Mật mã Da Vinci
Dan Brown
Dịch giả: Đỗ
Thu Hà
Hiệu đính:
Dương Tường
---o0o---
051
- 075
Chương 51
Thậm chí với
vận tốc khiêm tốn 60km/h, cái giảm xóc treo lủng lẳng phía trước của chiếc
xe tải bọc thép vẫn quẹt cành cạch vào mặt đường ngoại ô vắng tanh, làm
bắn những tia lửa lên mui xe.
Chúng ta phải
ra khỏi con đường này, Langdon nghĩ bụng. Ông thậm chí không rõ họ đang đi
về đâu nữa. Chiếc đèn pha duy nhất còn sáng bị va lệch tâm, giờ đây chiếu
xiên xẹo vào cánh rừng ven đường cao tốc. Rõ ràng, tính từ bọc thép trong
cụm từ "xe tải bọc thép" chỉ đúng với thùng chứa hàng chứ đâu có đúng với
phần đằng trước.
Sophie ngồi ở
ghế hành khách, thẫn thờ nhìn chiếc hộp gỗ.
"Cô vẫn ổn
đấy chứ?" Langdon hỏi.
Sophie có vẻ
run: "Anh có tin ông ta không?".
"Về chuyện có
ba người nữa bị sát hại ư? Tôi hoàn toàn tin. Điều đó giải đáp cho một
loạt vấn đề - tình trạng tuyệt vọng của ông cô khi muốn truyền lại viên đá
đỉnh vòm cũng như chuyện tay cảnh sát Fache đang ráo riết săn lùng tôi".
"Không, tôi
muốn nói về việc Vernet cố gắng bảo vệ ngân hàng của ông ta".
Langdon liếc
nhìn: "Đối lập với…?".
"Ông ta muốn
chiếm lấy viên đá đỉnh vòm cho riêng mình".
Langdon trước
đó thậm chí không hề tính đến chuyện đó:
"Làm sao ông
ta có thể biết chiếc hộp chứa cái gì?".
"Thì ngân
hàng của ông ta cất giữ chiếc hộp này mà. Ông ta biết ông tôi. Có thể ông
ta biết nhiều điều đấy. Có lẽ ông ta đã quyết định đoạt lấy Chén Thánh cho
riêng mình".
Langdon lắc
đầu. Vernet không thể là loại người này. "Theo tôi, chỉ có hai lí do khiến
nhiều người đeo đuổi việc tìm kiếm Chén Thánh. Một là họ rất ngây thơ và
tin rằng họ đang kiếm tìm cái Chén của Chúa Jesus đã bao lâu mất tích…".
"Còn lí do
kia".
"Hoặc là họ
biết sự thật và bị chính sự thật đó đe doạ. Trong suốt chiều dài lịch sử,
nhiều nhóm đã tìm cách huỷ Chén Thánh".
Sự im lặng
giữa hai người càng làm nổi bật tiếng chiếc giảm sóc quệt trên mặt đường.
Họ đã đi được vài cây số, và trong khi quan sát những tia lửa bắn tóe
trước đầu xe, Langdon tự hỏi liệu điều đó có nguy hiểm không. Đằng nào
cũng vậy, nếu họ đi ngang một chiếc xe khác, điều này chắc chắn sẽ thu hút
sự chú ý. Langdon bèn quyết định.
"Để tôi xem
có thể nắn lại chiếc giảm sóc được không".
Tạt vào vệ
đường, ông đỗ xe lại.
Cuối cùng,
yên tĩnh đã trở lại.
Khi Langdon
bước về phía đầu xe, ông cảm thấy mình lanh lẹ một cách đáng ngạc nhiên.
Việc phải đối diện với một nòng súng khác nữa đêm nay đã tiếp cho ông một
hơi thở mới. Ông hít mạnh không khí trong lành ban đêm và cố gắng tập
trung trí lực minh mẫn. Kèm theo tình thế nghiêm trọng của kẻ bị săn đuổi,
Langdon bắt đầu cảm thấy gánh nặng của trách nhiệm, cái viễn cảnh là ông
và Sophie có thể đang thực sự nắm giữ một loạt chỉ dẫn mã hóa đưa tới một
trong những bí mật bền lâu nhất của mọi thời.
Cứ như thể
nhiệm vụ này vẫn chưa đủ nặng nề, giờ đây Langdon nhận ra rằng mọi khả
năng tìm cách hoàn trả viên đá đỉnh vòm cho Tu viện Sion vừa bị tiêu tan.
Tin có thêm ba vụ sát hại mang những ngụ ý khốc liệt. Tu viện Sion đã bị
kẻ địch cài người vào. Họ đã bị phản. Rõ ràng hội kín này đã bị theo dõi
hoặc là có nội ứng trong hàng ngũ. Điều đó giải thích tại sao Saunière lại
trao viên đá đỉnh vòm cho Sophie và Langdon vốn là người ngoài tổ chức,
những người mà ông biết rằng họ không thỏa hiệp. Chúng ta không dễ gì trả
lại viên đá đỉnh vòm cho hội này được. Thậm chí nếu Langdon biết cách tìm
ra được một thành viên của Tu viện Sion thì cũng rất có thể người đứng ra
nhận viên đá đỉnh vòm lại chính là kẻ thù. Lúc này, chí ít viên đá đỉnh
vòm cũng ở trong tay Langdon và Sophie cho dù họ có muốn hay không.
Phía đầu
chiếc xe tải trông còn tệ hơn cả trong tưởng tượng của Langdon. Chiếc đèn
pha bên trái đã tắt ngúm, còn chiếc bên phải nom như một con ngươi long ra
khỏi hốc mắt.
Langdon gắn
thẳng chiếc đèn lại nhưng nó lại long ra. Điều đáng mừng duy nhất là chiếc
giảm sóc đằng trước đã tả tơi, gần rụng. Langdon đá vào đó một cái thật
mạnh và cảm thấy ông có thể bẻ nó rời ra hoàn toàn.
Trong khi ông
liên tục đá vào thanh sắt cong queo, Langdon nhớ lại câu chuyện trước đó
với Sophie. "Ông tôi đã để lại một tin nhắn thông qua chiếc máy điện thoại
di động". Sophie tiết lộ. "Ông bảo rằng ông cần phải kể cho tôi nghe về bí
mật của gia đình".
Khi ấy, điều
đó chẳng có nghĩa gì, nhưng giờ đây khi biết Tu viện Sion cũng có liên
quan, Langdon cảm thấy nổi lên một khả năng mới đáng kinh ngạc.
Chiếc giảm
sóc đột nhiên gẫy đánh cách. Langdon ngừng lại để thở. Ít ra thì chiếc xe
cũng không còn giống pháo hoa ngày mồng bốn tháng bảy nữa. Ông túm lấy
chiếc giảm sóc và kéo nó quắng vào rừng cho khuất mắt. Ông tự hỏi sau đây
họ sẽ đi đâu. Họ không biết làm thế nào để mở hộp mật mã hoặc tại sao
Saunière lại giao cho họ viên đá đỉnh vòm. Khốn thay, sự sống còn của họ
trong đêm nay dường như lại phụ thuộc vào việc tìm ra câu trả lời cho
chính những câu hỏi trên.
Chúng ta cần
có sự giúp đỡ, Langdon quyết định. "Một sự giúp đỡ mang tính chuyên môn.
Trong thế
giới của Chén Thánh và trong Tu viện Sion, sự giúp đỡ ấy chỉ có thể tìm
thấy ở một người duy nhất. Tất nhiên, thách thức ở đây sẽ là làm sao
thuyết phục được Sophie về ý tưởng ấy.
Bên trong
chiếc xe bọc thép, trong khi chờ Langdon quay trở lại, Sophie cảm thấy sức
nặng của chiếc hộp trên lòng mình và cô hậm hực. Tại sao ông lại giao cái
này cho mình? Cô hoàn toàn không biết phải làm gì với nó.
Suy nghĩ đi,
Sophie. Hãy sử dụng cái đầu của mày. Ông mày đang cố nói điều gì với mày
đấy!
Mở chiếc hộp
lớn ra, cô xem xét các đĩa quay của hộp mật mã. Một trắc nghiệm để chứng
minh giá trị. Cô cảm thấy bàn tay của ông mình đang làm việc. Viên đá đỉnh
vòm là một bản đồ mà chỉ những người xứng đáng mới lần theo được. Nghe đặc
khẩu khí của ông cô.
Nâng hộp mật
mã ra khỏi chiếc hộp lớn, Sophie đặt những ngón tay của mình lên trên
những đĩa quay. Năm chữ cái. Cô quay lần lượt từng chữ cái một. Cơ cấu
hoạt động trơn tru. Cô sắp những đĩa sao cho các chữ cái cô đã chọn thẳng
hàng giữa hai mũi tên bằng đồng ở mỗi đầu hình trụ. Những đĩa quay lúc này
chắp vần thành một từ năm chữ cái mà Sophie biết rằng nó quá hiển nhiên
đến mức phi lí.
G-R-A-I-L .
Cô nhẹ nhàng
cầm hai đầu hình trụ rồi kéo nó để từ từ gây ra một áp suất. Hộp mật mã
vẫn không nhúc nhích gì cả. Cô nghe thấy dấm chảy òng ọc phía trong và
ngửng kéo. Rồi cô lại thử một từ khác.
V-I-N-C-I
Vẫn chẳng
thấy chuyển động gì.
V-O-U-T-E
Chẳng thấy
gì. Hộp mật mã vẫn đóng chặt.
Chau mày, cô
đặt nó trở vào trong chiếc hộp gỗ hồng rồi đậy nắp lại. Phóng mắt ra ngoài
nhìn Langdon, Sophie cảm thấy biết ơn trời đã cho Langdon ở bên cô đêm
nay. P.S. Hãy tìm Robert Langdon Langdon. Suy lý của ông cô nhằm kéo
Langdon vào cuộc giờ đây đã trở nên rõ ràng. Sophie không được trang bị
đầy đủ kiến thức để hiểu những ý đồ của ông, vậy nên ông đã chỉ định
Robert Langdon làm người hướng dẫn cho cô. Một vị thầy để kèm cặp cô.
Không may cho Langdon, đêm nay hoá ra ông còn Có trách nhiệm hơn cả một
người thầy. Ông đã trở thành cái đích săn lùng của tay cảnh sát Bezu
Fache… và một lực lượng vô hình đang ráo riết muốn sở hữu Chén Thánh.
Bất kể Chén
Thánh hóa ra là cái gì.
Sophie tự hỏi
liệu việc tìm ra Chén Thánh có bõ để cô liều mạng sống của mình hay không.
Khi chiếc xe
tải lại tăng tốc, Langdon lấy làm hài lòng thấy nó chạy êm ru: "Cô có biết
đường đến Versailles không?".
Sophie đưa
mắt nhìn: "Anh muổn đi ngắm cảnh?".
"Không, tôi
có một kế hoạch. Tôi biết một sử gia chuyên nghiên cứu về tôn giáo, ông ta
sống gần vùng Versailles. Tôi không nhớ chính xác nơi ông ấy sống. Nhưng
chúng ta có thể tìm ra. Tôi đã đến thăm điền trang của ông ấy một vài lần.
Tên ông ấy là
Leigh Teabing. Trước đây ông từng là một sử gia thuộc Hoàng gia Anh".
"Và ông ta
sống ở Paris?".
"Đam mê cả
đời của Teabing là Chén Thánh. Khi những xì xào về viên đá đỉnh vòm của Tu
viện Sion nổi lên khoảng mười lăm năm về trước, ông đã chuyển tới Pháp
nhằm tìm kiếm trong các nhà thờ với hi vọng sẽ tìm thấy nó. Ông đã viết
một vài cuốn sách về viên đá đỉnh vòm của Tu viện Sion và Chén Thánh. Ông
có thể giúp chúng ta mở được hộp mật mã và gợi ý cho chúng ta nên làm gì
với nó".
