Xin Cứu Ðộ Mẹ Ðất
Thích Trí Siêu
---o0o---
Sách này nói về sự liên quan chặt chẽ giữa
con người và trái đất, cả hai đồng sinh cộng tử. Con người không thể sống
riêng lẻ một mình nếu các loài khác bị tiêu diệt.
Lời nói đầu
Từ nay cho đến năm 2000, có
nhiều người đang chờ đợi một tai họa lớn lao khủng khiếp sẽ xảy đến trên
Trái Ðất, vì có nhiều sấm ký thuộc vài tôn giáo khác nhau đã nói đến cuộc
thay đời đổi thế. Như trong đạo Chúa, sách thánh kinh Khải Huyền
(Apocalypse) có nói đến ngày tận thế, tức cuộc chiến đấu cuối cùng giữa
hai mãnh lực thiện và ác, giữa Thiên Chúa và quỷ Satan. Trong cuộc chiến
này, nhân loại trên địa cầu sẽ bị tàn sát và tiêu diệt gần hết bởi chiến
tranh, thiên tai, bão lụt, hạn hán, cướp bóc v.v... Sấm Trạng Trình cũng
có nói đến việc chết bảy còn ba, chết hai còn một lúc đó thiên hạ mới được
thái bình. Một số tín đồ của Ðạo Cao Ðài, Hòa Hảo, theo sấm ký của Huỳnh
Giáo Chủ và các bậc tôn sư của họ, cũng đã lo chuẩn bị tu nhân tích đức,
làm lành lánh ác để đón chờ ngày tận thế và hội Long Hoa. Ngoài ra còn
nhiều đạo giáo khác cũng đang sửa soạn cho cuộc đổi đời, như phong trào
New-Age (Kỷ nguyên mới) của Mỹ, họ ca ngợi và rao giảng tình thương cùng
những sự tu tập mới lạ, hầu có thể tiếp nối thích ứng với kỷ nguyên mới,
tức kỷ nguyên Bảo Bình (Ere du Verseau) bắt đầu từ năm 2000 trở đi. Theo
họ, con người trong kỷ nguyên mới này sẽ có đời sống đạo đức, tâm linh rất
cao, không còn bám víu vào những chủ nghĩa duy vật, không còn đam mê vật
chất, biết sống an vui hạnh phúc trong tình thương chân thật. Ở cuối kỷ
nguyên Song Ngư (Ere du Poisson), con người mặc dù có tiến bộ về khoa học,
nhưng trình độ tâm linh còn nghèo nàn, ấu trỉ và thoái hóa ! Chỉ biết lấy,
nhận mà không biết cho và chia xẻ. Chỉ biết vơ vét làm giàu cho mình, còn
kẻ khác nghèo đói thì mặc kệ. Chỉ biết hưởng thụ khoái lạc vật chất nhất
thời mà không ý thức được hậu quả tai hại về sau.
Riêng trong đạo Phật của chúng
ta không thấy nói gì về sự biến chuyển của cuối thế kỷ 20. Thiết nghĩ
không cần phải có sấm ký của Phật hay Tổ để lại mới nhận ra được rằng quả
đất đang lâm nguy. Chỉ cần thấy nhân là có thể đoán biết quả sẽ ra sao?
Nhưng chúng ta đâu có để ý thực tại, còn mải mê tầm chương trích cú, dịch
kinh giảng luận, đi tìm chân lý trong kinh sách, trong khi đó kinh sách
không phải là chân lý mà chỉ là những ngón tay chỉ mặt trăng. Chân lý cần
được tìm thấy trong thực tại sống động, vậy mà chúng ta vẫn còn cố gắng
bám víu vào những hình thức cũ xa xưa. Chúng ta chỉ hạn cuộc Ðạo Phật của
mình trong việc xây chùa, đắp tượng, hay việc ăn chay, tụng kinh, niệm
Phật. Phải chăng vì thế mà Phật Giáo Việt Nam ở Hải Ngoại không hấp dẫn
thu hút và truyền bá được cho người Tây Phương?
Chúng ta vẫn thường nói những
câu như : Phật Pháp bất ly thế gian pháp, hay Phật tại thế gian bất ly thế
gian giác v.v... Như vậy chúng ta phải hành động ra sao?
Nếu tình trạng chính trị, kinh
tế, xã hội thoái hóa, Phật tử làm ăn thất nghiệp, hao hụt thì lấy tiền đâu
ra cúng chùa? Nếu ngày mai cả vùng tiểu bang California bị động đất mạnh
và sụp xuống biển thì mấy chục ngôi chùa sẽ dời đi đâu? Hay là chùa ai sụp
thì cứ sụp, chùa tôi đã có Phật độ lo chi !
Ðạo Phật là đạo tỉnh thức. Ðã
đến lúc chúng ta cần tỉnh thức lớn, không những chỉ tỉnh thức cuộc đời là
bể khổ mà cần tỉnh thức thêm rằng quả Ðất của chúng ta ở đang lâm nguy và
mong rằng tất cả Phật tử cùng nhau đóng góp vào việc cứu độ Trái Ðất.
Kundreul Ling, đầu Xuân 1993
Thích Trí Siêu
Mẹ
Ðất
Trong khoảng thập niên 60, khi
các phi thuyền gia rời trái đất, ngồi trong phi thuyền, họ đã có cơ hội
nhìn trở lại trái đất, chụp hình trái đất và họ đã cho chúng ta thấy rằng
trái đất là một thực thể sống động, một hành tinh xanh chứ không phải chỉ
toàn là đất đá ù lì khô cằn như ở Hỏa Tinh (Mars). Trên trái đất có nào là
biển cả, sông hồ, rừng xanh, đồng lúa, núi non, sa mạc, v.v... Khi nói đến
trái đất chúng ta cũng phải kể luôn cả vùng khí quyển bao quanh nó, vì nhờ
vùng khí quyển này mà sự sống trên trái đất mới có mặt, nếu không thì trái
đất này sẽ trở thành một hành tinh chết như mặt trăng vậy.
Thầy Nhất Hạnh, khi nói đến
trái đất đã nhiều lần gọi đó là Mẹ Ðất (Mother Earth), quả thật là một cái
nhìn bao la và biết ơn đối với trái đất. Ngoài việc dẫm đi trên mặt đất
hàng ngày, lái xe trên đường xá hoặc đào đất trồng cây, v.v... nếu nhìn kỹ
và xa hơn một chút, chúng ta sẽ thấy rằng trái đất chẳng khác gì một bà
Mẹ, vì bà Mẹ là người cho con sự sống và nuôi dưỡng con lớn khôn. Con ở
đây là tất cả loài sinh vật đang lúc nhúc bám vào Mẹ Ðất để mà sống, trong
đó có loài người chúng ta. Hiện nay Mẹ Ðất đang nuôi hơn 5 tỷ con người và
không biết bao nhiêu trăm ngàn tỷ các loài con khác (côn trùng, thú vật,
thủy tộc v.v...)
Tất cả sự vật trên trái đất đều
có sự sống, vì trái đất là một hành tinh sống (planète vivante). Không
những động vật như loài người, thú vật, côn trùng có sự sống mà các loài
thảo vật, thực vật cũng có sự sống của chúng. Một cây táo, nếu ta không
chăm phân tưới nước thì cây táo sẽ chết. Ngay cả đất cũng có sự sống, nếu
ta không cầy cấy, không gìn giữ mà lại phá hoại, rải bừa bãi những chất
hóa học sát trùng, thì đất đó lâu ngày sẽ chết, không thể trồng trọt gì
được.
Tất cả môi trường thiên nhiên
trên mặt đất đều góp phần vào việc tiếp nối sự sống, sự sống của muôn
loài. Vì thế môi trường thiên nhiên chính là Mẹ Ðất vậy.
Khi một em bé sơ sinh mở mắt
chào đời, khóc oa oa thì ô hay, mầu nhiệm thay, bên em đã có bà Mẹ ôm ấp
em vào lòng cho em bú. Khi loài người mở mắt chào đời trên trái đất này,
không biết từ thuở xa xôi nào, thì Mẹ Ðất cũng ôm ấp lấy, không vứt ra
ngoài vòng quỹ đạo rơi vào không gian vô tận. Mẹ Ðất cũng đã sửa soạn chu
đáo những gì cần thiết cho sự sống của chúng ta. Ðói thì có rừng cây, chỉ
việc leo lên hái quả mà ăn. Khát thì có sông, có suối, chỉ việc vốc nước
mà uống. Mệt thì chui vào hang đá mà ngủ.
Rừng cây, sông hồ, núi biển,
không ai bảo ai, không ai điều khiển ai mà vẫn làm việc hòa điệu với nhau
một cách kỳ diệu để bảo đảm sự sống cho con người. Có người nhân đây sẽ
bảo tất cả đều do Ông Trời làm ra và điều khiển. Nhưng ai đã thấy Ông Trời
ra sao? Ông ta mập hay gầy? Da trắng hay da đen? Ông Trời có hay không,
việc đó không quan trọng, vì khi đói chúng ta vẫn phải ăn, khát vẫn phải
uống. Có một điều mà chúng ta có thể quả quyết chắc chắn, đó là nếu không
có rừng cây, sông hồ, núi biển, không khí, mặt trời, v.v... thì tất cả mọi
loài sinh vật đều sẽ chết hết, trong đó có loài người chúng ta.
Con sinh ra mà không có Mẹ bú
mớm thì con sẽ chết. Con người sinh ra mà không có Mẹ Ðất nuôi dưỡng thì
con người cũng sẽ chết. Mẹ Ðất ở đây, chính là môi trường thiên nhiên cần
thiết cho sự sống.
Con người thường tự hào rằng
mình là giống vật khôn lớn hơn các loài khác, có trí khôn biết phải biết
trái, biết luân thường đạo lý, biết tiến bộ văn minh, biết điều khiển khai
thác thiên nhiên, biết thám hiểm không gian, biết đủ thứ khoa học kỹ nghệ,
không như các loài trâu, bò, heo, ngựa. Nhưng có một điều mà con người
không biết, đó là con người rất tham lam, độc ác, u mê. Cũng vì tham lam,
độc ác, u mê mà con người trở thành vong ân bội nghĩa. Hiện nay con người
đang tàn phá các loài khác và cũng tàn phá luôn cả Mẹ Ðất. Chúng ta sống
nhờ Mẹ Ðất, ăn uống mỗi mỗi đều rút tỉa từ Mẹ Ðất, vậy mà không biết ơn
lại đi phá hoại. Ôi ! Còn gì điên rồ, ngu xuẩn và vô ơn bạc nghĩa hơn? Nếu
Mẹ Ðất bị tàn hoại và chết thì thử hỏi chúng ta có thể tiếp tục sống được
không? Tiếp tục ăn chơi, hưởng thụ phung phí không?
