọng tâm của sự sống, vừa là “động cơ biến hóa” của chính nó. Nó
quả thật rất kỳ diệu, và là đầu mối của mọi hoạt động sát-na.
Từ đó mà tất cả cảm giác, tất cả hiểu biết, tất cả thói quen, từ vi tế
đến thô kệch mới “bắt đầu xuất hiện”. Chúng ta thử bàn qua lãnh vực này.
Theo
kinh Abhidhmmasangaha (Vi diệu thống kê tâm thức: Phân Tích Học, Phật
giáo Nguyên Thủy), thì chu kỳ luân hồi tâm thức được gọi
là “Cittavìthi”. Tên chữ Phạn này còn được Hoà thượng
Thích Minh Châu, cựu viện trưởng viện Đại học Vạn Hạnh, trước năm 1975,
dịch trong sách “Thắng Pháp Tập Yếu Luận”, là lộ trình tâm
lý. Đó là một chu kỳ gồm 16 tâm-ý sát-na, chia làm
10 “dạng”, khởi lên rồi diệt xuống, theo một “lộ trình” liên tiến phản
hồi như sau:
1/
Tiềm thức yên lặng (Bhavangacalana), gồm 1 tâm,
2/
Tiềm thức khích động (Bhavangupaccheda) gồm 1 tâm,
3/
Kích ý căn (Pancadvàràvajjana): 1 tâm,
4/
Ứng căn thức (Pancindriya): 1 tâm (trong 5 tâm: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân)
5/
Tiếp thọ (Sampatichana): 1 tâm,
6/
Suy đạt (Satìrana): 1 tâm,
7/
Xác định (Votthapana): 1 tâm,
8/
Tốc hoạt (Javana): 6 tâm (lục thức liên hoàn),
9/
Đồng sở duyên (Tadàlambana): 2 tâm tương dụng, và
10/
Hữu phần nhị tiếp (Bhavangapatisandhi): 1 tâm (nằm giữa lộ trình chu kỳ
đi trước với chu kỳ đi sau).
Chú giải:
*Dạng 1: Tiềm thức yên lặng là tình trạng tự
nhiên của A-Lại-Da (thức thứ tám).
*Dạng 2: Tiềm thức khích động là mặt ngoài
của A-Lại-Da bị phản xạ bởi hồn lực Mạt-Na (thức thứ
bảy).
*Dạng 3:Kích Ý căn là hoạt tính của thức
thứ sáu. (Tức ý thức vừa hướng ngoại qua ngũ quan vừa hướng nộ, nối
vào Mạt-Na).
*Dạng 4: Ứng căn thức là một tâm tương quan
trong năm căn thức ứng phó. (Năm căn thức đó là nhãn thức, nhĩ
thức, tỷ thức, thiệt thức, và thân thức).
*Các
dạng 5/ Tiếp thọ, 6/ suy đạt, 7/xác định là ba tâm sở
(Cetasikà) câu hữu với ý thức.
*Dạng 8: Tốc hoạt gồm sáu tâm vương rất
nhanh (Khippacittà) làm nghiệp nhân, thuộc về lục thức.
*Dạng 9: Đồng sở duyên gồm hai tâm vương
khác chậm hơn, làm nghiệp quả, cũng thuộc tâm thức.
*Dạng 10: Hữu phần nhị tiếp là 1 tâm vương
khác nữa, nối giữa Ý thức và Mạt-Na thức (hay thức thứ sáu và thức thứ
bảy), để khởi lại một chu kỳ tâm thức (hay lộ trình tâm ý) mới.
Kê
khai thì “dài dòng” như vậy, nhưng trên thực tế 16 tâm sát-na ấy nối
tiếp xảy ra “10 dạng” một cách rất thần tốc, nên một lộ trình tâm
thức ít khi kéo dài quá mấy giây đồng hồ. Chưa kể hầu hết lộ
trình luân hồi tâm thức thường xảy ra, và kết thúc trong khoảnh khắc.
Đọc
qua một lộ trình tâm thức, gồm 16 sát-na được “nêu tên chuyên môn” và
tạm sắp theo thứ tự, dưới 10 “dạng”, trên một chu kỳ như thế, đối với
những độc giả chưa quen môn Vi Diệu Pháp, hay Phân Tích Học Tâm Linh
trong Phật giáo Nguyên Thủy, có lẽ khó lãnh hội. Vậy chúng tôi xin mạn
phép dùng “phương tiện” nhân cách hóa cụ thể, nêu ra một hình ảnh tiêu
biểu, qua một người sống bằng xương bằng thịt, để tương đối quý vị dễ
hiểu hơn:
Tỷ
như một người nằm ngủ bên một gốc một cây đào, tượng trưng cho tâm
vật ở trạng thái “không hoạt động”, thì lộ trình
tâm thức ở “dạng 1”, tạm gọi là tĩnh (gồm 1 tâm), tức là
tiềm thức yên lặng, trôi chảy đều đặn, không có ngoại cảnh
gì ảnh hưởng cả.
Kế
đó có quả đào rơi đánh “bộp” một tiếng bên cạnh, làm cho người ấy
(tâm vật) giật mình, thì lộ trình tâm thức ở “dạng 2”,
chao động (cũng gồm 1 tâm), là tiềm thức “gợn sóng”.
Đoạn
người ấy (tâm vật) hướng về cái gì vừa xảy
ra, thì nó ở “dạng 3” (gồm 1 tâm), là kích thích căn, tức
là tự nhiên biểu lộ hoạt tính hướng ngoại của ý thức. (Hay
nói theo Duy Thức Học, thì đó là một khía cạnh tương đương tới tật hiếu
động của Mạt-Na thức)
Tiếp
theo người ấy (tâm vật) biết lờ mờ cái gì đó, qua
một trong năm căn thức (ngũ quan), thì nó ở “dạng 4”, là
ứng căn thức (do 1 tâm trong 5 tâm qua ngũ căn).
Từ
biết lờ mờ đến biết rõ ngoại vật như thế nào, cũng trên lộ trình tâm
thức, người ấy (tâm vật) phải xuyên qua 3 tâm đa diện, và
đồng sự trong ý thức, là tiếp thọ (dạng 5), suy đạt
(dạng 6), xác định (dạng 7).
Khi
đã xác định màu sắc, hình dạng rồi, người ấy (tâm vật) nảy
ý tham, muốn ăn, liền đưa tay tuần tự lấy quả đào để gần mũi ngửi, và bỏ
vào miệng, cắn, nếm, nhai, nuốt v.v… để biết nó cứng, mềm, mùi vị ra
sao, thì lộ trình tâm ở “dạng 8” tốc hoạt (gồm 1 tâm có
6 mặt, tốc lực bằng 6 lần một sát-na, đồng loạt câu hữu
với lục thức, làm việc tương liên một cách chớp nhoáng nhanh vô
cùng). Và hành động “ăn” diễn ra tiếp theo với tính đồng
sự của tốc hoạt tâm gồm sáu mặt (xuyên qua lục căn), cho
đến khi trái đào biến mất ở ngoại giới.
Ăn
xong, cũng trên cùng một lộ trình tâm thức, người ấy (tâm vật)
tự nhiên còn lại trong ý thức cái dư vị (kết quả của tiêu
thụ) vừa rồi. Và cái dư vị ấy cũng là nền tảng mới (hay nhân mới)
để bổ túc và phản chiếu lên những lần ăn trái tương tự khác trước và sau
này, thì lộ trình tâm khi ấy ở “dạng 9”, đồng sở duyên hành,
để mắc dính nghiệp quả tích lũy.
Sau
cùng, vì người ấy còn sống, nên tiềm năng trong nghiệp quả tích lũy đó,
lại khởi lên một chu kỳ tâm thức mới, mà nó đương nhiên
nằm giữa, nên chu kỳ tâm thức ở “dạng 10”, là hữu phần nhị
tiếp (gồm 1 tâm gạch nối). Hữu phần nhị tiếp cũng
là đầu mối của tất cả chuỗi lộ trình tâm thức nối đuôi nhau, duy trì,
cho đến hết một đời người, rồi kéo dài qua kiếp khác…
Chu
kỳ tâm thức “hoạt động” tích cực kể từ khi con người thành hình trong
bụng mẹ, bắt đầu cảm giác, rồi tự phản chiếu qua cảm giác ấy, để có
những cảm giác khác, hầu cô đọng thành sơ tính ngây thơ
của sự suy nghĩ. Nhờ nó mà những tế bào cũ tự sinh những tế bào
mới, và “nhường chỗ” cho những tế bào mới tiến triển, trước khi đóng vai
phụ, hay tự đào thải. Bào thai nhờ vậy dần dần lớn lên thành người, trải
qua các thời kỳ ấu nhi, thanh xuân, lão thọ. Rồi chu kỳ luân hồi
tâm thức cuối cùng của một đời người, còn cộng với tâm thức thứ
17, tên là cận tử (Cuticitta Patisandhi), để đóng luôn vai trò “chuyển
kiếp”, khi cuộc đời người ấy chấm dứt, tắt thở.
Tuy
nhiên, toàn thể những chu kỳ luân hồi tâm thức, nằm giữa hai điểm sinh
và tử, là những chu kỳ luân hồi tâm thức, tạo ra mạch sống liên tục
hiện tại của một con người. Không có những chu kỳ luân hồi
tâm thức ấy, thì tất cả động vật là gỗ đá, vô cử chỉ,vô hành vi. Điều mà
chúng ta thường nói “Tôi nghe, tôi thấy, tôi ngửi, tôi nếm, tôi sờ, tôi
nghĩ, và tôi biết”, thực ra, theo nhà Phật, không gì khác
hơn là hiệu lực của những chu kỳ luân hồi tâm thức,
hay chu kỳ nhân quả phát ra hành động có trợ duyên.
Ví
dụ như liên quan tới con mắt: Nhân là khả năng thấy (nhờ
hiệu lực của chu kỳ tâm thức cũ tích lũy, nảy ra chuyển ý bắt đầu chu kỳ
tâm thức mới). Quả là sự thấy, hiệu lực của tổng hợp đủ 3
yếu tố (căn thức, ý thức, và đối tượng). Duyên là nhãn căn
ở cách đối tượng (ngoại cảnh) vừa phải, hay đối tượng nằm chẳng xa chẳng
gần, đúng trong tầm mắt, không bị che, và thuận duyên đủ ánh sáng v.v…
Như
vậy, không ai có thể sống từng giây từng phút lọt ra ngoài lý nhân
duyên quả, hay ngoài chu kỳ luân hồi tâm thức, xuyên qua lục
căn cả. Anh A gặp chị B, nghe chị nói chuyện một lần. Sau đó anh A
tuy không đứng đối diện chị B, nhưng nghe giọng nói bên cạnh, anh liền
nhớ ra chị là ai. Đó là nhờ tác dụng của lý nhân quả, hay
nhờ hiệu lực của những liên hoàn chu kỳ luân hồi tâm thức,
qua nhãn căn và nhĩ căn liên kết chặt chẽ với tâm ý.
Nghĩa là lý nhân duyên quả vốn là mạch sống của tất cả mọi
người. Từ hiểu biết những chuyện đơn sơ, nhỏ nhặt, đến học hành phức
tạp, thông thấu những vấn đề sâu xa vi diệu, hay tập tành rèn luyện
thành những thói quen kỳ tài v.v…Tất cả đều nằm trong lý nhân duyên quả,
đều thuộc về hiệu lực của chu kỳ luân hồi tâm thức.
Từ
ngữ Hán Việt “văn hóa”, trên một phương diện nào đó, cũng
ám chỉ lý nhân quả: “Văn” tức là học hiểu (nghe thấy),
bằng chữ nghĩa, lý thuyết, và bằng tập sự, rồi áp dụng. “Hóa”
là thuần thục, “lột xác”, từ cái cũ hóa ra cái mới, tiến bộ hơn (hay có
thể tệ hơn), không còn tình trạng trước nữa. Như vậy văn hóa là
bàn tay “nặn đúc” ra toàn bộ cuộc sống hiện tại của một con người,
với vật liệu là nhân, quả, và nghiệp.
Và
tôn giáo sở dĩ được xem như tượng trưng của văn hoá. Vì tôn
giáo, xuyên qua niềm tin và hành đạo, có thể biến con người trở
thành thanh cao hay thấp hèn, nhu mì hay hung bạo, cởi mở hay
khép kín, bảo thủ hay cải tiến, gương xấu hay gương tốt v.v…
Tuy
nhiên, cũng xin lưu ý một điều, về phương diện “sinh hoạt theo Phật
giáo”, ba pháp học, hành, và thành, khi
suy chiếu vào “lý nhân quả” nếu chẳng phân tích một cách tinh
tế, thì ba giai đoạn ấy (học, hành, thành) không khéo lại có thể làm cho
người ta lầm lẫn trong pháp thành. Nhóm từ này (học, hành, và
thành) tự nó đã nói lên khá rõ ràng: Đó là tiến trình hiểu
đúng, hành đúng, và chứng đạt đúng, (thành công mỹ
mãn). Nghĩa là trong chiều sâu, và dưới một dạng khác, tiến trình ấy vốn
cũng là biểu hiện của lý nhân quả.
Nhưng vì quan niệm chủ quan câu: “Ai nắm vững được triết lý, kẻ ấy là
triết nhân” (?), nên một số người có thể hiểu lầm qua nhận thức
suông rằng: Nghiên cứu hay theo dõi đầy đủ và chăm chỉ, các chương trình
giáo lý là học. Rồi tụng giáo lý hằng ngày cho “nhập tâm”,
xem như là hành. Kết quả nhớ giáo lý thuộc lòng, và có thể
cắt nghĩa rành mạch đến thính giả, để phổ biến, “hoằng pháp”, là
thành (?)
Từ
đó có “một số nhà lý luận Phật giáo” (hay còn gọi là giảng sư), dường
như coi thường hiệu lực trì giới tu thân, sống đạo khiêm nhượng, hy sinh
vì người khác. Khi thuyết giảng, họ thường không nhấn mạnh, hay chỉ đề
cao lấy lệ sự nghiêm chỉnh trong gìn giữ giới luật, và
nhất là không tán dương vai trò then chốt của sự hành thiền
(một trong ba nền tảng hỗ tương của Giới Định Tuệ). Phải chăng đối với
họ, sống qua hình thức “đạo sĩ” và hiểu biết một cách “sâu sắc” giáo
điển nhà Phật, rồi đem truyền bá, là tâm tánh đương nhiên đã “đắc
đạo”(?) Nó sẽ tự động được trong sạch, tự tại trong Thánh Pháp , dẫn
đến thanh tịnh giải thoát.(?)
Nhưng theo các bài kinh nói về thánh lưu: “Đắc đạo” khác
với “đắc quả” rất nhiều. Nhất là “đắc đạo” hiểu theo nghĩa
thông thường, chứ không phải đắc “thánh đạo Tu-Đà-Hườn”,
bậc thánh khởi đầu. Người đắc đạo kiểu “hiểu thấu ẩn lý” ấy còn lâu mới
đắc quả, và còn cách Thánh đạo giải thoát rất xa. Sau khi chết họ vẫn
chịu sinh tử luân hồi như thường, không khéo họ còn bị duyên xấu
kiếp mới (văn hóa nuôi dưỡng tham, sân, tà kiến, cố chấp), ảnh hưởng.
đưa đẩy họ lạc đường, vào vô lượng sa đoạ là đằng khác.
Các
“lý thuyết gia” nói trên chủ trương bôn ba thuyết pháp, như một đức hạnh
“vị tha” nhập thế, rồi bỏ qua công phu trì giới và hành thiền,
có lẽ đã quên rằng: Sống vắng lặng, để giữ đúng giới luật, song song với
sự thanh tịnh nội tâm (đòi hỏi người khác nghe mình ít, mà để họ tự thấy
rõ mình thực hành nhiều), thì ấy cũng là một cách nhập thế độ đời,
hoằng pháp rất tích cực?
Cách
hoằng pháp (hay truyền bá Phật giáo), đầy tính hành đạo này, tuy không
có biện thuyết hùng hồn, nhưng lại có gương sáng thực tế.
Gương sáng đó chắc chắn sẽ chinh phục được nhân tâm, tạo bình an xã hội,
khiến người đời tình nguyện xu hướng theo, rồi rủ nhau bắt chước, làm
lành lánh dữ, nhiều hơn là họ chỉ nghe say sưa những giảng lý rồi sau đó
quên lãng.
Và
ảnh hưởng (kết quả) của gương sáng đó bao giờ cũng hài
hoà, tốt đẹp, vì đức hạnh luôn luôn có khả năng thuyết
phục con người (kể cả các nhà cầm quyền khác tín ngưỡng). Sau cùng
giới hạnh cũng là giải pháp cảm hoá những kẻ lầm lạc rất hiệu
lực.
Như
vậy, người đã hay đang học, và hiểu đúng giáo lý nhà Phật, mà tự thân
chưa công phu tu chứng giới, định, tuệ đến nơi
đến chốn, chưa đoạn diệt được ngã chấp, hoài nghi, và
mê tín, và chưa thể nhập vững chắc vào thánh lưu, bắt đầu từ
Tu-Đà-Hườn (Sotàpatti), mà họ tự mãn với “đắc đạo” qua “kiến thức” ấy,
thì thật là đáng tiếc.
Ai
nghe một câu kệ, hay một bài pháp, rồi tâm trí chợt bừng sáng, “chứng
ngộ” được “chân lý”, có thể tạm gọi kẻ ấy là “đắc đạo” (chỉ với nghĩa
hiểu thấu lẽ sâu xa). Nhưng họ chắc chắn không phải là đắc quả,
vì hiểu pháp và sống đúng theo pháp (hành đạo) một cách thuần thục, tự
nhiên, đạt thành tích viên mãn, là hai việc hoàn toàn khác nhau.
Ví
như người đọc sách dạy bơi lội, và hiểu được “kỹ thuật” vùng vẫy dưới
nước một cách rành mạch, chẳng có đoạn nào trong sách làm cho nghi ngờ
cả, không có nghĩa là người đã biết lội. Nói cách khác, người ấy tuy
thông suốt nội dung cuốn sách dạy bơi lội, nhưng chưa bao giờ tự thực
tập thành thạo dưới nước, thì khi rơi xuống sông, người ấy vẫn chết đuối
như thường.
Lại
nữa, theo hầu hết kinh sách Phật giáo, tiến trình hành đạo và độ thế của
chư Bồ-Tát lẫn của chư Phật, vẫn là tự giác rồi đến
giác tha, để sau cùng đạt tới giác hạnh viên mãn.
Nếu một người chưa đủ sức bơi lội, mà vì “lòng từ bi” nhảy xuống nước
cứu người chới với, thì trên lý thuyết, đó là một hình ảnh quên mình rất
đẹp, nhưng trong thực tế cả hai sẽ chết chìm, vô ích.
Tương tự như thế, một người “tu” Phật, khi thân tâm chưa thực sự thuần
thiện, chưa trong sạch (tức chưa chứng được giải thoát vững chắc), mà vị
ngã tự kỷ ám thị, chạy theo thị hiếu của ca ngợi thế gian,
của suy luận lý thuyết, rồi bất chấp trình độ miễn nhiễm
của chính mình, bỏ qua những công phu căn bản, như nghiêm trì giới hạnh,
như rèn luyện thanh tịnh, để “nhập thế độ đời”, thì chắc chắn người ấy
sẽ không đạt được mục đích, mà tâm hồn sẽ bị các pháp thế gian lôi kéo,
nhận chìm trong tài lộc, danh vị.
Nghĩa là nếu đối chiếu, so sánh ba pháp học hành, và
thành với lý nhân-duyên-quả, thì tự giác
là nhân, giác tha là duyên, và giác
hạnh viên mãn là quả.
Bàn
sâu vào phẩm cách giải thoát cũng vậy: Kết
quả của pháp học chỉ cho con người một kiến thức tương đối đầy đủ, và
sâu sắc về lý thuyết giải thoát mà thôi. Và do đó, hiệu lực của phút
chốc “bừng sáng” (đốn ngộ) cũng chỉ cho người ta sự hiểu ra chân lý thâm
diệu, mà trước đó họ chưa hiểu, chứ không là cái gì cả.
Nhưng chung kết của sự thực hành thành tựu pháp giải thoát
(tức là viên mãn công phu qua giới hạnh tinh khiết và qua thuần thục
trong chánh định, lẫn minh sát tuệ), thì đạo quả, thành tích
sẽ tuyệt vời, vượt hẳn pháp học lý thuyết, hay bừng tỉnh “đốn ngộ” rất
nhiều.
