Mật mã Da Vinci
Dan Brown
Dịch giả: Đỗ
Thu Hà
Hiệu đính:
Dương Tường
---o0o---
026
- 050
Chương 26
Mặc dù danh
tiếng như cồn, Mona Lisa chỉ là một bức tranh khổ 78cm x 53cm bé hơn cả
tấm áp phích in hình Mona Lisa bán ở quầy lưu niệm bảo tàng Louvre. Bức
tranh được treo ở bức tường phía tây bắc căn phòng Salle des Etats, đằng
sau tấm plexiglass bảo vệ dày 5cm. Được vẽ trên một tấm ván gỗ bạch dương,
không khí thần tiên, đầy sương giăng mờ ảo của nó là do sự điêu luyện của
Da Vinci về phong cách sfumato, trong đó các hình thể dường như hòa tan
vào nhau.
Từ khi được
đặt ở bảo tàng Louvre, Mona Lisa - hay La Joconde như người Pháp vẫn gọi
đã bị đánh cắp hai lần, lần gần đây nhất vào năm 1911 khi nó biến mất khỏi
salle impénétrable của bảo tàng Louvre Le Salon Carré. Người Paris khóc
trên đường phố và viết báo cầu xin những tên trộm hãy trả lại bức tranh.
Hai năm sau, Mona Lisa được phát hiện bị giấu dưới đáy giả của một chiếc
hòm trong một phòng khách sạn ở Florence.
Lúc này,
Langdon, sau khi tuyên bố rõ ràng với Sophie rằng ông không có ý định rời
khỏi đây, đang cùng với cô đi ngang Salle des Etats. Bức Mona Lisa còn ở
cách họ khoảng hai mươi mét, Sophie đã bật đèn tia tử ngoại, và luồng sáng
tim tím từ chiếc đèn-bút quét trên sàn nhà phía trước mắt họ. Cô đưa luồng
sáng chạy tới, chạy lui trên sàn như một cái máy dò, tìm kiếm bất cứ vết
mực phát quang nào.
Đi bên cô,
Langdon đã cảm thấy giậm giựt cái dự báo thường đi kèm những cuộc hội ngộ
mặt đối mặt của ông với những kiệt tác nghệ thuật vĩ đại. Ông căng mắt ra
nhìn quá bên ngoài luồng sáng tím nhạt phát ra từ chiếc đèn trong tay
Sophie. Phía bên trái, chiếc đi văng hình bát giác của căn phòng hiện ra,
trông giống một hòn đáo tối tăm trên một vùng biển bằng gỗ trống vắng.
Giờ, Langdon
có thể bắt đầu thấy tấm kính sẫm màu trên tường. Treo đằng sau nó, ông
biết, là bức tranh nổi tiếng nhất thế giới trong giới hạn cái khoanh nhỏ
riêng tư của nó.
Vị trí của
Mona Lisa như là kiệt tác nghệ thuật nổi tiếng nhất thế giới! Langdon thừa
biết, chẳng liên quan gì với nụ cười bí ẩn của nàng cả. Cũng chẳng phải do
những kiến giải bí ẩn được gán ghép cho nàng bởi nhiều nhà lịch sử nghệ
thuật và những kẻ đam mê nghệ thuật đầy mưu đồ. Rất đơn giản, Mona Lisa
nối tiếng bởi vì Leonardo Da Vinci đã tuyên bố nàng là thành tựu hoàn mỹ
nhất của ông. Đi đâu ông cũng mang theo bức tranh và nếu được hỏi tại sao,
ông đều trả lời rằng ông thấy khó mà rời xa tác phẩm thể hiện vể đẹp nữ
đến độ trác tuyệt nhất của mình.
Thậm chí như
vậy, nhiều nhà lịch sứ nghệ thuật với ngờ rằng sự trân trọng mà Da Vinci
dành cho Mona Lisa chẳng có gì liên quan đến nghệ thuật ở trình độ bậc
thầy của nó cả. Trên thực tế, bức tranh là một chân dung theo phong cách
sfumato bình thường, bình thường đến độ lạ lùng. Nhiều người cho rằng sự
tôn sùng Da Vinci dành cho tác phẩm này bắt nguồn từ một cái gì đó sâu xa
hơn: một lời nhắn ẩn giấu dưới những lớp vẽ.
Thực tế, bức
tranh Mona Lisa là một trong những giai thoại giầu tư liệu nhất thế giới.
Rất nhiều tư liệu kết hợp những từ ngữ nước đôi và những câu bóng gió bỡn
cợt về bức tranh đã được tiết lộ trong hầu hết các tập sách lịch sử nghệ
thuật, thế nhưng, khó tin thay, công chúng nói chung vẫn cho rằng nụ cười
của nàng chứa đựng một bí ẩn lớn lao.
Chẳng có bí
ẩn nào cả, Langdon nghĩ, đi tới và ngắm nghía khi đường viền lờ mờ của bức
tranh bắt đầu rõ ra. Chẳng có bí mật nào cả.
Mới đây,
Langdon đã sẻ chia những bí mật về Mona Lisa cho một nhóm khá dị thường -
mười hai người tù ở trại giáo dưỡng hạt Essex. Buổi hội thảo chuyên đề của
Langdon trong khám tù nằm trong chương trình vươn xa của Đại học Harward,
nhằm mở mang giáo dục đến hệ thống nhà tù. Văn hoá cho tù nhân, các đồng
nghiệp của Langdon thích gọi nó như thế.
Đứng dưới
chiếc máy chiếu trong thư viện trại đã tắt bớt đèn, Langdon tiết lộ bí mật
của Mona Lisa cho những tù nhân tham dự lớp, những người mà ông thấy hiếu
học lạ lùng thô nháp, nhưng sắc sảo. "Các bạn có thể thấy", Langdon nói
với họ, tiến về phía hình bức tranh Mona Lisa chiếu trên tường thư viện,
"nền tranh đằng sau gương mặt nàng không bằng phẳng". Langdon chỉ sự so le
rành rành. "Da Vinci đã vẽ đường chân trời ở bên trái rõ ràng là thấp hơn
bên phải".
"Ông ta lỡ
tay làm hỏng chăng?" Một tù nhân hỏi.
Langdon cười:
"Không, Da Vinci không mấy khi nhỡ tay như thế. Thật ra, đây là một ngón
nhỏ mà Da Vinci cố ý chơi. Bằng cách hạ thấp đường chân trời về bên trái,
Da Vinci làm cho Mona Lisa nhìn từ bên trái sẽ lớn hơn nhìn từ bên phải.
Một thủ thuật nho nhỏ của Da Vinci. Theo lịch sử, khái niệm nam, nữ vốn đã
định rõ hai bên bên trái là nữ, bên phải là nam. Vì Da Vinci rất khuynh nữ
nên ông đã làm cho Mona Lisa trông uy nghi hơn từ góc nhìn bên trái so với
nhìn từ bên phải".
"Nghe nói ông
ta "đồng cô?" một người nhỏ bé có chòm râu dê hỏi.
Langdon nhăn
mặt: "Các nhà sử học thường không diễn ngôn cách ấy, nhưng đúng vậy, Da
Vinci là một người đồng tính luyến ái".
"Đó là lý do
khiến ông ta lao vao cái thứ hoàn toàn nữ ấy?".
"Thực ra, Da
Vinci đồng điệu với sự cân bằng giữa nam và nữ. Ông tin rằng linh hồn con
người không thể sáng láng nếu không có cả các yếu tố nam lẫn nữ".
"Ông muốn nói
có cả hĩm lẫn cu hả?" Ai đó nói.
Câu nói gây
một tràng cười như sấm. Langdon tính đưa ra một kiến giải về từ nguyên cho
từ người lưỡng tính (hermaphrodite) và những mối liên quan của từ đó với
Hermes và Aphrodite , nhưng một cái gì đó nói với ông rằng nó sẽ lạc lõng
trong đám đông này.
"Này, ông
Langdon", một người đàn ông rất cơ bắp nói, "Có đúng bức Mona Lisa là hình
một Da Vinci mặc váy không? Tôi nghe nói đây là sự thật".
"Cũng rất có
thể", Langdon nói, Da Vinci là một người thích chơi khăm, và những phân
tích trên máy tính giữa Mona Lisa và các bức chân dung tự hoạ của Da Vinci
khẳng định những điểm tương đồng đáng kinh ngạc giữa hai khuôn mặt này".
Bất kể Da Vinci định thế nào", Langdon nói, "thì Mona Lisa của ông cũng
không phải là đàn ông hay phụ nữ. Nó mang một thông điệp về sự lưỡng tính
nam - nữ. Nó là một hòa trộn của cả hai".
"Ông chắc đó
không phải là một cách cà chớn của Harward để nói rằng Mona Lisa là một ả
xấu xí đấy chứ?".
Bây giờ thì
Langdon bật cười: "Có thể anh đúng. Nhưng thực tế Da Vinci để lại một bằng
chứng rõ ràng rằng bức tranh này vẽ một người lưỡng tính. Có ai ở đây đã
từng nghe nói về một vị thần Ai Cập có tên là Amon không?".
"Đù mẹ, có!",
người đàn ông to con nói. "Thần phồn thực nam?".
Langdon sửng
sốt.
"Trên hộp bao
cao su Amon nào mà chả nói thế", người đàn ông cơ bắp đó cười toét. "Có vẽ
một gã đầu cừu đực và ghi rằng gã là thần phồn thực của Ai Cập".
Langdon không
biết nhãn hiệu đó, nhưng ông vui khi thấy các nhà sản xuất dụng cụ ngừa
thai đã sử dụng đúng ký hiệu: "Rất tốt. Amon quả thực được tượng trưng bởi
hình một người đàn ông có đầu cừu đực, và thói giăng hoa bừa bãi cùng với
cặp sừng cong của vị thần này liên quan đến một từ lóng chỉ về quan hệ
tình dục trong thời kỳ hiện đại của chúng ta "cứng sừng".
"Tôi không
đùa chứ".
"Không, không
đùa", Langdon nói. "Và anh có biết ai là vợ của Amon không? Nữ thần phồn
thực Ai Cập?".
Đáp lại câu
hỏi là mấy giây im lặng.
"Đó là Isis",
Langdon cho họ biết, cầm lấy một chiếc bút dầu.
"Vậy là chúng
ta có nam thần Amon", ông viết cái tên ấy, "và nữ thần Isis, tên tượng
hình cổ của thần đã từng được gọỉ là LISA".
Langdon kết
thúc dòng chữ và bước lùi lại khỏi máy chiếu.
AMON LISA.
"Có gợi ra
cái gì không?" ông hỏi.
"Mona Lisa…
Ôi chao quỷ thần!" Ai đó há hốc miệng.
Langdon gật
đầu: "Thưa quý vị, không chỉ khuôn mặt của Mona Lisa trông có vẻ lưỡng
tính mà tên của nàng cũng là một anagram của sự hợp nhất thần thánh giữa
đàn ông và đàn bà.
Và thưa các
bạn, đó là bí mật nho nhỏ của Da Vinci, và lý do cho nụ cười ra cái điều
ta đây biết thừa của Mona Lisa".
***
"Ông tôi đã ở
đây", Sophie nói, đột ngột quỳ sụp xuống, chỉ cách bức Mona Lisa chừng ba
mét. Cô thử chiếu đèn tia tử ngoại vào một điểm trên sàn gỗ.
Đầu tiên
Langdon chẳng nhìn thấy gì. Rồi khi quỳ xuống bên cạnh cô ông thấy một
chấm nhỏ xíu của một chất lỏng đã khô đang ánh lên. Mực ư? Ông chợt nhớ ra
công dụng của đèn tia tử ngoại. Máu. Ông rùng mình. Sophie đã đúng. Jacque
Saunière quả đã đến thăm Mona Lisa trước khi chết.
"Ông ắt đã
không đến đây nếu không có lý do", Sophie thì thầm, đứng dậy. "Tôi biết,
ông để lại một lời nhắn cho tôi ở đây". Nhanh chóng sải những bước cuối
tới bức Mona Lisa, cô rọi sáng phần sàn ngay trước bức tranh. Cô lia đi
lia lại ánh đèn trong khoảng đó.