Mắt Sophie tỏ
vẻ thận trọng: "Anh có thể tin ông ta sao?".
"Về mặt nào?
Về việc ông ta sẽ không đánh cắp thông tin?".
"Và không nộp
chúng ta cho cảnh sát".
"Tôi không có
ý định nói cho ông ấy biết cảnh sát đang truy lùng chúng ta. Tôi hy vọng
ông ấy sẽ cho chúng ta tá túc cho đến khi chúng ta làm rõ mọi chuyện".
"Robert này,
anh có nghĩ tới việc mọi đài truyền hình trên đất Pháp có thể đã sẵn sàng
phát đi hình ảnh của chúng ta hay không? Bezu Fache luôn biết cách lợi
dụng các phương tiện truyền thông. Hắn sẽ không để chúng ta tự do đi hết
nơi này đến nơi khác mà không bị phát hiện".
"Tuyệt vời,
Langdon nghĩ bụng. Cuộc ra mắt của mình trên Truyền hình Pháp sẽ mang tiêu
đề "Kẻ bị săn lùng ráo riết nhất Paris". Chí ít Jonas Faukman cũng sẽ hài
lòng: mỗi khi Langdon được đưa tin trên báo đài, số lượng sách bán ra của
ông ta đều tăng vọt lên.
"Ông ta có
phải là một người bạn tốt không?". Sophie hỏi.
Langdon không
tin Teabing là người ham theo dõi tivi, nhất là vào giờ này, nhưng dẫu sao
câu hỏi đó của Sophie cũng đáng cân nhắc. Linh tính mách bảo Langdon rằng
Teabing là một người hoàn toàn đáng tin cậy. Một bến đậu an toàn lí tưởng.
Xét hoàn cảnh
cụ thể, Teabing có thể sẽ vượt lên bản thân để giúp họ đến mức tối đa có
thể. Không chỉ vì ông ta chịu ơn Langdon mà còn vì ông là một chuyên gia
nghiên cứu về Chén Thánh, mà Sophie thì khẳng định rằng ông cô là Đại sư
của Tu viện Sion. Nếu Teabing nghe thấy điều này, ông ta ắt thèm nhỏ dãi
muốn được giúp họ tháo gỡ chuyện này.
"Teabing có
thể là một đồng minh đầy quyền năng", Langdon nói. "Điều đó còn phụ thuộc
vào việc cô muôn kể cho ông ta nghe những gì".
"Fache có thể
sẽ treo thưởng bằng tiền".
Langdon cười:
"Hãy tin tôi, tiền là thứ chót hạng mà tay này cần đến". Leigh Teabing
giàu theo cái cách giàu của những nước nhỏ. Là hậu duệ của quận công đầu
tiên của dòng họ Lancaster lại Vương quốc Anh, Teabing nhận được của cải
theo cái cách cổ xưa - thừa kế. Điền trang của ông ta ở vùng ngoại thành
Paris là một cung điện thế kỉ XVII với hai con hồ riêng.
Langdon gặp
Teabing lần đầu tiên cách đây một vài năm thông qua Đài phát thanh Anh
quốc BBC. Teabing đã tiếp cận BBC với đề nghị làm một bộ phim tài liệu
lịch sử, trong đó, ông sẽ giới thiệu lịch sử đầy xung đột của Chén Thánh
với khán giả xem truyền hình. Những nhà sản xuất chương trình của BBC rất
thích giả thuyết sốt dẻo của Teabing, cũng như công việc nghiên cứu uy tín
và năng lực của ông, nhưng người ta lo ngại rằng khái niệm này gây sốc và
khó nuốt đến mức, chung cuộc, nó có thể làm hoen ố danh tiếng của đài với
tư cách là một cơ quan báo chí có chất lượng cao. Theo gợi ý của Teabing,
hãng BBC đã giải tỏa được nỗi sợ mất uy tín ấy bằng cách thỉnh cầu một số
nhà sử học được khắp thế giới kính nể tham gia vào ba đoạn phim đặc biệt,
tất cả họ đều xác định tính chất lạ kì của bí mật về Chén Thánh, dựa trên
nghiên cứu của riêng từng người.
Langdon ở
trong số những nhân vật được lựa chọn ấy.
Đài BBC đã
đưa Langdon đến điền trang của Teabing ở Paris bằng máy bay để quay phim.
Langdon ngồi trước máy quay trong phòng khách sang trọng của Teabing và
tham gia vào câu chuyện của ông ta, thừa nhận thái độ hoài nghi ban đầu
của mình khi nghe câu chuyện dị bản về Chén Thánh, rồi miêu tả những năm
nghiên cứu đã thuyết phục mình như thế nào để đi đến tin rằng câu chuyện
đó là thật. Cuối cùng, Langdon trình bày một vài trong số những nghiên cứu
của riêng mình - một loạt các mối liên hệ kí tượng học hỗ trợ mạnh mẽ cho
những giả thuyết gây tranh cãi ấy.
Khi chương
trình phát ở Anh quốc, bất chấp thành phần tham dự và những bằng chứng
thông qua các tài liệu xác thực, giả thuyết này đã đụng chạm mạnh với nếp
tư duy Cơ đốc phổ biến đến nỗi lập tức vấp phải một cơn bão tố thù địch
tẩy chay.
Chương trình
này chưa bao giờ được phát ở Mỹ, nhưng ảnh hưởng của nó lại vang vọng khắp
cả Đại Tây Dương. Ít lâu sau, Langdon nhận được một tấm thiếp từ một người
bạn cũ - vài chữ đơn giản: "Et tu, Robert?" (Cả anh sao, Robert?)
"Robert này"
Sophi hỏi "Anh chắc chắn là chúng ta có thể tin người này chứ?".
"Tôi hoàn
toàn chắc chắn. Chúng tôi là những đồng nghiệp, ông ta không cần tiền đâu
và tình cờ tôi biết được rằng ông ấy rất khinh thường giới cầm quyền Pháp.
Chính phủ Pháp đã đánh thuế ông đến mức phi lý bởi vì ông đã mua một điểm
mốc lịch sử . Ông ấy sẽ không vội vã hợp tác với Fache đâu".
Sophie nhìn
sâu vào con đường tối đen như mực: "Nếu chúng ta tìm gặp ông ta, anh muốn
cho ông ta biết đến đâu?".
Langdon có vẻ
chẳng lo lắng chút nào: "Hãy tin tôi đi, Leigh Teabing là người am hiểu
tường tận về Tu viện Sion và Chén Thánh hơn bất kì ai trên đời".
Sophie nhìn
Langdon: "Hơn cả ông tôi sao?".
"Ý của tôi là
anh ấy am hiểu chuyện này hơn bất kì ai ở ngoài hội kín đó".
"Làm sao anh
có thể biết được Teabing không phải là một thành viên của tổ chức này?".
Teabing đã bỏ
cả đời để tìm cách phổ biến sự thật về chiếc Chén Thánh. Trong khi lời thề
của Tu viện Sion là giấu kín bản chất thật sự của Chén Thánh".
"Theo tôi,
điều đó nghe như một sự xung đột về lợi ích vậy".
Langdon hiểu
những lo lắng của cô. Saunière đã trực tiếp trao lại cho cô hộp mật mã,
mặc dù cô chẳng biết nó đựng gì hoặc phải làm gì với nó, nên cô rất ngần
ngại khi phải dính dáng đến một người hoàn toàn xa lạ. Trong việc đánh giá
những thông tin còn bí ẩn, bản năng bao giờ cũng là một phương pháp có
hiệu quả. "Chúng ta chưa cần nói ngay với Teabing về viên đá đỉnh vòm.
Hoặc thậm chí không nói gì hết.
Ông ấy sẽ cho
chúng ta một nơi trú ẩn, cả thời gian để suy ngẫm và có thể, khi chúng ta
nói chuyện với ông ấy về Chén Thánh, biết đâu cô sẽ vỡ lẽ ra tại sao ông
cô lại trao cho cô viên đá đỉnh vòm".
Cho chúng ta
chứ", Sophie sửa lại.
Langdon cảm
thấy một niềm tự hào khiêm tốn và một lần nữa ông lại tự hỏi tại sao ông
Saunière cố ý gán ông vào chuyện này.
"Anh biết ít
nhiều về nơi ở của Teabing chứ?".
"Điền trang
của ông ấy được gọi là Château Villette".
Sophie quay
lại với vẻ không tin: "Chính Château Villette sao?".
"Đúng vậy".
"Bạn oách
đấy".
"Cô biết điền
trang ấy?".
"Tôi đã đi
qua đó. Nó nằm trong một vùng toàn các lâu đài. Cách đây hai mươi phút lái
xe".
Langdon cau
mày: "Xa đến vậy sao?".
"Đúng thế,
ngần ấy thời gian đủ cho anh nói cho tôi biết Chén Thánh thực ra là cái
gì".
Langdon dừng
lại: "Tôi sẽ kể cho cô nghe tại nhà Teabing. Ông ta và tôi chuyên về những
lĩnh vực khác nhau của huyền thoại này, cho nên, nghe cả hai chúng tôi, cô
sẽ nắm được đầy đủ câu chuyện về Chén Thánh". Langdon mỉm cười. "Ngoài ra,
Chén Thánh là cả cuộc đời Teabing, nên nghe Leigh Teabing kể chuyện Chén
Thánh cũng giống như nghe thuyết tương đối từ chính miệng Einstein".
Hy vọng Leigh
không phản đối khách đến vào lúc đêm khuya".
Nói cho chính
xác, đó đích thị là ngài Leigh. Langdon chỉ mắc lầm lẫn này có một lần.
"Teabing quả là một tính cách đặc biệt. Nữ hoàng đã phong tước hiệu Hiệp
sĩ cho ông cách đây mấy năm sau khi ông soạn một bộ lịch sử kì vĩ về Ngôi
nhà ở xứ York".
Sophie nhìn
Langdon: "Anh đang đùa, phải không? Chúng ta sắp tới thăm một Hiệp sĩ ư?".
Langdon mỉm
cười vụng về: "Sophie ạ, chúng ta đang đi tìm Chén Thánh. Còn ai có thể
giúp chúng ta đắc lực hơn một hiệp sĩ?".
Chú thích:
(1) Quốc
khánh Mỹ.
(2) Tiếng
Anh: Chén Thánh
(3) Tiếng
Pháp: viên đá đỉnh vòm.
(4) Điền
trang của ông là một cung điện thế kỷ XVII.
Chương 52
Khu đất rộng
185 mẫu của Château Villette nằm ở vị trí 25' tây bắc Paris trong vùng
ngoại ô Versailles. Được thiết kế bởi kiến trúc sư Francois Mansart cho Bá
tước Aufflay vào năm 1668, đây là một trong những lâu đài lịch sử quan
trọng nhất ở Paris. Hoàn chỉnh với hai con hổ hình chữ nhật và những khu
vườn do kiến trúc sư Le Nôtre thiết kế, Château Villette là một toà lâu
đài khiêm nhường hơn là uy nghi lộng lẫy. Người ta âu yếm mệnh danh cho nó
là Petite Versailles- Versailles nhỏ.
Langdon hãm
phanh và chiếc xe tải bọc thép rùng mình dừng lại ở chân đường xe vào lâu
đài dài tới một dặm. Bên kia chiếc cổng bảo vệ uy nghi, tòa dinh thự của
Ngài Leigh Teabing nổi lên xa xa trên một bãi cỏ. Tấm biển trên cổng ghi
bằng tiếng Anh: PRIVATE PROPERTY. NO TRESPASSING (Tài sản tư nhân. Không
được phép xâm phạm).
Như để tuyên
bố rằng tự bản thân nhà mình là một đảo Anh quốc trên đất Pháp, Teabing
không chỉ trương biển bằng tiếng Anh, mà còn cho đặt hệ thống liên lạc từ
cổng vào ở phía bên phải của chiếc xe tải - ở tất cả các quốc gia châu Âu
phía này là phía ghế hành khách, ngoại trừ nước Anh.
