Đạo của vật lý
The Tao of Physics
Tác giả:
Fritjof Capra
Nguyễn Tường Bách
dịch
III CÁC TƯƠNG ĐỒNG
CHƯƠNG 10. TÍNH NHẤT THỂ CỦA
VẠN SỰ
Một nhà Ấn Độ giáo hay Lão giáo có thể nhấn mạnh những
khía cạnh khác nhau về sự chứng thực; có thể một Phật tử Nhật Bản biểu
hiện kinh nghiệm của mình khác hẳn với Phật tử ấn Độ, thế nhưng những yếu
tố cơ bản của thế giới quan trong mọi truyền thống này là giống nhau.
Những yếu tố này dường như cũng là cơ sở của thế giới quan xuất phát từ
vật lý hiện đại.
Đặc điểm quan trọng nhất của thế giới quan phương Đông
là - ta có thể nói cốt tuỷ của nó - ý thức về tính nhất thể và mối tương
quan của mọi sự vật và mọi biến cố, nhận thức rằng mọi hiện tượng trong
thế giới đều là biểu hiện của một thực thể cơ bản duy nhất. Tất cả mọi sự
vật đều được xem như có liên quan với nhau và là thành phần bất khả phân
của một cái toàn thể trong vũ trụ, là những hiện thân khác nhau của một
thực tại cuối cùng. Các truyền thống phương Đông đều căn cứ trên thực tại
cuối cùng này, một thực tại không thể phân chia, nó xuất hiện trong mọi
thứ, và tất cả mọi vật đều là thành phần của nó. Trong ấn Độ giáo, thực
tại đó được gọi là Brahman, trong Phật giáo là Pháp thân, trong Lão giáo
là Đạo. Vì nó đứng ngoài mọi khái niệm và phân loại nên Phật giáo gọi nó
là Chân Như hay Cái là như thế:
Tâm chân như là tâm tánh bất sinh bất diệt. Thể và
tướng của nó to lớn bao trùm tất cả các pháp.
Trong đời sống hàng ngày ta không thấy tính nhất thể của
sự vật mà chia thế giới ra thành vật thể và biến cố riêng lẻ. Sự chia chẻ
này hiển nhiên là có ích và cần thiết để có thể giải quyết công việc hàng
ngày, nhưng nó không đúng với tính chất cơ bản của thực tại. Đó là một quá
trình trừu tượng hóa của đầu óc phân biệt và xếp loại của ta, một ảo giác.
Ấn Độ giáo và Phật giáo cho rằng ảo giác này là do vô minh mà ra,
thứ vô minh làm óc ta bị huyễn thuật chi phối. Do đó, mục đích đầu
tiên của truyền thống đạo học phương Đông là sửa lại đầu óc cho đúng,
bằng cách thiền quán và tĩnh lặng. Từ Sanskrit của thiền quán là Samadhi,
có nghĩa sự thăng bằng tâm linh. Nó nói đến trạng thái, trong đó
con người chứng thực được sự nhất thể với vũ trụ:
Khi thể nhập được tâm thanh tịnh thì Bồ Tát đạt tri
kiến viên mãn và chứng được nhất thể của Pháp giới.
Tính nhất thể căn bản này cũng là một trong những phát
hiện quan trọng nhất của nền vật lý hiện đại. Nó hiện rõ trong lĩnh vực
nguyên tử và biểu hiện càng rõ hơn nữa khi ta nghiên cứu sâu hơn trong
lĩnh vực vật chất, đi xuống tầng lớp của hạt hạ nguyên tử. Tính nhất thể
của mọi sự và của mọi biến cố luôn luôn xuất hiện khi ta so sánh vật lý
hiện đại và đạo học phương đông. Khi nghiên cứu những mô hình của vật lý
hạ nguyên tử, ta thấy chúng luôn luôn phát biểu bằng nhiều cách khác nhau,
dẫn đến một kiến giải duy nhất: đó là các thành phần vật chất và những
hiện tượng tham gia, tất cả đều nằm trong một mối liên hệ với nhau và phụ
thuộc lẫn nhau; chúng không thể được xem là đơn vị độc lập, mà là thành
phần bất khả phân của một cái toàn thể.
Trong chương này tôi sẽ dựa trên phân tích và quan sát
thuyết lượng tử để trình bày mối tương quan trong thiên nhiên.
Trước hết tôi xin trở lại sự phân biệt giữa cơ cấu toán
học của một lý thuyết và cách lý giải bằng ngôn từ của nó. Cơ cấu toán học
của thuyết lượng tử đã được nhiều thí nghiệm khẳng định và được thừa nhận
là nhất quán và chính xác để mô tả tất cả các hiện tượng nguyên tử. Thế
nhưng cách lý giải bằng ngôn từ của nó, tức là ý - nghĩa triết học của
thuyết lượng tử lại chưa có một cơ sở vững chắc. Thực tế là nhà vật lý
suốt hơn bốn mươi năm qua chưa đưa ra được một mô hình triết lý rõ rệt về
nó.
Các thảo luận sau đây dựa trên phép lý giải của
trường phái Copenhagen về thuyết lượng tử, trường phái do Bohr và
Heisenberg triển khai trong cuối những năm hai mươi mà vẫn còn được xem là
mô hình được thừa nhận nhất. Sau đây tôi dựa vào báo cáo của Henry Stapp
của đại học California. Báo cáo đã đề cập đến một số khía cạnh của lý
thuyết này, đến một loại thí nghiệm nhất định mà ta thường gặp trong vật
lý hạ nguyên tử. Bản báo cáo của Stapp chỉ rõ, thuyết lượng tử cho thấy
một mối liên hệ then chốt trong thiên nhiên và nó cũng đặt thuyết này vào
một khuôn khổ có thể mở rộng cho mô hình tương đối của hạ nguyên tử mà ta
sẽ thảo luận sau.
Điểm xuất phát của trường phái Copenhagen là sự phân
chia thế giới cơ lý ra hai hệ thống: một hệ thống được quan sát và hệ
thống quan sát. Hệ thống được quan sát có thể là một nguyên tử, một hạt hạ
nguyên tử, một quá trình trong thế giới nguyên tử v.v… Hệ thống quan sát
gồm có các máy móc quan sát, gồm một hay nhiều quan sát viên. Điều này dẫn
đến cái khó cơ bản là hai hệ thống này được “đối xử” khác nhau. Hệ thống
quan sát thì được mô tả bằng ngôn từ của vật lý cổ điển, thế nhưng các
ngôn từ này lại không phù hợp để mô tả hệ thống được quan sát. Chúng ta
biết rằng khái niệm của vật lý cổ điển là không đủ nhất quán để mô tả bình
diện nguyên tử, thế nhưng ta phải dùng nó để trình bày thí nghiệm và xử lý
kết quả. Mối mâu thuẫn này không có lời giải. Ngôn ngữ kỹ thuật của vật lý
cổ điển chỉ là ngôn ngữ bình thường có thêm chút tinh tế, và nó là ngôn
ngữ duy nhất mà ta có thể dùng để lý giải, trình bày kết quả thí nghiệm.
Hệ thống được quan sát được mô tả trong thuyết lượng tử
dưới dạng xác suất. Điều đó là có nghĩa là ta không bao giờ nói được một
cách chắc chắn vị trí của một hạt đang ở đâu, cũng không nói được một tiến
trình nguyên tử sẽ xảy ra thế nào. Thí dụ, những hạt hạ nguyên tử mà ta
biết hiện nay, phần lớn chúng không ổn định, có nghĩa là sau một thời gian
chúng sẽ tự phân hủy thành những hạt khác. Thế nhưng ta không tiên đoán
được thời gian này là bao lâu. Ta chỉ có thể nói về xác suất phân hủy sau
một thời gian nhất định, cụ thể hơn, ta chỉ biết được thời gian sống trung
bình của một số lớn hạt đó là bao nhiêu. Tương tự như thế ta chỉ nói về
xác suất của tiến trình phân hủy của chúng. Nhìn chung, một hạt thiếu ổn
định có thể phân hủy biến thành nhiều cách phối hợp khác nhau của những
hạt khác, và ta lại không biết hạt đó sẽ mang hình dáng phối hợp nào.
Chúng ta chỉ có thể tiên đoán, trong một số lượng lớn các hạt thì khoảng
60% của chúng sẽ chuyển ra thế này, 30% sẽ chuyển ra thế khác và 10% sẽ
chuyển theo kiểu thứ ba. Rõ ràng là người ta phải đo lường rất nhiều mới
có một bảng thống kê nhằm xác định kết quả. Và trong các cuộc thí nghiệm
của các hạt va chạm nhau với tốc độ cao, thì thực tế có hàng chục ngàn hạt
va chạm nhau được ghi nhận và phân tích để xác định xác suất của một tiến
trình nhất định.
Thế nhưng điều quan trọng cần biết là, sự phát biểu có
tính thống kê về qui luật của vật lý nguyên tử và hạ nguyên tử không hề
nói lên sự mơ hồ của ta về tiến trình cơ lý này, như sự dự đoán xác suất
của các hãng xưởng chuyên ngành bảo hiểm hay trò chơi may rủi. Trong
thuyết lượng tử, ta đã thừa nhận tính xác suất là tính chất căn bản
trong vật thể của thế giới nguyên tử, nó điều hành mọi tiến trình, thậm
chí nó quyết định vật chất có tồn tại hay không. Trong thế giới nguyên tử,
hạt không hiện hữu một cách chắc chắn nơi một vị rí nhất định, mà nó chỉ
có khả năng hiện hữu và tiến trình nguyên tử cũng không nhất thiết
phải xảy ra trong một thời điểm hay một cách thế nhất định, nó chỉ có
khả năng xảy ra.
Thí dụ, không thể nói chắc chắn rằng liệu một eletron
nằm ở đâu trong nguyên tử tại một thời điểm nhất định. Vị trí của nó tùy
thuộc vào lực hút của nhân và vào ảnh hưởng của electron khác của nguyên
tử. Điều kiện này quyết định cấu trúc của xác suất lưu trú của nó trong
những không gian khác nhau của nguyên tử.
Hình trên nói lên vài mô hình về cơ cấu của xác suất lưu
trú electron. Xác suất đó lớn nơi các vùng sáng, nhỏ nơi các vùng tối. Cần
để ý là, toàn bộ hình này diễn tả electron trong một thời điểm cho sẵn.
Trong một hình, ta không chỉ rõ được electron ở nơi nào, chỉ nói lên khả
năng nó có thể ở đâu. Trong dạng toán học của thuyết lượng tử khả năng hay
xác suất đó được trình bày bằng các hàm số xác suất, nó cho biết khả năng
tìm thấy một electron trong một thời điểm hay một chỗ nhất định là bao
nhiêu.
Mối mâu thuẫn giữa hai cách mô tả - một bên là khái niệm
cổ điển về việc xếp đặt máy móc thí nghiệm, bên kia là hàm số xác suất cho
vật muốn quan sát - dẫn đến một vấn đề triết học mà đến nay cũng chưa giải
quyết được.
Trong thực tế để né tránh vấn đề này khi nói về hệ thống
quan sát, người ta cho những chỉ dẫn, giúp nhà khoa học thiết kế máy móc
thí nghiệm khỏi bị mô tả là một đơn vị có tính cô lập.
Để trình bày thêm về việc quan sát thế giới nguyên tử,
ta hãy lấy một thí dụ giản đơn nhất, một đơn vị cơ lý, là xét một
electron. Khi muốn quan sát và đo lường một hạt như thế, chúng ta phải
bằng cách nào đó tìm cách cô lập nó, trong một tiến trình gọi là tiến
trình chuẩn bị. Một khi hạt đã được chuẩn bị để quan sát rồi, ta đo
lường tính chất của nó, đó là tiến trình đo lường. Ta có thể diễn
tả tượng trưng tiến trình này như sau: một hạt được chuẩn bị trong không
gian A, nó chuyển động từ A đến B và được đo trong không gian B. Trong
thực tế thì sự chuẩn bị cũng như sự đo lường thường gồm một loạt tiến
trình phức tạp. Thí dụ ở thí nghiệm va chạm nhau trong vật lý cao năng
lượng, các hạt được gia tốc trong những ống tròn, di chuyển ngày càng
nhanh cho đến lúc đầy đủ năng lượng. Tiến trình này xảy ra trong thiết bị
gia tốc hạt. Sau khi đủ năng lượng, nó được rời máy gia tốc (A) để được
chuyển tới không gian đích (B), nơi đó lại va chạm các hạt khác. Sự va
chạm này xảy ra trong phòng đo và các hạt để lại vết của chúng có thể được
ghi lên hình. Sau đó dựa trên sự phân tích toán học các vết đó mà người ta
suy ra tính chất của hạt. Những phép phân tích đó có thể rất phức tạp và
thường được thực hiện bằng máy vi tính. Đó là tiến trình đo lường.