"Chẳng có gì
ở đây cả".
Chính lúc đó,
Langdon nhìn thấy lờ mờ một ánh phớt tím trên tấm kính bảo vệ bức Mona
Lisa. Cúi xuống, ông nắm cổ tay Sophie rồi chầm chậm hướng chiếc đèn về
phía bức tranh.
Cả hai sững
lại.
Trên mặt
kính, một dòng chữ tim tím sáng lên, nguệch ngoạc ngang qua khuôn mặt của
Mona Lisa.
Chú thích:
(1) Tiếng Pháp trong nguyên bản: căn
phòng không thể đột nhập.
(2) Nhân vật thần thoại Hy Lạp, sứ giả
của các thần ở Olympus, đồng nhất với thần Mercure của La Mã, gian díu với
nữ thần Aphrodite
(3) Nữ thần tình yêu Hy Lạp (đồng nhất
với Venus của La Mã) bạn tình của nhiều người trong đó có Hermes, sinh con
gái với thần này đặt tên là Hermaphrodite
Chương 27
Ngồi ở bàn
của Sauniere, trung uý Collet áp chặt điiện thoại vào tai, bán tín bán
nghi. Mình có nghe đúng ý Fache không nhỉ? "Một bánh xà phòng? Nhưng làm
thế nào mà Langdon có thể biết được về thiết bị GPS".
"Sophie
Neveu" Fache đáp, "Cô ta đã nói cho ông ta".
"Cái gì? Tại
sao?".
"Câu hỏi hay
đấy, nhưng tôi vừa mới nghe một đoạn ghi âm chứng tỏ cô ta đã mách nước
cho ông ta".
Collet im
lặng. Neveu nghĩ gì mà hành động kì thế nhỉ? Fache đã có bằng chứng rằng
Sophie đã can thiệp vào một đặc vụ của DCPJ? Sophie Neveu sẽ không chỉ bị
sa thải, cô ta sẽ phải vào tù. "Nhưng thưa đại uý… vậy thì Langdon bây giờ
ở đâu?".
"Có chuông
báo động nào ở đó kêu không?".
"Không. Thưa
đại uý".
"Và không có
ai đi ra từ dưới cổng Hành Lang Lớn?".
"Không. Chúng
tôi đã cử một nhân viên an ninh của bảo tàng Louvre giám sát ở cổng chính
như sếp yêu cầu".
"Được Langdon
chắc vẫn còn ở trong Hành Lang Lớn".
"Trong đó ạ?
Những ông ta đang làm gì?".
"Cậu nhân
viên bảo vệ bảo tàng Lourve có được trang bị vũ khí không đấy?".
"Có, thưa
ngài. Anh ta là đội trưởng đội bảo vệ".
"Cử anh ta
vào trong đó", Fache ra lệnh. "Tôi không thể đưa quân đến đó trong vài
phút được, và tôi không muốn Langdon mở được một đường ra". Fache ngừng
lại. "Và anh nên nói với cậu bảo vệ là nhân viên Neveu có lẽ vẫn còn ở
trong đó với ông ta".
"Tôi nghĩ
nhân viên Neveu đã rời khỏi đó rồi".
"Anh thật sự
trông thấy cô ta đi khỏi hả?".
"Không, thưa
đại uý, nhưng…".
"Vậy đó cũng
không ai ở đó nhìn thấy cô ta đi khỏi. Họ chỉ nhìn thấy cô ta đi vào
thôi".
Sự táo tợn
của Sophie làm cho Collet sửng sốt. Cô ấy vẫn còn ở trong tòa nhà này ư?
"Giải quyết
chuyện đó đi", Fache ra lệnh. "Tôi muốn Langdon và Neveu bị bắt khi tôi
quay trở lại".
Khi chiếc xe
tải Trailor chuyển bánh đi khỏi, Đại uý Fache tập hợp quân. Robert Langdon
tối nay đã chứng tỏ mình là một con mồi thoắt ẩn thoắt hiện, và với sự
giúp đỡ của nhân viên Neveu, ông ta sẽ càng khó dồn bắt hơn dự kiến.
Fache quyết
định sẽ không khinh suất.
Bắt cá hai
tay, ông ta ra lệnh cho nửa số quân quay lại khu vực của bảo tàng Louvre.
Nửa còn lại đi đến nơi duy nhất của Paris mà Robert Langdon có thể tìm
thấy chỗ trú chân an toàn.
Chương 28
Trong Sall
des Etats, Langdon kinh ngạc nhìn chằm chằm vào dòng chữ phát sáng trên
mặt kính Plexiglas. Dòng chữ như rập rờn trong không gian, hắt một vệt
bóng lô xô cắt ngang nụ cười bí ẩn của Mona Lisa.
"Tu viện
Sion", Langdon thì thầm. "Điều này chứng tỏ ông cô là một thành viên của
hội này!".
Sophie nhìn
ông hoang mang: "Ông hiểu điều này?".
"Bằng chứng
rõ ràng", Langdon nói, gật đầu trong khi những ý nghĩ chộn rộn trong đầu
ông. "Đây là tuyên ngôn của một trong những triết lý cơ bản nhất của Tu
viện Sion!".
Sophie nom
bối rối ra mặt trong ánh phát quang của lời nhắn nguệch ngoạc ngang mặt
Mona Lisa.
TRÒ LỪA BỊP
ĐEN TỐI CỦA CON NGƯỜI
"Sophie",
Langdon nói, "truyền thống duy trì sự tôn thờ các nữ thần của Tu viện Sion
dựa trên lòng tin là những người có thế lực của Nhà Thờ Thiên chúa giáo
thời xa xưa đã "lừa bịp" cả thế giới, bằng cách truyền bá những lời nói
dối hạ phẩm giá của nữ giới, khiến cán cân nghiêng về phía nam giới".
Sophie vẫn
đứng im lặng, nhìn chằm chằm vào dòng chữ.
"Tu viện Sion
tin rằng Constantine và những người nam kế tục ông ta đã cải giáo thành
công thế giới từ chế độ mẫu hệ ngoại giáo sang chế độ Cơ đốc giáo phụ hệ
bằng cách phát động một chiến dịch tuyên truyền, biến những tính nữ linh
thiêng thành ma quỷ, xoá sạch vĩnh viễn những nữ thần khỏi tôn giáo hiện
đại".
Sophie phân
vân ra mặt: "Ông tôi bảo tôi đến đây để tìm kiếm thứ này. Hẳn là ông tôi
đang cố nói với tôi hơn thế!".
Langdon hiểu
cô muốn nói gì. Cô nghĩ rằng đây là một mật mã khác. Liệu có một ý nghĩa
ẩn giấu hay không, Langdon không thể ngay lập tức trả lời câu hỏi đó. Đầu
óc ông vẫn đang đánh vật với sự rõ ràng táo tợn nơi bề ngoài lời nhắn của
ông Saunière.
Trò bịp đen
tối của con người, ông nghĩ. Quả thật là đen tối.
Không ai có
thể phủ nhận điều tốt lành lớn lao mà Nhà Thờ hiện đại đã làm được trong
thế giới hỗn độn ngày nay, nhưng chính Nhà Thờ ấy lại có một lịch sử đầy
bạo lực và dối trá.
Cuộc thập tự
chinh tàn bạo của họ để "cải tạo"những ngoại giáo và những tôn giáo thờ nữ
thần đã xuyên qua ba thế kỉ, sử dụng những phương pháp đầy sáng tạo nhưng
không kém phần Tòa án Dị giáo Cơ đốc đã xuất bản một cuốn sách có thể gọi
là ấn phẩm đẫm máu nhất trong lịch sử loài người. "Malleus maleficarum hay
Búa của bọn nữ thù thuỷ thuyết giáo thế giới về "những mối nguy hiểm của
đám phụ nữ tự do tư tưởng và chỉ thị cho giới tu sĩ phải tìm cho ra, tra
tấn và tiêu diệt họ. Những người bị Nhà Thờ coi là "phù thuỷ" bao gồm tất
cả các nữ học giả, các nữ tu, đám di-gan, đám thần bí, những kẻ tôn thờ
thiên nhiên, tìm hái dược thảo và bất kỳ phụ nữ nào "hoà hợp một cách đáng
ngờ với thế giới tự nhiên". Các bà đỡ cũng bị giết vì tội thực hành dị
giáo khi sử dụng những hiểu biết y học để làm dịu những cơn đau đớn khi
sinh nở một sự đau đớn mà Nhà Thờ khẳng định là hình phạt thích đáng của
Chúa về việc Eva ăn vụng trái cấm, sinh ra ý niệm Tội Tổ Tông Truyền.
Trong suốt ba trăm năm săn tìm phù thuỷ, Nhà Thờ đã xử trên dàn thiêu một
con số kinh hoàng là năm triệu phụ nữ.
Tuyên truyền
và biển máu đã có hiệu quả.
Thế giới ngày
nay là bằng chứng sống.
Nữ giới, xưa
đã từng được tôn vinh như là một phần nửa chủ yếu của linh tuệ, giờ bị
trục xuất khỏi những đền thờ của cả thế giới. Không hề có một giáo sĩ Do
Thái dòng chính thống là nữ không có nữ tu Thiên Chúa giáo La Mã, không có
cả những nữ giáo sĩ đạo Hồi. Hành động Hiaros Gamos - sự giao hợp tự nhiên
giữa đàn ông và dàn bà, qua đó mỗi người trở nên toàn vẹn về tinh thần -
trước kia từng là thiêng liêng nay bị bóp méo thành một hành động ô nhục.
Những con người thánh thiện xưa từng coi việc hợp cẩn với người nữ của họ
như một yêu cầu để hiệp thông với Chúa, giờ lại sợ những xung động tình
dục tự nhiên của mình như là tác động của quỷ dữ hiệp đồng với kẻ đồng lõa
hoàn hảo của nó… đàn bà.
Cả đến tính
nữ gắn liền với bên trái cũng không thoát khỏi sự phỉ báng của Nhà Thờ. Ở
Pháp và Ý, những từ để chỉ bên trái như gauche và sinistra đều mang những
hàm nghĩa tiêu cực sâu sắc trong khi những phần tương ứng bên phải lại gợi
lên hàm ý về lẽ phải, sự khéo léo và đúng đắn. Đến tận ngày nay, tư tưởng
cấp tiến vẫn còn bị coi là cánh tả và bất cứ thứ gì xấu xa đều bi gọi là
sinistrer.
Thời đại của
nữ thần đã chấm dứt. Quả lắc đã đu đưa. Mẹ Đất đã trở thành một thế giới
của đàn ông, thần phá huỷ và thần chiến tranh đang làm công việc của họ.
Bản ngã nam đã qua hai thiên niên kỷ liền không bị phái nữ kiềm chế. Tu
viện Sion tin rằng chính sự xóa bỏ tính nữ linh thiêng này trong cuộc sống
hiện đại đã gây ra cái mà thổ dân Hopi tại Mỹ gọi là koy-anisquasti - "đời
sống mất cân bằng" một tình trạng không ổn định với những đặc điểm: chiến
tranh đầy nam tính, quá nhiều xã hội căm ghét phụ nữ và sự bất kính ngày
càng tăng đối với Mẹ Đất.
"Robert!"
Sophie nói, tiếng thì thầm của cô kéo ông trở lại với thực tại, "có ai đó
đang đến!".
Ông nghe thấy
tiếng bước chân đang tiến lại gần ngoài hành lang.
"Lại đây!",
Sophie tắt đèn tử ngoại và dường như bốc hơi trước mắt Langdon.
Trong một
khoảnh khắc, ông hoàn toàn không thấy gì. Lại đâu? Khi quen mắt dần, ông
nhìn thấy bóng Sophie chạy vụt về giữa căn phòng và cúi xuống khuất tầm
nhìn sau chiếc đi văng hình bát giác. Ông đang định lao tới đằng sau cô
thì một giọng vang lên làm ông sững lại.
"Arrêtez" .