Sophie nhìn
hệ thống liên lạc đặt sai chỗ bằng con mắt lạ lùng:
"Nếu như ai
đó tới đây mà không chở hành khách thì sao?".
"Đừng hỏi",
Langdon có trải nghiệm này với Teabing, "Ông ấy thích mọi thứ vẫn theo
cách bên quê nhà".
Sophie hạ cửa
xe bên phía cô: "Anh nên nói thì hơn".
Langdon xoay
người đổi tư thế và vươn mình ra qua Sophie để bấm nút trên hệ thống liên
lạc: Thoảng một mùi nước hoa quyến rũ từ Sophie phả vào mũi ông và ông
nhận ra họ đang kề sát bên nhau biết bao. Ông vẫn đợi trong tư thế ngả
người bất tiện ấy, trong khi chuông điện thoại bắt đầu reo trên chiếc
micrô nhỏ.
Cuối cùng thì
hệ thống liên lạc cũng kêu lạo xạo và một giọng Pháp cáu kỉnh lên tiếng:
"Château Villette đây. Ai đang gọi đấy?".
"Tôi là
Robert Langdon". Langdon nói to, vẫn xoài người trên lòng Sophie, "Tôi là
một người bạn của ngài Leigh Teabing.
Tôi cần sự
giúp đở của ông ấy".
Ông chủ tôi
đang ngủ. Cũng như tôi đây. Ông có công chuyện gì với ông chủ tôi?".
"Đây là
chuyện riêng. Một vấn đề ông ấy đặc biệt quan tâm".
"Vậy thì tôi
chắc chắn rằng ông chủ sẽ vui lòng tiếp ngài vào sáng mai!".
Langdon xoay
người đi một chút: "Chuyện này rất quan trọng đấy".
"Giấc ngủ của
ngài Leigh cũng rất quan trọng. Nếu ông là bạn, thì hắn phải biết rằng
ngài không được khoẻ chứ".
Ngài Leigh
Teabing bị bại liệt từ hồi nhỏ, và bây giờ vẫn phải đeo nẹp chân và dùng
nạng để đi lại, nhưng Langdon thấy ông vẫn tràn trề nhựa sống trong lần
gặp trước đến nỗi khó có thể coi đó là một tật nguyền. "Làm ơn nói với
ngài là tôi đã phát hiện được thông tin mới về Chén Thánh. Mà thông tin ấy
không thể chờ đến sáng mai được".
Một quãng
ngừng kéo dài.
Sophie và
Langdon đợi, động cơ xe tải vẫn ì ầm chạy không tải.
Cả một phút
trôi qua.
Cuối cùng ai
đó lên tiếng: "Ôi ông bạn của tôi, tôi dám cá là anh vẫn đang theo giờ
tiêu chuẩn ở Harvard", giọng nói mạnh mẽ và nhẹ nhàng.
Langdon toét
miệng cười khi nhận ra chất giọng Anh đặc sệt ấy: "Leigh à, xin lỗi vì đã
đánh thức ông vào cái giờ khiếm nhã này".
"Người giúp
việc của tôi nói rằng không những anh đang ở Paris mà còn muốn tiết lộ
thông tin về Chén Thánh nữa".
"Tôi nghĩ
điều đó có thể lôi ông ra khỏi giường mà".
"Thì thế
đấy".
"Liệu có cơ
may là ông mở cửa tiếp một người bạn cũ không?".
"Những ai
kiếm tìm sự thực thì còn hơn cả bạn bè. Họ là anh em ruột thịt".
Langdon đảo
mắt nhìn Sophie, quá quen với cái thói thích diễn kịch của Teabing.
"Thực ra tôi
sẽ mở cửa thôi", Teabing tuyên bố, "nhưng trước tiên tôi phải xác định tấm
lòng chân thật của anh đã. Một bài kiểm tra sát hạch về danh dự đối với
anh. Anh phải trả lời ba câu hỏi".
Langdon rên
rỉ rồi thì thầm với Sophie: "Hãy chịu đựng cùng tôi nhé. Tôi đã nói trước
rồi mà, ông ấy là một tính cách đặc biệt".
"Câu hỏi đầu
tiên của anh đây", Teabing tuyên bố, giọng điệu như Hercule. "Tôi phải đãi
anh cà phê hay trà?".
Langdon biết
Teabing rất ghét cà phê Mỹ: "Trà đi. Hiệu Earl Grey".
"Rất tốt. Câu
hỏi thứ hai. Anh dùng dường hay sữa?".
Langdon đắn
đo.
"Sữa đi",
Sophie thì thầm bên tai ông. "Tôi nghĩ người Anh sẽ dùng sữa".
"Sữa",
Langdon nói.
Im lặng.
"Đường được
không?".
Teabing không
nói gì.
Khoan! Giờ
thì Langdon đã nhớ ra thứ đồ uống đăng đắng mà ông đã được mời trong cuộc
đến thăm lần thước và nhận ra câu hỏi này là một cái mẹo. "Chanh!" ông
tuyên bố. "Earl Grey với chanh".
"Quả vậy".
Giờ đây Teabing có vẻ rất khoái. "Và cuối cùng, tôi sẽ hỏi anh một câu
nghiêm túc nhất". Teabing dừng lại rồi sau đó nói bằng một giọng rất trịnh
trọng. "Lần cuối cùng một vận động viên chèo thuyền của trường Harvard
thắng một tay đua của trường Oxford tại giải Henley là vào năm nào?".
Langdon không
biết, nhưng ông có thể mường tượng ra lí do duy nhất câu hỏi được đưa ra:
"Một trò hề lố bịch như thế chưa bao giờ xảy ra cả".
Cửa bật mở:
"Trái tim anh chân thật, anh bạn của tôi. Anh có thể vào".
Chương 53
"Ngài
Vernet!" Người quản lí trực đêm của Ngân hàng ký thác Zurich nhẹ cả người
khi nghe thấy giọng của ông chủ tịch ngân hàng trên điện thoại. "Ngài vừa
đi đâu thế ạ? Cảnh sát đang ở đây. Tất cả mọi người đều đang đợi ngài!".
"Tôi đang gặp
một rắc rối nhỏ", ông chủ tịch ngân hàng nói, giọng nghe có vẻ khổ sở.
"Tôi cần ông giúp ngay".
Ngài đang gặp
chuyện nghiêm trọng hơn một rắc rối nhỏ nhiều, người quản lí nghĩ thầm.
Cảnh sát đã phong toả toàn bộ ngân hàng và đang doạ rằng đích thân tay đại
uý của DCPJ sẽ đến với lệnh khám xét mà ngân hàng đòi hỏi phải xuất trình.
"Tôi có thể giúp ngài bằng cách nào?".
"Chiếc xe tải
bọc thép số ba. Tôi cần phải tìm ra nó".
Bối rối,
người quản lí kiểm tra lịch phân phát hàng: "Nó vẫn còn ở đây mà. Tại bãi
bốc dỡ tầng một".
"Thực tế là
không phải vậy đâu. Hai kẻ bị cảnh sát truy lùng đã đánh cắp chiếc xe tải
đó rồi".
"Cái gì? Làm
sao chúng có thể lái xe ra khỏi ngân hàng được cơ chứ?".
"Tôi không
thể nói chi tiết trên điện thoại được, nhưng chúng ta gặp một tình huống
có thể cực kì bất lợi cho ngân hàng".
"Ngài cần tôi
giúp gì đây?".
"Tôi muốn ông
khởi động hệ thống phát tín hiệu khẩn cấp của chiếc xe tải đó".
Người quản lí
trực đêm dõi mắt vào hộp điều khiển LoJack đằng kia căn phòng. Cũng giống
như rất nhiều chiếc xe bọc thép khác, mỗi chiếc xe tải của ngân hàng đều
được trang bị một hệ thống được kiểm soát từ ngân hàng thông qua máy
radio, hệ thống này có thể được khởi động từ ngân hàng. Người quản lí mới
chỉ sử dụng hệ thống báo động này có một lần, sau mỗi vụ cướp, và nó đã
hoạt động một cách hoàn mĩ không thể chê vào đâu được - xác định vị trí
của chiếc xe tải và tự động truyễn toạ độ về các nhà chức trách. Tuy
nhiên, tối nay người quản lí lại có cảm giác rằng ông chủ tịch đang hy
vọng mình sẽ hành động thận trọng hơn mọi ngày. "Thưa ngài, ngài phải hiểu
rằng nếu tôi khởi động LoJack thì hệ thống báo động sẽ ngay lập tức thông
báo cho các nhà chức trách biết chúng ta đang gặp rắc rối".
Vernet im
lặng trong vài giây: "Phải, tôi hiểu. Dù sao cũng cứ làm thế đi. Xe tải số
ba. Tôi sẽ giữ máy. Tôi cần biết vị trí chính xác của chiếc xe tải đó ngay
sau khi ông xác định được".
"Tôi sẽ làm
ngay, thưa ngài".
***
Ba mươi giây
sau đó, cách ngân hàng bốn mươi cây số, một hệ thống báo động nhỏ xíu được
giấu kín dưới gầm chiếc xe tải bọc thép bắt đầu khởi động nhấp nháy.
Chương 54
Khi Langdon
và Sophie lái chiếc xe tải bọc thép trên đoạn đường ngoằn ngoèo giữa hai
hàng cây dương về phía toà nhà, Sophie đã có thể cảm thấy cơ bắp mình thư
giãn. Thật nhẹ người khi thoát ra khỏi đường giao thông công cộng, và cô
nghĩ ít có nơi nào trú chân an toàn hơn là khu điền trang kín cổng cao
tường của người nước ngoài vui tính này.
Họ rẽ vào
đoạn đường xoáy vòng tròn và Château Villêtte hiện ra trước mắt họ ở phía
bên phải. Tòa nhà cao ba tầng và dài ít nhất mười sáu mét, mặt tiền bằng
đá xám, chiếu sáng bởi những trụ đèn chiếu đặt bên ngoài. Mặt tiền thô
nháp này kề sát và tương phản với những khu vườn cảnh tinh khiết và hồ
nước như gương soi.
Đèn trong nhà
lúc này vừa bật lên.
Thay vì lái
xe đến cửa trước, Langdon lái vào khu đỗ xe náu dưới những cây vạn niên
thanh. "Chẳng tội gì phơi nó ra để từ ngoài đường cái cũng nhìn rõ mồn
một", ông nói. "Hoặc là để Leigh thắc mắc tại sao mình lại đến trong chiếc
xe bọc thép tả tơi thế này".
Sophie gật
đầu: "Chúng ta làm gì với chiếc hộp mật mã này đây? Có lẽ không nên để nó
lại trong xe, nhưng nếu Leigh nhìn thấy nó, chắc chắn ông ta sẽ muốn biết
đó là cái gì".
"Đừng lo",
Langdon nói, rồi cởi áo khoác khi bước ra khỏi chiếc xe. Ông cuộn chiếc áo
khoác bằng vải tuýt quanh chiếc hộp rồi ôm bọc đó trong tay như ẵm trẻ
vậy.
Sophie có vẻ
vẫn hoài nghi: "Tinh vi".
"Teabing
không bao giờ tự ra mở cửa, ông ta thích bước vào khi khách đã yên vị. Tôi
sẽ tìm thấy một nơi nào đó bên trong nhà để cất giấu cái này trước ông ấy
gặp chúng ta". Langdon dừng lại. "Thực ra, có lẽ tôi nên dặn cô điều này
trước khi chúng ta nói chuyện với ông ấy. Ngài Leigh là người có khiếu hài
hước mà mọi người thường cảm thấy hơi… kì dị một chút".
Sophie không
tin là còn có điều gì đêm nay có thể khiến cô coi là kỳ dị.
