Mật mã Da Vinci
Dan Brown
Dịch giả: Đỗ
Thu Hà
Hiệu đính:
Dương Tường
---o0o---
001
- 025
Chương 1
Robert
Langdon từ từ tỉnh giấc. Điện thoại reo trong bóng tối- tiếng chuông leng
keng nghe lạ lẫm. Ông dò dẫm tìm ngọn đèn cạnh giường và bật lên. Nheo mắt
nhìn xung quanh ông nhận thấy đó là một phòng ngủ kiểu Phục Hưng sang
trọng với đồ đạc theo phong cách thời Louis XVI với những tranh vẽ thẳng
lên tường, và một chiếc giường gỗ gụ đồ sộ bốn cột.
Mình đang ở
chỗ quái quỷ nào thế này?
Chiếc áo tắm
mắc trên cột giường mang dòng chữ: Hotel Ritz Paris.
Màn sương tan
dần.
Langdon nhấc
ống nghe: "Hello?".
"Ông Langdon
phải không ạ?", một giọng đàn ông vang lên. "Tôi hy vọng là không đánh
thức ông chứ ạ?".
Ngạc nhiên,
Langdon nhìn đồng hồ cạnh giường. 0 giờ 32’ sáng. Ông mới ngủ được một
tiếng mà cảm thấy như lâu lắm.
"Tôi là người
trực khách sạn, thưa ông. Tôi xin lỗi vì sự đường đột này, nhưng có một vị
khách khăng khăng đòi gặp ông, nói là có việc khẩn cấp".
Langdon vẫn
cảm thấy lơ mơ. Một vị khách? Tia mắt ông tập trung vào một tờ bướm bị vò
nhàu trên bàn cạnh giường.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ TẠI PARIS
Trân trọng giới thiệu
MỘT TỐI GẶP GỠ VỚI ROBERT LANGDON
GIÁO SƯ KHOA KÝ TƯỢNG TÔN GIÁO, ĐẠI
HỌC HARVARD
Langdon hầm
hừ. Buổi thuyết giảng tối nay - một bài giảng về hệ ký tượng vô tôn giáo
ẩn chứa trong các phiến đá của Nhà thờ lớn Chartres, có minh họa bằng phim
đèn chiếu - chắc đã làm xù lông một vài vị bảo thủ trong đám thính giả.
Rất có thể là một học giả nghiên cứu tôn giáo nào đó đã bám theo ông về
tận khách sạn để đòi tranh luận.
"Tôi xin
lỗi", Langdon nói, "nhưng tôi rất mệt và…".
"Mais
monsieur" người trực khách sạn nằn nì, hạ thấp giọng xuống thành một tiếng
thì thào khẩn thiết, "vị khách này là người rất quan trọng".
Langdon hơi
nghi ngờ. Các cuốn sách của ông về tranh tôn giáo và ký tượng thờ cúng đã
làm ông nổi danh trong giới nghệ thuật khiến mọi người miễn cưỡng phải
công nhận ông và năm ngoái danh tiếng của Langdon đã tăng lên gấp trăm lần
sau khi ông tham gia vào một sự kiện được công chúng biết đến rộng rãi ở
Vatican. Từ đó, các nhà sử học và chuyên gia nghệ thuật tự cao tự đại nườm
nượp kéo đến nhà ông không ngớt.
"Xin ông vui
lòng", Langdon nói, cố gắng hết sức để giữ lịch sự "ghi lại tên và số điện
thoại của vị khách đó, và nói với ông ta rằng tôi sẽ cố gắng gọi lại cho
ông ta trước khi tôi rời Paris vào thứ ba. Cảm ơn ông". Ông gác máy trước
khi người trực khách sạn kịp phản đối.
Lúc này
Langdon đã ngồi dậy, ông cau mày nhìn cuốn Sổ tay liên hệ với khách có bìa
ghi những lời huênh hoang: "Hãy ngủ như một hài nhi ở Kinh đô ánh sáng.
Hãy liên hệ với khách sạn Ritz Paris". Ông quay đầu và nhìn một cách mệt
mỏi vào tấm gương soi cả người ở đầu kia căn phòng. Người đàn ông đang
nhìn ông là một người xa lạ - tóc tai rối bù và mệt mỏi.
Anh bạn cần
một kỳ nghỉ đấy, Robert.
Năm làm việc
vừa qua đã làm ông tiêu hao sức lực nặng nề, nhưng ông không khoái nhìn
thấy bằng chứng của điều đó trong gương. Đôi mắt màu xanh thường ngày sắc
sảo đêm nay có vẻ lờ đờ và mệt mỏi. Một lớp râu đen lởm chởm phủ kín quai
hàm khỏe và cái cằm chẻ. Quanh thái dương, những sợi hoa râm đang tăng
lên, thâm nhập sâu hơn vào mái tóc đen dày. Mặc dù các đồng nghiệp nữ một
mực nói rằng tóc bạc chỉ làm tôn thêm sức quyến rũ bác học của ông, nhưng
Langdon thừa biết là đâu phải thế.
Giá Boston
Magazine nhìn thấy mình lúc này.
Tháng trước,
Langdon rất bối rối khi tờ BostonMagazine xếp ông vào danh sách mười người
đàn ông hấp dẫn nhất thành phố - một vinh dự đáng ngờ khiến ông trở thành
mục tiêu trêu chọc không dứt của các đồng nghiệp ở trường Harvard. Tối
nay, ở cách xa đất nước ba ngàn dặm, sự đề cao đó vẫn trở lại ám ảnh ông
ngay trong buổi thuyết giảng ông vừa thực hiện.
"Thưa quý ông
quý bà…", người giới thiệu tuyên bố trước thính phòng đầy ắp của Cung
Dauphine trường Đại học Mỹ ở Paris. "Khách mời tối nay của chúng ta chắc
tôi không cần giới thiệu. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách: Hệ ký hiệu
của các giáo phái bí mật, Nghệ thuật của dòng Chúa khai sáng, Ngôn ngữ
tượng hình thất truyền, và khi tôi nói ông đã viết cuốn Khoa nghiên cứu
thánh tượng và hình ảnh tôn giáo, là nói đúng theo nghĩa đen. Nhiều người
trong số các bạn đang dùng những giáo trình của ông trên lớp".
Các sinh viên
trong đám đông gật đầu nhiệt liệt tán thưởng.
"Tối nay tôi
đã định giới thiệu ông bằng cách chia sẻ với các bạn lý lịch đầy ấn tượng
của ông. Tuy nhiên…", cô ta tinh nghịch nhìn Langdon, lúc này ông đã ngồi
trên sân khấu, "một khán giả vừa đưa cho tôi một lời gìới thiệu… có thể
nói là… hấp dẫn hơn nhiều".
Cô ta giơ lên
một số Boston Magazin.
Langdon co
rúm người lại. Cô ta kiếm đâu ra cái của nợ này?
Người giới
thiệu bắt đầu đọc những đoạn trích chọn lọc từ bài báo sáo rỗng kia và
Langdon cảm thấy mình càng lúc càng lún sâu thêm trong ghế. Ba mươi giây
sau, đám đông nhăn nhở cười và người phụ nữ kia không hề tỏ dấu hiệu muốn
dừng lại:
"Và việc ông
Langdon từ chối công bố vai trò đặc biệt của ông trong cuộc họp kín bầu
Giáo hoàng ở Vatican năm ngoái chắc chắn sẽ ghi thêm điểm cho ông trên
hấp-dẫn-kế của chúng ta".
Người giới
thiệu kích động đám đông: "Các bạn có muốn nghe thêm không?".
Đám đông vỗ
tay tán thưởng.
Ai đó hãy
ngăn cô ta lại, Langdon thầm cầu xin khi cô ta lại đọc tiếp bài báo.
"Dù Giáo sư
Langdon có thể không được xem là người đẹp trai tuyệt vời như một vài
người được bầu chọn trẻ hơn, nhưng vị giáo sư ngoài bốn mươi tuổi này có
cái gì đó ngoài phong độ học giả của ông. Vẻ ngoài quyến rũ của ông được
tôn thêm bởi giọng nói trầm và âm nam trung hiếm có, điều mà các sinh viên
nữ miêu tả là "ngọt như mía lùi".
Cả phòng cười
phá lên.
Langdon cố
gượng cười vụng về. Ông biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo - lại một tràng
những câu lố bịch kiểu "Harrison Ford trong chiếc áo tuýt hiệu Harris" -
và bởi vì tối nay ông mặc áo tuýt hiệu Harris và áo cao cổ hiệu Burberry,
nên ông quyết định hành động.
"Cảm ơn,
Monique". Langdon nói, vội vã đứng lên và đảy cô ta ra khỏi bục diễn đàn,
"Boston Magazine quả có năng khiếu hư cấu". Ông quay về phía cử tọa với
một tiếng thở dài bối rối.
"Và nếu tôi
tìm ra ai trong số các bạn đã cung cấp bài báo đó, tôi sẽ bảo tổng lãnh sự
trục xuất các bạn".
Đám đông cười
rộ.
"Vậy thưa các
bạn, như các bạn đã biết, tối nay tôi tới đây để nói về quyền năng của
biểu tượng…".
Chuông điện
thoại trong phòng khách sạn của Langdon một lần nữa lại phá tan im lặng.
Càu nhàu, bán
tín bán nghi, ông nhấc máy: "Vâng?".
Quả nhiên,
lại là người trực khách sạn: "Ông Langdon, một lần nữa xin lỗi ông. Tôi
gọi để thông báo với ông rằng vị khách của ông bây giờ đang trên đường đến
phòng ông. Tôi nghĩ là nên báo trước cho ông".
Langdon lúc
này đã tỉnh hắn: "Ông cho phép ai đó đến phòng của tôi?".
"Tôi xin lỗi,
thưa ông, nhưng một người như vậy…tôi không dám mạo quyền ngăn lại!".
"Chính xác
thì ông ta là ai?".
Nhưng người
trực khách sạn đã gác máy.
Gần như ngay
lập tức, một nắm tay nặng nề đập cửa phòng Langdon thình thình.
Phân vân,
Langdon tụt khỏi giường, cảm thấy những ngón chân nhấn sâu trên tấm thảm.
Ông mặc áo choàng của khách sạn và đi tới cửa: "Ai?".
"Ông Langdon?
Tôi cần nói chuyện với ông". Tiếng Anh của người này trọ trẹ - một giọng
sủa gắt, hách dịch. "Tôi là trung uý Jérôme Collet. Direction Centrale
Polici Judiciaire DCP.
Langdon dừng
lại. Cục cảnh sát Pháp. Đại loại như FBI của Mỹ.
Vẫn để nguyên
dây xích an toàn, Langdon hé cửa ra vài phân. Gương mặt đối diện ông mỏng
và nhợt nhạt. Người đàn ông gầy khác thường này mặc một bộ đồng phục màu
xanh chính quy.
"Tôi có thể
vào được không?", viên cảnh sát hỏi.
Langdon do
dự, cảm thấy không thoải mái khi đôi mắt xám của người lạ mặt nhìn ông
chăm chú: "Chuyện này là thế nào?".
"Capitaine
của tôi cần đến sự giám định của ông trong một vấn đề riêng tư".
"Ngay bây
giờ?". Langdon hỏi. "Đã quá nửa đêm rồi".
"Ông có một
buổi hẹn gặp mặt với ông phụ trách bảo tàng Louvre tối nay, đúng không?".
Langdon chợt
cảm thấy bồn chồn. Ông và ông phụ trách bảo tàng đáng kính Jacques
Saunière đã sắp xếp chương trình gặp nhau uống chút gì sau buổi thuyết
giảng tối nay của ông, nhưng Saunière đã không đến. "Vâng. Làm thế nào mà
ông biết chuyện đó?".
"Chúng tôi
thấy tên ông trong sổ ghi công việc hàng ngày của ông ấy".
"Chắc không
có gì bất ổn chứ?".
Viên cảnh sát
buông một tiếng thở dài dễ sợ và luồn một tấm ảnh chụp lấy ngay Polaroid
qua khe cửa hé mở.