Một người đàn ông từ cửa ra vào ra lệnh.
Nhân viên an
ninh bảo tàng Louvre bước qua cửa phòng Salle des Etats, súng lục giương
thẳng, ngắm đúng ngực Langdon.
Langdon cảm
thấy cánh tay ông giơ lên trần nhà theo bản năng.
"Couchez-vous" . Người bảo vệ ra lệnh: "Nằm xuống!".
Trong vài
giây, Langdon đã úp xấp mặt xuống sàn. Người bảo vệ chạy đến, đá mạnh làm
chân Langdon dạng ra.
"Mausvaise
idée , ông Langdon". Anh ta nói, dí mạnh khẩu súng vào lưng Langdon,
"Mauvaise idée".
Úp mặt trên
sàn gỗ, tay chân dang thẳng, Langdon cảm thấy một chút khôi hài trong cái
tư thế mỉa mai của mình. Người Vitruvian, ông nghĩ. Nằm sấp.
Chú thích:
(1) Trong nguyên bản là sáu chữ, nhưng
chuyển sang tiếng Việt phải tám chữ mới lọn nghĩa, nên chúng tôi để dòng
chữ cho khỏi trật
(2) Tiếng Pháp trong nguyên ban: Đứng
lại.
(3) Tiếng Pháp trong nguyên bản: Nằm
xuống.
(4) Tiếng Pháp trong nguyên bản: Ý tưởng
tồi, "tối" kiến.
Chương 29
Bên trong nhà
thờ Sant-Sulpice, Pilas lấy một cái chân nến thờ bằng sắt, khá nặng từ
trên ban thờ, rồi quay về chỗ đài tưởng niệm. Cái này dùng như kiểu trụ
phá thành sẽ tốt đây. Quan sát viên đá hoa cương màu xám che phủ cái hố
dưới sàn, hắn nhận ra rằng chắc chắn không thể phá vỡ nó mà không gây
tiếng động ầm ĩ.
Sắt nện lên
đá hoa cương, tiếng sẽ dội lên trần mái vòm.
Liệu bà xơ có
nghe thấy không nhỉ? Lúc này bà ta nên ngủ say mới phải. Thậm chí nếu đúng
thế, đó cũng là một cú may rủi mà Silas không muốn đánh liều. Nhìn quanh
để kiếm một mảnh vải bọc đầu thanh sắt, hắn chẳng thấy gì ngoài tấm vải
lanh phủ bàn thờ mà hắn không muốn làm ô uế. Áo tu sĩ của mình, hắn nghĩ.
Biết rằng có một mình hắn trong toà nhà thờ đồ sộ Silas cới áo chùng cho
nó rơi tuột xuống đất. Khi cởi bỏ áo, hắn cảm thấy nhói một cái vì lần lót
bằng len dính vào những vết thương mới trên lưng hắn.
Lúc này chẳng
mặc gì ngoài chiếc khố quanh thắt lưng, Silas quấn chiếc áo chùng vào đầu
thanh sắt. Rồi nhắm chính giữa viên đá lát sàn, hắn thục cái đầu quấn vải
vào đó. Một tiếng bịch. Viên đá chưa vỡ. Hắn làm lại lần nữa. Lại một
tiếng bịch, nhưng lần này kèm theo một tiếng nứt ran. Lần đập thứ ba, cái
nắp đậy ấy rốt cuộc cũng vỡ tan, và những mảnh đá vụn rơi xuơng một khoảng
trống dưới sàn.
Một khoang
rỗng!
Nhanh chóng
cậy nốt những mảnh còn lại khỏi lỗ hổng, Silas nhìn sâu vào trong khoảng
trống. Máu hắn giần giật khi hắn quỳ xuống trước nó. Hắn đưa cánh tay trần
trắng nhợt với vào bên trong.
Thoạt đầu,
hắn chẳng sờ thấy gì cả. Đáy khoang là đá nhẵn trống trơn. Rồi, mần mò sâu
hơn, vươn cánh tay xuống dưới Đường Hoa Hồng, hắn chạm vào vật gì đó. Một
phiến đá dầy dặn. Vòng những ngón tay quanh rìa phiến đá, hắn nắm lấy nó
và nhẹ nhàng nâng nó ra ngoài. Khi đứng lên và kiểm tra vật tìm thấy, hắn
nhận thấy mình đang cầm trên tay một phiến đá được đẽo gọt thô sơ với mấy
chữ khắc. Trong một khoảnh khắc, hắn cảm thấy như mình là Moses thời hiện
đại.
Khi Silas đọc
những chữ trên phiến đá, hắn cảm thấy bất ngờ. Hắn đã chờ đợi viên đá đỉnh
vòm là một tấm bản đồ, hay một chuỗi chỉ dẫn phức tạp, thậm chí được mã
hóa. Vậy mà viên đá đỉnh vòm lại chỉ mang những kí tự đơn giản nhất.
Job 38:11
Một câu trong
Kinh Thánh? Silas ngớ ra với sự đơn giản quỷ quyệt này. Vị trí bí mật của
vật họ tìm kiếm được hé lộ trong một câu Kinh Thánh sao? Cái hội kín này
không từ bất cứ điều gì để giễu cợt những người chính trực!
Sách Job.
Chương ba mươi tám. Câu mười một.
Mặc dầu Silas
không nhớ chính xác nội dung câu kinh mười một, nhưng hắn biết Sách Job có
kể một câu chuyện về một người đàn ông vẫn giữ nguyên vẹn lòng tin vào
Chúa sau những thứ thách liên miên. Thật phù hợp, hắn hầu như không thể
kiềm chế nổi sự háo hức.
Ngoái qua vai
mình, hắn nhìn theo Đường Hoa Hồng lung linh và không nén nổi một nụ cười.
Trên bàn thờ chính, dựa vào một giá sách mạ vàng, là một cuốn Kinh Thánh
to tướng đóng bìa da để mở.
Đứng trên ban
công, Xơ Sandnne run lên. Vài phút trước đó, bà đã toan chạy đi và thi
hành lệnh thì gã đàn ông dưới kia đột nhiên cởi chiếc áo chùng. Nhìn thấy
da thịt trắng bệch như thạch cao của gã, bà bỗng bị ngợp trong một cảm
giác hoang mang kinh hãi. Tấm lưng trắng bệch của gã đầy những vết rách rỉ
máu. Ngay cả từ đây, bà cũng có thể thấy là những vết thương đó còn mới.
Người này đã
bị quất bằng roi một cách tàn nhẫn!
Bà cũng thấy
chiếc dây lưng hành xác đẫm máu quấn quanh dùi gã, vết thương bên dưới nó
còn đang nhỏ máu. Chía Trời nào cũng muốn một thân thể bị trèng phạp cách
này chứ. Xơ Sandrine biết, những nghi lễ Opus Dei không phải là điều mà bà
có thể hiểu được. Nhưng lúc này, bà chả mấy quan tâm đến điều đó.
Opus Dei đang
tìm viên đá đỉnh vòm. Làm thế nào mà họ biết về nó, Xơ Sandrine không thể
hình dung được, mặc dù bà biết mình không còn thời gian để suy nghĩ nữa.
Lúc này, gã
thầy tu người đầy máu lặng lẽ khoác áo chùng trở lại, nắm chặt vật báu vừa
lấy được, hắn tiến về phía bàn thờ, phía cuốn Kinh Thánh.
Trong sự im
lặng đến nghẹt thở, Xơ Sandrine rới ban công và chạy nhanh xuôi hành lang
về phòng mình. Bò trên nền nhà, bà với tay vào dưới gầm giường ngủ bằng
gỗ, lôi ra một phong bì vẫn còn nguyên dấu xi mà bà đã giấu kín cách đây
ba năm.
Xé nó ra, bà
thấy bốn số điện thoại ở Paris.
Run rẩy, bà
bắt đầu quay số.
***
Ở dưới nhà,
Silas đặt tấm đá lên bàn thờ và hướng những ngón tay hăm hở của hắn ta về
phía cuốn Kinh Thánh bìa da. Những ngón tay dài trắng nhợt toát mồ hôi khi
hắn lần giờ các trang Kinh Thánh. Lật phần kinh Cựu ước, hắn tìm thấy Sách
Job.
Hắn tìm đến
chương ba mươi tám. Khi đưa ngón tay chạy dọc theo cột chữ, hắn tiên cảm
trước những từ mà hắn sắp đọc.
Chúng sẽ dẫn
đường.
Tìm thấy câu
mười một, Silas đọc. Chỉ có độc bẩy từ. Bối rối, hắn đọc lại, cảm thấy có
một cái gì đó sai thật khủng khiếp.
Câu kinh vẻn
vẹn có thể này.
NGƯƠI SẼ CHỈ
TỚI ĐƯỢC ĐÂY THÔI.
Chương 30
Nhân viên an
ninh Clause Grouard giận sôi lên khi đứng nhìn xuống tên tù binh nằm sõng
xoài phía trước bức Mona Lisa. Tên khốn kiếp này đã giết ông Jacque
Saunière! Saunière giống như một người cha vô cùng thân yêu với Grouard và
đội bảo vệ của anh.
Grouard không
muốn gì hơn là xiết cò súng và bắn một viên đạn vào lưng Robert Langdon.
Với tư cách là đội trưởng đội bảo vệ, Grouard là một trong số ít những bảo
vệ thực sự được trang bị vũ khí. Tuy nhiên, Grouard tự nhắc mình rằng giết
Langdon sẽ là một ân huệ lớn của số phận so với sự khốn khổ mà Bezu Fache
và hệ thống nhà tù Pháp ban tặng cho hắn ta.
Grouard rút
chiếc máy bộ đàm ra khỏi thắt lưng và cố gắng liên lạc để tìm sự hỗ trợ.
Nhưng tất cả những gì anh nghe được chỉ là tiếng nhiếu sóng tạp âm. Hệ
thống an ninh điện tử bổ trợ của phòng này luôn làm cho những phương tiện
liên lạc của cánh bảo vệ nhiễu sóng. Mình phải ra cửa thôi. Vẫn chĩa súng
về phía Langdon, Grouard bắt đầu lùi chầm chậm về phía lối ra. Lùi đến
bước thứ ba, anh chợt thấy một cái gì khiến anh dừng phắt lại.
Cái quái quỷ
gì thế này!
Một ảo ảnh
không thể giải thích được hiện ra ở gần phần trung tâm của căn phòng. Một
bóng người. Có ai đó nữa trong căn phòng này? Một phụ nữ đang di chuyển
trong bóng tối, bước rất nhanh về bức tường bên trái phía xa. Phía trước
cô ta, một ánh sáng màu tím nhạt lướt qua lướt lại trên sàn, như thể cô
đang tìm một cái gì đó với cái đèn tín hiệu ấy.
"Qui est là?"
. Grouard hỏi, cảm thấy khích động lần thứ hai. Chỉ trong ba mươi giây vừa
qua thôi. Đột nhiên anh không biết phải nhằm súng vào đâu hay phải di
chuyển theo hướng nào.
"PTS đây",
người phụ nữ bình tĩnh đáp, vẫn cầm đèn dò tìm trên sàn nhà.
Cảnh sát khoa
học công nghệ. Bây giờ thì Grouard đang toát mồ hôi. Mình tưởng tất cả các
nhân viên cảnh sát đều rời khỏi đây rồi chứ. Lúc này, anh nhận ra ánh sáng
màu tía kia là tia cực tím, gắn liền với đội PTS, nhưng anh không hiểu tại
sao DCPJ lại tìm chứng cứ ở đây.
"Votre nom!"
. Grouard kêu lên, linh tính nói cho anh biết có cái gì đó trật lất,
"Repondez" .
"C est moi" ,
giọng nói đáp trả bằng một thứ tiếng Pháp bình tĩnh, "Sophie Neveu".