Ví
như vị trí của người đứng trên chiếc thuyền cá nhân, còn lênh đênh giữa
biển cả, may mắn thấy được ánh hải đăng le lói (tương đương với hiểu
thấu lý đạo hay “đốn ngộ”), đem so sánh với vị trí của người đã hoàn
toàn bước chân lên bờ giải thoát. Hai bên khác nhau rất xa: Một đằng chỉ
thoáng thấy được điểm chuẩn (ánh hải đăng), báo hiệu là hướng đi đúng,
song còn muôn vàn chướng ngại hiểm nguy, trùng vây tứ phía, còn đàng kia
đã đến nơi an toàn, tự tại (hay nói theo nhà Phật, là “viên tròn đạo
hạnh ba-la-mật, đào bỉ ngạn”).
Chưa
kế cái thấy biết (chứng đạt) của các bậc nhập vào thánh
lưu, hướng đến Niết Bàn (cập bờ giải thoát), cũng khác hẳn
với “cái thấy biết đốn ngộ” của “thức giả” còn mang nhiều lớp bụi trần
nơi tâm thức. Và ngôn ngữ chế định (hữu hạn) của chúng ta vốn lại không
thể nào phản ảnh trung thực được. (Nhân đây, soạn giả xin thành tâm yêu
cầu quý vị hãy “tương đối hóa” những diễn tả nào về thánh nhân của chúng
tôi, vì nhiệt thành, vô tình chúng tôi có thể diễn tả “quá xác định”
trong tập sách khiêm nhượng này).
Tóm
lại, lý nhân duyên quả là một pháp toàn diện, chi phối mọi
vận hành của muôn loài vạn vật nói chung, và bao gồm tất cả sinh động
của nhân loại nói riêng. Nó hiển lộng trên mọi bề mặt, mà còn tác dụng
cùng khắp chiều sâu, nhất là tiềm tàng trong ý thức của con người, nối
liền tâm và vật. Xét lại trong chúng ta, ai mà chẳng đã từng thầm ngạc
nhiên trước một cảnh tượng. Tuy mới thấy lần đầu, nhưng chúng ta có cảm
tưởng đã “biết qua” tự hồi nào, mơ hồ như trong quá khứ, mà không định
rõ được. Hoặc giả khi chúng ta chiêm ngưỡng một khung cảnh hữu tình, hay
một kỳ quan nào đó, thì những hình ảnh đẹp đẽ, đáng lẽ về sau phải trở
thành tầm thường, như bao nhiêu hình ảnh đặc biết khác. Nhưng chúng cứ ở
mãi cái địa vị tuyệt mỹ, độc đáo trong ký ức của chúng ta. Rồi những cảm
giác rung cảm ấy lắm khi chúng ta dùng chữ nghĩa hay lời lẽ, dù chính
xác sắc bén đến đâu, chúng ta cũng không thể nào diễn tả hết được, thì…
đó là gì, nếu không phải là “dư âm” của tác dụng nhân duyên quả theo nhà
Phật? Rốt cuộc, tất cả vẫn không ngoài chu kỳ luân hồi tâm thức,
hay hiện thân của lý nhân quả.
Còn
nói theo khoa học lý hóa, thì đó là chu kỳ di tồn
nhiên lực (cycle de conservation d’énergie) dưới dạng tâm linh
(siêu vật chất). Chu kỳ ấy không là gì hết, và là lý lẽ của tất
cả. Nó vừa là nguyên tắc của duy vật, vừa là siêu lý của duy
tâm, vừa là biện chứng của khoa học vật chất (vi tế lẫn hữu hình), vừa
là biến hóa của khoa học tâm linh (vô hình).
Lại
nữa, Phật giáo không xem chu kỳ nhân duyên quả như một lý
thuyết luân lý “tương đối” (chỉ để răn đời), sinh ra từ sáng kiến lập
tiêu chuẩn bình an cho xã hội. Nghĩa là trong sự sống chung, vốn đa dạng
và đầy xung đột, con người tuy cần có quy luật thưởng phạt
“công minh”, hay oan trái báo ứng, qua dạng một trọng tài là “đấng
thiêng liêng” điều động, để ngăn chận (hoặc hạn chế) những cá nhân có
khuynh hướng hành động xấu.
“Luật thưởng phạt” ấy dĩ nhiên có cái giá trị xây dựng, nhập thế của nó,
nhưng đối với Phật giáo, ngoài giá trị nhập thế ấy ra, lý nhân
duyên quả còn là một chân đế khoa học. Loài người
nếu biết duy trì, phát triển ý thức đó, tức là giác tính khoa học
tự nhiên trong tư tưởng không để bị che mờ. Mà đã
gọi là giác tính khoa học (hay chân đế),
thì nó không nằm trong tư duy mù quáng, không có vấn đề “Ai tin lý
nhân quả thì mới nghiệm đúng. Còn ai không tin thì nó vô hiệu lực”.
Hay
như Dịch Lý Á Đông, một khám phá xa xưa tuyệt vời khác, nền văn minh
nhân loại, chúng ta cũng có câu nói đầy sấm nghĩa: “Cùng tắc biến,
biến tắc thông”. Cùng ở đây tương đương với nhân, biến
tương đương với duyên, và thông tương đương với quả,
tức là gián tiếp ám chỉ: Khi những cái bất toại nguyện, trước hai
cảnh khổ lẫn vui, chồng chất đến cực điểm, thì giác linh con người sẽ tự
động phản ứng, tìm giải pháp để vượt qua bằng mọi cách, hầu có lối
thoát.
Và
chung quy, theo nhà Phật, lý nhân duyên quả hằng chi
phối tất cả, Nó bao gồm mọi tình trạng tư tưởng “tin hay không
tin”, và luôn luôn nghiệm đúng.
PHẦN VIII
QUẢ LÀNH CÓ NĂM GIÁC QUAN KỲ DIỆU
(Panca Dvàrà)
Cũng
là cấu tạo vật chất, hiện hữu từ lâu trên mặt đất này, nhưng không một
cấu tạo vật chất nào, dù hiện nay cho là tối tân đến đâu, có thể xem
tinh vi hơn năm cơ quan cảm giác của con người. Phải chăng đó là những
“phần thưởng” (quả lành) của một sinh vật biết tiến hóa như nhân loại,
để giúp trí óc loài người vừa tự hướng thượng, vừa tương liên phát triển
cùng vạn vật?
Bốn
trong năm cơ quan cảm giác ấy nằm xung quanh não bộ (dưới dạng mắt, tai,
mũi, lưỡi), và chỉ có cơ quan cảm giác thứ năm (làn da bao quanh thân)
là có diện tích lớn hơn, trương rộng bao xuống đến lòng bàn chân. Nó
(làn da) cũng là “màng” che chở cho bốn cơ quan cảm giác kia. Cả năm cơ
quan này hoạt động một cách kỳ diệu, mà không một bác học chuyên phát
minh nào có thể sáng chế được một tác phẩm hoàn hảo hơn.
Nhiều kinh điển nhà Phật vẫn thường nhắc “khó mà tiến hóa nên thân
người này”, hay “nhiều thiện duyên lắm mới trở lại kiếp làm người”,
vì cõi người là cõi hội đủ những yếu tố để một Bồ-Tát thực hiện viên
tròn Ba-La-Mật, thành Phật.
Như
vậy, năm cơ quan cảm giác kia, trên một phương diện nào đó, chính là năm
“lợi khí”, hay năm phúc lộc của nhân loại, để vừa vui sống, vừa tiến
hóa. Tiến hoá sao cho thiện duyên còn mãi (hay nhiều hơn nữa), để nếu
không đạt được quả vị thánh hiền trong hiện tại, thì sau khi chết, ít
nhất cũng tái sinh dđược làm người trong tương lai, có toàn vẹn ngũ quan
xúc giác, thay vì bị tàn tật hay sa đọa.
Chúng ta thử bàn qua những “lợi khí” (hay quả lành) này, vì ấy vừa là
một hiểu biết thực tiễn trong đời sống nhân thể hằng ngày, vừa là một
kiến thức cần thiết, nhắc nhở chúng ta cái hiệu năng độc đáo của năm
giác quan, hầu chúng ta sẽ không coi thường quả phúc mà mình đang có.
Hãy bắt đầu bằng cơ quan xúc giác.
Nhà
Phật gọi làn da là cảm quan của thân căn (Kàya Dvàra).
Thân căn ở đây ám chỉ toàn thể diện tích mặt ngoài của nhân thể. Nếu một
côn trùng hay sâu bọ nào đó, xuất hiện, đi động trên mình chúng ta, thì
chúng ta lập tức biết ngay vị trí của nó, mà chúng không cần phải nhìn.
Đó là nhờ hệ thống xúc giác bén nhạy và thần tốc của làn da, xuyên qua
hệ thống thần kinh, giao cảm với não bộ.
Và
đa số diệu dụng của xúc giác lại nằm ở làn da đôi bàn tay. Khi chúng ta
cầm một cuốn sách, tuy chúng ta chẳng tính toán cầm sao cho đúng, cuốn
sách đã nằm trước tầm mắt. Đồng thời cùi chỏ của chúng ta cũng tự động
xếp vừa đủ, để cho bàn tay đỡ cuốn sách, không quá mạnh làm nó lệch, và
không quá nhẹ để nó phải rớt. Rồi lúc cần đọc qua trang khác, thì các
ngón tay tự lật như ý muốn. Thử hỏi nếu xúc giác đôi bàn tay
không “tinh tế”, đa dụng như thế, thì con người có thể làm những gì?
Một
động tác khác: Chúng ta nâng một quả trứng. Nếu xúc giác của các ngón
tay không bén nhạy, vận dụng vừa đủ sức để giữ quả trứng, thì nó sẽ rớt.
Nhưng nếu chúng ta dùng sức quá mạnh thì quả trứng vỡ toang. Chúng ta
cũng nào biết trước quả trứng nặng bao nhiêu để liệu sức cho vừa trên
các ngón tay? Thế mà qua xúc giác, mấy ngón tay của chúng ta vẫn nghiệm
ra được trọng lượng quả trứng, để dùng đủ sức nâng quả trứng một cách an
toàn.
Người mù cũng dùng làn da bàn tay để “đọc sách”. Họ rà làn da các đầu
ngón tay lên trang giấy có “in nổi” những “chùm ký hiệu” mà nhận ra mặt
chữ. Phương pháp hướng dẫn người bị tàn tật đôi mắt biết đọc biết viết,
chỉ được khoa học phát minh gần đây. Nhưng từ xa xưa người mù vẫn dùng
làn da bàn tay, để phân biệt sự khác nhau của các màu sắc trên vải, trên
mặt giấy, hay trên bất cứ vật gì họ cầm nắm.
Trong trường hợp tai nạn, người bị thương máu chảy dầm dề, ngẫu nhiên có
mặt một y sĩ. Tuy không dụng cụ chuyên môn, nhưng với tính linh động,
cộng thêm sự hiểu biết về phương pháp cứu cấp, và nhất là nhờ xúc
giác của đôi bàn tay, vị y sĩ có thể dùng ngón cái và ngón trỏ kẹp
mạnh vết thương cho máu chảy ít lại, đồng thời ông xé áo lấy mảnh vải
làm sợi dây cột chặt phía trên động mạch. Thế là nạn nhân tạm được cầm
máu, và đủ sức nằm chờ xe cứu thương đến đưa vào bệnh viện.
Ngoài khả năng xúc giác, đôi bàn tay còn nhờ những thớ thịt có nhiều
đường gân gọi là “gân trái chanh”, nằm giữa ngón cái và ngón trỏ. Công
dụng của chúng là “điều khiển” các lắt léo của hai ngón tay đó, cùng
những ngón tay khác.
Sự
điều hợp các lắt léo ấy đến từ khớp xương toàn động (nằm ở bả
vai). Chúng không cần sự kéo đỡ của những thớ thịt, mà chỉ xuyên qua xúc
giác, trên làn da tay nối liền với thần kinh, chúng vẫn có thể cử động
dễ dàng. Nhờ vậy mà ngón tay cái mới chu toàn được nhiều động tác khá
phức tạp, khi nó được “áp” vào đầu những ngón kia trên bàn tay. Ngón cái
luôn luôn đóng vai trò chính trong sự cầm nắm, và là phương tiện đa năng
cho việc sử dụng bàn tay của con người.
Không có bàn tay thì con người không thể thí nghiệm được gì cả. Và kết
quả của vô số thí nghiệm xưa nay đã mang lại cho nhân loại những phương
tiện tinh xảo. Từ “nghệ thuật” xỏ sợi chỉ qua lỗ kim nhỏ xíu, đến sáng
chế các dụng cụ tối tân, như máy chụp hình, máy quay phim, máy xe hơi,
tàu ngầm, phi cơ, máy vi tính, hoả tiễn, phi thuyền v.v… đôi bàn tay
ngày càng phô diễn nhiều “biệt tài” mới lạ, gây ngưỡng mộ cho loài người
không ít.
Trong lĩnh vực y khoa, nhờ xúc giác của đôi bàn tay mà các bác sĩ có thể
hoàn thành mỹ mãn nhiều phẫu thuật chữa bệnh tim óc rất tinh vi.
Một
nhà văn nọ đã viết:
“Bàn tay ơi! Chính ngươi đã tấu lên những bản nhạc tuyệt vời. Chính
ngươi đã vẽ thành những bức trang muôn đời bất hủ. Chính ngươi đã làm đê
mê những kẻ được ngươi vuốt ve nâng niu, và cũng đã làm mất mạng những
võ sĩ gan dạ trong đấu trường. Ngươi đã từng đồng loã với những người
cầm bút để tạo ra nhiều áng văn lịch sử, tán dương các bậc anh hùng quân
tử, hay nguyền rủa những hạng tiểu nhân.
Ngươi đã đóng góp rất nhiều vào các công trình hữu ích cho nhân loại. Và
không khéo người cũng sẽ dự phần vào việc hủy diệt loài người (như
bấm vào nút nổ bom nguyên tử chẳng hạn). Ngươi thật đáng yêu, đáng
quý, và cũng thật đáng kinh sợ!”
Rõ
ràng là lợi khí nào cũng có thể là con dao hai lưỡi. Đôi bàn tay của con
người cũng không ra ngoài pháp thế gian đó!
Giống khỉ cũng có hai bàn tay, nhưng bàn tay của khỉ thì ngón cái quá
cụt, còn các ngón khác lại quá dài. Vì vậy mà loài khỉ không thể thực
hành nhiều việc như loài người.
Trong thân thể con người, một phần tư các tế bào có “thu xúc tính” của
bộ thần kinh, đều ăn thông với các thớ gân của hai bàn tay. Đo đó mà “bì
chất” nơi hai bàn tay con người khác với “bì chất” (Épiderme=lớp da
ngoài) của các thú vật. Lớp da ngoài nơi hai bàn tay con người cũng đựơc
cấu tạo một cách đặc biệt, để cho hai bàn tay có thể cử động một cách
mềm mại, linh động. Nhất là nó co giãn làm sao cho các ngón tay đồng
phối hợp kỳ diệu, thành tựu được nhiều thủ công rất tinh xảo. Hãy xem
tài biểu diễn của các nhà điêu khắc, của những nhà thể thao vô địch thế
vận hội, hay của các ảo thuật gia thượng hạng thì biết.
Gần
đây, các nhà giải phẫu hệ thống thần kinh đã tìm ra một “vùng mới” trong
não bộ, nơi phát sinh những thủ thuật của con người. Họ đặt tên vùng này
là “vùng hoa tay”, vì chính nó đã giúp cho con người có sự khéo léo về
thủ công. “Hoa tay” xuất hiện là nhờ cường độ thọ cảm tập trung ở
điểm chót các mỏm gần thần kinh trong hai bàn tay. Và điểm tập trung
nhiều nhất nằm ở đầu ngón cái.
Sự
thọ cảm (hay xúc giác) của con người ở tuổi thanh xuân rất bén nhạy, làm
cho các ngón tay phát ra một thứ từ điện “hấp dẫn” những vật muốn cầm
nắm. Ngày xưa, máy đếm bạc chưa được sáng chế, các nhân viên trẻ làm
việc trong nhiều ngân khố nhà băng, đã có một tốc lực đếm bạc rất nhanh
và chính xác. Những tờ giấy bạc dường như bị một “sức vô hình” điều
động, tách ra bên này, nhập vào bên kia, theo nhịp đếm đều đặn, giữa các
ngón tay, để xấp bạc nào có tổng số bao nhiêu thì đúng như thế.
Nhưng khi tuổi già thì sự nhạy cảm ấy “cùn” đi, khiến cho các ngón tay
người cao tuổi không còn linh hoạt như trước. Tiêu biểu rõ ràng nhất là
người già, dẫu mang kiếng cũng ít có người xỏ sợi chỉ qua lỗ kim được dễ
dàng.
Xúc
giác là một cảm quan vô cùng cần thiết trong sự sống của con người.
Những nhà thần kinh học đã không ngừng nghiên cứu để khám phá những khả
năng mới lạ của nó, và họ phải thỉnh thoảng lấy làm ngạc nhiên.
Nhà
bác học Sir Isaac Newton, trước xúc giác bén nhạy của bàn tay, đã nói: “Cần
gì phải thí nghiệm phức tạp toàn thân thể, chỉ quan sát khả năng của
ngón tay cái thôi, người ta sẽ sáng mắt ra về những kỳ diệu trong sự
sống của con người”.
Giáo
sư Napier cũng nhận định: “Tuy khoa học có thể đưa con người lên mặt
trăng, hay đưa máy móc đi khám phá xa hơn ngoài không gian, (thậm chí
đến gần cả mặt trời), nhờ sức đẩy của cơ khí và điện tử, nhưng khoa học
vẫn không thể chế ra được một ngón tay trỏ, có đủ khả năng và xúc giác
như ngón tay thật”.
Sách
Tân Bách Khoa của nước Anh cũng viết: “Bộ phận có nhiều khéo léo và
tuyệt hảo nhất trong cơ thể con người là bàn tay. Nhờ nó mà khối óc nhân
loại chế ngự được cả thiên nhiên, chinh phục các loài động vật khác trên
mặt đất”.
Từ
thời thượng cổ cho đến ngày nay, và mãi mãi về sau, bàn tay đã, đang, và
sẽ góp phần trong việc con người tạo duyên tạo nghiệp, để sẽ chịu nhân
quả báo ứng. Nên đạp Phật vẫn chủ trương rằng: Con người nên sử dụng đôi
bàn tay vào những hành động lành mạnh, phúc thiện, hợp với đạo đức, hầu
mang lại lợi ích cho chính mình và cho mọi người, không nên lạm dụng đôi
bàn tay để thực hiện những việc tội lỗi, độc ác, vô lương, và gây tại
hại cho nhiều sinh vật xung quanh.
Đạo
Phật cũng nói rõ: Xúc giác nơi da bàn tay con người thuộc về thân
căn (cửa thân), lấy sự đụng chạm với ngoại vật làm tác dụng,
chuyển thẳng vào (ý) não bộ để có cái biết, gọi là thân thức (Kàya
Vinnàna). Cái biết ấy đồng thời cũng được “phản ảnh”, và ghi đậm
vào tâm linh. Xúc giác là một cảm quan rất trọng yếu cho sự sống động
vật.
Ngoài thân căn (làn da), bốn căn thức còn lại là:
1/Nhãn căn, biểu lộ qua đôi mắt (thị giác). 2/Nhĩ căn,
biểu lộ qua lỗ tai (thính giác). 3/Tỷ căn, biểu lộ qua
lỗ mũi (khứu giác). Và 4/Thiệt căn, biểu lộ qua cái lưỡi
(vị giác).
Khi
hoạt động, bốn căn thức này vừa biểu lộ độc lập, vừa biểu lộ với sự “hợp
tác” của thân căn (cửa thân), nhất là xúc giác nơi bàn tay, hoặc thỉnh
thoảng của đôi bàn chân. (Những người tàn tật đôi cánh tay từ khi lọt
lòng mẹ, do nhu cầu sinh tồn, họ cũng có thể tập luyện và sử dụng đôi
bàn chân, nhất là các ngón chân, để làm một số việc của các ngón tay,
như kẹp ngòi bút để viết chữ chẳng hạn).
Bây giờ nói qua cơ quan thị giác (con mắt).
