Mật mã Da Vinci
Dan Brown
Dịch giả: Đỗ
Thu Hà
Hiệu đính:
Dương Tường
---o0o---
076
- 105
Chương 76
Có thể thấy
Sophie vẫn còn run rẩy do việc kể lại trải nghiệm của mình với nghi lễ
Hieros Gamos. Về phần ông, Langdon cũng ngạc nhiên về những gì nghe được.
Sophie không chỉ chứng kiến toàn bộ nghi lễ đó mà còn thấy ông mình là
người chủ tế… Đại sư của Tu viện Sion. Đó là những người thông minh sáng
láng. Da Vinci, Botticelli, Isaac Newton, Victo Hugo, Jean Coccau,…và
Jacques Saunière.
"Tôi không
biết mình có thể nói gì thêm với cô", Langdon nói nhẹ nhàng.
Cặp mắt
Sophie lúc này xanh thăm thẳm, đẫm lệ "Ông tôi đã nuôi dạy tôi như con gái
ruột".
Bây giờ
Langdon mới nhận ra nỗi xúc động trào dâng trong đôi mắt cô trong khi họ
nói chuyện. Đó là sự hối hận. Xa xôi mà sâu sắc. Sophie Neveu đã xa lánh
ông cô và giờ đây, cô đang nhìn ông dưới ánh sáng hoàn toàn khác.
Bên ngoài,
bình minh đang lên nhanh, quầng sáng đỏ thắm tập trung bên mạn phải máy
bay. Trái đất vẫn một màu đen bên dưới họ.
"Thức ăn đồ
uống đây, các bạn thân mến?". Teabing quay trở lại hoan hỉ, chìa ra một
vài lon Coca và một hộp bánh quy giòn.
Vừa phân
phối, ông vừa xin lỗi rối rít vì thức ăn có hạn. "Người bạn của chúng ta -
gã thầy tu vẫn không nói gì", ông nói, "Nhưng hãy cho anh ta thời gian".
Ông cắn một cái bánh quy và liếc nhìn bài thơ. "Này, bạn yêu quý, có tiến
triển chút nào không?". Ông đưa mắt nhìn Sophie. "Ông cô đang cố gắng nói
với chúng ta điều gì ở đây? Tấm bia ấy đang ở nơi quỉ quái nào? Tấm bia
được các Hiệp sĩ Templar ca ngợi ấy".
Sophie lắc
đầu và vẫn yên lặng.
Trong khi
Teabing lại chúi vào bài thơ, Langdon bật nắp một lon Coca và quay mặt về
phía cửa sổ suy nghĩ của ông miên man với những hình ảnh về nghi thức bí
ẩn và mật mã chưa được giải đáp. Một tấm bia Templar ca ngợi là chìa khóa.
Ông uống một hơi dài lon Coca. Một tấm bia Templar ca ngợi. Nước Coca thật
ấm.
Màn đêm dường
như tan biến nhanh chóng và khi quan sát sự thay đổi đó, Langdon thấy đại
dương lung linh trải rộng bên dưới họ. Eo biển anche. Không còn lâu nữa.
Langdon mong
ánh sáng ban ngày sẽ mang đến một sự rọi sáng mới, nhưng bên ngoài càng
sáng lên thì ông càng cảm thấy mình xa sự thật hơn. Ông nghe thấy nhịp
điệu của thể thơ năm ngũ bộ iambic và tiếng tụng ca, nghi lễ Hieros Gamos
và các nghi lễ thiêng liêng khác lẫn với tiếng ầm ì của máy bay phản lực.
Một tấm bia
Temlar ca ngợi.
Máy bay lại
bay trên đất liền khi một tia sáng loé lên trong đầu ông. Langdon đặt lon
Coca xuống: "Chắc các vị không tin đâu ông nói, hướng về phía những người
khác, "Tấm bia Templar… tôi đã đoán ra".
Teabing tròn
xoe mắt: "Anh biết tấm bia ở đâu?".
Langdon cười:
"Không phải ở đâu mà là cái gì".
Sophie rướn
người lên để nghe.
"Tôi nghĩ tấm
bia - headstone - phải hiểu theo nghĩa đen của từ stone head nghĩa là đầu
đá", Langdon giải thích, thường thức niềm phấn khích quen thuộc trước mỗi
đột phá về học thuật.
"Không phải
là cái để đánh dấu mộ".
"Một đầu
đá?", Teabing hỏi.
Sophie có vẻ
cũng bối rối.
"Leigh",
Langdon nói, quay lại, trong Toà án dị giáo, Giáo hội đã kết tội các Hiệp
sĩ Templar về đủ mọi thứ tà đạo, đúng không?".
"Chính xác.
Họ bịa đặt ra tất cả mọi tội. Tình dục đồng giới, tiểu tiện lên thánh giá,
thờ cúng quỷ ác, cả một danh sách dài". Và trong danh sách đó có cả việc
thờ cúng ngẫu tượng, đúng không? Đặc biệt hơn, Giáo hội đã kết tội các
Hiệp sĩ Templar vì đã bí mật tiến hành nghi lễ cầu nguyện trước một cái
đầu đá được đẽo… vị thần ngoại giáo…".
"Baphomet!"
Teabing buột mồm. "Trời, Robert, anh đã đoán đúng! Một tấm bia Templar ca
ngợi?".
Langdon nhanh
chóng giải thích cho Sophie rằng Baphomet là một vị thần ngoại giáo tượng
trưng cho sự phồn thực, gắn với sức mạnh sáng tạo trong sinh sản. Cái đầu
của Baphomet được thể hiện như đầu cừu đực hay đầu dê, một biểu tượng
chung cho sự sinh sôi nảy nở và sự mắn đẻ. Các Hỉệp sĩ Templar tôn vinh
Baphomet bằng cách đi vòng quanh mô hình cái đầu bằng đá của ông ta và hát
kinh cầu nguyện.
"Baphomet",
Teabing cười gằn, "nghi lễ này tôn vinh điều sáng tạo kì diệu của việc hợp
nhất giới tính, nhưng Giáo hoàng Clement lại thuyết phục mọi người rằng
cái đầu của Baphomet trên thực tế là quỷ dữ. Giáo hoàng sử dụng chiếc đầu
này như chứng cớ chủ chốt trong vụ án các Hiệp sĩ Templar".
Langdon đồng
tình. Tín ngưỡng hiện đại nhằm vào một con quỷ có sừng gọi là Satan có thể
truy nguyên từ Baphomet và từ những mưu toan của Giáo hội nhằm bóp méo vị
thần phồn thực có sừng thành một biểu tượng của cái ác. Rõ ràng Giáo hội
đã thành công tuy chưa phải là hoàn toàn. Trên những bàn ăn trong ngày lễ
Tạ ơn truyền thống ở Mỹ vẫn có những thứ mang sừng, biểu tượng ngoại giáo
của sự phồn thực. Chiếc sừng dê kết hoa quả, được gọi là "sừng sung túc",
là một biểu hiện tôn kính đối với tính phồn thực của Baphomet, nó bắt
nguồn từ câu chuyện Zeus bú sữa một con dê thế rồi sừng nó gẫy ra và đầy
ắp hoa quả bởi phép mầu. Baphomet cũng xuất hiện trong các bức ảnh chụp
chung khi những kẻ thích đùa giơ hai ngón tay sau đầu bạn mình theo hình
chữ V tượng trưng cho sừng, chắc chắn rất ít người hay đùa như vậy biết
rằng những cử chỉ chế nhạo của họ trên thực tế là quảng cáo cho sự dồi dào
tinh trùng của nạn nhân.
"Phải, phải",
Teabing nói với vẻ thích thú, bài thơ ắt phải nhằm ám chỉ Baphomet. Một
cái đầu bằng đá được các Hiệp sĩ Templar ca ngợi!".
"Được",
Sophie nói, "nhưng nếu Baphomet là cái đầu đá được các Hiệp sĩ Templar ca
ngợi thì chúng ta lại rơi vào một tình thế khó xử mới", Sophie chỉ vào
những cái đĩa của hộp mật mã, "Baphomet có tám chữ cái. Hiện nay chúng ta
chỉ có chỗ cho năm chữ cái!".
Teabing cười
toác miệng: "Bạn thân mến, đấy chính là chỗ mật mã Atbash phát huy tác
dụng".
Chương 77
Langdon thán
phục. Teabing vừa viết ra xong toàn bộ 22 chữ cái của bảng chữ cái Hebrew
- alef-bet - theo trí nhớ. Đành rằng ông đã dùng kí tự La Mã tương đương
thay vì chính chữ cái Hebrew, tuy nhiên, giờ đây ông đọc qua chúng với
cách phát âm không chút sai sót.
A B G D H V Z
Ch T Y K L M N S O P Tz Q R Sh Th "Alef, Belt, Gimel, Dalet, Hei, Vav,
Zayin, Chet, let, Yud, Kaf, Lamed, Mem, Nun, Samcch, Ayin, Pel, Tradik,
Kuf, Reishs Shin va Tav".
Teabing lau
trán và tiếp tục: "Trong chính tả Hebrew chính thức, nguyên âm không được
viết ra. Do đó, khi chúng ta dùng chữ cái Hebrew để viết từ Bahome, nó sẽ
mất đi ba nguyên âm và chúng ta còn lại…".
"Năm chữ
cái", Sophie bật ra.
Teabing gật
đầu và bắt đầu viết lại: "Được, đây là Baphomet viết đúng chính tả bằng
chữ cái Hebrew. Tôi sẽ phác luôn cả những nguyên âm khuyết diện để cho rõ
ràng hơn".
B a P V o M e
Th.
"Tất nhiên,
hãy nhớ", ông bổ sung thêm, "rằng tiếng Hebrew thường được viết theo chiều
hướng ngược, nhưng chúng ta có thể dễ dàng sứ dụng mật mã Atbash theo cách
này. Bước tiếp theo, tất cả những gì chúng ta phải làm là tạo ra cách sắp
xếp thay thế bằng cách viết lại toàn bộ bảng chữ cái theo trật tự đảo
ngược với bảng chữ cái ban đầu".
"Có một cách
dễ hơn", Sophie nói, lấy bút từ tay Teabing, nó hiệu nghiệm đối với mọi
mật mã thay thế phản chiếu, kể cả mật mã Atbash. Một mẹo nhỏ tôi học được
ở Royal Holloway". Sophie viết nửa bảng chữ cái đầu từ trái qua phải, sau
đó bên dưới, viết phần còn lại của bảng chữ cái từ phải qua trái. "Người
giải mật mã gọi nó là fold-over. Giảm nửa phần phức tạp. Nhưng lại rõ ràng
gấp đôi".
A B G D H V Z
Ch T Y K
Th Sh R Q Tz
P O S N M L
Teabing nhìn
bảng kẻ bằng tay của cô và cười khúc khích:
"Cô đã đúng.
Rất vui được thấy là các chàng trai ở Holloway làm tốt công việc của họ".
Nhìn vào ma
trận thay thế của Sophie, Langdon cảm thấy một nỗi rộn ràng mỗi lúc một
tăng mà ông nghĩ có thể sánh với nỗi rộn ràng của các nhà học giả khi lần
đầu tiên họ đùng mật mã Atbash để giải mã Bí mật Sheshach, một bí mật giờ
đây đã trở nên nổi tiếng. Suốt nhiều năm, các học giả về tôn giáo đã bối
rối khó hiểu những chỗ trong Kinh Thánh quy chiếu đến một thành phố mang
tên Sheshach. Thành phố này không xuất hiện trên bất cứ bản đồ nào hay bất
cứ tài liệu nào nhưng lại được đề cập đến trong Sách của Jememiah - vị vua
của Sheshach, thành phố Sheshach, nhân dân Shesbach. Cuối cùng, một học
giả đã áp dụng mật mã Atbash vào từ này, và kết quả công việc của ông làm
mọi người ngớ ra. Mật mã tiết lộ rằng Sheshach trên thực tế là một từ mã
hóa cho một thành phố rất nổi tiếng khác. Quá trình rất đơn giản.