Ở nơi nào đó
trong sâu thắm tiềm thức của Grouard, cái tên này đã được ghi nhớ. Sophie
Neveu à? Đó là cái tên cô cháu gái của ông Saunière, phải không nhỉ? Cô ấy
từng đến đây khi còn bé xíu, nhưng đã bao năm rồi. Đây không thể là cô ấy
được! Và thậm chí nếu đúng là Sophie Neveu thì cũng khó mà coi đó là một
lý do để tin cô ta được. Grouard đã nghe những tin đồn về cuộc xung đột
đau buồn giữa ông Saunière và cô cháu gái.
"Anh biết tôi
mà", người phụ nữ lên tiếng. "Còn Robert Langdon thì không giết ông tôi.
Xin hãy tin tôi".
Cảnh vệ
Grouard không sẵn sàng lấy đó làm tin. "Mình phải hỗ trợ!". Cố gắng liên
lạc qua bộ đàm một lần nữa, anh vẫn chỉ thấy tiếng nhiễu sóng. Cửa ra vào
còn cách cả hai chục mét về phía sau và Grouard bắt đầu lùi dần, chọn cách
chĩa họng súng vào người đàn ông nằm dưới sàn. Khi Grouard nhích từng phân
một về phía sau, anh có thể thấy người phụ nữ ở đầu kia phòng, đang giơ
chiếc đèn chiếu tia tử ngoại xem xét rất kỹ bức tranh lớn treo trên bức
tường đối diện với bức Mona Lisa.
Grouard há
hốc mồm, nhận ra nó là bức tranh nào.
Lạy Chúa, cô
ta đang làm gì vậy?
Ở đầu kia
phòng, Sophie Neveu cảm thấy những giọt mồ hôi lạnh ròng ròng trên trán.
Langdon vẫn nằm dang chân dang tay trên sàn. Đợi một chút, Robert. Sắp
xong rồi. Biết người bảo vệ, trên thực tế ắt không nổ súng vào cô cũng như
Langdon, nên lúc này Sophie chuyển sự chú ý vào vấn đề đang làm cô bận
tâm, rà soát toàn bộ khu vực xung quanh một kiệt tác cụ thể - một kiệt tác
khác của Da Vinci. Nhưng chiếc đèn chiếu tia cực tím này chẳng phát hiện
ra điều gì bất bình thường. Cả ở trên sàn, trên tường, hay thậm chí trên
chính bức tranh, đều chắng thấy gì.
Hẳn phải có
một cái gì đó ở đây chứ!
Sophie cảm
thấy hoàn toàn chắc chắn rằng cô đã đọc đúng ý định của ông cô.
Ông còn có
thể có ý định gì khác?
Kiệt tác mà
cô đang xem xét là một tấm toan cao khoảng mét rưỡi. Quang cảnh lạ lùng mà
Da Vinci tạo ra bao gồm Đức Mẹ đồng trinh Mary ngồi với Chúa hài đồng
Jesus, John Người rửa tội và thiên thần Uriel trên một rìa đá chênh vênh.
Khi Sophie còn nhỏ, không một chuyến viếng thăm Mona Lisa nào được hoàn
tất mà ông cô không kéo cô ngang qua căn phòng để xem bức tranh thứ hai
này.
"Ông ơi, cháu
đang ở đây! Nhưng cháu không nhìn thấy nó!".
Phía sau cô,
Sophie thấy người gác đang cố gọi điện đài xin chi viện.
Hãy nghĩ đi!
Cô hình dung
lại lời nhắn viết nguệch ngoạc trên tấm kính bảo vệ của bức Mona Lisa. Trò
lừa bịp đen tối của con người! Bức hoạ trước cô không có kính bảo vệ để có
thể viết tin nhắn lên đó và Sophie biết ông cô ắt không đời nào nỡ làm
hỏng bức kiệt tác này bằng cách viết thẳng lên mặt tranh. Cô dừng lại.
Chí ít cũng
không phải ở mặt trước. Cô lia mắt lên, nhìn dọc sợi dây cáp dùng để treo
bức hoạ.
Liệu có thể
là cái này không? Nắm lấy cạnh trái của khung tranh bằng gỗ, cô kéo về
phía mình. Bức hoạ có khổ lớn và mặt sau kênh ra khi cô giựt nó khỏi
tường. Sophie luồn đầu và cả vai vào phía sau của bức hoạ và dùng chiếc
đèn tia cực tím đế kiểm tra mặt sau.
Chỉ mất vài
giây để Sophie nhận ra là bản năng của mình đã lầm. Mặt sau bức hoạ trống
trơn. Chẳng thấy chữ tím hiện dưới tia tử ngoại, chỉ có nền nâu loang lổ
của vải toan dãi dầu qua năm tháng và…
Khoan.
Mắt Sophie
dán chặt vào một tia lấp lánh của kim loại lạc lõng ở gần mép dưới của
khung tranh bằng gỗ. Vật đó rất nhỏ, được nhét một phần vào cái khe giữa
vải toan với khung. Một sợi dây bằng vàng được gắn với nó.
Sophie cực kỳ
kinh ngạc khi thấy sợi dây được gắn với một chiếc chìa khoá bằng vàng
trông rất quen. Đầu chìa chạm khắc, to bản có hình cây thánh giá và mang
dấu triện khắc chìm mà cô đã không thấy lại từ hồi chín tuổi. Một bông hoa
huệ với chữ viết tắt P.S. Lúc này, Sophie cảm thấy như vong hồn của người
ông đang nói thầm vào tai cô. Đến thì đến lúc, chiếc chìa khoá sẽ là của
cháu. Cổ họng cô nghẹn lại khi nhận ra rằng ông mình ngay cả trong cái
chết vẫn gắng giữ lời hứa với cô. Chiếc chìa khoá này là để mở một cái
hộp, giọng ông đang vang lên, nơi ông giữ nhiều bí mật.
Giờ đây,
Sophie đã nhận ra rằng toàn bộ mục đích của trò đố chứ tối nay chính là
chiếc chìa khoá này. Ông cô đã mang nó theo mình khi ông bị giết. Vì không
muốn nó rơi vào tay cảnh sát, ông đã giấu nó sau bức hoạ này. Rồi ông bày
ra trò săn tìm kho báu tài tình này để đảm bảo chỉ Sophie có thể tìm ra
nó.
"Au secours!"
giọng người gác la lên.
Sophie giật
chiếc chìa khoá từ sau bức hoạ và luồn nó vào sâu trong túi áo cùng với
chiếc đèn tia cực tím. Nhìn từ sau bức hoạ, cô có thể thấy người bảo vệ
vẫn đang cố gắng một cách tuyệt vọng để bắt liên lạc với ai đó thông qua
bộ đàm. Anh đang lùi dần về phía lối ra, vẫn kiên quyết chĩa mũi súng vào
Langdon.
"Au secours!"
Anh ta lại hét vào máy bộ đàm.
Vẫn chỉ lạo
xạo tạp âm.
Anh ta không
liên lạc được, Sophie nhận ra, cô nhớ rằng các khách tham quan có điện
thoại di động ở đây thường tức phát điên lên khi họ muốn gọi điện về nhà
để khoe rằng họ đang chiêm ngưỡng Mona Lisa. Đường dây giám sát tăng cường
bên trong các bức tường đã làm cho căn phòng hoàn toàn không thể truyền
tin nếu không bước ra khỏi cửa. Lúc này, người bảo vệ đang lùi nhanh về
phía cửa ra vào, và Sophie biết rằng cô phải hành động ngay lập tức.
Nhìn lên bức
tranh lớn mà cô đang nép nửa người sau nó, Sophie nhận ra rằng Leonardo Da
Vinci, lần thứ hai trong buổi tối hôm nay, lại giúp đỡ cô.
***
Chỉ còn vài
mét nữa thôi. Grouard tự nói với mình, vẫn giữ chắc "Arrêtez! Ou je la
détruis" . Giọng người phụ nữ vang lên khắp căn phòng.
Grouard liếc
về phía cô và dừng phắt lại: "Mon dieu, non!" .
Qua vầng sáng
đo đỏ mờ ảo, anh có thể nhìn thấy người phụ nữ đang thực sự nhấc bức tranh
khỏi cáp treo và dựng đứng nó trên sàn trước mặt cô. Với chiều cao mét
rưỡi, bức vẽ hầu như hoàn toàn che lấp thân hình cô. Ý nghĩ đầu tiên của
Grouard là thắc mắc tại sao, dây treo tranh không khởi động hệ thống báo
động, nhưng tất nhiên tối nay những thiết bị cảm biến chưa được mở lại. Cô
ta đang làm gì vậy?
Khi nhìn thấy
điều đó, anh lạnh cả máu.
Tấm toan bắt
đầu phồng lên ở giữa và đường viền mỏng manh của hình Đức Mẹ đồng trinh
Maria, Chúa hài đồng Jesus và John Người rửa tội bắt đầu méo mó.
"Không?"
Grouard thét lên, cứng người vì kinh hãi khi nhìn bức tranh vô giá của Da
Vinci dãn ra. Từ phía sau, người phụ nữ thúc đầu gối vào giữa tấm toan!
"NON!".
Grouard cuống
cuồng chạy đến và nhằm khẩu súng trên tay về phía cô nhưng ngay lập tức
nhận ra rằng đó là một sự đe doạ suông. Tấm toan chỉ là vải bố, nhưng lại
hoàn toàn bất khả xâm phạm. Một áo giáp sáu triệu dollar.
Mình không
thể bắn xuyên qua một tác phẩm của Da Vinci được!
"Đặt súng và
máy bộ đàm xuống!", người phụ nữ nói bằng một thứ tiếng Pháp bình tĩnh,
"kẻo tôi sẽ thúc đầu gối xuyên thủng bức tranh đấy. Tôi nghĩ anh biết ông
tôi sẽ cảm thấy thế nào về điều này".
Grouard cảm
thấy choáng váng: "Làm ơn… đừng. Đó là bức Đức Mẹ trên núi đá!". Anh đặt
khẩu súng và máy bộ đàm xuống, giơ hai tay lên đầu.
"Cảm ơn",
người phụ nữ nói, "bây giờ hãy làm đúng như tôi nói, rồi mọi thứ sẽ tốt
đẹp thôi".
***
Một lúc sau,
mạch máu Langdon vẫn còn đập dồn dập khi ông chạy bên cạnh Sophie xuống
cầu thang thoát hiểm về phía tầng hầm. Không ai nói một lời nào kể từ lúc
bỏ người bảo vệ run rẩy nằm lại trong Salle des Etats của bảo tàng Louvre.
Khẩu súng lục của người bảo vệ này đang nằm trong bàn tay riết chặt của
Langdon và ông rất nóng lòng muốn vứt bỏ nó. Thứ vũ khí này sao mà nặng nề
và xa lạ một cách nguy hiểm.
Nhảy hai bậc
một xuống cầu thang, Langdon tự hỏi liệu Sophie có biết mình đã suýt huỷ
hoại một bức tranh quý đến thế nào không. Sự chọn lựa của cô về nghệ thuật
có vẻ phù hợp một cách dễ sợ với cuộc phiêu lưu đêm nay. Cũng như Mona
Lisa, tác phẩm của Da Vinci mà cô vừa túm lấy rất nổi tiếng trong giới
lịch sử nghệ thuật về sự tràn ngập những biểu tượng ngoại giáo được ẩn
giấu trong đó.
"Cô đã chọn
một con tin vô cùng giá trị đấy", ông vừa nói vừa chạy.
"Madonna of
the Rocks", cô đáp lại, "nhưng tôi không chọn nó mà ông tôi đã chọn nó.
Ông để lại cho tôi một thứ gì đó đằng sau bức tranh".
Langdon giật
mình nhìn vào cô: "Cái gì cơ? Nhưng làm sao cô biết bức tranh nào, tại sao
lại là Madonna of the Rocks?".
So dark the
con of man (Trò lừa bịp đen tối của con người).
Cô nở một nụ
cười đắc thắng. "Tôi đã không đoán được hai anagram đầu tiên, Robert. Và
tôi không muốn trượt nốt câu thứ ba".
Chú thích:
(1) Tiếng Pháp trong nguyên bản: Ai đó?
(2) Tiếng Pháp trong nguyên bản: Tên cô?
(3) Tiếng Pháp trong nguyên bản: Trả lời
đi!