Mẹ Ðất Ðang Bị Tàn Hoại
1/ Màng ozone bị thủng lỗ
Từ đầu kỷ nguyên kỹ nghệ tới nay, con người
đã chế tạo ra khoảng sáu triệu hợp tố hoá học, trong số đó có bảy chục
ngàn chất được dùng thường xuyên trong đời sống hàng ngày. Cứ mỗi năm trên
thị trường tiêu thụ lại xuất hiện khoảng hơn 1.000 chất hóa học mới. Tất
cả những chất nầy đều là những chất ngoại lai vì không phải từ Mẹ Ðất
thiên nhiên mà ra. Trong số những chất ngoại lai nầy có nhiều chất rất
độc, thí dụ như những chất sát trùng, sát cỏ DDT, CFC
(chlorafluorocarbones). Khi được xịt vào cây cỏ, một số thấm xưống đất,
một số bốc hơi lên vùng khí quyển. Hậu quả của nó ra sao, người ta chưa
xác định được, nhưng có một điều chắc chắn: những chất nầy là nguyên nhân
tạo ra những căn bịnh ung thư và quái thai. Những chất hóa học như CFC và
các chất khí gaz khi bốc lên không trung, có tác dụng phá mỏng màng ozone
của khí quyển. Vào khoảng các năm 80, các vệ tinh Hoa Kỳ đã phát giác ra
một lỗ hổng của màng ozone trên vùng khí quyển Nam Cực. Màng ozone là một
lớp khí bao bọc chung quanh và cách xa mặt đất khoảng từ 15 đến 35 cây số,
nơi mà ánh sáng mặt trời, khi chiếu đến trái đất, đụng phải các phân tử
ốc-xy (oxygène) 02, tạo ra phản ứng hoá học và biến các phân tử oxygène
nầy thành ozone (03).
Màng ozone nầy rất quan trọng
vì nó lọc và cản lại những quang tuyến ngắn UV-B (ultraviolet). Những
quang tuyến nầy nếu lọt qua khỏi vùng ozone thì có thể gây ra các bịnh ung
thư da, hại màng mắt và cơ kháng của con người. Tác dụng của nó cũng ảnh
hưởng tai hại đến cây cỏ, canh nông và các loài thủy tộc. Trong khi đó thì
các xưởng máy kỹ nghệ trên thế giới, nhất là ở Âu Mỹ vẫn tiếp tục nhả
những khí hoá học phế thải làm ô nhiễm không khí và phá mỏng màng ozone.
2/ Bầu khí quyển tăng nhiệt
So
sánh với hai hành tinh lân cận như Kim Tinh (vénus) và Hỏa Tinh (mars) thì
trái đất thật là lý tưởng và đặc biệt. Không nóng quá như ở Kim Tinh (450
độ C) cũng không lạnh quá như ở Hỏa Tinh (trừ 53 độ C). Nhiệt độ trung
bình trên mặt đất khoảng 15 độ C vừa đủ hợp cho sinh vật. Ðó cũng là nhờ
số lượng các khí phân chia đúng mức : 21% oxygène (dư"ng khí), 78% azote
(đạm khí) và 0,03% gaz carbonique (thán khí). Nếu chẳng may số dưỡng khí
giảm xuống còn 16% thì các loài động vật sẽ bị hụt hơi, ngợp thở, hoặc
ngược lại nếu nó tăng lên khoảng 25% thì một tiếng sấm nổ cũng đủ làm bốc
cháy các khu rừng vùng nhiệt đới. Nhiệt độ trái đất được giữ ôn hòa đó là
nhờ số lượng rất ít của khí carbonique. Chất khí nầy có công năng hấp thụ
sức nóng của mặt trời và giữ lại sức nóng của trái đất không cho tản mát
vào không gian. Ở Kim Tinh số lượng khí carbonique là 96%, cùng lúc lại
gần mặt trời hơn nên nhiệt độ của nó rất nóng. Như chúng ta đã thấy, nếu
tỷ lệ các chất khí trên được giữ quân bình thì sự sống trên trái đất sẽ êm
ả tiếp tục không có gì đáng nói. Nhưng khổ nỗi hiện nay các số lượng trên
đang bị đảo lộn, không phải do ông trời mà do chính con người làm đảo lộn
với sự khai thác và đốt cháy quá nhiều nhiên liệu và rừng núi.
Số lượng khí carbonique trên
trái đất hiện nay đã tăng thêm 25% kể từ giữa thế kỷ thứ 20 và nếu cứ theo
đà kỹ nghệ văn minh tiêu thụ nầy thì đến năm 2.050, nhiệt độ trái đất sẽ
tăng thêm từ 1,5 đến 4,5 độ C.
Việc trái đất có nóng hơn 1 hay
2 độ C đối với chúng ta hình như không có gì đáng lo vì chúng ta đâu có ý
thức được ảnh hưởng tai hại của nó trên toàn bộ sinh môi. Nếu bầu khí
quyển tăng nhiệt thì sẽ ảnh hưởng tới mực nước biển. Các tảng băng tuyết ở
hai vùng Nam Cực và Bắc Cực sẽ chảy dần và như thế mực nước biển sẽ dâng
cao lên khoảng từ 7 đến 165 phân tây (cm). Nước dâng cao thì sẽ gây lụt
lội, bão tố, thiệt hại mùa màng, nhất là ở các vùng duyên hải hoặc các
vùng thấp gần mực sông như sông Gange (Hằng), sông Nil và các bán đảo
Maldives, v.v... Ngay cả các thành phố lớn như Luân Ðôn, Nữu Ước, Vọng Các
(BangKok) cũng khó tránh khỏi thiên tai. Trong khi ở các vùng duyên hải bị
bão lụt thì ở vùng nhiệt đới đã nóng lại nóng thêm và từ đó gây ra hạn
hán, cây cỏ chết khô.
Bão lụt, thiên tai, hạn hán mùa
màng cây cỏ thiệt hại, lúc đó dù có nhiều tiền đi nữa cũng không tìm đâu
ra thức ăn để mà mua.
3/ Rừng cây bị đốn phá
Rừng cây bị đốn phá thì liên
quan gì đến chúng ta?
Phi châu đã mất gần phân nửa số
rừng xanh đã có trước đây, Mỹ châu đã mất một phần ba. Hiện tại Á châu
cũng đang bắt chước các nước văn minh Âu Tây mà đốn phá rừng núi.
Ai cũng biết con người phải hít
thở thì mới sống được. Hít dưỡng khí (oxygène) và thở ra thán khí (gaz
carbonique). Trong khi đó thì cây cỏ cũng hít thở để sống, nhưng lạ lùng
và may mắn thay chúng không dành lấy dưỡng khí của chúng ta mà ngược lại
chúng hít thán khí và thở ra dưỡng khí. Cây cỏ hít thở cùng với chúng ta
và cho chúng ta, và như vậy tât cả những rừng cây trên trái đất chẳng khác
gì những lá phổi thiên nhiên hay là những máy điều hòa không khí khổng lồ.
Có người bảo nếu không chặt cây
đốn rừng thì lấy đâu ra củi để sưởi, lấy gỗ làm nhà. Không ai cấm chúng ta
chặt cây đốn rừng cả, vấn đề được nêu ra ở đây là rừng cây (sản phẩm của
mấy ngàn năm) đang bị đốn phá với tốc độ quá mức tưởng tượng. Xưa kia khi
cần củi để đốt hay gỗ làm nhà thì người tiều phu vác búa vác rìu vào rừng
chặt cây đốn củi, nhưng không vì thế mà rừng cây bị tiêu diệt. Ngày nay
với máy móc tối tân, chỉ trong chốc lát người ta có thể đốn hàng ngàn cây
rừng. Ðốn thì cứ đốn, nhưng phải để cho cây cối có thì giờ mọc lại chứ?
Không ! Ðàng này con người ỷ vào máy móc mặc tình ra tay đốn cây không
biết ngừng. Công trình xây dựng ngàn đời, chỉ một phút chốc tan hoang.
Nếu trong vườn ta có nuôi 10
con gà và mỗi ngày ta quyết ăn một con thì chỉ sau 10 ngày là ta sẽ không
còn con nào để mà ăn nữa. "Ăn tham thì chóng hết, ăn chậm thì dài lâu".
Nếu ta khôn khéo, biết để cho gà có thì giờ sinh con đẻ trứng, gà con lớn
thành gà mẹ thì chắc chắn sau 10 ngày ta vẫn còn gà để ăn. Ðối với rừng
cây cũng vậy, nếu chúng ta ra tay đốn quá mức, rừng cây sẽ không có thì
giờ mọc trở lại và như vậy là chúng ta đã vô tình tàn phá những lá phổi
thiên nhiên, những máy điều hòa không khí. Phổi hư, máy hỏng thì con người
có còn tiếp tục sống được không?
Ngoài việc điều hòa không khí,
rừng cây còn là một môi sinh quan trọng và tối ư cần thiết cho tất cả mọi
loài sinh vật. Rừng cây vừa là nơi trú ẩn vừa là kho thức ăn của thú rừng,
của chim chóc. Khi mưa xuống, rừng cây hút nước và giữ đất không để cho
nước cuốn trôi đi, tất cả những sinh tố của cây cỏ trở lại hòa lẫn với đất
làm giàu khoáng chất. Với đà tiêu thụ rừng cây hiện nay, mặt đất trở nên
sơ xác vì bao nhiêu khoáng chất, sinh tố đều bị mưa gió cuốn đi hết. Không
còn cây che nắng mùa hè, không còn cây để giữ nước mùa mưa, hậu quả của nó
chính là những trận lụt lội và hạn hán thường xuyên xảy ra trên thế giới.
Ðó là chưa kể có nhiều nơi như ở Nam Mỹ châu vùng Amazonie, họ không đốn
rừng lấy gỗ mà lại đốt rừng cho cháy mau hơn để lấy đất trồng cỏ nuôi bò
xuất cảng. Sự kiện này lại ảnh hưởng lớn đến nhiệt độ của khí quyển vì khi
bị đốt cháy thì rừng cây tiết ra không biết bao nhiêu mà kể những chất khí
carbonique. Chất khí này là một trong những chất làm tăng nhiệt khí quyển.
Qua sự đốt rừng, người ta ước chừng mỗi năm riêng ở xứ Brésil (Ba Tây) đã
tống lên bầu khí quyển khoảng 400 triệu tấn khí carbonique.