Sheshach,
trong tiếng Hebrew được phát âm là: Sh - Sh - K
Sh - Sh - K
khi được thay thế trong ma trận trở thành B - B - L
B - B - L,
trong ngôn ngữ Hebrew, phát âm là Babel
Thành phố bí
ẩn Sheshach được tiết lộ là thành phố Babel, và tiếp đó một phong trào rộ
lên như điên: xem xét lại Kinh Thánh. Trong vòng nhiều tuần, nhiều từ mật
mã Atbash đã được phát hiện trong Kinh Cựu ước, phơi bày vô số ý nghĩa ẩn
giấu mà các học giả cũng không biết là có ở đó.
"Chúng ta ang
đến gần", Langdon thì thầm, không thể kiểm soát niềm phấn khích của mình.
"Vài phân
nữa, Robert ạ", Teabing nói. Ông ngước nhìn Sophie và cười. "Cô sẵn sàng
chưa?".
Cô gật đầu.
Được rồi,
Baphomet trong ngôn ngữ Hebrew không nguyên âm viết là: B - P - V - M -
Th. Bây giờ chúng ta chỉ cần đối chiếu với ma trận thay thế Atbash để dịch
những bí từ này sang mật khẩu năm chữ của chúng ta".
Tim Langdon
đập thình thịch: B - P - V - M - Th. Ánh mặt trời đang tràn qua cửa sổ.
Ông nhìn vào bảng ma trận đối chiếu của Sophie và chậm rãi thay thế. B là
Sh. P là V…
Teabing cười
toe toét như một cậu học sinh trong mùa Giáng sinh: "Và mật mã Atbash hé
lộ…". Ông dừng lại một lát, "Chúa ơi!". Gương mặt ông trắng bệch đi.
Langdon ngẩng
phắt đầu lên.
"Có chuyện gì
không ổn?" Sophie hỏi.
"Cô không tin
được đâu", Teabing đưa mắt nhìn Sophie, "đặc biệt với cô".
"Ông định nói
gì?". Cô nói.
"Điều này…
thật là tài tình", ông thì thầm: "Cực kỳ tài tình!".
Teabing viết
lại trên giấy. "Nổi trống lên! Đây là mật khẩu của quý vị,, ông giơ cho họ
thấy cái ông đã viết.
Sh - V - P -
Y - A
Sophie cau
mặt: "Nó là cái gì?".
Langdon cũng
không nhận ra.
Gịong Teabing
như run lên vì kính sợ: "Bạn ạ, đây thực sự là một từ thông thái cổ xưa!".
Langdon đọc
lại những chữ đó. Một từ thông thái cổ giải thoát cuộn giấy này. Lát sau,
ông hiểu ra. Ông đã không thấy điều này tới. Một từ thông thái cổ!".
Teabing cười:
"Theo nghĩa đen!".
Sophie nhìn
từ này và sau đó nhìn đĩa chứ. Ngay lập tức, cô nhận ra là Langdon và
Teabing đã không thấy một trục trặc nghiêm trọng: "Khoan! Đây không thể là
mật khẩu", cô cãi.
Hộp mật mã
không có Sh trên đĩa chữ. Nó dùng bảng chữ cái La Mã truyền thống".
"Đọc từ này
lên", Langdon giục. "Hãy nhớ hai điều. Trong ngôn ngữ Hebrew, kí tự cho âm
Sh cũng có thể được phát âm như S, phụ thuộc vào trọng âm. Cũng như chữ
cái P có thể đọc là F".
SVFYA? Cô
nghĩ, bối rối.
"Thiên tài!".
Teabing chêm vào. "Chữ cái V thường thay thế cho nguyên âm O!".
Sophie lại
nhìn vào các chữ cái, cố đọc lên thành âm chuẩn.
"S… o… f… y…
a".
Cô nghe thấy
chính tiếng mình, và không thể tin vào cái mình vừa thốt ra. "Sophia? Chữ
này phát âm như Sophia?".
Langdon gật
đầu: "Phải! Sophia nghĩa đen là thông thái trong tiếng Hy Lạp. Tên gốc của
cô, Sophie, là một "từ thông thái".
Sophie bỗng
nhớ ông mình da diết. Ông đã mã hóa viên đá đỉnh vòm của Tu viện Sion bằng
tên của mình. Cổ họng cô nghẹn lại. Tất cả dường như rất hoàn hảo. Nhưng
khi cô quay lại nhìn vào năm đĩa chữ trong hộp mật mã, cô nhận thấy vẫn
còn điều gì đó không ổn. "Nhưng khoan đã… Sophia có sáu chữ cái".
Nụ cười của
Teabing dường như không bao giờ tắt: "Hãy xem lại bài thơ. Ông cô đã viết
"Một từ thông thái cổ".
"Nghĩa là?".
Teabing nháy
mắt: "Trong tiếng Hy Lạp cổ, thông thái được viết là S-O-F-I-A".
Chương 78
Sophie cảm
thấy một nỗi háo hức cuồng dại khi cô đặt hộp mật mã vào lòng và bắt đầu
quay đĩa chữ cái. Một từ thông thái cổ giải thoát cuộn giấy này. Langdon
và Teabing như ngừng thở khi họ đứng nhìn.
S…O…F
"Cẩn thận",
Teabing nài nỉ, "thật cẩn thận vào!".
I…A
Sophie xoay
đĩa chữ cuối cùng vào thẳng hàng: "Được rồi!". Cô thì thầm, ngước nhìn hai
người kia. "Tôi sẽ kéo rời nó ra".
"Chú ý, nhớ
cái lọ dấm đấy", Langdon nói, phấn khởi pha lẫn sợ hãi. "Hãy cẩn thận".
Sophie biết
rằng nếu hộp mật mã này giống những hộp cô đã từng mở trong thời niên
thiếu, tất cả những gì cô cần làm là nắm chặt hai đầu hình trụ, ngay mé
ngoài chồng đĩa, và từ từ kéo đều tay về hai phía ngược nhau. Nếu chồng
đĩa thẳng hàng đúng mật khẩu, thì một trong hai dầu sẽ trượt mở, giống như
nắp một ống kính máy ảnh, và cô có thể với vào bên trong lấy cuộn tài liệu
viết trên giấy papyrus, quấn quanh lọ dấm nhỏ. Tuy nhiên, nếu mật khẩu mà
họ nhập không đúng, lực kéo ra của Sophie đối với hai đầu hình trụ sẽ
truyền tới một đòn bẩy có lắp bản lề ở bên trong, đòn bẩy này sẽ xoay
xuống lọt vào cái hốc và tạo áp lực trên chiếc lọ thủy tinh, cuối cùng làm
nó vỡ tan nếu cô kéo quá mạnh.
Kéo nhẹ
nhàng, cô tự nhủ.
Cả Teabing và
Langdon đều cúi về phía Sophie khi cô nắm hai đầu chiếc ống hình trụ trong
lòng bàn tay. trong niềm hứng khởi vì đã giải được từ mật mã, Sophie hầu
như quên mất cái mà họ mong tìm thấy bên trong. Đó là viên đá đỉnh vòm của
Tu viện Sion. Theo Teabing, nó chứa đựng một bản đồ chỉ dẫn tới Chén
Thánh, tiết lộ ngôi mộ của Mary Maygdalene và kho báu Sangreal… kho báu
tối hậu của sự thật bí mật.
Lúc này, tay
nắm chặt ống trụ đá, Sophie kiểm tra lại để đảm bảo tất cả các chữ cái đều
đã thẳng hàng với con trỏ. Sau đó, chậm rãi, cô kéo. Không có gì xảy ra.
Cô kéo mạnh hơn. Đột nhiên, hòn đá trượt ra giống như một ống kính viễn
vọng tinh xảo.
Miếng ghép ở
đầu tách rời ra trong tay cô. Langdon và Teabing gần như nhảy lên. Nhịp
tim của Sophie đập đồn dập khi cô đặt cái nắp lên trên bàn và nghiêng ống
trụ để nhòm vào bên trong.
Một cuộn
giấy!
Nhòm vào
trong cuộn giấy, Sophie thấy nó được quấn quanh vật hình trụ - cái lọ dấm,
cô đoán. Tuy nhiên, lạ thay, tờ giấy bọc xung quanh lọ dấm không phải là
thứ giấy mỏng thông thường - papyus mà là giấy da. Thật kì lạ, cô nghĩ,
dấm không thể hòa tan giấy bằng da cừu. Cô nhìn lại vào lòng cuộn giấy và
nhận ra vật ở giữa cuộn giấy không phải là lọ dấm. Nó là một vật hoàn toàn
khác.
"Có gì không
ổn sao?", Teabing hỏi. "Kéo cuộn giấy ra đi".
Cau mày,
Sophie nắm lấy cuộn giấy da và vật được gói bên trong, kéo cả hai ra khỏi
ống đựng.
"Không phải
giấy papyrus", Teabing nói. "Nó quá nặng".
"Tôi biết. Nó
là thứ để đệm lót".
"Cho cái gì?
Cho lọ dấm à?".
"Không!"
Sophie mờ cuộn giấy ra, để lộ cái gì được gói bên trong. "Cho cái này".
Khi Langdon
nhìn thấy vật bên trong cuộn giấy da, tim ông trĩu xuống.
"Chúa hãy
giúp chúng ta?". Teabing nói. "Ông cô quả là một kiến trúc sư tàn nhẫn".
Langdon ngỡ
ngàng nhìn trăn trối. Mình thấy Saunière không có ý định làm cho điều này
dễ dàng.
Một cái ống
trụ thứ hai được đặt trên bàn. Nhỏ hơn. Làm bằng mã não đen. Được đặt nằm
gọn trong ống thứ nhất. Đam mê của Saunière đối với thuyết nhị nguyên. Hai
ống trụ. Mọi thứ đều thành đôi. Nghĩa là nước đôi. Đực - cái. Đen nằm bên
trong trắng.
Langdon cảm
thấy mạng biểu tượng đang triển khai.
Trắng sinh ra
đen.
Tất cả đàn
ông đều sinh ra từ đàn bà.
Trắng - đàn
bà.
Đen - đàn
ông.
Với lấy cái
hộp mật mã nhỏ hơn, Langdon nâng nó lên. Nó trông giống hệt cái hộp thứ
nhất, ngoại trừ nó chỉ bằng một nửa về kích cỡ, có màu đen. Ông nghe thấy
tiếng ùng ục quen thuộc. Có vẻ như cái lọ dấm mà họ đã nghe trước đây nằm
bên trong cái ống trụ nhỏ này.
"Tốt,
Robert", Teabing nói, đẩy trang giấy da về phía Langdon. "Các bạn sẽ hài
lòng khi nghe thấy rằng chí ít chúng ta cũng đang bay đúng hướng".
Langdon xem
xét miếng giấy da dày. Đó là bốn câu thơ khác được viết bằng một kiểu chữ
hoa mĩ. Lại là thể thơ ngũ bộ iambic. Bài thơ thật bí hiểm, nhưng Langdon
chỉ cần đọc câu đầu tiên cũng thấy được rằng kế hoạch của Teabing bay tới
Anh là đắc sách.
Ở LONDON YÊN
NGHỈ MỘT HIỆP SĨ ĐƯỢC GIÁO HOÀNG MAI TÁNG
Phần còn lại
của bài thơ hàm ý rằng mật khẩu để mở cái ống trụ thứ hai có thể được tìm
thấy bằng cách đến thăm ngôi mộ của hiệp sĩ này, ở đâu đó trong thành phố.
Langdon náo
nức quay về phía Teabing: "Ngài có biết bài thơ này nhắc đến hiệp sĩ nào
không?".
Teabing cười:
"Tuyệt đối không. Nhưng tôi biết đích xác chúng ta nên tìm ở hầm mộ nào".
Vào lúc đó
cách mười lăm dặm, sáu chiếc xe cảnh sát ở Kent phóng rất nhanh trên những
con phố ẩm ướt mưa, hướng về phía sân bay Biggin Hill Executive.