(4) Tiếng Pháp trong nguyên bản: Tôi đây.
(5) Tiếng Pháp trong nguyên bản: tiếng hô
cầu cứu.
(6) Tiếng Pháp trong nguyên bản: Dừng
lại! Kẻo tôi phá huỷ nó (bức tranh này).
(7) Tiếng Pháp trong nguyên bản: Chúa ơi,
không!
Chương 31
"Họ chết cả
rồi". Xơ Sandarine nói lắp bắp vào điện thoại trong căn phòng ở nhà thờ
Saint-Sulpice. Bà để lại một lời nhắn ở một máy trả lời tự động: "Làm ơn
cầm máy! Họ chết cả rồi!".
Ba số điện
thoại đầu tiên trong danh sách đều mang đến những kết quả hãi hùng một quả
phụ lên cơn thần kinh, một thám tử làm việc muộn tại hiện trường vụ giết
người và một linh mục buồn bã đang an ủi một gia đình mất mát. Cả ba người
cần liên hệ đều đã chết. Và giờ đây, khi bà gọi số điện thoại thứ tư, số
cuối cùng bà không được phép gọi số này trừ phi không thể liên lạc được
với ba người đầu tiên kia bà nghe thấy máy trả lời tự động. Người đi vắng
không nêu tên, chỉ đơn giản yêu cầu người gọi điện để tin nhắn lại.
"Ô đá nền nhà
đó đã bị đập vỡ!" bà phân vua khi để lại tin nhắn. "Ba người kia đã chết".
Xơ Sandrine
không biết gì về nhân thân của bốn người đàn ông mà bà bảo vệ, nhưng những
số điện thoại nhà riêng của họ được bà cất giấu dưới giường ngủ chỉ để sử
dụng trong một trường hợp duy nhất.
Nếu ô đá nền
nhà đó bị đập vỡ, người liên lạc vô diện mạo đã nói với bà qua điện thoại,
điều đó có nghĩa là trên cấp cao đã vỡ một mảng. Một người trong chúng tôi
bị cái chết đe doạ và buộc phải thốt ra một lời nói dối tuyệt vọng. Hãy
gọi những số điện thoại này. Cảnh báo những người khác. Đừng quên gọi
chúng tôi.
Đó là một hồi
chuông báo động câm lặng. Rõ rành không thể hiểu sai trong sự đơn giản của
nó. Kế hoạch đó đã làm bà ngạc nhiên khi lần đầu tiên bà nghe thấy nó. Nếu
nhân thân của một thành viên có nguy cơ bị hại, ông ta có thể nói dối,
điều đó sẽ khởi động một cơ chế cảnh báo những người khác.
Tuy nhiên đêm
nay, hình như có hơn một người bị hại.
"Làm ơn hãy
trả lời", bà thì thầm sợ hãi. "Ông ở đâu?".
"Gác điện
thoại lên", một giọng trầm vang lên từ cửa ra vào.
Quay lại kinh
hãi, bà nhìn thấy gã thầy tu to lớn. Hắn đang nắm chặt cái chân cắm nến
bằng sắt nặng. Run rẩy, bà đặt lại ống nghe.
"Họ chết
rồi", gã thầy tu nói, "cả bốn người. Và bọn họ đã chơi ta như một thằng
ngốc. Hãy nói cho ta biết viên đá đỉnh vòm ở đâu".
"Tôi không
biết!" Xơ Sandrine nói thành thực. "Bí mật đó do những người khác canh
giữ". Những người khác đã chết.
Gã kia tiến
đến, hai bàn tay trắng bệch vẫn nắm chặt chân nến bằng sắt: "Ngươi là một
nữ tu của Nhà Thờ, vậy mà ngươi lại phục vụ bọn chúng?".
"Chúa Jesus
chỉ có một thông điệp chân chính duy nhất", Xơ Sandrine thách thức. "Ta
không thể thấy thông điệp ấy nơi Opus Dei".
Một cơn cuồng
nộ đột ngột bùng nổ sau mắt gã tu sĩ. Hắn lao tới, quật cái chân cắm nến
xuống giống như quật một chiếc gậy đánh gôn. Khi Xơ Sandrine gục xuống,
cảm giác cuối cùng của bà là một thứ linh tính choán ngợp báo trước điều
chẳng lành.
Tất cả bốn
người đều đã chết.
Sự thật quý
giá thế là vĩnh viễn mất.
Chương 32
Chuông báo
động ở đầu đằng đông Cánh Denon đã làm những con bồ câu ở Vườn Tuileries
gần đó bay tán loạn khi Langdon và Sophie lao khỏi tường ngăn hoà vào đêm
Paris. Khi họ chạy qua quảng trường đến chỗ ôtô của Sophie, Langdon có thể
nghe thấy còi xe cảnh sát rú ở đằng xa.
"Nó kia",
Sophie nói, chỉ tay về phía một chiếc xe hai chỗ mui bẹt màu đỏ đậu ở
quảng trường.
Cô ấy đùa,
đúng không? Đó có lẽ là chiếc ô tô bé nhất mà Langdon từng thấy.
"Một chiếc
SmartCar đấy", cô nói. "Một trăm kilômét mới tốn một lít xăng".
Langdon vừa
gieo mình xuống ghế hành khách thì Sophie đã phóng chiếc SmartCar vào một
con đường rải sỏi. Ông níu chặt lấy bảng điều khiển khi chiếc xe lao qua
vỉa hè rồi chồm lên ngoặt vào bùng binh nhỏ ở chỗ Carrousel du Louvre.
Trong khoảnh
khắc, Sophie dường như định đi tắt, cắt ngang bùng binh bằng cách phi
thẳng xe qua hàng rào quanh bùng binh trung tâm, rồi cắt ngang thảm cỏ lớn
ờ giữa.
"Không?".
Langdon hét lên, biết rằng những hàng rào xung quanh Carrousel du Louvre
được dựng lên để che cái khoảng trống nguy hiểm ở trung tâm - La Pyramide
Inversée cửa trời của Kim tự tháp đảo ngược mà trước đó ông nhìn thấy từ
bên trong bảo tàng. Nó đủ rộng để nuốt chửng chiếc xe SmartCar của họ chỉ
trong một ngoạm. May mắn thay, Sophie quyết định đi theo một tuyến thông
thường hơn, đánh riết tay lái về bên phải, cua đúng cách cho đến khi cô ra
khỏi đó, rẽ trái, rồi lao vào làn đường phía bắc, tăng tốc về phía phố
Rivoli.
Những hồi còi
nhị thanh của xe cảnh sát réo càng ngày càng to sau lưng họ, lúc này
Langdon có thể thấy ánh đèn xe cảnh sát trong chiếc gương chiếu hậu phía
ghế ngồi của ông. Động cơ chiếc SmartCar rít lên phản đối khi Sophie thúc
nó đi khỏi bảo tàng Louvre nhanh hơn. Khoảng năm mươi mét trước mặt, đèn
giao thông chuyển sang đỏ ờ phố Rivoli. Sophie rủa thầm và tiếp tục lao về
phía đó. Langdon cảm thấy các cơ co chặt lại.
"Sophie!".
Chiếc xe hơi
chậm lại chút xíu lúc đến ngã tư, Sophie bật đèn pha rồi liếc nhanh một
cái về cả hai ngả trước khi lại dận ga và rẽ trái cắt ngọt qua ngã tư
trống trải để đi vào phố Rivoli. Tăng tốc đi theo hướng tây thêm một phần
tư dặm nữa, Sophie rẽ phải quành một bùng binh rộng. Chắng mấy chốc họ đã
lao nhanh qua phía bên kia trên đại lộ Champs-Elysées thênh thang.
Khi xe chạy
thẳng rồi, Langdon mới xoay người trên ghế, nghển cổ nhìn qua cửa sau về
phía bảo tàng Louvre. Cảnh sát hình như không săn đuổi họ nữa. Cả một biển
nhấp nháy những ánh đèn xanh tập trung ở bảo tàng.
Cuối cùng,
nhịp tim của Langdon chậm lại, ông quay về tư thế cũ: "Thật thú vị".
Dường như
Sophie không nghe thấy. Mắt cô vẫn dán về phía trước, vào đại lộ
Champs-Elysées dài hun hút dãy cửa hàng sang trọng trên suốt hai dặm
thường được mệnh danh là Đại lộ Thứ Năm của Paris. Đại sứ quán Mỹ chỉ cách
đây khoảng một dặm, và Langdon ngồi ngay ngắn lại trong chiếc ghế của
mình.
So dack the
con of man (Trò lừa bịp đen tối của con người)
Sự nhanh trí
của Sophie thật đáng kinh ngạc.
Madonna of
the Rocks.
Sophie đã nói
rằng ông cô để lại một cái gì đó sau bức tranh.
Một lời nhắn
tối hậu? Langdon không khỏi ngạc nhiên thán phục chỗ cất giấu xuất sắc của
Saunière, bức Madonna of the Rocks là một khâu khác ăn khớp trong chuỗi
biểu tượng tương liên đêm nay. Saunière dường như từng bườc một khẳng định
niềm say mê của ông đối vởi khía cạnh bí ẩn và tinh quái của Leonardo Da
Vinci.
Đơn đặt hàng
ban đầu cho bức Madonna of the Rockscủa Da Vinci đến từ một tổ chức gọi là
Hội Trinh Khiết Hoài Thai, họ cần một bức giữa cho bộ tranh ba tấm đặt ở
ban thờ trong nhà thờ San Francesco của họ tại Milan. Các nữ tu sĩ đưa ra
cho Leonardo kích thước cụ thể và chủ đề họ mong muốn dành cho bức tranh -
Đức Mẹ đồng trinh Mary, thánh John Người rửa tội buồi sơ sinh, Uriel và
Chúa hài đồng Jesus nằm trong hang.
Mặc dù Da
Vinci đã làm như họ yêu cầu, nhưng khi ông hoàn trả tác phẩm, bọn họ lại
phản ứng một cách sợ hãi. Ông đã đưa vào bức tranh đầy những chi tiết bùng
nổ và xáo động.
Bức tranh vẽ
Đức Mẹ đồng trinh Mary mặc áo choàng xanh ngồi ôm một đứa bé mới sinh,
được cho là Chúa hài đồng. Uriel ngồi đối diện với Đức Mẹ đồng trinh Mary,
cũng ôm một đứa trẻ, được cho là John - Người rửa tội thủa hài nhi. Thật
kỳ lạ, thay vì theo kịch bản Chúa Jesu ban phước cho John như thông
thường, ở đây chính John lại là người ban phước cho Jesus… và Chúa Jesus
thì đang chịu phép của John! Rắc rối hơn nữa, Đức Mẹ Mary lại giơ cao một
tay trên đầu John và thể hiện một cử chỉ doạ nạt rõ ràng - những ngón tay
bà trông như móng một con đại bàng đang quắp một cái đầu vô hình. Cuối
cùng là hình ảnh đáng sợ nhất và rõ ràng nhất: ngay phía dưới những ngón
tay quắp chặt của Đức Mẹ Mary, Uriel đang vung tay làm một động tác cắt -
như thể cắt cổ cái đầu vô hình bị quắp bởi những ngón tay giống móng đại
bàng của Đức Mẹ Mary.
Những sinh
viên của Langdon luôn luôn hứng thú khi biết rằng cuối cùng Da Vinci đã
xoa dịu Hội Trinh Khiết Hoài Thai bằng cách vẽ cho họ một phiên bản thứ
hai có giảm "đô" của bức Madonna of the Rocks, trong đó mọi nhân vật đều
được sắp xếp một cách chính thống hơn. Hiện nay, phiên bản thứ hai này
được treo tại Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia London dưới cái tên Virgin of the
Rocks (Đức Mẹ đồng trinh trên núi đá), mặc dầu Langdon vẫn thích bản gốc ở
bảo tàng Louvre hơn với tính khác lạ hấp dẫn của nó.
Khi Sophie
cho xe phóng trên đại lộ Champs-Elysées, Langdon hỏi: "Bức tranh ấy. Có
cái gì đằng sau nó vậy?".