Lối đi dẫn
tới cửa vào chính được rải sỏi. Nó lượn tới một cánh cửa bằng gỗ sồi chạm
trổ và gỗ anh đào, với một chiếc vòng gõ cửa bằng đồng to như quả bưởi.
Trước khi Sophie nắm lấy chiếc vòng đó, cánh cửa đã mở tung ra từ bên
trong.
Một người
quản gia nghiêm trang và thanh lịch đứng trước mặt họ, chỉnh lại lần cuối
chiếc cà vạt trắng và bộ tuxedo mà rõ ràng ông ta vừa mới mặc vào. Trông
ông ta trạc ngũ tuần, nét mặt tao nhã và vẻ nghiêm khắc cho thấy rành là
ông ta chẳng khoái gì sự hiện diện của họ ở đây.
"Ngài Leigh
sẽ xuống ngay bây giờ", ông ta nói dõng dạc bằng chất giọng Pháp đặc sệt.
"Ông chủ đang mặc trang phục.
Ông ấy không
muốn tiếp đãi khách trong khi đang bận đồ ngủ.
Tôi có thể
giúp ông cầm chiếc áo khoác được không?" Ông ta gườm gườm nhìn bọc vải
tuýt trong tay Langdon.
"Cám ơn, tôi
cầm được mà".
"Tất nhiên là
được. Xin mời đi lối này".
Người quản
gia dẫn họ đi xuyên qua một phòng chờ sang trọng lát cẩm thạch rồi vào một
phòng khách trang trí tuyệt đẹp dưới ánh sáng êm dịu từ những ngọn đèn rủ
tua kiểu Victoria. Không khí trong nhà có vẻ rất cổ xưa và cách nào đó lại
có chất vương giả với mùi thuốc lá tẩu, mùi lá trà, mùi rượu vang Tây Ban
Nha đang nấu và cả mùi đất của kiến trúc đá.
Trên nền bức
tường phía xa, giữa hai bộ áo giáp sáng lấp lánh là một lò sưởi xù xì đủ
lớn để nướng cả một con bò đực. Bước tới lò sưởi, người quản gia quỳ xuống
và đánh một que diêm, Châm vào mớ củi gỗ sồi đã xếp sẵn và nhóm lò lên.
Một ngọn lửa nhanh chóng bùng lên lách tách.
Người quản
gia đứng lên và vuốt phăng chiếc áo vét của mình: "Ông chủ tôi đề nghị quí
khách cứ tự nhiên như ở nhà". Nói rồi, ông đi khỏi, để Langdon và Sophie ở
lạỉ một mình.
Sophie phân
vân không biết nên ngồi lên thứ gì trong số những đồ cổ kê cạnh lò sưởi -
chiếc đivăng nhung thời Phục hưng, chiếc xích đu hình móng đạỉ bàng hay là
đôi ghế nguyện bằng đá nom như vừa được khuân ra từ một điện thờ Byzantine
nào đó.
Langdon lôi
hộp mật mã ra khỏi chiếc áo khoác, đoạn tiến tới chiếc đivăng nhung kia và
luồn chiếc hộp gỗ xuống gầm đivăng, khuất hẳn tầm nhìn. Rồi rũ mạnh chiếc
áo, ông mặc nó trở lại, vuốt phẳng ve áo và vừa mỉm cười với Sophie vừa
ngồi ngay lên chỗ vừa cất giấu kho báu.
Chiếc đi văng
này đây, Sophie nghĩ bụng rồi ngồi xuống bên cạnh Langdon.
Trong khi đăm
đăm nhìn ngọn lửa đang to dần, tận hưởng hơi ấm toả ra, Sophie có cảm giác
ông cô ắt rất thích căn phòng này. Ván lát tường bằng gỗ màu đen được
trang trí bằng những bức hoạ của các bậc thầy thời xưa, trong số đó cô
nhận ra một bức Poussin - người hoạ sĩ ưa thích thứ hai của ông cô. Trên
mặt lò sưởi, một bức tượng bán thân nữ thần Isis đang quan sát toàn bộ căn
phòng.
Ngay sát dưới
nữ thần Ai Cập, ở bên trong lò sưởi, có hai máng xối nước hình đầu thú
được dùng làm vỉ lò, miệng của chúng há hốc để lộ ra cổ họng rỗng toác đầy
đe doạ. Hồi bé, những chiếc máng xối nước hình thú như vậy bao giờ cũng
khiến cho Sophie hoảng sợ, cho mãi tới khi ông cô chữa cho cô khỏi cảm
giác sợ hãi ấy bằng cách đưa cô bé lên nóc Nhà thờ Đức Bà trong một cơn
mưa giông. "Công chúa, cháu hãy nhìn vào những con vật ngốc nghếch này",
nói rồi ông chỉ về phía những máng xối nước mưa hình thú với những cái
miệng đang phun nước tung toé kia. "Cháu có nghe thấy cái tiếng ngồ ngộ
trong cuống họng chúng không?". Sophie gật gật đầu, rồi mỉm cười khi nghe
thấy tiếng nước chảy ồng ộc trong cổ họng của những con thú ấy. "Bọn chúng
đang xúc miệng đấy", ông nói với cô bé. "Ôi những con thú biết xúc miệng -
Cargariser!" Và đó cũng chính vì thế mà người ta đặt những cái tên thật
ngớ ngẩn cho những con thú ấy.
Từ đó Sophie
không bao giờ còn sợ chúng nữa.
Kí ức thân
yêu ấy khiến Sophie cảm thấy quặn đau khi thực tế nghiệt ngã của vụ giết
người lại bóp chặt tlm cô. Ông đã ra đi rồi. Cô hình dung hộp mật mã ở
dưới đivăng và tự hỏi không biết Leigh Teabing có cách nào để mở nó hay
không. Hay là ta cứ hỏi thẳng ông ấy. Lời trăng trối của ông cô đã dặn cô
tìm Robert Langdon. Ông chẳng nói gì về chuyện kéo thêm ai khác vào cuộc.
Chúng ta cần có một nơi để trốn. Sophie tự nhủ và quyết định sẽ tin tưởng
vào nhận định của Robert.
"Ngài
Robert", một giọng nói oang oang đâu đó phía sau họ, "Tôi thấy là ngài đi
cùng với một thiếu nữ".
Langdon đứng
lên. Sophie cũng bật dậy. Giọng nói ấy vọng xuống từ đầu cầu thang vòng
cung, uốn khúc lên tầng hai chìm trong bóng tối. Trên đầu cầu thang, một
hình người chuyển động trong bóng tối, chỉ thấy được vóc dáng mà thôi.
"Xin chào",
Langdon nói vọng lên, "Ngài Leigh, tôi xin giới thiệu đây là cô Sophie
Neveu".
"Rất hân
hạnh", Teabing hiện ra dưới ánh đèn.
"Cảm ơn ngài
đã tiếp chúng tôi", Sophie nói, lúc này đã thấy rõ ông ta mang nẹp chân
bằng kim loại và dùng nạng để di chuyển. Ông ta đang bước từng bậc một
xuống cầu thang, "Tôi biết giờ đã rất khuya".
"Bạn thân
mến, khuya quá hóa sớm!" ông mỉm cười: "Vous ri etes pas Americaine?" .
Sophie lắc
đầu: "Parisienne" .
"Tiếng Anh
của cô rất tuyệt đấy".
"Cám ơn ngài.
Tôi đã học tại trường Hoàng gia Holloway".
"Ra thế, thảo
nào", Teabing tập tễnh bước xuống bậc bậc dưới. "Có lẽ Robert đã kể cho cô
biết tôi đã từng giảng dạy ở Oxford", Teabing nở một nụ cười tinh quái với
Langdon. "Tất nhiên tôi cũng đã nộp đơn xin dạy ở Harvard, xem như trường
an toàn của tôi".
Vị chủ nhân
đã tới chân cầu thang, Sophie thấy ông chẳng có vẻ hiệp sĩ gì hơn Ngài
Elton John . Với vóc dáng bệ vệ và khuôn mặt hồng hào, Teabỉng có mái tóc
rậm hung dỏ, cặp mắt màu nâu vui tươi dường như lúc nào cũng lấp lánh mỗi
khi ông cất lời ông mặc quần chiết li và sơ mi lụa rộng bên trong chiếc
vét có hoạ tiết hình cánh hoa. Mặc dù phải dùng nẹp chân bằng nhôm, nhưng
ông đi thẳng thớm, nhún nhảy với cái vẻ đường hoàng tựa như kế truyền từ
dòng dõi quí tộc hơn là do nỗ lực một cách hữu thức.
Teabing tới
và chìa tay cho Langdon: "Robert này, anh giảm cân đi nhiều đấy".
Langdon nhoẻn
miệng cười: "Còn ngài thì có tăng trọng một chút".
Teabing cười
nồng hậu, vỗ vỗ cái bụng tròn trịa của mình:
Touché!" .
Dạo này, lạc thú thể xác duy nhất của tôi dường như chỉ là ăn uống". Quay
sang Sophie, ông dịu dàng cầm lấy tay cô, khẽ cúi đầu hôn nhẹ lên những
ngón tay cô và ngánh mắt đi: "Quý nương".
Sophie liếc
nhìn Langdon, không biết mình đã trở lui về thời xa xưa hay vừa bước vào
một nhà thương điên.
Người quản
gia lúc nãy mở cửa đón họ, giờ bước vào với một bộ đồ trà mà ông ta xếp
lên một chiếc bàn trước lò sưởi.
"Đây là Rémy
Legaludec", Teabing giới thiệu, "quản gia của tôi".
Người quản
gia mảnh mai gật đầu cứng nhắc và lại biến mất.
"Rémy là
Lyonnais" , Teabỉng thì thào như thể người Lyon là một bệnh dịch vậy,
"nhưng ông ta nấu nước sốt rất ngon".
Nom Langdon
có vẻ thích chí: "Tôi những tưởng ngài sẽ nhập khẩu cả một đội ngũ nhân
viên người Anh cơ đấy?".
"Trời, không
đâu! Tôi sẽ không cầu cho bất cứ ai vô phúc vớ phải một đầu bếp người Anh,
trừ bọn thu thuế người Pháp".
Ông liếc nhìn
Sophie. "Pardonnez-moi , thưa cô Neveu. Xin cô hãy tin rằng rằng ác cảm
của tôi đối với nước Pháp chỉ mở rộng đến chính trị và sân bóng đá mà
thôi. Chính phủ nước cô đã cuỗm mất tiền của tôi, và đội bóng nước cô thì
vừa mới hạ nhục chúng tôi".
Sophie mỉm
cười thoải mái.
Teabing quan
sát cô một lúc rồi lại nhìn Langdon: "Có chuyện gì đó vừa xảy ra. Cả hai
bạn đều có vẻ xáo động".
Langdon gật
đầu: "Chúng tôi đã có một đêm hay ho đấy, ngài Leigh ạ".
"Không nghi
ngờ gì nữa. Nửa đêm, anh đến đập cửa nhà tôi không báo trước, lại đem
chuyện Chén Thánh ra làm quà. Hãy nói cho tôi biết, thực ra chuyện này có
liên quan đến chiếc Chén Thánh hay không? Hay đơn giản anh nói như vậy chỉ
vì anh biết rõ rằng đó là chủ đề duy nhất sẽ đánh thức được tôi vào nửa
đêm thế này?".
Cả hai, mỗi
thứ một chút, Sophie nghĩ thầm, hình dung tới hộp mật mã bên dưới chiếc
đivăng.
"Ngài Leigh
này", Langdon nói, "chúng tôi muốn nói chuyện với ngài về Tu viện Sion".
Cặp lông mày
rậm rạp của Teabing uốn cong lên, lộ vẻ tò mò. "Những người gìn giữ Chén
Thánh. Vậy ra hai người đến đây về chuyện Chén Thánh thật. Anh nói có mang
một số thông tin tới. Có gì mới không, Robert?".