Điều cần ghi nhớ trong phép phân tích các quan sát này
là, hạt là một hệ thống trung gian, nó nối kết hai tiến trình tại A và B
với nhau. Chỉ trong mối liên hệ này nó mới hiện hữu và có nghĩa; hạt không
phải là một đơn vị độc lập mà bản thân nó là mối liên hệ giữa tiến trình
chuẩn bị và đo lường. Tính chất của hạt không thể xem là độc lập khỏi
những tiến trình đó. Nếu sự chuẩn bị hay sự đo lường thay đổi thì tính
chất của hạt cũng thay đổi theo.
Mặt khác một sự thực là, khi nói về một hạt hay bất cứ
một hệ thống nào khác, chúng ta cứ đinh ninh nó là một đơn vị cơ lý độc
lập, nó được chuẩn bị, nó được đo lường. Vấn đề then chốt trong việc quan
sát trong vật lý nguyên tử là - dùng chữ của Henry Stapp - “phải cô lập hệ
thống được quan sát mới định nghĩa được nó; nhưng muốn quan sát được nó
thì nó phải chịu sự tương tác”. Vấn đề này được thuyết lượng tử giải quyết
một cách thực tiễn, đó là sự đòi hỏi hệ thống được quan sát không bị các
yếu tố bên ngoài tác động bởi các yếu tố sinh ra trong lúc quan sát, kéo
dài từ lúc chuẩn bị đến lúc đo lường. Điều kiện này có thể thỏa ứng nếu
máy móc chuẩn bị và thiết bị đo lường đặt xa nhau, để cho vật được quan
sát có thể đi từ chỗ chuẩn bị đến máy đo được.
Như thế thì khoảng cách bao xa mới được? Theo nguyên tắc
thì nó phải xa vô tận. Trong khuôn khổ của thuyết lượng tử thì khái niệm
về một đơn vị cơ lý riêng biệt chỉ thật sự chính xác khi đơn vị này xa máy
đo với khoảng cách vô tận. Trên thực tế thì điều đó dĩ nhiên không thể có,
và cũng không cần thiết. Chúng ta hãy nhớ đến nguyên tắc cơ bản của khoa
học hiện đại là, tất cả khái niệm và lý thuyết đều mang tính gần đúng.
Trong trường hợp này thì đối với khái niệm của một đơn vị riêng biệt, ta
cứ lấy một định nghĩa gần đúng là đủ, một định nghĩa chính xác là không
cần thiết. Ta làm điều đó như sau:
Vật được quan sát là một biểu hiện của sự tương tác giữa
tiến trình chuẩn bị và tiến trình đo lường. Sự tác động này thường phức
tạp và mang nhiều hiệu ứng khác nhau, có khoảng cách khác nhau. Trong vật
lý ta nói chúng có biên độ khác nhau. Nếu thành phần chính của tác
động này có biên độ lớn thì biểu hiện của hiệu ứng theo biên độ của nó mà
đi ra xa. Trong trường hợp này thì sự biểu hiện được xem như độc lập với
sự nhiễu loạn bên ngoài và có thể xem là đơn vị vật lý riêng biệt được.
Trong khung cảnh của thuyết lượng tử thì các đơn vị vật lý riêng biệt
chỉ là sự lý tưởng hóa và chúng chỉ có ý nghĩa khi thành phần chủ yếu của
sự tương tác có một biên độ đáng kể. Người ta có thể dùng biểu thức toán
học để định nghĩa chính xác một trạng thái như vậy được. Về mặt vật lý thì
điều này có nghĩa là các máy đo phải nằm xa nhau để cho tương tác của
chúng xảy ra thông qua sự hoán chuyển của một hạt, hoặc trong trường hợp
phức tạp hơn là một nhóm hạt. Luôn luôn ta thấy có thêm những hiệu ứng
phụ, khi nào các máy đo nằm xa nhau thì ta có thể bỏ qua những hiệu ứng
phụ đó. Chỉ khi các máy đo nằm gần nhau quá, những hiệu ứng phụ vốn có
biên độ nhỏ bây giờ mới đáng kể. Trong trường hợp này thì cả hệ thống vĩ
mô (đo và bị đo) trở thành một khối toàn thể và khái niệm của một vật bị
quan sát sẽ không đứng vững nữa.
Thuyết lượng tử đã trình bày rõ ràng mối liên hệ nội tại
chủ yếu của vụ trụ. Nó chỉ ra rằng, chúng ta không thể chia thế giới ra
từng hạt nhỏ độc lập với nhau. Khi nghiên cứu sâu về vật chất ta thấy
chúng do nhiều hạt kết lại, nhưng chúng không phải là những viên đá cơ bản
theo nghĩa của Demokritus và Newton.
Chúng chỉ là sự lý tưởng hóa; trên thực tiễn thì nó có
ích, nhưng không có ý nghĩa đích thực. Niels Bohr nói: “Các hạt vật chất
độc lập chỉ có trong sự trừu tượng, tính chất của chúng chỉ có thể định
nghĩa và quan sát trong tương tác với các hệ thống khác”.
Cách lý giải của trường phái Copenhagen về thuyết lượng
tử không được tất cả mọi người thừa nhận. Có nhiều ý niệm khác và những
vấn đề triết học liên hệ chưa giải quyết được. Thế nhưng mối tương quan
chung giữa mọi sự vật và biến cố dường như là một tính chất căn bản của
thực thể nguyên tử, nó không liên hệ gì với sự giải thích của một mô hình
toán học nhất định. Những câu sau đây của David Bohm, một trong những
người chống lại trường phái Copenhagen, khẳng định hùng hồn thực tế này:
Ta phải tiến đến khái niệm của một cái toàn thể bất
khả phân, nó phủ nhận ý niệm cổ điển chuyên nghiệp phân tích thế giới ra
những thành phần độc lập và cách ly… Ta quá bảo vệ quan điểm cũ về những
hạt cơ bản, cho nó là thực tại đích thực của thế giới, và mọi hệ thống chỉ
là dạng hình khác nhau chứa đựng những hạt đó. Đúng hơn, thực tại cơ bản
là mối liên hệ lượng tử, không cách ly được của một cái toàn thể, và những
thành phần tương đối độc lập chỉ là những dạng đặc biệt nằm trong thể
chung đó.
Trên bình diện nguyên tử, vật thể cứng chắc của vật lý
cổ điển đã chuyển thành những cấu trúc có tính xác suất. Những cơ cấu này
không nói lên xác suất hiện hữu của vật chất, mà nó nói lên xác suất của
tương tác. Thuyết lượng tử buộc chúng ta phải nhìn vũ trụ không phải là
một tập hợp của vật thể lý tính mà một tấm lưới phức tạp, chằng chịt những
liên hệ của những thành phần, thống nhất trong một tổng thể. Đó chính là
cách thế mà đạo học phương Đông đã chứng thực về thế giới và vài người
trong đó đã nói về sự chứng thực này hầu như với cùng ngôn từ với nhà vật
lý nguyên tử. Sau đây là vài thí dụ:
Vật thể vật chất… bây giờ đã khác với những gì chúng
ta thấy, không phải là một vật thể độc lập với môi trường chung quanh của
thiên nhiên, mà là một phần không thể tách rời và thậm chí nó là phát biểu
một cách tinh tế của cái nhất thể, cái nhất thể đó bao trùm mọi cái ta
thấy.
S.Aurobindo
Tính chất và sự hữu hiện của sự vật xuất phát từ
những mối tương quan mà ra, tự nó không có gì cả.
Long thụ (Nagarjuna)
Một khi những lời trên có thể xem là sự mô tả thiên
nhiên trong vật lý nguyên tử thì hai phát biểu sau đây của nhà vật lý
nguyên tử lại có thể xem như sự mô tả về chứng thực của đạo học:
Một hạt cơ bản không phải là một đơn vị tồn tại độc
lập, có thể phân tích được. Nó không gì hơn là một loạt những mối liên hệ,
chúng vươn mình ra ngoài, với tới những vật khác.
H.P.Stapp
Theo cách thế này thì thế giới hiện ra như một mạng
lưới gồm toàn những tiến trình, trong đó hiện diện rất nhiều cách liên hệ
kỳ lạ cứ tạo ra nhau, tác động lẫn nhau và với cách đó mà chúng quyết định
cơ cấu của toàn bộ mạng lưới.
W.Heisenberg
Hình ảnh sự móc nối này của mạng lưới vũ trụ trong vật
lý hiện đại đã được phương Đông sử dụng nhiều nhằm trao truyền kinh nghiệm
của họ về thế giới tự nhiên. Trong Ấn Độ giáo thì Brahman là sợi dây nối
kết của tấm lưới vũ trụ, là nguyên nhân cuối cùng của mọi hữu hiện:
Trên trời dưới đất, trong khí quyển, tát cả đều dệt,
và ngọn gió cũng như hơi thở. Chỉ mình ngươi biết, cái đó chỉ là một linh
hồn duy nhất.
Trong Phật giáo, hình ảnh của một tấm lưới vũ trụ đóng
một vai trò quan trọng hơn nữa. Nội dung trung tâm của Kinh Hoa Nghiêm,
một trong những kinh quan trọng của Phật giáo Đại thừa, xem thế giới là
một tấm lưới toàn hảo về mối tương quan, trong đó mọi sự vật và biến cố
tác động lên nhau, trùng trùng duyên khởi vô tận. Phật giáo Đại thừa đã
tìm nhiều ẩn dụ để diễn bày mối liên hệ nội tại này của vũ trụ, một số đó
sẽ được nói đến sau trong quan điểm tương đối của thuyết dung thông
(boot-strap theory) của vật lý hiện đại. Cuối cùng, quan điểm mạng lưới vũ
trụ cũng đóng vai trò trung tâm trong Phật giáo Tantra (Mật giáo), một
nhánh của Đại thừa xuất phát từ Ấn Độ vào thế kỷ thứ ba trước Công nguyên
và ngày nay là trường phái chính của Phật giáo Tây Tạng. Kinh sách trường
phái này được gọi là “Tantra”, một từ gốc Sanskrit mang nghĩa “lưới dệt”
và ám chỉ sự liên hệ và tương tác của mọi sự vật và biến cố.
Trong đạo học phương Đông thì mạng lưới vũ trụ đó luôn
luôn chứa đựng cả người quan sát và ý thức của nó, và điều đó cũng đúng
trong vật lý nguyên tử. Trong bình diện nguyên tử thì vật thể chỉ
được hiểu trong mối quan hệ giữa tiến trình chuẩn bị và đo lường. Đoạn
cuối của tiến trình này luôn luôn nằm trong ý thức của người quan sát. Sự
đo lường là một tiến trình, nó gây trong ý thức ta sự cảm thọ, thí
dụ sự thấy một tia sáng chớp hay một vệt đen trên chế bản, và qui luật của
vật lý nguyên tử cho ta biết rằng, với một xác suất nào một vật thể hạt
nhân sẽ gây nên một cảm thọ nhất định nếu ta chịu tương tác với nó.
Heisenberg viết: Khoa học tự nhiên không mô tả và lý giải về tự nhiên đúng
như nó - là - như - thế. Đúng hơn, khoa học tự nhiên là một phần của tiến
trình tương tác động qua lại giữa tự nhiên và chính chúng ta”.
Nguyên lý then chốt của vật lý nguyên tử là người quan sát
không chỉ cần thiết để quan sát tính chất sự vật, mà còn cần thiết để định
nghĩa tính chất đó. Trong vật lý nguyên tử, ta không thể nói tính chất sự
vật tự nó được nữa. Chúng chỉ có nghĩa trong mối quan hệ giữa vật được
quan sát và người quan sát.
Heisenberg viết: “Điều mà ta quan sát được, không phải
là thế giới tự nhiên tự nó, mà là thế giới đã bị câu hỏi của ta tác động
lên”. Quan sát viên là người quyết định muốn đo lường điều gì và chính sự
tổ chức đo lường này quyết định một phần tính chất của vật được quan sát.
Khi phép đo bị thay đổi, thì tính chất của vật được quan sát cũng thay đổi
theo.
Điều này có thể giải thích trong trường hợp đơn giản
nhất của một hạt hạ nguyên tử. Khi quan sát một hạt như thế người ta có
thể đo vị trí và xung lực. Trong chương tới chúng ta sẽ thấy một
định luật quan trọng của thuyết lượng tử - định luật bất định của
Heisenberg, nó nói rằng ta không bao giờ cùng lúc đo được chính xác hai
đại lượng này. Hoặc chúng ta có thể xác định được vị trí của hạt và không
hề biết gì về xung lực (tức là về vận tốc), hoặc là ngược lại, hoặc ta chỉ
biết không chính xác về hai trị số đó.
Sự giới hạn này không liên quan gì với việc máy đo có
tốt hay không, nó là một giới hạn có tính nguyên tắc, có sẵn trong thực
thể của thế giới nguyên tử. Nếu ta đo vị trí của hạt thì hạt không có một
xung lực có thể định nghĩa được và khi ta đo chính xác xung lực thì nó
không có vị trí có thể định nghĩa được.