Tham gia vào việc tiêu diệt
rừng cây không phải chỉ có sự đốt rừng hay đốn rừng mà còn có một yếu tố
khác nữa, đó là những trận mưa á-xít (pluie acide). Những trận mưa này rơi
xuống rừng làm cho cây cối tàn úa, mất lá, những rễ cây teo lại, nhỏ dần
và tan rã. Sự kiện này đã được ghi nhận xảy ra ở các nước vùng Tây Âu
(Anh, Ðức, Thụy Ðiển ... ) và ở vùng Bắc Mỹ châu (Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại).
Nguyên nhân của nó không gì xa lạ, chính là sự gia tăng tiêu thụ xe hơi và
máy bay, sự sản xuất hàng ngàn chất liệu hóa học mỗi năm, sự kỹ nghệ hóa
canh nông, sự khai thác quá mức các mỏ nhiên liệu, tất cả đã họp nhau lại
mà phá hoại thiên nhiên.
Trên đây chỉ là khái lược sơ về
ảnh hưởng của sự tiêu diệt rừng cây. Chúng ta không cần phải đi sâu vào
chi tiết làm gì, chỉ cần nhớ rằng rừng cây là nguồn sống. Nếu cha mẹ là
người đã sinh ra ta thì rừng cây chính là người vú em đã nuôi ta lớn. Rừng
cây điều hòa không khí cho chúng ta thở, lọc nước cho chúng ta uống, tạo
đất cho chúng ta trồng trọt. Tiêu diệt rừng cây tức là tiêu diệt nguồn
sống.
Riêng ở Việt Nam hiện nay rừng
cây cũng đang bị đốn phá trầm trọng. Hồi tháng 2 năm 1992 đương kim Thủ
Tướng Võ Văn Kiệt đã ký bán và cho phép hãng thầu Ðài Loan Franck
International Investment Corp. san bằng 350 mẫu rừng trong số 535 mẫu ở
Thủ Ðức để làm một bãi chơi Golf có tầm vóc quốc tế với đầy đủ thú tiêu
khiển và du lịch. Trong khi đó thì mức độ nhiễm ô bầu khí quyển trung tâm
và ngoại ô Sàigòn đã tăng gần đến mức của tỉnh Bangkok. Theo các nhà sinh
môi Việt Nam thì 535 mẫu rừng ở Thủ Ðức là một trong những lá phổi nhỏ còn
sót lại của tỉnh Sàigòn, và như thế sự san bằng các mẫu rừng trên sẽ ảnh
hưởng tai hại không nhỏ đến sự thăng bằng sinh môi của tỉnh. Hơn nữa, ai
là người sẽ giao du các sân golf và những trò tiêu khiển Âu Mỹ nếu không
là du khách ngoại quốc và những cán bộ cao cấp?
Ở Ðà Lạt, hồi tháng 9 năm 92
cũng một hãng thầu Ðài Loan đã mua và đang xây một sân golf ngay bên cạnh
hồ Xuân Hương, một thắng cảnh của đất nước.
Theo thống kê của những chuyên
gia thì từ năm 1976, chính phủ Cộng Sản Việt Nam đã tiêu diệt khoảng
200.000 mẫu rừng hàng năm để khai thác hoặc xuất cảng gỗ. Năm 1943 ở Việt
Nam có khoảng 14 triệu mẫu rừng, năm 1975 còn 9,5 triệu và đến năm 1991
chỉ còn 6,4 triệu. Cứ theo đà này thì trong 10 hay 15 năm nữa rừng cây
Việt Nam sẽ chẳng còn là bao.
Hậu quả tức thời của sự đốn phá
trên là các dân thiểu số sơn cư miền Bắc và miền Trung như người Thái,
Nùng, Mường, Chàm sống rất khổ sở thiếu ăn từ 3 đến 9 tháng một năm. Bệnh
bướu cổ và bệnh dịch hoành hành, không có nhà thương, bác sĩ, trường học.
(Trích Le Monde Diplomatique, tr. 24).
4) Ðất mầu thành đất muối
Cuối thập niên 60, hai kỹ sư
của Bộ Thủy Lợi Nga Sô đã lập một dự án khổng lồ : đảo ngược dòng hai con
sông lớn vùng Trung Á, sông Amou-Daria và sông Syr-Daria, để dẫn nước về
vùng đồng bằng khô cằn của hai tỉnh Ouzbekistan và Turmenistan. Mục đích
của dự án này là muốn biến 10 triệu mẫu đất, trước đây là đồng cỏ dại,
thành những cánh đồng trồng trọt.
Một năm sau, kết quả của dự án
dẫn thủy nhập điền trên là hai phần ba vùng đất được tưới nước đã biến
thành những cánh đồng muối không thể trồng trọt gì được. Lý do là sự dẫn
nước vĩ đại đã làm trồi lên mặt đất những chất muối trước kia nằm dưới
lòng đất. Số đất "sống sót" còn lại được khai thác triệt để quá mức đến
nỗi nếu không dùng phân bón hóa học thì không thể gặt hái gì được và cùng
lúc để bảo vệ số mùa màng hiếm hoi, người ta đã phải xịt hàng ngàn tấn
thuốc sát trùng khiến nước uống ở các vùng nầy đều bị nhiễm độc. Tình
trạng sức khỏe của dân chúng địa phương cũng bị ảnh hưởng rất lớn. Một trẻ
em trên mười chết lúc còn bé và các trường hợp ung thư cổ họng, duyến giáp
trạng (thyroide) cùng các bệnh đau bao tử, cuống phổi đang đà gia tăng.
Vì thiếu nhận thức hoặc bất
chấp ảnh hưởng sinh môi, các nhà công doanh Sô Viết đã tàn hoại đất đai và
phá sản dân cư ở vùng Trung Nga Á. Khốn khổ thay, trên thế giới hiện nay
có rất nhiều quốc gia cũng đang tái diễn lại cái gương phá sản này.
Làm canh nông, việc dẫn nước về
tưới ruộng là đương nhiên, nhưng sau đó phải biết cho đất "nghỉ ngơi" một
thời gian để nước mưa có đủ thì giờ cuốn trôi đi số lượng muối trên đất.
Ngày nay với tâm lý tiêu thụ, con người muốn gặt hái cho nhiều, cho mau
nên dẫn nước cho cố để rồi sau một thời gian ngắn, ruộng đất mầu mỡ trở
thành đất chết. Ở Trung Hoa từ năm 1971 đến năm 1985 đã có hơn 900.000 mẫu
đất trở thành đất chết vì lý do trên. Dù máy móc, kỹ thuật có tối tân cách
mấy đi nữa, nếu không biết để cho đất nghỉ ngơi thì khó tránh khỏi đất mầu
thành đất muối.
5) Sông biển thành cống rãnh
Trung bình mỗi năm có hơn 400.000 kílô mét khối nước bốc hơi từ biển lên
không trung, sau đó biến thành mưa hoặc tuyết rơi trở xuống, 10% số nước
này thấm xuống lòng đất, 90% còn lại chảy về biển cả dưới nhiều hình thức
: sông ngòi, lạch, thác, suối v.v... Nhà triết gia cổ Hy Lạp Héraclite có
nói : "Một người không thể tắm hai lần trong một giòng sông". Ðại ý câu
này nói lên tính chất hằng chuyển, vô thường của các giòng nước. Nhờ tính
chất hằng chuyển này mà các sông ngòi không bị ứ đọng, sình thối, các chất
phế thải ô uế của con người vứt xuống sông đều được cuốn trôi đi và nhờ đó
các loại thủy tộc, cá, tôm v.v... mới sinh sống được. Không những cá, tôm
sống nhờ nước mà nay cả con người cũng phải nhờ nước mới sống được. Người
ta có thể nhịn ăn một tháng nhưng không thể nhịn uống quá một tuần. Trong
cơ thể con người có hơn 70 % là nước. Do đó nước là nguồn sống, không có
nước là chết. Nước chẳng khác gì sữa của Mẹ Ðất. Từ thuở xa xưa con người
đã biết tụ họp nhau thành các bộ lạc sống dọc theo hai bờ sông và ngay cả
hiện tại các thành phố lớn cũng được dựng trên hai bờ sông : Paris,
London, Roma, New York, Bangkok ...
Ngoài việc lấy nước để uống,
giặt dũ, tắm rửa, v.v... con người cũng biết tống lại cho giòng nước những
chất phế thải ô uế của mình. Khi còn sống thô sơ, giản dị, tiêu thụ ít thì
sự phế thải cũng ít, nhờ đó sông có thì giờ cuốn trôi đi những chất ô uế
hoặc những chất này có thì giờ tan rã. Nhưng nay với kỹ nghệ khuếch
trương, các tỉnh và thành phố lớn dần, sự phế thải của tiêu thụ cũng theo
đó mà gia tăng.
Ngoài sự phế thải phân tiểu,
rác rến của con người, lại có thêm sự phế thải các chất kim khí, độc tố
hóa học của các xưởng kỹ nghệ, hoặc các chất sát trùng từ những cánh đồng
do mưa dẫn về. Do đó các giòng nước, sông lạch trở thành ô nhiễm chẳng
khác gì cống rãnh, đến nỗi cá tôm không còn oxygène để sống. Không những
cá tôm chết mà con người cũng chết. Gieo nhân nào thì gặt quả nấy. Chế tạo
và gieo vào lòng đất phân bón hóa học, thuốc sát tùng, tống vào giòng nước
những thứ ô nhiễm, người lãnh đủ hậu quả không ai khác hơn là con người,
vì những chất trên đều là những chất gây ra các chứng bệnh, nhất là bệnh
ung thư.
Tệ hại nhất là ngày nay các
nước văn minh Âu Mỹ tuy ý thức được vấn đề ô nhiễm môi sinh, thay vì tìm
cách chữa trị tận gốc, sửa đổi mức sống tiêu thụ, lại tìm cách tống những
phế thải nhiễm ô của mình đến các nước nghèo chậm tiến ở Phi châu hoặc Á
châu. Người ta tính mỗi năm có đến khoảng 20 triệu tấn phế thải kỹ nghệ Âu
Mỹ được chở đến Á Phi.
Cá tôm ở sông chết, cá tôm ở
biển cũng chết. Trên quả địa cầu, 7 phần 10 là biển cả, do đó người ta vẫn
thường nghĩ rằng biển là kho tàng cá tôm vô tận và có thể dư sức hấp thụ
những phế thải : "cứ vứt hết ra biển rồi biển sẽ đem ra khơi hoặc đem đi
chỗ khác không có hại". Nhưng trên thực tế thì không hẳn như vậy, các
luồng sóng biển tuy có cuốn đi những phế thải, nhưng không phải đem ra
khơi mà lại đẩy vào các vịnh biển lân cận.
Làm ô nhiễm biển nhiều nhất đó
là dầu hỏa. Các tàu chuyên chở dầu hỏa thường bị vỡ ống và làm chảy hết số
dầu hỏa ra biển. Ngoài ra, đặc biệt nước Anh và Ái Nhĩ Lan vẫn tiếp tục,
mặc dù quy ước quốc tế đã cấm, chở vứt ra biển những phế thải dầu hỏa.