Chương 79
Trung uý
Collet tự rót cho mình một ly Perrier từ tủ lạnh của Teabing và sải bước
qua phòng khách trở ra ngoài. Thay vì theo Fache tới London là hiện trường
hành động, giờ đây anh phải làm "vú em" trông coi đội PTS đang rải ra khắp
Château Villette.
Cho tới giờ,
các bằng chứng họ phát hiện được không giúp ích gì cho lắm: một viên đạn
găm trên sàn nhà, một tờ giấy với các biểu tượng được vẽ nguệch ngoạc kèm
theo những từ lưỡi dao và thắt lưng hành xác và một dây lưng có ngạnh đẫm
máu mà PTS nói với Collet rằng nó gắn liền với giáo đoàn Thiên Chúa giáo
bảo thủ Opus Dei, nhóm này gần đây đã gây chấn động khi một chương trình
tin tức vạch trần việc họ tuyển mộ người rất hung hãn ở Paris.
Collet thở
dài. Chúc may mắn để hiểu ra được cái mớ hỗn tạp này.
Đi theo hành
lang sang trọng, Collet bước vào phòng khiêu vũ rất rộng, nơi người kiểm
tra chính của PTS đang bận rộn thu thập dấu vân tay. Anh ta là một người
to béo mặc quần có dây đeo.
"Có gì
không?", Collet bước vào hỏi.
Người kiểm
tra lắc đầu: "Không có gì mới. Nhiều bộ dấu tay khớp với những dấu tìm
được khắp ở phần còn lại của ngôi nhà".
"Dấu tay trên
chiếc đai hành xác thì sao?".
"Interpol vẫn
đang làm việc. Tôi đã nạp vào máy vi tính tất cả những thứ chúng ta tìm
thấy".
Collet chỉ
vào hai cái túi đựng bằng chứng đã niêm phong ở trên bàn: "Còn những thứ
này thì sao?".
Người kia
nhún vai: "Sức mạnh của thói quen. Tôi bỏ vào túi tất cả những gì có vẻ
đặc biệt".
Collet bước
lại. Đặc biệt
"Thật là một
người Anh kỳ lạ", người kiểm tra nói. "Hãy nhìn cái này mà xem". Anh ta
lục trong các túi đựng vật chứng và chọn ra một thứ, đưa cho Collet.
Bức ảnh thể
hiện cổng chính của một thánh đường theo kiến trúc Gothic - một cổng tò vò
truyền thống với những chỗ hõm, hẹp dần lại qua nhiều lớp có gờ nối tới
một khung cửa nhỏ.
Collet nghiên
cứu bức ảnh và hỏi lại: "Đây là thứ đặc biệt. Hãy lật lại".
Ở mặt sau tấm
ảnh, Collet thấy những ghi chú nguệch ngoạc bằng tiếng Anh, mô tả gian
giữa trống và dài của một nhà thờ lớn như là một sự bí mật bày tỏ lòng tôn
kính đối với tử cung người đàn bà. Điều này thật lạ lùng. Tuy nhiên, lời
ghi chú mô tả cửa vào của một thánh đường, mới là cái làm anh giật mình.
"Này! Ông ta
nghĩ cửa vào thánh đường biểu hiện cái… của đàn bà".
Người nhân
viên kiểm tra gật đầu: "Đầy đủ cả mép âm hộ lẹm vào và một cái âm vật nhỏ
xinh bên trên khung cửa". Anh thở dài: "Kiểu như khêu gợi ta muốn quay trở
về nhà thờ".
Collet cầm
chiếc túi đựng vật chứng thứ hai lên. Qua lớp nhựa, anh có thể nhìn thấy
một tấm ảnh lớn có vẻ như là tài liệu cổ. Trên đầu bức ảnh ghi:
Les Dossiers
Secrets - Number 4° lm 2491
Cái gì đây?".
Collet hỏi.
"Tôi không
biết. Ông ta có những bản sao như vậy ở khắp nhà nên tôi cho nó vào trong
túi".
Collet nghiên
cứu tài liệu này.
RIEURE DE
SIOIU - LES NAUTONIERS/ GRAND MASTERS
JEAN DE
GISORS 1188-1220
MARLE DE
SAINT-CLAIR 1220-1266
GUILLAUME DE
GISORS 1266-1307
EDOUARD DE
BAR 1307-1336
JEAN DE BAR
1336-1351
JEAN DE
SAINT-CLAIR 1351-1366
BLANCE
D'EVREUX 1366-1398
NICOLAS
FLAMEL 1398-1418
RENE D'ANJOU
1418-1480
IOLANDE DE
BAR 1480-1483
SANDRO
BOTTICELLI 1483-1510
LEONARDO DA
VINCI 1510-1519
CONNETABLE DE
BOURBON 1519-1527
FERDINAND DE
GONZAQUE 1527-1575
LOUIS DE
NEVERS 1575-1595
ROBERT FLUID
1595-1637
J. VALENTIN
ANDREA 1637-1654
ROBERT BOYLE
1654-1691
ISAAC NEWTON
1691-1727
CHARLES
RADCLYFFE 1727-1746
CHARLES DE
LORRAINE 1746-1780
MAXIMILIAN DE
LORRAINE 1780-1801
CHARLES
NODIER 1801-1844
VICTOR HUGO
1844-1885
CLAUDE
DEBUSSY 1885-1914
JEAN COCTEAU
1918-1963
Prieuré de
Sion? Collet phân vân.
"Trung úy?".
Một nhân viên thò đầu vào. "Tổng đài có một cú điện khẩn cho đại úy Fache,
nhưng họ không liên lạc được với đại uý, ông có nhận điện không?".
Collet quay
trở lại nhà bếp và nhận cuộc gọi.
Đó là André
Vernet.
Âm sắc tao
nhã của ông chủ nhà băng không đủ để che đậy sự căng thẳng trong giọng nói
của ông: "Tôi nghĩ Đại úy Fache nói là sẽ gọi điện cho tôi, nhưng tôi vẫn
chưa nhận được tin tức gì từ ông ta".
"Đại úy đang
bận", Collet trả lời. "Tôi có thể gỉúp gì cho ngài?".
Người ta cam
đoan với tôi rằng tôi sẽ được cập nhật về diễn tiến công việc của các ông
đêm nay".
Trong khoảnh
khắc, Collet nghĩ anh đã nghe thấy giọng nói của người đàn ông này ở đâu
đó, nhưng không xác định được cụ thể. "Ngài Vernet, tôi đang chịu trách
nhiệm điều tra ở Paris.
Tôi là trung
úy Collet".
Có một quãng
ngưng dài trên đường dây: "Trung úy, xin lỗi, tôi có một cuộc điện thoại
khác đang chờ. Tôi sẽ gọi cho ông sau". Ông ta gác máy.
Trong vài
giây, Collet vẫn giữ ống nghe. Sau đó mọi thứ trở nên rõ ràng trong đầu
anh. "Mình biết mình đã nhận ra giọng nói này! Phát hiện này làm anh há
hốc miệng vì kinh ngạc.
Người lái
chiếc xe bọc thép Với chiếc Rolex giả.
Bây giờ thì
Collet mới hiểu tại sao ông chủ nhà băng lại vội vã cúp máy như vậy.
Vernet đã nhớ ra cái tên trung úy Collet - người sĩ quan mà ông ta đã nói
dối trắng trợn hồi đầu tối nay.
Collet ngẫm
nghĩ về mối liên quan của diễn biến kì lạ này.
Vernet có
dính líu. Theo bản năng, anh biết mình nên gọi cho Fache. Theo cảm tính,
anh biết sự khám phá may mắn này sẽ là thời điểm để anh toả sáng.
Ngay lập tức
anh gọi cho Interpol và yêu cầu tất cả những thông tin mà họ có thể tìm
thấy về Nhà băng Ký thác Zurich và chủ tịch của nó, André Vernet.
Chú thích:
(1) Tiếng
Pháp trong nguyên bản: Những hồ sơ bí mật - Số 40 lm 249.
(2) Tiếng
Pháp trong nguyên bản: Tu viện Sion - Những người cầm lái, các Đại Sư
Chương 80
"Thắt dây an
toàn", phi công của Teabing thông báo khi chiếc Hawker 731 hạ độ cao đi
vào một đám mưa bụi ảm đạm buổi sáng. "Chúng ta sẽ hạ cánh sau năm phút
nữa".
Teabing cảm
thấy niềm vui của người trở về cố hương khi ông nhìn thấy những ngọn đồi
mù sương của Kent trải rộng dưới chiếc máy bay đang thấp dần. Từ Anh đến
Paris chưa đầy một giờ bay, vậy mà như cách nhau cả một thế giới. Sáng
nay, màu xanh đẫm mưa sương của mùa xuân quê hương như đặc biệt chào đón
ông. Thời gian của ta ở Pháp đã hết. Ta đang trở về nước Anh trong tư thế
chiến thắng. Viên đá đỉnh vòm đã được tìm ra. Tất nhiên, vẫn còn câu hỏi
là viên đá đỉnh vòm đó cuối cùng sẽ dẫn đến đâu. Một nơi nào đó trên Vương
quốc Anh. Chính xác là đâu, Teabing chưa biết nhưng ông đang nếm hương vị
chiến thắng rồi.
Trong khi
Langdon và Sophie nhìn theo, Teabing đứng dậy, đi sang mé bên kia cabin,
rồi kéo một tấm ván tường sang bên để lộ một chiếc két được giấu kín sau
tường. Ông quay số và mở két an toàn, lấy ra hai tấm hộ chiếu. "Giấy tờ
cho Rémy và cho tôi". Sau đó, ông rút ra một tập dầy toàn tiền năm mươi
bảng. "Và giấy tờ cho hai bạn".
Sophie có vẻ
cảnh giác: "Một khoản hối lộ?".
"Ngoại giao
sáng tạo mà. Các sân bay hành chính thường có chút chiếu cố. Một nhân viên
hải quan Anh sẽ đón chúng ta tại nhà chứa máy bay của tôi cũng được lên
máy bay kiểm tra.
Thay vì cho
phép anh ta lên, tôi sẽ bảo anh ta là tôi đi cùng một nữ danh nhân Pháp,
cô ấy không muốn ai biết mình có mặt ở Anh - báo chí hay làm rùm beng, bạn
biết đấy - và tôi sẽ tặng nhân viên đó món tiền boa hậu hĩnh này để cảm ơn
về sự kín đáo của anh ta".
Langdon có vẻ
ngạc nhiên: "Và người nhân viên hải quan sẽ nhận?".
"Không phải
với bất kỳ ai, bình thường thì họ sẽ không nhận, nhưng tất cả những người
này đều biết tôi. Tôi không phải là một người buôn vũ khí, lạy Chúa! Tôi
được phong hiệp sĩ cơ mà". Teabing mỉm cười. "Tư cách thành viên Hoàng gia
có đặc quyền của nó".
Lúc này, Rémy
theo lối đi giữa các hàng ghế tiến lại gần, khẩu Heckler & Koch trong tay:
"Thưa ngài, nhiệm vụ của tôi là gì?".
Teabing liếc
nhìn người thân bộc: "Tôi cần anh ở lại trên máy bay với vị khách của
chúng ta cho đến khi chúng tôi quay lại. Chúng tôi không thể kéo lê hắn đi
theo khắp London được".
Sophie có vẻ
cảnh giác: "Leigh. Tôi thực sự lo rằng cảnh sát Pháp sẽ tìm thấy chiếc máy
bay của ngài trước khi chúng ta trở lại".
Teabing cười:
"Phải, hãy tưởng tượng sự ngạc nhiên của họ nếu họ lên máy bay và thấy
Rémy".
Sophie có vẻ
ngạc nhiên về thái độ xàm xỡ của ông: "Leigh, ngài đã vận chuyển một con
tin bị trói qua biên giới quốc tế.
Điều này là
nghiêm trọng đấy".
