Theo tục truyền, mẹ Ngài, hoàng hậu
Mahamaya (Ma ha ma da) có mang Ngài, năm 563 trước dl, trên đường
rời Kapilavatthu (Ca tỳ la vệ) về quê nằm nơi, trong lúc ghé nghỉ ở
vườn Lubini (Lâm tỳ ni) thưởng thức hoa tươi muôn màu và chim hát
líu lo thì vịn vào cây sal hay sala tức là cây Shorea robusta,
có tác giả viết là cây ashoka hay simsapa (16) tức là cây
vô ưu Saraca indica, còn có tên vàng anh (8), và
sinh Ngài từ nách tay. Vào cuối đời, ở Kusinagara (Câu thi na), Ngài
cũng nằm trong chiếc vỏng mắc trên hai cây sala (hay, theo một giả
thuyết khác, trong một rừng cây sala) và xuất ly năm 483 trước dl,
chứng nhập Niết Bàn sau bốn kỳ thiền định. Như vậy, cây sala đã
chứng kiến cuộc sinh tử của Ngài (4,9). Nhưng trong thế
gian ngày nay, được biết nhiều là sự chứng ngộ của đức Phật thực
hiện dưới gốc cây đa bồ đề Ficus religiosa mà người Ấn Độ gọi
là asvattha (cây điềm lành) còn có tên pipal, pippala, peepalbanti,
Âu Mỹ dịch ra Bo tree, Bodh tree, ta có danh từ Giác thụ.
Truyền thuyết kể rằng sau 6 năm khổ hạnh, Ngài rời
bỏ Uruvilva (U lâu tần hoa), xuống tắm trong dòng sông Nairanjana
(Ni liên hà), ăn cơm và uống sữa cô thôn nữ Sujata biếu tặng, xin
một nắm cỏ lót đất rồi lại ngồi dưới gốc cây đề hay bồ đề cách thị
trấn Gaya (Già da) 8 cây số để thiền định. Thị trấn nầy sau mang tên
Both Gaya (Bồ đề đạo tràng), một danh từ còn chỉ định sự giác ngộ.
Từ sáng đến tối, Ngài thắng xung kích cám dỗ của thần chết, phóng
thích đầu óc mọi liên hệ với thế giới cảm tính từ đó đạt được thiên
cảm hùng vĩ những tiền thân do hành vi quyết định, nhận thức nguyên
nhân những tiền thân ấy, phát động quy luật « sản xuất theo khái
niệm liên tiếp » đạt chính pháp và đắc đạo (4,11). Ngài
còn ngồi ở đây 7 tuần nữa, tận hưởng sự giải thoát, một thời gian
đầy kỳ diệu, không ăn, không uống, trước khi lên đường đi thuyết
giáo ở vườn Mrgadava (Lộc uyển) cây cao bóng mát tại Sarnath (Lộc
vương), cạnh Banaras (Ba la nại).
Ngày nay, Both Gaya là một nơi hành hương có tiếng.
Chính vua Asoka (A dục) năm 258 trước dl đã xây quanh cây bồ đề một
cái miếu lộ thiên và cạnh cây một ngôi tháp cùng một ngôi đền, một
hành lang là nơi đức Phật đi dạo sau khi chứng ngộ, bước đầu cho một
khuôn viên đồ sộ. Nhưng cây bồ đề nguyên thủy đã bị phá huỷ vào thế
kỷ 7. Tại chỗ đó, người ta có trồng một cây con thì cây con cũng bị
bão thổi trốc gốc năm 1876 (15). Còn cây bồ đề thấy ngày
hôm nay là từ một nhánh ở Tích Lan đem qua. Tương truyền chính hai
người con của vua Asoka, đại diện môn phái « chính thống vương
triều » đã cho nhập Phật pháp vào Tích Lan thời nhà vua Devanam
Piyatissa. Hoàng tử - La hán Mahendra (Ma hi đà) có đem theo nhiều
thánh tích của đức Phật, phong chức cho nhiều tỳ kheo và thành lập
tu viện đầu tiên Mahavihara (Đại tịnh xá) ở kinh đô Anuradhapura.