Mắt cô không
rời khỏi con đường: "Tôi sẽ cho anh xem khi chúng ta thật sự an toàn trong
đại sứ quán".
"Cô sẽ cho
tôi xem?" Langdon ngạc nhiên. "Ông ấy để lại cho cô một vật thể?".
Sophie gật
đầu: "Với một bông hoa loa kèn và kí tự P.S. chạm nổi".
Langdon không
thể tin vào tai mình.
***
Chúng ta sắp
thành công, Sophie nghĩ khi lái ngoặt chiếc SmartCar sang phải, xoẹt qua
khách sạn Crillon sang trọng, đi vào khu vực ngoại giao của Paris với
những hàng cây ven đường. Đại sứ quán còn cách chỗ này chưa đầy một dặm.
Cuối cùng, cô cũng cảm thấy như mình có thể hít thở bình lhường trở lại.
Cả trong khi
lái xe, đầu óc Sophie vẫn không dứt khỏi chiếc chìa khoá trong túi, hồi ức
về chuyện thấy nó bao năm về trước - đầu chìa bằng vàng hình thánh giá bốn
cánh bằng nhau, thân chìa hình trụ tam giác, những khía răng cưa, con dấu
hình hoa khắc nổi và hai kí tự P.S.
Mặc dầu
Sophie hiếm khi nghĩ về chiếc chìa khoá trong bao nhiêu năm qua, nhưng
công việc trong một cộng đồng tình báo đã dạy cô nhiều về bảo đảm an toàn,
và giờ đây hình chạm khắc lạ thường của chiếc chìa khoá không còn quá
huyền bí nữa. Một khuôn đúc biến hoá được gia công bằng tia laze, không
thể sao lại được. Thay vì những khía răng cưa xoay lẫy khoá, cái mớ nhằng
nhịt những lỗ nhỏ được tạo bởi tia laze của chiếc chìa khoá này sẽ được
kiểm tra bằng một mắt thần điện tử. Nếu mắt thần này xác nhận những lỗ
hình lục giác đó chuẩn xác về cự ly cách sắp xếp và độ quay vòng thì khoá
sẽ được mở.
Sophie không
hình dung nổi một chiếc chìa khoá như thế này dùng để mở cái gì, nhưng cô
cảm thấy Robert có thể nói cho cô biết. Dù thế nào đi nữa, ông ta đã miêu
tả chính xác hình khắc nổi của chiếc chìa khoá mà chưa một lần nhìn thấy
nó. Hình thánh giá của đầu chìa chứng tỏ nó thuộc về một tổ chức Thiên
chúa giáo nào đó, nhưng Sophie không biết một nhà thờ nào dùng loại chìa
khoá với khuôn biến hóa gia công bằng laze.
Với lại, ông
mình không phải là tín đồ Thiên Chúa Giáo.
Sophie đã
thấy bằng chứng về điều đó cách đây mười năm. Thật mỉa mai, chính là một
chiếc chìa khoá khác một chiếc chìa khoá bình thường hơn nhiều đã hé lộ
bản chất thực sự của ông cô.
Buổi chiều
hôm đó thật ấm áp khi cô hạ cánh xuống sân bay Charles de Claulle và vẫy
một chiếc taxi về nhà. Nhìn thấy mình, chắc ông sẽ rất ngạc nhiên, cô
nghĩ.. Từ trường cao học bên Anh trở về nghỉ xuân sớm hơn thường lệ,
Sophie mong đợi gặp ông và kể cho ông tất cả về các phương pháp giải mã mà
cô đang học.
Tuy nhiên,
khi cô về đến ngôi nhà ở Paris, ông cô không có ở đó. Thất vọng, cô biết
ông không ngờ cô về sớm thế và có lẽ đang làm việc ở bảo tàng Louvre.
Nhưng bây giờ là chiều thứ bảy, cô chợt nhận ra. Ông hiếm khi làm việc vào
những ngày cuối tuần. Vào cuối tuần, ông thường…
Mỉm cười,
Sophie chạy thẳng đến gara. Chắc chắn là không có xe ở đó. Bây giờ là cuối
tuần. Ông Jacque Saunière không thích lái xe trong thành phố và ông có một
chiếc xe chỉ để đến một nơi duy nhất nhà nghỉ của ông ở Normandy, phía Bắc
Paris. Sophie sau nhiều tháng ngột ngạt London, đang háo hức được hít thở
những mùi hương của thiên nhiên và muốn bắt đầu kỳ nghỉ ngay tức khắc.
Trời mới ngả chiều, và cô quyết định đi ngay lập tức để khiến ông bị bất
ngờ. Mượn một chiếc ôtô của bạn, Sophie lái về phía Bắc, phóng thẳng vào
khu đồi vắng lặng tràn ngập ánh trăng gần Creully. Cô tới nơi chỉ sau mười
giờ một chút, lái xe theo con đường riêng dẫn đến nơi nghỉ ngơi của ông.
Lối vào dài hơn một dặm, và cô đã đi được một nửa đường trước khi có thể
nhìn thấy ngôi nhà qua những hàng cây một toà biệt thự bằng đá to đùng và
cũ kỹ toạ lạc trong rừng trên sườn đồi.
Sophie nửa hy
vọng thấy ông cô đang ngủ vào giờ này, nửa lại háo hức muốn được thấy ngôi
nhà sáng trưng ánh đèn. Tuy nhiên, niềm vui sướng của cô chuyển thành sự
ngạc nhiên, khi đến nơi cô nhìn thấy lối đi có đầy ô tô đang đậu - những
chiếc Mercedes, BMW, Audis và cả một chiếc Rolls-Royce.
Sophie nhìn
chằm chằm một lúc rồi bật cười lớn. Ông mình người ẩn dật trứ danh! Xem ra
Jacque Saunière ít ẩn dật hơn nhiều so với cách mà ông thể hiện bề ngoài.
Rõ ràng là ông đang tổ chức tiệc tùng trong khi Sophie đi học xa, và bằng
vào bề ngoài của những chiếc ô tô, thì một số trong những người có ảnh
hưởng nhất của Paris cũng đang tham dự.
Háo hức muốn
làm ông mình ngạc nhiên, Sophie hối hả chạy đến cửa trước. Khi cô đến nơi,
cô thấy cửa bị khoá. Cô gõ cửa.
Không ai trả
lời. Lúng túng, cô đi quanh ngôi nhà và thử xem Cửa sau. Nó cũng bị khoá.
Chẳng có lời nào đáp lại cả.
Bối rối, cô
đứng một lúc và lắng nghe. âm thanh duy nhất mà cô nghe được là tiếng gió
lạnh vùng Normandy đang rền rĩ xoáy qua thung lũng.
Không âm
nhạc.
Không tiếng
người.
Chắng có gì
cả.
Trong im lặng
của khu rừng, Sophie vội vàng chạy sang bên sườn nhà, leo lên một đống
củi, áp sát vào cửa sổ phòng khách.
Điều cô nhìn
thấy bên trong thật vô lý.
"Không có ai
ở đây!".
Toàn bộ tầng
một của toà nhà vắng ngắt.
Mọi người ở
đâu được nhỉ?
Tim đập dồn,
Sophie chạy vào nhà chứa củi để lấy chiếc chìa khoá dự phòng mà ông cô
giấu kín dưới thùng đựng que mồi lửa. Cô chạy ra đằng trước mở cửa bước
vào. Khi cô bước vào căn phòng chờ vắng vẻ, bảng kiểm soát của hệ thống an
ninh bắt đầu nháy đèn đỏ một hiệu báo rằng người đi vào có mười giây để
nhập đúng mã số trước khi chuông báo động kêu.
Ông để hệ
thông báo động hoạt động trong suốt một bữa tiệc. Sophie nhanh chóng nhập
mã số và làm hệ thống ngưng phản ứng.
Vào hắn bên
trong, Sophie thấy toàn bộ ngôi nhà vắng tanh.
Cả tầng trên
cũng vậy. Trở xuống phòng khách trống trơn đó, cô đứng một lúc trong yên
lặng, tự hỏi điều gì có thể đang xảy ra đây.
Chính lúc đó
Sophie nghe thấy nó.
Những giọng
nói rì rầm. Và hình như chúng vắng đến tử phía dưới cô. Sophie không thể
tướng tượng được. Cúi xuống, cô áp tai xuống sàn nhà và lắng nghe. Phải,
dứt khoát là âm thanh vọng từ dưới lên. Các giọng đó dường như đang hát,
hay… đang cầu kinh chăng? Cô sợ. Nhưng có một điều còn kỳ bí hơn cả bản
thân âm thanh đó: Cô biết ngôi nhà thậm chí không có tầng hầm?
Ít nhất thì
mình cũng chưa bao giờ thấy.
Quay lại và
rà soát phòng khách, mắt Sophie bắt gặp một vật duy nhất trong toàn bộ
ngôi nhà không ở vị trí cũ một món đồ cổ yêu thích của ông - tấm thảm
Anbusson. Nó thường được treo ở bức tường phía đông cạnh lò sưởi, nhưng
đêm nay, nó đã bị kéo về một phía, để lộ bức vách phía sau.
Bước về phía
bức vách gỗ trần trụi, Sophie cảm thấy tiếng đọc kinh càng lớn dần. Do dự,
cô áp tai vào vách gỗ. Những âm thanh lúc nãy rõ ràng hơn. Rõ ràng là
người ta đang cầu kinh… ngâm nga những từ mà Sophie không thể nào hiểu
được.
Không gian
đằng sau bức vách là một khoảng trống!
Sờ xung quanh
gờ những miếng ván, Sophie thấy một quả đấm cửa thụt vào trong. Nó được
chế tác rất kín đáo. Một cánh cửa trượt. Tim đập thình thịch, cô đặt ngón
tay vào khe và kéo ra. Chính xác và êm ru, tấm vách nặng trượt sang một
bên. Từ bóng tối phía bên kia, những giọng nói vang lên.
Sophie lách
qua cánh cửa và thấy mình đứng trên một cầu thang bằng đá đục thô xoáy
theo hình trôn ốc xuống dưới. Cô đã đến ngôi nhà này từ lúc còn bé, mà
không hề biết là có chiếc cầu thang này.
Càng xuống,
không khí càng mát lạnh. Những giọng nói mỗi lúc một rõ hơn. Lúc này, cô
nghe thấy cả giọng nam lẫn giọng nữ. Tầm nhìn của cô bị vòng xoáy của cầu
thang hạn chế, nhưng lúc này, bậc cuối cùng đã hiện ra. Bên kia bậc này,
cô có thể nhìn thấy một mảnh nhỏ của sàn tầng hầm - một khoảng sàn đá bập
bùng ánh lửa màu da cam.
Nín thở,
Sophie nhích xuống một vài bậc nữa và cúi xuống để nhìn. Phải mất vài
giây, cô mới nhận ra cái mà cô đang nhìn.
Căn phòng là
một hang đá một khoang thô nhám dường như được đục từ khối đá granit của
sườn đồi này. Nguồn ánh sáng duy nhất đến từ những cây đuốc cắm trên
tường. Trong ánh lửa, trên dưới ba mươi người đứng thành vòng tròn giữa
phòng.
Mình đang mơ,
Sophie tự nhủ. Một giấc mơ. Còn có thể là gì khác được chứ?
Mọi người
trong phòng đều đeo mặt nạ, phụ nữ mặc áo thụng mỏng tang màu trắng, đi
giầy vàng óng. Mặt nạ của họ màu trắng, họ cầm một quả cầu vàng trong lòng
bàn tay. Đàn ông mặc áo chùng đen dài, và mặt nạ của họ màu đen. Trông họ
giống những quân cờ vua trên một bàn cờ vua khổng lồ. Mọi người đứng trong
vòng tròn đều lắc lư người từ trước ra sau và kính cẩn cầu khấn một vật gì
trên sàn trước mặt họ… một vật gì đó mà Sophie không thể nhìn thấy.