"Các luật sư
của tôi cũng nghiêm túc" ông đưa mắt nhìn về hướng gã thầy tu ở sau máy
bay. "Đồ súc vật này đột nhập vào nhà tôi và suýt giết tôi. Đó là sự thật
và Rémy sẽ làm chứng".
"Nhưng ông đã
trói anh ta và chở anh ta bằng máy bay tới London?", Langdon nói.
Teabing giơ
bàn tay phải lên và phác một cử chỉ như khi thề ở toà án: "Thưa quý tòa,
xin hãy tha thứ cho một hiệp sĩ già lập dị về định kiến ngu ngốc của ông
ta đối với hệ thống toà án của Anh. Tôi nhận ra là tôi nên gọi đến các nhà
chức trách Pháp, nhưng tôi là một kẻ hợm mình và không tin những người
Pháp laise-farei đó. Có thể xử một cách đúng đắn. Người đàn ông này đã
suýt giết tôi. Và tôi đã có một quyết định liều lĩnh là bắt người hầu của
tôi phải giúp tôi đưa hắn ta về Anh, nhưng tại lúc đó tôi đang chịu áp lực
quá lớn. Mea culpa. Mea culpai ".
Langdon có vẻ
hoài nghi: "Leigh, từ miệng ngài nói ra, điều ấy có thể cho qua".
"Thưa ngài?"
Viên phi công gọi. "Đài không lưu vừa mới gọi. Họ có vấn đề gì đó về việc
duy tu bảo dưỡng ở gần nhà chứa máy bay của chúng ta và yêu cầu tôi đưa
máy bay thẳng tới chỗ ga hành khách của sân bay thay vì đến thẳng nhà chứa
máy bay".
Teabing
thường xuyên đã bay tới Biggin Hill trong hơn một thập kỷ nay và đây là
lần đầu tiên có chuyện như thế này. "Họ có nói vấn đề đó là gì không?".
"Người kiểm
soát không lưu rất mơ hồ. Điều gì đó về việc khí ga rò rỉ ở trạm bơm xăng
thì phải? Họ yêu cầu tôi đỗ phía trước ga hành khách và giữ mọi nguời ở
trên máy bay cho đến khi có lệnh khác. Đề phòng về an toàn đấy ạ. Chúng ta
không đuợc ra khỏi máy bay cho đến khi chúng ta được những người có thẩm
quyền ở sân bay cho phép".
Teabing nghi
ngờ. Chắc phải là một vụ rò rỉ khí ga kinh thiên động địa. Trạm bơm xăng
cách nhà chứa máy bay của ông những nửa dặm cơ mà.
Rémy cũng có
vẻ lo lắng: "Thưa ngài, chuyện này nghe rất trái lẽ thường".
Teabing quay
sang Sophie và Langdon: "Các bạn của tôi, tôi có mối nghi ngờ chẳng thú vị
gì là chúng ta sắp được cả một uỷ ban đón tiếp".
Langdon khẽ
thở dài: "Tôi đoán Fache vẫn nghĩ tôi là đối tượng của ông ta".
"Hoặc là như
vậy", Sophie nói, "hoặc là ông ấy dấn sâu quá mức vào vụ này để có thể thú
nhận sai lầm của mình".
Teabing không
lắng nghe. Bất kể sự cố chấp của Fache thì vẫn cần phải hành động gấp.
Không được rời mắt khỏi mục tiêu cuối cùng. Chén Thánh. Chúng ta đã ở rất
gần. Bên dưới họ, càng máy bay đã hạ xuống với một tiếng cạch.
"Leigh",
Langdon nói, giọng nghe đầy hối hận. "Tôi nên tự nộp mình và tìm cách giải
quyết việc này theo pháp luật. Để ông đứng ngoài toàn bộ chuyện này".
"Ôi trời,
Robert!" Teabing khoát tay. "Anh thực sự nghĩ là họ sẽ thả những người còn
lại trong chúng ta sao? Tôi vừa mới vận chuyển các bạn trái phép. Cô Neveu
giúp anh trốn thoát từ Louvre, và chúng ta có một gã bị trói ở đằng sau
máy bay. Quả thật, tất cả chúng ta cùng hội cùng thuyền mà".
"Có thể có
một phi cảng khác?". Sophie nói.
Teabing lắc
đầu: "Nếu bây giờ chúng ta đổi hướng thì vào lúc chúng ta được phép hạ
cánh xuống bất cứ nơi nào khác, đoàn chào mừng chúng ta sẽ bao gồm cả xe
tăng quân sự!".
Sophie ngồi
phịch xuống.
Teabing cảm
thấy rằng nếu họ có cơ may trì hoãn việc đối mặt với các nhà chức trách
Anh đủ lâu để tìm Chén Thánh thì phải hành động táo bạo hơn. "Chờ tôi một
phút", ông nói và đi khập khiễng về phía buồng lái.
"Ông đang làm
gì vậy?". Langdon hỏi.
"Họp bàn
chuyện mua bán", Teabing nói, tự hỏi không biết phải chi bao nhiêu để
thuyết phục phi công của mình thực hiện một chiêu thức hết sức bất thường.
Chú thích:
(1) Tiếng
Pháp trong nguyên bản: làm việc kiểu buông xuôi, để mặc.
(2) Tiếng
Latin trong nguyên bản: Lỗi tại tôi, một câu thường trờ đi trở lại trong
những bài kinh sám hối.
Chương 81
Chiếc Hawker
đang trong giai đoạn tiếp đất cuối cùng.
Simon Edwards
- quan chức Điều hành Dịch vụ tại sân bay Biggin Hill Executive - đi tới
đi lui trong đài quan sát, nheo mắt nhìn lo âu về đường băng ướt mưa. Ông
chẳng bao giờ ưa bị đánh thức sớm vào sáng thứ bẩy, nhưng đặc biệt khó
chịu khi bị gọi đến để giám sát việc bắt giữ một trong những khách hàng
xộp nhất của mình. Ngài Leigh Teabing không chỉ trả cho sân bay Biggin
Hill tiền thuê cái hăng-ga riêng, mà còn cả một khoản "phí hạ cánh"cho mỗi
lần đến và đi đều đặn của ông. Thông thường, 8ân bay này được báo trước
lịch hành trình của Teabing và có thể tuân theo một thủ tục nghiêm ngặt
đối với những lần đến của ông. Teabing thích mọi sự phải được thực hiện
đúng như thế. Chiếc limousine có thể kéo dài mang nhãn hiệu Jaguar làm
theo đơn đặt hàng của khách mà ông giữ trong hăng-ga phải luôn đầy xăng,
lau rửa bóng lộn, và một tờ Thời báo Lonlon trong ngày để sẵn ở ghế sau.
Một nhân viên hải quan đợi sẵn chiếc máy bay tại hăng-ga để xúc tiến việc
kiểm tra hành lý và tài liệu bắt buộc. Thi thoảng, những nhân viên hải
quan đã nhận những khoản tiền boa lớn từ Teabing để lờ đi việc vận chuyển
một số đồ hữu cơ vô hại - hầu hết là thức ăn xa xỉ - ốc sên Pháp, một loại
phomat Requefort đặc biệt không chế biến, một vài loại hoa quả nào đó. Vả
chăng nhiều luật của hải quan cũng vô lý, và nếu sân bay Biggin Hill không
chiều ý khách của mình thì chắc chắn các sân bay cạnh tranh sẽ hứng ngay.
Teabing được đáp ứng những gì ông ta muốn ở đây, tại sân bay Biggin Hill
và những nhân viên thì thu được lợi lộc.
Lúc này,
Edward cảm thấy thần kinh căng thẳng khi nhìn chiếc phản lực tiến vào. Ông
tự hỏi phải chăng khuynh hướng hào phóng của Teabing, cách nào đó, đã làm
cho ông ta gặp rắc rối; nhà chức trách Pháp dường như quyết tâm ngăn chặn
ông. Edward còn chưa được cho bỉết là ông bị kết những tội gì nhưng rõ
ràng chúng rất nghiêm trọng. Theo yêu cầu của nhà chức trách Pháp, cảnh
sát Kent ra lệnh cho nhân viên kiểm soát không lưu đánh điện bằng rađiô
cho phi công của chiếc máy bay Hawker và yêu cầu anh ta đến thẳng ga hành
khách thay vì nhà chứa máy bay riêng của Teabing. Viên phi công đã đổng ý
rõ ràng anh ta tin câu chuyện khó tin về vụ rò rỉ khí ga.
Cho dù cảnh
sát Anh không thường mang vũ khí, nhưng do tính nghiêm trọng của tình hình
nên vẫn xuất hiện một đội được trang bị vũ khí. Tám cảnh sát với súng ngắn
đứng ở bên trong ga hành khách, chờ lúc động cơ máy bay dừng hẳn. Đến lúc
đó người phục vụ đường băng sẽ đặt những cái nêm an toàn dưới lốp xe để -
máy bay không còn dịch chuyển được nữa.
Sau đó cảnh
sát xuất hiện và khống chế những người trên máy bay cho đến khi cảnh sát
Pháp đến xử lý tình hình.
Chiếc Hawker
đã xuống thấp, đang bay là là trên ngọn cây phía tay phải họ. Simon
Edwards đi xuống cầu thang để quan sát việc hạ cánh ngang tầm đường băng.
Toán cảnh sát Kent đã ở tư thế sẵn sàng, vừa vặn khuất lầm nhìn, và người
nhân viên bảo dưỡng đứng chờ đợi cùng với những cái nêm. Bên ngoài đường
băng mũi của chiếc Hawker nghếch lên và bánh xe khẽ chạm đất trong thời
gian một hơi thuốc. Chiếc máy bay giảm tốc độ lượn thành vệt từ phải sang
trái trước ga hành khách, thân màu trắng của nó sáng lấp lánh trong thời
tiết ẩm ướt.
Nhưng thay vì
phanh lại và quay đầu vào ga hành khách, thì chiếc phản lực bình thản băng
qua làn đường vào ga và tiếp tục đi về phía hăng-ga của Teabing ở đằng xa.
Tất cả cảnh
sát quay lại và nhìn chằm chằm vào Edwards: "Tôi tưởng anh nói người phi
công đã đồng ý đến thẳng ga hành khách".
Edwards ngớ
ra: "Đúng thế mà!".
Lát sau,
Edwards thấy mình ngồi kẹp trong chiếc xe cảnh sát phóng qua đường băng về
phía hăng-ga ở đằng xa. Tốp cảnh sát còn cách cả năm trăm thước thì chiếc
Hawker của Teabing đã thản nhiên tiến vào hăng-ga riêng và bìến mất. Cuối
cùng, khi tốp xe con tới và dừng kít lại bên ngoài hăng-ga, cảnh sát ào
ra, súng lăm lăm.
Edwards cũng
nhảy ra.
Tiếng ồn ào
đinh taỉ.
Động cơ của
chiếc Hawker vẫn gầm lên khi chiếc phản lực chấm dứt vòng quay thông
thường bên trong hăng-ga, vào vị trí quay mũi ra, sẵn sàng cho chuyến xuất
phát sau. Khi chiếc máy bay hoàn thành động tác quay vòng 180o và chạy về
phía trước hăng-ga, Edwards có thể nhìn thấy mặt viên phi công, có thể
hiểu được anh ta kinh ngạc và sợ hãi như thế nào khi thấy cả một hàng rào
xe cảnh sát.
Phi công dừng
hắn máy bay và tắt động cơ. Cảnh sát tràn vào, chiếm lĩnh vị trí xung
quanh chiếc phản lực. Edwards cùng với viên chánh thanh tra cảnh sát quận
Kent di chuyển một cách thận trọng về phía cửa máy bay. Sau một vài giây,
cửa máy bay mở ra.
Leigh Teabing
xuất hiện ở khung cửa khi chiếc thang điện nhẹ nhàng hạ xuống. Nhìn thấy
cả một biển vũ khí nhằm vào mình, ông chống đôi nạng và gãi đầu: "Simon,
có phải là tôi trúng xổ số của cảnh sát trong khi vắng nhà không?". Giọng
ông có vẻ ngơ ngác hơn là lo lắng.