Nhưng chính cô em, công chúa Sanghamitta 6 năm sau theo gót hai anh,
vào năm 240 trước dl, mang qua Tích Lan một chồi rễ cây bồ đề Gaya
gọi là Bodhidruma (Bồ đề thị) và phong chức cho những tỳ kheo ni đầu
tiên, đánh dấu trường phái Sthaviravada- Vibhajyavada (Thượng tọa bộ
- Phân biệt thuyết độ) ở Sri Lanka (6). Có phải một chồi
rễ cây nầy đã được đem trở về Gaya ? Tại chỗ, người bản xứ tin tưởng
cây bồ đề hiện nay là cây nguyên thủy còn lại. Bản thân tôi may mắn
được chắp tay trước cây ấy, giữa đám khách hành hương suốt ngày
không ngớt lại quỳ khấn, xúc cảm không ít khi ngắm cây cao trụi cành
già cỗi, có khả năng trúc gảy nên người ta phải dùng nhiều gậy tre
chống đỡ.
Trong sự tích Phật giáo, cây cối luôn giữ một chỗ
đứng quan trọng. Ở nơi diễn biến 4 giai đoạn chủ yếu trong cuộc đời
tinh thần của đức Phật đếu có mặt của cây : xuất thế ở Lubini, giác
ngộ dưới gốc cây bồ đề Gaya, thuyết giáo lần đầu tiên ở vườn
Mrgadava, xuất ly trong rừng Kusinagara. Vì vậy, trong các công
trình đầu tiên nay đang còn, cây đã được đưa ra thay thế tượng hình
đức Phật. Trên 6 cánh cửa torana công trình Sanci (thế kỷ 1) ở
Madhya Pradesh, 7 đức Phật cùng đức Di Lặc được trình bày với 8 cây
tượng trưng ở các hình chạm nổi thấp. Fouscher (1,12) kê
một bản các đức Phật và những tên cây bản xứ tương ứng (trong vòng
ngọặc chữ xiên là tên Pali) :
Vipasyin (Vipassin, Tỳ Bà Thi Phật), cây
patali tức Bigonia suaveolens ;
Sikhin (Sikhin, Thí Khí Phật), cây pundarika
(một loại hoa sen trắng ? (10) );
Visvabhu (Vessabhu, Tỳ Sa Bà Phật), cây sala
tức Shorea robusta ;
Krakucchanda (Kakusandha, Câu Lưu Tôn Phật),
cây sirisa tức Acacia sirissa ;
Kanakamuni (Konagamana, Câu Na Hàm Mâu Ni
Phật), cây udumbara tức Ficus glomerata,
cây sung ;
Kasyapa (Kassapa, Ca Diếp Phật), cây
nyagrodha tức Ficus indica, cây sanh ;
Gautama (Gotama, Cồ Đàm), cây asvattha tức
Ficus religiosa, cây đa bồ đề ;
Maitreya (Metteya, Di Lặc), cây nagapuspa tức
Michelia champaka, cây ngọc lan.
Nhờ những hình tượng nầy ở Bharhut
(2) có kèm theo lời dẫn nên cuộc xác định được thực hiện
có phần dễ dàng. Một chú ý cần nêu ra là trên cửa số 3, có thêm vào
một cây xoài Mangifera indica nhưng ở cánh cửa nầy các đức
Phật không được sắp đặc có thứ tự như ở cửa số 1 nên khó xác định
đúng chỗ, tuy có giả thuyết đặt nó tương ứng với đức Phật Sikhin,
thay vì cây pundarika. Cây xoài hiện ra trong sự tích đức Phật từ
thuở tiền thân. Trong chuyện Mahakapijakata, kiếp ngài là một chúa
khỉ mạnh dạn, lãnh đạo một bầy tám vạn con ở miền núi tuyết Himavant
(Hy mã lạp sơn). Trên bờ sông Hằng Hà có một cây xoài cao lớn, quả
trái sum sê mà lại ngon ngọt. Đến mùa trái chín, cả bầy khỉ mặc sức
hái ăn. Hồi ấy ở Baranas (Ba la nại) có vua Brahmadatta trị vì. Muốn
chiếm lấy cây xoài, nhà vua sai lính bủa lưới trùm cây hầu bắn chết
bầy khỉ. Để cứu chúng, đức Phật cắt dây làm cầu cho bầy khỉ vượt
lưới. Rủi dây thiếu một đoạn, đức Phật liền lấy thân thế dây cho bầy
khỉ đạp lên chạy trốn. Trong đám tùy tùng của nhà vua có một người
bà con với đức Phật tên là Devadatta (Đề bà đạt ba) thường hay ganh
tỵ và có lòng căm ghét Ngài. Trèo lên cành cao, anh ta nhảy xuống
giậm thân đức Phật làm Ngài rơi xuống đật, tử thương. Nhà vua theo
dõi sự việc từ đầu, rất cảm kích trước hành động của chúa khỉ, cho
mang lên giường săn sóc và hỏi han sự tình. Trước khi viên tịch, đức
Phật nhân đó khuyến khích nhà vua phải luôn làm tròn phận sự bảo vệ
hạnh phúc cho người dân bần cùng cũng như nhà chiến sĩ hào kiệt. Nhà
vua truyền lệnh tổ chức lễ hỏa táng theo nghi thức một vị quốc vương
và cho xây một ngôi tháp để đặt thánh tích của đức Phật. Sau đó, nhà
vua sống và trị vì đúng với những lời dạy của Ngài (3).