"Có thể.
Chúng tôi cũng không dám chắc lắm đâu. Chúng tôi có thể biết rõ hơn nếu
như chúng tôi nhận được thông tin từ phía ngài trước đã".
Teabing dứ dứ
ngón tay: "Vẫn cái thói ranh ma của người Mỹ. Một trò có đi có lại. Tốt
thôi. Tôi sẵn sàng phục vụ các bạn. Tôi có thể nói cho các bạn biết về
điều gì đây?".
Langdon thở
dài: "Tôi hy vọng ngài sẽ sẵn lòng giải thích cho cô Neveu đây về bản chất
thực của Chén Thánh".
Teabing có vẻ
sửng sốt: "Cô ấy chưa biết sao?".
Langdon lắc
đầu.
Một nụ cười
dần nở trên mặt Teabing, nó gần như tục tĩu:
"Robert này,
thì ra anh mang đến cho tôi một trinh nữ".
Langdon cau
mặt, liếc nhìn Sophie: "Trinh nữ là một thuật ngữ mà những người say mê
Chén Thánh dùng để mô tả bất kì ai chưa bao giờ nghe câu chuyện thật về
Chén Thánh".
Teabing sốt
sắng quay sang Sophie: "Cô biết đến đâu rồi?".
Sophie nhanh
chóng phác qua những gì trước đây Langdon đã giải thích cho cô hay - Tu
viện Sion, các Hiệp sĩ Templar, tài liệu Sangreal và cả Chén Thánh mà
nhiều người cho rằng đó không chỉ là một chiếc chén… mà đúng hơn là một
thứ gì đó đầy quyền lực.
"Chỉ có vậy
thôi sao?". Teabing ném về phía Langdon một cái nhìn công phẫn. "Robert
này, tôi cứ tưởng anh là một quý ông cơ đấy. Anh đã tước mất của cô gái
này đoạn cao trào!" .
"Tôi biết,
tôi nghĩ ngài và tôi có thể…" Rõ ràng là Langdon thấy phép ẩn dụ khiếm
Teabing dùng đã đi quá xa và như thế là quá đủ rồi.
Teabing đã
khiến Sophie bị cột chặt vào cái nhìn long lanh của ông: "Cô bạn thân mến,
cô là một trinh nữ về Chén Thánh. Và hãy tin tôi, cô sẽ không bao giờ quên
lần đầu tiên của mình đâu".
Chú thích:
(1) Tiếng
Pháp trong nguyên bản: Cô không phải là người Mỹ?
(2) Tiếng
Pháp trong nguyên bản: Người Paris.
(3) Danh ca
Anh cũng được phong tặng danh hiệu hiệp sĩ.
(4) Tiếng
Pháp trong nguyên bản: Trúng đích.
(5) Tiếng
Pháp trong nguyên bản: người Lyon
(6) Tiếng
Pháp trong nguyên bản: Thứ lỗi cho tôi.
(7) Chơi chữ:
climax trong tiếng Anh vừa có nghĩa là đoạn cao trào, phần có ý nghĩa nhất
của một câu chuyện nhưng cũng có nghĩa là phút cực khoái trong giao hợp.
Chương 55
Nằm trên
chiếc đivăng bên cạnh Langdon, Sophie uống tách trà và ăn bánh nướng, cảm
thấy tác động dễ chịu của chất cafein và đồ ăn. Ngài Leigh Teabing tươi
rói trong khi vụng về dạo bước phía trước lò sưởi để ngỏ, những chiếc nẹp
chân lách cách trên nền đá.
"Chén Thánh",
Teabing nói, giọng giảng giải, "hầu hết mọi người chỉ hỏi tôi là hiện nó ở
đâu. Tôi e rằng đó chính là câu hỏi tôi sẽ không bao giờ trả lời được".
Ông quay lại nhìn thẳng vào mặt Sophie. "Tuy nhiên… câu hỏi thích đáng
nhất chính là: Chén Thánh là gì?".
Sophie cảm
thấy một vẻ rào đón mang tính học thuật ở cả hai người bạn nam của mình.
"Để có thể
hiểu một cách đầy đủ về Chén Thánh", Teabing tiếp tục trước tiên chúng ta
cần phải hiểu Kinh thánh đã. Cô hiểu như thế nào về Tân ước?".
Sophie nhún
vai: "Thực sự, tôi chẳng hiểu gì cả. Người nuôi dạy tôi nên người lại rất
sùng kính Leonardo Da Vinci".
Teabing có vẻ
vừa sửng sốt vừa hài lòng: "Một tâm hồn sáng láng. Tuyệt! Thế thì chắc
chắn cô phải biết rất rõ Leonardo là một trong số những người nắm giữ bí
mật về Chén Thánh. Và ông ta còn cất giấu những đầu mối về bí mật đó trong
nghệ thuật của mình".
"Vâng, Robert
đã nói cho tôi như vậy".
"Thế những
quan điểm của Da Vinci về Tân ước thì sao?".
"Tôi không
biết".
Mắt Teabing
trở nên vui thích khi ông khoát tay về phía giá sách ở đầu kia phòng:
"Robert này, phiền anh được không? Ở ngăn dưới cùng ấy. Cuốn La stora di
Leonardo" (Truyện về Leonardo.
Langdon băng
ngang qua căn phòng, ông tìm thấy một cuốn sách khổ lớn về nghệ thuật, đem
nó lại, đặt lên mặt bàn giữa hai người. Xoay cuốn sách về phía Sophie,
Teabing lật mở tấm bìa dày và chỉ vào một loạt những lời trích dẫn bên
trong bìa sau. "Trích từ sổ tay của Da Vinci về luận chiến và suy biện",
Teabing vừa nói vừa chỉ tay vào một đoạn trích cụ thể. "Tôi nghĩ cô sẽ
thấy đoạn trích này phù hợp với cuộc thảo luận của chúng ta".
Sophie đọc
những dòng chữ đó lên.
Nhiều người
đã buôn bán những ảo tưởng và những phép màu giả mạo, lừa gạt đám đông ngu
ngốc.
LEONARDO DA
VINCI.
"Đây là một
đoạn khác", Teabing vừa nói vừa chỉ tay một đoạn trích khác.
Sự ngu dốt mù
loà đưa chúng ta lầm đường lạc lối.
Hỡi lũ người
trần tục khôn khổ, hãy mở mắt ra!
LEONARDO DA
VINCI.
Sophie cảm
thấy hơi ớn lạnh: "Da Vinci nói về Kinh Thánh đấy ư?".
Teabing gật
đầu: "Những cảm giác của Leonardo về Kinh Thánh liên quan trực tiếp tới
Chén Thánh. Thực tế, Da Vinci đã vẽ chiếc Chén Thánh đích thực, mà lát nữa
tôi sẽ chỉ cho cô xem, nhưng chúng ta phải nói về Kinh Thánh trước đã".
Teabing mỉm cười: "Và tất cả những gì cô cần biết về Kinh Thánh đã được
tổng kết bởi vị Tiến sĩ, Giáo sĩ vĩ đại Martyn Percy". Teabing hắng giọng
và tuyên bố. "Kinh Thánh không đến từ thiên đàng bằng đường fax đâu".
"Xin lỗi tôi
không hiểu?".
"Bạn thân
mến, Kinh Thánh là một sản phẩm của con người. Chứ không phải là của Chúa.
Kinh Thánh không phải rơi xuống từ những đám mây bằng phép mầu. Con người
đã sáng tạo ra Kinh Thánh như một hồ sơ lịch sử ghi lại những thời đại
loạn lạc và nó đã triển hóa qua vô số những bản dịch, bổ sung, và sửa
chữa. Lịch sử chưa bao giờ có một bản chính dứt khoát của cuốn sách này!".
"Tôi hiểu
rồi".
Chúa Jesus
Christ là một nhân vật lịch sử có ảnh hưởng chấn động, có lẽ là người lãnh
đạo bí hiểm nhất và đem lại nhiều nguồn cảm hứng nhất mà thế giới từng
thấy. Với tư cách là vị Chúa Cứu Thế được báo trước, Jesus lật đổ các vị
vua, khơi gợi cảm hứng cho hàng triệu người và đã sáng lập ra nhiều nền
triết học. Với tư cách là người kế tục dòng dõi của các vị vua Salomon và
David, Jesus có quyền chính đáng đòi ngôi Quân vương của người Do Thái.
Thật dễ hiểu là cuộc đời của Người được hàng nghìn tín đồ trên khắp các
vùng đất ghi chép lại". Teabing dừng lại một chút để nhấm nháp tách trà
rồi đặt nó trở lại trên mặt lò sưởi. "Có hơn tám mươi bản phúc âm được xem
xét để soạn Tân ước, nhưng chỉ có một số tương đối ít được chọn để đưa vào
- Matthew, Mark, Luke, và John".
"Ai là người
lựa chọn những bản phúc âm đó để đưa vào Tân ước?" Sophie hỏi.
"Aha!".
Teabing bốc lên. "Điều mỉa mai cơ bản của Thiên Chúa giáo! Cuốn Kinh thánh
mà chúng ta biết ngày nay được tập hợp và chỉnh lý bởi Constantine Đại đế
- một hoàng đế La Mã ngoại đạo".
"Tôi tưởng
Constantine là một tín đồ Thiên Chúa giáo", Sophie nói.
"Đâu có",
Teabing chế giễu, "Ông ta cả đời là một kẻ ngoại đạo mãi đến khi nằm trên
giường lâm chung, quá yếu không thể phản đối được, mới chịu lễ rửa tội.
Dưới thời Constantine, quốc giáo của La Mã thờ thần Mặt trời - thờ Sol
Invictus tức là Mặt trời không gì thắng nổi - và Constantine chính là tu
sĩ đứng đầu quốc giáo đó. Rủi cho ông ta, một cuộc náo loạn tôn giáo ngày
càng dữ dội đã tràn ngập La Mã. Ba thế kỉ sau khi Chúa Jesus Christ bị
đóng đinh câu rút, số tín đồ của Người đã tăng bội lên theo cấp luỹ thừa.
Những tín đồ Thiên Chúa giáo và những người ngoại đạo bắt đầu gây chiến
với nhau, và cuộc xung đột phát triển đến mức đe doạ chia cắt La Mã làm
hai. Constantine quyết định phải làm một điều gì đó. Vào năm 325 sau Thiên
Chúa Giáng Sinh, ông ta quyết tâm thống nhất La Mã dưới hình thức một tôn
giáo duy nhất. Đó chính là Thiên chúa giáo".
Sophie ngạc
nhiên: "Tại sao một hoàng đế ngoại đạo lại lựa chọn đạo Thiên chúa làm
quốc giáo?".
Teabing cười
khúc khích: "Constantine là một nhà kinh doanh rất giỏi. Ông ta thấy rõ
Thiên chúa giáo ở xu thế đang lên, và đơn giản là ông ta ủng hộ con ngựa
thắng cuộc. Các sử gia lấy làm thán phục sự xuất sắc của Constantine trong
việc cải đạo cho những người thờ thần Mặt Trời thành những tín đồ Thiên
chúa giáo. Bằng việc phối quyện những biểu tượng, ngày tháng, nghi lễ
ngoại đạo vào truyền thống Thiên chúa giáo đang ngày càng phát triển, ông
đã tạo ra một thứ tôn giáo lai tạo có thể chấp nhận được với cả hai phía".
"Thần thông
biến hóa", Langdon nói. "Những dấu tích của dị giáo trong những biểu tượng
của Thiên chúa giáo là không thể chối cãi được. Đĩa mặt trời Ai Cập thành
hào quang quanh đầu các thánh Thiên Chúa giáo. Những hình diễn đạt nữ thần
Isis cho Horus bú, đứa con trai được thụ thai một cách kì diệu, đã trở
thành mẫu phác thảo cho các hình vẽ hiện đại thể hiện Đức Mẹ Đồng Trinh
Mary cho Chúa Hài Đồng Jesus bú. Và gần như mọi yếu tố trong các nghi lễ
của Ki tô giáo như mũ tế, bàn thờ thánh, thánh ca, lễ ban thánh thể cũng
như nghi thức rước mình Thánh Chúa đều được lấy thẳng từ những nghi lễ bí
nhiệm dị giáo có từ trước đó".