Nhà
Phật nói con mắt là nhãn căn (Cakkhudvàra=cửa mắt), và gọi
cái biết do thị giác là nhãn thức (Cakkhu
vinnàna=biết qua con mắt). Hai thuật ngữ (nhãn căn và nhãn thức) tuy hai
mà là một. Chúng chỉ chung một khả năng, là cho người cái “thấy”, để
phân biệt các màu sắc, các hình dạng, các khoảng cách, và các cử động.
“Cái thấy” ấy quả thật đã đem lại cho con người nhiều ý nghĩa trong cuộc
đời.
Các
nhà nghiên cứu động vật đã khám phá ra trước đây rằng: Nhãn thức (biết
qua con mắt) có khả năng thống ngự trên các căn thức khác, như tỷ thức
(biết qua lỗ mũi), thiệt thức (biết qua cái lưỡi), và thân thức (biết
qua làn da). Nó chỉ “thua’ nhĩ thức (biết qua lỗ tai) mà thôi. Họ phân
tích: Sở dĩ nhãn thức có được cái “thượng quyền” ấy là vì nó tiến hóa
(èvolution) không ngừng. Khởi đầu từ các loại linh hầu (Primates), được
coi là tổ tiên xa xưa của loài người.
Loài
linh hầu này thoạt tiên có cặp mắt nằm hai bên đầu. Chúng dần dần “dời”
đến trước trán qua các “ý nghiệp”, để đối phó (confrontation) với đời
sống thiên nhiên. Từ đó chúng phát triển những vùng “chiếu xạ” càng ngày
càng mạnh vào thị giác của não bộ.
Nhãn
thức là một “hóa cơ” rất tinh vi. Hoạt trường của nó gồm trong và ngoài
con mắt, để đưa vào não bộ những hình ảnh “hợp sắc” có sự phản xạ của
các luồng sóng quang, chuyển từ tia hồng ngoại (Infra-rouge) qua ánh
sáng trắng (Lumìere blanche), thành tử ngoại tuyến (Ultra-violet), rồi
tổng hợp ra các hình ảnh quen thuộc.
Cũng
theo các nhà khoa học, thì “nhãn thức” của động vật tuy có khá chính xác
trong việc ấn định hình ảnh của những thể sắc, nhưng việc ước đoán
khoảng cách thì nhãn thức phải thua nhĩ thức. Và giữa các động vật, chỉ
có loài dơi và cá nượt là thị giác mang luôn bộ phận “thám âm”, nên đôi
mắt của chúng còn có khả năng “ra-đa” của lỗ tai.
Trong con mắt có “đồng tử” hay con ngươi (Rétine). Đây là một tấm màng
bao trùm phía sau tròng mắt. Tấm màng này tuy rất mỏng, nhưng nó chứa
đựơc cả trăm triệu dây thần kinh cực nhỏ, nằm sắp lớp lên nhau. Nhờ thế
“đồng tử” mới có thể làm nơi hội tụ tất cả những hình ảnh chúng ta đang
ngó. Nó như mặt kính của máy chụp ảnh, thu vào mặt phim toàn thể những
gì chúng ta muốn chụp.
Bác
sĩ Muller còn bảo rằng: “Phim chụp ảnh bì sao nổi với “đồng tử” trong
con ngươi. Vì sau “đồng tử” có một vùng nhạy cảm rất rộng, giúp chúng ta
thấy được tất cả những hình ảnh dưới ánh trăng. Nghĩa là trong một quang
độ kém hơn ánh sáng mặt trời đến 30.000 lần. Khả năng ấy phim chụp ảnh
không thể nào có được” .
Hơn
thế nữa, đôi mắt bình thường của con người, có thể phân biệt một cách dễ
dàng, các chi tiết nhỏ nhất của vật mình đang quan sát, dù vật này nằm
một nửa dưới ánh sáng, một nửa ở trong bóng râm. Vì vậy mà giáo sư
Guytton mới phát biểu: “Máy ảnh đâu bằng con mắt. Vì máy ảnh có thể ghi
vào phim những hình dạng trong khung cảnh không có sự khác biệt nhiều về
ánh sáng. Và nếu có sự sai biệt tối sáng quá chênh lệch, thì máy
ảnh phải cần đèn chóa (flash) mới làm rõ hình được”.
Ngoài ra, đồng tử (hay con ngươi) nhờ có 125 triệu “tiểu trượng giác
cảm” (Bâtonnets sensibles) nằm trong nó, mà nó có một vùng thị giác rộng
lớn. Những tế bào thị giác lại có tính dễ thích ứng, nên khi chúng ta từ
ngoài sáng bước vào phòng tối, thoạt đầu chúng ta có cảm tưởng như không
thấy gì cả, nhưng sau một thời gian, đôi mắt tự nhiên thích ứng, chúng
ta bắt đầu thấy dần dần. Mặc dù không rõ như dưới ánh sánh thanh thiên
bạch nhật, nhưng chúng ta vẫn có thể di chuyển trong bóng tối được. Chứ
không phải như máy chụp hình bấm trong bóng tối, là rửa ra hình đen
thui.
Trong “đồng tử con ngươi” lại có 5 triệu rưỡi tế bào hình nón (cônes) có
sự phản ứng rất mạnh đối với ánh sáng, có năng lực giúp chúng ta phân
biệt được màu sắc. Những tế bào hình nón này có loại nhạy cảm với mày
đỏ, có loại nhạy cảm với màu xanh lục, và có loại nhạy cảm với màu xanh
biếc. Riêng màu trắng thì nó có sự kích thích đồng đều lên các tế bào
trong thị giác loài người. Còn các súc vật thì sự phân biệt màu sắc rất
kém. Có loại chỉ thấy màu trắng và màu đen mà thôi.
Thấy
đủ màu sắc là một ưu đãi, một quả lành cho con người. Nhờ đó con người
mới thu nhận được nhiều “khoái lạc” trong cái thấy. Tất cả những nét đẹp
thiên nhiên, hay nhân tạo, thường được diễn ra hình ảnh (như hội họa,
điêu khắc, đóng kịch, võ thuật, khiêu vũ, ảo thuật v.v…), nếu đôi mắt bị
tàn tật, thì con người không thể nào chiêm ngưỡng được.
Nhà
giải phẫu Rendle Short nói rằng: “Trong các cơ quan cần thiết cho con
người, thì cặp mắt là cơ quan cần thiết nhất, và cũng là cơ quan phi
thường nhất”.
Phi
thường ở chỗ những hình ảnh đập vào mắt, khi đã hội tụ trong “đồng
tử”con ngươi thì chúng đảo ngược (như trên mặt phim chụp ảnh), nhưng
qua nhãn thức thì chúng ta lại “thấy” các hình ảnh ấy một cách bình
thường, không bị đảo ngược, tại sao vậy?
Ông
Rendle Short giải thích rằng: “Bộ não của chúng ta có bản năng phản
chiếu lại cho đúng thực tế những hình ảnh đã đập vào đồng tử trong con
ngươi”. Cái “quả lành” tạo ra sự chuyển hóa điều chỉnh này thật là kỳ
diệu. Có lẽ người ta đã “bắt chước” nó để chế ra cái máy chụp hình về
sau?
Còn
một sự phi thường khác là phản động của thị giác chuyển ra mí mắt nhanh
không thể tưởng tượng được. Mỗi khi có một vật gì thoáng qua trước mắt,
ngay cả trí óc của chúng ta cũng chưa biết đó là gì, thì nhãn thức đã tự
động kích thích làm cho mi mắt nhanh chóng khép lại, để bảo toàn tròng
mắt.
Về
phương diện hiểu biết, dĩ nhiên không cần phải nhắc thì chúng ta ai cũng
biết rằng con mắt chỉ cho chúng ta thấy rõ các nét chữ, các màu sắc
(nhận diện). Nhưng ý nghĩa của những chữ và màu sắc đó, thì do ý thức
trong bộ óc giúp cho chúng ta hiểu. Bộ phận nào có phần hành nấy, nhưng
vì chúng phối hợp nhanh quá, cho chúng ta có cảm tưởng là cái thấy lẫn
cái hiểu xảy ra một lượt, và đều nằm trong con mắt.
Phân
tích theo khoa học, thì “nhãn căn” gồm có đôi mắt, đóng ở bên trái và
bên phải của nửa phía trên khuôn mặt. Trong mỗi con mắt có ba lớp màng
mỏng tráng chất thủy dịch trơn nhờn làm thành “giác mạc” (Cornet de
l’oeil).
Lớp
màng mỏng thứ nhất tên “bạch mạc” (Sclérotique) là lớp màng giáp với não
bộ, bao trùm và che chở toàn thể “giác mạc” của mắt.
Lớp
màng mỏng thứ nhì tên “mạch lạc mạc” (Choroide) có sắc tố và tư dưỡng.
Lớp màng này lồi ở phía trước, tạo hình cho “mỏm mắt” (Iris). Trong “mỏm
mắt” có “đồng tử” (con ngươi=Pupille) như đã nói trên, có khả năng nở ra
hay thu nhỏ lại, tùy theo cường độ ánh sáng và kích thước hình ảnh ở
ngoài chiếu vào.
Lớp
màng mỏng thứ ba tên là “võng mạc” (Rétine) có những dây thần kinh rất
nhạy cảm ánh sáng, nối liền với não bộ (Les Encéphales), và cũng có
những đường gân liên kết chúng lại, gọi là “thần kinh thị giác”
(Nerfotiques). Màng này có thể xem như một lớp kính thu hình từ ngoại
giới.
Toàn
thể lớp “võng mạc” được ngâm trong chất “thủy đạm trấp” (Humeur aqueuse)
rất trơn lỏng để hoạt động. Còn bộ phận “mạch lạc mạc” thì ở trong chất
“thủy tinh dịch” (Cristallin), có đặc tính bảo vệ sự trong láng, giữ cho
“thể pha lê” (Humeur vitrée) của nhãn cầu được thường xuyên.
Hai
con mắt cũng có cái yếu cái mạnh như hai cánh tay. Người thuận tay mặt
thì nó mạnh hơn tay trái, hay ngược lại. Đôi mắt cũng vậy. Sự chính xác
(rõ ràng) của nó trong đa số nhân loại không đồng đều. Vì vậy khi nhìn
ống nhòm, chúng ta phải điều chỉnh hai ống kính, và thấy độ điều chỉnh
không giống nhau. Muốn biết con mắt nào mạnh hơn hãy xem “số độ điều
chỉnh” bên nào thấp.
Các
nhà tinh thần học gọi đôi mắt là “cửa sổ” của linh
hồn. Nếu xem tinh thần là cái “máy quay phim” thì hai con mắt là
hai “ống kính kỳ diệu”. Chúng tinh vi hơn ống kính quay phim đến cả trăm
lần.
Về
phương diện “sức khoẻ thị giác” thì chất đường có liên quan đến đôi mắt,
qua công năng của một “hạch tuyến” (glande) nằm trong lá lách
(Pancréas). Hạch tuyến này sinh ra một loại “kích thích tố” gọi là
“Insuline”, có nhiệm vụ lấy đường trong máu (do thực phẩm cung cấp), rồi
phân phối cho các tế bào. Nếu hạch tuyến ấy trong lá lách bị suy yếu,
tiết chất “Insuline” không đủ mạnh để làm việc bình thường (nghĩa là
không lấy hết đường trong máu), thì kết quả sinh ra bệnh tiểu đường.
Bệnh này sẽ làm rối loạn sự điều hòa trong hai con mắt.
Do
đó các bác sĩ thường cảnh báo rằng: Người mang chứng bệnh tiểu đường
phải tuyệt đối kiêng ăn chất ngọt, vì nó rất có hại, nhất là hại cho thị
giác.
Và
từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, nhà hiền triết nào cũng nhắc nhở: Hãy
coi chừng các sắc đẹp, nhất là sắc đẹp mỹ nhân, một trong những “đối
tượng” ưa thích của nhãn thức (đôi mắt). Sắc đẹp tự nó không nguy hiểm.
Nhưng dụng tâm dùng sắc đẹp, và tật say mê sắc đẹp có thể
làm cho con người dở khóc dở cười, khốn khổ vô cùng.
Lịch
sử nhân loại há đã chẳng ghi lại gương xấu của những bạo chúa, những
lãnh tụ gian hùng khét tiếng, chẳng ai có thể đến gần để hãm hại được.
Thế mà vì mê sắc đẹp, nên sau cùng họ vẫn bị thảm bại dưới bàn tay của
thích khách mỹ nhân, sử dụng nhan sắc, trong những trường hợp rất tồi
tàn, tầm thường.
Ngoài ra, còn nhiều sắc đẹp khác, như sắc đẹp vàng bạc, sắc đẹp kim
cương, bích châu, ngọc thạch, mã não, sắc đẹp xe hơi, nhà lầu, sắc đẹp
của bằng cấp, bạc giả, sắc đẹp của những hình ảnh khiêu dâm v.v… cũng
làm cho con người tối tăm tâm trí không ít. Lắm khi chỉ vì mê những sắc
đẹp ấy, mà người ta đã vào tù, hay rơi vào những cạm bẫy không thể thoát
ra được. Như loài muỗi phù du, hễ thấy màu sắc của ngọn lửa thì điên
loạn lao mình tới để thiêu thân, tìm cái chết, mà hiền nhân cổ kim đã
lấy đó làm biểu tượng, để khuyên nhủ người đời.
Tiếp theo là cơ quan thính giác (Lỗ tai).
Phật
giáo gọi cơ quan này là “nhĩ căn” (Sota dvàra=cửa nhận âm
thanh), và gọi cái biết qua cơ quan này là “nhĩ thức”
(Sota vinnàna).
Nhĩ căn (hay nhĩ quan) của một con người là
“cửa” để những tiếng động lớn nhỏ, xa gần, của ngoại giới đập vào trí
óc. Tất cả những tiếng động ấy (gồm đủ các loại, từ nhạc điệu du dương
êm dịu, cho đến những ồn ào náo nhiệt, chói tai nhức óc) được nhà Phật
gọi chung bằng cái tên khá Phật học là thanh trần.
Tinh
tế hơn, nhĩ thức đối với nhà Phật không phải là khả năng
chỉ hiểu biết, phân biệt những thanh trần từ bên ngoài, mà nó còn có thể
“nghe được’ những “ba động” tinh thần từ bên trong nữa.
Đức
Phật đã khám phá ra diệu năng này của nhĩ thức phối hợp với thân thức,
qua công phu hành thiền tức quán (niệm hơi thở để cảm nhận đựơc
sự sinh diệt nơi chính nột thân mình, trong từng sát-na). Nhờ môn “Như
lai Thiền” ấy mà sau 49 ngày tĩnh tọa, “đạo sĩ” Sĩ-Đạt-Ta đã trở thành
Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni, dưới tàng cây Bồ Đề, bên dòng sông Ni-Liên,
cách nay hơn 25 thế kỷ.
Dĩ
nhiên không có nhĩ căn thì nhĩ thức thiếu yếu tố để biểu lộ. Vì vậy, tìm
hiểu “nhĩ căn” theo phân tích khoa học, cũng là một việc rất bổ ích, vì
nó soi sáng cho kiến thức, về phương diện cấu tạo nhân thể (Biologie).
Nhĩ
căn (hay cơ quan thính giác) gồm ba phần:
1/
Phần ngoài: Vành tai, bộ phận dễ nhìn thấy nhất (cũng gọi là
“loa tai”=Le Pavillon). Nó dùng để “hứng” và “khuếch đại” những tiếng
động ở ngoài. Bên dưới loa tai có một “mảnh thịt” nhỏ bằng đốt ngón tay,
gọi là “hoa tai” (Globe). Hoa tai là một “dụng cụ” nhạy tiếng động, vì
bên trong tập trung nhiều “tiểu trượng cảm giác” (Batonnets de
sensibilité). Ở giữa vành tai có lỗ tai hình xoáy, trên mặt mọc nhiều
lông thẳng, xếp thành hình một cái phểu (Filtre), để giữ hơi ấm, và ngăn
bụi, không cho xâm nhập vô trong. Những lông thẳng này cũng có tác dụng
vô hiệu hóa các luồng “ác khí”, không để nhiễm độc vào đầu não con
người. Tuy nhiên, vành tai không phải là thành phần tối cần thiết. Vì
một người bị tai nạn chẳng còn vành tai, thì trên phương diện thẩm mỹ họ
chỉ kém vẻ đẹp thôi, nhưng họ vẫn nghe được. Sự nghe không vì vậy mà
biến mất.
2/
Phần giữa gọi là “vùng lông mi” (Partieciliée). Đây là một
“thông quan” hình xoắn, có mọc đầy lông nhỏ (cils), mà rễ lông cắm vào
lớp tế bào cảm giác (Cellules sensorieelles). “Thông quan” hình xoắn này
nằm tiếp giáp với bộ phận chính của nhĩ căn. Nó giống như hình một ốc
sên (Appareil cochlaire). Vai trò của “thông quan” là thường trực làm
vật “dẫn đường” cho những “làn sóng âm thanh” loang tới, và dội vào
trung ương của nhĩ căn, để trung ướng nhĩ căn “cô đọng” thành một
thọ uẩn (Formation d’agglomération) mà nhà Phật gọi là nhĩ
thức. (Thọ uẩn là một trong năm uẩn tạo thành sự sống linh động
của con người).
Như
trên đã nói: “Nhĩ thức không phải chỉ phân biệt, hiểu biết những
thanh trần từ bên ngoài, mà nó còn có khả năng nghe được những ba động
tự tạo từ trong thân nữa”. Đây là một quán xuyến kỳ diệu của nhĩ
thức con người qua bộ óc. Và căn cứ vào đó nhà Phật đã chỉ ra một pháp
tu, gọi là “quán thọ niệm xứ qua nhĩ thức” (Vedanàvinnànam satipatthàna)
(Tạm dịch là thanh tịnh tự biết về mình qua nghe biết).
Tưởng cũng nên nói rõ ở đây: Quán Thọ Niệm Xứ là một chi trong Tứ
niệm Xứ (Catu Satipatthàna), gồm niệm thân, niệm thọ, niệm tâm,
và niệm pháp. Bốn quán niệm này thuộc về Minh Sát (Vipassanà) hay Thiền
Tuệ. Trong khi đó thì “Như Lai Thiền” (theo dõi hơi thở=Tức
Quán=Anàpànasati) nói trên là tổng hợp của cả hai môn Thiền Định
(Samàdhi) lẫn Thiền Tuệ.
Trở
lại sự quan sát khoa học qua nhĩ căn: Khi bên ngoài không tiếng động mà
chúng ta vẫn nghe có âm thanh nơi thính giác. Đó là do “hóa ứng” của bộ
phận “ốc sên” kích thích (Oto-émission). Những “tế bào ngoại my”
(Cellules cilíees externes) của bộ phận này có tính tự co giãn, tùy theo
nhịp độ tri thức của hệ thống thần kinh, khiến cho các vi mao của nó
rung chuyển, làm ra những “âm ba” (hóa ứng) trong lỗ tai. Những âm ba
này đương nhiên cũng được thọ ký vào não bộ.
3/
Phần trong cùng gọi là “trung ương” của thính giác. Trung ương
thính giác nằm phía sau bộ phận ốc sên. Những công trình nghiên cứu để
biết rõ trung ương thính giác này hiện nay đã mang lại nhiều kết quả soi
sáng khả quan. Đó là việc xác nghiệm được “hệ tế bào thần kinh” nằm
trong tiến trình “hóa tin” của bộ phận ốc sên (Neurochimie Cochlaire)
hoạt động như thế nào. Mục đích là xác định cách chuyển các tín hiệu âm
thanh vào não bộ. Nhờ kết quả sự soi sáng này mà các nhà nghiên cứu bệnh
lý học (Pathologie) mới tìm ra được nguyên nhân của bệnh điếc.
Về
phương diện tác dụng, tuy phần ngoài (vành tai) chỉ là phần thuần túy
thể xác (vật chất) kém quan trọng, nhưng phần giữa (ốc sên) và phần
trong cùng (trung ương thính giác) lại chính là hai bộ phận rất quyền
biến. Hai bộ phận ấy khi phối hợp thì có cả cơ năng lẫn
linh năng. Cơ năng chủ về điều chỉnh và quân bình hoạt động của
thính quan. Còn linh năng chủ về đem lại sự giao cảm hiểu biết trong cái
nghe.