Duyên nợ đức Phật với cây xoài không chỉ có ở đời
tiền thân. Sau nầy, trong sách vở còn thấy Ngài ở Jetavana (Kỳ
viên), lúc vua Prasenajit (Ba tư nặc) tổ chức một cuộc tranh luận
giữa Ngài và 6 vị chủ trì những giáo phái cùng thời. Thấy như lần
nầy, tài hùng biện của Ngài không đủ để thuyết phục các vị kia, và
mặc dầu ít thích dùng đến những quyền lực siêu nhiên, Ngài cho mọc
lên một cây xoài lộng lẫy đầy trái (theo các môn phái phương bắc,
Ngài xuất hiện trên một toà sen một nghìn cánh), ngồi xuống gốc cây
rồi vươn lên trên không, cho tỏa ra bốn phương nào lửa nào nước
trước khi biến hóa thân mình ra thiên hình vạn trạng, một hiện tượng
mà môn hình tượng học gọi là Phép lạ Sravasti (Xa vệ). Đằng khác,
vào thời vua Bimbisara (Tần bà sa la), vị lương y Jivaka (Kỳ bà)
được nhà vua cử chăm nom sức khỏe cho tăng đoàn, tặng đức Phật một
công trình xây dựng to lớn gọi là « vườn xoài » Jivakambavana. Sau
nữa, vào gần cuối đời, sử Phật kể Ngài ở lại trong một vườn xoài của
bà Ambapali ở vùng Vaishali (Tỳ xa li). Người kỷ nữ nầy sắc đẹp vô
song , thường đi lại với nhiều vị quốc vương. Truyền thuyết bảo bà
đã có một đứa con với vua Bimbisara, hoàng tử nầy đã sớm theo làm đồ
đệ đức Phật. Ngay bà Ambapali cũng xin thọ giáo theo Ngài. Ngay sau
khi Ngài nhận lời đến dùng cơm ở nhà bà, những hoàng thân Licchavi
của Hợp ban Vrji (Bạt kỳ) cũng muốn mời Ngài, Ngài nhất thiết từ
chối để giữ lời hứa với bà Ambapali, bất chấp quan niệm đẳng cấp rất
khắc khe thời ấy. Sau đó, bà cúng dường toàn cánh vườn xoài cho đức
Phật, trở nên một nơi được hậu thế ghi chép và viếng thăm. Ngài ở đó
ít lâu trước khi lên đường di Beluva Grama và mắc bệnh…
(14)
Theo tục truyền, khi đức Phật đang thiền định dưới
gốc cây bồ đề, Ngài bị ma quái lại phá phách, trong số nầy tiêu biểu
nhất là quỉ thần Mara (Ma vương), lợi dụng quyền lực đã đạt được để
thúc xúi sự ham muốn nhục dục và lòng quyền luyến từ đấy giam giữ
con người trong vòng sinh tử liên tiếp. Dùng miệng lưỡi mật ngọt
không dụ dỗ được đức Phật, đưa 3 con gái là Trsna (Khát Khao), Priti
(Hoan Hỉ) và Raga (Khoái Lạc) lại quyến dũ không thành, Mara tấn
công với cả một đạo quân quỷ sứ cũng thất bại và phải rút lui. Trước
những thách thức, đức Phật vẫn bình tâm trầm ngâm suy nghĩ về những
hoàn thiện tinh thần thực hiện trong những kiếp trước và tay điểm
xuống đất minh chứng đã vượt qua được quyến dũ của quỉ thần. Trên
tháp Sanci thì trong tranh tường thuật lại chủ đề nầy, ngoài đạo
quân quỉ sứ tán loạn, vợ chồng Mara và 3 cô con gái, những thiên
thần hân hoan trước thắng lợi của đức Phật, 2 chiếc ngôi ở giữa và
bên trái biểu tượng hành động của đức Phật và sự thừa nhận đức Phật
của thiên thần, có một cây cao cành lá sum sê tượng trưng cho sự
giác ngộ của đức Phật. Còn trong bức tượng mang tên « sự xung kích
của Mara (Ma vương) », trường phái Amaravati (thế kỷ 2-3) tìm ra ở
Uttah Pradesh, Chantarala, trên ngôi là một cây bồ đề tượng trưng
cho đức Phật. Nghệ thuật Amaravati thường hình dung đức Phật bằng
một cái ngôi với bên cạnh một cây có lá mang nét rõ hình trái tim
ngày nay là hình đồ trang sức các cô gái Ấn Độ đeo trên ngực : tác
dụng chiều sâu, phân trải lớp cảnh, đối xứng bố cục quanh tượng đức
Phật ở trung tâm,… tất cả những khả năng tạo hình chạm nổi đều được
tận dụng (13).