Simon Edwards
bước lên, ráng nuốt cái cục chẹn ngang cổ họng: "Chào ngài, tôi xin lỗi về
sự nhầm lẫn. Chúng tôi có khí rò rỉ và phi công của ngài nói anh ta đến
thẳng ga hành khách".
"Vâng, vâng,
phải, nhưng thay vì như thế, tôi bảo anh ta đến đây. Tôi đang muộn một
cuộc hẹn. Tôi trả tiền cho hăng-ga này, và cái chuyện vẽ vời né tránh chỗ
khí ga rò rỉ nghe có vẻ quá ư thận trọng".
"Tôi e rằng
việc ngài đến đã làm chúng tôi hơi bất ngờ, thưa ngài".
"Tôi biết Tôi
về không đúng lịch chữa bệnh mà. Nói riêng với nhau, phương pháp điều trị
mới làm tôi bí tiểu tiện. Tôi nghĩ mình phải về để điều chỉnh lại thuốc".
Đám cảnh sát
đưa mắt nhìn nhau. Edwards nhăn nhó: "Rất tốt, thưa ngài".
"Thưa ngài",
chánh thanh tra cảnh sát quận Kent bước lên phía trước, "tôi yêu cầu ngài
ở lại trên máy bay khoảng nửa tiếng nữa".
Teabing có ve
không vui khi ông tập tễnh bước xuống cầu thang: "Tôi e là không thể được.
Tôi có một cuộc hẹn khám sức khoẻ". Ông xuống tới đường băng. "Tôi không
thể lỡ hẹn".
Chánh thanh
tra tiến đến chặn không để cho Teabing rời khỏi máy bay: "Tôi tới đây theo
lệnh của Cảnh sát tư pháp Pháp.
Họ quả quyết
ngài đang chở những kẻ lẩn trốn pháp luật trên chiếc máy bay này".
Teabing nhìn
chằm chằm vào viên chánh thanh tra hồi lâu rồi cười phá lên: "Đây là một
trong những chương trình quay phim được giấu kín phải không? Hay đấy!".
Chánh thanh
tra không nao núng: "Điều này là nghiêm trọng, thưa ngài. Cảnh sát Pháp
khẳng định ngài còn có một con tin trên máy bay".
Người hầu của
Teabing là Rémy xuất hiện ở ô cửa đầu cầu thang: "Tôi cảm thấy như mình là
một con tin làm việc cho ngài Leigh, nhưng ngài cam đoan với tôi rằng tôi
được tự do đi khỏi". Rémy nhìn đồng hồ. "Ông chủ, quả là chúng ta đang bị
trễ đấy". Ông ta gật đầu về hướng chiếc limousine có thể kéo dài mang nhãn
hiệu Jaguar ở góc đằng kia hăng-ga. Chiếc ô tô đồ sộ màu gỗ mun với kính
mờ và lốp màu tường trắng. "Tôi sẽ đưa xe lại". Rémy bắt đầu xuống cầu
thang.
"Tôi e rằng
chúng tôi không thể để các ông đi được", chánh thanh tra nói. "Xin hãy trở
lại máy bay. Cả hai ông. Đại diện của cảnh sát Pháp sẽ hạ cánh trong chốc
lát".
Lúc này,
Teabing nhìn Simon Edwards: "Lạy Chúa, Simon, chuyện này thật lố bịch!
Chúng tôi không có bất cứ ai khác trên máy bay. Chỉ như mọi khi - Rémy,
viên phi công của chúng tôi và bản thân tôi. Có lẽ ông có thể làm trung
gian chứ? Hãy lên kiểm tra máy bay và chứng thực là không có ai cả".
Edwards biết
mình bị mắc kẹt: "Vâng, thưa ngài. Tôi có thể xem xét".
"Đừng hòng!"
Chánh thanh tra quận Kent tuyên bố, rõ ràng nắm khá vững về những sân bay
hành chính đủ để ngờ rằng Simon Edwards rất có thể nói dối về những người
trên máy bay nhằm duy trì được quan hệ làm ăn với Teabing tại sân bay
Biggin Hill. "Tự tôi sẽ xem xét".
Teabing lắc
đầu: "Không, ông không được làm thế, thanh tra".
Đây là tài
sản cá nhân và cho tới khi ông có lệnh khám xét, ông vẫn phải ở ngoài máy
bay của tôi. Tôi đang đề xuất với ông một phương án hợp lý đấy. Ông
Edwards co thể thực hiện việc kiểm tra này".
"Không thương
lượng gì hết".
Thái độ của
Teabing trở nên lạnh lùng: "Thanh tra, tôi e mình không có thời gian để
chiều theo trò chơi của ông. Tôi đã muộn, và tôi phải đi. Nếu điều quan
trọng đối với ông là ngăn chặn tôi thì ông sẽ phải bắn tôi". Nói rồi,
Teabing và Rémy đi quành qua viên chánh thanh tra và ngang qua hăng-ga tới
chỗ chiếc limousine đang đậu.
Chánh thanh
tra quận Kent chỉ cảm thấy ghê tởm đối với Leigh Teabing khi ông này tập
tễnh đi quành qua ông, đầy vẻ thách thức. Những người có đặc quyền đặc lợi
luôn luôn cảm thấy như là họ đứng trên luật pháp.
Họ không thể.
Chánh thanh tra quay lại và nhằm súng vào lưng Teabing: "Đứng lại! Tôi sẽ
bắn!".
"Bắn đi",
Teabing nói mà không thèm dừng bước hoặc ngoái lại. Luật sư của ta sẽ nấu
xốt tinh hoàn của anh làm bữa điểm tâm. Và nếu anh dám lên máy bay của ta
mà không có lệnh khám xét, thì lá lách của anh sẽ là món tiếp theo đấy".
Không lạ gì
những ngón giương vây quyền lực, viên chánh thanh tra chẳng hề run sợ. Về
mặt thủ tục pháp lý, Teabing đã đúng và cảnh sát cần có lệnh khám xét để
lên chiếc phản lực của ông ta, nhưng vì chuyến bay này xuất phát từ Pháp,
và vì tay Bezu Fache đầy quyền lực đã trao quyền, nên chánh thanh tra quận
Kent cảm thấy chắc chắn sự nghiệp của mình sẽ tốt đẹp hơn bằng việc khám
phá ra những gì mà Teabing dường như cố gắng giấu kín trên chiếc máy bay
này.
"Chặn họ
lại", chánh thanh tra ra lệnh. "Tôi sẽ lục soát máy bay".
Người của ông
ta lao tới, súng chĩa ra, chặn đường hai thày trò Teabing, không cho tới
chiếc limousine.
Bấy giờ
Teabing mới quay lại: "Thanh tra, đây là lời cảnh cáo cuối cùng dành cho
anh. Đừng có nghĩ đến chuyện lên chiếc máy bay này. Anh sẽ phải hối tiếc
đấy".
Phớt lờ lời
hăm dọa, chánh thanh tra nắm chặt vũ khí và bước lên cầu thang rút của máy
bay. Tới cửa sập, ông ngó vào bên trong. Lát sau, ông bước vào cabin. Quái
quỷ gì thế này?
Ngoại trừ
viên phi công vẻ như thất đảm trong khoang lái, máy bay trống không. Hoàn
toàn không có sự sống của con người. Nhanh chóng kiểm tra phòng vệ sinh,
ghế và nơi dể hành lý, chánh thanh tra không tìm thấy dấu vết của bất cứ
một người lẩn trốn nào… chưa nói gì đến nhiều cá nhân.
Bezu Fache đã
nghĩ ra chuyện quái quỉ gì vậy? Dường như Teabing đã nói thật.
Chánh thanh
tra đứng một mình trong cabin vắng teo và nuốt nghẹn. Cứt. Mặt ông ta bừng
đỏ, ông quay lại cầu thang rút, nhìn qua hăng-ga về phía hai thầy trò
Leigh Teabing đang đứng gần chiếc limousine trước những họng súng. "Để họ
đi", thanh tra ra lệnh. "Chúng ta nhận được thông tin sai rồi".
Mắt Teabing
đầy vẻ đe dọa, ngay cả qua chiều rộng của hăng-ga cũng thấy rõ: "Anh hãy
chờ một cuộc gọi từ các luật sư của ta. Và để tham khảo sau này, nên nhớ
rằng cảnh sát Pháp không thể tin cậy được".
Với lời đe
doạ đó, người giúp việc của Teabing mở cửa sau chiếc limousine và đỡ ông
chủ tàn tật ngồi vào ghế sau. Rồi, đi theo chiều dài của xe, ngồi vào sau
vô lăng và khởi động. Cảnh sát tản ra khi chiếc Jaguar bứt khỏi hăng-ga.
***
"Chơi tốt
lắm, anh bạn", Teabing reo lên từ ghế sau khi chiếc limousine tăng tốc ra
khỏi sân bay. Ông quay mắt nhìn vào góc phía trước lờ mờ sáng của khoang
trong rộng rãi: "Mọi người đầy thoải mái chứ?".
Langdon gật
đầu yếu ớt. Ông và Sophie vẫn nằm khom khom trên sàn xe, bên cạnh gã bạch
tạng bị bịt miệng và trói chặt.
Nhiều phút
trước, lúc chiếc Hawker lăn bánh vào hăng-ga trống vắng, Rémy đã bật mở
cửa sập dưới bụng của máy bay trong khi nó khấp khểnh dừng lại giữa chừng
vòng của. Trong khi cảnh sát cấp tốc áp sát hăng-ga, Langdon và Sophie kéo
gã thầy tu xuống cầu thang rút đến ngang mặt đất và khuất tầm mắt sau
chiếc limousine. Sau đó, động cơ máy bay lại gầm lên, hoàn tất vòng của
của nó khi đoàn xe cảnh sát tràn vào hăng-ga.
Giờ đây, khi
chiếc limousine phóng nhanh về phía Kent, Langdon và Sophie lồm cồm đứng
dậy đi về phía cuối khoang trong dài rộng của chiếc xe thượng đẳng, để lại
gã thầy tu bị trói trên sàn. Họ ngồi trên chiếc ghế dài đối diện với
Teabing. Ông già người Anh tặng cho cả hai một nụ cười tinh quái và mở tủ
rượu của quầy bar trong xe. "Tôi có thể mời các bạn một ly được không? Một
chút đồ nhắm nhé? Khoai tây rán? Hạt dẻ?".
Cả Sophie và
Langdon đều lắc đầu.
Teabing cười
tươi và đóng quầy rượu: "Vậy thì ta bàn về nấm mộ của người hiệp sĩ…".
Chú thích:
(1)
Hangar: nhà để máy bay, từ này đã Việt hóa, tuy không phổ thông
lắm.
Chương 82
"Phố Fleet?"
Langdon hỏi, nhìn Teabing ở phía sau xe. Có một hầm mộ ở phố Fleet ư? Cho
đến giờ, Leigh vẫn chơi trò kín kín hở hở về nơi mà ông nghĩ là họ có thể
tìm thấy "mộ của người hiệp sĩ", mà theo bài thơ, sẽ cung cấp mật khẩu cho
việc mở cái hộp mật mã nhỏ hơn.
Teabing cười
và quay sang Sophie: "Cô Neveu, hãy đưa cho chàng trai Harvard xem qua bài
thơ một lần nữa, được không?".
Sophie lục
tìm trong túi và rút ra chiếc hộp mật mã màu đen, bọc trong giấy da. Mọi
người đã quyết định để lại chiếc hộp gỗ hồng mộc và hộp mật mã lớn hơn
trong két sắt của máy bay, chỉ mang theo cái họ cần là chiếc hộp mật mã
màu đen kín đáo và gọn nhẹ hơn nhiều. Sophie mở tấm giấy bọc và đưa cho
Langdon.