Như
đã nói qua ở trên, phần giữa (ốc sên) lại có một cái ống gọi là “thông
quản” (La trompe d’Euthache) nối liền với cổ họng, để cho không khí được
lưu thông bên trong. Nhờ đó mà có sự quân bình sức ép (cơ năng)
của hai “màng tang” (hay hai bên thái dương), khi nhĩ căn hoạt động. Còn
phần trong cùng (trung ương) chỉ lớn bằng hạt dẻ, mà nó lại chứa được vô
số “tuyến truyền tin”, nhiều bằng số dây trong một trung tâm điện thoại
của một thành phố cỡ lớn. Phần trong cùng này thật vô cùng kỳ diệu. Nó
chủ về sự điều chỉnh cái nghe và chuyển ra sự hiểu biết (Linh năng
của nhĩ thức).
Các
thánh nhân trong đạo Phật xưa nay thường ví nhĩ căn phàm nhân như con
dao hai lưỡi, bên nào cũng sắc bén cả. Nếu dùng nó bên phía công cụ nghe
của tham sân si, thì tâm thức sẽ bị nó chém cho bầm dập, tàn tật. Nhưng
nếu dùng nó bên phía hướng về những pháp âm chân thật, lành mạnh, hướng
nội, thì tâm thức lại được thường xuyên an lạc, sáng suốt, vuông tròn.
Vì
trong pháp âm chân thật, lành mạnh, hướng nội ấy không có kiến chấp, nên
tánh nghe, tánh biết vẫn tinh anh thường trụ. Thường trụ có nghĩa là
thông qua tất cả, vô ngăn ngại, “không vì có âm thanh mới có tánh nghe,
tánh biết hoặc chẳng vì không có âm thanh mà tánh nghe, tánh biết biến
mất”. Bậc đại từ đại bi, chánh đẳng chánh giác hằng nghe biết tất cả,
nhưng không câu chấp, nên các Ngài chẳng bị pháp ác làm tổn thương. Nhờ
vậy các Ngài mới ung dung trong các cõi ta bà khổ đau, cứu độ muôn loài
mà tâm thức hoàn toàn không chứa đựng phiền não.
Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, đức Bồ Tát Quán Thế Âm có đoạn đã nói: “…Phải
biết tự nghe (trong bản linh thường trụ vô ngại vượt qua mình)
thì mới nghe nổi tiếng kêu của chúng sinh (bất hạnh),
để dung thông thấu hiểu được tâm thành của họ (mà từ bi cứu
độ)…”
Thử
nêu một chuyện lạ thường: khi lấy một vỏ ốc lớn áp vào lỗ tai, thì người
ta nghe được “âm thanh” từ đại dương, như tiếng sóng vỗ ầm-ì của biển
cả. Những người không hiểu thì cho rằng đây là hiện tượng “bí mật” của
vũ trụ. Nhưng kỳ thật đó không phải là tiếng động của biển cả, mà là
“tiếng dội” của phần giữa nhĩ căn, khi các vi mao trong bộ phận ốc sên
hoạt động.
Con
người lúc về già thì cái nghe tự nhiên giảm đi, vì cái màng “cổ mạc”
(còn gọi là “mặt trống” hay lá nhĩ) nằm giữa “bộ phận ốc sên” và trung
ương thính giác bị dùn lại. Người bị bệnh tê liệt bán thân hay toàn thân
cũng bị giảm cái nghe.
Xin
nói sơ về đơn vị đo âm thanh. Khoa học gọi đơn vị này là “Décibele”,
tương đương với một phần mười tiếng gõ lên bảng đồng. Và âm giai thông
thường đủ để cho tai nghe là 10 décibeles. Còn sức mạnh cao thấp giữa
các bậc âm giai thì lại gấp nhau 10 lần nhiều hơn hay ít hơn. Ví dụ một
vật có âm giai 30 dècibeles thì mạnh hơn một vật có âm giai 20 dècibeles
đến 10 lần, hay một vật có âm giai 40 dècibeles thì mạnh hơn một vật có
âm giai 30 dècibeles đến 10 lần v.v…
Và
cái màng “cổ mạc” trong trung ương lỗ tai chỉ chịu nổi một âm giai cao
nhất là 80 décibeles trong một thời gian ngắn. Nếu kéo dài bậc âm giai
80 décibeles này bên lỗ tai một người hơi lâu, thì họ sẽ bị điếc. Đây
chính là lý do những nạn nhân chiến tranh bị kẹt trong vùng dội bom, về
sau mang bệnh điếc. Lớp “lông mi” trong bộ ốc sên rất “ghét” tiếng động
lớn.
Cơ quan khứu giác.
Nhà
Phật gọi cơ quan này là tỷ căn (Ghàna dvàra) và gọi sự
hiểu biết qua tỷ căn là tỷ thức (Ghàna vinnàna). Khứu giác
cũng là cơ quan “nhị dụng”, đảm trách hai việc chính cùng một lúc. Sự
cấu tạo của nó khá tinh vi, lẫn phức tạp, để nó vừa giao cảm với khối óc
(làm ra khứu giác), vừa tương thông với buồng phổi, để dự phần vào việc
hô hấp.
Hô
hấp là yếu tố đứng đầu, trong hai yếu tố dinh dưỡng chính, không thể
thiếu được của sự sống con người. Hai yếu tố đó là hít thở
và ăn uống. Người ta có thể nhịn uống đôi ba ngày, nhịn ăn
bốn năm bữa không chết, nhưng nếu người ta chỉ bị ngạt thở vài mươi phút
hay nửa giờ, là toi mạng.
Theo
khoa học, thì mỗi ngày mũi có thể “hóa lọc” được 14 thước khối không khí
qua động tác hít thở. Mười bốn thước khối ấy tương đương với thể tích
một căn phòng. Mặt trong mũi có lớp tế bào mọc lông cản
bụi và tiết ra chất nhờn (kháng dịch) làm tê liệt một số vi khuẩn
(virus) bay theo luồng hơi thở. Nó còn chuyền sức âm từ thân nhiệt vào
từng phân tử, trong lượng không khí được hô hấp, để khi tiếp xúc với
buồng phổi, chúng không còn hoang lạnh như lúc ở ngoài nữa. Nhờ nó mà
buồng phổi mới có “vật liệu” để “phân hóa” tìm dưỡng khí (Oxygène), sung
vào huyết mạch, làm cho máu tươi nhuận.
Mũi
còn chu toàn một phần hành khác rất đặc biệt, mà ít ai để ý. Đó là nó
giúp giọng nói của con người có “âm hưởng”. Nếu không có mũi thì tất cả
những tiếng nói sẽ rất khó phân biệt, và chịu tình trạng hỗn loạn giữa
âm này với âm kia.
Nhưng “công tác” tinh vi nhất của mũi, phải nói là hợp lực với bộ
óc lập thành tỷ căn. Nó là cái máy “bắt mùi” và “xếp loại”, để
cho bộ óc phản ảnh ra sự hiểu biết gọi là tỷ thức (Ghàna vinnàna). Vậy
tiến trình “hoạt động” của nó đại khái như thế nào?
Theo
các khoa học gia, thì khi con người muốn biết mùi một vật
gì, họ thường hít mạnh một lượng không khí bao quanh vật ấy. Nghĩa là họ
tạo một luồng gió chui vào lỗ mũi, cuốn qua chỗ có lớp tế bào thọ cảm về
mùi, nằm ở “ba ngăn” trong hốc mũi. tại đây lập tức có nước nhờn (niêm
dịch=Opithélium-Olfactif) tiết ra, tiếp xúc với luồng gió, rồi hóa hợp
với những phân tử (Molécules) trong luồng gió ấy, để tạo thành chất xúc
tác, đập vào hàng triệu những lông my cực nhỏ (Micro Villosités) cũng
nằm trong “ba ngăn” hốc mũi, khiến cho các lông my này được kích thích,
phản ứng ra những ký hiệu khác nhau về mùi, rồi truyền các ký hiệu ấy vô
hai chùm “dây thần kinh”, nằm dưới chân chúng. Hai chùm dây thần kinh
chuyên chở “ký hiệu mùi” ấy liền “thông tin” vào bộ óc, để cho con người
có sự biết mùi tức khắc. Sự “thông tin” đó xảy ra cùng lúc với các hoạt
động kia, nhờ vào một màng tủy vi tế (Lobes Temporaux), nằm trong phần
xương não bộ hướng về thần kinh mũi.
Hiện
tượng thần kinh mũi “tiếp nhận” các mùi nhanh chóng như vậy, nên khi
chữa trị một số cơ quan nhiễm độc, có liên hệ đến khứu giác, nhiều bác
sĩ đã chọn cách cho bệnh nhân hít thuốc vào mũi, mà không cho họ uống.
Vì qua ngã ấy, thuốc thấm vào chỗ phải đến nhanh hơn hệ thống tiêu hóa.
Các
nhà khoa học cũng khám phá ra rằng: Bởi không có óc thông minh, nên các
côn trùng, thú vật vì sinh tồn, tự “tiến hóa”…lắm khi mang khứu giác
mạnh hơn loài người rất nhiều. Một con tằm đực đánh hơi biết được có con
tằm cái, cách nó trên ba cây số. Nhưng con người thì không thể đánh hơi
biết được bà xã của mình trong khoảng năm mười thước, nếu không có sự
lên tiếng. Và loài người chắc chắn cũng không thể nhờ khứu giác mà tìm
ra vật thực nằm ở đâu, trong khi đó thì heo rừng có thể ngửi mùi “nấm
củ” (Truffes) mọc sâu trong lòng đất đến cả thước.
Qua
nhiều khảo nghiệm, người ta còn ước định được cái biết của khứu giác
nhạy (hay mạnh) hơn cái biết của vị giác đến 1000
lần. Nhưng hai khả năng này lại luôn luôn tương quan gắn liền với nhau
rất chặt chẽ, không cho phép chúng ta nhận ra sự chênh lệch “cường độ”
ấy. Nên thông thường trước hai đĩa đồ ăn, lúc gấp rút người ta vội ngửi
để biết đó là cái gì, chứ không đủ thời giờ nếm để biết.
Để
chứng minh điều này chúng ta hãy quan sát trường hợp bị cảm cúm. Khi bị
bệnh cúm, khứu giác của chúng ta chỉ kém đi đôi chút, mà vị giác lại yếu
mất đến tám chín phần mười. Nghĩa là dù bị cúm nặng, chúng ta vẫn ngủi
thấy mùi, nhưng cái gì bỏ vô miệng, thì rõ ràng chúng ta cảm thấy gần
như vô vị.
Ngoài ra, đối với một số động vật, khứu giác cũng góp phần trong việc tự
bảo vệ nữa. Vì nhờ khứu giác mà chúng đánh hơi biết được “kẻ thù” từ xa,
hay đánh hơi báo động những gì độc hại, nguy hiểm sắp đến, để tránh
trước hầu bảo toàn mạng sống.
Cũng
theo thống kê các nhà khoa học, thì khứu giác của tất cả động vật (gồm
loài người) có thể phân biệt đến 10.000 mùi khác nhau.
Về
hình thức, mũi loài người được kiến trúc theo dạng “khối tam giác”. Chót
mũi có “vách trung trực”, chia phần ngoài của “khứu quản” ra thành hai
lỗ thông có lông che bụi. Sống mũi nhô lên do hai mảnh xương vụn, bên
trong chứa thủy thần kinh. Phía dưới là “ba ngăn hốc mũi” được phủ bởi
một lớp “diêm mạc”, gồm nhiều gân máu li ti, đan tréo lên nhau, khi bị
kích thích thì tiết ra kháng dịch, tức nước nhờn chống vi trùng, và có
hóa tính hòa tan với không khí để “nhận mùi”.
Nếu
cắt đôi lỗ mũi theo chiều đứng, thì thấy phần dưới sống mũi có ba
“khoảng xoáy” giống hình ba cái tù-và tí hon, nằm thứ tự từ ngoài vào
trong. Ba khoảng xoáy này có cái tên chung là “ba ngăn hốc mũi” như đã
nói trên. Đây là ba vùng “thu mùi” luôn luôn làm việc đồng loạt và bổ
sung cho nhau. Chúng là “công trường” của các hệ thống “thám mùi”, do
những “vi mao” mọc ra từ lớp “tế bào niêm dịch” có những đặc tính riêng
biệt.
Dưới
chân lớp “tế bào niêm dịch” này có một bộ phận gọi là “Lá mía” (orange
Voméo-Nasal). Nhiều khoa học gia cũng cho rằng: Chính “Lá mía” mới là
“nguồn gốc” của cơ quan bắt mùi. Nó giữ vai trò điều chỉnh và tái kích
“Nội tiết thần kinh” (Neuro-Endocrinienne).
Theo
bác sĩ Masara, cùng bản báo cáo của hai nhà vật lý học Hoa Kỳ, tên
W.L.Silver và J.R.Mason (công bố năm 1985), thì tiến trình biết
được mùi của khứu giác con người, phải trải qua năm giai đoạn:
1/đón hơi (hít vào), 2/hóa hợp (với niêm dịch), 3/phát ký hiệu (ở chân
lông truyền cảm), 4/định mùi (phân biệt do màng tủy thần kinh), và 5/ghi
nhận. Tuy nhiên vì cả năm giai đoạn này diễn ra quá nhanh, người ta có
cảm tưởng “ngửi là biết mùi liền”.
Riêng giai đoạn thứ năm, ghi nhận (của khứu giác), cũng
theo các nhà khoa học nói trên, vẫn “xảy ra” tại một vùng đặc biệt trong
“trung ương” não bộ, gọi là “Hippocame” (tạm dịch là “Trí Hà Mã”). Vùng
này nối liền với một huyệt “bí mật”, gọi là “Điểm huyền hư”, nằm giữa
não bộ. “Điểm huyền hư” chính là nơi “tàng trữ” tất cả hiểu biết cũng
như cảm giác của con người. Nó vốn là “nguyên ủy” của mọi xúc động. Khoa
học còn cho nó một cái tên khác là “vùng tiềm thức” (Zone de
Sub-Conscience).
Các
giác quan khác phải dùng con đường dài hơn để đến được “vùng xúc
động và tiềm thức” của trí não, không như khứu giác đi thẳng vào
vùng này. Do đó mà khi nó bắt được không khí (mùi) quen thuộc nào, chúng
ta liền cảm thấy sung sướng, sống lại với những gì lòng mình hằng mong
đợi, hay tâm hồn chúng ta bỗng lâng lâng nuối tiếc vì hoàn cảnh trước
mắt đã bị đổi thay.
Tuy
niêm dịch đánh mùi trong thần kinh khứu giác của con người chỉ trải ra
một diện tích bằng ba phân vuông, (thua niêm dịch của loài chó: 100 phân
vuông), nhưng cũng đủ giúp cho trẻ sơ sinh tìm được núm vú của người mẹ,
để kê miệng vào đó, mà không cần mở mắt tìm kiếm.
Đối
với người mù thì khứu giác hợp tác trực tiếp với vùng xúc động và
tiềm thức, giúp họ biết được đối tượng trước mặt mình tính tình
hiền hay dữ, để họ tìm cách lánh xa hay đến gần.
Nói
tóm lại, khứu giác đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống con
người. Nhờ nó mà chúng ta có thể “thưởng thức” đựơc nhiều hương thơm, và
nhận ra một số độc khí, để tìm cách trừ khử hầu bảo vệ sức khoẻ.
Theo
Phật giáo, hương trần cũng là một con dao hai lưỡi. Đối với tâm thức,
nếu mùi thơm phàm tục (như mùi thức ăn, mùi thuốc phiện, mùi dầu thơm
v.v...) có thể làm cho con người mê say, đắm nhiễm, thì mùi hương nhà
chùa, như khói nhang trầm loang ra trong không khí thanh tịnh, cũng có
thể làm cho người ta lắng đọng tâm tư, tạm quên đi một số
phiền muộn ở đời.
Tuy
nhiên, kinh “Thủ Lăng Nghiêm” (Phật giáo Bắc Tông) có đoạn còn dẫn giải
rõ như sau:
“Khi
Ngài Hương Nghiêm Đồng tử bắt được mùi hương thì phát hiện ra rằng:
Bản tánh của hương cũng như bản tánh của vạn vật, đều do duyên hợp
mà có. Mà cái gì do duyên hợp là hư ảo, không chắc thiệt. Vì vậy mà Ngài
không buông lung tâm thức mắc dính với hương, để dung thông được tỷ căn
và tự tại nơi tỷ thức”.
Nghĩa là kinh Phật khuyên người hướng thiện không nên chấp tín trong
hương trầm mà tu tập, vì hương trầm vốn cũng khi có khi không, bản tánh
chẳng thường trụ (Aniccà). Nếu cứ tưởng nhớ vào nó, thì tâm tư con người
sẽ bị chi phối, mắc dính, lu mờ.
Liên
quan đến việc thắp nhang và đèn nơi bàn thờ trong chùa, thì sách vở Phật
học xưa nay vẫn giải thích: Hương trầm chỉ để tượng trưng cho cái
tâm thanh tịnh, tức là Tâm hương. Còn đèn tượng trưng cho ánh sáng của
trí tuệ. Nếu chúng ta dùng nhang đèn dâng cúng mà tâm bị cố chấp
(cầm tù), trí bị lu mờ (mê tín), thì quả thật chúng ta đã làm ngược lại
với ý nghĩa những lời Phật dạy.
Tâm
hương ấy có năm là:
1/Giới
hương, hương của giới đức tinh khiết.
2/Định
hương, hương của sự thanh tịnh ý thức.
3/Huệ
hương, hương của trí tuệ trong sáng, luôn quán chiếu qua chân
lý.
4/Đoạn
phiền não hương, hương của giác ngộ sự thật, tâm xa lìa, không
bị nung nấu bởi tham dục.
5/Giải
thoát tri kiến hương, hương của tánh không tự tại, chẳng bị
chính cái tri kiến của mình hạn chế, che mờ nữa.
Năm
loại “tâm hương” này có thể tỏa rộng ra mười phương tám hướng, không bị
ngăn ngại bởi thời gian, không gian, hay chiều gió, vật chất. Chúng chỉ
được tượng trưng bằng nhang trầm để cho khứu giác tiếp nhận, đối với
những người mới tìm hiểu đạo Phật. Nhưng đối với những ai đã thấm nhuần
giáo lý Phật đà, thì năm loại “tâm hương” nói trên cũng có thể được
“thấy” và được “nghe” bởi đôi mắt (thị giác) và lỗ tai (thính giác) tỉnh
thức nữa.
Sau cùng là cơ quan vị giác (lưỡi).
Lưỡi
là “địa điểm” để các thức ăn và vật uống được tiếp xúc với cơ quan vị
giác. Phật giáo gọi địa điểm này là Thiệt căn (Jìvhà
dvàra), còn gọi cái nó cho con người biết về khẩu vị là Thiệt thức
(Jìvhà Vinnàna). Nó là cơ quan dẫn vào não bộ sáu loại khẩu vị
khác nhau từ ngoại trần. Đó là mặn, ngọt, chua, chát, cay và đắng.
Theo
nhân thể học thì lưỡi là một miếng thịt hơi giống “hình thang”
(trapèze), mà chiều đáy kết dính vào cuống họng, do một màng niêm
dịch gọi là “Hàm Thiết”. Nó có dạng một thớ thịt thăn (nhô lên), và
trải dài trong miệng từ “đốc giọng” ra tới răng cửa. Mặt dưới, ở chính
giữa, nó dược nối liền với nền miệng, bởi một lớp võng mô có nhiều hạch
nước miếng, chỉ chừa đầu lưỡi và xung quanh một khoảng nhỏ, để nó được
cử động dễ dàng.
Lưỡi
đóng hai vai trò quan trọng trong sự sống. là phát âm và ẩm thực. Vai
trò thứ nhất: Khi tạo ra tiếng nói nơi miệng, thì lưỡi rất mềm dẻo… đưa
lên, hạ xuống, cong vào, duỗi ra, lắc qua, hất lại… phối hợp với những
dây âm thanh và hốc mũi, cùng sức ép từ dưới bụng đẩy lên. Đồng thời mặt
ngoài lưỡi nhờ đôi vành môi và hai xương hàm hỗ trợ.
Những diễn viên “nói trong bụng” (Ventrilogue) tuy không cần đến đôi môi
và cử động xương hàm, nhưng những bộ phận phát âm khác, tiếp cận với
lưỡi bên trong, cũng đủ sức giúp lưỡi phát ra tiếng nói. Nghệ thuật này
không phải ai cũng làm được, mà chỉ rất ít người thực hiện nổi thôi.
Người câm mang khuyết tật trong lưỡi và khẩu âm, tuy không nói được,
nhưng họ vẫn ăn uống bình thường.