Khi Langdon
thấy tấm ảnh, toàn thân ông cứng sững.
"Tấm ảnh này
được chụp cách đây chưa đầy một tiếng. Trong bảo tàng Louvre".
Khi Langdon
nhìn kỹ hình ảnh kì quái đó, sự ghê tởm và choáng váng ban đầu nhường chỗ
cho một cơn giận trào lên đột ngột: "Ai có thể làm chuyện này?".
"Chúng tôi hy
vọng ông có thể giúp chúng tôi trả lời chính câu hỏi đó, bằng kiến thức
của ông về khoa ký tượng học và việc ông định gặp ông ấy".
Langdon trân
trân nhìn tấm ảnh, sự kinh tởm giờ đây hoà cùng nỗi sợ hãi. Hình ảnh khủng
khiếp và quái lạ đó kèm theo một cảm giác bất an về một điều đã thấy ở đâu
đó. Hơn một năm trước, Langdon nhận được tấm ảnh một xác chết và một lời
đề nghị giúp đỡ tương tự. Hai mươi tư giờ sau, ông suýt mất mạng trong
thành phố Vatican. Bức ảnh này hoàn toàn khác, tuy nhiên có một cái gì
quen thuộc trong kịch bản khiến ông lo lo.
Viên cảnh sát
nhìn đồng hồ: "Capitane của tôi đang chờ, thưa ông".
Langdon chỉ
nghe thấy loáng thoáng. Mắt ông vẫn dán vào bức ảnh. "Cái biểu tượng này
và cách đặt thi thể ông ấy thật kỳ lạ…".
"Vị trí?"
Viên cảnh sát hỏi.
Langdon gật
đầu, cảm thấy ớn lạnh khi ông ngẩng lên:
"Tôi không
thể tưởng tượng là ai có thể làm việc này đối với người khác".
Viên cảnh sát
có vẻ nghiêm nghị: "Ông không hiểu sao, ông Langdon. Những gì ông nhìn
thấy trong bức ảnh này…", anh ta dừng lại, "Ông Saunière đã tự làm điều đó
với chính mình".
Chú thích:
(4) Tiếng Pháp trong nguyên bản: Nhưng
thưa ông
(5) Tiếng Pháp trong nguyên bản: Cục Cảnh
sát tư pháp trung ương.
(6) Tiếng Pháp trong nguyên bản: đại úy
Chương 2
Cách có một
dặm, tên bạch tạng to con có tên Silas tập tễnh qua cổng trước của tòa nhà
bằng đá xám sang trọng ở phố La Bruyère. Chiếc dây lưng hành xác bằng vải
canh có ngạnh mà hắn quấn quanh bắp đùi cứa vào thịt hắn, nhưng tâm hồn
hắn lại đang ca hát với niềm thỏa mãn với việc phụng sự Chúa.
Đau đớn là
tốt.
Đôi mắt đỏ
ngầu của hắn rà khắp sảnh khi hắn vào nhà. Vắng tanh. Hắn lặng lẽ lên cầu
thang, không muốn đánh thức ai trong số bạn đồng môn. Cửa phòng ngủ của
hắn mở, việc khóa cửa ở đây bị cấm. Hắn vào phòng, đóng cửa lại sau lưng.
Căn phòng rất
đơn giản- sàn gỗ cứng, một cái tủ áo bằng gỗ thông, một cái chiếu vải bạt
ở trong góc dùng làm giường ngủ.
Hắn là khách
ở đây trong tuần này, nhưng nhiều năm nay, hắn có ân phước được ở một
thánh đường tương tự ở New York City.
Chúa cho ta
chỗ ở và lẽ sống cho cuộc đời ta.
Cuối cùng,
tối nay, Silas cũng cảm thấy bắt đầu đền đáp được món nợ đó. Hối hả chạy
đến tủ áo, hắn tìm chiếc điện thoại di động giấu dưới ngăn đáy và bấm số
gọi.
"Hử?" Một
giọng đàn ông trả lời.
"Trình Thầy,
con đã trở về".
"Nói đi",
giọng nói kia ra lệnh, có vẻ hài lòng khi nghe hắn nói.
"Cả bốn đều
đã chết. Ba pháp quan… và cả Đại sứ".
Giọng nói
ngừng lại trong chốc lát, như để cầu nguyện: "Vậy ta chắc ngươi đã lấy
được thông tin?".
"Cả bốn đều
nói giống nhau. Riêng rẽ từng người".
"Và ngươi tin
chúng?".
"Họ nói y hệt
nhau nên không thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên".
Một nhịp thở
phấn khích: "Tuyệt. Hội kín này nổi tiếng là kiên định bảo vệ bí mật, ta
đã lo chúng nêu cao tinh thần ấy".
"Cái chết kề
cổ là một động cơ mạnh mẽ buộc họ phải nói ra".
"Vậy thì, học
trò của ta, hãy nói những gì ta cần phải biết".
Silas biết
những thông tin hắn lượm đưọc từ những nạn nhân của hắn sẽ là một cú sốc:
"Thưa Thầy, cả bốn đều khẳng định sự tồn tại của viên đá đỉnh vòm… viên đá
đỉnh vòm trong truyền thuyết".
Hăn nghe thấy
tiếng hít sâu bên kia đầu dây và có thể cảm thấy sự phấn khích của Thầy:
"Viên đá đỉnh vòm. Đúng như chúng ta đã ngờ ngợ".
Theo truyền
thuyết, hội kín này đã tạo ra một bản đồ bằng đá - một viên đá đỉnh vòm -
và khắc vào đó bảng chỉ dẫn tới vị trí cuối cùng của bí mật lớn nhất của
tổ chức… thông tin này có quyền lực lớn đến mức sự bảo vệ nó chính là lý
do tồn tại của hội.
"Khi chúng ta
có được viên đá đỉnh vòm". Thầy Giáo nói, "thì chỉ còn cách bí mật đó một
bước".
"Chúng ta
đang ở gần hơn Thầy nghĩ đấy ạ. Viên đá đỉnh vòm đó ở đây, tại Paris này".
"Tại Paris?
Thật không thể tin được. Vậy thì quá dễ".
Silas lần
lượt kể lại những sự kiện hồi đầu buổi tối… cả bốn nạn nhân của hắn, ít
phút trước khi chết, đã cố gắng tuyệt vọng như thế nào để hòng giữ cái
mạng sống vô đạo lý của họ bằng cách nói ra bí mật. Mỗi người đều khai với
Silas cùng một điều y hệt nhau - rằng viên đá đỉnh vòm đã được giấu khéo
léo ở một vị trí trong một nhà thờ cổ của Paris- Nhà thờ Saint- Sulpice.
"Bên trong
một ngôi nhà của Chúa", Thầy Giáo la lên, "Chúng giễu chúng ta làm sao!".
"Như chúng đã
làm thế từ nhiều thế kỷ nay".
Thầy Giáo im
lặng như để niềm đắc thắng của giây phút này tràn ngập mình. Cuối cùng,
ông ta nói: "Con đã làm một việc lớn phụng sự Chúa. Chúng ta đã chờ đợi
điều này nhiều thế kỷ. Con phải lấy lại viên đá đó cho ta. Ngay lập tức.
Đêm nay.
"Con biết số
tiền thưởng rồi đấy".
Silas biết số
tiền thưởng nhiều không đếm xuể, tuy nhiên điều Thầy Giáo ra lệnh có vẻ là
bất khả thi. "Nhưng nhà thờ đó là một pháo đài, nhất là vào ban đêm. Con
sẽ vào bằng cách nào?".
Với giọng tự
tin của một người có thế lực lớn, Thầy Giáo giảng giải những việc phải
làm.
Khi Silas gác
máy, da hắn râm ran đợi.
Một giờ, hắn
tự bảo, thầm cảm ơn Thầy đã cho hắn thời gian để thực hiện sự sám hối cần
thiết trước khi bước vào một ngôi nhà của Chúa. Mình phải gột rửa linh hồn
khỏi những tội lỗi của ngày hôm nay. Những tội lỗi hắn phạm phải trong
ngày hôm nay có mục đích thiêng liêng. Người ta đã phạm những hành động
chiến tranh trong nhiều thế kỷ để chống lại kẻ thù của Chúa.
Sự tha thứ đã
được đảm bảo.
Mặc dù thế,
Silas biết sự miễn xá đòi hỏi hy sinh.
Kéo rèm che,
hắn cời quần áo và quỳ xuống giữa phòng.
Nhìn xuống,
hắn kiểm tra chiếc dây lưng hành xác cột quanh bắp đùi. Tất cả những môn
đồ chân chính theo Đạo đều mang vật này- một dây da có găm những ngạnh kim
loại sắc cứa vào thịt như một nhắc nhở thường xuyên về khổ đau của Chúa.
Sự đau đớn gây ra bởi vật này cũng giúp họ chống lại những dục vọng về xác
thịt.
Mặc dù Silas
đã đeo vật này lâu hơn yêu cầu hai tiếng, hắn biết hôm nay không phải là
một ngày bình thường. Nắm lấy chiếc khóa. hắn xiết chặt nó lại thêm một
nấc nữa, nhăn mặt khi những ngạnh sắc đâm sâu hơn vào da thịt. Thở ra từ
từ, hắn khoan khoái tiếp nhận lễ thức thanh lọc bằng đau đớn.
Đau đớn là
tốt. Silas thì thầm, nhắc lại những lời thiêng liêng của Cha Josemaria
Escrivá - Người Thầy của mọi Thầy. Dù Escrivá đã chết năm 1975, minh triết
của ông vẫn sống mãi, những lời của ông vẫn được hàng nghìn tôi tớ trung
thành của Chúa trên toàn thế giới nhắc tới khi họ quỳ gối trên sàn để thực
hành cái thông lệ thiêng liêng gọi là "tự hành xác".
Silas chuyển
sự chú ý đến sợi dây thừng to thắt nút cuộn gọn gàng đặt trên sàn bên
cạnh. Kỷ luật. Những nút thắt bết máu khô.
Khao khát
được thấy tác dụng gột rửa của nỗi đau đớn của chính mình. Silas đọc nhanh
một lời cầu nguyện. Sau đó, nắm chặt một đầu sợi dây, hắn nhắm mắt và vung
sợi dây qua vai, cảm nhận những nút thắt quất mạnh vào lưng. Hắn lại giật
nó qua vai, quất mạnh vào thịt hắn. Giật đi, giật lại! cứ thế hắn quất
hoài.
Castigo
corpus meum
Cuối cùng,
hắn cảm thấy máu bắt đầu chảy.
Chú thích:
(1) Tiếng La-tinh: Trừng phạt thân thể
tôi, tự hành xác
Chương 3
Không khí khô
hanh tháng tư táp qua cửa xe để mở cửa chiếc Citroen ZX khi nó theo hướng
Nam qua Nhà hát ôpêra và Quảng trường Vendôme. Ngồi ở ghế cạnh ghế tài xế,
Langdon cảm thấy thành phố vùn vụt qua trong khi ông cố soạn lại ý nghĩ
của mình cho rành rọt tỏ tường. Sau khi tắm và cạo râu ù một cái, nom ông
đã tương đối bảnh, nhưng trong lòng vẫn không nguôi lo lắng. Những hình
ảnh đáng sợ về thi thể của ông phụ trách bảo tàng vẫn chốt lại trong tâm
trí ông.
Jacques
Saunière đã chết.
Langdon không
khỏi cảm thấy sâu sắc sự mất mát to lớn với cái chết của người phụ trách
bảo tàng. Mặc dù Saumère có tiếng là ưa biệt lập, nhưng sự công nhận đối
với lòng tận tụy vì nghệ thuật của ông đã khiến ông được kính yêu. Những
cuốn sách của ông về những mật mã bí mật ẩn chứa trong những bức họa của
Poussin và Teniers nằm trong số những giáo trình ưa thích của Langdon.