Trong vật lý nguyên tử, nhà khoa học không thể đóng một
vai trò của một quan sát viên khách quan, không tham dự được, mà
anh ta bị lôi vào trong thế giới bị quan sát và gây ảnh hưởng lên tính
chất của vật bị quan sát. Tính chất mà quan sát viên bị đưa vào tiến trình
của thí nghiệm được nhà khoa học Jonhn Wheeler xem là nét quan trọng nhất
của thuyết lượng tử. Do đó ông khuyên ta nên thay chữ quan sát viên
bằng từ tham dự viên. Ông viết:
Về thuyết lượng tử thì không gì quan trọng hơn điều
này, nó phá hủy quan niệm về thế giới “tự nó”, phá hủy một tấm kính an
toàn dày 20 cm cách ly thế giới với quan sát viên. Kể cả việc chỉ quan sát
một vật tí hon như electron, quan sát viên cũng phải đập vớ tấm kính. Anh
ta phải tới với nó, phải đặt để thiết bị quan sát. Tùy nơi anh, muốn đo vị
trí hay xung lực. Khi thiết kế thiết bị nhằm đo cái này thì cái kia không
thể đo được. Hơn thế nữa, duy việc đo lường đã thay đổi trạng thái của
electron. Sau đó thì thế giới không còn như trước nữa. Muốn mô tả điều gì
đã xảy ra, người ta phải gạch bỏ từ cũ “quan sát viên” mà thay vào đó chữ
mới “tham dự viên”. Trong một ý nghĩa kỳ lạ nào đó thì vũ trụ là một vũ
trụ đang tham gia.
Ý niệm tham dự thay vì quan sát này mới
được vật lý hiện đại khám phá gần đây, thế nhưng người nào tìm hiểu đạo
học phương Đông đều đã biết tới nó. Tri kiến tâm linh không bao giờ nhờ
quan sát mà đạt được, mà là nhờ sự tham gia toàn vẹn với tất cả tính chất
của mình. Khái niệm tham gia do đó trở thành then chốt trong thế
giới quan phương Đông. Các nhà đạo học phương Đông còn đi xa hơn nhiều so
với các nhà vật lý phương Tây. Trong thiền định thì họ đạt tới một điểm mà
sự khác biệt giữa người quan sát hoàn toàn tiêu tan, nơi đó chủ thể và
khách thể thống nhất làm một trong một toàn thể bất phân chia. Trong
Các bài thuyết giảng Upanishad có những câu:
Nơi có nhị nguyên, là nơi có một cái thấy một cái
khác; một cái ngửi một cái khác, một cái nếm vị một cái khác… Nhưng
nơi mà tất cả đã trở về tự tính của nó, thì cái gì thấy và cái gì bị thấy?
Cái gì ngửi và cái gì bị ngửi? Cái gì nếm và cái gì bị nếm?.
Đó là sự nắm bắt cuối cùng sự nhất thể mọi sự. Theo
trình bày của các nhà đạo học thì ta đạt tới nó trong dạng một tâm thức,
trong đó cá thể con người đã tan vào một nhất thể vô phân biệt, bỏ lại
đằng sau thế giới của cảm thọ và nội dung của “vật thể”. Trang Tử nói:
Mối liên hệ của tôi với thân và các phần tử của thân
đã tan biến. Giác quan của tôi đã bị dẹp bỏ. Tôi cứ để cho thân tâm đi
ngao du, tôi thành một với cái đại khối xuyên suốt. Tôi gọi nó là an tọa
và quên mọi chuyện.
Tất nhiên nền vật lý hiện đại làm việc trong khuôn khổ
hoàn toàn khác và không thể đi xa như thế trong việc chứng thực tính nhất
thể của mọi sự. Nhưng trong vật lý nguyên tử, nó đã đi một bước dài về
hướng của thế giới quan phương Đông. Thuyết lượng tử đã dẹp bỏ khái niệm
của một khách thể độc lập, đưa khái niệm người tham gia vào thay thế người
quan sát và thậm chí thấy cần phải đưa ý thức con người vào trong việc mô
tả thế giới tự nhiên. Nền vật lý này bây giờ đã thấy vũ trụ là một mạng
lưới với những liên quan vật chất và tâm linh chằng chịt, mà các phần tử
chỉ được định nghĩa trong mối tương quan với cái toàn thể. Thế giới quan
này của vật lý nguyên tử được một Phật tử Tantra là Lama Anagarika Govinda
tóm tắt rất hay như sau:
Người Phật tử không tin có sẵn một thế giới bên ngoài
độc lập và hiện hữu tách biệt mà anh ta tự gắn mình vào những năng lực của
thế giới đó. Đối với anh ta, thế giới bên ngoài và thế giới bên trong chỉ
là hai mặt của một mạng lưới duy nhất, trong đó những sợi chỉ của các năng
lực, của các biến cố, của các dạng tâm thức, của các dạng vật thể, chúng
được dệt chằng chịt thành một mạng lưới không sao gỡ nổi, gồm vô số những
mối liên hệ tác động lẫn nhau.
CHƯƠNG 11. VƯỢT TRÊN THẾ GIỚI
NHỊ NGUYÊN
Khi nhà đạo học phương Đông nói họ chứng mọi sự và biến
cố là hiện thân của một nhất thể cơ bản, điều đó không có nghĩa là họ xem
mọi sự vật như nhau. Họ thừa nhận tính cá thể của mọi sự, nhưng đồng thời
cũng ý thức rằng, trong tính toàn thể bao trùm thì mọi khác biệt và đối
lập đều tương đối cả. Đối với ý thức thông thường của chúng ta, thật khó
chấp nhận tính thống nhất của mọi khác biệt - nhất là tính thống nhất của
mọi đối lập. Đối với thế giới quan phương Đông, nó là nền tảng, đồng thời
nó cũng là một trong những nét làm ta hoang mang nhất.
Cặp đối lập là những khái niệm trừu tượng, chúng thuộc
về lĩnh vực của tư tưởng và vì thế chúng chỉ là tương đối. Chỉ việc tập
trung chú ý lên bất kỳ một khái niệm nào là chúng ta đã tạo ra cái đối lập
với nó rồi. Lão Tử nói: “Thiên hạ đều biết tốt là tốt, thì đã có xấu rồi;
đều biết lành là lành, thì đã có cái chẳng lành rồi”. Vì thế mà nhà đạo
học vượt qua lĩnh vực của khái niệm suy luận và nhờ đó mà nhận biết cái
tương đối và mối liên hệ hai cực của mọi đối lập. Họ nhận thức rằng, tốt
và xấu, sướng và khổ, sống và chết không phải là những kinh nghiệm có tính
tuyệt đối, thuộc về các loại hình khác nhau, mà chỉ là hai mặt của một
thực tại duy nhất; chúng là hai cực của một cái toàn thể. Đạt được tâm
thức nhận ra rằng mọi đối lập chỉ là hai cực và tất cả là một thể thống
nhất, đạt đến như thế được xem là một trong những mục đích cao cả nhất của
con người trong truyền thống tâm linh phương Đông. “Hãy an trụ mãi mãi
trong thực tại, đứng ngoài mọi mâu thuẫn thế gian!”, đó là lời khuyên của
Krishna trong Chí tôn ca (Bhagavad Gita) và lời khuyên này cũng
được truyền cho Phật tử. D.T.Suzuki viết như sau:
Ý niệm cơ bản của Phật giáo là, vượt khỏi thế giới
của những đối lập, thế giới của sự phân biệt do óc suy luận dựng lên, thế
giới của ô nhiễm do cảm thọ gây ra, và nhận ra thế giới huyền vi của trí
vô phân biệt, thế giới đó chứa đựng sự chứng đạt tri kiến tuyệt đối 2.
Toàn bộ giáo lý Phật giáo, hay cả toàn thể đạo học
phương Đông nói về tri kiến tuyệt đối này, tri kiến chỉ đạt được trong thế
giới vô niệm, trong đó sự thông nhất toàn thể mọi nhị nguyên đối
lập là sự chứng thực sinh động.
Sau đây là lời một thiền sư:
Buổi tối nghe gà gáy sáng
Nửa đêm thấy mặt trời soi.
Tri kiến về tính phân cực của mọi đối lập, rằng ánh sáng
và bóng tối, được và thua, tốt và xấu chỉ là khía cạnh khác nhau của một
hiện tượng, là một trong những nguyên lý nền tảng của triết lý sống phương
Đông. Vì mọi mặt đối lập phụ thuộc lẫn nhau, nên mối mâu thuẫn của chúng
không bao giờ được giải quyết bằng sự thắng lợi hoàn toàn của một bên mà
luôn luôn phải là biểu hiện của sự tương tác của hai bên. Do đó, tại
phương Đông, người đúng lý không phải là người làm việc bất khả thi, là
chỉ hướng về cái tốt, trừ diệt cái xấu, mà là người giữ được cân bằng giữa
cái xấu và tốt.
Khái niệm về sự cân bằng động là quan
trọng để hiểu được tính thống nhất giữa các mặt đối lập trong đạo học
phương Đông. Tính đó không hề tĩnh tại, nó là một sự tương tác năng động
của hai cực. Khía cạnh này được nhấn mạnh rõ nhất thông qua đồ hình âm -
dương của thánh nhân Trung Quốc. Họ xem cái nhất thể đứng sau âm - dương
là Đạo và xem Đạo là gốc của sự tương tác:
Cái đã sinh ra sáng ra tối, cái đó
là Đạo.
Sự nhất thể năng động của hai cực nhị
nguyên có thể được biểu diẽn bằng một thí dụ đơn giản với một chuyển động
vòng tròn và hình chiếu của nó. Hãy cho một trái bóng quay vòng tròn. Nếu
vận động này được chiếu lên màn thì ta thấy nó như chuyển động tuần hoàn
giữa hai cực. Để làm sáng tỏ sự tương tự với tư tưởng Trung Quốc, tôi gọi
vòng tròn là “Đạo” và hai cực là “Âm” và “Dương”. Trái bóng quay với vận
tốc đều, nhưng trên hình chiếu thì nó đi chậm lại khi đến các biên, quay
đầu, đi nhanh hẳn rồi lại đi chậm lại và cứ thế ở trong một sự tuần hoàn
vô tận.
Trong hình chiếu thì vận động vòng tròn
hiện ra như một vận động tuần hoàn giữa hai cực đối lập nhau, nhưng trong
sự vận động thực sự thì chúng thống nhất liên lạc với nhau. Hình ảnh này
của một sự thống nhất động đã được các nhà tư tưởng Trung Quốc nói đến,
thí dụ Trang Tử.
Vì ý thức
không gian - thời gian liên hệ mật thiết và dung thông với nhau, cả hai
dều là những thế giới quan động, chúng lấy thời gian và sự biến dịch làm
những yếu tố cơ bản. Khi học tập những mô hình tương đối của vật lý hiện
đại, ta sẽ thấy chúng là những minh họa đầy sức thuyết phục của hai yếu tố
của thế giới quan phương Đông; đó là tính nhất thể cơ bản của vũ trụ và
tính năng động nội tại của nó
Đến đây, chúng ta nói về thuyết tương đối đặc biệt. Nó
cho ta một khung cảnh chung để mô tả hiện tượng của vật thể vận động,
điện và từ. Cơ sở của nó là tính tương đối của không gian - thời gian và
sự thống nhất của chúng trong một thể bốn chiều không gian - thời gian.
Khuôn khổ của thuyết tương đối tổng quát bao gồm
cả trọng lực. Theo thuyết tương đối tổng quát thì trọng lực làm cong không
gian - thời gian. Tưởng tượng ra được điều đó là một việc hết sức khó
khăn. Chúng ta có thể dễ dàng tưởng tượng ra một bề mặt cong hai chiều,
thí dụ bề mặt của một quả trứng, vì chúng ta thấy bề mặt này nằm trong
không gian ba chiều. Ý nghĩa của từ cong của một mặt cong hai chiều
như thế là hoàn toàn rõ, nhưng khi ta tới không gian ba chiều - chứ chưa
nói gì tới không - thời gian bốn chiều - thì sức tưởng tượng bỏ rơi chúng
ta. Vì chúng ta không thể nhìn không gian ba chiều từ bên ngoài nhìn
vào (như trường hợp của mặt cong hai chiều), nên ta không thể tưởng
tượng được nó có thể bị bẻ cong theo một chiều nào khác được.
Để hiểu ý nghĩa của không gian - thời gian cong, chúng
ta phải dùng mặt cong hai chiều, lấy nó làm sự tương tự. Hãy tưởng tượng
bề mặt của một quả cầu. Thực tế quyết định nhất cho ta thấy sự tương tự
với không - thời gian là, độ cong là một tính chất nội tại của mặt cong đó
và có thể đo lường được, chứ không cần phải đi vào một không gian ba chiều
nào cả. Một con kiến xem như một sinh vật hai chiều sống trên mặt cong,
tuy nó không thể nhận biết được chiều thứ ba, nhưng nó có thể phát hiện bề
mặt mà nó đang sống là cong, với điều kiện là nó biết các phép đo lường
hình học. Muốn biết thế ta hãy so sánh hình học mặt cong của con kiến với
một mặt phẳng khác nhau ra sao.
