Đạo Phật Siêu Khoa Học
Minh Giác Nguyễn Học Tài
Chùa Liên Hoa, California, USA
ấn hành 1997
---o0o---
CHƯƠNG V
PHẦN 1: QUANG
MINH
“Khắp nơi,
khắp xứ, chỗ nào cũng có đầy quang minh”
Lời kinh xưa.
Vậy chúng ta
hãy tìm hiểu xem lời kinh xưa nói có đúng hay không?
Trước hết là
từ ngữ. Theo thiển ý, hai chữ quang minh là Bức xạ quang minh
(Radiation), Bức xạ quang tuyến, hay Bức xạ ánh sáng.
Theo định
nghĩa, Bức xạ (Radiation) là (1) Việc phát và truyền sóng hay Phân
tử, và (2) Việc truyền sóng hay Phân tử như ánh sáng, âm thanh, nhiệt hoặc
những Phân tử do Phóng xạ tuyến (Radioactivity) phát ra.
Phóng xạ
tuyến được định nghĩa là việc phát quang tuyến trực tiếp từ Lõi Nguyên tử,
hay là do hậu quả của một phản ứng Nguyên tử (Nuclear reation). Nói rộng
ra, Phóng xạ tuyến là việc phát ra những phân tử Alpha, Dương điện tử
(Proton), Âm điện tử (Electron, và Tia Gamma (Gamma ray).
Kinh Phật chỉ
dạy có hai chữ quang minh trong vũ trụ. Nhưng qua những sự nghiên
cứu của khoa học, quang minh được chia thành nhiều loại và được xếp thành
hai hạng như dưới đây:
Quang minh
thiên nhiên, hay quang minh tuyên nguyên
Trong vũ trụ
có Tia vũ trụ (Cosmic ray), Tia Gamma, Tia Laser (Natural Laser), Tia cực
tím (Ultraviolet:UV), Hồng ngoại tuyến (Infrared). Ngoài ra, vũ trụ còn có
Ðiện từ (Electromagnetism), khí Hélium, và Gió Mặt trời (Solar wind) ...
Quang minh
nhân tạo
Tia Laser,
Radar, Quang tuyến X, Vi sóng (Microwave), Siêu âm (Ultra sound), và Phóng
xạ tuyến.
Những khám
phá mới của khoa Thiên văn Vật lý cho biết rằng có một số Tinh tú đã tạo
nên những Phóng xạ Ðiện từ dưới dạng những Sóng vô tuyến, Sóng nhẹ, và
Quang tuyến X. Trong những vùng Liên tinh tú và trong những khoảng cách
giữa những Thiên hà đầy rẫy những Bức xạ Ðiện từ với những tần số khác
nhau.
Ngoài ra,
Phóng xạ Vũ trụ (Cosmic radiation) còn có những Quang tử (Photon) và một
số lượng khổng lồ những Hạt tử đủ loại mà nguồn gốc của chúng chưa được
biết. Phần lớn những Hạt tử này là Dương điện tử, trong đó có một số có
Năng lượng cao tột bực, còn cao hơn Năng lượng ở trong những Máy Gia tốc
Hạt lớn (Particle Accelerator) mạnh nhất.
Bây giờ, tôi
xin nói đến những quang minh thiên nhiên, trước hết là Tia Vũ trụ.
Tia Vũ trụ
(Cosmic ray) (44)
Tia Vũ trụ là
những Phân tử có Năng lượng rất cao từ ngoại tầng không gian tới. Khi vào
khí quyển của Trái đất và đụng phải Nhân của hạt Nguyên tử, Năng lượng của
Tia Vũ trụ tạo nên những Ðám mưa rào Vi phân Tiềm Nguyên tử (Shower of
subatomic particle).
Các khoa học
gia thấy các Nguyên tử Nitrogen cháy sáng khi được các Tia Vũ trụ khích
động. Các khoa học gia cho rằng Tia Vũ trụ có năng lượng rất cao từ những
Sao Ðôi (Binary stars) phóng đi. Một trong hai vì sao này là Sao Neutron.
Sao neutron là tàn tích của một ngôi sao đã cháy hết Nhiên liệu nguyên tử
(Nuclear fuel), nổ tung ra, và tan rã (ví dụ sao Neutron PSR 224-65 Plus).
Hầu hết việc
bức xạ của TIa Vũ trụ gồm có những Phân tử có Dương điện và chạy theo
đường cong khi gặp phải Trọng trường trong không gian.