Cuộc gặp mặt
tối nay là điều mà Langdon rất mong đợi, và ông đã rất thất vọng khi ông
phụ trách bảo tàng không xuất hiện.
Một lần nữa
hình ảnh thi thể của người phụ trách bảo tàng vụt hiện lên trong tâm trí
ông. Jacques Saunière đã làm điều đó với chính mình sao? Langdon quay đầu
và nhìn qua cửa xe, cố xua hình ảnh đó ra khỏi tâm trí.
Bên ngoài,
thành phố đang ngơi nghỉ - những người bán hàng rong đang đẩy những chiếc
xe chở hạnh đào ướp đường, các bồi bàn mang bao rác ra vỉa hè, một đôi
tình nhân ấp ủ nhau để giữ ấm trong gió nhẹ hòa quyện với hương hoa nhài.
Chiếc Citroen
uy nghi đi giữa hỗn độn, tiếng còi hai âm chối tai sẻ đôi dòng xe cộ như
một lưỡi dao.
"Capitaine
rất hài lòng khi biết ông vẫn còn ở Paris tối nay", viên cảnh sát nói, lần
đầu tiên mở lời kể từ lúc họ rời khách sạn. "Một sự trùng hợp may mắn".
Langdon tuyệt
nhiên không hề cảm thấy may mắn, và sự trùng hợp là một khái niệm mà ông
không hoàn toàn tin tưởng.
Là một người
dành cả đời để khảo sát tính tương liên tàng ẩn giữa những biểu tượng và ý
thức hệ khác hẳn nhau, Langdon xem thế giới như một mạng lưới bện xoắn
những lịch sử và sự kiện một cách sâu sắc. Những mối liên hệ có thể là vô
hình, ông thường hay giảng vậy cho các lớp khoa ký tượng học tại trường
Harvard, nhưng chúng luôn ở đó, lấp ngay dưới bề mặt "Tôi đoán". Langdon
nói, "rằng Trường Đại học Mỹ ở Paris đã nói cho các ông biết chỗ tôi đang
ở".
Người lái xe
lắc đầu: "Interpol".
Interpol
(Cảnh sát quốc tế), Langdon nghĩ thầm. Tất nhiên rồi. ông đã quên mất rằng
yêu cầu có vẻ vô hại của tất cả các khách sạn châu Âu đòi xem hộ chiếu khi
nhận phòng còn quan trọng hơn một thủ tục kỳ quái - nó là luật. Vào bất kỳ
buổi tối nào, trên toàn châu Âu, các quan chức Interpol có thể định vị
chính xác ai đang ngủ ở đâu. Việc tìm ra Langdon ở khách sạn Ritz chắc
chắn chỉ mất năm giây.
Khi chiếc
Citroen tăng tốc độ hướng về phía Nam thành phố, mặt nghiêng sáng rực của
tháp Eiffel hiện ra, đâm thẳng lên trời ở phía bên phải. Thấy nó, Langdon
nghĩ tới Victoria, chợt nhớ lời hứa hẹn vui giữa hai người một năm trước
rằng cứ sáu tháng một lần, họ sẽ gặp lại nhau tại một địa điểm lãng mạn
khác nhau trên thế giới. Tháp Eiffel, Langdon nghĩ, có thể cũng nằm trong
danh sách của họ. Buồn thay, lần cuối cùng ông hôn Victoria là ở một sân
bay náo nhiệt tại Roma cách đây hơn một năm.
"Ông đã trèo
lên bụng nó chưa?", viên cảnh sát liếc mắt hỏi.
Langdon ngước
lên, chắc chắn là mình đã hiểu lầm . "Xin lỗi, tôi nghe chưa rõ?".
"Đẹp tuyệt
vời phải không?" Viên cảnh sát hất hàm qua kính chắn gió về phía tháp
Eiffel. "Ông đã từng leo lên đó chưa?".
Langdon đảo
mắt: "Chưa, tôi chưa từng trèo lên tháp".
"Đó là biểu
tượng của nước Pháp. Tôi nghĩ nó thật hoàn hảo".
Langdon lơ
đãng gật đầu. Các nhà ký tượng học thường nhận xét rằng Pháp - một đất
nước nổi tiếng về thói tự đắc với cái chất đàn ông của mình, về thói giăng
hoa và về những lãnh tụ tướng ngũ đoản như Napoléon và Pepin Lùn - ắt
không thể chọn một biểu tượng quốc gia nào thích hợp hơn một cái dương vật
cao cả ngàn mét.
Khi họ tới
ngã tư phố Rivoli, đèn giao thông bật đỏ, nhưng chiếc Citroen không đi
chậm lại. Viên cảnh sát nhấn ga cho chiếc xe nhỏ vọt qua ngã tư và tăng
tốc đi vào khu vực nhiều cây cối của phố Castiglion, lối vào phía Bắc của
Vườn Tuileries nổi tiếng - một thứ Central Park của Paris. Hầu hết khách
du lịch đều dịch nhầm cụm từ Jardil des tuileries là có liên quan đến cảnh
hàng nghìn bông hoa tulip nở rộ ở đây, nhưng thực tế Tuileries liên quan
đến một vài điều ít lãng mạn hơn nhiều.
Công viên này
từng là một cái hố mênh mông, rất ô nhiễm mà từ nó, các nhà thầu khoán ở
Paris đã đào đất sét để sản xuất những viên ngói đỏ nổi tiếng của thành
phố, gọi là tuiles.
Khi vào trong
công viên trống vắng, viên cảnh sát với tay xuống dưới bảng điều khiển,
tắt cái còi đang rú ầm ĩ. Langdon thở phào, thưởng thức sự im lặng đột
ngột. Bên ngoài chiếc xe, ánh sáng nhạt của những ngọn đèn pha halôgien
lướt trên con đường rải sỏi vụn, tiếng lốp xe nghiến lạo xạo thành một
nhịp ru ngủ. Langdon luôn coi khu vườn này như một nơi linh thiêng. Đây là
khu vườn mà Claude Monet đã thể nghiệm khối hình và màu sắc, và thực sự
truyền cảm hứng cho sự ra đời của trào lưu ấn tượng chủ nghĩa. Tối nay,
tuy nhiên, chỗ này lại mang một hào quang khác thường của điềm gở.
Chiếc Citroen
lúc này rẽ trái, chếch hướng tây, xuôi đại lộ trung tâm của công viên.
Đang chạy quanh một cái hồ hình tròn, người lái xe cắt ngang qua một đại
lộ vắng vẻ và đi vào một cái sân vuông rộng mở ra bên ngoài. Langdon giờ
đây có thể nhìn thấy chỗ cuối của Vườn Tuileries, đánh dấu bởi một cổng tò
vò lớn bằng đá gọi là Arc du Carrousel.
Mặc dù những
lễ thức truy hoan đã từng được tổ chức ở Arc du Carrousel, những người hâm
mộ nghệ thuật sùng kính nơi này vì một lý do hoàn toàn khác. Từ nơi dạo
mát ở cuối Vườn Tuilenes, người ta có thể nhìn thấy bốn trong số những bảo
tàng nghệ thuật tuyệt với nhất trên thế giới… ở bốn hướng Đông, Tây, Nam,
Bắc.
Nhìn ra ngoài
cửa xe bên phải, theo hướng nam bên kia sông Seine và Bến Voltaire,
Langdon có thể thấy mặt ngoài sáng trưng của nhà ga xe lửa cũ - nay là Bảo
tàng Orsay sang quý.
Đưa mắt sang
trái, Langdon có thể thấy đỉnh của Trung tâm Pompidou tối tân, là nơi đặt
Bảo tàng nghệ thuật hiện đại.
Đằng sau ông
về phía tây, Langdon biết đó là đài tưởng niệm cổ xưa của Ramses vươn lên
trên cây cối, đánh dấu chỗ của Bảo tàng Jeu de Paume.
Thẳng trước
mặt, về hướng Đông, qua cái cổng tò vò, Langdon có thể nhìn thấy tòa lâu
đài kiểu Phục Hưng làm bằng đá nguyên khối giờ đây đã trở thành một trong
những lâu đài nghệ thuật nổi tiếng nhất trên thế giới.
Bảo tàng
Louvre.
Langdon cảm
thấy một thoáng ngỡ ngàng thường thấy khi mắt ông cố gắng tột bậc vẫn
không bao quát hết toàn bộ khối nhà đồ sộ. Bên kia một plaza rộng mênh
mông, mặt tiền uy nghi của Louvre vút lên như một tòa thành trên nền trời
Paris.
Được tạo hình
như một cái móng ngựa khổng lồ, Bảo tàng Louvre là tòa nhà dài nhất châu
Âu, dài hơn ba cái tháp Eiffel nối liền với nhau. Thậm chí, cả mười vạn
mét vuông diện tích của cái plaza nằm giữa hai cánh của tòa nhà cũng không
đọ nổi sự bề thế của chiều ngang tòa nhà. Langdon đã từng đi bộ quanh toàn
bộ Louvre, một chuyến đi dài ba dặm đầy thú vị.
Mặc dù, theo
ước tính, một khách thăm quan phải mất khoảng năm tuần mới chiêm ngưỡng
hết toàn bộ 65.500 tác phẩm nghệ thuật trong tòa nhà này, phần lớn du
khách đều chọn con đường rút ngắn mà Langdon gọi là "Louvre thu nhỏ" - một
cuộc chạy nước rút qua bảo tàng để ngắm ba kiệt tác nổi tiếng nhất: Nàng
Mona Lisa, Thần Vệ nữ Milo, Thần chiến thắng có cánh. Art Buchard từng
khoe khoang rằng ông ta đã xem cả ba kiệt tác đó trong vòng năm phút năm
mươi sáu giây.
Người lái xe
lôi ra chiếc máy bộ đàm cầm tay và nói bằng tiếng Pháp rất nhanh:
"Monsieur Langdon esl arrivé. Deux minutes" .
Đáp lại là
một câu xác nhận lạo xạo nghe không rõ.
Viên cảnh sát
cất máy, quay sang Langdon: "Ông sẽ gặp capitaine ở lối vào chính".
Người lái xe
không đếm xỉa đến những biển báo cấm ô-tô đi trên plaza, cứ rồ ga, và
phóng chiếc Citroen qua lề đường. Lối vào chính của bảo tàng Louvre bây
giờ đã có thể nhìn thấy, sừng sững ở đằng xa, với bảy hồ nước hình tam
giác bao quanh, từ đó vọt lên những vòi phun lung linh ánh sáng.
Kinh đô ánh
sáng Lối vào mới của bảo tàng Louvre Paris cũng trở nên nổi tiếng gần như
chính bảo tàng vậy. Kim tự tháp bằng kính theo lối hiện đại và gây nhiều
tranh cãi do kiến trúc sư người Mỹ gốc Hoa I. M. Pei thiết kế vẫn còn bị
các vị bảo vệ truyền thống bỉ báng, họ cảm thấy nó phá hủy vẻ trang nghiêm
của cái sân theo phong cách Phục Hưng. Cloethe đã miêu tả kiến trúc như là
âm nhạc ngưng đọng, và những người chỉ trích Pei miêu tả Kim tự tháp này
như những móng tay trên cái bảng đen. Tuy nhiên, những người ngưỡng mộ
tiến bộ, thì ca ngợi Kim tự tháp trong suốt cao 24 mét như một sự kết hợp
gây sửng sốt giữa kiến trúc cổ điển và phương pháp hiện đại - một mối liên
kết tượng trưng giữa cái cũ và cái mới - góp phần đưa bảo tàng Louvre vào
thiên niên kỷ mới.
"Ông có thích
Kim tự tháp của chúng tôi không?". Viên cảnh sát hỏi.
Langdon cau
mày. Người Pháp có vẻ như thích hỏi người Mỹ câu hỏi này. Tất nhiên đó là
một câu hỏi đầy hàm ý. Thừa nhận là mình thích cái Kim tự tháp đó sẽ biến
bạn trở thành người Mỹ vô vị, còn nói không thích thì là một sự lăng mạ
đối với người Pháp.