Giả sử hai con kiến bắt đầu nghiên cứu hình học của
chúng bằng cách vẽ một đường thẳng, tức là đường ngắn nhất nối hai điểm.
Kết quả như sau: Ta thấy con kiến trên mặt phảng sẽ vẽ một đường thẳng,
nhưng con kiến trên mặt cong thì sao? Đường nối hai điểm A và B quả thật
là ngắn nhất so với mọi đường khác mà nó có thể chọn, thế nhưng từ cách
nhìn của ta thì nó là một đường cong. Bây giờ ta giả định hai con kiến
nghiên cứu hình tam giác . Con kiến trên mặt phẳng xác định rằng tổng số
ba góc của tam giác là bằng hai góc vuông, tức là 180 0, còn
con kiến trên mặt cong thấy rằng tổng số ba góc của hình tam giác luôn
luôn lớn hơn 1800. Đối với những tam giác nhỏ thì phần lớn hơn
đó không nhiều, nhưng tam giác càng lớn thì phần lớn hơn đó càng lớn theo;
trong trường hợp cực điểm thì con kiến của chúng ta có thể vẽ một tam giác
với ba góc vuông.
Cuối cùng hai con kiến vẽ vòng tròn và đo chu vi của nó.
Kiến mặt phẳng sẽ thấy rằng chu vi vòng trong bằng 2p nhân với bán kính,
độc lập với vòng tròn to nhỏ. Còn kiến trên mặt cong sẽ thấy chu vi vòng
tròn luôn luôn nhỏ hơn 2p nhân với bán kính.
Như hình sau đây cho thấy, nhờ cách nhìn ba chiều của ta
mà ta nhận ra rằng, bán kính của kiến trên mặt cầu không hề là đường
thẳng, nó là một đường cong, đường cong đó luôn luôn dài hơn bán kính thật
của vòng tròn.
Khi hai con kiến trực tiếp nghiên cứu hình học thì con
kiến trên mặt phẳng sẽ phát hiện ra định đề Euclid và các định luật khác,
nhưng con kiến trên mặt cong sẽ tới với những nhận thức khác. Sự khác biệt
giữa hai nhận thức đó thì nhỏ đối với các hình nhỏ nhưng nó sẽ lớn hơn đối
với các hình thể lớn. Thí dụ của hai con kiến cho ta thấy rằng, ta luôn
luôn có thể phán quyết, liệu một mặt là cong hay không, cứ đơn giản dựa
vào đo lường trên mặt đó rồi so sánh kết quả đo lường với kết quả của hình
học Euclid. Nếu có sự khác nhau giữa hai kết quả thì mặt đó là cong, và
nếu sự khác nhau càng cao độ thì cong càng lớn.
Với cách thế đó mà ta định nghĩa không gian ba chiều
cong là một không gian mà trong đó hình học Euclid không còn đúng nữa.
Những định luật trong không gian đó là thuộc về một loại khác, phi Euclid.
Hình học phi Euclid đó được nhà toán học Bernhard Riemann giới thiệu vào
thế kỷ thứ mười chín, như một ý niệm toán học hoàn toàn trừu tượng và cũng
chỉ được xem như thế, cho đến ngày Einstein nêu ra giả thuyết cách mạng
là, không gian ta đang sống ba chiều này quả thật là cong. Theo Einstein
thì độ cong của không gian bị trường trọng lực của các vật thể mang khối
lượng gây ra. Không gian xung quanh vật thể bị cong và độ cong đó, cũng là
độ khác biệt với hình học Euclid, tỉ lệ với khối lượng của vật thể.
Phương trình nói lên độ cong không gian liên hệ thế nào
với sự phân bố vật thể không gian được gọi là thuyết trường Einstein.
Chúng không những được sử dụng để xác định mức biến thiên của độ cong tại
mỗi chỗ gần các thiên thể hay hành tinh, mà với chúng, người ta có thể
biết được độ cong tổng quát của không gian. Nói cách khác, những đẳng thức
trường Einstein có thể dùng để xác định cấu trúc của vũ trụ. Tiếc thay
chúng không cho lời giải rõ rệt. Có nhiều lời giải toán học khả dĩ cho
những phương trình đó, và mỗi lời giải lại cho những mô hình khác nhau về
vũ trụ. Mục đích chính của ngành vũ trụ học hiện nay là xác định
lời giải nào đúng với cơ cấu vũ trụ của chúng ta.
Vì trong thuyết tương đối, không gian không bao giờ tách
ly khỏi thời gian nên độ cong do trọng lực gây ra cũng không chỉ hạn chế
trong không gian ba chiều, mà người ta phải mở rộng lên không gian - thời
gian bốn chiều. Đó chính là điều mà thuyết tương đối tổn quát đã tiên
đoán. Trong một không - thời gian cong thì sự méo mó được sinh ra không
những chỉ tác động lên không gian - là những mối liên hệ có thể mô tả bằng
hình học - mà còn trên độ dài của những khoảng thời gian. Thời gian trôi
sẽ không với một vận tốc đều, như trong một không gian - thời gian
phẳng; dòng chảy sẽ không đều, vì sự phân bố vật chất có chỗ cong
nhiều cong ít. Thế nhưng chúng ta phải nói rõ là, sự biến đổi này của thời
gian được thấy bởi một quan sát viên, người đó đứng khác chỗ của đồng hồ
đang đo lường thời gian. Nếu thí dụ quan sát viên cũng đứng ngay chỗ đó,
ngay nơi mà thời gian chạy chậm đi, thì mọi đồng hồ cũng chậm theo và
người ta sẽ không có cách nào để đo hiệu ứng chậm đi đó nữa.
Trong môi trường địa cầu này thì tác động của trọng lực
lên không gian thời gian qúa nhỏ nên ta có thể bỏ qua, thế nhưng trong
ngành thiên văn học, khi người ta làm việc với những khối lượng lớn như
hành tinh, thiên thể và ngân hà thì độ cong của không gian là một hiện
tượng quan trọng. Tới nay thì tất cả mọi quan sát viên đều thừa nhận
thuyết của Einstein là đúng và buộc chúng ta phải tin rằng không - thời
gian quả thật là cong. Hiệu ứng cùng cực nhất của nó là sự sụp đổ trọng
trường của một thiên thể đặc cứng. Theo hình dung của thiên văn học ngày
nay thì mỗi thiên thể trong quá trình phát triển sẽ đạt tới một giai đoạn,
trong đó nó bị co rút lại vì lực hút lẫn nhau giữa các hạt cấu tạo nên nó.
Khi khoảng cách giữa các hạt nhỏ dần thì sức hút giữa chúng tăng nhanh,
quá trình sụp đổ càng gia tốc, và khi thiên thể có đủ tỉ trọng rồi, tức là
khoảng gấp đôi tỉ trọng của mặt trời thì không còn tiến trình nào có thể
cứu vãn sự sụp đổ.
Lỗ đen là những vật thể bí ẩn và đáng kinh ngạc nhất mà
nền thiên văn hiện đại đang nghiên cứu, và chúng minh họa hiệu ứng của
thuyết tương đối một cách lạ lùng nhất...
Khi thiên thể co rút lại và ngày càng đặng của không -
thời gian quanh nó sẽ tăng lên. Vì sức hút quá mạnh, không có vật gì có
thể rời thiên thể được, và tới mức mà ngay cả ánh sáng cũng bị hút, không
chạy thoát nổi bề mặt của thiên thể. Tới mức này thì xung quanh thiên thể
sinh ra một tầm chân trời biến cố, tức là không còn dấu hiệu gì của thiên
thể đi ra ngoài được với thế giới còn lại. Không gian xung quanh thiên thể
bị cong tới mức ánh sáng cũng bị nhốt lại, không chạy thoát được. Ta không
thể thấy một thiên thể như vậy vì ánh sáng của nó không thể đến với chúng
ta và do đó ta gọi nó là một lỗ đen. Sự hiện hữu của những lỗ đen đã được
tiên đoán từ năm 1916 trên cơ sở thuyết tương đối. Trong thời gian gần
đây, nó gây ra nhiều chú ý vì một hiện tượng của thiên thể cho thấy có sự
hiện hữu của một vì sao nặng, vì sao đó quay chung quanh một đối tượng vô
hình, đối tượng đó có thể là một lỗ đen.
Lỗ đen là những vật thể bí ẩn và đáng kinh ngạc nhất mà
nền thiên văn hiện đại đang nghiên cứu, và chúng minh họa hiệu ứng của
thuyết tương đối một cách lạ lùng nhất. Độ cong của không - thời gian
quanh chúng không những ngăn trở ánh sáng đến với chúng ta mà còn gây ảnh
hưởng đáng kể lên thời gian. Nếu đem một cái đồng hồ gắn trên bề mặt của
một thiên thể đang co rút, tức là gắn một thiết bị gửi tín hiệu về phía
chúng ta thì ta sẽ thấy rằng những tín hiệu đó chậm dần khi thiên thể càng
tiến gần đến tầm chân trời biến cố; và khi nó trở thành lỗ đen thì không
còn tín hiệu nào đến với ta nữa. Đối với một quan sát viên ở bên ngoài thì
thời gian đi chậm dần khi thiên thể co rút và khi nó đến tầm chân trời
biến cố thì thời gian ngưng hẳn lại. Do đó mà sự sụp đổ hoàn toàn một vì
sao cần một thời gian vô tận. Còn bản thân thiên thể đó thì không có gì
đặc biệt xảy ra cả khi nó vượt qua tầm chân trời biến cố. Thời gian sẽ
trôi bình thường và sự sụp đổ sẽ hoàn tất sao một thời gian có hạn, khi
thiên thể biến thành một điểm với một tỉ trọng vô cùng lớn. Thế thì sự sụp
đổ thật sự kéo dài bao lâu, đó là một khoảng thời gian vô hạn hay hữu hạn?
Trong thế giới của thuyết tương đối, một câu hỏi như thế là vô nghĩa. Thời
gian sống của một vì sao co giãn cũng như mọi khoảng thời gian khác, nó là
tương đối và tùy thuộc nơi hệ qui chiếu của quan sát viên.
Thuyết tương đối tổng quát đã từ bỏ những khái niệm cổ
điển xem không gian và thời gian là tuyệt đối và độc lập. Không những mọi
đo lường trong không gian và thời gian là tương đối và phụ thuộc vào tình
trạng vận động của quan sát viên, mà toàn bộ cấu trúc của không - thời
gian lại phụ thuộc vào sự phân bố của vật chất. Không gian mỗi nơi có độ
cong khác nhau và thời gian trôi chảy tại nhiều nơi trong vũ trụ với vận
tốc khác nhau. Khái niệm của chúng ta về không gian ba chiều Euclid và
thời gian trôi chảy tuyến tính chỉ được giới hạn trong đời sống hàng ngày,
và ta phải từ bỏ chúng khi muốn đi ra khỏi đó.
Các bậc hiền nhân phương Đông cũng đã nói đến sự mở rộng
của kinh nghiệm về thế giới trong những tình trạng ý thức cao cấp và họ
đoán chắc rằng những tình trạng này chứa đựng một sự chứng thực hoàn toàn
khác về không gian và thời gian. Họ nhấn mạnh rằng, khi ở trong thiền
định, họ không những ra khỏi một không gian ba chiều bình thường - mà còn
mạnh hơn - họ còn vượt qua sự cảm nhận thời gian thông thường. Thay vì
tiếp nối của những khoảng thời gian tuyến tính họ chứng một thực
tại vô tận, phi thời gian mà lại năng động. Trông ba đoạn văn sau đây ta
sẽ nghe ba nhà đạo học nói về chứng thực của họ về cái thực tại vô cùng:
Trang Tử nhà hiền nhân Lão giáo; Huệ năng Lục tổ Thiền tông; và
D.T.Suzuki, thiền sư Phật giáo của thời đại chúng ta:
Hãy quên thời gian đang trôi chảy; hãy quên mọi mâu
thuẫn của tư duy. Hãy nghe cái vô cùng réo gọi và hãy đứng tại đó.
Trang Tử
Cái giây phút hiện tại này là sự tĩnh lặng vô cùng. Mặc
dù nó chỉ hiện hữu trong phút giây này, nó không có biên độ và cũng trong
đó mà hiện ra cái miên viễn tuyệt diệu.
Huệ Năng
Trong thế giới tâm linh này không có phân chia thời gian
cũng như quá khứ, hiện tại và tương lai, vì các thứ này đã rút lại trong
một cái chớp mắt của hiện tại, trong đó đời sống rung động trong ý nghĩa
đích thực của nó… Quá khứ và tương lai đã cuốn tròn trong giây phút hiện
tại của giác ngộ và cái chớp mắt hiện tại này không hề đứng yên với những
gì nó dung chứa, mà vận động tiếp tục không ngừng nghỉ.