Tia Vũ trụ
chỉ là những Dương điện tử nằm trong Lõi của Nguyên tử khinh khí, đến Trái
đất từ mọi hướng nên không biết hướng nào nhất định, và cũng không biết
hiện diện dưới những dạng thức gì?
Tia Vũ trụ
được quán sát từ Sao Ðôi Cygnus X-3 ở trong Chòm Sao Cygnus, và Sao Ðôi
Hercule X-1 ở trong Chòm Sao Hercule.
Tia Gamma
(Gamma ray) (45)
Tia Gamma
cũng giống như Tia Vũ trụ từ Sao Neutron bắn tới, nhưng chỉ bằng 1% của
Tia Vũ trụ. Vì tích điện nên Tia Gamma phóng theo đường thẳng.
Khi bức xạ,
Tia Gamma là những sóng có Năng lượng cao. Khi vào khí quyển và chạm phải
những Nguyên tử khinh khí, Tia Gamm tạo nên những Âm điện tử (Electron) có
năng lượng cao và Positron tích điện. Khi xuống đất, những Phân tử này
chạm phải những Nguyên tử khinh khí khác, và tạo thêm nhiều Tia Gamma
khác. Rồi Tia này lại chạm phải những Nguyên tử khác nữa để tạo nên nhiều
Âm điện tử (Electron) và Positron.
Việc tái tạo
cứ tiếp diễn cho đến khi Ðám mưa rào Tia Gamma (Shower of Gamma ray) xuống
đến mặt đất lúc đó có hàng ngàn Âm điện tử và Positron.
Các Thiên văn
gia ước đoán Tia Gamma bùng cháy ở những khoảng cách xa Trái đất hàng trăm
ngàn đến hàng tỉ quang niên. Tia Gamma bùng cháy là do những tia chớp của
những Bức xạ điện từ có Năng lượng cao, kéo dài từ vài giây đến vài giờ.
Tia Gamma là
những sóng ngắn thấy được và giống như ánh sáng.
Về xuất xứ,
các Thiên văn gia cho rằng nó từ Giải Ngân Hà tới hoặc có thể do những tia
sáng từ Sao Neutron gần Giải Ngân Hà tạo nên sự Bùng cháy (Burst).
Những sự Bùng
cháy mờ của Tia Gamma có thể là bằng chứng của Thời gian co dãn (Time
dilitation). Phân tích việc bùng cháy cho biết khi sự bùng cháy càng ngắn
ngủi và mờ tối, thời gian bùng cháy càng kéo dài, một hiện tượng chứng tỏ
tác dụng của thời gian như Einstein đã tiên đoán trong Thuyết Tương đối
của ông. Theo đó, thời hạn của sự bùng nổ ở các vùng khác nhau sẽ dãn ra
khi tia bức xạ được phóng đi trong không gian trong khi không gian đang
bành trướng.
Tiến sĩ
Norris thuộc đại học George Madison ở Fairfax, Virginia; nói rằng sự bùng
cháy này không hẳn từ Giải Ngân Hà tới mà có thể do những biến động đã xảy
ra cách Trái đất từ năm đến mười quang niên.
Các lý thuyết
gia cho rằng sự bùng cháy của Tia Gamma là do việc Ðụng độ (Collision)
giữa Hố đen (Black hole) và Sao Neutron.
Tia Laser
thiên nhiên (Natural Laser)
Các khoa học
gia loan báo đã tìm thấy Tia laser thiên nhiên phát ra từ một ngôi sao trẻ
và nóng có lớp khí nóng bao bọc chung quanh, ở trong Chòm Sao Cygnus cách
xa Trái đất 4,000 quang niên.
Vật lý gia
Vldimir Strelnitski thuộc Viện Bảo tàng Không khí và Không gian ở Hoa
Thịnh Ðốn, đã dùng Thiên văn đài Kuiper ở Mountain View, và khám phá ra
Tia Laser thiên nhiên đó.
Charles
Townes thuộc đại học California nói “Nếu biết trước, chúng ta đã khám phá
ra nó từ năm 1930”. Charles là khoa học gia đã lãnh giải thưởng Nobel năm
1951 nhờ việc khám phá ra Maser đóng vai trò tiền phong của Tia Laser.
MASER:
Microwve Amplification by Stimulated Emission of Radiation: Khuếc đại
vi sóng bằng cách khích động việc truyền bức xạ.