"Tổng thống
Mitterrand là một người bạo gan", Langdon đáp đánh bài trung dung. "Người
ta bảo vị cựu tổng thống Pháp người đã đặt làm Kim tự tháp này - bị mắc
cái "mặc cảm Pharaông". Một mình gánh trách nhiệm làm cho Paris tràn ngập
những bia tưởng niệm, nghệ thuật và đồ tạo tác Ai Cập, Francois Mitterrand
mê thích văn hóa Ai Cập cuồng nhiệt đến nỗi người Pháp đến giờ vẫn còn gọi
ông là Nhân Sư.
"Tên ông đại
úy là gì nhỉ?", Langdon hỏi, chuyển đề tài.
"Bezu Fache",
người lái xe nói, đi về phía lối vào chính của Kim tự tháp. "Chúng tôi gọi
ông ấy là Bò mộng".
Langdon liếc
nhìn anh ta, tự hỏi liệu có phải mỗi người Pháp đều có một biệt danh đặt
theo tên các con vật huyền bí không:
"Ông gọi
capitaine là Bò mộng sao?".
Người kia
nhướn mày: "Tiếng Pháp của ông khá hơn là ông tự nhận đấy, thưa ông
Langdon".
Tiếng Pháp
của tôi rất tệ, Langdon nghĩ thầm, nhưng hiểu biết về các hình vẽ miêu tả
cung hoàng đạo của tôi thì khá tốt. Chòm sao Taurus bao giờ cũng được
tượng hình bằng con bò đực. Thuật chiêm tinh luôn là một hằng số tượng
trưng khắp thế giới.
Viên cảnh sát
dừng xe và chỉ giữa hai đài phun nước một cánh cửa lớn ở mé Kim tự tháp:
"Đó là lối vào. Chúc may mắn, thưa quý ông".
"Ông không
cùng đi sao?".
"Tôi được
lệnh để ông lại đây. Tôi có nhiệm vụ khác để làm".
Langdon thở
dài và ra khỏi xe. Đó là trò chơi của các ông mà.
Viên cảnh sát
rồ ga và phóng đi.
Khi Langdon
đứng một mình và nhìn những đèn hậu xe xa dần, ông nhận ra rằng ông có thể
dễ dàng suy xét lại, rời khỏi cái sân này, bắt một chiếc taxi và đi thẳng
về lên giường đi ngủ.
Một điều gì
đó nói với ông rằng đó là một ý chẳng hay ho gì.
Đi về phía
đám sương của đài phun nước, Langdon có một cảm giác lo lắng như thể ông
đang bước qua một cái ngưỡng ảo để vào một thế giới khác. Cái tính chất
như mơ của buổi tối nay lại vây lấy ông. Hai mươi phút trước ông đang ngủ
trong phòng khách sạn. Giờ đây ông đang đứng trước một Kim tự tháp trong
suốt do Nhân Sư xây nên, chờ một tay cảnh sát mà người ta gọi là Bò mộng.
Mình bị mắc
kẹt trong một bức calvador Dali , ông nghĩ.
Langdon đi
thẳng tới lối vào chính - một cánh cửa quay đồ sộ. Phòng chờ bên ngoài
sáng lờ mờ và vắng vẻ.
Mình có phải
gõ cửa không nhỉ?
Langdon tự
hỏi không biết đã có nhà Ai Cập học tôn kính nào của Harvard gõ cửa một
Kim tự tháp và chờ đợi sự đáp lại chưa. Ông giơ tay toan đập vào tấm kính,
nhưng từ trong bóng tối phía dưới, một người đã xuất hiện, chạy lên chiếc
cầu thang cong. Người chắc nịch và da sậm, gần giống như người
Neanderthal, mặc chiếc áo vét cài chéo màu tối căng ra ôm chặt lấy đôi vai
rộng. Dáng đi của ông ta trên đôi chân mập lùn, lực lưỡng rõ ra là người
có uy quyền. Ông ta đang nói chuyện điện thoại di động nhưng kết thúc cuộc
gọi ngay khi tới nơi. Ông ra hiệu mười Langdon vào.
"Tôi là Bezu
Fache", ông ta tuyên bố khi Langdon qua cánh cửa quay, "Đại uý của Cục
Cảnh sát tư pháp trung ương". Giọng ông ta thật phù hợp - một thứ âm cổ
họng ì ầm… như trời sắp có giông.
Langdon giơ
tay ra bắt: "Robert Langdon".
Bàn tay kếch
xù của Fache bao lấy tay Langdon với sức mạnh như nghiền nát.
"Tôi đã xem
tấm ảnh", Langdon nói. "Nhân viên của ông nói rằng Jacques Saunière đã làm
việc đó…".
"Ông
Langdon", đôi mắt đen như gỗ mun của Fache nhìn như xoáy vào da thịt,
"Điều ông nhìn thấy trong ảnh chỉ là khởi đầu của những gì ông Saunière đã
làm".
Chú thích:
(1) Viên cảnh sát nói "mounted her". Động
từ "to mount"ngoài nghĩa trèo lên còn có nghĩa tục chỉ sự ăn nằm với đàn
bà. Trong tiếng Anh, để chỉ con vật hoặc đồ vật ở số ít, thông thưởng
người ta dùng đại từ trung tính it, nhưng thảng hoặc, đối với súc vật hay
đồ vật thân thiết, đôi khi người ta dùng đại từ giống cái số ít her để tỏ
ý âu yếm. Câu nói của viên cảnh sát nằm trong trường hợp này. Vì Langdon
đang nghĩ tới Vittoria, người tình của mình, nên rất có thể hiểu chữ
"mounted" theo nghĩa tục. Khi dịch sang tiếng Việt, hầu như không thể
chuyển tál được nét tinh tế ngôn ngữ này.
(2) Một trong những họa sĩ cha đẻ của chủ
nghĩa ấn tượng Pháp.
(3) Bãi trống rộng, quảng trường.
(4) Trong nguyên bản là một triệu feet
vuông (hệ đo lường Anh). chúng tôi chuyển sang hệ mét quen thuộc với độc
giả Việt nam hơn, để dễ hình dung hơn. Sau đây, chúng tôi cũng sẽ làm thế
với những chỗ dùng đơn vị đo lường Anh.
(5) Ông Langdon đã tới. Hai phút.
(6) Hoạ sĩ siêu thực nổi tiếng của Tây
Ban Nha (1904 - 1988)
Chương 4
Đại uý Bezu
Fache quả có phong thái của một con bò đang cơn giận với bờ vai rộng ngửa
về phía sau và cái cằm ấn chặt vào ngực. Mái tóc đen chuốt dầu bóng càng
làm nổi bật đường ngôi thẳng như mũi tên chia đôi cái trán dô ra phía
trước như mũi chiến hạm. Khi ông dấn bước, đôi mắt đen dường như thiêu đốt
mặt đất phía trước, tỏa ánh rực lửa, báo trước tính cách nghiêm khắc không
khoan nhượng nổi tiếng của ông trong mọi vấn đề.
Langdon theo
viên đại uý xuống chiếc cầu thang cẩm thạch nổi tiếng đi vào lòng nhà hõm
sâu bên dưới Kim tự tháp bằng kính. Trên đường đi xuống, họ qua giữa hai
vệ binh của Cục Cảnh sát tư pháp lăm lăm súng máy. Thông điệp rất rõ ràng:
Không ai có thể ra vào tối nay mà không có sự cho phép của đại uý Fache.
Xuống dưới
sâu hơn mặt đất, Langdon phải cố dẹp một cơn run đang dâng lên. Sự hiện
diện của Fache không có chút gì là nồng nhiệt, và vào giờ phút này, bản
thân bảo tàng Louvre cũng nhuốm một màu gần như tang tóc. Cầu thang, tựa
lối đi trong một rạp chiếu bóng tối om, chỉ có đèn gắn ở mỗi bậc chiếu
sáng lờ mờ. Langdon có thể nghe thấy tiếng chân của chính mình dội lại từ
tấm kính trên đầu. Ngước lên, ông có thể nhìn thấy những làn sương từ
những vòi phun nước tan dần phía bên ngoài mái nhà trong suốt.
"Ông thấy có
được không?" Fache hỏi, hất cái cằm rộng về phía trên.
Langdon thở
dài, quá mệt mỏi để chơi trò đánh đố: "Vâng, Kim tự tháp của các ông thật
lộng lẫy.
Fache lầm
bầm: "Một cái sẹo trên bộ mặt Paris".
Lạ đấy.
Langdon có cảm nhận vị chủ nhân này là người khó có thể làm vừa lòng. Ông
tự hỏi liệu Fache có biết rằng Kim tự tháp này, theo yêu cầu rõ ràng của
tổng thống Mitterrand, đã được xây dựng bằng đúng 666 tấm kính - một yêu
cầu kỳ quái luôn là chủ đề tranh luận nóng bỏng trong các chuyên gia, họ
cho rằng con số 666 là số của quỷ Satan.
Langdon quyết
định không nói điều ấy ra.
Khi họ đi xa
hơn vào phòng chờ dưới đất, khoảng không rộng mở từ từ hiện ra từ trong
bóng tối. Nằm dưới mặt đất 19 mét, đại sảnh rộng khoảng 7.600 mét vuông
mới xây dựng của bảo tàng Louvre trải ra như một cái hang bất tận. Được
xây bằng đá cẩm thạch màu vàng nâu ấm áp để tương hợp với đá màu mật ong
của mặt tiền bên trên, đại sảnh dưới mặt đất thường rung lên bởi ánh sáng
mặt trời và khách du lịch. Tuy nhiên, tối nay, sảnh trống rỗng và tối tăm,
khíến cho toàn bộ đắm trong một không khí lạnh lẽo tựa như hầm mộ.
"Còn đội bảo
vệ thường trực của bảo tàng thì sao?", Langdon hỏi.
"En
quarantaine". Fache đáp, cứ như thể Langdon đang nghi ngờ tính chính trực
của đội ông ta. "Hiển nhiên là đã có kẻ đột nhập. Tất cả những người canh
đêm ở Louvre bên cánh Sully đều đang bị thẩm vấn. Việc đảm bảo an ninh
buối tối nay cho bảo tàng được chuyển giao cho các nhân viên của tôi".
Langdon gật
đầu, đi nhanh để theo kịp Fache.
"Ông biết
Jacques Saunière đến mức nào?" Viên đại úy hỏi.
"Thực ra là
chẳng mấy tí. Chúng tôi chưa từng gặp nhau".
Fache có vẻ
ngạc nhiên: "Tối nay mới là buổi hẹn gặp đầu tiên ư?".
"Vâng. Chúng
tôi dự định gặp nhau tại buổi chiêu đãi của trường Đại học Mỹ sau bài
giảng của tôi nhưng không thấy ông ấy tới".
Fache ghi
nguệch ngoạc vài dòng vào một cuốn sổ nhỏ. Khi họ đi tiếp, Langdon thoáng
thấy khối Kim tự tháp ít nổi tiếng hơn của bảo tàng Louvre - Kim tự tháp
đảo ngược - một cửa mái khổng lồ lộn ngược rủ xuống từ trên trần tựa một
thạch nhũ ở khu vực kế đó. Fache dẫn Langdon đi lên một vài bậc thang đến
cửa một hành lang có khung vòm, phía trên có biển đề dòng chữ: DENON. Cánh
Denon là phần nổi tiếng nhất trong ba phần chính của Louvre.
"Ai là người
yêu cầu có cuộc gặp mặt tối nay?" Fache đột ngột hỏi. "Ông hay ông ấy?".
Câu hỏi có vẻ
kỳ lạ. "Ông Saunière", Langdon đáp khi họ vào đường hầm. "Thư ký của ông
ấy đã liên lạc với tôi vài tuần trước bằng thư điện tử. Cô ấy nói rằng ông
phụ trách bảo tàng biết tôi sẽ thuyết giảng ở Paris tháng này và muốn bàn
chuyện gì đó với tôi trong khi tôi ở đây".
"Bàn chuyện
gì?".