Teabing rên
rỉ: "Đừng có để một nhà ký tượng học bắt đầu giảng những bức tượng thánh
Thiên chúa giáo. Chẳng có gì trong Thiên chúa giáo là chính gốc. Mithras -
mà người ta vẫn quen gọi là Con trai của Thượng đế và Anh sáng của thế
giới - là một vị thần tiền - Thiên chúa giáo chào đời vào ngày 25 tháng
12, và khi chết được chôn trong một ngôi mộ bằng đá, rồi tái sinh sau đó
ba ngày. Tiện đây xin nói ngày 25 tháng 12 cũng được coi là ngày sinh của
Orisis, Adonis và Dionysus. Thần Krishna lúc mới sinh ra đã được dâng tặng
vàng, trầm hương và cả nhựa trầm hương. Thậm chí ngày thánh hàng tuần của
Cơ đốc giáo cũng là thứ đánh cắp từ những người ngoại đạo".
"Ý ông muốn
nói gì?".
"Thoạt kỳ
thuỷ". Teabing nói, "Thiên chúa gỉáo tôn vinh ngày hành lễ thứ Bảy Sabbath
của người Do Thái, nhưng Constantine đã chuyển ngày lễ đó cho trùng với
ngày lễ thần Mặt Trời của người ngoại đạo". Ông dừng lạí và cười. "Cho đến
tận bây giờ, những con chiên đi lễ chầu sáng Chủ nhật vẫn không mảy may
biết rằng họ ở đó để dự tế thần Mặt Trời hàng tuần của người ngoại đạo -
Chủ nhật có nghĩa là ngày của mặt trời mà".
Sophie cảm
thấy đầu óc quay cuồng: "Và tất cả những điều này đều liên quan đến Chén
Thánh?.
"Quả vậy",
Teabing nói, "hãy tiếp tục cùng tôi. Trong thời kì hợp nhất tôn giáo ấy,
Constantine cẫn tăng cường truyền thống mới trong Thiên chúa giáo và triệu
tập một cuộc họp toàn giáo hội nổi tiếng gọi là Hội đồng Nicaea".
Sophie có
nghe nói đến Hội đồng Nicaea nhưng chỉ biết đó là nơi ra đời của Kinh tin
kính Nicene.
"Tại cuộc họp
này", Teabing nói, "nhiều khía cạnh của Thiên chúa giáo đã được mang ra
tranh cãi và biểu quyết như lễ Phục sinh vai trò của các giám mục, việc
quản lí các nghi lễ và tất nhiên, cũng bao gồm cả tính thiên giới của
Jesus".
"Tôi không
hiểu. Tính thiên giới của Jesus nghĩa là sao?".
"Bạn thân mến
ơi", Teabing tuyên bố, "cho đến thời điểm đó trong lịch sử, các tín đồ của
Jesus vẫn chỉ coi Người như một nhà tiên tri trần tục… nghĩa là một con
người vĩ đại và đầy uy lực nhưng dù sao mặc lòng vẫn là một con người. Một
kẻ trần tục".
"Không phải
là Con trai của Chúa trời sao?".
"Đúng vậy",
Teabing nhận xét, "việc cố tình công nhận Jesus là Con trai của Chúa trời
được đề xuất chính thức và biểu quyết bởi Hội đồng Nicaea".
"Hượm đã. Ông
nói tính thiên giới của Jesus là kết quả của một cuộc bỏ phiếu biểu
quyết?".
"Mà lại là
một cuộc biểu quyết tương đối hẹp nữa chứ", Teabing bổ sung, "Dù sao đi
nữa, việc khẳng định tính thiên giới của Christ có tính quyết định đối với
việc thống nhất đế chế La Mã và cơ sở quyền lực mới của Vatican. Bằng việc
chính thức xác nhận Jesus là Con trai của Chúa Trời, Constantine đã biến
Jesus thành một vị thần tồn tại ngoài phạm vi thế giới loài người, một
thực thể với quyền uy vượt qua mọi thách thức. Điều này không chỉ ngăn
chặn những thách thức mới đối với Thiên Chúa giáo từ phía những người
ngoại đại, mà giờ đây những tín đồ của Christ còn có thể tự cứu chuộc mình
thông qua con đường linh thiêng duy nhất đã được chế định - nhà thờ Thiên
Chúa giáo La Mã".
Sophie liếc
nhìn Langdon, ông nhẹ nhàng gật đầu khẳng định.
"Tất cả đều
có liên quan đến quyền lực", Teabing tiếp tục, "Christ, với tư cách là
Chúa Cứu thế, có tầm quan trọng quyết định đối với sự vận hành của nhà thờ
cũng như của nhà nước. Nhiều học giả tuyên bố rằng Nhà thờ sơ khởi đã đánh
cắp Jesus theo nghĩa đen từ những tín đồ ban đầu của ông, cưỡng doạt thông
điệp nhân văn của ông, trùm lên thông điệp đó một tấm màn dày đặc là tính
thiên giới và sử dụng nó để mở rộng quyền lực của riêng họ. Tôi đã viết
một vài cuốn sách về đề tài này".
"Tôi đồ rằng
hắn các tín đồ Thiên chúa giáo mộ đạo ngày nào cũng gửi cho ông những bức
thư hằn học?".
"Tại sao họ
phải làm thế?". Teabing phản bác. "Đại đa số những tín đồ Thiên chúa có
học vấn đều biết lịch sử tín ngưỡng của mình. Quả thực, Jesus là một con
người vĩ đại và giàu sức mạnh. Những thủ đoạn chính trị lừa lọc của
Constantine không làm giảm sút sự vĩ đại của Jesus. Không ai nói rằng
Christ là một vụ gian trá hay chối cãi rằng ông đã đi khắp thế gian và
gieo vào lòng hàng triệu người khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Chúng tôi chỉ nói Constantine đã lợi dụng tầm quan trọng và ảnh hưởng lớn
lao của Christ. Làm như vậy, ông ta đã tạo ra diện mạo của Thiên chúa giáo
như chúng ta biết ngày nay".
Sophie liếc
nhìn cuốn sách nghệ thuật nằm trước mặt cô, háo hức muốn giở tiếp để xem
bức hoạ của Da Vinci về Chén Thánh.
"Sự xoay
chuyển là thế này", Teabing lúc này nói nhanh hơn, "bởi vì Constantine
nâng vị thế của Jesus sau khi Jesus qua đời gần bốn thế kỉ, nên đã có hàng
ngàn tài liệu ghi chép lại cuộc đời của Jesus như là một con người trần
tục. Để chỉnh biên lại những cuốn sách lịch sử này, Constantine biết mình
cần làm một cú táo bạo. Do vậy, đã nẩy sinh thời điểm sâu sắc nhất trong
lịch sử Thiên chúa giáo". Teabing dừng lại và nhìn Sophỉe. "Constantine đã
tài trợ và đặt người viết một cuốn Kinh Thánh mới, trong đó tước bỏ những
bản phúc âm mô tả những nét con người trần thế của Christ và tô điểm những
bản thể hiện Christ như một vị thần. Những sách phúc âm trước đó bị coi là
bất hợp pháp, phải thu gom lại và đốt sạch".
"Một lưu ý
thú vị", Langdon bổ sung, "bất kì ai chọn những bản phúc âm bị cấm thay vì
bản của Constantine đều bị coi là dị giáo. Từ dị giáo phát sinh từ thời
điểm lịch sử này. Trong tiếng Latinh từ haereticus có nghĩa là "sự lựa
chọn". Những ai lựa chọn, lịch sử khởi nguyên của Christ đều là những kẻ
dị giáo đầu tiên của thế giới".
"Cũng may cho
các sử gia", Teabing nói, "một vài trong số những phúc âm mà Constantine
cố gắng thủ tiêu vẫn còn sót.
Vào những năm
1950, người ta đã tìm thấy những bản ghi chép về vùng Biển Chết cuộn trong
ống được giấu trong một cái hang gần Qumran trong sa mạc Judean. Và tất
nhiên, phải kể đến những ống giấy Coptic mà người ta đã tìm thấy vào năm
1945 tại Nag Hammadi. Thêm vào việc kể câu chuyện thật về Chén Thánh,
những văn bản này đều nói đến chức năng dẫn dắt của Christ bằng những lời
lẽ rất người. Tất nhiên, phù hợp với truyền thống bóp méo thông tin của
mình, Vatican đã ra sức dẹp việc lưu hành những ống giấy này. Tại sao lại
không cơ chứ? Những ống giấy đó đã phanh phui sự bịa đặt và những sai trật
rành rành về lịch sử, khẳng định rõ ràng rằng cuốn Kinh thánh ngày nay
được soạn thảo và biên tập bởi những người có sẵn một đề cương chính trị:
đề cao tính thiên giới của con người trần Jesus Christ và lợi dụng ảnh
hưởng của Người để củng cố cơ sở quyền lực của chính họ.
"Tuy nhiên",
Langdon phản đối, "cần phải nhớ rằng mong muốn của Nhà Thờ hiện đại - xóa
bỏ những tài liệu ấy - xuất phát từ một niềm tin chân thành vào quan điểm
đã chế định về Christ. Vatican bao gồm những người mộ đạo sâu sắc thực sự
tin rằng những tài liệu đối lập kia chỉ là những chứng cứ giả mạo mà
thôi".
Teabing cười
tủm khi ông ngồi vào chiếc ghế đối diện với Sophie: "Như cô thấy đấy, vị
giáo sư của chúng ta thông cảm với Roma hơn tôi nhiều. Tuy nhiên, ông ấy
đúng khi nói giới tu sĩ hiện đại tin rằng những tài liệu chống đối kia là
chứng cứ giả mạo. Điều đó hoàn toàn có thể hiểu được. Cuốn Kinh thánh của
Constantine đã là chân lý của họ suốt nhiều thế kỉ. Chẳng có ai được
truyền giáo triệt để hơn những người truyền giáo".
"Điều ông ấy
muốn nói", Langdon nói, "là chúng ta thờ các vị thần của cha ông chúng
ta".
"Điều tôi
muốn nói", Teabing phản đối, "là hầu hết những điều ông cha chúng ta dạy
chúng ta về Christ là sai. Cũng như những câu chuyện về Chén Thánh".
Sophie nhìn
lại đoạn trích của Da Vinci ở trước mặt cô. Sự ngu dốt mù loà đưa chúng ta
lầm đường lạc lối. Hỡi lũ người trần tục khôn khổ, hãy mở mắt ra!
Teabing với
tay lấy cuốn sách và lật đến trang giữa: "Và cuối cùng, trước khi tôi chỉ
cho cô thấy những bức hoạ của Da Vinci về Chén Thánh, tôi muốn cô hãy xem
qua cái này". Ông giở tới một bức đồ hoạ màu in tràn cả hai trang. "Tôi
cho rằng cô nhận ra bức bích họa này chứ?".
Ông ta đang
đùa, đúng không? Sophie nhìn chăm chú vào bức bích họa nổi tiếng mọi thời
đại -Bữa ăn tối cuối cùng - bức tranh huyền thoại của Da Vinci trên tường
nhà thờ Santa Maria della Grazie ở Milan. Bức bích họa đang hư nát ấy mô
tả cảnh Jesus và các tông đồ của mình vào lúc Jesus thông báo rằng một
tông đồ đã phản bội ông.
"Vâng, tôi
biết bức tranh tường này".
"Vậy thì có
lẽ cô sẽ cho phép tôi làm một trò nhỏ này nhé? Xin cô hãy nhắm mắt lại".