D.T.Suzuki
Thật hầu như không thể nói về sự chứng thực của một hiện
tại phi thời gian, vì những từ phi thời gian, hiện tại, quá khứ, phút giây
v.v…đều dựa trên khái niệm thông thường về thời gian mà thành. Vì thế thật
vô cùng khó mà hiểu các nhà đạo học đó muốn nói gì với những câu trên. Tuy
thế, ở đây nền vật lý hiện đại có thể giúp ta dễ hiểu hơn, vì người ta có
thể dùng hình vẽ để biểu diễn các lý thuyết vật lý đã chuyển hóa khái niệm
thời gian thông thường như thế nào.
Thật hầu như không thể nói về sự chứng thực của một hiện
tại phi thời gian, vì những từ phi thời gian, hiện tại, quá khứ, phút giây
v.v…đều dựa trên khái niệm thông thường về thời gian mà thành.Vì thế thật
vô cùng khó mà hiểu các nhà đạo học đã muốn nói gì với những câu trên.
Tuy thế, ở đây nền vật lý hiện đại có thể giúp ta dễ
hiểu hơn, vì người ta có thể dùng hình vẽ để biểu diễn các lý thuyết vật
lý đã chuyển hóa khái niệm thời gian thông thường như thế nào.
Trong nền vật lý tương đối thì lịch sử của một vật thể,
thí dụ một hạt, được biểu diễn trong biểu đồ không - thời gian. Trong biểu
đồ này thì trục hoành biểu diễn không gian (ở đây chỉ có một chiều), trục
tung biểu diễn thời gian. Đường đi của hạt trong không - thời gian được
gọi là vạch vũ trụ. Nếu hạt nằm yên thì thật ra nó cũng đã vận động trong
thời gian; trong trường hợp này thì vạch vũ trụ của nó là một đường dọc.
Nếu hạt cũng vận động trong không gian thì vạch vũ trụ là một đường xéo,
vạch càng xéo thì hạt vận động càng nhanh. Ta để ý rằng, trong trục thời
gian, hạt chỉ hướng lên, nhưng trong trục không gian nó có thể đi tới hay
đi lui. Vạch vũ trụ có thể nghiêng nhiều góc khác nhau so với trục ngang,
nhưng nó không bao giờ nằm ngang thực sự, vì nếu thế thì có nghĩa hạt
không cần thời gian nào mà vận động được từ nơi này qua nơi khác.
Biểu đồ không - thời gian được sử dụng trong vật lý
tương đối để minh họa sự tác động lẫn nhau giữa các hạt. Ta có thể vẽ một
biểu đồ cho mỗi tiến trình và khi sự xuất hiện của mỗi tiến trình đó có
một xác suất thì ta có thể cho nó một phát biểu toán học nhất định. Thí dụ
sự va chạm nhau giữa một electron và photon có thể được biểu diễn trong
hình sau đây. Ta đọc biểu đồ này như sau (từ dưới lên trên, theo chiều
thời gian): một electron (được biểu thị bằng e-) va chạm một
photon (biểu thị bằng g, gamma);electron hấp thụ photon và vận động tiếp
với một vận tốc khác (vạch vũ trụ có độ nghiêng khác); sau một thời gian
electron nhả photon ra và quay lui.
Lý thuyết xây dựng nên khuôn khổ của biểu đồ không -
thời gian và cho nó những phát biểu toán học liên hệ được gọi là thuyết
trường lượng tử. Nó là một trong những thuyết thuộc phép tương đối quan
trọng nhất của ngành vật lý hiện đại mà ta sẽ bàn đến sau. Để thảo luận về
biểu đồ không - thời gian, chúng ta chỉ cần nắm vững hai tính chất quan
trọng nhất của thuyết này. Một là, đừng quên mọi tương tác dẫn đến sự phát
sinh và huỷ diệt của các hạt, như sự hấp thụ và nhả ra của photon trong
biểu đồ trên; và hai là sự đối xứng căn bản giữa hạt và đối hạt. Cứ mỗi
hạt lại có một đối hạt có khối lượng như nhau và điện tích ngược nhau. Thí
dụ đối hạt của electron là positron và thường được biểu diễn bằng e+.
Đối với photon vô điện tích thì đối hạt của nó chính là bản thân nó. Một
cặp được phát sinh chớp nhoáng từ photon và trong tiến trình ngược lại
chúng hợp nhau thành photon.
Nhờ áp dụng thuật sau đây mà biểu đồ không - thời gian
trở nên đơn giản: mũi tên của vạch vũ trụ không còn dùng để chỉ hướng đi
nữa(trước sau thì nó cũng vô ích vì tất cả các hạt đều vận động theo chiều
thời gian, trong biểu đồ là chỉ lên). Thay vào đó mũi tên dùng để phân
biệt hạt và đối hạt: nếu nó chỉ lên thì đó là một hạt (thí dụ một
electron). Còn photon, bản thân nó cũng là đối hạt nên được biểu diễn
không có mũi tên. Với sự điều chỉnh này ta có thể giữ nguyên mọi trình bày
trong biểu đồ mà không gây xáo trộn gì cả: vạch với mũi tên là electron,
vạch không có mũi tên là photon. Ta còn có thể đơn giản hoá biểu đồ bằng
cách bỏ luôn trục không gian và thời gian, và chỉ nhớ trong đầu trục thời
gian từ dưới hướng lên và trục đi tới của không gian từ trái qua phải. Như
biểu đồ của quá trình va chạm electron - photon như sau:
Vậy muốn vẽ biểu đồ va chạm của positron - photon, ta
chỉ cần dùng biểu đồ trên nhưng quay chiều mũi tên là được.
Tới bây giờ thì chưa xảy ra điều gì lạ lùng trong cuộc
thảo luận của ta về biểu đồ không - thời gian cả. Chúng ta đọc nó từ dưới
lên, đúng như qui ước của ta về dòng chảy của thời gian tuyến tính. Tuy
thế, khía cạnh đặc biệt hiện ra trong biểu đồ với đường đi của positron.
Dạng toán học của lý thuyết trường cho phép ta lý giải đường này bằng hai
cách: một là, xem nó là positron, vận động theo chiều thời gian; hai là,
xem nó là eletron và vận động ngược chiều thời gian! Hai cách diễn giải
đều giống nhau về mặt toán học. Tức là sự phát biểu đó áp dụng cho một đối
hạt chạy từ quá khứ đến tương lai hay một hạt chạy từ tương lai về quá
khứ.
Thế nên ta có thể xem hai biểu đồ này biểu thị một tiến
trình duy nhất, tiến trình đó chỉ diễn ra trong hai chiều thời gian khác
nhau. Cả hai đều có thể xem là sự va chạm giữa electron và photon, nhưng
trong tiến trình này thì các hạt đi theo chiều thời gian; trong tiến trình
kia thì chúng đi ngược lại (đường có vạch đứt biểu thị photon, dù nó chạy
cùng chiều hay ngược chiều thời gian, vì hạt hay đối hạt của photon chỉ là
một). Như thế thuyết tương đối của tương tác giữa các hạt cho thấy một sự
đối xứng hoàn toàn, trên trục của thời gian. Tất cả mọi biểu đồ không -
thời gian đều có thể được đọc hai chiều như vậy. Điều đó có nghĩa là mỗi
một tiến trình đều có một tiến trình ngược lại trong thời gian, trong đó
ta thay thế các hạt bằng những đối hạt của chúng.
Để biết tính chất bất ngờ này của thế giới hạ nguyên tử
ảnh hưởng lên quan điểm không gian - thời gian của ta như thế nào, hãy xem
tiến trình sau đây trong biểu đồ sau:
Chúng ta hãy đọc biểu đồ theo cách qui ước từ dưới lên
trên, ta sẽ thấy như sau: một electron (được biểu diễn bằng vạch liền) và
một photon (vạch đứt) tiến gần với nhau; tại A photon phân hủy thành một
cặp electron - positron, electron vận động về phía phải, positron về phía
trái; positron va chạm với electron đầu tiên tại B, chúng tiêu hủy lẫn
nhau và tạo thành photon, chuyển về phía trái.
Mặt khác ta có thể quan niệm biểu đồ này như sự tác động
giữa hai photon và một electron, trong đó electron mới đầu di chuyển theo
chiều thời gian, sau đó đi ngược thời gian, rồi lại vận động theo chiều
thời gian. Muốn quan niệm như thế ta hãy theo chiều mũi tên của electron
mà nhìn. Trước hết electron vận động đến B, nơi đó nó nhả một photon (biến
thành đối hạt), đổi chiều thời gian đi lui về điểm A; tại A nó hấp thụ
photon đầu tiên, lại đổi chiều và vận động theo thời gian. Trong mức độ
nào đó thì cách lý giải thứ hai dễ hơn cách thứ nhất vì ta chỉ việc đi
theo vạch vũ trụ của một hạt. Thế nhưng ta thấy ngay mình gặp khó khăn về
ngôn ngữ. Electron mới đầu đến B trước, sau đó lui về A, mà như thế thì sự
hấp thụ photon tại A xảy ra trước khi nhả photon ở B.
Người ta có thể né tránh sự khó khăn này bằng cách xem
biểu đồ không - thời gian như trên không phải là sự ghi nhận đường đi của
hạt trong quá trình thời gian, mà chỉ là cấu trúc bốn chiều trong không -
thời gian, cấu trúc đó diễn tả một mạng lưới toàn những biến cố liên hệ
với nhau, mạng lưới đó không có chiều nào là dứt khoát của thời gian cả.
Vì tất cả các hạt đều có thể vận động cùng chiều thời gian hay ngược chiều
thời gian, cũng như trong không gian có trái có phải, cho nên vô nghĩa khi
chỉ có một chiều của thời gian trong biểu đồ. Nó chỉ là một tấm bản đồ bốn
chiều, đặt trong không - thời gian, trong đó ta không thể nói về một thứ
tự thời gian. Louis de Broglie nói :
Trong không - thời gian , tất cả những gì mà mỗi người
chúng ta gọi là quá khứ, hiện tại, tương lai, chúng hiện hữu một lúc
(enbloc). Có thể nói mỗi quan sát viên, khi thời gian của họ trôi qua thì
họ phát hiện ra những mặt cắt với cái không - thời gian đó, những mặt cắt
đó hiện ra với họ như những khía cạnh khác nhau của thế giới vật chất, cả
trước cả sau, mặc dù trong thực tại thì tổng thể của những biến cố đã hiện
hữu trước khi họ biết tới, xây dựng nên tổng thể không - thời gian.
Đây là toàn bộ ý nghĩa của không gian - thời gian trong
vật lý tương đối. Không gian - thời gian là hoàn toàn bình đẳng. Chúng
được thống nhất trong một thể liên tục bốn chiều, trong đó sự tương tác
giữa các hạt có thể diễn ra trong mọi hướng. Muốn tưởng tượng cụ thể sự
tương tác này, ta phải thu một tấm hình bốn chiều, tấm hình đó bao trọn cả
toàn bộ thời gian lẫn toàn bộ không gian. Muốn có một cảm giác về thế giới
tương đối của các hạt, chúng ta phải “quên thời gian đang trôi”, nói như
Trang Tử và do đó mà biểu đồ không - thời gian của đạo học phương Đông?
Nghĩa của sự tương đồng đó được Lama Govinda nói như sau về phép thiền
định Phật giáo:
Và khi nói tới cảm giác về không gian trong thiền định
thì ở đây ta có một kích thước hoàn toàn khác về không gian. Trong sự
chứng thực về không gian này, cái trước cái sau trở thành những cái đồng
thời, những cái cạnh nhau trong không gian. Rồi cái đó cũng không tĩnh tại
mà thành một thể liên tục sinh động, trong đó bao gồm cả không gian và
thời gian…
Mặc dù các nhà vật lý sử dụng ngôn ngữ toán học hình
thức và các biểu đồ để diễn tả sự tương tác cùng một lúc trong không -
thời gian bốn chiều, họ giải thích thêm rằng trong thế giới thực sự một
quan sát viên chỉ nhận biết những hiện tượng đó trong từng lớp giai đoạn
của không - thời gian, tức là có thứ tự thời gian. Ngược lại các nhà đạo
học quả quyết họ thực sự có thể chứng thực qui mô toàn thể của không -
thời gian, trong đó thời gian không còn trôi chảy. Thiền sư Đạo Nguyên
nói:
Phần lớn đều nói rằng thời gian trôi qua. Thực tế thì nó
đứng một chỗ. Hình dung về một sự trôi chảy, người ta có thể gọi nó là
thời gian, nhưng đó là một hình dung sai lầm, vì ta chỉ thấy thời gian
trôi chảy, ta không thể nhận rằng nó đang đứng tại chỗ.