Vai
trò thứ hai và cũng là vai trò tối cần thiết, là lưỡi tiếp xúc với thức
ăn hay đồ uống, để “thông báo” cho bộ óc biết các thực phẩm ấy thích hợp
với sự sống hay không, trong sự duy trì sinh mạng. Nhà Phật chú trọng
vai trò này, nên gọi nó là Thiệt căn, vì nó mang lại cái
biết gọi là Thiệt thức.
Theo
quan sát khoa học, trên mặt lưỡi có một lớp “niêm mạc”
(Musqueuse) phủ toàn diện. Nhờ lớp niêm mạc này mà lưỡi tập trung được
nửa triệu tế bào “Mầm vị giác” (Bourgeon du gout), trình
bày dưới dạng một “rừng gai lưỡi”, và có những đường gân
(nerfs) ăn thông với mũi và tai, để chạy vào não bộ. Lưỡi có khả năng
phản ứng (báo động) cấp tốc khi chạm với những vật không thích hợp trong
miệng, như nóng lạnh, ung thối, hay bén nhọn v.v… Trường hợp đụng phải
các vật như thế thì nó lập tức “nhợn” ra.
Do
sự cấu tạo khá máy móc, mà khi tiếp thu những vật thực dày cộm, lưỡi
chưa “cảm xúc” được tinh vị của chúng, cũng như không thể đưa chúng vào
thực quản, thì lưỡi một mặt tiết ra niêm dịch làm trơn
loãng, một mặt trộn trạo rất khéo léo, sao cho những vật thực dày cộm
kia tuần tự xê dịch, nằm đúng giữa hai hàm răng, để răng nghiền nhỏ tất
cả, trước khi chúng được lưỡi vo tròn, đưa vào cổ họng.
Có
ba loại “gai lưỡi”, là “gai chỉ” (hình sợi), và “gai nấm” (hình nấm) nằm
ở đầu và ở giữa lưỡi. Còn loại thứ ba là “gai vòng” (hình như nếp vải
xếp uốn cong), nằm phía tận cùng của lưỡi, tiếp giáp với thực quản, để
đẩy thức ăn vào và che đậy mùi bên trong, không cho thoát ra ngoài.
Vị giác của bộ máy phức tạp ấy (thiệt căn) bắt đầu từ
khi thực phẩm được ngâm trong nước miếng. Vì vậy nếu lưỡi bị khô thì
chúng ta không thể nếm biết gì cả. Ngoài ra, phía nóc trên miệng và vùng
bao quanh lưỡi còn có những “tấm gai vị giác” (Papilles gustatives).
Toàn
thể các tấm gai “thu vị” ấy đều chứa những vi-mao truyền cảm
rất mịn (Microvillasités), giao thông với não bộ bằng một hệ thống đường
gân và thần kinh, chạy thẳng vào “trung ương vị giác”. Não
bộ sau khi phối trí những “phúc báo” rồi, thì “xác nhận” chúng lại, để
làm thành vị giác thường trực.
Trong sáu khẩu vị phổ thông nói trên, có bốn khẩu vị căn bản là mặn,
ngọt, chua, và đắng. Mỗi vùng gai cảm giác trong miệng có một phần hành
riêng biệt. Chẳng hạn như vùng gai nằm ở đầu lưỡi chuyên biết hai vị mặn
và ngọt. Vùng gai ngang hông lưỡi thì biết được vị chua. Còn vùng gai
nằm gần cổ họng thì biết được vị đắng. Riêng vùng gai ở giữa lưỡi thì độ
nhạy cảm thua xa những vùng gai kia.
Vị
chua cao độ (thường là của chất độc) được biết mau hơn hết, làm thành sự
bảo vệ cho sinh mạng. Cho nên các chất cường toan (Acides) khi vô ý vào
miệng thì được lưỡi phản ứng phun ra liền, để tránh bị ngộ độc nặng.
Vị
giác cũng có tính cách cá nhân: Người ưa vị này, kẻ thích vị kia, phản
ảnh nghiệp thức khác nhau của hàng triệu chúng sinh, đồng
loại có, khác loại có. Nó là một khía cạnh của ái dục (hay lòng tham)
trong sự sống của con người.
Theo
các nhà khoa học, thì vị giác và khứu giác
là hai giác quan thiên về “hóa chất”, tức là tiếp xúc với
ngoại trần, qua tiến trình hóa hợp. Trong khi đó thì thị giác và
thính giác thuộc về vật lý. Nghĩa là chúng rất nhạy cảm với các luồng
sóng của ánh sáng và tiếng động. Riêng xúc giác thì làm môi giới cho bốn
giác quan kia. Khi tìm hiểu tỉ mỉ năm cơ quan cảm giác nơi một con
người, chúng ta mới xác nhận được việc “Phật giáo cho rằng tâm
thức vừa nằm trong ngũ căn, vừa nằm ngoài ngũ căn” là đúng.
Tưởng cũng nên biết thêm:
Những tinh chất của các món ăn, thức uống, chỉ phát hiện
đúng khẩu vị tự nhiên, khi chúng vừa được để vào miệng, vị giác
mới nhập cuộc. Nhưng sau đó thì những tinh chất ấy lại được thưởng thức
dưới một “hỗn hợp mùi vị” khác. Giai đoạn này thuộc về “tập
vị” hay “cá vị”, tức là có sự xen vào của khứu
giác và xúc giác của mỗi cá nhân, đễ biến những tinh chất ấy ra
một thứ vị mới, không còn giác vị đầu tiên nữa. Đây cũng là lý
do cùng một món ăn, mà hai người sau khi ăn, có thể khen chê khác nhau.
Và khi các thực phẩm đã qua khỏi cổ họng, di chuyển trong thực quản rồi,
thì chúng không còn mùi vị nữa. Có thể nói là lúc ấy ngon hay dở, lành
hay độc tất cả đều như nhau.
Một
số người cho vị giác không có hình ảnh tinh thần (?), là họ đứng về mặt
vật chất mà nói. Nhưng theo đạo Phật, lưỡi làm “cửa” cho sự hiểu biết
thuộc khẩu vị, thì nó cũng làm gốc cho sự ham ăn, háu uống, và đo đó là
“môi trường” của các các vọng tưởng, mong cầu, khát khao hướng về khoái
khẩu.
Khi
ý thức được những món ăn nào đó là quý trọng, hay ngon bổ, thì lòng tham
cầu “cung dưỡng”, qua hưởng thụ phát sinh, dẫn đến quan niệm “sống là để
ăn, để uống”, hay “phần chính của hạnh phúc trong đời, đến từ hai việc
ăn uống”, chứ không phải đến từ một chân lý cao thượng nào khác. Nhưng
các đại hiền triết xưa nay vẫn khuyên rằng: Trong khi ẩm thực, chúng ta
cần quán tưởng “ăn uống là chỉ để sống lành mạnh hầu để tu
luyện thân tâm mà thôi”.
Và
vì tham cầu cung dưỡng mà con người trở nên hèn hạ, hung dữ, sẵn sàng
thực hiện mọi hành động độc ác, để về phương diện thể xác, thoả mãn cho
sự khoái khẩu, và về phương diện tinh thần, tự biến tâm tánh mình thành
thú vật. Kết quả là khi hết tuổi thọ làm người, vì dĩ tồn nhiên
lực, kẻ ấy sẽ hiện ra sự sống mới trong kiếp sa đọa thú vật.
Trong kinh Di Giáo Tóm Tắt (Buddhasàsana Sankhepa Sutta), đức Phật đã
dạy: “Đừng ham ăn mê uống, hãy biết thanh tịnh bằng sự tri túc”. Nghĩa
là ăn đủ để sống, và chỉ ăn món nào trong sạch, lành mạnh, không đến từ
nguồn gốc tội lỗi mà thôi.
Cử
chỉ ăn uống tuy là những động tác bình thường, nhưng nó biểu lộ khá
nhiều tính tình của con người. Vì vậy, một triết gia nổi tiếng thời cổ
Hy Lạp, ông Platon (427-347 avant JC), đã viết một cuốn sách, tựa đề là
“Bữa tiệc” (Le Banquet), để diễn tả cái tư cách (tâm tính) “trầm tĩnh,
cao quý” của nhà hiền triết Socrate (470-399 avant JC) mà ông rất ngưỡng
mộ, tôn làm thầy. “Le Banquet” hiện nay là một trong những “tài liệu đầu
giường” của các sinh viên triết học trường phái Tây phương.
Ngoài ra, lưỡi cũng là cơ quan dự phần trong việc gây ra khẩu nghiệp,
gồm có hai loại thiện và ác. Khẩu nghiệp thiện thì mang lại bình an, cao
thượng, cho mình và cho người. Còn khẩu nghiệp ác thì tạo ra xung đột,
hận thù, tai ương, và bệnh tật tinh thần.
Danh
ngôn người xưa cũng truyền tụng những câu đầy ý nghĩa sâu sắc, và thực
dụng như sau:
Bệnh tùng khẩu nhập
Hoạ tùng khẩu xuất
hay:
Bệnh
do miệng lưỡi đưa vào
Hoạ
do căn lưỡi bày lời vô ra
Nói
tóm lại, lưỡi là cơ quan dễ bị say sưa, lạc đường (qua vị giác), và rất
thường phạm tội (qua ngôn ngữ). Châm ngôn Tây phương cũng có câu: “Trước
khi phát biểu chuyện gì, người nói nên uốn lưỡi bảy lần” hẳn không ngoài
mục đích khuyên chúng ta phải thận trọng, đắn đo những điều cần nói. Vì
lời nói một khi đã ra khỏi miệng rồi, thì ảnh hưởng của nó thật vô
chừng, rất khó bắt lại để chữa được. “Khó bắt” đến độ mà người phương
Đông đã ví nó nhanh hơn bốn ngựa: “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”
(?!)
Và
theo nhà Phật, muốn chỉ huy tính ham ăn, háu uống, và muốn cải thiện lời
lẽ giao dịch giữa mình với người, phương pháp hữu hiệu nhất là phải luôn
luôn cảnh giác, chánh niệm (tức định trí tỉnh thức),
quán chiếu nơi thân tâm mình, để từng giây từng phút chúng ta phải tự
biết nơi nội ý, sắp sửa phát ra hành vi xấu hoặc tốt gì,
và tư tưởng mình đang ở trong trạng thái nào, hầu hành động sao cho
thiện nghiệp được gia tăng, và tránh trước khỏi phạm vào ác nghiệp.
Cảnh
giác hay chánh niệm trong nhà Phật vốn là “phép vệ sinh”
tối cần thiết, để “thanh lọc” tinh thần và gìn giữ sự dinh dưỡng của nó
là niềm tin có đầy đủ lành mạnh. Khi niềm tin
lành mạnh thì đó là chánh tín. Và nếu chánh tín
thường xuyên được chánh niệm yểm trợ, thì tinh thần sẽ
minh mẫn, sáng suốt. Cũng như nếu thức ăn hay
vật chất dành cho thể xác, mà tươi tốt và sạch sẽ, hợp vệ sinh,
thì thể xác mới tráng kiện, nhẹ nhàng, linh hoạt.
Nhắc
đến Chánh tín (Samma Saddhà) trong nhà Phật, chúng tôi xin
mạn phép rút từ kinh điển Pàli, ghi ra bốn chỉ pháp căn bản,
lập thành chánh tín, như sau:
1/Tín nghiệp: Tin rằng mọi khởi niệm trong tâm tư con người,
nếu sau đó biến thành hành vi qua ba nơi thân, khẩu,và ý, thì đó chính
là nghiệp thân, nghiệp khẩu, hay nghiệp ý, và nó sẽ mang một trong ba
“đặc tính” là thiện, ác hay vô thiện, vô ác.
2/Tín quả: Tin rằng tất cả hành vi đều đem lại hậu quả.
Hậu quả ấy luôn luôn vận hành bằng hai pháp, là ngoại
tướng (thân thể) và ngấm ngầm (tư duy) trong chính tác
nhân và trong tha nhân (cộng nghiệp).
3/ Tin rằng tất cả chúng sinh chỉ có nghiệp là duyên mệnh duy nhất
(hay tạo hóa) của chính mình: Nghiệp của chúng sinh nào là
“nguồn gốc” luân hồi đảo điên (thăng hay đọa) của chúng sinh đó.
4/Tin Phật là đấng giác ngộ hoàn toàn chân lý giải thoát.
Ngài đã tìm ra cái “nguyên nhân thứ nhất” là vô minh,
trong vô số vòng sinh tử luân hồi. Và giáo pháp soi sáng, hay Thánh đạo
cứu khổ ấy, đã được đức Phật thanh tịnh phổ biến, lưu lại trên thế gian.
Nghĩa là nếu chúng ta tin tưởng, rồi hành đúng theo chánh đạo,
thì chắc chắn chúng ta sẽ nhập vào Thánh giới và thành Phật.
Nếu
niềm tin của chúng ta, thiếu một hay tất cả bốn yếu tố
trên đây, thì nó sẽ trở thành bất tịnh hay tà tín, chứ
không phải là chánh tín, dù cho chúng ta có đi chùa và cúng bái rất
nhiều. Như vậy, muốn có chánh tín thì mỗi người cần cố
gắng, làm sao cho niềm tin nơi tâm tư mình phải hội đủ bốn căn bản
vừa nêu.
PHẦN IX
THAY LỜI KẾT
Khoa học (theo một nghĩa rộng) đã, đang, và sẽ không ngừng
đi tới (cũng gọi là “tiến bộ”). Sự “đi tới” ấy có thể xem như
một tiến trình tự nhiên trong hiện tượng sinh tồn có chu kỳ của vạn vật.
Nói
là “tự nhiên” vì khởi thủy không phải do sinh vật có trí
khôn, biết rồi đòi tiến bộ, thì nó mới đi tới, cũng không phải do
không biết, rồi không đòi tiến bộ, mà nó đứng lại một chỗ, mà nó
“đi tới” chỉ vì nó có sự luân chuyển “lột xác”, để sống tiếp trong biến
hóa.
Và
đến một giai đoạn nào đó, sự “đi tới” theo “luật biến hóa ngẫu nhiên”
(Pad hasard), chẳng định hướng (vô chủ ý), như khoa học thường xác nhận
ấy, cũng không nhất thiết là nó phải trở thành tốt hơn, mà rất có thể nó
sẽ trở thành xấu hơn, quay lại tình trạng cũ, và coi đó là hình thức
mới.
Nhưng dù “đi tới” biến hóa ra tình trạng nào đi nữa, điều chắc chắn là
khoa học ngày nay đã kiểm chứng và xác nhận rằng: Nguyên nhân của
sự “đi tới” ấy là di tồn nhiên lực (Conservation d’énergie),
hiển hiện dưới dạng biến hoá vật chất theo chu kỳ, là một hằng lý nghiệm
đúng.
Như
vậy, nằm trong “tinh luân hệ” này, hay nằm trong “tinh luân hệ” khác,
nghĩa là chừng nào quả đất còn xoay quanh mặt trời, hay xa hơn nữa,
chừng nào còn một hoặc nhiều hành tinh, quay quanh những ngôi sao, tức
là lúc đó còn chu kỳ lập lại, còn nóng rồi lạnh, còn ngày rồi đêm, còn
đêm rồi ngày, và những gì cuốn theo chiều xoay ấy, còn phải có khởi đầu,
có chấm dứt, có hợp, có tan, có sinh và có tử, thì sự luân hồi, tái diễn
biến hóa (dưới hình thức sống) vẫn còn tiếp diễn.
Từ
đó suy ra, không có tiềm năng vật chất nào sẽ hoàn toàn
biến mất, cũng không có thẩm quyền nào chấm dứt chuỗi di tồn nhiên
lực (Conservation d’énergie), xuyên qua vô số biến đổi hình thức
sống ấy.
Nhà
Phật gọi chuỗi di tồn nhiên lực là hằng lý tử sinh
(Samsàra). Chỉ khác ở chỗ “hằng lý tử sinh” trong nhà Phật, đề cập đến
vật chất lẫn tinh thần, đi sâu vào lãnh vực tâm linh, nhục thân hay mắt
điện tử, không thể nào nhìn thấy được.
Nhà
Phật xem thể xác chỉ là một trong năn uẩn (Panca Khandhà) hợp
thành mạng sống con người. Trong khi đó thì khoa học đặc biệt chú ý đến
sự phân tích những biến đổi lý hóa của vật chất hữu thể, hay cùng lắm là
của vật chất cực vi, mà không nghiên cứu về các năng lực vô hình, hay
siêu hình (phản vật chất=Immatétiel). Và cho tới nay, vô hình hay siêu
hình vẫn không thể nào chứng minh một cách cụ thể, xác định được.
Đó
là lý do trong phần “Thay lời kết” này, soạn giả xin mạo muội làm nổi
bật hai cống hiến:
Cống
hiến thứ nhất là qua trung gian tập sách, chúng tôi cố gắng thực hiện
cái thiện ý đánh tan quan niệm xưa nay thường cho rằng “nói
về tâm linh là bàn chuyện hoang đường”, và cũng hy vọng dùng nó
đối trị được hiện tượng có một số “cá nhân” đã vô tình hay cố ý
mê tín hóa Phật giáo, dưới các dạng tế lễ cúng bái, trộn lộn kinh Phật
với bùa chú để cầu phúc, trừ tà, từng làm cho quan niệm sai lầm nêu trên
có căn cứ hơn nữa.
Trên
thực tế, sự hiểu biết về tâm linh trong nhà Phật không biến con người
trở thành tối tăm, lo sợ, mê tín dị đoan, mà trái lại nó còn giúp nhân
loại sáng suốt, hiểu biết đúng về mình, để tự tin trong
việc tu tâm dưỡng tánh, tiến hóa một cách tích cực, thực tiễn và lành
mạnh, tức là “nhắm tới sự tự lực, thực hiện công phu hướng thượng”.
Cống
hiến thứ hai: Soạn phẩm dành cho những ai mới bắt đầu tìm hiểu lãnh vực
tâm linh trong Phật giáo (như so sánh môn Duy Thức, nghiên cứu Pháp
Tướng Tông, hay sưu tầm học hỏi và phân tích căn bản Vi
Diệu Pháp=Abhidhammasangaha),
thì đây là một tài liệu “gạch nối”, được soạn giả sưu tầm rồi mạo muội
“phối hợp và lược giải”, giữa hai lãnh vực khoa học và tâm linh.
Chúng tôi gọi là tài liệu “gạch nối” và “phối hợp, lược giải”, vì ngụ ý
rằng “gạch nối” là nêu lên những tương quan giữa Phật giáo và khoa học,
còn “phối hợp, lược giải” là rút gọn chủ đề “Tâm vật trong một con
người dưới dạng Ngũ uẩn” (gồm sắc, thọ, tưởng,
hành, và thức), hay “Tâm vật trong một con người dưới
dạng Lục căn” (gồm nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, và ý
), đã được trình bày rải rác qua những trang trước.
Nói
cách khác, theo Phật giáo và theo nghiên cứu khoa học, thì những “nguyên
ủy biến hóa” đưa đến mọi hình thức sống của vạn hữu, và
nhất là của con người (sinh vật hoàn hảo nhất), vốn là
những vòng nhân duyên (hợp tan) của bốn “nhân tố” tương
quan sau đây:
1/
Vật chất thô kệch (Matière), nhà Phật gọi là các sắc pháp
vô hình (vô thường, tạm thời), như xác thân, cây cối, sông núi, khoáng
vật, nói chung là các thể tướng của đất, nước, và lửa bùng (thể động của
đệ tam đại). Chúng có khối lượng, hình ảnh, thường nhìn thấy đựơc.
(Tượng trưng bằng thân thể con người khi còn sống).
2/
Vật chất vi tế (Sub-matière) gồm các sắc pháp ẩn tích, duyên
thông, phiêu bạt theo môi trường, theo ba động, (cũng vô thường, tạm
thời) như không khí, gió bụi (phong đại), phân tử, điện tử, ánh sáng, âm
thanh v.v… có bản tánh thường xuyên biến dạng, khó nhìn thấy. (Tượng
trưng cho tham, sân, si, thất tình lục dục, cảm quan, căn thức, và ý
thức trong nhà Phật).
3/
Huyền năng sinh động, (còn gọi là âm dương diệu hoạt,
tương dung và tương phản với vật chất). Theo nhà Phật, gồm các vô sắc
pháp tinh anh, hoàn toàn vô hình (tàng biến), như thần thức, tâm
hồn, linh trường, “vũ trụ hồn” v.v… có nguyên ủy vô biên, vừa ở trong
vừa ở ngoài vạn vật, câu hữu với sự sống thô kệch lẫn vi tế. (Tương
đương với Mạt-Na thức và mặt ngoài của A-Lại-Da thức, trong Duy Thức
học).