Lưỡng lự rồi
cô nhắm mắt lại.
"Jesus ngồi ở
đâu?", Teabing hỏi.
"Ở giữa".
"Tốt. Và ông
cùng với các tông đồ đang ăn thứ gì vậy?".
"Bánh mì". Rõ
ràng là thế.
"Tuyệt. Thế
họ uống gì?".
"Rượu. Họ
uống rượu".
"Tuyệt. Câu
hỏi cuối cùng đây. Có bao nhiêu cốc rượu trên mặt bàn?".
Sophie dừng
lại nhận ra đây là câu hỏi bẫy. Sau bữa tối, Jesus đã cầm chiếc cốc rượu
của mình lên, uống cùng với các tông đồ. "Một chiếc", cô trả lời. "Chiếc
cốc. Chiếc cốc của Christ. Chén thánh". Jesu chỉ truyền tay với họ một cốc
rượu vang thôi giống như những người Thiên chúa giáo hiện đại làm trong lễ
Thánh Thể".
Teabing thở
dài: "Cô mở mắt ra được rồi".
Cô mở mắt.
Teabing cười tự mãn. Sophie xoáy mắt vào bức tranh, và ngạc nhiên thấy mọi
người ngồi ở bàn ấy đều có một ly rượu vang, kể cả Christ nữa. Mười ba
chiếc ly. Hơn nữa, những chiếc ly này đều nhỏ, không có chân và bằng thuỷ
tinh. Không hề có một chiếc chén thiêng nào trong bức tranh này. Không có
Chén Thánh.
Mắt Teabing
lấp lánh: "Hơi lạ lùng đấy, cô không nghĩ như vậy sao, vì cả Kinh Thánh
lẫn giai thoại về Chén Thánh đều tôn vinh thời điểm này như là sự xuất
hiện chính thức của Chén Thánh. Kì thay, Da Vinci có vẻ như đã quên không
vẽ chiếc Chén thiêng của Christ".
"Chắc chắn
các học giả nghiên cứu nghệ thuật sẽ phải lưu ý đến điều này".
"Cô sẽ bị sốc
khi biết rằng những điều bất thường mà Da Vinci đưa vào bức tranh này, hầu
hết các học giả hoặc là không nhìn ra hoặc là cố tình phớt lờ đi. Trên
thực tế, bức tranh này chính là toàn bộ chìa khoá để mở ra bí mật Chén
Thánh. Da Vinci đã phơi bày ra cả trong Bữa tối cuối cùng".
Sophie hăm hở
rà mắt trên bức tranh: "Bức bích họa này cho chúng ta biết thực sự Chén
Thánh là cái gì sao?".
"Không phải
là cái gì", Teabing thì thào. "Mà là ai mới đúng. Chén Thánh không phải là
một vật. Trên thực tế, đó là một… người".
Chương 56
Sophie đăm
đăm nhìn Teabing hồi lâu, rồi quay sang Langdon: "Chén Thánh là một người
thật sao?".
Langdon gật
đầu: "Thực tế, đó là một phụ nữ". Bằng vào cái nhìn đờ đẫn trên khuôn mặt
Sophie, Langdon có thể nói họ đã làm cô hoang mang. Langdon chợt nhớ ra
ông cũng có phản ứng như vậy khi lần đầu tiên nghe lời khẳng định ấy. Mãi
tới khi ông hiểu ra biểu tượng đằng sau Chén Thánh thì mối liên hệ với
tính nữ ấy mới trở nên rõ ràng.
Rõ ràng
Teabing cũng có suy nghĩ tương tự như vậy: "Robert này, có lẽ đây là lúc
nhà ký tượng học làm sáng tỏ vấn đề, đúng không?". Bước tới một cái bàn
gần đấy, ông tìm thấy một mảnh giấy và đặt nó trước mặt Langdon.
Langdon rút
từ trong túi áo ra một chiếc bút máy: "Sophie, cô biết biểu tượng hiện đại
dành cho nam và nữ chứ?". Ông vẽ kí tượng nam và kí tượng nữ".
"Tất nhiên",
cô trả lời.
"Những hình
này", ông nói nhẹ nhàng, "không phải là biểu tượng ban đầu của nam và nữ
đâu. Nhiều người đã lầm khi cho rằng biểu tượng nam bắt nguồn từ một cái
khiên và một cái thương, còn biểu tượng nữ là một tấm gương phản chiếu vẻ
đẹp. Thực ra những biểu tượng này bắt nguồn từ những biểu tượng trong
thiên văn cổ xưa là nam thần Hỏa tinh và nữ thần Kim tinh. Những biểu
tượng ban đầu bao giờ cũng đơn giản hơn nhiều".
Langdon vẽ
lên mẩu giấy một kí tượng khác.
"Đây là biểu
tượng ban đầu dành cho nam", ông giảng giải cho Sophie biết, "Một chiếc
dương vật ở dạng thô sơ".
"Rất thích
đáng", Sophie nhận xét.
"Có thể nói
thế". Teabing bổ sung.
Langdon tiếp
tục: "Biểu tượng này chính thức được biết đến như là lưỡi gươm, và nó
tượng trưng cho sự hiếu chiến và nam tính. Trong thực tế, biểu tượng dương
vật chính xác này ngày nay vẫn được sử dụng trên đồng phục của quân đội để
chỉ cấp bậc".
"Thực thế",
Teabing nhe răng ra cười, "anh càng lắm dương vật cấp bậc anh càng cao.
Nam nhi vẫn là nam nhi mà".
Langdon cau
mày lại: "Tiếp tục, biểu tượng nữ, như cô có thể hình dung, là hoàn toàn
ngược lại". Ông lại vẽ một biểu tượng khác lên mẩu giấy, "Biểu tượng này
được gọi là chiếc ly".
Sophie ngước
lên, vẻ ngạc nhiên.
Langdon có
thề thấy cô đã nhận ra mối liên hệ: "Chiếc ly", Langdon nói vậy, "giống
hình một cái cốc hay một chiếc bát, và quan trọng hơn, nó giống hình tử
cung đàn bà. Biểu tượng này biểu đạt tính nữ, tính chất đàn bà và tính
phồn thực". Lúc này Langdon nhìn thẳng vào Sophie. "Sophie, truyền thuyết
bảo chúng ta rằng Chén Thánh là một chiếc ly - một loại cốc. Nhưng sự mô
tả Chén Thánh như một chiếc ly thực chất là một phép phóng dụ để bảo vệ
bản chất đích thực của Chén Thánh mà thôi. Có nghĩa là truyền thuyết dùng
hình ảnh chiếc ly như một ẩn dụ cho một cái gì quan trọng hơn nhiều".
"Một phụ nữ?"
Sophie hỏi.
"Chính xác",
Langdon mỉm cười, "chiếc Chén, theo nghĩa đen, là biểu tượng cổ xưa của
tính chất đàn bà và Chén Thánh biểu thị tính nữ thiêng liêng và nữ thần,
điều này tất nhiên hiện nay đã mai một, thực tế đã bị Nhà Thờ loại bỏ.
Quyền năng của người nữ và khả năng sản sinh ra sự sống đã từng được coi
là linh thiêng, nhưng sự linh thiêng ấy đe doạ sự thăng tiến của Nhà Thờ
mà đại đa số thành phần là nam, và thế là tính nữ thiêng liêng bị cho là
quỷ quyệt và không trong sạch. Chính con người, chứ không phải Chúa, đã
tạo ra khái niệm "tội tổ tông truyền", theo đó Eve đã ăn quả táo và gây ra
sự sa đọa của loài người. Đàn bà trước đây là người đem lại sự sống thiêng
liêng thì giờ đây lại trở thành kẻ thù".
"Tôi nên bổ
sung một chút", Teabing hùn vào, "khái niệm về đàn bà với tư cách là người
đem lại sự sống chính là nền tảng của tôn giáo cổ xưa. Sinh nở là huyền bí
và đầy quyền năng.
Buồn thay,
triết lý Thiên Chúa giáo sau này đã quyết định biển thủ quyền năng tạo
sinh của người nữ bằng cách không đếm xỉa đến sự thật sinh học ấy và biến
đàn ông thành Đấng Sáng Tạo. Sáng Thế Ký dạy chúng ta rằng Eve được tạo ra
từ chỉếc xương sườn của Adam. Và từ đó người phụ nữ đã trở thành một nhánh
phụ của người đàn ông. Đã thế lại là một nhánh phụ tội lỗi nữa. Sáng Thế
Ký là điểm khởi đầu cho sự kết thúc đối với các nữ thần".
"Chén thánh",
Langdon nói, "tượng trưng cho hình ảnh nữ thần tiêu vong. Khi Thiên chúa
giáo lớn mạnh, các tôn giáo ngoại đạo cổ xưa cũng không chết dễ dàng. Các
truyền thuyết về các hiệp sĩ đi tìm Chén Thánh bị thất lạc trên thực tế là
những truyện kể về cuộc tìm kiếm tính nữ thiêng liêng bị thất lạc một cuộc
tìm kiếm bị cấm. Những hiệp sĩ tuyên bố "kiếm tìm Chén Thánh", thực ra
đang nói theo cách mã hóa như là một phương thức để bảo vệ an toàn cho
chính họ trước thế lực của Nhà Thờ - thế lực đã chế ngự phụ nữ, loại trừ
nữ thần, thiêu sống những người không tin Chúa và cấm việc tôn sùng tính
nữ linh thiêng của những người ngoại đạo".
Sophie lắc
đầu: "Tôi xin lỗi, khi anh nói rằng Chén Thánh là một con người. Tôi cứ
đinh ninh rằng anh định nói đó là một con người có trong thực tế hẳn hoi".
"Đúng vậy",
Langdon trả lời.
"Và không
phải bất kì người nào nhé", Teabing bật ra và phấn khích đứng dậy một cách
khó khăn, "một người phụ nữ mang theo mình một bí mật; bí mật này hàm chứa
một quyền năng ghê gớm đến nỗi nếu bị tiết lộ, nó có thể phá huỷ chính nền
tảng của Thiên chúa giáo!".
Sophie có vẻ
bị choáng ngợp: "Người phụ nữ này có nổi tiếng trong lịch sử không?".
"Rất nổi
tiếng". Teabing lượm lấy đôi nạng và chỉ về phía hành lang. "Bạn thân mến,
nếu chúng ta rời đến thư phòng của tôi, tôi sẽ rất vinh dự chỉ cho bạn
thấy bức hoạ của Da Vinci về người đàn bà ấy".
Cách đó hai
phòng, trong nhà bếp, người hầu Rémy Lagadulec đứng lặng trước một cái
tivi. Đài truyền hình đang phát đi bức ảnh một người đàn ông và một phụ
nữ. Chính hai người khách mà Rémy vừa mới phục vụ trà.
Chú thích:
(1)
Phần đầu tiên của Kinh Cựu ước
Chương 57
Đứng ở chỗ
rào chắn đường bên ngoài Ngân hàng Ký thác Zurich, Trung uý Collet tự hỏi
không biết điều gì khiến Fache mãi chưa lấy được lệnh khám xét. Rõ ràng,
người trong ngân hàng này đang che giấu một điều gì đó. Họ khai rằng
Langdon và Sophie đã đến đây sớm hơn và đã bị ngân hàng từ chối vì không
đủ giấy tờ chứng nhận tài khoản hợp thức. Vậy thì tại sao họ lại không để
chúng ta vào ngó qua một cái?
Cuối cùng,
điện thoại di động của anh cũng reo lên. Cú điện được gọi từ sớ chỉ huy
đặt tại Louvre. "Đã có lệnh khám xét chưa?". Collet hỏi.
"Quên cái
ngân hàng ấy đi, trung uý", người nhân viên nói. Chúng tôi vừa nhận được
một tin trình báo. Chúng tôi đã có địa điểm chính xác, nơi Langdon và
Sophie đang lẩn trốn".