Thời gian, không gian và mối liên hệ nhân quả giống như
tấm kính ta nhìn xuyên qua nó để thấy cái tuyệt đối… Trong tuyệt đối thì
không có thời gian, lẫn không gian, lẫn liên hệ nhân quả
Đây là toàn bộ ý nghĩa của không gian - thời gian trong
vật lý tương đối. Không gian - thời gian là hoàn toàn bình đẳng. Chúng
được thống nhất trong một thể liên tục bốn chiều, trong đó sự tương tác
giữa các hạt có thể diễn ra trong mọi hướng. Muốn tưởng tượng cụ thể sự
tương tác này, ta phải thu một tấm hình bốn chiều, tấm hình đó bao trọn cả
toàn bộ thời gian lẫn toàn bộ không gian. Muốn có một cảm giác về thế giới
tương đối của các hạt, chúng ta phải “quên thời gian đang trôi”, nói như
Trang Tử và do đó mà biểu đồ không - thời gian của đạo học phương Đông?
Nghĩa của sự tương đồng đó được Lama Govinda nói như sau về phép thiền
định Phật giáo:
Và khi nói tới cảm giác về không gian trong thiền định
thì ở đây ta có một kích thước hoàn toàn khác về không gian. Trong sự
chứng thực về không gian này, cái trước cái sau trở thành những cái đồng
thời, những cái cạnh nhau trong không gian. Rồi cái đó cũng không tĩnh tại
mà thành một thể liên tục sinh động, trong đó bao gồm cả không gian và
thời gian…
Mặc dù các nhà vật lý sử dụng ngôn ngữ toán học hình
thức và các biểu đồ để diễn tả sự tương tác cùng một lúc trong không -
thời gian bốn chiều, họ giải thích thêm rằng trong thế giới thực sự một
quan sát viên chỉ nhận biết những hiện tượng đó trong từng lớp giai đoạn
của không - thời gian, tức là có thứ tự thời gian. Ngược lại các nhà đạo
học quả quyết họ thực sự có thể chứng thực qui mô toàn thể của không -
thời gian, trong đó thời gian không còn trôi chảy. Thiền sư Đạo Nguyên
nói:
Phần lớn đều nói rằng thời gian trôi qua. Thực tế thì nó
đứng một chỗ. Hình dung về một sự trôi chảy, người ta có thể gọi nó là
thời gian, nhưng đó là một hình dung sai lầm, vì ta chỉ thấy thời gian
trôi chảy, ta không thể nhận rằng nó đang đứng tại chỗ.
Nhiều bậc đạo sư phương Đông nhấn mạnh rằng, tư duy phải
sinh ra trong thời gian, nhưng linh ảnh có thể vượt thời gian.
Govinda nói: “Linh ảnh nằm trong một không gian nhiều chiều hơn và vì thế
nó phi thời gian”. Không - thời gian của vật lý tương đối cúng là một
không gian phi thời gian, có chiều cao hơn, trong đó mọi biến cố đều liên
hệ với nhau, nhưng mối liên hệ không có tính nhân quả. Sự tương tác các
hạt chỉ có thể lý giải trong khái niệm nguyên nhân- kết quả khi biểu đồ
không - thời gian được đọc trong một hướng nhất
định, thí dụ từ dưới lên trên. Một khi chúng được quan
niệm trong một cấu trúc bốn chiều, không có một hướng thời gian nhất định,
thì không có cái trước, cái sau và vì thể không có nguyên nhân và
hậu quả.
Các nhà đạo học phương Đông cũng quả quyết tương tự như
thế, rằng khi họ vượt qua thời gian thì họ cũng vượt lên nhân quả. Cũng
như khái niệm cổ điển của ta về không - thời gian, thì hình dung về nhân
quả cũng bị giới hạn với một kinh nghiệm nhất định về thế giới và nó phải
bị từ bỏ khi kinh nghệm này được mở rộng. Swami Vivekanada nói:
Thời gian, không gian và mối liên hệ nhân quả giống
như tấm kính ta nhìn xuyên qua nó để thấy cái tuyệt đối… Trong tuyệt đối
thì không có thời gian, lẫn không gian, lẫn liên hệ nhân quả.
Chúng đưa ta vượt lên kih nghiệm về thời gian và giải
thoát ra khỏi những mắt xích của nhân quả - thoát khỏi sự trói buộc của
nghiệp, nói như Ấn Độ giáo và Phật giáo. Nền đạo học phương Đông do đó
là một sự giải thoát khỏi thời gian và trong chừng mực nhất định, điều đó
cũng có giá trị cho nền vật lý tương đối.
Chương 13: VŨ TRỤ ĐỘNG
Trong nền đạo học phương Đông, có một thực tại được xem
là thực thể của vũ trụ, nó là nguồn gốc của muôn hình vạn trạng sự vật và
biến cố. Ấn Độ giáo gọi nó là “Brahman”, Phật giáo gọi là “Pháp thân”
(thân của mọi hiện hữu) hay “Chân Như” (Cái - như - thế) và Lão giáo gọi
là “Đạo”. Tất cả đều quả quyết thực tại cao nhất đó vượt trên những khái
niệm suy luận của chúng ta và không thể mô tả được. Thế nhưng thực tại đó
lại không tách rời khỏi những biến hiện vô cùng của nó. Tự tính của nó là
luôn luôn hiện thành hàng tỉ sắc hình, chúng sinh thành và biến hoại,
chúng chuyển hóa từ cái này qua cái khác một cách vô tận. Trong khía cạnh
hiện tượng thì nhất thể vũ trụ đó tự nó là động, và tiếp cận với tự tính
đó là cơ sở của mọi nền đạo học phương Đông. D.T.Suzuki viết về tông Hoa
Nghiêm của Đại thừa Phật giáo như sau:
Ý niệm cơ bản của Hoa Nghiêm là nắm bắt về trụ động mà
tính chất của nó là luôn luôn biến hoại, trong dòng của vận động, đó là
đời sống.
Sự nhấn mạnh vận động, dòng chảy và thay đổi không phải
chỉ có nơi đạo học phương Đông mà cũng là khía cạnh chủ yếu của mọi thế
giới quan tâm linh trong các thời đại. Trong thời cổ đại Hy Lạp,
Heraclitus đã chỉ rằng mọi sự đều trôi chảy và so sánh thế giới như
một ngọn lửa bất diệt. Tại Mexico nhà đạo học Yaqui Don Juan cũng nói về
một thế giới thoáng hiện và xác nhận muốn thành minh triết tự
thân là ánh sáng hay dòng chảy.
Những khái niệm then chốt của Ấn Độ giáo và Phật giáo
lấy từ triết học Ấn Độ tính vận động. Từ “Brahman” xuất phát từ gốc
Sanskrit Brih và nói về một thực tại sinh động, luôn luôn vận động. Theo
S.Radhakrishnan, từ Brahman có nghĩa là lớn mạnh và đầu mối của đời
sống, vận hành và tiến triển. Các bài thuyết giảng (Upanishad) gọi
Brahman là vô sắc, bất tử,vận hành và gắn cho nó một sự vận động tự
thân, mặc dù nó đứng trên mọi sắc thể.
Lê - câu Vệ - đà diễn tả tính vận động của thế
giới với một khái niệm khác, khái niệm “Rita”. Từ này xuất phát từ gốc
ri (tự thân vận động). Nghĩa của nó là sự vận hành của mọi sự
hay trật tự của tự nhiên. Từ này đóng một vai trò quan trọng trong
mọi huyền thoại của Vệ - đà và liên hệ với mọi thần thánh của Vệ - đà. Các
nhà đạo sĩ Vệ - đà không xem trật tự của tự nhiên là một qui luật tĩnh tại
của Thượng đế bày ra mà là một nguyên lý động nằm sẵn trong vũ trụ. Ý niệm
này cũng là khái niệm đạo của Trung Quốc, xem nó là các thể vận hành của
vũ trụ, là trật tự của vũ trụ. Như các nhà thấu hiểu Vệ - đà, các chân
nhân Trung quốc xem thế giới là dòng chảy và sự biến dịch và vì vậy mà gẵn
cho hình dung về vũ trụ một khái niệm động. Hai khái niệm Rita và Đạo về
sau được mang từ bình diện vũ trụ đưa xuống cho con người và sau đó mang
một khái niệm đạo lý; Rita là qui luật vũ trụ mà trời, người đều phải tuân
thủ, và Đạo là đường đi đúng đắn phải theo.
Khái niệm Vệ - đà Rita dung chứa luôn Karma
(Nghiệp), về sau nghiệp mới trở thành ý niệm để bày tỏ tính tác động qua
lại giữa sự vật và biến cố. Từ Nghiệp có nghĩa là hành động và diễn
tả sự quan hệ động giữa các hiện tượng. Trong chí tôn ca
(Bhagavad-Gita) ta đọc: tất cả hành động xảy ra trong thời gian thông
qua sự nối kết lẫn nhau của các năng lực tự nhiên. Đức Phật là từ bỏ
khái niệm truyền thống của nghiệp và cho nó một ý nghĩa mới, trong đó Ngài
mở rộng ra xem nó là mối liên hệ động lực trong bình diện con người. Do đó
mà về sau nghiệp là chuỗi xích vô tận giữa nguyên nhân và kết quả trong
đời con người, và cùng chuỗi xích đó bị Phật phá vỡ bằng cách đạt tới tình
trạng của sự giác ngộ.
Ấn Độ giáo cũng tìm ra nhiều cách để trình bày tính chất
động của vũ trụ trong ngôn ngữ huyền thoại. Trong Chí tôn ca,
Krishna, hiện thân của thần Vishnu, nói: Nếu ta không hành động, thì
những thế giới này sẽ suy tận, và Shiva, vũ công vũ trụ có lẽ là sự
hiện thân hoàn toàn nhất của vũ trụ đang vận hành. Nhờ sự nhảy múa của
mình mà Shiva giữ được tính muôn vẻ của hiện tượng trong thế gian, Ngài
thống nhất mọi sự bằng cách đưa chúng vào nhịp điệu của mình và cho chúng
cùng nhảy múa - một hình ảnh vĩ đại về tính nhất thể đầy động lực của vũ
trụ.
Ấn Độ giáo nhìn vũ trụ như một sinh cơ, đang lớn dần và
vận hành tuần hoàn có nhịp điệu, trong đó mọi thứ đều trôi chảy và tất cả
những dạng hình tĩnh tại đều là Maya (ảo giác), có nghĩa là chúng chỉ tồn
tại trong cái nhìn huyễn giác. Ý niệm cuối cùng này - tính vô thường của
mọi sự - cũng là điểm xuất phát của đạo Phật. Đức Phật cho rằng mọi
pháp hữu vi đều vô thường và mọi Khổ trên thế gian đều xuất phát từ sự
bám giữ nơi sắc thể - nơi sự vật, con người hay ý niệm - thay vì chấp nhận
một thế giới đang vận hành và thay đổi. Thế nên thế giới động cũng là gốc
rễ của giáo pháp Phật giáo. Sau đây là lời của Radhakrishnan:
Một triết lý động tuyệt diệu được Phật phát biểu cách
đây 2500 năm… Cảm xúc trước sự vật đang chuyển hóa, biến đổi và phối hợp
không lúc nào dừng, Phật nói về một triết íy vô thường. Ngài xem vật thể,
âm thanh, hạt, chất liệu trở thành lực, vận hành, hệ quả và tiến trình và
thừa nhận một thực tại động.
Phật giáo gọi thế giới của sự đổi thay liên tục này là
Ta - bà, nguyên nghĩa lang thang, trôi nổi và nói rõ rằng
trong đó không có gì đáng để bám giữ cả. Đối với người theo Phật giáo thì
người đạt đạo là người không chống lại dòng chảy của cuộc sống mà cùng vận
động theo nó. Khi thiền sư Vân Môn được hỏi: Đạo là gì, ông đáp
Cứ đi. Cũng thế mà Phật tử gọi đức Phật là Như Lai, có nghĩa là
người đã đến như thế. Trong triết học Trung quốc, thực tại cứ đổi
thay liên tục này được gọi là Đạo và là tiến trình của vũ trụ, trong đó
mọi vật đều tham gia. Cũng như Phật giáo, Lão giáo cho rằng ta không nên
cưỡng lại dòng chảy mà cần phải thích nghi với nó. Lại một lần nữa đây là
đặc trưng của thánh nhân, của người giác ngộ. Nếu Phật là người đến
như thế thì thánh nhân đạo Lão là người thuận lẽ trời và nói
như Hoài Nam Tử là theo dòng đạo.
Càng học hỏi kinh sách tôn giáo và triết lý của Ấn Độ
giáo, Phật giáo và Lão giáo, người ta càng rõ họ nhận thức tự thân thế
giới là vận động, trôi chảy và biến dịch. Tấm lưới vũ trụ đang sống, đang
vận hành, đang lớn lên, đang thay đổi.