"Tôi không
biết. Chắc là về nghệ thuật. Chúng tôi có cùng mối quan tâm".
Fache có vẻ
không tin: "Ông không hề biết cuộc gặp của các ông nhằm việc gì?".
Langdon không
biết. Lúc đầu ông cũng tò mò nhưng thấy không tiện hỏi cụ thể. Tôn ông
Jacques Saunière nổi tiếng là thích sự riêng tư và rất ít khi cho ai gặp,
chỉ riêng việc có cơ hội gặp ông cũng đủ khiến Langdon phải cảm ơn rồi.
"Ông Langdon,
chí ít ông có thể đoán xem nạn nhân bị giết của chúng ta có thể muốn bàn
luận gì với ông vào cái đêm ông ấy bị giết chứ? Điều đó có thể sẽ rất có
ích".
Sự thẳng
thừng của câu hỏi đó làm cho Langdon cảm thấy không thoải mái.
"Tôi thực sự
không thể đoán được. Tôi đã không hỏi. Tôi cảm thấy vinh dự được tiếp xúc
với ông ấy. Tôi là người ngưỡng mộ công trình của ông Saunière. Tôi thường
dùng các bài viết của ông ấy trên lớp".
Fache ghi
điều đó vào sổ.
Hai người đã
đi được nửa đường hầm dẫn vào cánh Denon và Langdon có thể nhìn thấy những
cầu thang cuốn kép đôi ở phía xa, cả hai bên lên, xuống đều đứng im.
"Vậy là ông
có cùng những mối quan tâm với ông ấy?" Fache hỏi.
"Vâng, trên
thực tế, năm ngoái tôi đã dành nhiều thời gian soạn thảo một cuốn sách bàn
về lĩnh vực giám định chủ yếu của ông Saunière. Tôi mong sao lượm lặt được
chút tri thức của ông ấy".
Fache ngước
mắt: "Gì cơ?".
Rõ ràng ông
ta không hiểu câu thành ngữ.
"Tôi mong sao
học hỏi những suy nghĩ của ông ấy về đề tài này".
"Tôi hiểu. Và
đề tài đó là gì?".
Langdon do
dự, không biết diễn tả như thế nào cho chính xác: "Về cơ bản, bản thảo
viết về khoa nghiên cứu các hình tượng thờ nữ thần - khái niệm về tính
thánh nữ và nghệ thuật cùng những biểu tượng gắn kết với nó".
Fache giơ bàn
tay mập ú vuốt tóc: "Và Saunière rành về đề tài này?".
"Không ai hơn
ông ấy".
"Tôi hiểu".
Langdon cảm
thấy Fache chẳng hiểu gì hết. Jacques Saunière đuợc xem là nhà mô tả các
hình tượng về nữ thần hàng đầu trên thế giới. Saumère không chỉ có niềm
đam mê cá nhân đối với những thánh tích có liên quan đến sự phồn thực, các
nghi lễ cúng tế nữ thần, Wicca và tính nữ linh thiêng, mà trong suốt hai
mươi năm phụ trách bảo tàng! Saunière đã giúp Louvre tập hợp được bộ sưu
tập nghệ thuật nữ thần lớn nhất thế giới - những cái rìu của các nữ tu ở
những điện thờ cổ xưa nhất của Hy Lạp ở Delphi, những cây quyền trượng
bằng vàng, hàng trăm thập giá hình khóa giống như những thiên thần nhỏ của
vùngTjet, những chiếc trống lắc được sử dụng ở Ai Cập cổ đại để xua đuổi
tà ma, và một bộ tượng kỳ thú miêu tả cảnh Horus được nữ thần Isis cho bú.
"Có lẽ
Jacques Saunière nghe nói về bản thảo của ông?".
Fache gợi ý.
"Và ông ấy sắp đặt cuộc gặp gỡ để đề nghị giúp đỡ cho cuốn sách của ông".
Langdon lắc
đầu: "Thực sự, chưa ai biết về bản thảo này. Nó vẫn ở dạng nháp, và tôi
không đưa nó cho bất kỳ ai trừ người biên tập của tôi".
Fache im
lặng.
Langdon không
nói thêm lý do khiến ông chưa cho ai xem tập bản thảo. Bản nháp dày ba
trăm trang - tạm đặt tên là Những biểu tượng của tính nữ thiêng liêng bị
thất truyền - đưa ra một số diễn giải rất khác thường về hệ hình tượng tôn
giáo đã chế định, những diễn giải chắc chắn sẽ gây tranh cãi.
Khi Langdon
đi gần đến chiếc cầu thang cuốn vẫn đứng im, ông dừng lại, nhận thấy Fache
không còn ở bên cạnh mình.
Quay lại,
Langdon nhìn thấy Fache đang đứng cách đó vài mét về phía sau ở chỗ thang
máy dành cho người phục vụ.
"Ta sẽ đi
thang máy", Fache nói khi cửa thang máy mở ra.
"Tôi chắc ông
biết Hành Lang Lớn khá xa nếu đi bộ".
Tuy Langdon
biết đi thang máy lên hai tầng dài để đến Cánh Denon sẽ nhanh hơn, ông vẫn
đứng im.
"Có chuyện gì
không ổn?" Eache giữ cửa, có vẻ sốt ruột.
Langdon thở
hắt ra, quay lại nhìn đầy thèm muốn về phía cầu thang cuốn ngoài trời.
Chẳng có chuyện gì không ổn cả, ông tự dối mình, lụi hụi trở lại thang
máy. Hồi bé, Langdon đã ngã xuống một cái giếng bỏ đi và suýt chết vì ngâm
nước trong cái khoảng hẹp đó nhiều giờ trước khi có người đến cứu.
Kể từ đó, ông
bị ám ảnh bởi chứng sợ những khoảng khép kín - thang máy, đường điện ngầm,
sân chơi bóng quần. Thang máy là một cái máy tuyệt đối an toàn, Langdon tự
nhủ nhưng không bao giờ tin điều đó cả. Nó là một hộp kim loại nhỏ xíu
treo trong một cái ống thông khép kín. Nín thở, ông bước vào buồng thang,
cảm thấy cái giật thon thót quen thuộc mỗi khi cửa thang máy khép lại.
Hai tầng.
Mười giây.
"Ông và ông
Saunière", Fache nói khi thang máy bắt đầu chuyển, "các ông chưa hề nói gì
với nhau? Chưa hề thư từ? Chưa hề gửi cho nhau bất cứ thứ gì qua bưu
điện?".
Lại một câu
hỏi kỳ lạ. Langdon lắc đầu: "Không. Chưa bao giờ".
Fache nghếch
đầu, như thể ghi thẳng vào đầu sự việc đó.
Không nói gì,
ông ta nhìn trân trân vào cánh cửa bằng crôm.
Khi họ lên
cao, Langdon cố tập trung vào những cái khác hơn là bốn bức vách xung
quanh. Qua sự phản chiếu của cánh cửa thang máy sáng bóng, ông thấy cái
kẹp cavát của viên đại uý một cây thánh giá bằng bạc có gắn mười ba viên
mã não có vân đen. Langdon thấy hơi là lạ. Biểu tượng này gọi là crux
gemmata - một cây thánh giá gắn mười ba viên ngọc - một biểu tượng Thiên
Chúa giáo ám chỉ Chúa và mười hai vị thánh tông đồ của Ngài. Không hiểu
sao, Langdon không ngờ người chỉ huy của Cảnh sát Pháp lại phô bày tôn
giáo của ông ta quá lộ liễu như vậy. Hơn nữa đây là Pháp, ở đây Thiên Chúa
giáo không phải là một tôn giáo được xem như quyền tự nhiên.
"Đó là một
crux gemmata", Fache đột ngột nói.
Giật mình,
Langdon ngước lên thấy Fache dán mắt vào mình trong ánh phản chiếu.
Thang máy
dừng sững, cửa mở ra.
Langdon bước
vội ra, đi nhanh vào hành lang, thèm khát khoảng không rộng thoáng tạo nên
bởi những trần cao nổi tiếng của những phòng tranh trong Louvre. Tuy
nhiên, thế giới ông bước vào chẳng có gì giống với những gì ông mong đợi.
Ngạc nhiên,
Langdon đứng sững lại.
Fache liếc
sang: "Tôi rút ra kết luận là ông chưa bao giờ thấy Louvre sau giờ công
sở, ông Langdon?".
Tôi đoán là
thế. Langdon nghĩ, cố định thần lại.
Vốn được
chiếu sáng hoàn hảo nhưng tối nay, các phòng trưng bầy của Louvre đột
nhiên tối om. Thay cho ánh sáng trắng toả tuôn xuống từ bên trên, là một
vầng đỏ lừ dường như tỏa ra từ ván chân tường - những vệt sáng đỏ lập lòe
đổ tràn ra trên sàn lát đá.
Khi nhìn dọc
theo hành lang tối tăm, Langdon nhận ra đáng lẽ ông nên hình dung trước
cảnh tượng này. Hầu như tất cả các phòng trưng bầy chính đều để đèn đỏ vào
buổi tối - những ngọn đèn được đặt ở tầm thấp theo chủ định, không tỏa
sáng rộng đủ để cho các nhân viên đi lại trong các hành lang mà vẫn giữ
cho các bức họa trong bóng tối tương đối để hãm chậm tác động phai màu do
phơi sáng quá nhiều. Tối nay, bảo tàng có vẻ gần như ngột ngạt. Bóng tối
lan dài xâm lấn mọi nơi, và những trần vòm thường khi cao vút bỗng có vẻ
như những khoảng trống thấp tối đen.
"Đường này" -
Fache nói, rẽ phắt sang phải và đi qua một dãy dài các phòng trưng bày nối
liền với nhau.
Langdon đi
theo, mắt ông cũng dần dần quen với bóng tối. Xung quanh, những bức tranh
sơn dầu khổ to bắt đầu hiện ra trước mắt ông như tiến trình rửa ảnh trong
một buồng tối khổng lồ mắt các nhân vật trong tranh dõi theo ông khi ông
đi qua các phòng. Ông có thể ngửi thấy mùi vị quen thuộc của không khí bảo
tàng - mùi tinh dầu giải iôn hăng hắc thoang thoảng chút carbon - sản phẩm
của máy hút ẩm công nghiệp, với bộ lọc chạy bằng than, các máy này chạy
suốt ngày để trung hòa khí CO2 gây ăn mòn, tỏa ra theo hơi thở của khách
tham quan.
Lắp đặt cao
trên tường, các camera an ninh lộ liễu gửi thông điệp rõ ràng đến khách
tham quan: Chúng tôi nhìn thấy bạn, đừng chạm vào bất kỳ vật gì.
"Có cái nào
là thật không?". Langdon hỏi chỉ về phía các camera.
Fache lắc
đầu: "Tất nhiên là không".
Langdon không
ngạc nhiên. Sự giám sát bằng video trong các bảo tàng cỡ này chi phí cao
và không có tác dụng gì. Để giám sát các phòng trưng bày rộng hàng ngàn
mét vuông, Louvre ắt phải cần đến hàng trăm kỹ thuật viên, chỉ đơn thuần
để theo dõi liên tục các hiện vật. Hầu hết các bảo tàng lớn đều dùng biện
pháp "an ninh ngăn chặn". Hãy quên đi việc giữ các tên trộm ở ngoài, hãy
giữ chúng ở bên trong. Thiết bị ngăn chặn hoạt động sau giờ công sở, nếu
một kẻ xâm nhập tháo đi một tác phẩm nghệ thuật, các lối ra sẽ được đóng
kín quanh phòng trưng bày đó, và tên trộm sẽ thấy mình bị cầm tù ngay cả
trước khi cảnh sát đến.
Nhiều giọng
nói vang vọng trong hành lang cẩm thạch phía trước. Tiếng ồn dường như đến
từ một khoang hõm rộng đằng trước mé tay phải. Một ngọn đèn sáng toả xuống
cả hành lang.
"Văn phòng
của ông phụ trách bảo tàng", viên đại uý nói.