Mặc dù
Langdon đã đọc bài thơ đó vài lần trên máy bay rồi nhưng ông cũng không
thể suy ra được một địa điểm cụ thể nào. Giờ đây, khi đọc lại những từ
trong bài thơ, ông từ từ nghiền ngẫm thật cẩn thận, hy vọng giờ đây, ở
trên mặt đất, tiết tấu ngũ bộ sẽ hé lộ ý nghĩa rõ ràng hơn.
Ở London yên
nghỉ một hiệp sĩ được Giáo hoàng mai táng.
Kết quả công
sức chàng chuốc lấy cơn thịnh nộ Thần Thánh.
Ngươi kiếm
tìm trái cầu lẽ ra phải ở trên mộ chàng.
Nó nói về da
thịt Hồng và tử cung mang hạt giống.
Ngôn từ dường
như khá đơn giản. Có một hiệp sĩ được chôn ở London. Một hiệp sĩ đã khổ
công làm một điều gì đó khiến Giáo hội tức giận. Một hiệp sĩ mà mộ của
chàng thiếu mất một quả cầu lẽ ra phải có ở đó. Hình tượng cuối cùng được
nhắc tới trong bài thơ - da thịt Hồng và tử cung mang hạt giống - là một
ám chỉ rõ ràng đến Mary Magdalene, đóa Hồng mang hạt giống của Jesus.
Mặc dù bài
thơ có vẻ dễ hiểu, Langdon vẫn không sao biết được hiệp sĩ đó là ai hoặc
được chôn ở đâu. Hơn nữa, một khi đã xác định được vị trí ngôi mộ, xem ra
còn phải tìm một cái gì đó bị thiếu. Trái cầu lẽ ra phải ở trên mộ chàng?
"Không nghĩ
ra à?" Teabing tặc lưỡi ra vẻ thất vọng, mặc dù Langdon cảm thấy nhà sử
học Hoàng gia đang khoái vì đã nắm được một nguồn tin. "Còn cô Neveu?".
Cô lắc đầu
"Hai bạn sẽ làm gì nếu không có tôi?" Teabing nói. "Được, tôi sẽ dẫn các
bạn đi qua bài thơ này. Nó thực sự rất đơn giản.
"Câu thứ nhất
chính là chìa khóa. Xin đọc lên nào".
Langdon đọc
to: "Ở London yên nghỉ một hiệp sĩ được Giáo hoàng mai táng".
"Chính xác.
Một hiệp sĩ được pope - Giáo hoàng mai táng".
Ông nhìn
Langdon. "Theo anh, điều đó có nghĩa là gì?".
Langdon nhún
vai: "Một hiệp sĩ đã được một Giáo hoàng chôn cất. Một hiệp sĩ được một
Giáo hoàng chủ trì tang lễ".
Teabing cười
to: "Ồ, thật. Bao giờ cũng lạc quan, Robert. Hãy xem câu thứ hai. Hiển
nhiên là hiệp sĩ này đã làm điều gì đó để chuốc lấy cơn thịnh nộ Thần
Thánh của Giáo hội. Hãy nghĩ lại. Hãy xét năng động giữa Giáo hội và các
Hiệp sĩ Templar.
Một hiệp sĩ
đã được một Giáo hoàng mai táng phải không?".
"Một hiệp sĩ
bị một Giáo hoàng giết phải không?" Sophie hỏi.
Teabing mỉm
cười và vỗ vỗ vào đầu gối cô: "Suy luận tốt lắm, cô bạn thân mến. Một hiệp
sĩ bị một Giáo hoàng chôn. Tức bị giết".
Langdon nghĩ
đến chiến dịch khét tiếng truy quét các Hiệp sĩ Templar vào năm 1307 -
ngày thứ sáu 13 bất hạnh - khi Giáo hoàng Clement đã giết và chôn hàng
trăm Hiệp sĩ Templar. "Nhưng hẳn phải có vô số mộ của những hiệp sĩ bị
Giáo hoàng giết".
"Aha, không
phải như vậy!" Teabing nói. "Nhiều người trong số họ bị thiêu trên giàn
thiêu và bị ném thẳng xuống sông Tiber. Nhưng bài thơ này nhắc đến một
ngôi mộ. Một ngôi mộ ở London. Và có một số hiệp sĩ được chôn ở London".
Ông dừng lại nhìn Langdon như thể đang đợi ánh sáng hé rạng trong đầu ông
ta. Cuối cùng ông sốt ruột: "Robert, vì Chúa! Ngôi nhà thờ do đội quân của
Tu viện Sion xây dựng ở London - chính các Hiệp sĩ Templar!".
"Nhà thờ
Temple?", Langdon hít vào, kinh ngạc. "Ở đó có hầm mộ?".
"Mười trong
số những ngôi mộ ghê sợ nhất anh có thể thấy".
Langdon chưa
từng đến Nhà thờ Temple, mặc dù ông đã đọc rất nhiều giới thlệu chiếu về
nó trong quá trình nghiên cứu về Tu viện Sion. Đã từng một thời là trung
tâm cho mọi hoạt động của các Hiệp sĩ Templar và Tu viện Sion ở nước Anh,
Nhà thờ Temple được đặt tên như thế để tôn vinh Solomon's Temple (Đền thờ
Solomon) mà từ đó các Hiệp sĩ Templar rút ra danh hiệu của mình cũng như
những tài liệu Sangreal đã mang lại cho họ ảnh hưởng to lớn ở Roma. Có rất
nhiều truyện về các hiệp sĩ tiến hành những nghi thức kỳ lạ, bí mật bên
trong hậu cung khác thường của Nhà thờ Temple. "Nhà thờ Temple ở phố
Fleet?".
Thực tế, nó ở
ngõ Inner Temple ngay sát phố Fleet". Nom Teabing thật ranh mãnh. "Tôi
muốn thấy anh đổ mồ hôi thêm tí nữa trước khi tôi nói ra".
"Cảm ơn".
"Cả hai đều
chưa đến đó phải không?".
Sophie và
Langdon gật đầu.
"Tôi không
ngạc nhiên", Teabing nói. "Giờ đây Nhà thờ Temple đã bị che khuất sau
những tòa nhà lớn hơn. Thậm chí rất ít người biết có nó ở đó. Nơi cổ kính
bí hiểm. Kiến trúc ngoại giáo đến tận cốt lõi".
Sophie có vẻ
ngạc nhiên: "Ngoại giáo?".
"Ngoại giáo
mang tính chất đa thần!". Teabing thốt lên. "Nhà thờ hình tròn. Các Hiệp
sĩ Templar đã bỏ qua thiết kế quy hoạch hình chữ thập theo truyền thống
của người Cơ đốc và xây dựng một nhà thờ hình tròn hoàn hảo để tôn vinh
mặt trời". Lông mày ông biểu diễn một vũ điệu quỷ quái. "Một lời chào
không mấy tế nhị gửi tới những chàng trai ở Roma. Khác nào họ khôi phục
lại Stonehenge . Ở trung tâm London vậy".
Sophie nhìn
Teabing: "Thế còn những câu sau của bài thơ?".
Vẻ vui thích
của nhà sử gia nhạt dần: "Tôi không chắc. Thật khó mà lần cho ra. Chúng ta
cần cẩn thận xem xét từng chiếc trong mười ngôi mộ. Nếu may mắn, ta sẽ
thấy một trong số đó rõ ràng là thiếu một quả cầu".
Langdon nhận
thấy họ đã gần mục tiêu đến mức nào. Nếu quả cầu thiếu vắng cho biết mật
khẩu thì họ có thể mở cái hộp mật mã thứ hai. Ông thấy khó tưởng tượng ra
những gì họ có thể tìm thấy bên trong.
Langdon xem
lại bài thơ. Nó giống như một loại trò chơi ô chữ thuở xưa. Một từ có năm
chữ cái nói về Chén Thánh? Trên máy bay, họ đã thử tất cả những mật khẩu
có vẻ là hiển nhiên, GRAIL, GRAAL, GREAL, VENUS, MARI JESUS, SARAH - nhưng
hình trụ không nhúc nhích. Quá hiển nhiên. Vẻ như có một từ năm chữ cái
nào khác liên quan đến tử cung mang thai của Rose. Việc một chuyên gia như
Leigh Teabing cũng không nắm bất được cái từ này cho Langdon thấy rằng đây
không phải là một từ quy chiếu đến Chén Thánh một cách thông thường.
"Ngài Leigh?"
Rémy gọi qua vai. Ông ta đang nhìn họ trong gương chiếu hậu qua tấm ngăn
để ngỏ. "Ngài nói phố Fleet ở gần cầu Blackriars phải không?".
"Đúng, đi
theo đường Victoria Embankment".
"Tôi xin lỗi.
Tôi không biết chắc nó ở quãng nào. Mọi khi chúng ta chỉ đi đến bệnh
viện".
Teabing nhìn
Langdon và Sophie, mắt long sòng sọc và lầu bầu. "Tôi thề, đôi khi thật cứ
như làm bảo mẫu giữ trẻ vậy. Xin đợi cho một lát. Các bạn cứ tự nhiên dùng
đồ uống và nhấm nháp". Ông rời bọn họ, hì hụi lết đến nói chuyện với Rémy
qua tấm ngăn để ngỏ.
Lúc này
Sophie quay sang Langdon, giọng của cô êm ả:
"Robert,
không ai biết anh và tôi đang ở Anh".
Langdon thấy
cô nói đúng. Cảnh sát quận Kent hẳn đã nói với Fache là chiếc máy bay
trống không, và Fache ắt phải cho là họ vẫn ở Pháp. Chúng ta là vô hình.
Cái mẹo nhỏ của Leigh đã kiếm được cho họ vô khối thời gian.
"Fache sẽ
không bỏ qua dễ dàng", Sophie nói. "Ông ta đã sa đà quá nhiều vào trò truy
bắt này".
Langdon cố
không nghĩ về Fache. Sophie đã hứa sẽ làm mọi thứ trong khả năng của mình
để miễn trách nhiệm cho Langdon khi vụ việc này kết thúc, nhưng Langdon đã
bắt đầu sợ là điều đó có thể không quan trọng. Fache dễ có thể nằm trong
âm mưu này. Mặc dù Langdon không thể tưởng tượng được là Cảnh sát tư pháp
lại dây dưa vào chuyện Chén Thánh, ông vẫn cảm thấy đêm nay có quá nhiều
trùng hợp ngẫu nhiên đến nỗi không thể bỏ qua khả năng Fache có thể là một
tòng phạm. Fache là người có đạo, và ông ta kiên quyêt đổ tội giết người
cho ta. Lại nữa, Sophie thì cứ biện luận rằng Fache đơn giản chỉ quá sốt
sắng thực hiện việc bắt giữ. Xét cho cùng, bằng chứng chống lại Langdon là
đáng kể. Ngoài việc tên của Langdon được viết nguệch ngoạc trên sàn bảo
tàng Louvre và trong sổ ghi các cuộc hẹn của Saunière, giờ đây đã rõ ra là
Langdon đã nói dối về bản thảo của mình rồi sau đó bỏ chạy. Theo gợi ý của
Sophie.
"Robert, tôi
lấy làm tiếc anh đã dính líu quá sâu", Sophie nói, đặt tay lên đầu gối
Langdon. "Nhưng tôi cũng rất vui mừng là anh ở đây".
Lời bình luận
nghe có vẻ thực dụng hơn là lãng mạn, tuy nhiên, Langdon vẫn cảm thấy lóe
lên bất ngờ một tương quan hấp dẫn giữa hai người. Ông mỉm cười một cách
mệt mỏi với cô: "Tôi sẽ vui hơn nhiều khi tôi được ngủ một giấc".
Sophie im
lặng khoảng vài giây: "Ông tôi yêu cầu tôi tin anh. Tôi lấy làm vui mừng
là đã nghe lời ông tôi lần này".
"Ông của cô
thậm chí không hề biết tôi".
"Dù vậy, tôi
vẫn không thể không nghĩ là anh đã làm mọi thứ ông tôi muốn. Anh đã giúp
tôi tìm ra viên đá đỉnh vòm, giải thích về Sangreal, kể với tôi về nghi lễ
trong tầng hầm", cô ngừng lại. "Không hiểu sao đêm nay tôi cảm thấy gần
gũi với ông tôi hơn nhiều năm trước đây. Tôi biết ông tôi sẽ rất vui sướng
về điều đó".