Vài tính chất dược lý và ứng dụng
Bên phần khoa học, trong bước đầu khảo cứu một số cây
cối trong đời sống của đức Phật, bên lề cấu tạo, chiết xuất, có thể
đưa ra một vài nhận xét về tính chất dược liệu và ứng dụng. Bồ đề
Ficus religiosa L., họ Dâu tằm Moraceae (5),
là cây đã được nói đến nhiều nhất. Vỏ cây đem chiết với ethanol
cống hiến nhiều nhựa, glycosid, chút ít alcaloid và có một hoạt động
làm liệt đối giao cảm (parasympatholytic activity) : thả duỗi ruột
chuột, heo, thỏ, chó ; đối kháng hiệu ứng co giật và ngăn chặn tác
dụng tim mạch của acetylcholin ; bảo vệ heo chống hen suyển do
acetylcholin và histamin gây ra (17) cho nên dã được dùng
làm thuốc chữa hen suyển (26) . Uống và tiêm tĩnh mạch
thì LD50 là 2,24 và 0,80 g/kg (17).
b-sitosterol-D-glucosid
chiết xuất từ bột khô vỏ đề tiêm tĩnh mạch vào thỏ 5,0 và 7,5 mg/kg
làm giảm hạ đường trong máu 23,2 và 33,86%. Trong hệ thống thần kinh
trung ương chuột, chất nầy gây kích thích, co giật và hủy bỏ tình
trạng suy thoái do reserpin gây ra ở độc lượng 40-400 mg/kg, LD50
là 62 mg/kg (18). Trong vỏ đề còn có vitamin K1
(22), đặc biệt hai chất bergapten và bergaptol có tác
dụng kháng vi sinh vật (23). Nhờ những thớ sợi trong
thân, cây đề có tính chất chống máu tăng lipid và có nhiều ảnh hưởng
lên không những lipid mà còn cả cholesterol, triglycerid,
phospholipid trong gan (21). Với 0,7-1,5% tannic acid, lá
đề là một thức ăn rất được dê ưa chuộng (19) tuy acid nầy
có phần độc cho nó thể hiện qua khám nghiệm ở tim, gan thận cũng như
ở da (20). Trong kỹ nghệ, cây đề được dùng trong mỹ phẩm
bảo vệ da (24) hay thuốc khử mùi (25) .
Sal hay sala Shorea robusta Gaertn.f., họ Dầu
Diphterocarpaceae, là một cây đã được thường dùng làm thuốc
venkungiliyam trong hệ thống Ayurvedic Ấn Độ (31). Bơ cây
được học hỏi rất nhiều (30), đã được dùng trong mỹ phẩm
(29) . Hột cây chứa đựng nhiều amin acid (27),
98g/kg protein là một thức ăn tốt cho gà con (28). Hột
cây còn cống hiến một chất nhờn rất công hiệu trong thuốc đạn hay
thuốc mỡ (34) . Dầu hột có tính chất diệt trùng, cho vào
thức ăn chữa bệnh thú vật (33). Gỗ cây đã được dùng làm
bột giấy (32). Thân cây đem chiết xuất thì có được một
chất khử nấm (35), đã được dùng trong thuốc thoa da
(36) .