Cũng thế, nền vật lý hiện đại cũng nhìn vũ trụ như một
tấm lưới đầy mối liên hệ và nhận thức cũng như đạo học phương Đông, rằng
thể nội tại của nó là động. Thuyết lượng tử cho thấy khía cạnh động của
vật chất trong thể tính sóng của các hạt hạ nguyên tử. Khía cạnh này, như
ta sẽ thấy, sẽ trở nên quan trọng hơn trong thuyết tương đối, trong đó sự
thống nhất không gian và thời gian chứng minh sự hiện hữu của vật chất
không thể tách rời ra khỏi hoạt động của nó.
Theo thuyết lượng tử thì hạt cũng vừa là sóng và từ đó
mà có nó một tính chất kỳ lạ. Khi một hạt bị giam giữ trong một không gian
nhỏ thì nó phản ứng lại sự hạn chế này bằng sự vận động. Không gian càng
nhỏ thì hạt càng quay nhanh. Tính chất này là một hiệu ứng lượng tử đặc
biệt và không hề có sự tương tự trong vũ trụ vĩ mô. Muốn hiểu rõ hơn hiệu
ứng này, ta hãy nhớ rằng, trong thuyết lượng tử, hạt được biểu thị bởi một
bó sóng, độ dài của bó sóng đó là độ bất định vị trí của hạt. Như
hình dưới đây cho thấy, hạt nằm đâu đó trong khoảng X, ta không biết chắc
chắn. Nếu muốn siết hạt này, ta ép X phải nhỏ hơn. Thế nhưng điều này sẽ
làm độ dài sóng ngắn lại và vận tốc hạt tăng lên. Ta có thể hình dung khá
rõ, hạt càng bị giam giữ, nó càng vận động mãnh liệt.
Khuynh hướng dùng vận động để phản ứng lại sự hạn chế
làm ta nghĩ đến vật chất hẳn phải có một sự bất an cơ bản, nó là
đặc trưng trong thế giới hạ nguyên tử. Trong thế giới này thì phần lớn các
hạt vật chất đều mang cơ cấu phân tử, nguyên tử hay hạt và vì thế mà không
đứng yên, mà theo tính chất nội tại của nó là vận động không ngừng.
Theo thuyết lượng tử, vật chất luôn luôn ở dạng vận
động. Trong thế giới vĩ mô, sự vật xung quanh chúng ta xuất hiện một cách
thụ động và vắng mặt sự sống, nhưng nếu chúng ta phóng lớn lên một hòn đá
hay miếng kim loại chết đó thì ta sẽ thấy trong đó đầy những hoạt
động. Càng nhìn sát nó, nó xuất hiện càng sống động. Tất cả mọi vật xung
quanh ta đều gồm những nguyên tử, chúng liên hệ với nhau bằng nhiều cách
khác nhau và tạo thành muôn ngàn dạng khác nhau của phân tử, chúng rung
động theo nhiệt độ của chúng, cùng hoà nhịp với nhiệt độ xung quanh. Trong
những nguyên tử đang rung động đó thì các electron bị điện lực trì kéo vào
nhân và chúng phản ứng chống lại sự tù hãm đó bằng cách quay tròn thật
nhanh. Sau đó trong bản thân các nhân, các proton và neutron bị trói chặt
trong một không gian cực nhỏ, chúng đua nhau chạy với một vận tốc không
tưởng tượng nổi.
Một đoạn văn của Lão giáo nói lên sự thăng bằng trong
vận động này như sau:
An bằng trong tĩnh tại không phải là sự an bằng đích
thực. Chỉ khi có sự an bằng trong vận động thì nhịp điệu tâm linh mới sinh
thành, nhịp điệu đó thâm nhập cả trời đất.
Trong vật lý, ta nhận thức tính động của vũ trụ không
những trong kích thước vĩ mô-thế giới của nguyên tử và nhân nguyên tử-mà
trong kích thước lớn, của thiên thể và thiên hà. Nhờ những viễn vọng kính
lớn ta quan sát được một vũ trụ đang vận hành không nghỉ. Những đám mây
khinh khí quay vòng, kéo lại với nhau và hình thành thiên thể. Qua đó
chúng nóng lên và biến thành lửa cháy rực trong bầu trời. Khi đã đạt giai
đoạn này rồi, chúng vẫn còn quay và có thiên thể bắn tạt các khối lượng
vật chất ra ngoài. Những khối này bị bắn ra xa, mới đầu quay theo dạng
trôn ốc và cứng dần thành các hành tinh chạy vòng theo các vì sao. Sau
hàng triệu năm khi phần lớn khí đốt đã hết, các thiên thể phình ra và cuối
cùng co lại trong sự sụp đổ trọng trường. Sự sụp đổ này có thể kéo theo
nhiều vụ nổ khủng khiếp và có thể biến thiên thể thành lỗ đen. Tất cả
những biến cố này-sự hình thành các vì sao từ những đám mây, sự co lại, sự
phình ra và cuối cùng là sự sụp đổ-tất cả đều có thể quan sát được thật sự
trong bầu trời.
Những vì sao quay vòng, co lại, phình ra và bùng nổ đó
biến thành thiên hà với những dạng khác nhau, dạng đĩa mỏng, dạng hình
cầu, hình xoáy trôn ốc v.v… Rồi bản thân chúng cũng không phải bất động,
mà lại quay tròn. Thiên hà của chúng ta, dãy Ngân hà, là một đĩa vĩ đại
gồm thiên thể và khí, nó quay trong không gian như một bánh xe khổng lồ;
thế nên tất cả những vì sao của nó-kể cả mặt trời và hành tinh-quay quanh
trung tâm của ngân hà. Vũ trụ gồm toàn cả những ngân hà, chúng nằm rải rác
trong không gian thấy được và cũng quay vòng như ngân hà của chúng ta. Khi
tìm hiểu vũ trụ với hàng triệu ngân hà như toàn thể cấu trúc của nó, chúng
ta đã đạt đến mức xa nhất của không gian và thời gian. Và cả trên bình
diện này của vũ trụ, ta phát hiện rằng vũ trụ không hề tĩnh tại, nó đang
giãn nở ! Đó là một trong những khám phá quan trọng nhất của ngành thiên
văn hiện đại. Một sự phân tích chi tiết ánh sáng mà ta nhận được từ những
thiên hà xa cho thấy rằng toàn bộ những thiên hà đang bành trướng. Vận tốc
mà một thiên hà rời xa chúng ta là tỉ lệ với khoảng cách của chúng đến
chúng ta. Chúng càng xa ta thì chúng càng chạy nhanh. Khoảng cách gấp đôi
thì vận tốc cũng gấp đôi. Điều này không những chỉ có giá trị khi lấy
thiên hà của ta làm gốc, mà cũng như thế với bất cứ điểm gốc nào. Nghĩa là
dù đang ở bất kỳ trong thiên hà nào, chúng ta sẽ thấy các thiên hà khác
ngày càng đi xa, các thiên hà gần thì với vận tốc vài ngàn ki - lô - mét
mỗi giây; các nhóm xa hơn thì vận tốc lớn hơn và vận tốc của các thiên hà
xa nhất tiến gần tới vận tốc ánh sáng. ánh sáng của các thiên hà xa nữa
thì không bao giờ tới với ta vì chúng bỏ đi xa nhanh hơn cả vận tốc ánh
sáng. Anh sáng của chúng, nói như Sir Arthur Stanley Eddington, như
một lực sĩ chạy trên một đường băng ngày càng dài ra, điểm đích chạy xa
ra, nhanh hơn cả vận tốc của anh ta.
Khi nói về một vũ trụ giãn nở trong khung cảnh của thuyết
tương đối tổng quát, ta phải nói sự giãn nở trong một kích thước cao hơn.
Ta chỉ có thể hình dung một khái niệm như thế, như khi nói về không gian
cong với sự tương tự hai chiều.
Muốn thế ta hãy tưởng tượng một quả bóng với nhiều chấm
trên bề mặt. Quả bóng là tượng trưng cho vũ trụ, mặt cong hai chiều của nó
giả dụ cho không gian cong ba chiều và những chấm đen là các thiên hà
trong không gian đó. Khi quả bóng bị bơm phình ra thì những khoảng cách
giữa các chấm cũng lớn hơn. Dù ta lấy chấm nào làm chỗ đứng, ta cũng thấy
mọi chấm khác đều xa dần mình. Vũ trụ cũng giãn nở theo cách đó, dù quan
sát viên có mặt trên bất kỳ thiên hà nào, tất cả những thiên hà còn lại
đều xa dần người đó.
Câu hỏi dễ đặt ra về việc vũ trụ giãn nở là tất cả mọi
sự đó bắt đầu như thế nào? Từ mối liên hệ giữa khoảng cách của một thiên
hà với ta và tốc độ đi xa của nó (định luật Hubble) ta có thể tính
thời điểm lúc bắt đầu bùng nổ, nói cách khác tính được tuổi thọ của vũ
trụ. Cứ thừa nhận rằng vận tốc bùng nổ đó không thay đổi (đó là điều không
hề chắc chắn) thì người ta tính ra một số tuổi vũ trụ khoảng chừng 10.000
triệu năm. Phần lớn các nhà vũ trụ học ngày nay tin rằng, vũ trụ phát sinh
cách đây khoảng 10.000 triệu năm thông qua một biến cố vĩ đại, khi toàn bộ
khối lượng của nó phát nổ từ một trái cầu lửa nguyên thủy. Sự giãn nở ngày
nay của vũ trụ được xem là sức đẩy còn sót lại của một vụ nổ ban đầu. Theo
mô hình vụ nổ ban đầu này thì thời điểm phát nổ là ngày sinh của vũ
trụ và của không gian thời gian. Nếu muốn biết trước đó là gì, ta sẽ va
vào ngay cái khó khăn về tư duy và ngôn ngữ. Sir Bernard Lowell nói:
Đó là nơi mà ta sẽ gặp giới hạn về tư tưởng, vì ta cứ
tiếp tục sử dụng các khái niệm không gian-thời gian, tại lúc chúng chưa
xuất hiện trong đời sống hàng ngày. Đối với tôi, hầu như tôi lạc vào một
vùng đầy sương mù, thế giới quen thuộc đã biến mất.
Về tương lai của vũ trụ giãn nở, những phương trình của
Einstein cũng không cho lời giải rõ ràng. Chúng chấp nhận nhiều lời giải
khác nhau, tùy theo những mô hình khác nhau về vũ trụ. Vài mô hình tiên
đoán rằng, vũ trụ cứ giãn nở mãi, theo mô hình khác thì nó cứ chậm lại và
sẽ quay ngược, co rút lại. Những mô hình này xem vũ trụ có tính chu kỳ, cứ
trương nở vài tỉ năm, rồi co lại cho đến khi toàn bộ khối lượng chỉ còn
một khối vật chất nhỏ rồi sau đó lại giãn nở, cứ thế bất tận.
Hình dung về một vũ trụ giãn nở và co rút tuần hoàn
trong một tầm cỡ không gian và thời gian khủng khiếp không chỉ có trong vũ
trụ hiện đại, mà còn hiện diện trong huyền thoại cổ Ấn Độ. Với sự chứng
nghiệm vũ trụ như một thể sinh cơ và vận động tuần hoàn, trong Ấn Độ giáo
phát sinh một quan niệm vũ trụ sống, nó rất gần với các mô hình khoa học
hiện đại. Một trong những vũ trụ luận này đặt nền tảng trên huyền thoại
“Lila”, trò chơi của thiên nhân, trong đó Brahman tự biến mình thành thế
giới. Lila là một trò chơi có nhịp điệu kéo dài tuần hoàn vô tận, cái Một
biến thành cái Nhiều và cái Nhiều trở thành cái Một. Trong Chí tôn ca
(Bhagavad Gita) thần Krishna mô tả trò chơi sáng tạo tuần hoàn này bằng
những lời:
Cuối thời kỳ tăm tối thì mọi sự lại trở về với tự
tính của ta; và khi thời kỳ mới bắt đầu, ta đem chúng ra ánh sáng.
Thế nên ta dùng tự tính của mình mà sáng tạo ra mọi
thứ và những thứ này lăn theo bánh xe của thời gian. Thế nhưng ta không bị
ràng buộc vào công trình sáng tạo to lớn này. Ta là ta và ta nhìn tác phẩm
vui buồn diễn ra.
Ta ngắm nhìn và tromg tác phẩm sáng tạo đó, tự tính
sản sinh tất cả, những gì vận động, những gì nằm yên; và cứ thế mà thế
giới vận động tuần hoàn.
Ấn Độ giáo nhận trò chơi tuần hoàn thần thánh này là sự
phát triển của toàn vũ trụ. Họ xem vũ trụ giãn nở và co rút tuần hoàn và
đặt tên cho thời gian không tưởng tượng nổi giữa lúc bắt đầu và chấm dứt
một sự sáng tạo là thời kiếp. Kích thước huyền thoại cổ xưa thật
đáng kinh ngạc, còn tư duy con người cần hơn hai ngàn năm để tới với một
tư tưởng tương tự như huyền thoại đó.