Đằng xa,
đường chân trời của London đã bắt đầu hiện ra qua làn mưa bụi lúc rạng
đông. Trước kia, thống ngự ở London là đồng hồ Big Bellvà cây cầu Tower
Bridge, giờ đây, chân trời cúi chào Millennium Eye (Con mắt Thiên niên kỷ)
- chiếc bánh xe quay Ferris khổng lồ cực kỳ hiện đại leo tớỉ độ cao một
trăm năm mươi mét, từ đó ngắm quang cảnh thành phố thật ngây ngất. Langdon
đã thử lên đó một lần, nhưng những "khoang ngắm cảnh" khiến ông nhớ đến
những quan tài đá kín bưng, và ông quyết định đứng vững trên mặt đất mà
thưởng thức quang cảnh từ đôi bờ lộng gió của sông Thames.
Langdon cảm
thấy ai đó bóp mạnh vào đầu gối, kéo ông quay lại và thấy đôi mắt xanh của
Sophie dán vào mình. Ông nhận ra là cô đang nói với mình: "Anh nghĩ chúng
ta nên làm gì với những tài liệu Sangreal nếu chúng ta tìm thấy chúng?".
Cô thì thầm.
"Những gì tôi
nghĩ không thành vấn đề". Langdon nói. "Ông cô đã trao hộp mật mã cho cô,
và cô nên làm theo những gì mà linh tính mách bảo rằng ông cụ muốn cô làm
như vậy".
"Tôi muốn
biết quan điểm của anh. Rõ ràng anh đã viết điều gì trong bản thảo đó làm
ông tôi tin vào nhận định của anh. Ông tôi đã lên lịch một cuộc gặp riêng
với anh. Điều đó là hi hữu".
"Có thể ông
cụ muốn bảo tôi rằng tôi đã hiểu sai hoàn toàn".
"Tại sao ông
tôi lại bảo tôi tìm anh trừ phi ông tôi thích ý tưởng của anh? Trong bản
thảo của mình, anh ủng hộ ý kiến cho rằng tài liệu Sangreal nên được công
bố hay cứ để bị chôn vùi?".
"Cả hai ý đều
không. Tôi không đưa ra nhận định theo một trong hai cách đó. Bản thảo đó
bàn về hệ biểu tượng của tính nữ thiêng liêng - truy tìm những minh họa
cho tính nữ thiêng liêng trong toàn bộ lịch sử. Chắc chắn tôi không mạo
nhận là mình biết chỗ Chén Thánh được cất giấu hoặc cho rằng nó có nên
được tiết lộ hay không".
"Tuy nhiên,
anh đang viết một cuốn sách về nó, vậy rõ ràng là anh cảm thấy thông tin
nên được chia sẻ".
"Có một sự
khác nhau rất lớn giữa việc tranh luận trên cơ sở giả thuyết về một lịch
sử khác của Christ và…". ông ngừng lại.
"Và gì?".
"Và việc
trình ra trước thế giới hàng nghìn tài liệu cổ như là bằng chứng khoa học
rằng Tân ước là thư chứng sai".
"Nhưng anh đã
nói với tôi rằng Tân ước được dựa trên những điều bịa đặt".
Langdon mỉm
cười: "Sophie, mọi niềm tin vào thế giới đều được dựa trên những điều bịa
đặt. Đó là đỉnh nghĩa về niêm tin - chấp nhận điều mà chúng ta tưởng tượng
là đúng, điều mà chúng ta không thể chứng minh. Mọi tôn giáo đều miêu tả
Thượng Đế qua ẩn dụ, ngụ ngôn và cường điệu, từ những người Ai Cập cổ cho
đến các trường đạo ngày Chủ nhật hiện nay. Ẩn dụ là một cách để giúp trí
óc chúng ta xử lý những gì không thể xử lý được. Vấn đề chỉ phát sinh khi
chúng ta bắt đầu tin những ẩn dụ của chính chúng ta theo nghĩa đen".
"Vậy là anh
tán thành để những tài liệu Sangreal bị chôn vùi mãi mãi?".
"Tôi là một
sử gia. Tôi chống lại sự hủy hoại tài liệu, và tôi muốn thấy những học giả
tôn giáo có được thông tin nhiều hơn để suy ngẫm về cuộc đời khác thường
của Jesus Christ".
"Anh đang lập
luận cho cả hai phía trong vấn đề của tôi".
"Tôi á? Kinh
Thánh là kim chỉ nam cơ bản cho hàng triệu người trên hành tinh này, và
bằng cách tương tự các kinh Koran, Torah và Pali Canon dẫn dắt những người
của các tôn giáo khác. Nếu cô và tôi có thể khai quật được tài liệu nói
ngược lại những câu chuyện thần thánh của tín ngưỡng Hồi giáo, tín ngưỡng
Do Thái, tín ngưỡng Phật giáo, tín ngưỡng của kẻ ngoại đạo, thì liệu chúng
ta có nên làm điều đó chăng? Chúng ta có nên phất lên một ngọn cờ và nói
với các Phật tử rằng chúng ta có bằng chứng là Phật tổ không sinh ra từ
hoa sen? Hoặc giả là Jesus không được sinh ra từ sự thụ thai trinh khiết
theo nghĩa đen? Những ai thực sự hiểu tín ngưỡng của mình đều hiểu những
câu chuyện đó là ẩn dụ".
Sophie có vẻ
hoài nghi: "Bạn của tôi, một người sùng đạo Cơ Đốc dưt khoát tin rằng
Christ đi trên mặt nước theo nghĩa đen, biến nước thành rượu vang theo
nghĩa đen, và sinh ra từ sự thụ thai trinh khiết theo nghĩa đen".
"Quan điểm
của tôi chính xác là", Langdon nói, "Ngụ ngôn tôn giáo đã trở thành một
phần kết cấu của hiện thực. Và việc sống trong hiện thực đó giúp hàng
triệu người xử thế và trở thành người tốt hơn".
"Nhưng có vẻ
như hiện thực của họ là giả dối".
Langdon tủm
tỉm cười: "Cũng chẳng giả hơn hiện thực của một người giải mã toán học lại
tin vào số tưởng tượng "i" bởi vì nó giúp cô ta giải những mật mã".
Sophie cau
mày: "Cái đó không hợp lý".
Một khoảnh
khắc trôi qua.
"Vừa nãy cô
hỏi gì nhỉ?" Langdon hỏi.
"Tôi không
nhớ được".
Langdon mỉm
cười: "Lần nào cũng hiệu quả".
Chú thích:
(1) Công
trình thời tiền sử gồm một vòng tròn lớn với các trụ đá đồ sộ bao quanh
một vòng tròn nhỏ hơn và bốn cổng đá.
(2) Lớp học
tổ chức vào ngày Chủ nhật giảng dạy về tôn giáo cho trẻ em.
Chương 83
Chiếc đồng hồ
đeo tay Chuột Mickey của Langdon chỉ gần 7 giờ 30 khi ông từ chiếc
limousine nhãn hiệu Jaguar bước xuống con hẻm Inner Temple với Sophie và
Teabing. Bộ ba đi ngoằn ngoèo qua một khu bàn cờ chen chúc nhà cửa để tới
cái sân nhỏ bên ngoài Nhà thờ Temple. Tường đá đẽo thô ánh lên mờ mờ trong
mưa, và chim câu gù trong các chi tiết kiến trúc trên đầu.
Nhà thờ cổ
kính này của London được xây dựng hoàn toàn bằng đá Caen. Gồm một toà nhà
tròn gây ấn tượng với mặt tiền dữ dằn, một thấp nhỏ ở trung tâm và gian
giữa giáo đường nhô ra về một bên, nhà thờ nhìn giống một pháo đài quân sự
hơn là một nơi thờ cúng. Được Heraclius, giáo trưởng của Jerusalem, làm
phép vào ngày 10 tháng 2 năm 1185, nhà thờ đã tồn tại qua tám thế kỷ hỗn
loạn về chính trị, cuộc đại hoả hoạn ở London, chiến tranh thế giới lần
thứ nhất, và chỉ bị hư hỏng nặng nề nhất trong lần bị không quân Đức ném
bom cháy vào năm 1940.
Sau chiến
tranh, nó đã được phục chế trở về dáng vẻ hùng vĩ hoang dại ban đầu.
Nét giản dị
của hình tròn. Langdon nghĩ thầm, lần đầu tiên được dịp chiêm ngưỡng toà
nhà. Kiến trúc thô nháp và đơn sơ, khiến người ta nhớ đến Castel Sant
Angelo xù xì ở Rôma hơn là Điện Pantheon tao nhã. Dãy nhà phụ hình hộp nhô
ra ở bên phải thật chướng mắt, mặc dù nó chẳng làm mấy tí để che khuất
hình thù ngoại giáo ban đầu của cấu trúc nguyên thủy.
"Ngày thứ
bảy, giờ này vẫn là sớm", Teabing nói, tập tễnh đi về phía lối vào, "cho
nên tôi nghĩ chúng ta sẽ không vướng phải lễ chầu nào đâu".
Cổng nhà thờ
là một hốc đá, bên trong nó là một cánh cửa gỗ lớn. Ở bên trái cửa, nom
hoàn toàn lạc chỗ, treo một bảng thông tin dán đầy những chương trình hoà
nhạc và thông báo các buổi lễ chầu.
Teabing cau
mày khi đọc bảng tin: "Hai giờ nữa họ mới mở cửa cho khách tham quan". Ông
đi tới cánh cửa và đẩy thử.
Cánh cửa
không nhúc nhích. Teabing áp tai vào gỗ và lắng nghe. Sau một lát, ông lùi
lại, vẻ mưu mô hiện trên nét mặt khi ông chỉ lên bảng thông báo. "Robert,
kiểm tra lại lịch lễ chầu xem! Ai chủ trì tuần này?".
***
Bên trong nhà
thờ, một lễ sinh đang sắp hoàn thành việc hút bụi những gối quỳ làm lễ
Thánh thể thì nghe thấy tiếng gõ cửa thánh đường. Cậu ta lờ đi. Cha Harvey
Knowles có chìa khoá riêng và hai tiếng nữa mới phải có mặt. Tiếng gõ cửa
có lẽ là của một khách du lịch tò mò hay một kẻ ăn xin. Cậu ta cứ hút bụi
tiếp, nhưng tiếng gõ vẫn tiếp tục. Không biết đọc à? Tấm bảng treo ở cửa
đã nói rõ là nhà thờ sẽ không mở cửa cho đến 9 giờ 30 ngày thứ bảy. Cậu bé
quay lại với công việc của mình.
Đột nhiên,
tiếng gõ chuyển thành những cú đập rất mạnh như thể ai đó đang nện vào cửa
bằng một thanh kim loại vậy.
Cậu nhỏ tắt
máy hút bụi và cáu kỉnh đi ra phía cửa. Mở khoá cửa từ phía trong, cậu
giật tung cánh cửa. Ba người đứng ngay ở lối vào. Khách du lịch, cậu càu
nhàu: "Chúng tôi mở cửa vào lúc 9 giờ 30".
Người đàn ông
phục phịch, có vẻ là người dẫn đầu, chống đôi nạng bằng kim loại bước lên
phía trước: "Ta là Ngài Leigh Teabing", ông ta nói, giọng Anh Saxon rõ ra
là người trí thức, chắc hẳn cháu biết, ta đang tháp tùng ông bà
Christopher Wren đệ tứ", ông bước sang bên, điệu đàng vung tay về phía cặp
uyên ương hấp dẫn phía sau. Người phụ nữ nét mặt dịu dàng, mái tóc rậm màu
vang đỏ. Người đàn ông cao, tóc sẫm màu và trông quen quen.