Cây ashoka Saraca indica L., họ Điệp
Caesalpinoideae (8), cũng có một số tính chất
dược lý hay ho. Trộn lẫn với phần chiết các cây khác và sữa chúa,
cây có khả năng ức chế lipase, ức chế sự hấp thu lipid, được dùng
trị bệnh trứng cá, phòng ngừa béo phì (46), bảo vệ sức
khỏe, nhất là phụ nữ có mang (45), làm thuốc ngừa thai,
thử trên chuột hiệu nghiệm 33,3-85,7% (39) . Phần chiết
nước là một thuốc chống u khối, tăng gia 24% đời sống chuột bị ung
thư cổ trướng Ehrlich và giảm hạ 24% khối u S-180 (38).
Vỏ cây ức chế hoạt động trùng HIV-1 PR hơn 70% ở liều lượng 0,2
mg/mL (40) . Cũng như ở cây sala, vỏ cây đã được khảo cứu
về khả năng ngăn chặn cuộc cấu tạo sạn đái là những calcium
phosphat, oxalat hay carbonat (43). Chưá đựng conchiolin,
nó là thành phần thuốc làm dịu da (44). Vỏ sắc ức chế
hoạt đông enzym nhờ có tannin và những hợp chất phenolic (37).
Lectin chiết xuất từ hột cây dính kết hồng cầu nhiều loại máu người
và thú vật (49), là một chất điều biến trong hệ thống
miễn dịch động vật có vú (42).
Có đường, có mỡ, có protein, có sinh tố, lại có thêm
kim loại và khoáng chất đủ thứ trong vỏ trái, cây xoài Mangifera
indica L, họ Đào lộn hột (5) hay Xoài (8)
Anacardiaceae, lẽ tất nhiên được xem là một thức ăn bổ ích
cho người và cho gia súc. Gallic acid, quercetin ở phần chiết bằng
cồn từ lá có tính chất chống hoạt động độc trùng cúm (47).
Bên Cuba, vỏ cây được cho vào nước sắc dùng làm thức ăn, trong mỹ
phẩm hay y dược có tính chất phản oxy hóa, chống co thắt (55),
kích thích cuộc sản xuất bạch huyết bào, ngăn cản trùng Candida
albicans bám dính (49), được biến thành thuốc xức,
chứa polyphenol, có tính chất chống viêm (50). Mang tên
Vimang, chứa mangiferin, nó còn là một thuốc chống viêm, giảm đau,
có tác dụng ức chế hoạt động của đại thực bào, được dùng trong những
liệu pháp miễn dịch bệnh học (54). Chất mỡ chiết từ hạch
trái, với độ nhớt 44,84 P ở thể lỏng, với khả năng phóng thích mau
chóng và đầy đủ salicylic acid, được dùng làm thuốc đạn (48).
Trong thí nghiệm chống u khối với những tế bào Raji mang bộ gen độc
trùng Epstein Barr, vỏ trái có khả năng tiêu hủy những những
kháng nguyên (51). Nhựa cây có tính chất chống nấm, khử
trùng, có hiệu lực lên Escherichia coli, Bacillus cereus và
những loại Penicillum (53). Liệt kê vào bảng những
cây làm ẩm, xoài được chiết dùng trong mỹ phẩm bảo vệ da, tóc
(52,56) .
Những cây bồ đề ở Huế
Trong số những cây cối có dính líu đến đời sống đức
Phật, cây đa bồ đề có lẽ là quan trọng nhất. Thời tiến chiến, ở Huế,
cha Cadière (7) có ghi bốn cây : hai ở An Cựu, một ở đồn
lính và một ở cạnh Câu lạc bộ Thể thao. Cây ở gốc chợ An Cựu là nơi
lưu trú một con rắn hiền và thiêng, thường hiện ra với một mào lông,
không phá hại ai, trái lại ai đến cầu khấn thì được thỏa mãn : bệnh
tật, làm ăn,…Cây kia nằm trong chợ gần bờ sông và đường quốc lộ thì
thờ một Bà Hỏa. Nguyên gốc cuộc thờ cúng là người giữ đình tên Chút
cho phơi những cây tre ngâm nước có phần hôi vào cây, lập tức ngay
sau anh bị đau lưng, thầy thuốc, người nắn xương chẳng chữa được.