Từ thế giới cực lớn, từ vũ trụ đang giãn nở, hãy trở lại
thế giới cực nhỏ. Đặc trưng của vật lý thế kỷ 20 là đi ngày càng sâu vào
một thế giới của kính hiển vi, của nguyên tử, của hạt nhân và các hạt tạo
thành nhân. Sự tìm hiểu thế giới vi mô này được thúc đẩy bởi một câu hỏi
căn bản đã làm loài người trăn trở từ xưa: vật chất được cấu tạo như thế
nào? Kể từ ngày đầu của triết lý về tự nhiên, con người đã nghĩ ngợi về
câu hỏi này và cố tìm ra một chất liệu căn bản, chất liệu xây dựng mọi vật
chất, nhưng chỉ trong thế kỷ này ta mới có thể đi tìm câu trả lời bằng
phương pháp thực nghiệm. Nhờ kỹ thuật phức tạp mà nhà vật lý bước đầu tìm
hiểu được cấu trúc của nguyên tử và nhận ra rằng, nó gồm có nhân và
electron. Sau đó người ta ghi nhận nhân gồm có những hạt nucleon, đó là
proton và neutron. Trong hai thập niên vừa qua người ta đi thêm một bước
và bắt đầu tìm hiểu cấu trúc của nucleon, thành phần của nhân nguyên tử,
chúng xem ra không phải là nững hạt cuối cùng mà lại là từ những đơn vị
khác cấu thành.
Bước đầu tìm hiểu nguyên tử đã dẫn đến những thay đổi
căn bản về cách nhìn của ta về vật chất, chúng đã được nói trong chương
trước. Bước thứ hai, bước đi sâu vào nhân nguyên tử và thành phần của nó,
kéo theo một sự thay đổi không kém phần quan trọng. Trong thế giới hạt
nhân này ta phải đo lường những loại kích thước nguyên tử và những hạt
trong nhân này, vì bị giam trong không gian quá bé, cũng vận động với vận
tốc nhanh đến nỗi chỉ có thể dùng thuyết tương đối đặc biệt để mô tả
chúng. Tính chất và tương tác của hạt hạ nguyên tử chỉ có thể dùng thuyết
lượng tử và thuyết tương đối mà nắm được chúng, và những điều này buộc
chúng ta có một sự thay đổi về quan niệm vật chất là gì.
Điều đặc trưng của thuyết tương đối là nó thống nhất
những khái niệm căn bản mà ngày trước chúng hoàn toàn độc lập với nhau.
Một trong những thí dụ quan trọng nhất là coi khối lượng và năng lượng như
nhau, điều này được phát biểu bằng công thức toán học nổi tiếng của
Einstein E=mc2. Và muốn hiểu ý nghĩa sâu sắc của mối liên hệ
này, trước hết chúng ta phải xét ý nghĩa của năng lượng và khối lượng.
Năng lượng là một trong những khái niệm quan trọng nhất để
mô tả các hiện tượng tự nhiên. Như trong đời sống hàng ngày ta nói, một
vật thể chứa năng lượng khi nó có thể thực hiện một công. Năng lượng này
có thể xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau.
Nó có thể là động năng, nhiệt năng, thế năng, điện năng,
năng lượng hóa học v.v…Mỗi dạng đó đều có thể dùng để sinh công. Thí dụ
người ta cho một viên đá có thế năng bằng cách nâng nó lên cao. Khi thả nó
từ trên cao xuống thì thế năng của nó biến thành động năng và khi viên đá
đến đất thì nó sinh công, thí dụ đập vỡ một vật gì đó. Một thí dụ khác:
điện năng và hóa năng có thể biến thành nhiệt năng để phục vụ đời sống
trong gia đình. Trong vật lý thì năng lượng luôn luôn được gắn liền với
một tiến trình nhất định, một dạng hoạt động nào đó và sự quan trọng căn
bản là tổng số năng lượng tham gia vào trong một tiến trình luôn luôn
không đổi. Sự bảo toàn năng lượng là một trong những qui luật căn bản quan
trọng nhất của vật lý. Nó có giá trị cho tất cả mọi hiện tượng thiên nhiên
được biết tới nay, người ta chưa thấy qui luật này bị vi phạm bao giờ.
Khối lượng của một vật lại là một thuộc tính để đo lường
trọng lượng của nó, tức là sức hút của trọng lực lên vật thể đó. Ngoài ra
khối lượng cũng là quán tính của một vật, tức là sức đề kháng của
nó chống lại gia tốc. Vật thể càng nặng thì càng khó gia tốc nó hơn một
vật nhẹ, điều này ai cũng biết khi phải đẩy một chiếc xe. Trong vật lý cổ
điển thì khối lượng luôn luôn được gắn liền với một dạng vật chất không
thể phá hủy, tức là từ chất liệu mà người ta cho là nguồn gốc của mọi vật.
Cũng như với năng lượng, người ta cho rằng chất liệu này cũng được bảo
toàn, một khối lượng không bao giờ bị hủy diệt.
Bây giờ thuyết tương đối đã chứng minh rằng, khối lượng
không gì khác hơn là một dạng của năng lượng. Năng lượng không những có
thể mang nhiều dạng khác nhau như trong vật lý cổ điển đã biết, mà còn
được chứa trong khối lượng của một vật. Năng lượng chứa trong một hạt,
tích số của khối lượng hạt đó với bình phương vận tốc ánh sáng, tức là:
E=mc2
Nếu khối lượng được xem là dạng năng lượng thì không
những nó không thể phân hủy mà còn có thể được chuyển hóa qua những dạng
năng lượng khác. Điều này xảy ra khi các hạt hạ nguyên tử va chạm nhau.
Trong quá trình va chạm đó thì các hạt có thể bị tiêu hủy và năng lượng
chứa trong chúng sẽ biến thành động năng, động năng đó sẽ phân bố lên các
hạt khác tham dự trong cuộc va chạm. Ngược lại thì động năng của hạt di
chuyển với những vận tốc rất cao cũng có thể được dùng để hình thành khối
lượng của những hạt mới. Hình sau đây cho thấy một thí dụ rất lạ của một
sự va chạm như vậy: một photon (từ bên trái) đi vào một phòng quang phổ,
bắn một electron ra khỏi một nguyên tử (vết hình xoắn), va vào một photon
khác và sinh ra mười sáu hạt mới trong cuộc va chạm này.
Sự hình thành và phá hủy hạt vật chất là một trong những
hệ quả ấn tượng nhất của đẳng thức giữa khối lượng và năng lượng. Trong
các cuộc va chạm trong vật lý cao năng lượng thì khối lượng không còn được
bảo toàn. Các hạt va chạm nhau bị phá hủy, khối lượng của chúng một phần
biến thành khối lượng, phần khác biến thành động năng của các khối lượng
mới sinh ra. Chỉ tổng số tất cả năng lượng tham dự trong tiến trình đó,
tức là tổng số động năng cộng với năng lượng nằm trong dạng khối lượng,
tổng số đó phải được bảo toàn. Tiến trình va chạm các hạt hạ nguyên tử là
công cụ quan trọng nhất của ta để nghiên cứu tính chất của chúng, và mối
liên hệ giữa khối lượng và năng lượng là chủ yếu nhằm mô tả chúng. Mối
liên hệ này đã được xác minh vô số lần và nhà vật lý hạt nhân đã làm quen
với tính tương đương giữa khối lượng - năng lượng, đến nỗi họ đo khối
lượng hạt nhân bằng đơn vị tương ứng của năng lượng.
Trong vật lý hiện đại, khối lượng không còn có một chất
liệu vật chất nữa và do đó mà người ta không còn nghĩ hạt phải có một chất
liệu căn bản nữa, mà nó là một chùm năng lượng. Thế nhưng vì năng lượng
luôn luôn liên hệ với hoạt động, với tiến trình nên hạt hạ nguyên tử phải
có một thuộc tính động. Như đã thấy, chúng không thể xem là những vật thể
ba chiều tĩnh như trái banh bi-da hay một hạt cát, mà chúng là một cấu
trúc bốn chiều không- thời gian. Dạng của chúng phải hiểu là động trong
không gian - thời gian. Hạt hạ nguyên tử là những cấu trúc động, nó có
khía cạnh không gian và khía cạnh thời gian. Khía cạnh không gian cho phép
nó xuất hiện như vật thể có khối lượng, khía cạnh thời gian của nó là tiến
trình với năng lượng tương ứng.
Cấu trúc động hay bó năng lượng này tạo nên cơ cấu nhân,
nguyên tử và phân tử ổn định, chúng xây dựng nên vật chất và làm cho vật
chất có dạng tưởng như nó gồm những chất liệu chắc thật. Trên bình diện vĩ
mô, khái niệm chắc thật đó là một sự gần đúng có ích, còn trên bình diện
nguyên tử thì nó hết giá trị. Nguyên tử gồm các hạt và những hạt đó không
được cấu thành từ một chất liệu vật chất nào cả. khi quan sát chúng, ta
không hề thấy chất liệu nào cả, điều mà ta thấy là những cấu trúc động,
chúng liên tục chuyển hóa lẫn nhau - một vũ điệu triền miên của vũ trụ.
Thuyết lượng tử cho thấy, hạt không phải là những đơn vị
độc lập mà là những cấu trúc xác suất liền lạc trong một tấm lưới bất phân
của vũ trụ. Còn thuyết tương đối phải nói là đã cho cấu trúc đó sự sống,
bằng cách vén màn cho thấy tính chất động của nó. Nó chứng tỏ rằng chính
hoạt động của vật chất là cái tự tính đích thực của sự hiện hữu của nó.
Các hạt của thế giới hạ nguyên tử không những là năng động vì chúng vận
hành nhanh chóng, mà cong vì bản thân chúng là những tiến trình! Sự hiện
hữu của vật chất và hoạt động của chúng không thể tách rời lẫn nhau. Chúng
đều chỉ là hai khía cạnh của một thể thực tại không gian - thời gian.
Trong những chương trước ta đã nói, nhận thức về sự
dung thông giữa không gian - thời gian đã đưa nền đạo học phương Đông
tới một thế giới quan động. Nghiên cứu kinh sách của họ, ta sẽ thấy không
những họ xem thế giới trong khái niệm động,của sự trôi chảy và biến dịch,
mà họ có một tri kiến trực giác về tính chất của không gian - thời gian
của vật thể vật chất; tri kiến đó cũng là đặc trưng của vật lý tương đối.
Khi nghiên cứu thế giới hạ nguyên tử, nhà vật lý phải thống nhất không
gian - thời gian và từ đó mà họ thấy vật thể của thế giới này, hạt không
phải tĩnh tại mà năng động, xem chúng là năng lượng, hoạt động và tiến
trình. Các nhà đạo học phương Đông, trong tình trạng ý thức phi thường của
họ, đã biết về sự dung thông không gian - thời gian trên một bình diện vĩ
mô cũng như nhà vật lý nhìn hạt hạ nguyên tử. Một trong những lời dạy
chính yếu của Đức Phật là mọi pháp hữu vi đều vô thường. Pháp
là từ chỉ biến cố, hành động và sau đó mới nói sự thật. Qua đó ta thấy
thêm Phật giáo xem tiến trình vận động là chủ yếu của thế giới. Hãy nghe
lời của D.T.Suzuki:
Người theo Phật giáo quan niệm sự vật là tiến trình,
không phải là vật thể hay chất liệu…Khái niệm Phật giáo về “sự vật” là
samskara (hành), có nghĩa là “tạo tác” hay “tiên trình”, điều đó nói rõ,
Phật giáo hiểu kinh nghiệm của chúng ta chính là thời gian và sự vận hành.
Cũng như nhà vật lý hiện đại, Phật giáo xem mọi vật thể
là những tiến trình trong một dòng chảy rộng khắp và từ chối sự hiện hữu
của một chất liệu vật chất. Điều đó ta cũng tìm thấy trong tư tưởng Trung
quốc, trong đó có một thế giới quan tương tự, xem sự vật là giai đoạn quá
độ trong sự trôi chảy miên viễn của đạo và họ quan tâm đến mối liên hệ lẫn
nhau giữa chúng hơn là tìm trong chúng một chất liệu cơ bản. Joseph
Needham viết: “Triết học phương Tây tìm thực tại nơi chất liệu, triết học
phương Đông tìm thực tại nơi mối liên hệ”.
Yếu tố cơ bản của vũ trụ trong quan điểm vật lý hiện đại
cũng như trong đạo học phương Đông là cấu trúc động; là giai đoạn quá độ
trong dòng chảy vĩnh viễn của thay đổi và biến dịch (Trang Tử).
Theo mức hiểu biết hiện nay thì cơ cấu cơ bản của vật
chất là những hạt hạ nguyên tử và tìm hiểu tính chất cũng như tương tác
của chúng là mục đích chính yếu của ngành vật lý cơ bản. Ngày nay chúng ta
biết đến hơn hai trăm hạt cơ bản, phần lớn chúng là những hạt được hình
thành trong các cuộc thí nghiệm va chạm và chỉ có một thời gian sống vô
cùng ngắn,