4/
Chân pháp uyên nguyên (Paramattha-Abhidhammà), tức là Hằng
không mà cũng là nguyên ủy của hằng có, (vô tương hợp, vô tương khắc,
không phản vật chất, cũng không phải không phản vật chất, không hiếu
động, cũng không phải không linh động), chẳng gồm bất cứ gì, đồng thời
bao trùm vạn pháp, kể cả những cái mà khoa học tiến bộ nhất, có thể nghĩ
bàn và không thể nghĩ bàn. Chân pháp uyên nguyên vừa là “thủy” vừa là
“chung” của không gian và thời gian. Do đó “cực đại” và “cực tiểu” chỉ
là một (tương đương như A-Lại-Da thức, đã được xoá bỏ mặt ngoài lẫn mặt
trong). Nó vốn chân như, vô khởi vọng, vô thức nghiệp, còn gọi là Niết
Bàn nơi tánh Phật).
Rồi
trong sự “đi tới” mà Phật học cho là “không thể không có định hướng” (vì
nếu chúng sinh chưa đủ tiến hoá, để tự biết định hướng, thì nghiệp lực
cũng định hướng thay nó), nghĩa là biến hoá (đi tới) theo “chiều bắt
buộc” (vecteur). Chiều “bắt buộc” ấy chứng minh rằng: khi các chu kỳ vật
lý (sinh diệt) nới rộng, thì tiềm năng di tồn nhiên lực trong một vật
thể (hay “động tử”) được ổn định, hùng hậu, khuếch đại. Ngược lại,
nếu chúng thu hẹp, thì tiềm năng di tồn nhiên lực bị yếu ớt, mất định
hướng, và rối loạn.
Đối
với tâm linh cũng tương tự như thế: Trong các vòng luân hồi biến hóa,
nếu kiếp sống của một động vật (tiêu biểu nhất bằng con người) mà lành
mạnh, thì “chu kỳ tâm thức” của động vật ấy càng ngày càng mở rộng,
thoải mái, tự tại, không xung đột (vô nguyên nhân lo sợ), và dần dần
“tâm thức” ấy sẽ được tiến gần đến phẩm tính Chân Pháp Uyên Nguyên.
Còn ngược lại thì tâm thức trở thành chật hẹp, xung đột, và rơi vào tình
trạng bạc nhược, mờ mịt, thiếu tấn lực.
Nói
cách khác, nếu xuyên qua kiếp tái sinh làm người, mà tâm thức một “nhân
vật” biết tu hành mở rộng, thì linh hồn của “nhân vật” ấy sẽ trầm tĩnh,
tự tại, hạnh phúc, hùng hậu, hướng thượng, và luôn luôn mang trong
A-Lại-Da thức một chủng tử nhắm đến kiếp sau tiến hóa hơn, trường thọ
hơn, thanh khiết hơn, và siêu nhiên hơn.
Quay
lại phương diện “phối hợp lược giải”, để nhắm ngay vào chủ đề tâm
vật của một con người dưới dạng “ ngũ uẩn” (I),
hay dưới dạng “tổng thể lục căn”(II), soạn giả xin trình
bày ngắn gọn như sau:
(I)-
Ngũ uẩn gồm sắc, thọ, tưởng, hành, và thức, có thể chia làm ba
nhóm:
-
Nhóm thứ nhất: Sắc là những vật chất thô kệch (hữu thể lẫn hữu
tướng), như xác thân, đất nước, cây cối, nói chung là mọi vật có khối
lượng, nằm trong hay nằm ngoài cơ thể con người, có thể nhìn thấy được.
-
Nhóm thứ hai: Thọ, tưởng, hành là những vật chất vi tế (vô thể,
hữu tánh và hữu tướng), như tham, sân, si, hay thất tình lục dục v.v… và
những vật chất cực vi, như ánh sáng, bụi trần, không khí, từ trường v.v…
không có trọng lượng và hình thể nhất định, nằm bàng bạc cả trong lẫn
ngoài thân xác sinh hoạt. Người ta chỉ thấy được lúc chúng hiển lộ ra,
và không thấy khi chúng ở trạng thái vô phản ứng.
-
Nhóm thứ ba: Thức là năng lực đối nghịch gián tiếp với vật chất
thô kệch. Nó chỉ câu hữu với vật chất vi tế. Và vì nó vô hình, trừu
tượng, nên nó vô ngại trước mọi thứ vật chất. Thức nói nôm na là tinh
thần con người.
Và
trong tinh thần (hay tâm thức) con người lại có nhiều “tiềm năng” phức
tạp. Vì vậy tiếp theo, chúng tôi xin chuyển qua phương diện tâm
vật của một con người dưới dạng Lục Căn.
(II)-Lục
căn, theo nhà Phật, là sáu cửa ngỏ sinh hoạt của ngũ uẩn, nhờ đó
mà sáu cái biết (lục thức) được thành lập. Còn sáu đối
tượng của sáu cái biết ấy được gọi là lục trần. Vậy để dễ
nhớ hơn, chúng tôi xin kê khai thứ tự như sau:
- Lục căn hay “sáu cửa” trên thân thể con người gồm: 1/Nhãn
căn (cửa mắt), 2/Nhĩ căn (cửa tai), 3/Tỷ căn (cửa mũi), 4/Thiệt căn (cửa
lưỡi), 5/Thân căn (cửa da), 6/Ý căn (cửa ý).
-
Lục thức hay sáu cái biết: 1/Nhãn thức (biết qua con mắt),
2/Nhĩ thức (biết qua lỗ tai), 3/Tỷ thức (biết qua lỗ mũi), 4/Thiệt thức
(biết qua cái lưỡi), 5/Thân thức (biết qua làn da), 6/Ý thức (biết qua
tư tưởng).
-
Lục trần hay sáu trần “cảnh”: 1/Sắc trần (hình dạng, màu sắc),
2/Thinh trần (âm thanh), 3/Hương trần (các thứ mùi), 4/Vị trần (kết quả
của các cảm giác qua lưỡi), 5/Xúc trần (mọi vật đụng chạm), 6/Pháp trần
(hiểu biết, kiến thức do mình, hay do người khác phản chiếu).
Như
vậy, bất cứ một cái biết nào được thành lập, nó cũng phải
là kết quả của sự hội đủ cả ba yếu tố là đối tượng (ngoại
trần), căn thức (hay cơ quan cảm giác), và
tâm thức.
Ví
dụ qua đôi mắt: Khi chúng ta hiểu biết về một người nào, thì trước tiên
phải có hình ảnh của người ấy (sắc trần=đối tượng). Và dĩ nhiên chúng ta
cũng phải có đôi mắt tốt, không bị vật gì che áng (cơ quan cảm giác=nhãn
căn). Đồng thời chúng ta cũng phải có một tâm thức bình thường…thì sau
đó cái biết về hình dạng người ấy qua đôi mắt mới được lập thành.
Với
thí dụ vừa nêu trên về đôi mắt, chúng ta có thể hiểu các trường hợp
khác, như qua lỗ tai, qua cái lưỡi, qua làn da v.v…cũng một cách tương
tự.
Tuy
nhiên, cái biết trong con người, sau khi đã lập thành rồi, thì nó không
dừng ở đó, mà nó còn tiếp tục tư duy, so sánh, ưa ghét, dựa trên những
cái biết cũ… Phật học gọi giai đoạn này là “pháp hành” của Mạt-Na thức,
hay “pháp hành” của thức thứ bảy, tức cái thức nằm sau ý thức.
Mạt-Na thức và ý thức (tức thức thứ bảy và thức thứ sáu) có
thể ví như hai tấm gương phản chiếu lẫn nhau. Chỉ khác ở chỗ là ý thức
(hay thức thứ sáu) được lập thành từ những yếu tố bên ngoài (ngoại
trần), trước khi nó phản chiếu vào Mạt-Na thức và tự phản chiếu nơi
chính nó. Trong khi đó thì Mạt-Na thức chỉ phản chiếu những hiểu biết gì
do thức thứ sáu (hay ý thức) cung cấp, lưu lại.
Hai
tâm thức này làm cho tâm tánh của một người luôn luôn thay đổi, vì ngoại
trần và xác thân đương sự vốn không ngừng biến hóa. Nhưng tất cả cô
đọng, dư quả, từ hiểu biết qua ý thức, rồi chuyển thành tư
duy trong Mạt-Na thức, cuối cùng cũng được Mạt-Na thức “dội vào” trong
một ẩn thức nằm sâu hơn, là thức thứ tám (A-Lại-Da hay
tàng thức), trước khi nó quay lại cùng thức thứ sáu (ý thức), tiếp tục
“chơi trò” tương quan phản ảnh những sự “hiểu biết” khác nữa.
Dư
quả cuối cùng của cái biết này, khác với cái biết đơn thuần với cái biết
lúc đầu, ở chỗ nó kèm theo “dư vị” của cả hai phản ứng
thương và ghét. Hễ thương nhiều thì ghét ít, và
thương ít thì ghét nhiều, vì tình trạng hoàn toàn thương, hay hoàn toàn
ghét, hoặc chẳng thương chẳng ghét, không thể có trong tâm thức của một
phàm nhân.
Thương thì sinh ra chủng tử vui, rồi ôm giữ, tham lam, mắc dính. Còn
ghét thì sinh ra chủng tử buồn (hay giận), rồi đố kỵ, cũng mắc dính
trong tâm thức. Cả hai sự “mắc dính” ấy hợp thành một tiềm lực tăng
cường cho ba thứ độc, là tham sân si, vốn đã có trong tâm tánh mỗi con
người từ khi mới ra đời.
Khoan nói đến chuyện đi vào môn “Thống kê tâm thức học”
(Abhidhammasangaha) trong nhà Phật sâu rộng mênh mông, mà chỉ nghĩ đến
việc một cái biết bình thường đã có hai phản ứng đối nghịch là thương và
ghét rồi. Một con người từ khi sinh ra cho đến lúc nhắm mắt phải trải
qua bao nhiêu cái biết, đơn giản lẫn phức tạp, do mình thu thập (chủ
quan), hoặc do người khác mang đến (khách quan), thì tổng cộng những cái
biết ấy, đem nhân đôi thành hàng triệu phản ứng, sinh ra vô số vui buồn,
mắc dính trong tâm thức.
Vả
lại, mục đích của người học Phật, không phải là để biết trên lý thuyết,
mà là biết để thực hành. Và trong Tam Tạng kinh điển rất nhiều chỗ, đức
Phật cũng đã trực tiếp hay gián tiếp khuyên nhủ, đại ý nói rằng:
Muốn dứt khổ hãy diệt những nguyên nhân gây khổ. Hay muốn tiến hóa
hãy làm sao tiêu trừ những hạt giống thoái hóa. Hoặc lửa
phiền não có thể bắt cháy ở đâu, thì chúng ta phải canh chừng để
dập tắt ở đó. Đây quả thật là những lời dạy thực tiễn.
Đo
đó, để cống hiến cho quý vị một tổng kết cuối cùng nhắm vào việc
thực hành, xuyên qua những dòng chót này, chúng tôi xin nhắc lại
tóm tắt:
Thiện pháp hay ác pháp trên thế gian, nhà Phật
thường diễn tả dưới các dạng như 1/hình ảnh (sắc đẹp), 2/âm
thanh (nhạc điệu du dương, lời khen, tiếng chê), 3/mùi
hương (dầu thơm, thuốc phiện), 4/vị ngon (cao
lương, mỹ ẩm), 5/tiếp xúc hài lòng (cảm khoái nơi xác
thịt), và 6/ kiến thức cuộc đời. Tất cả ngoại trần
ấy vốn thường xuyên chỉ “vô ra” sáu cửa (lục căn), là mắt, tai,
mũi, lưỡi, làn da, và ý, mà làm cho tâm thức
(Mạt-Na) trở nên tốt hay trở nên xấu.
Như
vậy, muốn cho tâm thức không bị ảnh hưởng xấu vì ác pháp thế gian, chúng
ta phải cảnh giác nơi sáu cửa ngõ (mắt, tai, mũi, lưỡi, làn da, và ý)
ấy, nghĩa là chỉ để cho những thiện pháp duyên theo chúng,
xâm nhập vào làm lành mạnh tâm thức mà thôi, cón ác pháp
thì chúng ta phải tuyệt đối cảnh giác, ngăn ngừa, như canh chừng không
cho lửa bắt cháy vậy.
Ví
dụ như mắt hãy nhìn những hình ảnh lành mạnh, mà không ngó những đồ vật
trụy lạc, tai nên nghe những gì hiền lành mà không chú ý đến các lời
đường mật, nịnh bợ, dèm pha, hung dữ thô lỗ…,rồi mũi, rồi lưỡi, rồi làn
da, rồi ý thức v.v… tất cả luôn luôn chỉ hướng về thiện pháp,
và tránh xa ác pháp.
Tuy
nhiên, các ác pháp vi tế có thể xâm nhập vào cửa ý, để phá
hoại tâm thức, mà chúng ta dù cảnh giác vẫn không hay. Từ đó tư duy của
chúng ta ngấm ngầm bị “nhiễm độc” rồi chúng ta có thể hành động bất
thiện. Trường hợp này đức Phật đã chỉ cho chúng ta ba “địa điểm” mà ở đó
những hành động ác chắc chắn sẽ xuất đầu lộ diện, là thân,
khẩu, và ý.
Kết
quả người tu Phật nhờ biết rõ ba nơi phát sinh tội lỗi (là thân,
miệng và ý), mà tinh tấn áp dụng giới luật để canh
chừng, không cho nó buông lung, hành động sai hoặc ý nghĩ ác. Tỷ như
chúng ta thường xuyên kiểm soát những hành động do thân, do khẩu, và do
ý: Việc nào tốt thì nên làm, còn điều xấu thì nhất định tránh, lời nào
lành thì nói, nhưng lời ác thì phải tự kiêng, hoặc ý nghĩ nào thấp hèn,
thiển cận thì dẹp bỏ v.v...
Trong một đoạn trước, chúng tôi đã kê khai mười điều thiện
và mười điều ác có thể phát sinh qua ba nơi thân,
khẩu , và ý, nếu thấy cần bổ túc đoạn này, mời quý vị hãy đọc lại.
Ngoài ra để lành mạnh tư duy, pháp môn niệm Phật hay tu
thiền trong nhà Phật, cũng vô cùng hữu hiệu. Nó vừa có khả năng tiêu trừ
phóng tâm (nghĩa xằng), vừa thanh tịnh hóa tinh thần một cách rất hữu
hiệu. Thiền học đang được khá nhiều giới tại các nước tân tiến chú ý, và
nó đang trở thành phương thuốc xoa dịu tâm hồn cho mọi
người, sau khi tinh thần họ đã bị những quay cuồng trong đời sống vật
chất. Nhưng đó là một đề tài khác, không thuộc nội dung soạn phẩm này.
Hiện
nay, nơi thư mục Phật học, sách nói về tu thiền cũng khá nhiều. Quý vị
có thể tìm thấy trong hầu hết các ngôi chùa, quốc nội cũng như ở hải
ngoại, những cuốn sách phổ thông, hướng dẫn cách niệm Phật, tu thiền,
tương đối dễ hiểu.
Tuy
nhiên, nếu quý vị muốn biết soạn giả của quyển sách nhỏ bé này, phát
biểu như thề nào về “thiền học”, thì kính mời quý vị hãy tìm đọc cuốn “Nói
Chuyện Thiền”, đã được chúng tôi trình bày dưới dạng những cuộc
đàm thoại, và phổ biến cách nay khá lâu. Tác phẩm này đã được soạn giả
xem lại để bổ túc, và đã tái bản gần đây.
Và
trước khi kết thúc tập sách, nói về “Khoa học và sự tái sinh theo
nhà Phật”, soạn giả xin nhắc lại hai câu Phật ngôn đầu tiên
trong Pháp Cú Kinh (Dhammapàda-Sutta), thuộc phẩm Song Đồi (Yamaka
vagga), tạm dịch như sau:
1-Vạn
pháp do tâm dẫn đầu.
Tâm làm chủ, tâm điều khiển tất cả.
Nếu người hành động và nói năng bằng thiện tâm,
Thì quả lành sẽ theo tâm như bóng với hình.
2-
“Vạn pháp do tâm dẫn đầu.
Tâm làm chủ, tâm điều khiển tất cả.
Nếu người hành động và nói năng bằng ác tâm,
Thì quả dữ cũng sẽ theo tâm, như bánh xe lăn theo chân con bò”.
“Quả
lành hay quả dữ theo tâm…..” trong hai câu Phật ngôn nói trên ám chỉ “nó
chính là bộ mặt của thức tái sinh” vậy!
Thơ: Sự sống từ đâu, và
còn gì sau khi chết?
Vấn
Đời ta không biết xuất nguyên đâu?
Bao kiếp hồi sinh, mấy thưở sầu?
Tam giới
ra vào đà mấy nẻo?
Giờ đây ta lặng giữa hoang dâu.
Lắm lúc ta buồn ta lắng hỏi:
Trần gian ai tạo, lạc hay sầu?
Rồi đây mai mốt, đời ta hết.
Ta còn hay mất, sẽ đi đâu?
Đáp
Vô minh tự khởi, ấy duyên đầu.
Muôn kiếp hồi sinh, vạn nỗi sầu.
Tam giới xuống lên trong nháy mắt.
Sáu đường
quanh quẩn tợ rừng sâu.
Phật ngôn diễn giảng đà rành rẽ:
Trần thế tự ta tạo lạc sầu.
Tuổi thọ hết rồi tùy nghiệp lực.
Nhân nào quả nấy có sai đâu.
TL
PHỤ LỤC
NỀN TẢNG GIÁO LÝ PHẬT ĐÀ: TỨ DIỆU ĐẾ
Kho
tàng văn học Phật giáo gồm 84.000 pháp môn, chia làm ba tạng, là tạng
Kinh (Suttapitaka) (21.000 pháp môn), tạng Luật
(Vinayapitaka) (21.000 pháp môn), và tạng Luận (Abhidhammapitaka)
(42.000 pháp môn). Nhưng nếu đem ba tạng (Tipitaka) Kinh-Luật-Luận
ấy, trình bày một cách cô đọng yếu lược, thì tất cả sẽ không ngoài tổng
đề Tứ Diệu Đế.
Vậy Tứ Diệu Đế là gì? Tứ Diệu Đế là bốn chân lý hay
bốn sự thật (Catu-Ariyasaccàni), phi không gian lẫn phi thời
gian. Đó là bốn hằng pháp vượt ra ngoài các quan niệm
hữu biên, tương đối, tương dung, tương phản.
Hai
từ ngữ “chân lý”, và “hằng pháp”, được dùng
ở đây tuy rất khó diễn nghĩa, nhưng qua đó chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh
sự khác biệt ngụ ý trong tu từ học giữa danh từ “Tứ Diệu Đế”
với toàn thể những danh từ khác, mà nghĩa đen lẫn nghĩa bóng xưa nay vốn
nằm trong định kiến nhị biên, hay ám chỉ tương đối, tương
dung, tương phản. Ví như những từ ngữ thường nghe sau đây: Chân-giả,
phải-trái, thuận-nghịch, có-không, cao-thấp, lớn-nhỏ, trên-dưới,
tối-sáng, đen-trắng, đầu-đuôi v.v….hiện có quá nhiều, không thể kể xiết.
Thực
ra, “ngôn ngữ” ngay từ đầu vốn do loài người ước định theo nhu cầu sự
sống. Chẳng hạn như thưở nguyên sơ, con người ăn uống chỉ đơn giản bằng
đôi bàn tay, và thức ăn được để trên mặt đất hay trên chiếc lá. Nhưng
đến một lúc nào đó, vì tiện nghi sinh tồn, mà bộ óc tự vận dụng, con
người tìm ra một vật có bề mặt lõm sâu, và đặt tên là “cái đĩa”, thì
những vật tương tự về sau đều được gọi là “đĩa”. Rồi một lúc khác, con
người tìm ra những vật có thể kết lại, trùm lên thân thể để chống lạnh,
đặt tên là “chăn”, thì về sau trong ngôn ngữ loài người có tiếng “chăn”
(hay mền) v.v…
Giả
sử ngay từ đầu con người đã gọi vật lõm sâu kia là cái “chăn”, và
trái lại đặt tên cho những vật trùm lên thân thể để ấm là “tấm đĩa”, thì
ngày nay chúng ta phải nói: “Ăn cơm uống nước bằng cái chăn, và ra
ngoài, muốn khỏi lạnh, phải mang tấm đĩa”.