Tối hôm đó, anh nghe từ cây có lời cảnh cáo , ra ngoài nhìn thấy có
ánh sáng tỏa ngời, biết là có thần linh tọa, liền quỳ xin tạ tội và
hôm sau mua hương đèn, giấy vàng bạc dâng cúng. Lành bệnh, anh vội
xây am cúng thờ. Sau nầy Bà Hỏa còn chữa nhiều bệnh và giúp người
lại cầu khấn làm ăn khá giả. Cây bồ đề ở đồn lính cạnh Tòa Khâm thí
có bàn thờ Thủy sư của Hải quân và thường được gọi là Miếu Ông Voi
vì có 2 tượng voi ở trước cửa. Đặc biệt của miếu nầy là rước thờ
nhiều thần ở các nơi khác về cho nên lẫn lộn nhiều vị Khai hoàng,
Thần hoàng, Quan thánh, Thổ địa,… Cây bồ đề thứ tư nằm cạnh bể tắm
Câu lạc bộ Thể thao, trước bệnh viện. Cây rất cao, choáng cả lề
đường. Một bà già lo chuyện cúng lễ. Ở đây có 4 bàn thờ : hai quan
lớn Ông Đệ Nhất, Ông Đệ Nhị và các Bà, thật ra chỉ có một Bà được
gọi Đức Bà, Thánh Mẫu, Bà Mẫu hay Bà Chúa Ngọc, Thiên Y A Na Diễn
Ngọc Phi, thượng đẳng thần. Bên mặt, một bàn thờ nhỏ hơn, cũng tựa
vào thân cây, là để cúng các Cô. Bên trái là bàn thờ Thổ thần. Trên
cành cây to nhất còn có bàn thờ Bà Trung Thiên. Tục truyền Đức Bà
nguyên quán ở đèo Ba Dội ngoài Thanh Hóa, có tiếng linh thiêng từ
đời Gia Long. Người ta kể sự tích ông Đặng Huy Trứ, trên đường ra
Bắc nhậm chức, đi ngang trước am, thấy một đàn công liền khấn xin,
được Đức Bà biếu cho một con đậu lên cáng theo ông. Vua Thiệu Trị
nhận thấy Bà rất linh thiêng, một mặt ra lệnh cúng Bà khắp nơi, một
mặt rước Bà vào thờ ở Điện Hòn Chén.
Qua miêu tả trên đây của một vị linh mục ngoại quốc
đã từng sống lâu ở Huế, ta thấy lại tín ngưỡng của ông cha ta trước
đây không lâu và cũng nhận ra cây đa bồ đề không còn chỉ là cây thờ
Phật nữa trừ phi nhân dân đồng hóa Trời Phật với những vị Thánh Thần
khácXô thành mùa Phật Đản 2549
Tài liệu
(*) Trích Nam triều công nghiệp diễn chí của
Nguyễn Khoa Chiêm
Đại cương
1- J. Marshall, A. Fouscher, N.G. Majumdar, The
Monuments of Sanci, Calcuta-Dehli (1940) 199-200
2- A.K. Coomaraswamy, La sculpture de Bharhut,
Paris, Vanoest, Annales du Musée Guimet, Bibliothèque d’art,
Nouvelle Série, VI (1956) 65-6
3- G. Terral, Choix de Jâtaka, dịch từ Pâli
qua Pháp ngữ, Connaissance de l’Orient, Collection UNESCO, nxb
Gallimard, Paris (1958) 166-71
4- A. Bareau, En suivant Bouddha, nxb
Philippe Lebaud, Paris (1985) 50-3
5- Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt
Nam, nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, (1986) 280, 574
6- D.T. Devendra, Le Bouddhisme à Sri Lanka –
Expansion du Bouddhisme en Asie, trong bộ Présence di
Bouddhisme, giám đốc René Berval, nxb Gallimard, Paris (1987) 6
7- L. Cadière, Croyances et Pratiques religieuses
des Vietnamiens, EFEO, Paris (1992) 9-70
8- Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam, Montréal,
I, (2) (1991) 1087 ; II (1) (1992) 457
9- P. Harvey, Le Bouddhisme, dịch từ An
introduction to Bouddhism, nxb Seuil, Paris (1993) 37,43
10- Phạm Hữu Dung, Từ điển đối chiếu Phật ngữ,
tác giả xuất bản (1996)
11- Dictionnaire du Bouddhisme, trong bộ
Encyclopaedia Universalis, nxb Albin Michel, Paris (1999) 92-3
12- S. Gill, Les discours des portails : Procédés
de création dans la sculpture des portails du stupa majeur de Sanci,
Arts Asiatiques 55 (2000) 32-54
13- I. Charleux, E. Parlier, L’art bouddhique,
nxb Scala, Paris (2000) 36-7
14- V. Crombé, Le Bouddha, « Biographie »,
nxb Desclée Brouwer, Paris (2000) 136-7, 155-6
15- Nguyễn Tường Bách; Mùi hương trầm, nxb
Trẻ, tp Hồ Chí Minh (2001) 84-90 ;
Jacques Brosse, Mythologies des arbres, Petite Bibliothèque
Payot, nxb Payot et Rivages, Paris (2001) 64-79
16- Trần Đình Sơn, Hoàng Anh, Tản mạn Phú Xuân,
nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh (2001) 212-6
Ficus religiosa
17- C.L Malhotra, P.K. Das, N.S. Dhalla,
Parasympatholytic activity of Ficus religiosa, Ind. J. Med.