Khi họ đến
gần khoang hõm hơn, Langdon dõi mắt qua đoạn hành lang ngắn nhòm vào phòng
làm việc sang trọng của Saunière - gỗ ấm, những bức họa của các bậc thày
thời xưa, và một bàn giấy kiểu cổ đồ sộ, trên đó có mô hình một hiệp sĩ
mặc giáp trụ đầy đủ cao khoảng 0,60 m. Một nhóm cảnh sát bận rộn trong căn
phòng, nói chuyện điện thoại và ghi chép. Một trong số họ ngồi ở bàn của
Saunière, đang sử dụng máy tính xách tay.
Rõ ràng tối
nay, phòng riêng của ông phụ trách bảo tàng đã trở thành sở chỉ huy tạm
thời của DCPJ.
"Messieurs",
Fache gọi và mọi người quay lại, "Ne nous dérangez pas sous aucun
prétexte. Entendu?" .
Mọi người
trong văn phòng gật đầu hiểu ý.
Langdon đã
từng treo khá nhiều biển mang dòng chữ NE PAS DÉRANDER trên các cửa phòng
khách sạn đủ để hiểu nội dung mệnh lệnh của viên đại úy. Fache và Langdon
sẽ không bị quấy rầy trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Để nhóm nhỏ
nhân viên lại phía sau, Fache dẫn Langdon đi xa hơn nữa vào hành lang tối.
Lù lù trước mặt, cách khoảng ba mươi mét là cổng vào phần nổi tiếng nhất
của Louvre - Hành Lang Lớn - một hành lang dường như vô tận, nơi để những
kiệt tác quý nhất của Ý tại bảo tàng Louvre. Langdon đã nhận ra đây là nơi
thi thể Saunière nằm, sàn gỗ nổi tiếng của Hành Lang Lớn không thể lẫn đi
đâu trong bức ảnh chụp lấy ngay.
Khi họ đến
gần, Langdon nhìn thấy lối vào bị chắn bởi một hàng rào thép khổng lồ
giống như ở các lâu đài thời Trung cổ nhằm ngăn chặn kẻ thù cướp bóc.
"An ninh ngăn
chặn", Fache nói, khi họ tới sát những thanh thép.
Ngay cả trong
bóng tối, hàng rào chắn vẫn có vẻ như có thể chặn được cả xe tăng. Từ bên
ngoài, Langdon nhìn qua song sắt vào các hốc lờ mờ sáng của Hành Lang Lớn.
"Mời ông qua
trước, ông Langdon", Fache nói.
Langdon quay
lại. Qua trước, qua chỗ nào chứ?
Fache ra hiệu
về phía sàn nhà, phần dưới của rào chắn.
Langdon nhìn
xuống. Trong bóng tối, ông không nhận thấy.
Hàng rào chắn
đã được nâng cao lên khoảng sáu mươi phân, tạo ra một khoảng trống xệch
xẹo bên dưới.
"Khu vực này
ngoài tầm kiểm soát an ninh của Louvre". Fache nói. "Đội của tôi từ Cục
cảnh sát khoa học và kỹ thuật cảnh sát vừa hoàn thành cuộc điều tra của
họ". Ông ta chỉ vào khe hở: "Xin hãy luồn mé dưới".
Langdon nhìn
vào khoảng hẹp có thể trườn qua được dưới chân mình và rồi lại nhìn hàng
rào sắt kếch xù bên trên. Ông ta đang đùa đúng không? Hàng rào chắn trông
giống như một cái máy chém chờ đợi để nghiền nát những kẻ đột nhập.
Fache lầm bầm
điều gì đó bằng tiếng Pháp và xem đồng hồ.
Sau đó, ông
ta quỳ xuống và lách cái thân hình đồ sộ của mình dưới hàng rào. Sang tới
bên kia, ông ta đứng dậy và nhìn Langdon qua song sắt.
Langdon thở
dài. Chống tay lên sàn gỗ bóng lộn, ông nằm sấp và trườn về phía trước.
Trong khi lách qua, cổ áo tuýt hiệu Harris chạm vào đáy của hàng rào, và
ông va gáy vào đó.
Lịch sự nhỉ,
Robert, ông nghĩ, dò dẫm và rồi cuối cùng cũng kéo được người qua. Đứng
dậy, Langdon bắt đầu tin chắc đây sẽ là một đêm rất dài.
Chú thích:
(1) Tiếng Pháp trong nguyên bản: cách ly.
(2) Thuyết thần học phù thuỷ, theo đó, nữ
giới được trao quyền cai quản đất trời.
(3) Tiếng Pháp trong nguyên bản: "Các
ông, xin đừng quấy rầy chúng tôi vì bắt cứ lý do gì. Rõ chưa?"
Chương 5
Quảng trường
Murray Hill - Tổng Hành Dinh Quốc Gia mới của Opus Dei, trung tâm hội nghị
- tọa lạc ở 243 Đại lộ Lexington, New York. Với giá hơn bốn mươi bảy triệu
đôla, nó là một tòa tháp rộng gần 15.000 mét vuông được ốp gạch đỏ và đá
vôi vùng Indiana. Do May & Pinska thiết kế, tòa nhà bao gồm trên một trăm
phòng ngủ, sáu phòng ăn, thư viện, phòng ở phòng họp, và văn phòng. Tầng
hai, tầng tám và tầng mười sáu là các nhà nguyện được trang trí đồ gỗ và
đá cẩm thạch.
Tầng mười bảy
hoàn toàn là nhà ở. Đàn ông vào tòa nhà qua cổng chính ở phía Đại lộ
Lexington. Phụ nữ vào qua phố bên cạnh và "cách biệt hẳn, không nghe thấy
và không nhìn thấy" đám đàn ông vào bất kỳ lúc nào trong tòa nhà.
Từ chiều nay,
trong căn phòng tôn nghiêm ở tầng trên cùng của mình, Giám mục Manuel
Aringarosa đã đóng một túi đồ du lịch nhỏ và mặc chiếc áo thày tu truyền
thống màu đen. Bình thường, ông quấn dây lưng màu tía quanh hông, nhưng
tối nay ông sẽ ra nơi công cộng, và ông không muốn gây ra sự chú ý tới
chức vụ cao của mình. Chỉ những người với con mắt tinh tường mới có thể để
ý đến chiếc nhẫn Giám mục bằng vàng 14 kara với viên thạch anh tím cùng
những viên kim cương to, và miếng vải đính mũ tế. Quàng túi du lịch qua
vai, ông thầm đọc một câu kinh và rời phòng đi xuống sảnh trước - nơi
người lái xe đang chờ để đưa ông ra sân bay.
Giờ đây ngồi
trên một máy bay thương mại đi Roma, Aringarosa nhìn ra ngoài cửa sổ xuống
Đại Tây Dương sẫm màu.
Mặt trời vừa
lặn, nhưng Aringarosa biết sao chiếu mệnh của mình đang lên. Tối nay trận
chiến sẽ thắng lợi, ông nghĩ, kinh ngạc vì chỉ vài tháng trước, ông vẫn
còn cảm thấy chẳng có quyền uy gì chống lại những bàn tay đe dọa phá hủy
đế chế của ông.
Là chủ tịch
của Opus Dei, Giám mục Aringarosa đã dành mười năm qua của cuộc đời để
truyền bá thông điệp "Tác phẩm của Chúa", nghĩa đen của từ Opus Dei. Giáo
đoàn này được thầy tu người Tây Ban Nha Jose Maria Escrivá thành lập năm
1928, nhằm thúc đẩy sự quay về với các giá trị Thiên Chúa giáo bảo thủ và
khuyến khích các thành viên thực hành các nghi lễ gột rửa hàng ngày để làm
Tác phẩm của Chúa.
Triết lý
truyền thống của Opus Dei đã bắt rễ ở Tây Ban Nha trước chế độ Franco,
nhưng với sự xuất bản vào năm 1934 cuốn sách tinh thần Đạo của Josemaria
Esscrivá - 999 điểm về việc thực hiện nhiệm vụ của Chúa trong đời sống cá
nhân - thông điệp của Escrivá bùng nổ trên toàn thế giới. Giờ đây, với hơn
bốn triệu bản của cuốn Đạo - phát hành bằng bốn mươi hai ngôn ngữ, Opus
Dei đã trở thành lực lượng toàn cầu. Người ta có thể tìm thấy những khu
nhà ở, các trung tâm giáo huấn, và thậm chí cả các trường đại học của Opus
Dei ở hầu hết các thành phố lớn khắp thế giới. Opus Dei là tổ chức Thiên
Chúa giáo phát triển nhanh nhất và vững vàng nhất về mặt tài chính trên
thế giới. Thật không may, Aringarosa được biết, trong một thời đại nghi
ngờ tôn giáo, các giáo phái, quyền lực và của cải mỗi lúc một leo thang
của Opus Dei thành một cục nam châm thu hút sự ngờ vực. "Nhiều người gọi
Opus Dei là một kiểu thờ cúng tẩy não".
Các phóng
viên thường chất vấn. "Một số khác lại gọi các ông là tổ chức Cơ đốc giáo
bí mật bảo thủ cực đoan. Vậy các ông là gì?".
"Opus Dei
không phải cả hai thứ đó", giám mục kiên nhẫn trả lời. "Chúng tôi là một
Giáo hội Thiên Chúa giáo. Chúng tôi là một giáo đoàn của những người Thiên
Chúa giáo lấy việc tuân theo học thuyết Thiên Chúa giáo một cách nghiêm
ngặt hết mức có thể trong đời sống hàng ngày làm ưu tiên".
"Liệu Tác
phẩm của Chúa có nhất thiết bao gồm những nguyện thề giữ gìn sự trong
trắng, thu hoa lợi cho nhà thờ, và chuộc tội lỗi bằng tự hành xác?".
"Các bạn chỉ
mới miêu tả một phần nhỏ dân số của Opus Dei", Aringarosa nói. "Có rất
nhiều mức độ tham gia. Hàng nghìn thành viên của Opus Dei đã kết hôn, có
gia đình, và thực hiện các công việc của Chúa trong cộng đồng của chính
họ.
Những người
khác chọn cuộc sống tu khổ hạnh trong các tu viện của chúng tôi. Những lựa
chọn này hoàn toàn là cá nhân, nhưng mọi người trong Opus Dei đều chia sẻ
mục đích làm cho thế giới tốt đẹp hơn bằng việc thực hiện Tác phẩm của
Chúa.
Chắc chắn đây
là một sự kiếm tìm đáng ngưỡng mộ".
Tuy nhiên, lẽ
phải hiếm khi phát huy tác dụng, các phương tiện truyền thông luôn xoay
quanh các vụ tai tiếng, và Opus Dei, cũng như hầu hết các tổ chức lớn,
luôn có một vài linh hồn lầm lạc trong số các thành viên của mình, làm ô
danh cả nhóm.
Hai tháng
trước, một nhóm Opus Dei ở một trường đại học miền Trung Tây nước Mỹ bị
bắt quả tang cho những hội viên mới dùng mescaline gây ảo giác nhằm tạo
trạng thái khinh khoái mà các tân tín đồ sẽ cảm nhận như là một trải
nghiệm tôn giáo. Một sinh viên đại học khác dùng chiếc dây lưng hành xác
có ngạnh quá mức yêu cầu hai tiếng mỗi ngày và bị nhiễm trùng gần chết. Ở
Boston không lâu trước đây, một chủ ngân hàng đầu tư trẻ được giác ngộ đã
hiến tất cả tiền tiết kiệm cả đời mình cho Opus Dei trước khi tự tử.
Những con
chiên lạc lối, Aringarosa nghĩ, trái tim hướng về họ.
Tất nhiên,
mất mặt nhất là phiên tòa xử tên gián điệp của FBI Robert Hanssen, một vụ
được công bố rộng rãi. Ngoài việc là một thành viên nổi bật của Opus Dei,
tên này hóa ra còn là kẻ bệnh hoạn tình dục. Vụ xét xử hắn đã tiết lộ
những chứng cứ cho thấy hắn đã lắp camera quay trộm trong phòng ngủ để các
bạn hắn có thể xem cảnh hắn làm tình với vợ. "Thật khó có thể là trò tiêu
khiển của một người Thiên Chúa giáo mộ đạo", quan tòa nhấn mạnh.