Hiện nay tất cả bờ biển Phi châu, Ðông Nam Á châu, Bắc Âu châu, Bắc Mỹ
châu và Ðại Tây Dương đều bị ô nhiễm dầu hỏa. Các loại thủy tộc, cá tôm,
chim hải âu, v.v... đều chết vô số kể. Cá tôm chết thì dân chài lưới thất
nghiệp. Buồn cười hơn nữa, các nhà ngư nghiệp như ở Anh quốc lại cho vay
và khuyến khích ngư dân chế tạo hoặc mua các tàu đánh cá tối tân hơn, to
lớn hơn để đánh được nhiều cá hơn. Trong khi đó thì cá chết như rạ, chài
lưới không được bao nhiêu, tiền vay lời vẫn mặc tình gia tăng, đã thất
nghiệp lại thêm nợ nần chồng chất. Thật đúng là vòng lẩn quẩn.
Biển không tha mà đảo cũng
không chừa. Các hải đảo nhỏ cũng được con người chú ý tới khai thác tối
đa. Khai thác trong chiều hướng ô nhiễm bằng cách biến những hòn đảo xinh
đẹp vùng Thái Bình Dương thành những bãi thí nghiệm bom nguyên tử.
Mẹ Ðất bệnh thì chúng sinh bệnh
1/ Tỵ nạn thiên nhiên
Nhân danh kỹ nghệ văn minh tiến
bộ, con người đã và đang tiếp tục tàn phá môi trường thiên nhiên : rừng
cây, đất mầu, sông biển, không khí v.v... khiến cho dân cư ở đây, vì lâm
vào tình trạng thất nghiệp đói kém, phải đi tỵ nạn về tỉnh hoặc thành phố
với hy vọng kiếm được sinh nhai.
Trước đây 40 năm, dân số ở các
thành thị trên thế giới có khoảng 600 triệu, ngày nay số đó đã lên tới 2
tỷ. Ðâu phải ai về tỉnh hoặc sống ở tỉnh cũng dư giả hoặc dễ sống hết đâu.
Dân số càng đông thì tổ chức xã hội càng khó và phức tạp. Khổ nhất là cho
các nước chậm tiến. Hàng triệu người sống chui rúc trong các chung cư bần
dân, những cư xá lụp xụp. Nhà làm bằng mái tôn rỉ cũ xiêu vẹo, cửa sổ vá
víu bằng bao ny lông hoặc giấy các tông, nước uống, nước rửa pha chảy lẫn
lộn, trẻ con thiếu ăn, bụng phình trướng, quanh năm suốt tháng sống với
tiếng ồn, mùi xú uế, hơi khói, chấy rận. Ðó là số phận của những người tỵ
nạn thiên nhiên.
2/ Xã hội nô lệ hóa
Thông thường người ta đánh giá
lịch sử của một dân tộc qua tiến trình văn minh. Từ lúc lên rừng hái quả,
săn bắn cho đến canh nông trồng trọt, từ xây cất thành phố cho đến chế tạo
phi thuyền. Người ta tin tưởng vào khoa học, vì nhờ khoa học mà các nước
Âu Mỹ trở nên tiến bộ và giàu có nhất trên thế giới. Các nước Á Phi rất mơ
được như vậy, nhưng họ đâu có hay rằng giấc mơ kia là đầu mối của một cơn
ác mộng. Các nước Âu Mỹ hiện nay cũng lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh
tế trầm trọng, nạn thất nghiệp lan tràn, gia tăng. Ngay cả Hoa Kỳ, một
quốc gia được xem là giàu có nhất thế giới, mỗi năm ngân quỷ quốc gia cũng
thiếu hụt cả chục tỷ mỹ kim.
Khoa học thường đi đôi với duy
vật. Ngày nay người ta đánh giá sự thành công của con người qua những tiêu
chuẩn như : lương bổng của anh bao nhiêu? Nhà anh ở khu nào? Xe hơi của
anh hiệu gì, mấy mã lực? Anh đi nghỉ hè ở đâu? v.v... Con người chỉ biết
có tiền và làm sao cho có được nhiều tiền càng tốt. Nhiều tiền để làm gì
chứ? - Ðể tiêu thụ ! Chính vì tâm lý tiêu thụ này mà vật giá cứ tiếp tục
leo thang và nạn lạm phát không thể ngưng được. Tệ hại hơn nữa, ở Âu Mỹ có
mốt bán chịu (vente à crédit), như vậy lại càng kích thích tâm lý tiêu
thụ. Dân chúng không có tiền mà cứ tha hồ mua sắm. Mua trước rồi sẽ trả
sau. Không có xứ nào mà dân chúng thiếu nợ nhiều như ở Âu Mỹ. Nợ nhiều thì
phải nai lưng ra làm việc để trả nợ. Ða số đến chết vẫn chưa trả hết nợ.
Tưởng mình tự do, tự do mua sắm, tự do xài sang, tự do tiêu thụ, nhưng có
ai ngờ đâu là mình đang làm nô lệ cho vật chất. Tiêu thụ nhiều thì phải
sản xuất nhiều, muốn sản xuất nhiều thì phải khai thác nhiều, khai thác
không nương tay, không kiêng nể, không nghỉ gì đến thế hệ con cháu sau
này. Làm như xài hết quả đất này thì chúng ta còn có quả đất xơ-cua
(secours) thứ hai vậy.
3/ Không khí, nước và thức ăn ô
nhiễm.
Hãy thở đi bạn, chúng ta là
sinh vật mà ! Sinh vật nào mà chả hít thở. Cây cỏ kia còn phải hít thở nữa
huống chi là con người. Hít thở là sự sống và cũng là một niềm tự do.
Nhưng niềm tự do đó đang bị tước đoạt. Hít thở sao cho nổi khi không khí
chỉ toàn là khói bụi, xăng nhớt?
Một bản thống kê năm 1989 cho
biết, ở Hoa Kỳ mỗi năm có khoảng một triệu tấn độc tố hóa học được tống
khứ lên bầu khí quyển từ các xưởng kỹ nghệ. Con số này phải được nhân lên
gấp ba nếu ta kể luôn cả khói xe hơi, thuốc sát trùng, phế thải kỹ nghệ
trong nước bốc hơi lên.
Sống ở tỉnh hay thành phố mà
muốn hít thở được một chút không khí trong lành thật không phải là chuyện
dễ. Ra đường thì khói xe hơi, khói kỹ nghệ, vào sở làm thì khói thuốc lá,
về nhà thì không khí bế tắc. Do đó mỗi cuối tuần, rất nhiều người tìm cách
mau mau thoát khỏi cái tỉnh "phòng ngạt" để về miền quê may ra hít thở
được một chút không khí trong lành.
Tìm đâu ra một chút nước sạch
để uống?
Ở các xứ chậm tiến, nhất là
vùng thành thị, viêc vứt đổ rác rến phân tiểu trong giòng nước, sông hồ là
một chuyện rất thường không có gì là lạ cả. Vi trùng, vi khuẩn, sán lải
đua nhau sinh nở trong các ống cống, ống dẫn nước. Xứ đã nghèo, dân chúng
lại thất học không biết giữ gìn vệ sinh, tìm được một chút nước sạch để
uống không phải chuyện dễ. Ở các xứ văn minh, nước không bị nhiễm ô bởi
phân tiểu, rác rến nhưng bởi sự phế thải hóa học. Về nước uống, 20 triệu
dân Âu châu tùy thuộc về sông Rhin, nhưng con sông này đã bị nhiễm ô trầm
trọng. Biết được nước bị nhiễm ô, thay vì tìm cách chữa trị tận gốc, người
ta lại lợi dụng luôn tình thế, chế bán các loại nước suối (eau minérale)
đủ thứ nhãn hiệu. Bán cho những dân ý thức được sự ô nhiễm của nước và chỉ
muốn uống nước trong lành. Ở trên trái đất này có 7 phần 10 là nước, nước
có rất nhiều, có khắp nơi, ngay cả trong nhà chỉ cần vói tay vặn một cái
là có nước chảy. Vậy mà không uống được, lại phải ra chợ mua nước suối
uống. Tệ hơn nữa, khi uống nước suối người ta lại càng hãnh diện vì nó
biểu lộ sự giàu sang, đài các trưởng giả. Chúng ta cần nhận thức rằng việc
tiêu thụ nước suối chính là hậu quả của sự tàn phá và nhiễm ô môi sinh.
Ngay cả việc chế bán nước suối cũng vậy, phải khai quật các nguồn suối,
chế tạo bình ny lông, vô chai, chất lên xe vận tải đi hàng ngàn cây số đến
trưng bán ở các siêu thị. Tất cả cái đó đều góp tăng thêm sự nhiễm ô.
Về thức ăn, bộ canh nông Anh
quốc đã phải công nhận rằng tất cả thức ăn bày bán trên thị trường, không
có thứ nào mà không bị nhiễm thuốc sát trùng, không nhiều thì ít. Ðâu phải
chỉ nhiễm có thuốc sát trùng mà thôi, các thức ăn mà chúng ta dùng hàng
ngày còn bị nhiễm rất nhiều độc tố hóa học khác, nhất là các chất kích
thích tố (hormones) và trụ sinh (antibiotiques). Các súc vật như gà, vịt,
heo, bò ngày nay được nuôi dưỡng những chất trên để da thịt mập mạp, nặng
ký để bán.
Thức ăn không những bị ô nhiễm
mà lại còn khan hiếm nữa. Là người Việt, may mắn sống ở hải ngoại, vật
chất dư giả, chúng ta ít có khi nào để ý tới sự khan hiếm của thức ăn trên
thế giới, nhất là ở các xứ chậm tiến Á Phi, mỗi năm có đến hàng triệu trẻ
em chết đói. Chúng ta càng ăn sung mặc sướng, hưởng thụ tha hồ bao nhiêu
thì dân ở các xứ này càng chết đói bấy nhiêu.
Nguyên nhân Mẹ Ðất bệnh
1/ Sự u mê, tham lam, ích kỷ
Tàn hoại Mẹ Ðất, phá sản và nhiễm ô môi sinh
không ai khác hơn là con người. Vi u mê, tham lam, ích kỷ nên con người đã
lợi dụng trí khôn của mình cùng với những khám phá khoa học để tàn phá môi
sinh, và cùng lúc xây đắp đời sống hưởng thụ của mình trên mồ hôi nước mắt
của kẻ khác.