Tiếng đọc
kinh to dần. Nhanh dần. Đến giờ thì vang rền như sấm. Những người tham gia
tiến lên một bước rồi quỳ xuống. Trong khoảnh khắc đó, cuối cùng thì
Sophie cũng có thể nhìn thấy thứ mà tất cả bọn họ đang nhìn.
Ngay khi
loạng choạng lùi lại vì kinh hoàng, cô đã cảm thấy hình ảnh đó khắc dấu
lửa mãi mãi vào kí ức cô. Lên cơn buồn nôn, Sophie quay người, bám chặt
vào bức tường đá khi leo lên cầu thang. Kéo cánh cửa đóng lại, cô chạy
trốn khỏi ngôi nhà hoang vắng và lái xe trở về Paris trong một trạng thái
mò mẫm đầy nước mắt.
Đêm đó, cảm
thấy đời tan nát vì vỡ mộng và bị phản bội, cô đóng gói đồ đạc rồi rời
khỏi nhà. Cô để lại một lời nhắn trên bàn ăn.
CHÁU ĐÃ Ở ĐÓ.
ĐỪNG CỐ TÌM CHÁU!
Cạnh lời
nhắn, cô đặt chiếc chìa khoá dự phòng lấy từ nhà chứa củi của nhà nghỉ.
***
"Sophie!"
Giọng Langdon bất chợt xen vào. "Dừng lại! Dừng lại!".
Bứt ra khỏi
dòng hồi ức, Sophie dận phanh cho xe dừng đánh kít: "Cái gì? Cái gì xảy ra
thế?".
Langdon chỉ
con phố dài trước mặt họ.
Nhìn thấy
quang cảnh đó, Sophie lạnh cả máu. Khoáng một trăm mét phía trước thôi,
ngã tư đã bị chặn bởi hai xe cảnh sát DCPJ đậu xiên xẹo, với mục đích hiển
nhiên: Phong toả đại lộ Gabriel!
Langdon thở
dài rầu rĩ: "Nghĩa là đêm nay đại sứ quán nằm ngoài tầm của tôi?".
Phía cuối
phố, hai nhân viên DCPJ đứng cạnh xe của mình đang nhìn chằm chằm về phía
hai người, rõ ràng là rất tò mò về ánh đèn pha vừa đột ngột dừng ở đầu
phố.
Được, Sophie
quay xe lại rất từ từ đi.
Quay đầu
chiếc SmartCar, Sophie thực hiện một cú vòng táo bạo và đổi ngược hướng
đi. Khi lái vụt đi, cô nghe thấy tiếng lốp xe rít lên đằng sau. Tiếng còi
xe cảnh sát ré lên.
Vừa nguyền
rủa, Sophie vừa nhấn ga tăng tốc.
Chương 33
Chiếc
SmartCar của Sophie cắt ngang khu vực ngoại giao, vòng vèo qua các đại sứ
quán rồi lãnh sự quán, cuối cùng ra khỏi một con phố nhánh, rẽ phải để trở
lại đại lộ Champs-Elysées to rộng Langdon ngồi trên ghế hành khách , tay
nắm chặt đến trắng bệch khớp ngón, vặn mình ngoái nhìn đằng sau xem cảnh
sát còn bám theo không. Ông chợt ước gía mình đừng quyết định trốn chạy.
Nhưng mày có quyết định đâu, ông tự nhắc mình. Sophie đã quyết định thay
ông khi cô ném đĩa GPS qua cửa sổ phòng tắm. Bây giờ, khi họ phóng nhanh
khỏi đại sứ quán, luồn lách qua dòng xe cộ thưa thớt trên đại lộ
Champs-Flysées, Langdon cảm thấy những phương án của mình đều hỏng. Mặc dù
Sophie có vẻ như đã bỏ xa cảnh sát, chí ít là trong lúc này, Langdon vẫn
hoài nghi không biết vận may của họ có kéo dài được lâu không.
Ngồi sau tay
lái, Sophie thò tay vào túi áo len, lôi ra một vật nhỏ bằng kim loại rồi
chìa cho Langdon: "Robert, anh nên xem thứ này đi. Đây là thứ ông tôi để
lại phía sau bức Madonna of the Rocks đấy".
Run lên vì dự
cảm, Langdon cầm vật đó và xem xét. Nó khá nặng và giống như hình thập
giá. Linh tính đầu tiên bảo là ông đang cầm một pieu tang một dạng thu nhỏ
của cây cọc tưởng niệm để cắm trên những ngôi mộ ở nghĩa trang. Nhưng rồi
ông để ý thấy thân của thánh giá có hình lăng trụ tam giác. Và còn có hàng
trăm lỗ nhỏ tí xíu lục giác, có vẻ được gia công rất tinh vi và không theo
hàng lối ngay ngắn.
"Đó là một
chiếc chìa khoá được cắt bằng tia laze". Sophie nói với ông, "Những hình
lục giác đó sẽ được đọc bởi một mắt thần điện tử".
Một chiếc
chìa khoá ư? Langdon chưa bao giờ nhìn thấy thứ gì giống thứ này.
"Hãy nhìn
phía bên kia đi", cô nói trong khi chuyển làn đường rồi băng qua ngã tư.
Khi Langdon
xoay chiếc chìa khoá, ông cảm thấy quai hàm trễ xuống vì kinh ngạc. Khắc
nổi ở trung tâm chữ thập là một bông hoa loa kèn cách điệu và kí tự P.S!
"Sophie", ông
nói, "đây chính là dấu hiệu mà tôi đã nói với cô! Biểu tượng chính thức
của Tu viện Sion".
Cô gật đầu:
"Như tôi đã nói với anh, tôi đã nhìn thấy chiếc chìa khoá này rất lâu rồi.
Ông tôi bảo tôi không bao giờ được nói đến nó nữa".
Mắt Langdon
vẫn dán vào chiếc chìa khoá có hình khắc nổi đó. Cách chế tác bằng công
nghệ cao và biểu tượng cổ xưa quyện vào nhau thành một thứ hỗn hợp kỳ bí
của thế giới hiện đại và thế giới cổ xưa.
"Ông tôi nói
với tôi chiếc chìa khoá này là để mở một chiếc hộp trong đó ông cất giữ
nhiều bí mật".
Langdon cảm
thấy ớn lạnh khi tưởng tượng đến loại bí mật mà một người như Jacque
Saunière có thể cất giấu. Một hội kín cổ xưa làm gì với một chiếc chìa
khoá vị lai chủ nghĩa, Langdon không sao hiểu nổi. Tu viện Sion tồn tại vì
một mục đích duy nhất là bảo vệ một bí mật. Một bí mật chứa quyền năng to
lớn không thể tưởng tượng nổi. Chiếc chìa khoá này có thể có gì liên quan
đến bí mật đó? Ý nghĩ đó trùm lấp không sao cưỡng nổi: "Cô có biết nó mở
thứ gì không?".
Sophie có vẻ
thất vọng: "Tôi đã hi vọng là anh biết".
Langdon yên
lặng xoay xoay chiếc chìa khoá chữ thập trong tay, xem xét nó.
"Trông nó có
vẻ thuộc về đạo Thiên Chúa", Sophie nhấn mạnh.
Langdon không
dám chắc về điều đó. Đầu chìa không phải kiểu thánh giá Thiên chúa truyền
thống có thân dài mà là một chữ thập bình phương nghĩa là bốn nhánh dài
bằng nhau có trước đạo Thiên Chúa một ngàn rưỡi năm. Loại chữ thập này
không mang một hàm nghĩa Thiên chúa giáo nào về sự đóng đinh câu rút gắn
liền thập giá La tinh thân dài do người La mã tạo ra làm dụng cụ tra tấn.
Langdon bao giờ cũng ngạc nhiên khi thấy rất ít tín đồ Cơ đốc giáo, những
người tôn thờ cây thánh giá, hiểu ra rằng lịch sử đầy bạo lực của biểu
tượng này được phản ánh ngay trong tên gọi của nó: "chữ thập (cross)" và
"thập giá" (crucifix) đều từ động từ La tinh cruciare - tra tấn - mà ra.
"Sophie",
Langdon nói, "tôi chỉ có thể nói với cô là những chữ thập nhánh dài bằng
nhau như cái này được cho là những chữ thập hoà bình. Hình dạng bình
phương của nó khiến nó không sử dụng được vào việc đóng đinh câu rút, và
các yếu tố dọc - ngang cân bằng của nó thể hiện sự kết hợp tự nhiên giữa
nam và nữ, khiến nó trở thành biểu tượng phù hợp với triết lý của Tu viện
Sion".
Cô mệt mỏi
nhìn ông: "Anh không biết, phải không?".
Langdon cau
mày: "Không một manh mối nào".
"Thôi được,
chúng ta phải ra khỏi con đường này thôi", Sophie kiểm tra gương chiếu
hậu. "Chúng ta cần một nơi an toàn để tìm ra thứ mà chiếc chìa khoá này
mở".
Langdon thèm
thuồng nghĩ đến căn phòng tiện nghi của mình ở khách sạn Ritz. Rõ ràng, đó
không phải là một sự lựa chọn lúc này: "Những chủ nhân mời tôi đến giảng ở
Đại học Mỹ tại Paris thì sao?".
"Quá lộ liễu.
Fache sẽ kiểm vấn họ!".
"Cô hẳn phải
quen biết nhiều người chứ. Cô sống ở đây mà?".
"Fache sẽ
kiểm tra điện thoại, hòm thư điện tử của tôi, nói chuyện với những đồng
nghiệp của tôi. Các mối liên hệ của tôi đều bị rà soát, còn như tìm một
khách sạn cũng không phải là một ý hay vì tất cả khách sạn đều yêu cầu
xuất trình giấy tờ căn cước".
Một lần nữa,
Langdon lại tự hỏi giá cứ để cho Fache bắt giữ ông tại bảo tàng Louvre có
tốt hơn không. "Ta hãy gọi đại sứ quán xem. Tôi có thể giải thích về tình
cảnh của chúng ta và đề nghị đại sứ quán cử ai đó đến gặp chúng ta ở đâu
đó".
"Gặp chúng
ta?" Sophie quay sang nhìn chằm chằm vào ông như thể ông bị điên vậy.
"Robert, anh đang nằm mơ. Đại sứ quán không hề có quyền pháp lý ngoại trừ
trong phần đất của chính họ. Cử ai đó đến đưa chúng ta về sẽ bị coi là
hành động trợ giúp kẻ trốn tránh chính phủ Pháp. Điều đó sẽ không xảy ra
đâu. Nếu anh tự đi vào đại sứ quán và đề nghị một chỗ trú ẩn tạm thời, thì
đó lại là một chuyện khác, nhưng đề nghị họ hành động chống lại việc thi
hành luật pháp Pháp trong lĩnh vực này ư?". Cô lắc đầu. "Cứ thử gọi tởi
đại sứ quán của anh ngay đi, và họ sẽ bảo với anh là hãy tránh xa việc
phạm pháp và hãy đến tự thú với Fache. Rồi họ hứa hẹn sẽ theo các kênh
ngoại giao để anh nhận được một sự xét xử công bằng". Cô quay ra nhìn dãy
cửa hàng sang trọng trên đại lộ Champs-Flysées. "Anh có bao nhiêu tiền mặt
ở đây?".
Langdon xem
lại ví: "Một trăm đô la. Một vài euro. Thế thì sao?".
"Thẻ tín
dụng?".
"Tất nhiên".
Khi Sophie
tăng tốc, Langdon cảm thấy cô đang vạch ra một kế hoạch. Ngay phía trước,
cuối đại lộ Champs-Elysées, Khải hoàn môn đứng sừng sững - đài kỉ niệm cao
50m do Napoleon dựng để tôn vinh quyền lực quân sự của chính mình được bao
quanh bởi bùng binh lớn nhất nước Pháp, một con lộ ngoại cỡ chín làn
đường.
Khi đến gần
bùng binh, Sophie lại nhìn gương chiếu hậu: "Tạm thời chúng ta đã bứt khỏi
họ!" cô nói, "nhưng sẽ không kéo dài thêm được năm phút nữa đâu nếu vẫn
ngồi trong chiếc xe này".