Cậu lễ sinh
không biết phản ứng ra sao. Ngài Christopher Wren là vị mạnh thường quân
nổi tiếng nhất góp công đức vào Nhà thờ Temple. Ông đã cho trùng tu lại
mọi hư hại của nhà thờ do cuộc Đại Hoả Hoạn gây ra. Ông đã mất từ đầu thế
kỉ 18.
"Ưm…rất hân
hạnh được gặp ngài".
Người đàn ông
chống nạng cau mày: "Thật may là cháu không phải là chân bán hàng, cháu
chẳng đon đả gì cho lắm. Cha Knowles đâu?".
"Hôm nay là
thứ bảy. Chưa tới giờ Cha đến".
Vẻ cau có của
người đàn ông chân què càng tăng thêm: "Thế mà gọi là biết ơn đấy! Ông ta
cam đoan với chúng ta rằng ông ta sẽ ở đây, nhưng xem ra chúng ta phải
tiến hành công việc mà không có ông ta. Sẽ không mất nhiều thời gian đâu".
Cậu bé lễ
sinh vẫn đứng chắn lối vào: "Xin lỗi, việc gì không mất nhiều thời gian?".
Đôi mắt của
vị khách quắc lên, và ông ta cúi người về phía trước thì thầm như để tránh
cho mọi người khỏi bối rối: "Này chú nhỏ, hình như cháu là người mới ở đây
thì phải. Hàng năm, hậu duệ của ngài Christopher Wren đều mang một nhúm
tro của ngài để rải trong điện thờ linh thiêng này. Đây là một phần di
chúc mà ngài để lại. Không ai thật sự sung sướng khi thực hiện chuyến đi
này, nhưng chúng ta biết làm thế nào?".
Cậu bé lễ
sinh đã ở đây được hai năm nhưng chưa bao giờ nghe nói về tục lệ này: "Tốt
nhất là ngài đợi đến 9 giờ 30. Nhà thờ vẫn chưa mở cửa, và cháu thì vẫn
chưa hút bụi xong".
Người đàn ông
chống nạng nhìn trừng trừng, giận dữ: "Này chú nhỏ, lý do duy nhất khiến
tòa nhà này còn lại được bất cứ cái gì để cho cậu hút bụi là nhờ quí ngài
trong túi áo của bà kia đấy".
"Cháu không
hiểu?".
"Bà Wren",
người đàn ông chống nạng nói, "bà vui lòng cho cậu bé xấc xược này xem lọ
tro trong túi bà chứ?".
Người phụ nữ
do dự trong giây lát rồi, như tỉnh sau cơn nhập đồng, thò tay vào túi áo
len, lấy ra một vật hình trụ bọc trong một miếng vải.
"Kia, cậu
thấy chứ?". người đàn ông chống nạng gắt: "Bây giờ cậu có thể hoặc là tôn
trọng ý nguyện của người đã khuất và để chúng tôi rắc tro của ông ấy vào
trong điện thờ, hoặc tôi sẽ thưa với cha Knowles là chúng tôi vừa bị đối
xử thế nào".
Cậu lễ sinh
lưỡng lự vì đã quá quen với sự tuân thủ nghiêm ngặt của cha Knowles với
truyền thống nhà thờ… và, quan trọng hơn, với sự cáu giận của cha khi bất
cứ thứ gì toả lên nơi thờ cúng lâu đời này ngoại trừ ánh sáng thích hợp.
Có thể cha Knowles đã quên bẵng là những thành viên của gia đình này sẽ
tới. Nếu vậy, để họ ra đi còn nguy hại hơn là cứ để họ vào. Xét cho cùng,
họ nói chỉ mất một phút thôi mà. Có hại gì đâu?
Hai cậu lễ
sinh đứng sang một bên để cho ba người đi qua, cậu dám thề rằng ông bà
Wren trông cũng có vẻ hoang mang về chuyện này như cậu. Vẫn ngờ vực, nhưng
cậu quay lại với mấy việc vặt của mình, theo dõi họ qua khoé mắt.
Langdon không
khỏi mỉm cười khi ba người đi sâu hơn vào trong nhà thờ: "Leigh", ông thì
thầm, ngài nói dối quá giỏi".
Mắt Teabing
lấp lánh: "Câu lạc bộ sân khấu Oxford mà. Họ vẫn còn nói về vai Julius
Caesar của tôi. Tôi chắc không ai khác đã từng diễn màn đầu Hồi Ba với
nhiều tâm huyết hơn".
Langdon liếc
sang: "Tôi tưởng Ceasar đã chết ở màn này rồi kia mà".
Teabing cười
tự mãn: "Phải, nhưng cái áo choàng La Mã của tôi mở toang ra khi tôi ngã,
và tôi đã phải nằm trên sàn diễn suốt nửa tiếng đồng hồ với thằng bé thòi
lòi ra lủng lẳng. Thậm chí, tôi không dám động đậy một cơ bắp nào. Rất chi
là xuất sắc, xin thưa với anh thế".
Langdon co
rúm người. Rất tiếc là tôi đã bỏ lỡ cảnh đó.
Khi cả nhóm
đi xuyên qua gian nhà phụ hình chữ nhật về phía cổng tò vò dẫn vào nhà thờ
chính, Langdon rất ngạc nhiên về sự khắc khổ ở đây. Mặc dù thiết kế của
bàn thờ cũng giống như ở nhà thờ Cơ đốc, nhưng các đồ bày biện thật ảm đạm
và lạnh lẽo, không chút trang trí truyền thống. "Thật tiêu điều".
Langdon thì
thầm.
Teabing tặc
lưỡi: "Nhà thờ của nước Anh mà. Những tín đồ Giáo phái Anh uống ực tôn
giáo của mình một cách trực tiếp.
Không có gì
để làm sao lãng đi nỗi khổ cực của họ".
Sophie chỉ
tay qua khoảng trống rộng nhường chỗ cho phần hình tròn của nhà thờ. "Chỗ
này trông như một pháo đài", cô nói nhỏ.
Langdon đồng
ý. Thậm chí từ đây, những bức tường trông hùng dũng lạ thường.
"Các Hiệp sĩ
Templar là những chiến binh mà!" Teabing nhắc nhở tiếng nạng nhôm của ông
vang trong khoảng không. "Một xã hội tôn giáo - quân sự. Nhà thờ là pháo
đài và ngân hàng của họ".
"Ngân hàng?",
Sophie hỏi, liếc nhìn Leigh.
"Chúa ơi,
đúng vậy. Chính các Hiệp sĩ Templar đã phát minh ra khái niệm ngân hàng
hiện đại. Đối với giới quý tộc châu Âu, mang vàng theo trong những chuyến
đi là rất nguy hiểm, do đó các Hiệp sĩ Templar đã cho phép giới quý tộc
gửi vàng vào Nhà thờ Temple gần nhất và sau đó rút vàng ra từ bất kỳ một
nhà thờ nào khác của họ ở khắp châu Âu. Tất cả những gì họ cần là giấy tờ
hợp lệ". Ông nháy mắt. "Và một ít tiền hoa hồng. Họ là những cái máy ATM
nguyên thuỷ". Teabing chỉ về phía một cửa sổ kính mờ, nơi ánh mặt trời mới
ló khúc xạ qua một chiến binh áo trắng cưỡi một con ngựa hồng: "Alanus
Marcel", Teabing nói, "Ông Trùm của các Hiệp sĩ Templar vào đầu những năm
1200. Ông và những người kế vị ông ta thực tế nắm giữ chức Nghị viên vùng
Primus Baro Angiae".
Langdon ngạc
nhiên: "Nam tước đầu tiên của vùng này?".
Teabing gật
đầu: "Ông Trùm của các Hiệp sĩ Templar, một số người khắng định, nắm giữ
nhiều quyền lực hơn cả nhà vua".
Khi họ đến
bên ngoài điện thờ hình tròn, Teabing liếc nhanh nhìn cậu lễ sinh đang hút
bụi cách đó một quãng. "Cô biết không". Teabing nói nhỏ với Sophie, "người
ta kể là có lần Chén Thánh đã từng được giữ qua đêm trong nhà thờ này khi
các Hiệp sĩ Templar chuyển chỗ cất giấu nó. Cô có thể tưởng tượng được bốn
cái rương tài liệu Sangreal đã được đặt ở ngay đây cùng với chiếc quan tài
bằng đá của Mary Magdalene không? Nó làm tôi nổi da gà".
Langdon cũng
cảm thấy sởn da gà khi họ bước vào trong căn phòng hình tròn này. Cặp mắt
ông lướt theo đường lượn vòng của tường đá trắng, ngắm nhìn những phù điêu
trên máng xối - ma quỷ, quái vật, những mặt người đau đớn - tất cả đều
nhìn vào phía trong. Dưới những phù điêu là một hàng ghế đá cuộn quanh chu
vi căn phòng.
"Rạp hát hình
tròn", Langdon nói khẽ.
Teabing nhấc
một chiếc nạng, chỉ về góc xa bên trái của căn phòng rồi lại sang góc xa
bên phải. Langdon đã nhìn thấy.
Mười hiệp sĩ
đá.
Năm ở bên
trái. Năm ở bên phải.
Nằm ngửa trên
sàn nhà, những hình người được tạc theo kích thước bằng người thật nghỉ
ngơi trong những tư thế rất thanh thản. Những hiệp sĩ được thể hiện với
đầy đủ áo giáp, khiên và kiếm, cùng những ngôi mộ khiến Langdon có cái cảm
giác bất an như thể có ai đó đã lẻn vào trong khi những hiệp sĩ này đang
ngủ và đổ một lớp thạch cao lên người họ vậy. Tất cả những hình người ở
đây đã dầu dãi phong sương và mặc dù vậy mỗi hình đều rất riêng, độc đáo -
các bộ phận áo giáp, tư thế tay chân rõ rành, nét mặt và dấu hiệu trên
khiên, tất cả đều khác nhau.
Ở London yên
nghỉ một hiệp sĩ được Giáo hoàng mai táng.
Langdon cảm
thấy run khi bước từng bước sâu hơn vào căn phòng hình tròn.
Đây tất phải
là nơi họ kiếm tìm.
Chương 84
Trong một con
hẻm đầy rác rưới rất gần Nhà thờ Temple, Rémy Legaludec lái chiếc
limousine hiệu Jaguar tới đậu sau một dãy thùng đựng rác thải công nghiệp.
Tắt máy, ông ta kiểm tra xung quanh. Vắng tanh. Ông ta ra khỏi xe, bước về
phía sau, và lại trèo vào khoang chính của chiếc limousine nơi đặt gã tu
sĩ.
Cảm thấy sự
có mặt của Rémy, gã thầy tu ở phía sau dứt ra khỏi trạng thái nửa như cầu
nguyện nửa như mê, đôi mắt đỏ của hắn trông có vẻ tò mò hơn là sợ hãi.
Suốt buổi tối, Rémy đã rất phục khả năng giữ bình tĩnh của con người đang
bị trói gô này. Sau đôi chút kháng cự ban đầu trong chiếc xe Range Rover,
gã tu sĩ có vẻ như chấp nhận cảnh ngộ và phó mặc sốphận cho quyền lực tối
cao.
Nới lỏng nơ
đeo cổ, Rémy mở khuy chiếc áo cổ cao, hồ bột xòe sang hai bên của mình và
cảm thấy như lần đầu tiên được thở sau nhiều năm. Đi tới quầy rượu của
chiếc limousine, ông ta tự rót cho mình một ly vodka Smirnoff, ông ta tợp
luôn một hơi, và rót tiếp ly thứ hai.
Chẳng bao lâu
nữa ta sẽ thành người thư nhàn.
Lục trong
quầy rượu, Rémy tìm thấy một cái mở rượu tiêu chuẩn và bật mở lưỡi dao sắc
nhọn. Con dao thường dùng để cắt lớp thiếc bọc trên đầu nút những chai
rượu vang loại tốt, nhưng sáng nay, nó sẽ phục vụ một mục đích ly kỳ hơn
nhiều. Rémy quay lại và đối mặt với Silas, giơ lưỡi dao sáng loáng lên.