Tất cả sự vật trên đời này đều
phải nương nhau mà có, cái này có vì cái kia có. Sự sống của con người có
mặt vì muôn ngàn sự sống khác có mặt, sự sống của đất đá, của cỏ cây, sông
biển, núi rừng, v.v... Tất cả đều góp phần vào sự sống của con người. Con
người không thể sống riêng rẻ một mình nếu tất cả các loài khác bị tiêu
diệt. Sự sống là một toàn thể. Ðây là tính cách duyên khởi của vạn hữu và
cũng là lý "trùng trùng duyên khởi" của kinh Hoa Nghiêm. Vì u mê, không
biết được điều này nên con người đã thản nhiên ra tay tước đoạt sự sống
của mọi loài, cho rằng đó là những thứ được ông Trời hay Tạo Hóa sinh ra
cho mình hưởng thụ. Hưởng thụ cho riêng mình TA chưa đủ, chúng ta còn muốn
hưởng thụ luôn cho cả vợ Ta, con Ta, gia đình Ta, xã hội Ta, quốc gia Ta.
Vì muốn hưởng thụ cho tất cả những cái liên quan đến Ta và của Ta, nên
chúng ta trở thành tham lam, ích kỷ. Có một muốn mười, có mười muốn trăm.
Muốn nhiều thì tìm ở đâu ra? Phải moi nơi Mẹ Ðất, khai quật các mỏ nguyên
liệu. Nhưng nguyên liệu thiên nhiên thì có hạn mà lòng tham của con người
thì không đáy. Từ đó sinh ra tranh dành và bóc lột lẫn nhau, mạnh hiếp
yếu, giàu lấn nghèo.
Không hiểu các nước chậm tiến Á
Phi làm gì mà hơn nửa thế kỷ nay vẫn mãi nghèo đói không ngóc đầu lên
được? Chẳng lẽ họ không biết bắt chước Tây phương phát triển kỹ nghệ, canh
nông, tăng gia sản xuất hay sao? Họ biết chứ sao không? Chính vì muốn bắt
chước nên họ đã mua sắm rất nhiều máy móc tây phương, mua chịu (à crédit).
Vì mua chịu hay nói một cách khác là mắc nợ nên phải cố gắng xuất cảng
nhiều. Hàng năm số lương thực xuất cảng nhiều hơn số nhập cảng và được
viện trợ bởi Liên Hiệp Quốc. Vào năm 1973, 36 nước nghèo đói nhất thế giới
vẫn phải xuất cảng lương thực đến Hoa Kỳ. Hơn thế nữa, các thức ăn được
xuất cảng thường là các thứ hảo hạng, có nhiều chất dinh dưỡng hơn các
thức ăn nhập cảng hay được viện trợ. Dân nghèo phải cong lưng ra cầy cấy,
đổ mồ hôi sôi nước mắt, để rồi những sản phẩm đó được đem đi bán rẻ ở các
nước giàu có Tây phương. Ðây há không phải là một hình thức bóc lột sao?
Cũng vì muốn xuất cảng kiếm
ngoại tệ trả nợ mà không biết bao nhiêu ruộng đất tốt đã bị đem đi dùng để
trồng các thứ xa xí phẩm như hoa mầu, thuốc lá, thay vì trồng lúa gạo cho
dân ăn đỡ đói.
Ở Á Phi mỗi năm có đến hàng
triệu trẻ em chết đói, trong khi đó ở Tây phương người ta vẫn thản nhiên
tiếp tục ăn chơi tiêu thụ làm như hai bên không liên quan gì với nhau. Như
vừa thấy ở trên, cuộc sống ăn chơi tiêu thụ của Tây phương được xây dựng
trên sự bóc lột mồ hôi nước mắt của dân nghèo Á Phi, như vậy làm sao có
thể nói là không liên quan đến nhau. Thầy Nhất Hạnh có nói trong quyển
Tương Lai Văn Hóa Việt Nam: "Nếu Tây phương bớt ăn thịt và uống rượu lại
50% thì hàng chục triệu trẻ em Á Phi sẽ khỏi phải chết đói mỗi năm... Hạt
lúa thay vì dùng để nuôi trâu bò gà vịt và để nấu rượu thì có thể đem đi
cứu đói tại các nước này."
Các nước Á Phi vẫn không ngớt
cầu cứu Tây phương viện trợ để phát triển kỹ nghệ, họ cho rằng sự nghèo
đói của họ là do chậm tiến mà ra, nhưng họ không hay rằng "phát triển kỹ
nghệ" theo lối Tây phương ngày ngay đồng nghĩa với "khai thác môi sinh".
Bao nhiêu tài nguyên (tức là tặng phẩm của Mẹ Ðất) như dầu hỏa, than, sắt,
đồng, chì, v.v... đều đang cạn dần vì sự khai thác quá lố. Tại sao như
vậy? Ðó chẳng qua là để thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ (nói gọn hơn là lòng
tham) của dân giàu có, dư ăn dư mặc.
Một điển hình cụ thể và rõ ràng
nhất của sự tiêu thụ phí phạm vô lý đó là kỹ nghệ xe hơi. Các nước Tây
phương đua nhau sản xuất xe hơi, ngày càng tối tân hơn, chạy nhanh hơn (có
thể chạy trung bình từ 200 đến 300 cây số giờ) trong khi đó thì luật lưu
thông như ở Pháp cấm không cho chạy quá 60 cây cố giờ trong thành phố hoặc
140 cây số giờ trên xa lộ. Thử hỏi chế tạo xe hơi như thế có ích lợi gì,
nếu không là để dân chúng chạy quá tốc độ, vi phạm luật lưu thông hoặc gây
ra tai nạn. Ở Pháp mỗi năm có đến hàng ngàn người chết vì tai nạn xe cộ.
Ðó là chúng ta chưa kể đến giá "sinh môi", tức là ảnh hưởng của sự khai
thác môi sinh để tạo ra một chiếc xe hơi. Muốn chế tạo xe hơi, trước tiên
cần phải có kim khí như sắt, nhôm, kẽm, đồng, chì, v.v... và như vậy thì
phải khai quật các mỏ kim khí, nấu chảy, đúc nguội; tiếp theo cần đến các
chất nhựa, cao su và thủy tinh, tức là phải khai thác các mỏ nhiên thạch;
sau đó phải chuyên chở tất cả các thứ trên đến xưởng chế tạo. Các xưởng
này cần phải vận dụng nhiều năng lượng, do đó cần phải được kiến thiết
rộng lớn và trang bị máy móc tối tân. Cùng lúc chế tạo xe hơi, người ta
phải xây cất đường xá, xa lộ, tức là phải cần đến đá, sỏi, xi măng, dầu
hắc, v.v... và như vậy lại phải khai mỏ, giựt mìn, phá núi, lấp vá ruộng
đồng. Khi xe được chế tạo xong, đâu phải là chạy được ngay, cần phải có
xăng, dầu, nhớt, tức là phải khai thác các mỏ dầu hỏa, phải bơm, lọc,
chuyên chở. Rất nhiều tàu chở dầu hỏa thường gặp tai nạn làm đổ dầu lai
láng biển cả. Kỹ nghệ dầu hỏa tống khứ rất nhiều khí độc và làm ô nhiễm
môi sinh nhiều nhất trong số các loại kỹ nghệ. Từ đầu đến cuối, cứ mỗi
giai đoạn là mỗi khai thác và làm ô nhiễm môi trường sinh sống thiên
nhiên. Ðến đây chưa phải là hết, mỗi lần xe chạy, nó nhả nhiều khói độc có
hại cho sức khỏe con người và cỏ cây. Sau cùng khi xe cũ mòn, không chạy
được nữa, người ta tìm cách phế thải và như vậy lại làm ô nhiễm môi sinh
lần nữa.
Trên đây chỉ là một thí dụ nhỏ
nói lên sự phí phạm tài nguyên gây ra bởi xã hội tiêu thụ Tây phương. Tiêu
thụ nhiều bao nhiêu thì tài nguyên cạn dần bấy nhiêu, lúc đó phải tính đến
chuyện nhòm ngó nước khác và như vậy gây ra tranh dành giữa các cường
quốc, hoặc chiến tranh xâm lược các nước nhược tiểu. Trên thế giới hiện
nay, với số lượng vũ khí dư đủ để làm nổ tung 20 lần quả đất, người ta vẫn
tiếp tục chế tạo những thứ độc địa hơn, dù đó là vũ khí hóa học, nguyên tử
hay hạt nhân. Mặc dầu giữa hai cường quốc Nga Sô và Hoa Kỳ, sự kình chống
nhau đã nhường chỗ cho sự thỏa hợp bắt tay nhau để giải tỏa bớt các hỏa
tiễn, vũ khí nguyên tử, nhưng không phải vì thế mà vũ lực nguyên tử giảm
dần. Các nước chậm tiến vẫn đang hăng say trang bị vũ khí nguyên tử như Do
Thái, Nam Phi, Ấn Ðộ, Pakistan và Irak. Một số đông các nước khác, vì
nghèo hơn, cũng cố gắng trang bị vũ khí hóa học mà họ mệnh danh là "bom
nguyên tử của nước nghèo". Viện cớ rằng các nước nhược tiểu vẫn tiếp tục
chế tạo vũ khí nguyên tử nên các nước tiến bộ Tây phương không chịu giảm
vũ lực của mình, ngược lại họ nhân cơ hội này để bán vũ khí cho các nước
chậm tiến khác. Với sự thỏa hợp hai khối Ðông Tây hiện nay, có thể các dàn
hỏa tiển Âu châu sẽ không còn chĩa mũi về phương Ðông nữa mà sẽ quay 90 độ
để chĩa về phương Nam. Ðến năm 2000, sự sản xuất dầu hỏa của Hoa Kỳ và Anh
quốc sẽ không còn đáng kể và cùng lúc các quốc gia thuộc vịnh Ba Tư (Golf
Persique) sẽ chiếm phần quản lý tiếp vận dầu hỏa cho thế giới. Nếu lúc đó
các nước này dở chứng không chịu bán dầu hỏa hoặc làm khó dễ tăng giá quá
mức thì sao? Các nước kỹ nghệ Tây phương có chịu để yên không hay là sẽ
sẵn sàng dùng vũ lực uy hiếp? Với đà trang bị và chế tạo vũ khí hiện nay ở
vùng Trung Ðông liệu các nước Hồi giáo này có chịu thua kém không? Trong
tương lai vùng Trung Ðông sẽ là mối đe dọa lớn nhất cho nền hòa bình thế
giới.
Tóm lại nếu con người cứ tiếp
tục tiêu thụ quá mức, khai thác và tàn hoại môi sinh thì không biết xã hội
tân thời này sẽ sống còn trong vài thế kỷ tới hay không? Hay là sẽ bị tiêu
diệt bởi sự bùng nổ của chiến tranh nguyên tử. Hoặc giả nếu không chết vì
chiến tranh thì cũng chết vì đói, vì thiên tai, hạn hán, bảo lụt và bệnh
dịch.