Đáng buồn là
tất cả những sự kiện này góp phần sinh ra một nhóm quan sát mới gọi là
Mạng nhận thức Opus Dei (ODAN).
Trang web nổi
tiếng của nhóm - www.odan.org kể lại những câu chuyện ghê sợ từ miệng
những cựu thành viên Opus Dei.
Những người
này cảnh báo mối nguy hiểm của việc gia nhập giáo phái. Các phương tiện
truyền thông giờ đây gọi Opus Dei là "Mafia của Chúa" và "Sùng bái
Kirixitô".
Chúng ta sợ
những gi chúng ta không hiểu. Aringarosa nghĩ, tự hỏi liệu những người chỉ
trích này có biết có bao nhiêu cuộc đời đã được Opus Dei làm tốt đẹp thêm
lên. Giáo đoàn đã dược Vatican xác nhận đầy đủ và ban phước. Opus Dei là
đoàn giáo sĩ cao cấp của riêng Giáo hoàng.
Tuy nhiên,
gần đây, Opus Dei thấy mình đang bị đe dọa bởi một thế lực có sức mạnh gấp
bội các phương tiện truyền thông… một kẻ thù bất ngờ mà Aringarosa không
thể trốn chạy.
Năm tháng
trước, sự biến ảo của quyền lực đã bị lung lay, và Aringarosa vẫn còn đang
lảo đảo vì cú đòn đó.
"Chúng không
biết cuộc chiến mà chúng châm ngòi", Aringarosa thì thầm với chính mình,
nhìn qua cửa sổ máy bay xuống đại dương tối sẫm bên dưới. Trong giây lát,
ông quay lại nhìn hình ảnh phản chiếu gương mặt không cân đối của mình -
đen, dài, nổi bật lên là cái mũi khoằm, tẹt dí do đã từng bị đấm gẫy ở Tây
Ban Nha khi ông còn là một nhà truyến giáo trẻ tuổi. Cái khuyết tật thể
chất ấy giờ chả mấy ai để ý. Thế giới của Aringarosa là thế giới của linh
hồn, đâu phải của thể xác.
Khi chiếc phi
cơ đi qua bờ biển Bồ Đào Nha, điện thoại trong tấm áo thầy tu của
Aringarosa rung lên theo chế độ tắt chuông.
Mặc dù luật
hàng không cấm sử dụng điện thoại trong các chuyến bay, nhưng Aringarosa
biết đây là cuộc gọi mà ông không thể để lỡ. Chỉ có một người biết số này,
người đã gửi chiếc điện thoại này qua đường bưu điện cho Aringarosa.
Hồi hộp, Giám
mục trả lời nhỏ nhẹ: "Vâng?".
"Silas đã
biết chỗ của viên đá đỉnh vòm", người gọi nói, "Nó ở Paris. Trong nhà thờ
Saint Sulpice".
Giám mục
Aringarosa mỉm cười: "Thế thì chúng ta đang ở gần nó".
"Chúng tôi có
thể đoạt nó ngay lập tức nhưng chúng tôi cần ảnh hưởng của cha".
"Tất nhiên
rồi. Hãy nói cho tôi biết tôi phải làm gì".
Khi
Aringarosa tắt máy, tim ông đập thình thịch. Một lần nữa, ông lại nhìn
xuống khoảng không đêm tối, cảm thấy mình bé nhỏ hẳn bên cạnh những sự
kiện do chính ông đã phát động.
Cách đó năm
trăm dặm, gã bạch tạng tên là Silas cúi mình trên một bồn nước nhỏ và thấm
máu trên lưng, nhìn những vệt đỏ loang tròn trong nước. Gột rửa mình với
cây bài hương và ta sẽ sạch sẽ, hắn cầu nguyện, trích dẫn Thánh ca. Hãy
gột rửa, và ta sẽ trắng hơn tuyết.
Silas cảm
thấy một linh tính được đánh thức - điều mà hắn chưa từng cảm thấy trong
cuộc đời trước đây. Nó vừa gây kinh ngạc vừa kích thích hắn. Trong thập kỷ
vừa rồi, hắn đã đi theo Đạo gột sạch bản thân khỏi tội lỗi… xây dựng lại
cuộc đời… xóa sạch bạo lực trong quá khứ. Nhưng tối nay, tất cả đã ào trở
lại.
Lòng căm thù
mà hắn khó khăn vật lộn để chôn vùi đã được khơi dậy. Hắn bàng hoàng thấy
quá khứ lại nổi lên nhanh biết bao. Và cùng với nó, tất nhiên, là kỹ năng
của hắn. Đã cùn mòn nhưng còn được việc chán.
Thông điệp
của Chúa Jesu là một thông điệp về hòa bình… về phi bạo lực…về tình yêu.
Đây là thông điệp mà Silas được dạy ngay từ đầu và là thông điệp hắn luôn
giữ trong trái tim. Nhưng đây cũng là thông điệp mà kẻ thù của Chúa Jesus
đang đe dọa hủy hoại. Những kẻ đe dọa Chúa bằng vũ lực sẽ được đáp trả
bằng vũ lực. Bất di bất dịch và kiên định.
Trong hai
thiên niên kỷ, những người lính của Chúa đã bảo vệ đức tin của họ chống
lại những kẻ định gạt bỏ nó. Tối nay, Silas đã được gọi tham gia trận
chiến.
Lau khô các
vết thương, hắn mặc chiếc áo choàng dài đến mắt cá chân, có mũ chùm đầu.
Nó xấu xí, bằng len tối màu, làm nổi bật nước da và mái tóc trắng. Thắt
chặt dây áo choàng quanh hông, hắn kéo mũ chùm lên đầu và ngắm nhìn mình
trong gương bằng đôi mắt đỏ lừ. Các bánh xe đang chuyển động.
Chương 6
Sau khi khép
mình chui dưới hàng rào bảo vệ, Robert Langdon giờ đây đứng bên trong lối
vào Hành Lang Lớn. Ông nhìn dõi vào miệng một hành lang dài, sâu như hẽm
núi. Hai bên hành lang, những bức tường vút lên với độ cao mười mét, như
tan biến vào bóng tối bên trên. Những bóng đèn bảo quản đỏ kệch hướng lên
trên, tỏa một ánh sáng mờ không tự nhiên lên bộ sưu tập kỳ vĩ gồm những
tác phẩm của Da Vinci, Titian, và Caravaggio treo lơ lửng từ những dây cáp
trên trần. Tĩnh vật, các cảnh tôn giáo và phong cảnh đẹp cùng với chân
dung của các quý tộc và chính trị gia.
Mặc dù Hành
Lang Lớn cất giữ nghệ thuật Ý nổi tiếng nhất của Louvre, nhiều khách du
lịch lại cảm thấy món quà gây ấn tượng nhất của cánh này, trên thực tế,
lại là cái sàn gỗ nổi tiếng của nó. Được sắp đặt theo một thiết kế ngoạn
mục mang tính kỷ hà với những lát gỗ sồi xếp chéo góc, mặt sàn tạo ra một
ảo giác thoáng qua - một mạng lưới đa chiều mang lại cho du khách cảm giác
là họ đang trôi trong phòng trưng bày trên một bề mặt thay đổi theo mỗi
bước đi.
Khi cái nhìn
của Langdon bắt đầu dõi theo đường ván lát, mắt ông bỗng dừng phắt trên
một vật bất ngờ nằm trên sàn chỉ cách ông vài mét về bên trái, khoanh giữa
dải băng đánh dấu của cảnh sát. Ông quay về phía Fache. "Có phải… một bức
Caravaggio ở trên sàn không?".
Fache gật đầu
mà không cần nhìn.
Bức tranh,
Langdon đoán, đáng giá tới hai triệu đôla, mà nằm chỏng chơ trên sàn như
một tấm quảng cáo vất đi. "Thế quái nào mà nó lại nằm trên sàn như vậy?".
Fache nhìn
trừng trừng, rõ ràng không hề xúc động: "Đây là hiện trường vụ án, ông
Langdon ạ. Chúng ta không được đụng vào bất kỳ thứ gì. Bức tranh đó đã bị
ông phụ trách bảo tàng kéo xuống. Đó là cách ông ấy khởi động hệ thống an
ninh".
Langdon nhìn
vào cánh cổng, cố gắng mường tượng những gì đã xảy ra.
"Ông phụ
trách bảo tàng bị tấn công trong phòng làm việc, trốn chạy vào Hành Lang
Lớn, và khởi động cửa bảo vệ bằng cách kéo bức vẽ đó từ trên tường xuống.
Cổng bảo vệ sập ngay lập tức chặn mọi lối ra vào. Đây là cánh cửa duy nhất
để ra vào Hành Lang Lớn".
Langdon cảm
thấy không rõ: "Vậy là ông ta đã thực sự bắt được kẻ tấn công mình trong
Hành Lang Lớn sao?".
Fache lắc
đầu: "Cổng bảo vệ đã ngăn cách Saunière với kẻ tấn công ông. Tên sát thủ
bị chặn lại ở hành lang ngoài và bắn Saunière qua cánh cổng này". Fache
chỉ về phía miếng kim loại màu cam lủng lẳng ở một song sắt của cánh cổng
mà họ vừa chui qua bên dưới. "Đội canh sát khoa học - kỹ thuật (PTS) đã
tìm thấy vết khói đạn phụt lại của khẩu súng. Hắn đã bắn qua chấn song.
Saunière đã chết một mình trong này".
Langdon nhớ
lại bức ánh chụp thi thể Saunière. Họ nói ông ấy đã làm điều đó với chính
mình. Langdon nhìn hành lang mênh mông phía trước. "Vậy xác ông ấy ở
đâu?".
Fache chỉnh
thẳng cái kẹp cà vạt hình thánh giá và bắt đầu đi.
"Chắc ông đã
biết, Hành Lang Lớn này khá dài".
Độ dài chính
xác, nếu Langdon nhớ đúng, thì là khoảng 500 mét, bằng ba đài tưởng niệm
Washington nối liền nhau. Chiều rộng của hành lang cũng hoành tráng như
thế, có thể dễ dàng chứa hai đoàn tàu chở khách xếp hàng ngang cạnh nhau.
Điểm suốt dọc trục trung tâm hành lang là những pho tượng hoặc những thạp
sứ lớn, tạo thành một đường ngăn trang nhã, giữ cho dòng khách tham quan
theo chiều đi lên ở một bên và theo chiều đi xuống ở bên kia.
Fache im
lặng, thoăn thoắt sải bước theo mé bên phải của hành lang, mắt nhìn trân
trân về phía trước. Langdon cảm thấy gần như bất kính khi đi qua bao kiệt
tác như vậy mà không dừng lại dù chỉ để ìiếc nhìn.
Không phải
bởi mình chẳng nhìn thấy gì trong ánh sáng này, ông nghĩ.
Tệ thay, cái
ánh sáng đỏ lịm này lại làm Langdon nhớ đến trải nghiệm lần trước của mình
trong ánh sáng mờ ảo của Viện Tư liệu mật Vatican. Đây là lần thứ hai
trong buổi tối hôm nay ông liên tưởng đến lần suýt chết ở Roma. Ông lại
chợt nhớ đến Victoria. Cô đã vắng mặt trong những giấc mơ của ông nhiều
tháng nay. Langdon không thể tin rằng chuyện ở Roma mới chỉ cách đây một
năm, mà đã như hàng thế kỷ rồi. Một cuộc đời khác.