Res.(1913-1988) 48 (1960) 734-42
18- S. H. Ambike, M.R.R. Rao,
Studies on a phytosterolin from the
bark of Ficus religiosa,
Indian .J. Pharm.
29
(3) (1967) 91-4
19- S.K. Panda, N.C. Panda, B.K. Sahu,
Effect of tree-leaf tannin on dry
matter intake by goats,
Indian Vet. J.
60
(8) (1983) 660-4
20- K.C. Tripathy, B.K. Sahu, N.C. Panda, B.C. Nayak,
Toxicity of tannic
acid in goats,
Ind. J. Anim. Sci.54
(11) (1984) 1091-3
21- V. Agarwal, B.M. Chauhan,
A study on composition and
hypolipidemic effect of diatery fiber from some plant foods,
Plant Foods Hum. Nut.
38
(2) (1988) 189-97
22- K.D. Swami, G.S. Malik, N.P.S. Bisht,
Chemical investigation of
stem bark of Ficus religiosa and Prosopis spicigera,
J. Indian Chem. Soc.
66
(4) (1989) 288-9
23- K.D. Swami, N.P.S. Bisht,
Constituents of Ficus religiosa and
Ficus infectoria and their biological activity,
J. Indian. Chem. Soc.
73
(11) (1996) 631
24- M. Hayase,
Skin conditioners containing urea,
Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 11052428 (1998) 4 tr.
25- M. Konishi, R. Fujimoto,
Irritating odor masking for lower
alcohols cosmetics containing the irritating odor masking agents,
Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 10179967 (1999) 7 tr.
26- J.R. Patel, D.R. Patel,
Compositions for treatment of asthma
containing Ficus religiosa bark admixed with rice pudding,
US US 6149914
(2000) 6 tr.
Shorea robusta
27- S. Chand, S.N. Mahapatra,
Amino acid composition and analysis
of sal (Shorea robusta) and mahua (Madhuca latifolia) seed meal,
Oils Oilseeds J.
10-11
(26) (1974) 15-6
28- S.S. Zombade, G.N. Lodhi, J.S. Ichhponani,
The nutritional value of
salseed (Shorea robusta) meal for growing chicks,
British Poultry Sci.20
(5) (1979) 433-8
29- A. Zabotto, J. Griat,
Shorea robusta fats for aqueous or
nonaqueous cosmetic compositions,
Ger. Offen. DE 3242385 (1983) 22 tr.
30- S.Y. Reddy, J.V. Prabhakar,
Confectionery fats from sal (Shorea
robusta) fat and phulwara (Madhuca butyracea) butter,
Food Chem. 34
(2) (1989) 131-9
31- A. Saraswathy, E. Sasikala, K.K. Purushothaman,
Bergenin from Shorea
robusta Gaertn.,
Idian. Drugs
26
(10) (1989) 574-5
32- R. N. Shukla, S.P. Sharma, R.M. Srivastava,
On chemical
composition of Shorea robusta,
Vijnana Parishad Anusandhan Patrika
33
(4) (1990) 253-61
33- A.K. Banerjee, M. Jain,
Analysis of seed oils of Annona
squamosa, Tectona grandis and Shorea robusta,
Scit. Phys. Sci.