2/ Gương xưa châu Ðại Dương
Cách đây khoảng hơn 12.000 năm
về trước, trên trái đất có một châu tên là châu Ðại Dương (Atlantide).
Người ở đây rất thông minh, nền văn minh của họ tiến bộ gấp trăm hay ngàn
lần nền văn minh khoa học của chúng ta hiện nay. Họ đã chế biến những dụng
cụ rất tối tân, có thể làm đảo lộn thời tiết như biến mùa Ðông ra mùa Hè,
có thể vận dụng ý tưởng để di chuyển đồ vật, v.v... Tuy nhiên sự tiến bộ
khoa học mà không đi đôi với đạo đức thì dễ gây ra thảm họa. Một số người
gian ác đã lợi dụng khoa học để gây phe đảng và củng cố quyền lợi cá nhân.
Từ đó xảy ra chiến tranh giữa các bè phái, họ đem ra những vũ khí rất ư là
tối tân và độc địa để tàn sát lẫn nhau, và cùng lúc họ cũng vô tình hủy
hoại vùng đất nơi họ đang ở. Một số các hiền giả đạo đức thấy rõ nguy cơ
diệt chủng sắp đến, nên họ đã tìm cách di cư lánh nạn. Một số di cư sang
châu Âu và lập nghiệp ở Ai Cập (Egypte), nơi đây có những Kim Tự Tháp được
xây trước đây trên 6000 năm, đó là những vết tích văn minh của nhiều thế
hệ con cháu giống dân Ðại Dương (Atlantes), một số khác di cư sang chây Mỹ
và họ là sơ tổ của các giống dân Mayas, Incas. Ở miền nam Mỹ châu cũng có
những Kim Tự Tháp tương tợ như ở Ai Cập, với vài nét kiến trúc hơi khác.
Các nhà tiên tri Atlantes đã
đoán đúng, sau cùng châu Ðại Dương đã bị một trận Ðại Hồng Thủy, tức đã bị
những trận thiên lôi địa chấn và chìm xuống đáy biển. Nơi đây sau này trở
thành biển Ðại Tây Dương (Océan Atlantique) ngăn cách châu Âu và châu Mỹ.
Sự tích của châu Ðại Dương được
đa số xem là một huyền thoại, nhưng vẫn có một số ít các nhà khoa học khảo
cổ tin chắc sự hiện hữu của châu này. Ở đời đâu phải chỉ có những gì mắt
thấy tai nghe mới là thật có, có rất nhiều điều tai trần mắt thịt của
chúng ta không nghe không thấy mà chúng vẫn hiện hữu. Thí dụ điển hình như
Kim Tự Tháp Ai Cập, đến nay vẫn chưa ai hiểu nổi làm sao cách đây 6000
năm, con người đã có thể khiêng và chồng lên nhau gần 2 triệu tảng đá, với
mỗi tảng nặng khoảng 2 tấn.
Hiện nay nhân loại đang đi vào
con đường diệt vong cũ của châu Ðại Dương mà không hay biết. Ở đời đã có
biết bao nhiêu cuộc bể dâu, trước kia là biển nay thành đồng hoang, trước
kia là núi nay thành biển cả. Mặt mũi của Trái Ðất cũng thay đổi như mặt
mũi của chúng ta. Khi vui mặt đẹp, khi buồn sầu đau. Khi con người biết
sống trong thương yêu, hòa thuận với nhau thì mặt đất cũng xinh tươi, lúa
mạ phì nhiêu, nhà nhà ấm no hạnh phúc. Khi con người thâm hiểm, gian ác,
ích kỷ, chỉ gây đau khổ cho nhau thì mặt Trái Ðất cũng nhăn nhó, động đất,
thiên tai, bão lụt, nhà nhà đói khổ, than oán.
Xin cứu độ Mẹ Ðất
Có ý thức được tính cách đồng
sinh cộng tử của mọi loài và tình trạng bi đát của Trái Ðất đang bị tàn
hoại thì mới nghĩ đến chuyện cứu độ Trái Ðất. Còn nếu cứ tiếp tục sống
tham lam ích kỷ chỉ lo hưởng thụ cá nhân thì việc cứu độ Trái Ðất sẽ trở
thành một việc lo sợ viễn vông.
1/ Phật pháp bất ly thế gian
pháp
Từ đầu sách đến đây,
bạn đọc có thể tự hỏi sao mãi chưa thấy nói gì đến giáo lý đạo Phật. Xin
nhắc bạn một điều : "Phật pháp bất ly thế gian pháp". Nếu tách rời các
pháp thế gian ra thì không thể có Phật pháp. Ðức Phật xưa kia cũng phải
ăn, mặc, đi, đứng, ngủ, nghỉ... Giáo lý của Phật không nói chuyện trên
trời dưới biển hay những chuyện siêu hình mà nói về những chuyện rất thực
tế như sinh, già, bệnh, chết. Vả lại cuộc tầm đạo của thái tử Tất Ðạt Ða
(Siddhartha) phải chăng đã bắt nguồn từ sự nhận thức thực tại khi ngài dạo
chơi qua bốn cửa thành? Có thấy khổ mới tìm cách cứu khổ. Nhận thức được
thực tại khổ đau là cửa vào đầu tiên của đạo Phật. Cũng vậy, vấn đề nhận
thức về hiện trạng tàn hoại của Trái Ðất là vấn đề chính yếu cần phải được
nhấn mạnh trước khi nói đến việc cứu độ Trái Ðất. Dù có là Phật tử đi nữa,
bạn đọc cũng không nên để giáo lý hay những danh từ Phật học quản thúc và
hạn cuộc mình. Bạn đọc hãy tập nhìn thẳng vào thực tại bằng con mắt quán
chiếu của thương yêu và hiểu biết.
Trong thế gian có rất nhiều
người thực hành Bồ Tát đạo mà không mang danh Bồ Tát hoặc không hề hay
biết gì về đạo Phật. Ðó là những người hy sinh thân mạng, tài sức của mình
để cứu giúp kẻ khác. Thí dụ như Mẹ Térésa (người lãnh giải Nobel Hòa Bình
năm 1979), suốt đời cứu giúp người cùi, các hội từ thiện nhân đạo như Hội
Bác Sĩ Không Biên Giới (Médecins sans frontières), Hội Bác Sĩ của Ðịa Cầu
(Médecins du Monde), Hội Hồng Thập Tự (Croix Rouge), v.v... Họ lăn xả vào
các vùng khói lửa chiến tranh để cứu cấp, chữa trị dân lành bị tàn sát bởi
hai phe thù nghịch. Các nhà bảo vệ môi sinh (écologistes) đứng ra lớn
tiếng hô hào phản đối sự lạm dụng bành trướng kỹ nghệ nguyên tử. Việc làm
của họ hình như không dính líu gì đến Phật pháp cả, nhưng đứng trên tinh
thần của đạo Phật thì chúng ta có thể xem họ như những vị Bồ Tát, vì họ
đang ra tay cứu độ Trái Ðất.
Cứu độ Trái Ðất là việc chung
của tất cả mọi người, mọi dân tộc, mọi quốc gia trên thế giới chứ không
phải của riêng một nhóm người nào. Riêng hàng Phật tử, chúng ta lại càng
phải ý thức và ra tay ngay từ bây giờ, vì chúng ta đã nguyện theo gương
Ðức Phật, sống từ bi hỷ xả, ban vui cứu khổ mọi loài, chẳng lẽ chúng ta
lại thờ ơ mặc cho Mẹ Ðất bị tàn hoại để rồi những thế hệ con em của chúng
ta sau này sẽ lâm vào cảnh đói khát, hạn hán, thiên tai, bão lụt và chiến
tranh? Trong các thời kinh nhật tụng, chúng ta vẫn thường nguyện cứu độ
tất cả chúng sinh, đây là một điều nguyện cao thượng rất tốt. Nguyện có
nghĩa là tự hứa với mình, là điều căn bản đầu tiên của sự tu hành, nhưng
sau đó phải tập bước sang phần thực hành thì lời nguyện đó mới có thể
thành tựu được. Cứu độ Trái Ðất cũng nằm trong phần cứu độ chúng sinh vì
nếu Trái Ðất bị tàn phá hoại diệt thì chúng sinh cũng theo đó mà chết dần,
chết mòn.
Các nhà bảo vệ môi sinh trên
thế giới có đưa ra rất nhiều giải pháp để cứu vãn tình hình như : hạn chế
sự khai thác tài nguyên; tái thiết và sửa sang các môi trường đã bị tàn
phá; phế bỏ dần những sinh hoạt gây tổn hại thiên nhiên và cùng lúc khuyến
khích các kỹ thuật sản xuất biết nể thương Trái Ðất; chuyển hóa dần xã hội
tiêu thụ phung phí về một xã hội biết tiết kiệm nguyên liệu hữu hạn và
giảm thiểu sự phế thải để bớt ô nhiễm môi sinh, v.v... Tất cả những dự án
này đều hay và đúng cả, nhưng nếu nhìn kỹ một chút, ta sẽ thấy nó vẫn chưa
nhằm giải quyết tận gốc vấn đề. Nguyên nhân hay thủ phạm của sự tàn phá,
nhiễm ô môi sinh chính là con người chứ không phải là khoa học hay kỹ
thuật. Hẳn bạn đọc còn nhớ thuyết nhân duyên của đạo Phật, cái này có vì
cái kia có, cái này sinh vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt. Có
nhiễm ô bên ngoài vì có nhiễm ô bên trong. Bên ngoài ở đây tức là môi
trường sinh sống thiên nhiên và bên trong chính là con người. Trong con
người thì tâm làm chủ của mọi hành động tạo tác. Nếu tâm bị nhiễm ô bởi
tham lam, sân hận, u mê, ích kỷ thì đương nhiên con người sẽ hành động ô
nhiễm và như vậy thì môi sinh lãnh đủ. Do đó nếu chúng ta muốn thanh tịnh
hóa thiên nhiên thì phải thanh tịnh hóa thân tâm của mình trước hết.
Muốn cứu độ Mẹ Ðất, chúng ta
không cần phải Cầu An hay Cầu Siêu nhiều cho Mẹ Ðất mà hãy tập sống đời
tỉnh thức, tu tập chánh niệm, sống đời thiểu dục, nuôi dưỡng đức hiếu
sinh. Cuộc sống của chúng ta liên quan ảnh hưởng đến sự sống của mọi loài
và ngược lại cũng vậy. Ðây chính là lý "trùng trùng duyên khởi" của kinh
Hoa Nghiêm. Cũng may là nhờ có sự tương quan tương duyên như thế mà chúng
ta mới mong thanh tịnh hóa được môi sinh.