Lần cuối cùng
ông nhận được thư Victoria là vào tháng 12 - một bưu ảnh nói rằng cô đang
trên đường đến biển Java để tiếp tục nghiên cứu về vật lý của cá đuối một
đề tài về việc sử dụng vệ tinh để theo dấu sự di trú của cá đuối? Langdon
chẳng bao giờ nuôi ảo tưởng rằng một phụ nữ như Victoria Vetra lại có thể
sống hạnh phúc với ông trong một học xá đại học, nhưng cuộc gặp gỡ bất ngờ
ở Roma mở ra nơi ông một khát khao mà ông không bao giờ tưởng tượng là
mình có thể cảm thấy. Ham muốn sống độc thân suốt đời của ông cùng những
tự do giản đơn mà nó đem lại, chợt lung lay… thay thế bởi một cảm giác
trống rỗng bất ngờ dường như cứ lớn dần suốt trong năm qua.
Họ tiếp tục
bước đi, nhưng Langdon vẫn không nhìn thấy cái xác nào hết. Jacques
Saunière đi được xa thế sao? Ông Saunière bị một viên đạn găm vào bụng.
Ông ấy chết từ từ. Có thể là trong vòng mười lăm - hai mươi phút. Ông ấy
rõ ràng là người có sức chịu đựng tốt".
Langdon quay
lại, thất kinh: "Nhân viên bảo vệ mất mười lăm phút mới đến được đây
sao?".
"Tất nhiên là
không. Bảo vệ bảo tàng Louvre phản ứng ngay lập tức với tiếng chuông báo
động và phát hiện ra Hành Lang Lớn đã đóng. Qua cánh cổng, họ có thể nghe
thấy có người đang di chuyển ở đầu đằng kia hành lang, nhưng họ không thể
nhìn thấy đó là ai. Họ quát hỏi, nhưng không được trả lời. Đoán chắc rằng
đó chỉ có thể là kẻ trộm, họ đã làm theo quy định và gọi điện cho Cảnh sát
tư pháp . Chúng tôi đã chiếm lĩnh vị trí trong vòng mười lăm phút. Khi
đến, chúng tôi nâng hàng rằo chắn lên đủ để có thể trườn qua bên dưới, và
tôi đã điều mười hai cảnh sát vũ trang vào bên trong. Họ đã kiểm tra hết
chiều dài Hành Lang Lớn để vây bắt kẻ đột nhập".
"Và?".
Họ chẳng thấy
ai bên trong. Trừ…", ông ta chỉ về phía xa hơn trong hành lang, "Ông ấy".
Langdon dõi
theo ngón tay chỉ thắng của Fache. Đầu tiên ông nghĩ Fache đang chỉ một
bức tượng bằng đá cẩm thạch to ở giữa hành lang. Tuy nhiên, khi họ đi
tiếp, Langdon bắt đầu nhìn xa hơn bức tựơng. Sâu vào hành lang ba mươi
thước, một ngọn đèn chiếu đơn trên cột di động rọi xuống sàn, tạo thành
một quầng sáng trắng trong căn phòng đỏ thẫm. Ở giữa quầng sáng đó, như
một con côn trùng dưới kính hiển vi, là xác của ông phụ trách bảo tàng nằm
trần truồng trên sàn gỗ.
"Ông đã xem
bức ảnh", Fache nói, "vậy thì cảnh tượng này không có gì bất ngờ".
Langdon cảm
thấy rợn cả người khi họ tiến về phía thi thể.
Trước mắt ông
là một trong những hình ảnh kỳ lạ nhất mà ông từng thấy.
Thi thể tái
nhợt của Jacques Sainière nằm trên sàn gỗ y hệt như trong ảnh. Đứng bên
cái xác và nheo mắt trong ánh sáng chói loà Langdon kinh ngạc tự nhắc mình
rằng Saunière đã dùng những phút cuối cùng của đời mình để sắp đặt cơ thể
mình theo tư thế kỳ lạ như thế này.
Saunière
trông đặc biệt tráng kiện đối với một người ở tuổi của ông… và tất cả các
cơ bắp nổi lên rõ ràng. Ông đã cởi tất cả quần áo, đặt gọn gàng trên sàn,
và nằm ngửa giữa hành lang rộng, chính xác theo trục dọc của căn phòng.
Tay chân ông dang ra như đại bàng xòe cánh, tựa một đứa trẻ làm một thiên
thần bằng tuyết… hoặc, có lẽ ví thế này thì thích hợp hơn, tựa một người
đàn ông bị phanh thây bởi một lực vô hình.
Ngay bên dưới
xương ức của Saunière, một vết máu đánh dấu nơi viên đạn găm vào thịt ông.
Lạ thay, vết thương chảy máu rất ít, chỉ để lại một vũng máu nhỏ đã đen
lại.
Ngón trỏ tay
trái của Saunière cũng dính máu, hiển nhiên là do nhúng vào vết thương để
tạo ra cái nét gây hoang mang nhất nơi giường lâm chung ma quái của ông;
dùng máu mình làm mực và cái bụng trần làm toan, Saunière đã vẽ một biểu
tượng đơn giản trên da thịt mình - năm dòng kẻ thẳng cắt chéo nhau tạo
thành một hình sao năm cánh.
Hình sao năm
cánh.
Ngôi sao đẫm
máu, ở giữa rốn Saunière, mang đến cho thi thể ông một hào quang rành là
ma quái. Bức ảnh Langdon nhìn thấy đã đủ ớn lạnh, nhưng bây giờ, chứng
kiến tận mắt khung cảnh này, Langdon cảm thấy mỗi lúc một thêm bồn chồn.
Ông ấy tự làm
điều đó cho chính mình.
"Ông
Langdon?" Đôi mắt đen của Fache lại nhìn ông.
"Đó là một
hình sao năm cánh", Langdon nói, giọng ông nghe vang vọng trong không gian
rộng lớn. "Một trong những biểu tượng cổ xưa nhất trên trái đất. Được dùng
hơn bốn nghìn năm trước Công nguyên".
"Và nó có ý
nghĩa gì?".
Câu hỏi này
bao giờ cũng khiến Langdon do dự. Nói với ai đó một biểu tượng có ý nghĩa
gì cũng giống như nói họ nên cảm nhận một bài hát như thế nào - điều đó
với mỗi người một khác. Chiếc mũ trắng trùm đầu của Đảng 3K (Ku Klux Klan)
gợi lên ở Mỹ những hình ảnh của căm thù và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc,
nhưng cùng trang phục ấy lại mang ý nghĩa về niềm tin tôn giáo ở Tây Ban
Nha.
Các biểu
tượng mang những ý nghĩa khác nhau trong từng hoàn cảnh khác nhau!",
Langdon nói. "Ban đầu, ngôi sao năm cánh là biểu tượng vô tôn giáo".
Fache gật
đầu: "Thờ ma quỷ".
"Không",
Langdon sửa lại, ngay lập tức nhận ra rằng sự lựa chọn từ ngữ của ông nên
rõ ràng hơn.
Ngày nay, từ
pagan (vô đạo) đã trở thành đồng nghĩa với thờ ma quỷ - một cách hiểu sai
thô thiển. Gốc của từ này thực sự bắt nguồn từ chữ Latinh paganus, nghĩa
là người nhà quê.
"Pagan" là
những người dân quê chưa được truyền giáo thực sự nên cứ bám lấy những tôn
giáo cổ xưa và thôn dã thờ Tự Nhiên Trên thực tế, Nhà Thờ sợ những người
sống ở làng quê đến nỗi một từ vô thưởng vô phạt để chỉ "dân làng
(villain) - cũng bị biến nghĩa thành kẻ xấu.
"Ngôi sao năm
cánh", Langdon cố làm cho nó dễ hiểu hơn, "là một biểu tượng trước Công
Nguyên có liên quan đến tín ngưỡng tôn thờ Tự nhiên. Người cổ đại luôn
hình dung thế giới của họ thành hai nửa - nam tính và nữ tính. Các nam
thần và nữ thần của họ cùng nhau giữ cho cân bằng quyền lực âm và dương.
Khi tính nam và tính nữ cân bằng thì có sự hài hòa trong thế giới. Khi
chúng mất cân bằng, thì sẽ xuất hiện sự lộn xộn".
Langdon chỉ
vào bụng của Saunière. "Hình sao năm cánh này tiêu biểu nửa cái của mọi sự
vật - một khái niệm mà các sứ gia tôn giáo gọi là "tính nữ thiêng liêng"
hay "nữ thần siêu phàm".
Saunière ở
trong số ít người biết được điều này".
"Saunière vẽ
một biểu tượng nữ thần trên bụng mình sao?".
Langdon phải
thừa nhận, điều đó có vẻ kỳ lạ: "Theo cách diễn giải cụ thể nhất, thì hình
sao năm cánh tượng trưng cho thần Vệ nữ - nữ thần của tình yêu xác thịt và
sắc đẹp".
Fache nhìn
người đàn ông lõa thể và lầm bầm.
"Tôn giáo sơ
khai dựa trên trật tự thiêng liêng của Tự nhiên.
Thần Vệ nữ và
sao Kim là một. Nữ thần này có một chỗ trên bầu trời đêm và được gọi bằng
nhiều tên- Vệ nữ, Ngôi Sao Phương Đông, Ishtar, Astarte - tất cả đều là
những khái niệm mang tính nữ đầy quyền uy với mối liên hệ chặt chẽ với Tự
nhiên và Mẹ Đất".
Fache lúc này
có vẻ còn hoang mang hơn, như thể, cách nào đó, ông ta vẫn thích cái ý
nghĩa thờ ma quỷ hơn.
Langdon quyết
định không nói cho ông ta biết đặc điểm kỳ lạ nhất của hình sao năm cánh -
nguồn gốc những liên hệ mang tính đồ họa của nó với sao Kim. Khi còn là
một sinh viên trẻ khoa chiêm tinh học, Langdon đã sửng sốt khi biết rằng
cứ tám năm một lần, sao Kim lại vẽ trên bầu trời một hình sao năm cánh
hoàn hảo. Người cổ đại đã quá kinh ngạc khi quan sát hiện tượng này đến
mức sao Kim cùng hình vẽ này trở thành biểu tượng của sự hoàn hảo, vẻ đẹp,
và những phẩm chất chu kỳ của tình yêu nhục dục. Để tỏ lòng tôn kính đối
với phép thuật của sao Kim, người Hy Lạp đã dùng chu kỳ tám năm để tổ chức
thế vận hội Olympic. Ngày nay, rất ít người nhận ra rằng chu kỳ bốn năm
của Olympic hiện đại vốn theo nửa chu kỳ của sao Kim. Càng hiếm hơn nữa
những người biết rằng hình sao năm cánh đã từng gần như trở thành con dấu
chính thức của thế vận hội Olympic nhưng đã bị cải biên vào phút cuối -
năm đỉnh của nó chuyển thành năm vòng tròn giao nhau để phản ánh tốt hơn
tinh thần đoàn kết và hòa đồng của các cuộc chơi.
"Ông
Langdon", Fache đột nhiên nói. "Rõ ràng, hình sao năm cánh chắc cũng liên
quan đến ma quỷ. Những bộ phim Mỹ kinh dị của các ông chứng tỏ rõ điểm
đó".
Langdon cau
mày. Cảm ơn ngài, Hollywood. Giờ đây, trên thực tế hình sao năm cánh là
hình ảnh rập khuôn trong những bộ phim truyền hình nhiều tập thuộc loại
dao găm súng lục, thường được vẽ trên tường nhà của những kẻ thờ quỷ Satan
cùng với những biểu tượng khác được cho là gắn với ma quỷ.
Langdon luôn
luôn thất vọng khi ông thấy biểu tượng sao năm cánh trong khung cảnh như
vậy; nguồn gốc đích thực của hình sao năm cánh thực sự linh thiêng.
"Tôi cam đoan
với ông", Langdon nói, "dù ông nhìn thấy bất kỳ điều gì trong các bộ phim,
thì cách giải thích mang tính ma quỷ về hình sao năm cánh vẫn là không
chính xác về mặt lịch sử. Ý nghĩa nữ tính ban đầu là chính xác, nhưng tính
biểu tượng của hình sao năm cánh đã bị bóp méo qua cả thiên niên kỷ.