3 (2) (1991) 106-12
34- S. Chaudhuri, D.K. Bhattacharyya,
Utilization of sal (Shorea
robusta) fat in ointment and suppository base,
J. Oil Tech. Ass. India
26
(2) (1994) 43-7
35- P. Gupta, I. Dev,
Studies on the fungicidal of sal
(Shorea robusta) heartwood extractives,
J. Timber Dev. Ass. India
45
(1-2) (1999) 16-24
36- K. Yamaha, A. Mononobe, T. Kataka,
Skin external use agent,
Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 2000319159 (2000) 9 tr.
Saraca indica
37- V. Prasad, S.C. Gupta,
Inhibitory effect of bark and leaf
decoctions on the activity of pectic enzymes of Alternaria tenuis,
Indian J. Exp. Biol.
5
(3) (1967) 192-3
38- S. Mukerji, A.K. Banerjee, B.N. Mitra,
Plant antitumor agents. I.,
Indian J. Pharm.
32
(2) (1970) 48-9
39- D. Suganthan, G. Santhakumari,
Antifertility activity of an
indigenous preparation Ayush-47,
Indian J. Med.
Res.70
(3) (1979) 504-16
40- I.T. Kusumoto, et all.,
Screening of various plant extracts
used in Ayurvedic medicine for inhibitory effects on human
immunodefiency virus type (HIV-1) protease,
Phytother. Res.
9 (3) (1995) 180-4
41- S. Ray, B.P. Chatterjee,
Saracin : a lectin from Saraca indica
seed integument recognizes complex carbohydrates,
Phytochem.
40
(3) (1995) 643-9
42- S. Ghosh, et all.,
Saracin : a lectin from Saraca indica
seed integument induces apoptosis in human T-lymphocytes,
Arch. Biochem. Biophys.
371
(2) (1999) 163-8
43- T.V.R.K. Rao, M. Das,
In-vitro inhibition of mineralization
of urinany stone forming minerals by some medicinal plant extracts,
Asian J. Chem.
12 (3) (2000)
719-22
44- K. Shimomura, F. Hattori,
Skin compositions containing
conchiolin hydrlyzates and plant extracts,
Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 2001316239 (2001) 14 tr.
45- P. Pushpangadan, D. Prakash,
Herbal nutraceutical formulation for
females/expectant mothers and its process of preparation,
PCT Int. Appl. WO
2003017784 (2003)
46- K. Yoshizumi,
Plant extracts and royal jelly as lipase inhibitors,
Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 2003192605 (2003) 7 tr.
Mangifera indica
47- Z. Lu, H. Mao, M. He, S. Lu,
Studies on the chemical constituents
of the peels of mango (Mangifera indica) leaf,
Zhoncaoyao
13
(3) (1982) 3-6
48- C.A. Uzoho, C.N. Ejezie, S.I. Ofoefule,
Physico-chemical properties
of Mangifera indica seed fat used as suppository base,
Nigerian J. Nat. Prod. Med.
1
(1) (1997) 32-4
49- A.J. Selles, et all.,
New antioxidant product derived from
Mangifera indica L.
Am. Chem. Soc.
(Abstr. Pap.) 220th MEDI-155 (2000)
50- A. Boza, L. Arus, O. Garcia, A.J. Nunez-Selles,
Preformulation of
cream and ointment from dry extract of the bark of Mangifera indica
L., Inf. Tech.
11
(4) (2000) 125-31
51- A.M. Ali, et al.,
Anti-tumor promoting activity of some
Malaysian traditional vegetable (ulam) extracts by immunoblotting
analysis of Raji cells,
Nat. Prod. Sci.6
(3) (2000) 147-50
52- T. Kawai, K. Minoura, K. Wakamatsu,
Comestics, bath
preperations, and detergents containing plant extracts as
moisturizers,
Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 2001039823 (2001) 24 tr.
53-Central Food Technological Institut, Mysore,
India, Antimicrobial
activity of mango sap,
Eur. Food Res. Tech.
214
(4) (2002) 327-30
54- D. Garcia, R. Delgado, F.M. Ubeira, J. Leiro,
Modulation of rat
macrophge function by the Mangifera indica L. extracts Vimang and
mangiferin,
Int. Immunopharm.
26
(6) (2002) 797-806
55- A.J. Nunez-Selles, et all.,
Isolation and quantitative analysis
of phenolic antioxidants, free sugars, and polyols from mango
(Mangifera indica) stem bark aqueous decotion usd in Cuba as a
nutritional supplement,
J. Agric. Food Chem.
50
(4) (2002) 762-6
56- Y. Aikawa,
Skin external use medecine,
Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 2002322074 (2002) 5 tr.