2/ Sống đời tỉnh thức
Sống đời tỉnh thức
tức là ngược lại với sống đời lãng quên, sống say chết ngủ. Sống mà không
làm chủ được mình để cho sự đam mê vật chất lôi cuốn đi như kẻ say, ăn
chơi tiêu thụ, thỏa mãn dục lạc để rồi cuối ngày lăn ra ngủ như một người
chết. Sống tỉnh thức tức là ý thức được sự sống của mình và của mọi loài,
ý thức được sự mầu nhiệm và quý báu của sự sống, ý thức được những gì đanh
xảy ra nơi mình và chung quanh mình. Thí dụ khi cắn một miếng bánh mì, ta
ý thức được sự tàn sát hàng tỷ côn trùng, sâu bọ của người nông dân khi
trồng lúa; khi cầm trong tay một bát cơm dẻo thơm, ta ý thức được sự may
mắn của mình và cùng lúc thấy được công phu lao tác, cầy sâu cuốc bẫm của
hàng triệu dân nghèo đói Á Phi; khi uống một tách trà thơm, ta biết trà
này từ đâu đến, đã có rất nhiều đất đai mầu mỡ, thay vì được dùng để trồng
lúa gạo, thực phẩm, đã bị đem đi trồng trà hay cà phê để xuất cảng, trong
khi đó mỗi năm có đến hàng chục triệu người chết đói; mỗi khi cầm trong
tay một tờ báo, ta ý thức được đã có không biết bao nhiêu rừng cây bị đốn
phá để làm bột giấy; mỗi khi lên xe rồ máy, ta biết được ảnh hưởng của sự
di chuyển của ta trên bầu khí quyển v.v...
Từ lâu chúng ta đã quen sống
một cách hối hả, phóng túng, bên ngoài thì chạy theo vật chất, danh lợi,
bên trong thì chạy theo quá khứ, tương lai, sống với những ảo tưởng và
phiền não, vì thế nên khó có thể một sớm một chiều mà trở về cuộc đời tỉnh
thức. Muốn sống tỉnh thức chúng ta phải tu tập chánh niệm, tức là đưa tâm
trở về giờ phút hiện tại, ý thức được nh"ng gì đang xảy ra trong và ngoài
thân : đang ăn biết mình đang ăn, đang đi biết mình đang đi, v.v... Trong
đạo Phật có một pháp môn rất hay để tu tập chánh niệm đó là pháp Thiền Tứ
Niệm Xứ (Satipatthana). Nhờ có chánh niệm tỉnh thức, chúng ta mới có thể
nhìn sâu vào lòng thực tại (danh từ đạo Phật gọi là quán chiếu) thấy được
mối liên quan giữa ta và vạn vật. Thấy và hiểu được như vậy chúng ta sẽ
không dám tàn sát sinh vật và tiêu thụ thả cửa nữa mà ngược lại sẽ biết
xót thương mọi loài và muốn sống đời thiểu dục.
3/ Ðức Hiếu sinh và Tình Thương
Nhân Loại
Hiếu sinh là quý
trọng và bảo vệ sự sống. Chúng ta tham sinh úy tử bao nhiêu thì các loài
khác cũng ham sống sợ chết bấy nhiêu. Hơn nữa sau khi thấy được tính cách
đồng sinh cộng tử của mọi loài làm sao chúng ta có thể điềm nhiên tước
đoạt sự sống của loài khác? Ðức Hiếu sinh là một đức lớn nhất của đạo làm
người. Phật tử ăn chay cũng chính là để thể hiện đức này. Ngoài việc ăn
chay tránh sát sinh, chúng ta cũng cần tham gia tích cực "chống lại tất cả
những gì đe dọa sự sống và đe dọa tàn phá môi trường của sự sống : chiến
tranh, vũ khí nguyên tử, phóng xạ nguyên tử, sự khai thác và xài phí không
nương tay những nguyên liệu của trái đất, sự chế tạo và tiêu thụ những hóa
phẩm không thực sự cần thiết" (Trích Tương Lai Văn Hóa Việt Nam).
Ngoài đức hiếu sinh, chúng ta
cũng cần phát triển tình thương nhân loại. Là con người, ai cũng cần tình
thương để sống. Nếu không có tình thương, con người sẽ khô héo, đau khổ mà
chết. Tình thương cũng như một thứ nước cam lồ vậy. Tình thương trong đạo
Phật thường được biểu hiện qua hình ảnh của Quan Thế Âm Bồ Tát. Ai cũng
biết đây là một vị Bồ Tát giàu lòng từ bi, đã phát nguyện cứu vớt những ai
kêu khổ, bởi lý do đó nên chúng ta thường niệm danh hiệu của Ngài. Khi
niệm danh hiệu cũng có hai cách : tiêu cực và tích cực. Cách niệm tiêu cực
là người niệm chỉ thấy mình là nạn nhân đau khổ của cuộc đời, của nghiệp
báo, nên kêu gọi tên Ngài cầu cứu. Nói một cách khác, người niệm kiểu này
là người rất cần tình thương. Cách niệm tích cực là người niệm ý thức được
trong tâm mình cũng có những đức tính từ bi của Quan Thế Âm, nhưng những
đức tính này không được phát triển. Do đó niệm Quan Thế Âm Bồ Tát là để
nhớ lại những đức tính này, tìm cách phát triển và thể hiện ra ngoài. Niệm
danh hiệu Quan Thế Âm là tìm cách trở thành Quan Thế Âm, tưới tẩm mình
bằng nước cam lồ của tình thương và chia xẻ cho người khác. Niệm càng
nhiều thì tình thương càng lớn, người mà có tình thương rộng lớn đối với
mọi loài, nếu không phải Bồ Tát thì là gì nữa?
Chúng ta thấy, cũng cùng niệm
danh hiệu như nhau, nhưng hiệu quả có khác : Một đàng niệm mà vẫn mãi mãi
làm chúng sanh nghèo đói tình thương, một đàng niệm mà dần dần trở thành
Bồ Tát giàu có tình thương ban rải cho người khác. Vậy người Phật tử hãy
cố gắng niệm danh hiệu Phật hay Bồ Tát theo cách tích cực này.
Hiệu lực của tư tưởng hay tâm
niệm quan trọng lắm. Trong Ðạo Phật có nói rằng một niệm dung thông tam
giới, hoặc TÂM dẫn đầu các Pháp, v.v... Thiên đàng hay Ðịa ngục cũng đều
do TÂM mà ra. Chiến tranh bùng nổ đâu phải ngẫu nhiên mà có, nó bắt nguồn
từ những tư tưởng, ý niệm chia rẽ, hận thù, gian ác. Xã hội suy đồi, thoái
hóa là do ảnh hưởng của những tư tưởng ích kỷ, tham lam, trụy lạc. Chúng
ta thường cho rằng tư tưởng hay ý niệm không có hình tướng, nhưng đó chỉ
vì mắt trần không trông thấy mà thôi. Mắt trần không trông thấy được không
khí, vi trùng hay vi khuẩn nhưng phải chăng chúng không có? Phải cần những
máy móc khoa học, kính hiển vi mới thấy được. Những người tu có thiên nhãn
hay tha tâm thông đều có thể thấy được tâm niệm của kẻ khác.
Ngày nay khoa học đã có những
máy đo làn sóng điện não (électro-encéphalogramme) hoặc máy chụp hình hào
quang của Kirlian (một nhà khoa học Nga) có thể chụp được hào quang (aura)
thể phách, thể vía, và thể trí của con người. Thí dụ như một người đang có
sự giận tức trong tâm thì hình chụp cho thấy chung quanh người được bao
phủ bởi một đám mây màu đen, hoặc đỏ thẫm. Một người tu hành đạo đức thì
có hào quang màu vàng cam. Qua màu sắc và cường độ của hào quang, người ta
có thể đoán biết được tình trạng sức khỏe, tình cảm và tâm linh của đương
sự. Nếu 100 người gần nhau và cùng có những tâm niệm sân hận thì người có
thiên nhãn sẽ thấy đó là một đám mây khổng lồ màu đen đỏ thẩm. Có lẽ vì
thế mà xưa kia trong truyện Tây Du Ký, Tề Thiên Ðại Thánh thấy được từ xa
những nơi có yêu khí bốc lên ngùn ngụt?
Ngày nay, nếu một phi hành gia
có thiên nhãn, ở trong không gian mà nhìn lại Trái Ðất thì sẽ thấy nó bị
bao phủ bởi những đám mây đen, đỏ u ám, màu của những tư tưởng tham lam,
ích kỷ, u mê, hận thù ... Và như vậy thì Trái Ðất sẽ phải chết, hoặc nếu
muốn sống thì nó phải vùng vẫy chuyển mình để thoát khỏi đám mây độc hại
này. Một con chó mà trên người nó có nhiều rận hay bọ chó bám vào hút máu
thì nó sẽ, hoặc chết dần chết mòn, hoặc vùng vẫy, dãy dụa để tìm cách hất
tung những con rận ra khỏi mình nó. Quả đất cũng sẽ như thế!
Ðể cứu vãn tình thế, hóa giải
những đám mây hào quang u ám bao bọc Trái Ðất, chúng ta hãy tập phóng ra
những ý niệm lành, phát khởi thật nhiều và thường xuyên những tư tưởng
thương yêu, hiểu biết. Khi những tư tưởng này thấm nhuần thân tâm ta rồi
thì nó sẽ khởi ra hiện hình một cách tự nhiên, không cần ai sai bảo, không
cần ai biết tên để ý.
Ðể có một ý niệm khởi đầu,
chúng ta có thể tập phát khởi thường xuyên trong ngày những ý niệm như sau
:
-
Nguyện cho tất cả mọi loài
đều được an vui hạnh phúc, chuyên tạo điều lành.
-
Nguyện cho tất cả đều thoát
khỏi đau khổ, phiền não, ngưng tạo điều ác.
-
Nguyện cho tất cả đều có tâm
hoan hỷ, thương yêu nhau, không oán ghét, hận thù.
-
Nguyện cho tất cả đều có tâm
bình đẳng, không phân biệt chia rẽ người thân, kẻ thù.
Trên đây là bốn điều mà trong
Phật giáo gọi là Tứ Vô Lượng Tâm, tức là bốn tâm niệm rộng lớn đem lại
hạnh phúc cho muôn loài.
Có những vị tu sĩ, đạo sĩ
thường ẩn tu hay ẩn mình nơi thâm sơn cùng cốc. Bề ngoài họ có vẻ như lánh
đời, không giúp ích gì cho thế gian, nhưng ta nào có biết, ngày đêm họ
không ngừng phóng ra những tư tưởng thiện lành cho nhân loại. Nếu ta có
trong tay máy đo điện từ trường, hoặc máy chụp hào quang thì có lẽ ta sẽ
thầm cảm ơn họ đã góp phần vào sự cứu độ Trái Ðất, vào sự sống còn của
nhân loại.