Tương tự như thế, nếu chị Hồng lúc mới sinh ra, được cha mẹ chọn cho tên
“Tú” (thay vì Hồng), thì bây giờ là “chị Tú”. Và anh Tú, nếu được cha mẹ
đặt tên lúc chào đời là “Hồng”, thì bây giờ người ta phải gọi là “anh
Hồng”. Như vậy “Hồng” hay “Tú” chỉ là cái tên “tạm đủ duyên hợp thành” ở
một thời gian nào đó.
Từ
các tiếng “chăn”, “đĩa”, “Hồng”, “Tú” điển hình trên đây, chúng ta có
thể lùi thời gian quay lại lúc con người mới bắt đầu phát được tiếng
nói, để suy ra hàng triệu âm thanh khác nhau, cũng một cách ước lệ
tương tự, nghĩa là không có tiếng nào là có nghĩa gốc tuyệt đối
cả. Khi cần thì người ta phải dùng, nhưng nó không có chân nghĩa
nhất định.
Nói
tổng quát: Tuởng tượng một con người hay một đồ dùng, rồi phát âm thành
tiếng, “mệnh danh” cho nhân vật hay đồ dùng ấy (tức thành lập
ngôn ngữ) khi còn trong ý nghĩ, hay được thực hiện ra đồ vật, vốn chỉ là
những “chiêu cảm theo nhu cầu hoàn cảnh”, nên nó nằm hẳn
trong nhị biên tương đối, Phật giáo gọi ấy là pháp chế định
của tâm và vật.
Vả
lại, mọi vật và từ ngữ chế định ấy trước kia không có, và tuy hiện tại
nó có, nhưng trong tương lai nó sẽ biến mất. Chu kỳ từ
chiêu cảm đến thực hiện, từ thực hiện đến tồn tại (chế định), rồi từ tồn
tại (chế định) đến biến mất, đã để lại trong tâm thức con người một
chuỗi nhiễm tật vì hoàn cảnh gọi là
thói quen, hiểu biết tích tụ xoay chiều tùy
điều kiện, hay định kiến song đối.
Thử
nêu vài trường hợp hiểu biết xoay chiều, hay thói quen định kiến song
đối, trong ngôn ngữ và quan niệm, của con người, như người quen cầm bút
tay mặt, thì nghĩ tưởng và đặt đề là tay mặt thuận hơn tay
trái. Hay người thích cầm bút tay trái thì in trí ngược lại,
tay trái thuận hơn tay mặt. Ở Anh quốc thì ưu tiên lưu thông xe cộ
bên trái, nhưng ở Pháp thì bắt buộc phải chạy phía bên phải.
Hoặc
trong đời sống hàng ngày: Người “duy vật” thì cho sự dùng sức mạnh để
phục vụ xác thân là một điều tự nhiên và cần thiết, nên biện luận
rằng “trời đất sinh ra, mạnh được yếu thua, ưu thế làm chủ yếu thế,
hay cá lớn ăn cá bé, sinh vật xuất hiện trên đời là để nuôi dưỡng lẫn
nhau v.v…” (?) rồi họ tự do hiếp đáp đồng loại kém sức hơn mình, hay
sát hại muôn loài để tiêu thụ, xem thế là hành động “hợp lý”, quân bình
“dân số” sinh vật trên mặt đất, chứ không có gì là tàn ác.
Còn
người “duy tâm”, lại tin tưởng rằng “các vật này có tánh linh, các vật
khác thì không”, và nghi lễ bùa chú có thể “linh thiêng hóa” các tôn
vật, rồi họ luôn luôn cúng kiến, sùng bái, bảo vệ những tôn vật đó, để
sẵn sàng tiêu diệt bất cứ ai dám vi phạm đến tôn vật, tín ngưỡng của họ.
Đối với họ, muốn có “đạo đức” là phải luôn luôn trung thành với thần
linh, xả thân với tôn vật, để dược đấng siêu hình kia phong cho, chứ
“đạo đức” chẳng phải do con người tạo ra, nên họ tuyệt đối hành động
theo “phán quyết” không cần giải thích, của đấng siêu hình, và cho đó là
điều “tự nhiên”.
Lại
cũng có người khác hẳn với hai thành phần nêu trên. Hạng thứ ba này tính
tình ôn hòa, ý thức thanh tịnh, nghĩ rằng: “Ỷ đông hiếp ít, ỷ mạnh
hiếp yếu, là một điều thấp hèn ” hay “Tước đoạt sự sống của bất
cứ sinh vật nào, vì bất cứ lý do gì, cũng đều làm cho bản tâm hung bạo,
thoái hóa, mất dần đức hiếu sinh, tự làm cho tâm thức suy vi. Biết mọi
động vật đều muốn sống, sợ chết như mình, mà mình vẫn ích kỷ, tham lợi,
rồi kết thúc một hay nhiều mạng sống… là một hành động phản tiến hóa”.
Họ là hạng người lấy sự lành mạnh nội tâm làm đối tượng, chứ không đối
chiếu với kẻ khác (ngoại cảnh), nên “kiến chấp” của họ có thể tránh đựơc
sự xung đột với xã hội (nhị biên).
Ngoại trừ hạng người thứ ba ra, xưa nay lối tư duy nhị biên song đối
(Dualisme), hay suy luận hai chiều tương phản nhau, dựa trên hiện tượng
“tự nhiên” (đôi bên nghe qua đều “có lý” cả), như hai loại người “duy
vật” và “duy tâm” , lúc nào cũng “thịnh hành”. Nên cái mà người ta
thường gọi là “sự thật”, “đạo đức” hay “lẽ phải”,
thường cũng chỉ tương đối. Nghĩa là một điều có thể “đúng” hay “hợp đạo
lý” theo lối tư duy này, thì lại rất có thể “sai” hay “trái đạo lý” dựa
trên lối tư duy khác!
Đây
chính là lý do mà chúng tôi đặc biệt lưu ý quý vị khi tìm hiểu về “Tứ
Diệu Đế”, cần nhớ rằng: “Tứ Diệu Đế” trong nhà Phật
không phải là cái lý lẽ xoay chiều, vừa đúng vừa sai, tùy lúc, tùy nơi,
hay tùy điều kiện, như thế. Nói rõ hơn, là Tứ Diệu Đế trong
nhà Phật thật không nằm trong nhị biên thành kiến của ngôn ngữ con
người.
Bởi
nhị biên thành kiến mà con người lầm lạc, mắc dính trong
đối chiếu, biện bác, nên tự cảm thấy mình cao hơn người, hay người cao
hơn mình, hoặc cái này “bằng” cái kia, hay cái kia “kém” cái này, loay
hoay mãi với những “lý lẽ” chế định vừa chênh lệch, vừa hai chiều, đúng
và sai v.v…
Ngay
cả trong lãnh vực “tôn giáo”, người tu vốn xem tiêu chuẩn khiêm
nhượng là đạo đức hàng đầu của sự đối đãi, mà
không khéo vẫn còn vướng phải, huống chi ngoài thế tục. Rồi cả hai “đối
tượng” ấy không ngừng lý luận, viện dẫn, hăng hái đề cao mình, bài bác
người, nên xã hội càng lúc càng xung đột, chia rẽ, đảo điên, và nhân tâm
càng ngày càng đau khổ.
Mục đích của đạo Phật là giải khổ, và sau cùng diệt
khổ, đương nhiên giáo lý nhà Phật không thể nào liên
quan đến cái cố tật chấp nhứt, đóng khung đó. Chữ Phạn trong kinh
Phật gọi các pháp chế định, nhị biên tương đối thuộc thế gian ấy là “Pannatti
sacca”, tạm dịch là tục đế. Và (chữ Phạn) gọi
Tứ Diệu Đế mà chúng tôi mạo muội trình bày ở đây, là “Paramattha
Sacca”, tức chân đế.
Tục đế thì mang nghĩa lý chế định xoay chiều, có điều kiện,
và xuyên qua hoàn cảnh mâu thuẫn với chính nó. Thậm chí chúng tôi sợ
rằng, qua ngôn ngữ tục đế, người ta “càng nói càng xa sự thật”. Còn chân
đế thì lời lẽ dù thận trọng, “cân nhắc chính xác” đến đâu, cũng chỉ “vừa
đủ” để “tạm hiểu”, chứ nó không thể là tiêu chuẩn của chân đế. Ngôn ngữ
càng chẳng phải là phản ảnh của chân đế.
Nhưng khi cần, người ta bị bắt buộc phải dùng ngôn ngữ để “thông tri”,
chia sớt cái “tạm hiểu” cho nhau, vì ngoài nó không còn phương tiện phổ
thông nào khác. Hay như soạn giả đã thưa trong “vài lời nói đầu”,
là “hãy giữ ý quên lời”. Những gì chúng tôi trình bày ở
đây nếu quý vị cảm thấy “hữu dụng”, thì dùng nó bổ túc cho sự suy nghĩ,
ngược lại hãy quên nó đi. Như vậy tốt hơn là lấy nó làm “xung đột” với
định kiến của quý vị.
Bây
giờ xin thành tâm thứ tự vào đề:
*Thứ
nhất Phật giáo nói về Khổ Đế (Dukkha Ariya-Sacca),
tức là nói về toàn bộ những cảm giác bất thuận tiện, như là một
thực trạng khổ. Thực trạng khổ này luôn luôn có mặt trong đời
sống mọi sinh vật, và rõ ràng nhất là trong đời sống nhiễu nhương, đa
dạng của con người.
Sự thật (khổ đế) ấy không tùy thời gian, không tùy không gian
(hoàn cảnh), cũng không tùy hình thức lớn nhỏ, thấp cao, hay tùy trình
độ tiến bộ nào hết. Thời còn ăn lông ở lỗ thì con người đã có những cảm
giác bất thuận tiện của thời ăn lông ở lỗ. Rồi ngày nay văn minh tân
tiến thì nhân loại vẫn có những cảm giác bất thuận tiện của thời đại
khoa học, nhiều khi còn nhiều hơn, phức tạp hơn, tinh vi hơn là đằng
khác.
Thực
trạng cảm giác bất thuận tiện, hằng hiện hữu nơi thân xác, và trong tinh
thần của mỗi con người. Không một xã hội hay cá nhân nào trên cõi đời,
mà lại cho cái khổ sở vì cảm giác bất thuận tiện ấy (dù
nhỏ hay lớn) là hạnh phúc cả. Lý do chỉ vì nó là một hằng lý,
hay một khổ đế, một sự thật. Sự bất toại
nguyện ấy vượt khỏi tính lạc quan hay bi quan của nhân loại. Nó nằm sẵn
trong mọi tác ý (tốt lẫn xấu) của mỗi cá nhân.
Thử
nêu một ít cảm giác bất thuận tiện tiêu biểu thông thường
(đối với con người còn gọi là bất toại nguyện) trong đời
sống hằng ngày, như muốn khoẻ mạnh mà vẫn ốm đau, muốn trẻ mãi mà vẫn
già nua, xấu đi, muốn giàu sang mà vẫn nghèo cực (ngay cả người đã có
thật nhiều tiền rồi mà vẫn cảm thấy mình ít hơn kẻ khác, nghĩa là thua
kém), muốn học giỏi mà tâm trí cứ tối tăm, muốn có mưa trời lại nắng,
muốn đoàn tụ với người thương thì bị chia ly, muốn không thấy mặt kẻ
ghét thì lại gặp hoài, muốn được khen thì bị chê, muốn đầy quyền hành
trong tay, thì vẫn có người uy lực cao hơn mình v.v…
Trước đệ nhất khổ ấy, nếu ai biết cảnh giác
giảm thiểu, đừng để cho “cảm giác bất toại nguyện” hằng ngày ảnh hưởng
nhiều đến mình, là họ tạm thời bớt khổ rồi, khoan nói đến chuyện học
hành Phật giáo sâu xa. Huống chi đạo Phật ngày nay tương đối có nhiều
kinh sách, giảng giải khá rõ ràng, luôn cả các pháp môn thực dụng, chứ
không phải như thưở trước, thiếu phương tiện nghiên cứu, tránh được tình
trạng xưng mình con nhà Phật, mà không hiểu gì hết.
Theo
Phật giáo, ai thường xuyên ý thức được sự thật bất toại
nguyện ấy như là một thực trạng phải có (khổ đế) của kiếp
người, rồi an tịnh, thản nhiên đối diện, và tu thân để giảm thiểu, hay
dập tắt mọi cảm giác bất toại nguyện, thì kẻ ấy là bậc tỉnh thức.
Họ nhất định không phải là kẻ bi quan, chạy trốn thực tế (hay đổ thừa xã
hội) như một số người lầm tưởng. Hay đúng hơn, họ mới
chính là sinh vật có bản lĩnh làm người, đủ sáng suốt,
can đảm và xứng đáng với từ ngữ lạc quan. Rồi phẩm cách tự tại,
lạc quan đó cũng không làm cho họ mù quáng mắc dính với ngay cả cái khả
năng giải trừ những bất toại nguyện của họ.
*Thứ
hai Phật giáo nói về Tập Đế (Samudaya-Ariya-Sacca),
nguyên nhân của khổ đế. Nguyên nhân này chính là lòng tham.
Nó là động cơ của tất cả ước muốn, dẫn đến không ít thì nhiều
cảm giác bất toại nguyện, hay nguyên nhân của vạn thứ khổ đau chằng
chịt. Từ lòng tham rồi mắc dính, đứng đầu là mắc dính bản ngã (hay ngã
sở), tức ôm chặt cái “ta” giả hợp, mà nhân loại nói riêng, muôn
loài chúng sinh nói chung, phải vất vả, xung đột, đảo điên luân hồi, rồi
không ngừng thèm khát một đời sống “thiên đường” trường cửu, “cố định”
trong một bản chất thường biến.
Lòng
tham vốn biểu hiện dưới muôn hình vạn trạng, lộ liễu lẫn vi tế. Nhưng có
một số ngoại tướng có thể nhìn thấy được, như tham tiền bạc tài sản,
tham danh vọng, tham những gì của mình vẫn quý trọng hơn những cái tương
tự của người (con mình thì giỏi hơn con người, tư tưởng của mình thì
đúng hơn, hay quan trọng hơn tư tưởng của người), tham quyền lực, tham
pháp thuật, tham sắc đẹp, tham âm thanh, tham vị ngon, tham xúc cảm,
đụng chạm vừa lòng v.v….
Và
ngay cả khi lòng tham đang nung nấu mà không được toại nguyện, thì lòng
tham liền đảo ngược bộ mặt, thành ra không thèm gì hết. Nó
lập tức khoác lên cái bề ngoài giả hiệu, là tham vô chùa tu, tham cầu an
trước người khác, tham được yên thân, tham đừng ai đụng đến mình, tham
“từ bi hỷ xả” bỏ qua mọi chuyện, tham né tránh, tham chạy trốn vào tư
tưởng bi quan yếm thế, tham tự an ủi mình bằng những nghi lễ mê tín cúng
bái, tham xuôi tay mặc kệ, tham chấp nhận ra sao cũng được, tham tới đâu
thì tới, dù cho tận diệt v.v… (?)
Nói
tóm lại, lòng tham chứa một lúc cả hai xung lực nguy hiểm
là “tích cực” lẫn “tiêu cực”. Hai xung lực này hằng cột trói tâm thức
một cách dai dẳng và cứng ngắc vào hai tình trạng có và
không (chấp hữu và chấp vô). Đây chính là lý do mà đa số phàm
nhân thường nghĩ rằng: Các bậc giác ngộ trong đạo Phật “diệt được” lòng
tham, tức là trở thành “chán đời”, không thiết gì hết (?)!- Sự thật các
thánh nhân trong nhà Phật, khi chứng đắc thánh quả (giải thoát), chính
là các Ngài đã hoàn toàn độc lập (một cách tự tại) trước
lòng tham, không còn bị lòng tham chi phối (dù cho vi tế), chứ các Ngài
không phải đã “giết chết lòng tham”, như người ta tưởng tượng.
Vì
Phật giáo vẫn phân tích một cách ẩn dụ rằng: Xác thân còn sống (‘tượng
trưng’ cho lòng tham), ví như con ngựa, và tinh thần trong xác thân ấy,
ví như người cỡi ngựa. Cả hai (người và ngựa) là một tổng hợp, phải
“hành trình” làm sao cho ít bị sa đoạ nhất, xuyên qua một kiếp luân hồi.
Như vậy người kỵ mã sáng suốt (giác ngộ) là kẻ tỉnh thức,
có bản lĩnh độc lập, biết chỉ huy con ngựa, giữ cho nó thường xuyên lành
mạnh, thuần thục, và đối xử cứng rắn, lúc bị nó làm khó dễ, chứ kẻ ấy
không phải là người chủ trương giết ngựa, vì giết ngựa là hiếu sát, chạy
trốn, thiếu can đảm, tự cắt cụt con đường hành thiện, tiến hóa của mình.
– Và nhờ tinh thần độc lập, tự tại, mà người
kỵ mã sẽ thanh tịnh, thản nhiên từ giã, khi con ngựa đã già nua kiệt
quệ, không còn sức đồng hành, rồi trút hơi thở cuối cùng.
Theo
đạo Phật, độc lập với lòng tham cũng không có nghĩa là lười biếng,
nhu nhược trước ác pháp (hay khó khăn), chẳng làm gì hết. Vì
lười biếng, nhu nhược, chẳng làm gì hết là một bộ mặt khác của
lòng tham. Nó giết chết duyên tiến hoá trong lý nhân quả, chôn vùi
tính sáng tạo, và làm bại liệt trí tuệ. Nhưng rất tiếc có một số người
hiểu lầm đạo Phật, cho rằng dẹp lòng tham là không nên làm gì hết, hay
chỉ sinh hoạt đủ ăn, rồi ở không, dành thì giờ cho việc “tịnh tâm”, hay
suy nghĩ vẩn vơ đến những “triết lý cao siêu” của tôn giáo. Nghiêm trọng
hơn nữa là họ cho như vậy là “tu thiền”.
Sự
thật, sống theo Phật giáo hoàn toàn trái ngược với chuyện
đó. Câu nói “Nhàn cư vi bất thiện” tuy không phải là châm ngôn
gốc đạo Phật, nhưng trong kinh Pháp Cú (Dhammapada), nhà
Phật đã có kệ ngôn thứ 43, chẳng những gián tiếp mang ý nghĩa tương tự,
mà nó còn nói lên tính năng động, chuyên cần tuyệt vời của một
Phật tử xứng đáng. Soạn giả mạn phép thoát dịch thành vần như
sau, để cống hiến quý vị:
Chẳng cần ai cứu độ. Bất thối làm việc lành.
Đêm ngày xây bè ngộ. Nào ngán bể trùng xanh.
Chính đức Phật khi còn tại tiền đã không ngừng khiển trách những nhà sư
lười biếng.
Đúng
ra, kẻ nhận mình con nhà Phật, là kẻ phải sinh hoạt siêng năng,
làm lành không thối chuyển, cho người lẫn cho mình, trên tất cả phương
diện để tiêu trừ tội lỗi, tật xấu, ác pháp qua ba nơi
thân, khẩu, và ý, của cá nhân lẫn của cộng đồng, trong đó có tiêu
trừ lười biếng, và tưởng tượng viễn vông, được đặt lên hàng đầu.
Vả lại, tu thiền trong đạo Phật là một công phu, đòi hỏi sự tinh tấn
vượt bậc, chứ không phải chỉ là cái “mốt” bề ngoài để trang trí, làm cho
xung quanh chú ý mình là người tu hành.