Vậy hãy ăn
cắp một chiếc xe khác đi, Langdon suy diễn, đằng nào tay cũng đã nhúng
chàm rồi mà.
"Cô định làm
gì bây giờ?".
Sophie cho xe
chạy quanh bùng binh: "Hãy tin ở tôi".
Langdon không
phản ứng gì. Đêm nay, lòng tin chẳng đưa ông đi được bao xa. Vén tay áo
lên, ông nhìn đồng hồ, một chiếc đồng hồ đeo tay thuộc loại đồ cổ nhãn
hiệu Chuột Mickey vốn là món quà bố mẹ tặng ông hôm sinh nhật lần thứ
mười. Mặc dù cái mặt đồng hồ trẻ con đó lắm khi thu hút những cái nhìn kì
lạ, nhưng Langdon chưa bao giờ đeo một chiếc đồng hồ nào khác. Những phim
hoạt hình của Disney là bài học vỡ lòng đưa Langdon vào sự huyền diệu của
hình khối và màu sắc, và Mickey giờ đây làm nhiệm vụ hằng ngày nhắc nhở
Langdon phải giữ cho con tim trẻ mãi. Tuy nhiên, lúc này, đôi kim của
Mickey đang xoạc ra một góc bất tiện, chỉ một giờ giấc cũng bất tiện: 2
giờ 51 sáng.
"Chiếc đồng
hồ hay nhỉ", Sophie vừa nói vừa liếc nhìn cổ tay ông rồi lái chiếc
SmartCar quanh cái bùng binh rộng mênh mông, ngược chiều kim đồng hồ.
"Đó là một
câu chuyện dài", ông nói, rồi kéo ống tay áo xuống.
"Tôi nghĩ ắt
là thế", cô thoáng cười với ông rồi ra khỏi bùng binh, hướng về phía bắc,
rới xa trung tâm thành phố. Vừa kịp qua hai đèn xanh, cô tới ngã tư thứ ba
và rẽ phải vào Đại lộ Malesherbes. Họ rời những con phố giàu có, có hàng
cây hai bên đường của khu ngoại giao để đi sâu vào một khu vực Công nghiệp
tối hơn. Sophie rẽ gấp sang trái, và một lúc sau, Langdon nhận ra họ đang
ở đâu.
Ga
Saint-Lazare.
Trước mặt họ,
cái ga xe lửa mái lợp kính giống như bản sao vụng về của một nhà để máy
bay hoặc một nhà kính trồng cây.
Những ga xe
lửa ở châu Âu không bao giờ ngủ. Thậm chí vào giờ này, nửa tá tắc xi vẫn
nằm gần lối vào chính. Những người bán hàng đẩy những chiếc xe bánh mì kẹp
và nước khoáng trong khi đám thanh niên bụi bặm, ba lô trên lưng, vừa ra
khỏi ga vừa rụi mắt, nhìn xung quanh như thể cố nhớ xem mình đang ở thành
phố nào. Trên phố trước mặt, hai cảnh sát thành phố đứng trên vỉa hè chỉ
lối cho mấy vị khách lạc đường.
Sophie lái
chiếc SmartCar vào sau dãy tắc xi và đậu xe trong một khu đỏ mặc dù còn
rất nhiều chỗ đậu xe đúng luật bên kia đường. Trước khi Langdon kịp hỏi
chuyện gì đang diễn ra, cô đã ra khỏi xe. Cô hối hả đến bên cửa chiếc tắc
xi phía trước họ và bắt đầu nói với người lái xe.
Khi Langdon
ra khỏi chiếc SmartCar, ông nhìn thấy Sophie trao cho người lái xe tắc xi
một xấp tiền mặt. Người lái xe tắc xi gật đầu rồi, trước sự ngỡ ngàng của
Langdon, phóng xe đi để họ ở lại.
"Chuyện gì
xảy ra vậy?" Langdon hỏi, đến bên Sophie trên vỉa hè trong khi chiếc xe
taxi biến mất.
Sophie đã
hướng về phía cửa chính của ga: "Đi nào. Ta mua hai vé lên chuyến tàu sau
ra khỏi Paris".
Langdon vội
vã chạy theo cô. Cái điều khởi đầu là cuộc bổ nhào một dặm tới sứ quán Mỹ
nay đã trở thành cuộc bỏ chạy hoàn toàn khỏi Paris. Langdon càng lúc càng
không thích cái ý này.
Chú thích:
(1) Passenger seat, ghế đằng trước cạnh
người lái.
(2) Tiếng Pháp trong nguyên bản: cọc.
Chương 34
Người lái xe
đón giám mục Aringarosa tại sân bay quốc tế Leonardo de Vinci lái đến một
chiếc Fiat nhỏ, màu đen không lấy gì làm oách lắm. Aringarosa nhớ lại cái
thời mà tất cả phương tiện đi lại của Vatican đều là những chiếc ô tô lớn,
sang trọng, trưng lên nào huy hiệu, nào là cờ có in con dấu của Toà Thánh
Vatican. Những ngày ấy đã qua rồi. Xe của Vatican bây giờ ít phô trương
hơn và hầu như không bao giờ mang dấu đặc trưng gì.
Vatican nói
rằng đó là cách cắt giảm chi phí để phục vụ tốt hơn cho giáo phận của họ,
nhưng Aringarosa ngờ rằng điều đó nặng về biện pháp an ninh hơn. Thế giới
đã trở nên điên loạn, ở nhiều nơi của châu Âu, phô trương tình yêu Chúa
Jesus Christ cũng giống như vẽ một mục tiêu ngắm bắn lên mui xe của mình.
Xốc lại chiếc
áo thụng, Aringarosa leo lên ghế sau, an tọa chuẩn bị cho chuyến đi dài
đến lâu dài Gandolfo. Nó hẳn cũng giống như chuyến đi cách đây năm tháng
của ông.
Chuyến đi
Rôma năm ngoái, ông thở dài. Cái đêm dài nhất trong đời mình.
Năm tháng
trước đây, Vatican đã gọi điện yêu cầu Aringarosa có mặt ngay tại Rôma. Họ
không giải thích gì cả. Vé của ông đã được đặt ở sân bay. Toà Thánh
Vatican ráng hết sức duy trì một màn bí mật, ngay cả với những giáo chức
cao nhất.
Những cuộc
triệu tập bí mật, Aringarosa đoán, có lẽ là một dịp chụp ảnh Giáo hoàng và
các quan chức Vatican khác để quảng cáo cho thành công mới đây của Opus
Dei hoàn thành Trụ sở Quốc gia của bọn họ ở thành phố New York. Tờ
Architecrural Digest gọi toà nhà của Opus Dei là "một ngọn hải đăng rực
sáng của Chính giáo Thiên Chúa được hội nhập một cách siêu tuyệt vào cảnh
quan hiện đại"; và gần đây, dường như Vatican bị hấp dẫn bởi bất cứ thứ gì
có chứa từ "hiện đại".
Aringarosa
không có chọn lựa nào ngoài việc chấp nhận lời mời, mặc dù miễn cưỡng.
Không phải là người ngưỡng mộ sự điều hành của Giáo hoàng hiện tại,
Aringarosa, như đa phần giới tu sĩ bảo thủ, đã rất quan ngại theo dõi vị
Giáo hoàng thụ nhiệm trong năm đầu tiên của ngài. Là người tự do tư tưởng
chưa từng thấy, Đức Cha đã giành được chức Giáo hoàng thông qua một trong
những phiên họp Hồng y bất thường nhất và gây tranh cãi nhất trong lịch sử
toà thánh Vatican. Bây giờ, thay vì khiêm nhường về sự đăng quang bất ngờ
của mình, Giáo hoàng đã không lãng phí thời gian vào việc phô trương uy
lực gắn với cơ quan tối cao trong cộng đồng Cơ đốc giáo toàn thế giới. Lợi
dụng một làn sóng náo động ủng hộ tự do chính trị trong trường đại học của
các Hồng y giáo chủ, Đức Giáo hoàng giờ đây tuyên bố thiên chức Giáo hoàng
của mình là "làm trẻ lại học thuyết của Toà thánh Vatican và cập nhật Ki
tô giáo vào thiên niên kỉ thứ ba".
Aringarosa sợ
rằng sự chuyển đổi là ở chỗ con người này thực sự kiêu kì đến mức nghĩ
rằng mình có thể viết lại những giới luật của Chúa và giành lại trái tim
của những người cảm thấy yêu cầu của Ki tô giáo đã trở nên quá bất tiện
trong một thế giới hiện đại.
Anngarosa đã
sử dụng mọi ảnh hưởng chính trị của mình - khá lớn do quy mô của Opus Dei
và ngân sách của họ để thuyết phục Giáo hoàng và các cố vấn của Ngài rằng:
nới lỏng giáo luật của Giáo hội không chỉ là thiếu lòng tin, hèn nhát mà
còn là tự sát chính trị. Ông còn nhắc nhở họ rằng biện pháp giảm nhẹ giới
luật Giáo hội trước đây - thảm bại của Vatican II đã để lại một di hại
nặng nề: số người đi lễ nhà thờ giảm xuống mức thấp hơn bất kỳ thời điểm
nào, những nguồn quyên tặng cạn kiệt và thậm chí không có đủ linh mục để
quản lý các nhà thờ.
Giáo dân cần
sự sắp xếp và hướng dẫn phía nhà thờ, Aringarosa nhấn mạnh, chứ không phải
sự nâng niu hay chiều chuộng!
Tối hôm đó,
cách đây mấy tháng, khi chiếc Fiat rời sân bay Aringarosa đã ngạc nhiên
khi thấy xe không đi về phía Toà Thánh Vatican mà về phía đông, lên một
dốc núi ngoằn ngoèo.
"Chúng ta
đang đi đâu đây?" ông hỏi người tài xế.
"Khu đồi
Alban", gã đáp. "Nơi gặp là ở lâu đài Gandolfo".
Dinh mùa hè
của Giáo hoàng? Aringarosa chưa bao giờ đến, hay thậm chí muốn thấy nó.
Ngoài chức năng là nhà nghỉ mùa hè của Giáo hoàng, cái tòa thành xây hồi
thế kỷ 16 này đã từng là Specula Vatican - đài thiên văn của Toà Thánh
Vatican một trong những đài quan sát thiên văn hiện đại nhất châu Âu.
Aringarosa
xưa nay vẫn khó chịu với cái nhu cầu từ trong lịch sử của Vatican là học
đòi làm khoa học. Căn cớ gì mà phải hoà quyện khoa học với đức tin? Khoa
học khách quan không thể thực hành bởi một người có đức tin ở Chúa. Mà đức
tin cũng chẳng cần đến khoa học để xác nhận một cách vật thể những tín
ngưỡng của nó.
Mặc dù vậy,
nó vẫn đó, ông nghĩ khi lâu đài Gandolfo hiện ra, sừng sững trên nền trời
tháng mười một đầy sao. Từ con đường vào, Glandolfo trông giống một con
quái vật bằng đá khổng lồ đang tính làm một cú nhảy tự sát. Chon von ngay
trên gờ một vách đá, toà lâu đài ngả mình ra bên trên cái nôi của nền văn
minh Ý cái thung lũng từng chứng kiến cuộc chiến giữa những thị tộc Orazi
và Curiazi, từ rất lâu trước khi lập ra đế quốc La Mã.
Ngay cả ở
dạng bóng in trên nền trời, lâu đài Gandolfo cũng là một cảnh tượng đáng
ngắm nhìn một điển hình đầy ấn tượng của kiến trúc phòng thủ nhiều tầng,
phản ánh sự đắc dụng của khung cảnh bên vách đá cheo leo này. Đáng buồn
thay - giờ đây Aringarosa thấy rõ - Vatican đã làm hỏng toà lâu đài bằng
cách xây dựng hai cái vòm nhôm to tướng chứa kính viễn vọng trên mái,
khiến cho tòa kiến trúc từng một thời uy nghi tựa một chiến binh lẫm liệt
này trông như đội hai chiếc mũ chóp.
Khi