4/ Thiểu dục tri túc
Thiểu dục tri túc có
nghĩa là ít ham muốn và biết dùng vừa đủ. Không nên lầm thiểu dục với keo
kiệt. Keo kiệt tức là ích kỷ, khư khư ôm lấy tiền bạc không dám chi xài gì
cả, không biết bố thí làm phước, không biết giúp đỡ kẻ nghèo khó. Người
keo kiệt là người ham muốn nhiều, ham muốn tích trữ tiền bạc của cải cho
cá nhân mình. Thiểu dục tri túc được kể là điều giác ngộ thứ hai trong tám
điều giác ngộ của các bậc đại nhân (Kinh Bát Ðại Nhân Giác). Người có trí
hiểu rằng ham muốn nhiều là nguyên nhân của khổ đau, bao nhiêu cực nhọc
trong cuộc đời đều do ham muốn mà ra. Người ít ham muốn thì không bị hoàn
cảnh sai sử và nhờ đó cảm thấy thân tâm được thư thái nhẹ nhàng. Người
thiểu dục tri túc là người biết sống tiết kiệm, không chi xài phung phí,
thái quá. Trong Luật Tạng có kể rằng, một ngày kia thầy Ananda đã có dịp
cắt nghĩa cho Vua Udena (Ưu Ðiền) cách dùng tiết kiệm một tấm áo cà sa.
Khi thầy Tỳ Kheo được cúng dường một tấm y cà sa mới thì tấm y cũ không bị
vứt đi mà sẽ được dùng làm khăn trải giường. Khi tấm khăn trải giường này
cũ thì nó sẽ được dùng làm khăn trải nệm. Khi khăn trải nệm cũ thì nó được
dùng làm chăn đắp ngủ. Khi chăn đắp ngủ cũ thì nó được dùng làm giẻ lau.
Khi giẻ lau này rách nát thì nó được trộn với đất sét để lấp vá sàn nhà
hay vách tường bị nứt lở, và như vậy không có gì bị phí phạm cả.
Người tiêu xài phung phí được
ví như "kẻ ăn táo rừng". Có một người muốn ăn táo bèn vào rừng hái táo.
Ðến dưới chân cây táo, anh ta không leo lên hái mà lại đứng rung cây làm
tất cả táo trên cây đều rụng hết, chín cũng như chưa chín. Sau đó anh ta
chỉ nhặt lựa những trái đẹp ưa thích còn bao nhiêu trái khác để lại mặc
cho tất cả bị thối rữa. Hành động này trước hết được xem là vô ý thức
(không tỉnh thức), thứ hai là phí phạm, chỉ cần vài ba quả mà làm rơi rụng
thối rữa hàng chục quả, thứ ba là bất nhân, không biết thương nghĩ đến kẻ
khác đang thiếu ăn. Ða số chúng ta trong đời sống hàng ngày đều có những
hành động không khác gì "kẻ ăn táo rừng" trên. Quần áo chỉ cần vài ba bộ
là đủ mặc che thân, vậy mà mua hết bộ này đến bộ kia rồi chất đống trong
tủ, có khi cả năm không đụng đến. Ăn thì nhất định đòi ăn thịt này cá nọ,
cao lương mỹ vị, trong khi đó thì rau cải, ngũ cốc cũng đủ chất dinh dưỡng
để sống. Thay vì có thể đi bộ được 100 thước, vừa làm thể dục vừa khỏe
chân tốt máu thì lại nhảy lên xe hơi rồ máy, vừa tốn xăng lại làm ô nhiễm
không khí.
Chúng ta hãy tập làm chủ lấy
mình, đừng để cho bích chương quảng cáo, vô tuyến truyền hình hấp dẫn mê
hoặc, chạy theo lối sống tiêu thụ, đua đòi xa hoa của Âu Mỹ. Ðối với đồ
dùng hư cũ cũng không nên phế thải bừa bãi. Ở Việt Nam có mốt bán ve chai
rất tốt mà ngày nay ở Tây phương họ cũng làm tương tựa bằng cách đặt ở các
đầu đường những thùng rác đặc biệt chuyên thâu nhặt vỏ chai thủy tinh để
nấu lọc dùng lại. Họ cũng biết mua lại các sách báo cũ để xay ra và chế
tạo thành giấy dùng trở lại. Như vậy tránh khỏi phá rừng khai mỏ, làm kiệt
quệ tài nguyên của Trái Ðất.
Không ai cấm chúng ta tiêu thụ
cả, nhưng hãy tiêu thụ một cách thông minh và ý thức. Hãy xem gương loài
ong bướm kia, chúng hút nhụy hoa để sống mà không làm hại hoa, không tàn
phá hoa, ngược lại chúng làm cho hoa thêm vẻ đẹp. Nếu so sánh cách biết
tiêu thụ thì chúng ta thua xa loài ong bướm kia nhiều lắm. Chúng ta đã và
đang tiếp tục hút nhựa sống của Mẹ Ðất và tàn hoại Mẹ Ðất. Có thể vì mãi
lo làm ăn sinh sống nên chúng ta không hay biết hoặc không ý thức được
việc Mẹ Ðất đang lâm nguy, nhưng nay biết được thì chúng ta phải lo cứu độ
Mẹ Ðất càng sớm càng tốt, kẻo sau này có hối thì đã quá muộn.
5/ Thông điệp
Cứu độ Mẹ Ðất là một thông điệp
quan trọng hiện nay trên thế giới mà người Phật tử không thể không biết
đến. Nhiều bậc tôn đức trong Phật giáo từ lâu đã ý thức được tính cách
đồng sinh cộng tử, tương quan tương duyên của mọi loài nên đã lên tiếng
cảnh tỉnh và nhắc nhở chúng ta, nhưng thông điệp của các ngài, chúng ta
vẫn chưa tiếp nhận được vì mải mê theo vật chất, sống đời lãng quên.
Thiền sư Ajahn Pongsak trụ trì
chùa Palad (Wat Palad) gần tỉnh Chiang Mai vùng bắc Thái Lan, năm 1980 đã
đích thân ra tay hướng dẫn dân làng vùng Mae Soi tái thiết lại các khu
rừng bị tàn phá và dẫn nước về làm sống lại vùng đất khô cằn, mặc dù vùng
Mae Soi đã bị chính phủ tịch thâu và ra lệnh cấm không cho ai được quyền
đụng tới. Ban đầu việc làm của ngài gặp nhiều trở ngại, phản đối của nhà
cầm quyền. Ngay cả một số đệ tử cư sĩ của ngài, hiện nay có chức sắc trong
chính phủ cũng làm ngơ không giúp đỡ vì họ không hiểu được rằng sự tái
thiết rừng cây chính là Phật sự. Ðối với họ, Phật sự có nghĩa là xây chùa
tháp và cúng dường chư Tăng. Tuy vậy ngài vẫn kiên nhẫn tụ họp dân làng và
giảng giải cho họ rằng : " Ðối với người nông dân, rừng cây không những là
căn nhà thứ nhất (từ đó mới có gỗ để xây nhà ở) mà cũng là cha mẹ thứ hai.
Ðất mầu có thể trồng trọt được và cho ra hoa quả là nhờ nước, và nước ở
đây chính là do rừng cây cung cấp. Có rừng cây thì mới có thức ăn. Nếu ta
mang ơn cha mẹ đã sinh ra ta thì sao ta có thể quên ơn rừng cây nuôi sống
ta? Một cái tâm không biết ơn rừng cây là một cái tâm thô tục, không có
giới pháp, và một cái tâm như thế làm sao có thể mong giác ngộ được? "
(Trích Buddhism and Ecology). Việc làm của ngài sau cùng cũng đã thành
công và được sự ủng hộ của trong và ngoài nước.
Ðức Dalai Lama, vị lãnh đạo
quốc gia và Phật giáo Tây Tạng, người đã lãnh giải thưởng Nobel Hòa Bình
thế giới năm 1989, trong buổi diễn văn tại Oslo nước Na Uy có nói : "Chúng
ta biết rằng gây ra chiến tranh nguyên tử ngày nay chính là một hình thức
tự sát toàn thể; làm ô nhiễm không khí hoặc biển cả, chỉ vì muốn kiếm một
chút lợi tức phù du, chính là tàn phá nền tảng của sự sống còn. Mỗi cá
nhân và mỗi quốc gia đã trở nên tương quan tương sinh một cách mật thiết
đến nỗi chúng ta không có cách nào khác hơn là phải tập sống với tinh thần
trách nhiệm đại đồng".
Trong giới Phật Giáo Việt Nam
thì có Thầy Nhất Hạnh, từ lâu trong các tác phẩm của Thầy đã bàng bạc nhấn
mạnh tính cách tương duyên tương sinh của mọi loài, nhất là vấn đề bảo vệ
môi sinh.
Riêng ở đây, trong khi viết tập
sách này, tôi cốt hướng về hàng Phật tử và gợi lên một vấn đề nhận thức
liên quan đến lý duyên khởi của đạo Phật qua vài ba tài liệu lượm lặt. Do
đó chắc chắn có nhiều điều thiếu xót và lỗi thời, không theo kịp với tin
tức biến chuyển thời sự, rất mong các bạn chuyên gia về môi sinh, kinh tế
hay chính trị vui lòng miễn thứ cho.
Nguyện sống đời
tỉnh thức,
Ðể thấy rõ thực
tại.
Nguyện tu tập
chánh niệm,
Ðể lòng hết say
mê.
Nguyện sống đời
thiểu dục,
Cho Mẹ Ðất xinh
tươi.
Nguyện nuôi đức
hiếu sinh,
Cho muôn loài an
lạc.
Tài liệu tham khảo
Dharma No. 7
Institut Karma Ling, Hiver 1989-1980
Edward
Golsmith, Nicolas Hildyard, Peter Bunyard, Patrick Mc Cully:
- 5000 jours
pour sauver la planète - France Loisirs 1991
Martine
Batchelor and Kerry Brown:
- Buddhism and
Ecology. Cassell 1992
Le Monde
Diplomatique, Avril 93
Science &
Avenir, Hors-Série No. 61
Science & Vie
No. 900, Septembre 1992
Thích Nhất
Hạnh:
- Being Peace -
Parallax 1987
- Tương Lai Văn
Hóa Việt-Nam - Lá Bối 1982
- Từng bước nở
Hoa Sen - Lá Bối 1985
---o0o---
Nguồn: www.trisieu.com.
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật: 1-5-2005