Mặt
khác, hành thiền theo Phật giáo, là áp dụng
một nghệ thuật sống hướng nội, triệt để và lành mạnh, cho
tâm thức lẫn cho thể xác, bao gồm cà 4 oai nghi
(đi, đứng, nằm, và ngồi) trong sinh hoạt hàng ngày, và tới một kỷ luật
khoa học, nghiêm túc, hợp lý, do hành giả hiểu rõ, rồi tự nguyện gìn
giữ, chứ không vì háo danh bắt buộc. Nghệ thuật sống thanh tịnh ấy cũng
chẳng phải đơn giản là ngồi im, nhắm mắt, mật niệm một danh hiệu nào đó,
đồng thời với những nghi lễ, có động tác “bắt ấn” v.v…
Nói
cách khác, là đối với người Phật tử, thiền đạo có thể thực dụng ở
tất cả mọi nơi, như trong chùa, ở nhà, tại sở làm, hay giữa
những cuộc họp mặt, gia đình lẫn cộng đồng. Ngoại tướng của thiền đạo là
vẻ trầm tĩnh, chính trực, tự tin, sáng suốt, hiền hòa, tươi tỉnh, đâu ra
đấy, và không kém phần linh động. Phản lại với sự “trịnh trọng”, chậm
chạp (vì lười biếng), do dự, của những “người tu” nặng về hình thức, mà
trong tâm vốn chứa đầy dò dẫm, dụng ý, lo lắng…
Về
phương diện tích cực, từ gia đình cho đến xã hội, những người ở vai trò
chỉ huy (hay chịu trách nhiệm) một đơn vị sinh hoạt, hoặc một cơ cấu
quốc gia, mà biết sống với thiền đạo, là những người có khả năng thực
hiện nhiều kế hoạch đề ra một cách tốt đẹp. Rồi khi gặp “sóng gió” họ
cũng đủ sức lèo lái tổ chức vượt qua cơn ngặt nghèo, mà không phải đòi
hỏi nhiều hy sinh, của nhiều cộng sự viên.
Quay
lại Tập Đế: Lòng tham của những con người lười biếng,
ích kỷ, nhu nhược, tuy nằm dưới lớp sơn ngụy trang “tiêu cực”, mang
cái mặt nạ “chán đời” như thế, nhưng đó chỉ là khi các điều kiện chưa
hội đủ, để cho lòng tham được thoả mãn (hay chính nó bất lực), thì nó tỏ
ra “không thèm” gì hết, hầu đánh lừa những người xung quanh. Giả sử nếu
khi ấy hoàn cảnh thình lình thay đổi, thuận tiện cho lòng tham, thì nó
lại bộc lộ mạnh bạo như thường. Đây cũng chính là lý do mà những cựu
phạm nhân, sau khi ra khỏi nhà tù, đã tỏ ra thành công dân “tốt” một
thời gian khá dài, rồi bất thần phạm tội trở lại, trước sự ngạc nhiên và
tiếc rẻ của những người xung quanh.
Về
phương diện tư duy, bản chất của lòng tham dựa trên tư lợi, có thể cột
chặt tư tưởng một người theo định kiến hữu hình của thế gian. Nên duy
tâm đối với họ là một lợi lộc “thiêng liêng”, mà một siêu quyền “phải”
ban thưởng cho niềm tin. Nếu họ “hết lòng” tin tưởng vào một
thánh linh nào đó, rồi “mong cầu được phát đạt hiện tại,
và hạnh phúc vĩnh viễn trên thiên đàng trong tương lai (thường kiến),
mà không được”, thì lòng tham liền quay qua phản ứng đối nghịch,
khiến họ bất mãn, tư duy ngược lại, rồi không tiếc lời phủ nhận, hay phỉ
báng những giá trị tâm linh, viện lẽ là không có thật, và từ đó họ trở
thành cực đoan duy vật (đoạn kiến).
Người cực đoan duy vật tin rằng “chết là hết, giá trị của cuộc đời chính
là hưởng thụ tối đa, bằng mọi giá, tất cả những lạc thú trong cuộc
sống”. Tội hay phúc vốn là các vấn đề đặt ra cho lắm chuyện mà thôi. Chỉ
có luật “mạnh được yếu thua, khôn nhờ dại chịu” là một
thực tế vĩnh viễn, chứ không có phải trái gì cả (?) Hay
phải trái, chỉ là nguyên nhân của mọi xung đột. (?)
“Túi
tham không đáy” vẫn là một đề tài vô tận, để hàng triệu tư tưởng
gia suốt lịch sử nhân loại viết ra rất nhiều pho sách khác nhau, đề cập
đến vô số cảnh đời ngang trái, đau khổ, qua bao nhiêu vòng chuyển biến
thịnh suy, đổi thay, thăng trầm, khứ hồi theo chu kỳ
thành-trụ-hoại-không, chiến tranh, hòa bình, vinh quang, nhục nhã,
tiến bộ, dã man v.v…Tất cả chỉ là những hậu quả tương ứng khác nhau, của
nguồn gốc tham vọng.
Tuy
nhiên, về phương diện cá nhân và xã hội, lòng tham vốn vừa là động
cơ vừa là đối tượng (tốt cũng như xấu). Nếu xưa
kia vì ước mơ một đời sống tiến hóa, con người đã học hỏi, nghiên cứu,
thực nghiệm, tìm tòi ra các nền văn minh, thì ngày nay vì sự say mê
hưởng thụ, và tranh giành làm chủ những sung túc vật chất tân tiến ấy,
con người không khéo cũng có thể vì tham lam, nóng giận, tối tăm lầm
lẫn, hành động tàn ác, để cho tâm thức nhiễm lại tánh dã man thời thượng
cổ.
Túi
tham của con người theo “Tâm Lý Học” trong Phật giáo (Ahidhammasangaha)
chính là nguyên nhân của vô số vọng tưởng, chiêu cảm, biến đổi cuộc đời
ra thiên hình vạn trạng, vừa hội tụ vừa phân tán, vừa xung đột vừa tương
duyên, cấu kết giao thoa lẫn lộn, tạo thành một “hỗn thể”, chủ quan trá
hình với khách quan, mà trí thông minh cao nhất của con người, nếu chưa
chứng đắc thánh lưu, hướng đến Phật quả, vẫn không thể nào phân biệt
được!
Như
trên đã nói, theo Phật giáo túi tham cũng có thể ví như một con ngựa
chứng, nếu chúng ta biết thuần thục, chỉ huy, hướng nó về nẻo thiện
(tham làm lành, tham phúc đức, với sự sáng suốt), thì nó có thể thuần
thục, đưa chúng ta đến gần bìa rừng sinh tử luân hồi. Ngược lại, nếu
chúng ta buông lung, để cho nó tự do, lôi kéo chúng đi đâu cũng được,
thì chúng ta chắc chắn bị nó kéo sâu vào vòng vô minh, sẽ lâm vào cảnh
khổ!
*Thứ
ba Phật giáo nói về Diệt Đế (Nirodha
Ariya-Sacca). Đây là phẩm viên mãn, dứt khổ, một cứu cánh tuyệt
tịnh, không còn bị vòng sinh tử luân hồi, đầy “nhân-duyên-quả” chi phối.
Viên mãn dứt khổ ấy là một sự thật siêu việt
(Ariya-Sacca), vì “nó” hoàn toàn nằm ngoài túi tham, tách rời khỏi kiến
chấp vọng tưởng, xa lìa hẳn sân-hận-si-mê, và nhất là không còn mắc dính
với phẩm vị, hay bất cứ phúc lộc, quả lành nào nữa, dù là hạnh quả cao
nhất trên thiên giới.
Bậc
giải thoát ở trình độ này dĩ nhiên không còn ác tính. Và khi chưa hết
tuổi thọ, đang sống thanh tịnh trên cõi đời, tất cả hành vi của các Ngài
đều thuộc về động tác vô ký, nghĩa là các Ngài cư xử hiền lành, tươi
tỉnh như một thói quen (nhà Phật gọi là thiện thục=Kuasala kamma), chứ
các Ngài không còn tư lậu, phân kiến, chấp rằng: “đời sống đức hạnh
là tốt, cần thực hành cho có phúc, hay để về sau hưởng lạc”. Từ đó,
trong tâm tư các Ngài, không có vấn đề mình hiền lành, cao thượng hơn
người.
Chư
hàng thánh nhân, như Tu-Đà-Hườn đạo, Tu-Đà-Hườn quả, Tu-Đà-Hàm đạo,
Tu-Đà-Hàm quả, A-Na-Hàm đạo, và A-Na-Hàm quả, là sáu biểu tượng cao
siêu của Diệt Đế tương đối. Còn ba bậc thánh nhân sau cùng là A-La-Hán
đạo, A-La-Hán quả, và Toàn-Giác-Phật là ba biểu tượng của Diệt Đế Vô
Thượng. Đạt tới Diệt Đế Vô Thượng tức là không còn tâm thức hữu biên,
để còn so sánh, phân biệt bảo rằng: “Cõi giải thoát là hạnh phúc
cao nhất, trong tam giới không đâu bì kịp...” hay “Ở cảnh
Phật phúc lộc hưởng hoài không hết v.v…” kiểu khao khát, mắc
dính với hạnh phúc “trường cửu” mà phàm nhân thường mơ ước, tưởng tượng
ra. Chưa kể nhiều “đạo trưởng” còn mơ tưởng dồi dào hơn nữa, rồi đặt
chuyện hoang đường, nào là họ đã xuất hồn lên thiên đàng, lên cõi Phật,
gặp được tiên, thánh v.v… và “thấy” các cõi ấy tinh anh, đẹp đẽ vô
cùng….(?)
Nói
cách khác là những gì nằm trong phạm vi của túi tham đều dựa trên vật
chất, và thuộc về chiêu cảm, biến hiện hữu hạn, mơ mộng, và tưởng
tượng… vốn nó tự lồng trong ý thức nhân giới (chứ chưa chắc đã đúng theo
thiên giới), nên phải có bắt đầu, và phải có chấm dứt,
tức là có tuổi thọ và còn rất nhiều bất toại nguyện. Còn
phẩm tịch tịnh của chư thánh A-La-Hán và chư Phật, thì như nhiên, nằm
ngoài tam giới, không có bắt đầu và không có chấm dứt, nên chẳng có cái
gì trong tam giới (trời, người, và đọa cảnh), có thể tương đương, để so
sánh làm bằng chứng được.
*Thứ
tư Phật giáo nói về Đạo Đế
(Nirodhagàminì-Patipadà-Ariya-Sacca). -Tức là con đường thật
dẫn đến dứt khổ, thoát khỏi sinh tử luân hồi. Con đường này còn
gọi là Bát Chánh Đạo (Atthangikamagga), gồm tám nấc thang đưa
hành giả qua khỏi ba hố luân hồi: thiên giới, nhân giới,
và đọa giới.
Bát
chánh đạo chính là biểu tượng thực dụng của Phật giáo. Trong đạo
Phật không có vấn đề thuộc rành kinh kệ và chủ trương cúng bái đúng
nghi lễ trước bàn Phật là sẽ được giải thoát, mà chủ yếu là phải
thực hành một cách không thối chuyển lời Phật dạy. Sự thực hành
ấy chính là sống đạo, sống đúng theo thiện hạnh hằng ngày
hằng giờ, và tạo nên thuần thục nơi thân khẩu ý, mới là mở
đầu con đường giải thoát.
Đức
Phật khi còn tại thế đã luôn luôn từ chối việc dùng giáo lý để thỏa mãn
khao khát kiến thức con người. Ngài chỉ dùng đạo Phật để
soi sáng chúng sinh, giúp nhân loại giác ngộ, tu thân, diệt khổ.
Những kẻ nhờ phúc đức lưu lại từ tiền kiếp, mà hiện tại “thông minh”,
nhớ nhiều và hiểu được giáo lý sâu sắc dễ dàng, rồi bị ngã kiến che áng,
tưởng “mình hiểu nghĩa kinh Phật và chuyên cần tụng tán, là tự nhiên
được siêu sinh, giải thoát, không cần thực hành” (?). Có ai
hỏi thì ngụy biện bảo rằng: “Phật tại tâm v.v…”. Kinh Phật gọi những
hạng người này là nạn nhân của bệnh “sở tri chướng”, vì kiến thức của họ
đang khiến họ càng ngày càng đi xa mục đích diệt khổ mà họ không biết.
Bát
Chánh Đạo hay con đường trong sáng, tiến hóa ấy có 8 nấc thang làm nền
tảng cho nhau là:
1/
Chánh kiến (Samà Ditthi), thấy hiểu đúng sự thật.
Thấy hiểu đúng sự thật ở đây ám chỉ nhận thức thanh tịnh, chân chính,
hợp lý, và vô ngại. Sự hiểu biết đúng ấy có được, chẳng những nhờ ngũ
quan cảm giác lành mạnh, mà nó còn là kết tụ của thân khẩu ý trong sạch,
sáng suốt, xuyên qua trí tuệ thanh tịnh, không bị một tiền kiến, thiên
lệch, hay chấp trước nào chi phối,. Theo kinh điển chữ Phạn, thì
chánh kiến gồm 4 chi, là: 1/tin nhân (bất cứ cái
gì cũng có nguyên nhân), 2/tin quả (hành động hay nhân nào
cũng có hậu quả), 3/tin biệt và cộng nghiệp,
tức nhân hợp với quả, phát xuất từ một hay nhiều chúng sinh nào, là
nghiệp tái tạo hữu hiệu của một hay nhiều chúng sinh đó, và 4/tin
Phật là bậc đã giác ngộ, giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.
2/ Chánh tư duy(Sammà Sankappo), suy tưởng đúng đắn. Đây là
thành quả, phản ảnh của nấc thang chánh kiến. Vì không có chánh kiến,
thì không thể có chánh tư duy được. Ví như người đứng không thẳng, và
không có ánh sáng, thì cái bóng của họ trong gương, chẳng thể nào ngay
thẳng và thấy rõ. Chánh tư duy là nền tảng của thông thái, của soi sáng
niềm tin, và của những tiến trình hướng thiện. Chánh tư duy là mẹ đẻ ra
các nền luân lý, văn minh vật chất lẫn tinh thần. Nếu mất chánh tư duy,
loài người sẽ mất đi khả năng triết học, khoa học, và xã hội học, quay
lại tình trạng thiển cận, ngu si, dã man, sống trong thoái hóa, và tự
động tiêu diệt lẫn nhau.
3/ Chánh ngữ (Samà Vàcà), nói lời ngay
thật, hồn nhiên, chẳng dụng ý, vô ác tâm. Đây là một hành động phát ra
từ cửa miệng của con người. Chánh ngữ phản ảnh trung thực hai nấc thang
đi trước, là chánh kiến và chánh tư duy. Nghĩa là một người không thấy
hiểu đúng đắn, và không suy nghĩ chân chánh, thì không thể nói lời ngay
thật được. Lời nói chính là mối dây liên lạc, để trao đổi với nhau mọi
tin tức, nhu cầu trong đời sống con người. Nhờ sự trao đổi ấy mà tất cả
những hiểu biết, và định hướng liên đới của nhân loại, mới càng ngày
càng xác thực, ăn khớp, và hữu dụng. Nếu không có chánh ngữ trong lời
nói, thì sự trao đổi tin tức, “kiến thức” qua cửa miệng kia, chỉ là
những âm thanh đối đáp theo bản năng động vật. Tác dụng của nó sẽ trở
thành ít hữu dụng và nhiều nguy hiểm.
4/ Chánh nghiệp (Sammà Kammanto), là không có
ác quả trong hành động thường xuyên (cũng gọi là nghề nghiệp), tức là vô
hại đối với muôn loài. Theo nhà Phật, chánh nghiệp ở đây, ngoài việc ám
chỉ hành động nghề nghiệp chân chánh, nó còn ám chỉ tất cả những động
tác thiện (kusala-kammà), từ thân và tâm của một người. Nhưng những hành
động trong nghề nghiệp, vẫn được xem là quan trọng hơn hết, nên khi nói
đến “chánh nghiệp”, người ta nghĩ ngay đến các thói quen minh bạch thuộc
về sinh kế. Tóm lại, chánh nghiệp bao gồm tất cả hành động tốt từ thân,
từ khẩu, và từ ý của một cá nhân. Cũng giống như chánh ngữ, người không
có chánh kiến, và không có chánh tư duy, thì không thể có chánh nghiệp
được.
5/ Chánh mạng (Sammà-Àjìvo) là nuôi mạng theo đúng thiện
pháp. Đây là một nấc thang có liên quan về hình thức lẫn nội dung,
đến bốn nấc thang đi trước (là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, và
chánh nghiệp). Chánh mạng hay nuôi mạng chân chánh ở đây
ám chỉ tất cả những gì cần thiết (cho sự sống thể xác của một người),
cần được hợp pháp và vô hại, đối với mọi sinh vật khác. Những vật chất
tiêu biểu, như cơm áo, nhà cửa, thuốc men, phương tiện di chuyển v.v…
phải luôn luôn minh bạch, nghĩa là do nghề nghiệp hợp pháp tạo ra, chứ
không phải do sát sinh, trộm cướp, mãi dâm, buôn lậu, hay khẩu nghiệp
nịnh bợ, dối trá mà có. Vì vậy, những tài vật thu được, nhờ miệng lưỡi
quyến rũ, lừa gạt, phù phép, hăm dọa, hay dua nịnh v.v… nếu đem nuôi
mạng, nhà Phật gọi là sống theo tà mạng.
6/ Chánh tinh tấn (Sammà Vàyàmo) là chuyên cần
hành thiện, tu thân là để dẹp bỏ tham vọng, giải thoát, chứ không vì mục
đích nào khác, nhất là không vì được người khen, hay muốn cho xung quanh
kính trọng mình có nhiều đạo hạnh. Nhà Phật xem phẩm cách chánh tinh
tấn này là cái công lực trường kỳ, để hành giả chắc chắn sẽ đạt đến
cứu cánh. Vì nếu hành giả tinh tấn, mà để được người khen, hay tư lợi
nào đó, thì khi người hết khen, hay không thu tư lợi, họ sẽ hết tinh
tấn. Chưa kể lời khen và lợi lộc, vốn làm cho con người say đắm, mắc
dính, đi ngược chiều với sự tự do giải thoát.
7/ Chánh niệm (Sammà Sati) là chỉ niệm tưởng đến thiện pháp,
nhất là các pháp có khả năng dẹp bỏ tham lam, sân hận, và si mê. Đây là
một bức màng thanh lọc, không cho trần cấu bám vào tánh
linh. Đối với đạo Phật, chánh niệm còn có thể ví như chiếc áo
giáp toả ánh sáng cực mạnh. Áo giáp thì ngăn chặn không cho ác pháp làm
tổn thương tâm thức. Còn ánh sáng cực mạnh thì soi rõ những tư duy mù
mờ, ảo tưởng, bất minh…ẩn tàng nơi tiềm thức. Trong đời sống hằng ngày,
người không có chánh niệm là người chẳng bao giờ biết chính mình là ai,
như thế nào, và khả năng của mình tới đâu, thì làm sao họ có thể đóng
được vai trò gì, hữu hiệu cho chính họ, hay cho xã hội? Nói cách khác,
chánh niệm là sự an tịnh “khối nước tâm”, tách rời “nó” khỏi sự ảnh
hưởng của sáu loại “gió trần” (là sắc, thinh, hương, vị, xúc pháp), và
làm cho “nó” trở thành “cam lộ thủy”, để dập tắt ba thứ lửa tham lam,
sân hận, và si mê (phiền não).
8/ Chánh định (Sammà Samàdhi), là tâm thường an
trú trong đề mục giải thoát, không chấp trước ngoại vật, không hướng về
cái “ta”, không để cho lòng tham có lý do lôi kéo. Đây chính là
công phu định lực được tận dụng, để tẩy sạch
tham-sân-si trong bản tâm, mà không mong cầu chứng đạt một thần thông,
hay quyền lực siêu nhiên nào hết. Nhưng kinh Phật cũng tiết lộ: Trong
chiều sâu vô tỷ thuộc phẩm thánh, sự tận diệt tham sân si, phiền não,
lại là cái thần thông vô thượng, tuyệt vời. Thần thông đó, phàm nhân
chưa bước vào thánh lưu, không thể nào nghĩ bàn được.
Chánh niệm và chánh định là hai nấc thang viên dung của con đường đưa
đến giải thoát. Hai nấc thang này không thể có được, nếu người Phật tử
không nghiêm trì giới luật, và thực hành thành tựu pháp môn tu thiền.
Nhất là phải tu thiền với tinh thần vô úy, và xem pháp thiền như cách
sống thiết thực, tự nhiên hằng ngày.
Bát
Chánh Đạo tuy là phần pháp tứ tư trong Tứ Diệu Đế nhà Phật, nhưng mà là
phần pháp quan trọng nhất. Vì hầu hết những chủ đề thực tiễn tu
thân, sống đạo, xuyên qua 84.000 pháp môn trong Phật Giáo, đều được phối
hợp gián tiếp, hay trực tiếp, xung quanh “Tứ Diệu Đế- Bát Chánh
Đạo” này.
---o0o---
Đánh máy: Nhật Ngọc; Trình bày:
Diệu Tường
Cập nhật: 01-1-2010