Collet ngồi
phịch xuống mui xe: "Ông đang đùa chắc".
"Tôi đã có
được địa chỉ ở vùng ngoại ô. Một nơi nào đó gần Versailles".
"Đại uý Fache
đã biết chưa?".
"Chưa đâu.
Ông ta đang bận trả lời một cuộc gọi quan trọng".
"Tôi lên
đường đây. Hãy bảo ông ta gọi lại cho tôi ngay sau khi nói chuyện điện
thoại xong". Collet ghi lại địa chỉ rồi nhảy vào xe. Khi rời khỏi ngân
hàng, Collet chợt nhận ra anh đã quên không hỏi xem ai đã báo nơi lẩn trốn
của Langdon cho DCPJ. Điều ấy không quan trọng lắm. Chúa đã ban cho anh cơ
may để chuộc lại những lỗi bất cẩn khi trước cùng thái độ hoài nghi của
mình. Anh sắp làm cuộc bắt giữ nổi đình đám nhất trong sự nghiệp cảnh sát
của mình.
Collet gọi
qua sóng radio thêm năm chiếc xe nữa để tiếp ứng: "Không rúc còi báo động,
anh em. Tay Langdon không thể biết rằng chúng ta đang đến".
***
Cách đó bốn
mươi cây số, một chiếc Audi màu đen rời khỏi con đường quê và đỗ dưới bóng
tối bên rìa một cánh đồng. Silas bước ra khỏi xe và nhòm qua những chấn
song của hàng rào sắt vây quanh một khu liên hợp rộng lớn trước mặt. Hắn
đăm đăm nhìn con dốc đầy ánh trăng dẫn tới toà lâu đài phía xa xa.
Đèn dưới nhà
đều sáng trưng. Kỳ lạ vào giờ này, Silas mỉm cười nghĩ thầm. Thông tin
Thầy Giáo vừa cho hắn rõ ràng là chính xác. "Mình sẽ không rời khỏi toà
nhà này nếu không có viên đá đỉnh vòm, hắn thề. Mình sẽ không làm Đức Giám
mục và Thầy Giáo phải thất vọng.
Sau khi đã
kiểm tra băng đạn mười ba viên trong khẩu Heckler & Koch của mình, Silas
đẩy khẩu súng qua chấn song để nó rơi trên nền đất phủ đầy rêu phía trong.
Rồi hắn nắm chặt lấy phía trên hàng rào, đu người lên, băng qua và buông
mình xuống nền đất phía bên kia. Không đếm xỉa đến những vết đau do hành
xác, hắn nhặt lại khẩu súng và bắt đầu đi trên triền dốc phủ cỏ.
Chương 58
Thư phòng của
Teabing chẳng glống với bất kì phòng làm việc nào mà Sophie từng thấy
trước đó. Lớn gấp sáu - bảy lần những văn phòng thuộc loại sang trọng
nhất, cabinet de travail của ngài hiệp sĩ giống như một thứ lai tạp vụng
về giữa phòng thí nghiệm khoa học, thư viện lưu trữ và chợ trời trong nhà
vậy. Dưới ánh sáng của ba chiếc đèn chùm, sàn nhà lát đá rộng mênh mông
như mặt biển lác đác từng cụm đảo là những bàn làm việc lấp dưới những
đống nào sách, nào tác phẩm nghệ thuật, nào đồ tạo tác, và la liệt máy móc
thiết bị điện tử nhiều đến kinh ngạc - máy vi tính, máy chiếu, kính hiển
vi, máy photo copy và máy quét.
"Tôi đã cải
biến phòng khiêu vũ thành thế này", Teabing giới thiệu, có vẻ ngượng khi
lệt xệt bước vào phòng. "Vì tôi ít có dịp khiêu vũ mà".
Sophie có cảm
giác như thể toàn bộ bóng đêm đã biến thành một vùng tranh sáng tranh tối
trong đó không một thứ gì giống như cô chờ đợi. "Tất cả những thứ này là
để phục vụ cho công việc của ông?".
"Khám phá sự
thực đã trở thành mối tình của đời tôi", Teabing nói. "Và Chén Thánh chính
là người tình cưng nhất của tôi".
Chén Thánh là
một người phụ nữ. Sophie nghĩ thầm, đầu óc cô như một mớ hỗn độn những ý
tưởng đan bện vào nhau dường như chẳng có nghĩa gì cả. "Ông nói có một bức
hoạ vẽ người phụ nữ mà ông khẳng định người đó là Chén Thánh?".
"Đúng vậy,
nhưng không phải tôi là người khắng định bà ấy là Chén Thánh. Đích thân
Christ đã khẳng định điều đó".
"Thế đó là
bức nào vậy?" Sophie hỏi, đáo mắt tìm khắp bốn bức tường.
"À, Teabing
giả bộ như đã quên béng mất điều đó. "Chén Thánh. Sangreal. Chiếc ly", ông
đột ngột quay phắt người, chỉ vào bức tường cuối phòng trên đó có treo một
phiên bản in dài khoảng hai mét rưỡi của bức tranh Bữa ăn tối cuối cùng
giống hệt hình ảnh Sophie vừa xem lúc nãy. "Bà ấy đó!".
Sophie chắc
chắn đã bỏ sót một chi tiết nào đó: "Nó giống hệt với bức tranh mà ông vừa
cho tôi xem".
Ông nháy mắt:
"Tôi biết, nhưng bản phóng to li kì hơn nhiều.
Cô không nghĩ
thế sao?".
Sophie quay
sang Langdong cầu cứu: "Tôi rất hoang mang".
Langdon mỉm
cười: "Như đã vỡ lẽ ra, Chén Thánh quả đã xuất hiện trong bức hoạ Bữa ăn
tối cuối cùng. Leonardo đã thể hiện bà ấy thật nổi bật".
"Khoan",
Sophie nói, "Ông bảo tôi Chén Thánh là một phụ nữ. Nhưng Bữa ăn tối cuối
cùng là một bức tranh gồm mười ba người đàn ông".
"Thật sao?",
Teabing nhíu mày. "Cô hãy nhìn kỹ hơn nữa đi".
Phân vân,
Sophie tiến đến gần bức tranh hơn, nhìn kỹ vào mười ba người - Jesus
Christ ngồi ở giữa, sáu tông đồ ngồi bên trái và sáu người nữa ngồi bên
phải. "Tất cả bọn họ đều là đàn ông", Sophie khắng định.
"Thế à?".
Teabing nói. "Thế còn người ngồi ở vị trí danh dự phía tay phải của Chúa
thì sao?".
Sophie xem kĩ
lại người ngồi ngay bên phải Jesus tập trung vào đó. Khi cô quan sát khuôn
mặt và thân hình người đó, một nỗi ngạc nhiên cuộn lên trong cô. Người này
có mái tóc đỏ lượn sóng, hai tay chắp lại nhỏ nhắn, và thoáng nét vồng lên
của bộ ngực. Không còn nghi ngờ gì đó là… một người đàn bà.
"Đó là một
người đàn bà?". Sophie thốt lên.
Teabing cười
vang: "Ngạc nhiên, ngạc nhiên hả. Tin tôi đi, không có sai sót gì đâu.
Leonardo rất điêu luyện trong việc thể hiện sự khác biệt về giới tính
đấy".
Sophie không
sao rời mắt khỏi người đàn bà ngồi bên cạnh Christ. Bữa ăn tối cuối cùng
đúng ra phải thể hiện mười ba người đàn ông. Người đàn bà này là ai? Mặc
dù Sophie đã nhiều lần xem bức hoạ kinh điển này, nhưng chưa một lần nào
cô để ý thấy sự trật lấc rành rành này.
"Mọi người
đều bỏ sót đỉều này", Teabing nói. "Tiên kiến hình thành sẵn trong ta về
cảnh này mạnh đến mức trí óc ta loại trừ điều lạc lõng đó và bất chấp con
mắt ta".
"Người ta gọi
đó là ám thị", Langdon bổ sung. "Bộ óc đôi khi lấn át thị giác đối với cả
những biểu tượng rất rõ".
"Một lí do
khác khiến cô bỏ qua người đàn bà này", Teabing nói tiếp, "đó là rất nhiều
ảnh trong các cuốn sách nghệ thuật được chụp trước năm 1954, khi đó những
chi tiết còn bị lấp dưới những lớp bụi bẩn và một số lần phục chế lại do
những đôi tay vụng về ở thế kỉ thứ XVIII. Giờ đây, rốt cuộc thì bức bích
hoạ này cũng đã được làm sạch tới lớp vẽ ban đầu của Da Vinci".
Ông đi về
phía bức tranh. "Và đây!".
Sophie tiến
lại gần hình ảnh đó hơn nữa. Người đàn bà phía tay phải Jesus còn trẻ, vẻ
sùng đạo, khuôn mặt e lệ, mái tóc đẹp màu đỏ, và tay chắp lại nhẹ nhàng.
Đây là người đàn bà có thể một mình làm sụp đổ cả Giáo hội sao?
"Người đàn bà
này là ai vậy?" Sophie hỏi.
"Bạn thân mến
ơi, đó chính là", Teabing đáp lại, "Mary Magdalene".
Sophie quay
ngoắt người: "Là ả điếm đó sao?".
Teabing hít
một hơi, cứ như thể cái từ ấy làm tổn thương chính ông ta vậy: "Magdalene
không phải là thế đâu. Quan niệm sai lầm đáng tiếc ấy chính là hậu quả của
chiến dịch bôi nhọ thanh danh Magdalene được Giáo hội trước đây phát động.
Giáo hội cần
phải phỉ báng Mary Magdalene để che giấu bí mật nguy hiểm của bà - vai trò
của bà với tư cách là Chén Thánh".
"Vai trò của
bà ấy?".
"Như tôi đã
đề cập ở trên", Teabing nói rõ hơn, "Giáo hội cần thuyết phục cả thế giới
tin rằng nhà tiên tri trần tục Jesus là người thuộc thiên giới. Vì vậy,
mọi phúc âm mô tả những khía cạnh trần tục trong cuộc đời của Jesus đều bị
loại bỏ khỏi Kinh Thánh. Không may cho các nhà biên tập thời xưa, một chủ
đề trần tục đặc biệt rắc rối cứ trở đi trở lại trong các bản phúc âm. Đó
chính là Mary Magdalene", ông dừng lại. "Cụ thể hơn, đó là cuộc hôn nhân
của bà với Jesus Christ".
"Xin ông làm
ơn nhắc lại?" Mắt Sophie lia sang Langdon rồi quay trở lại Teabing.
"Đây là một
vấn đề ghi chép lịch sử", Teabing nói tiếp. "Chắc chắn Da Vinci đã biết sự
việc này. Bữa ăn tối cuối cùng gần như chỉ cho người xem thấy Jesus và
Magdalene là một cặp".
Sophie quay
lại nhìn bức hoạ.
"Hãy chú ý
rằng Jesus và Magdalene mặc đồ như thể người này là hình ảnh của người kia
trong gương vậy". Teabing chỉ tay vào hai người ở vị trí trung tâm của bức
tranh.
Sophie như bị
hút hồn. Chắc chắn là quần áo của họ có màu đảo nghịch nhau. Jesus mặc áo
thụng dài màu đỏ và khoác áo choàng màu xanh trong khi Mary Magdalene mặc
áo thụng dài màu xanh và khoác áo choàng màu đỏ. Dương và âm.
"Đi sâu vào
một điều kì quặc hơn", Teabing nói, "hãy chú ý là Jesus cùng cùng vị hôn
thê của mình tựa như hông gắn vào nhau và mỗi người ngả sang một phía như
thể để tạo ra cái khoảng tiêu cực được vạch ra rõ ràng giữa họ".
Trước cả khi
Teabing vạch nét đó cho cô thấy, Sophie đã kịp nhận ra hình không thể chối
cãi được ở chính tâm điểm của bức tranh.