Ðiện từ
trường (Electromagnetic field) (46)
Ðiện trường
(Electric field) được tạo nên khi Ðiện lượng (Electic charge) được máy
phát điện “bơm” vào những dây điện.
Khác với
Quang tuyến X (X ray) hay Vi sóng (Microwave), Ðiện từ trường không làm hư
hại hay nung đốt tế bào. Tuy nhiên, Ðiện từ trường có tần số thấp có thể
gây nên những đáp ứng Hóa sinh (Bio-chemical) quá mạnh đối với những tế
bào hoạt động qua những Tiến trình Ðiện hóa Phức tạp (Complex
electro-chemical processes).
Theo báo cáo
của Quốc hội, cần nghiên cứu những tác hại của Ðiện từ trường những đường
dây điện gây nên, nhất là những tác hại đối với thần kinh hệ và việc gây
bệnh ung thư. Cũng theo báo cáo này, dân chúng không những lưu ý đến những
đường dây cao thế mà còn phải chú ý đến những từ trường do dây điện và đồ
điện trong nhà gây nên.
Bộ óc và
trung tâm thần kinh hệ là mục tiêu của những Tương tác với Ðiện từ trường
bởi vì cơ quan thường dùng Ðiện từ trường có tần số thấp để hoạt động và
truyền thông. Các nhà sư tầm kết luận rằng:
- Chưa biết
rõ những Từ trường có tần số cực thấp có tác hại gì đến Dây Nhiễm Sắc
(Chromosome) không? Mỗi tế bào của dây này đều có những Di tử (Gene) riêng
nên không chắc gây ra bệnh ung thư.
- Một vài thí
nghiệm cho thấy Màng tế bào là nơi Tương tác giữa những từ trường có tần
số thấp với tế bào đó.
Tuy nhiên,
Ðiện từ trường thường có trong thiên nhiên và trong cơ thể của sinh vật.
Ðiện từ trường liên kết những Nguyên tử với nhau, tạo nên sét, và giúp địa
bàn hàng hải sử dụng được. Máy truyền hình, Vô tuyến, và Máy Vi sóng
(Microwave) cần có Ðiện từ trường mới chạy được.
Trọng
trường (Gravity, hay G) (47)
Các Vật lý
gia chưa nắm chắc được con số tượng trưng lực của Trọng trường.
Cách đây 300
năm. Newton đã khám phá ra Luật Trọng trường (The law of Gravity), và các
Vật lý gia đã dùng mẫu tự G như là một Hằng số để tượng trưng Trọng trường
lực. Nhưng họ khó lòng xác định giá trị thật sự của Trọng trường. Hiện
nay, Hằng số này chỉ chính xác vào khoảng 1/1000 trong khi Hằng số của các
Vật lý gia khác 1,000 lần chính xác hơn. Vì vầy, những thí nghiệm gần đây
đã phủ nhận giá trị chính thức của Trọng trường.
Luật Trọng
trường trong vũ trụ của Newton là một công thức giản dị và dễ tính Trọng
trường lực giữa hai vật.
Lực (F) bằng
Hằng số Trọng trường (G) nhân với thành số của Trọng khối của hai vật chia
cho khoảng cách của hai vật bình phương (r2):
F = G x m1 x m2
r2
Chỉ số của
tia cực tím (Understanding the Ultraviolet Index) (48)
Tắmm nắng Mặt
trời đôi khi cũng thú vị, nhưng phơi mình nhiều quá sẽ bị ung thư da và
cườm mắt (Cataract).
Cơ quan Môi
sinh và Thời Tiết Quốc gia đã phát minh ra những chỉ số của tia Cực tím
(UV) để đoán trước mức độ của tia này trong ngày tới. Chỉ số này bắt đầu
từ 0 đến 10+ là nguy hiểm ít và 10+ là nguy hiểm nhiều.
Mây lọc những
tia Cực tím và làm giảm bớt nguy hiểm. Trái lại, nước, cát, và tuyết đều
phản chiếu tia Cực tím nên tăng thêm nguy hiểm.
0-2 Tối
thiểu: Tốt nhất là khi đi nắng nên đội mũ.
3-4 Thấp: Ðeo
kính ngăn tia Cực tím và dùng kem SPF 15.
5-6 Trung
bình: Khi ra ngoài nên tìm nơi bóng mát càng lâu càng tốt.
7-9 Cao:
Tránh phơi nắng từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều.
10 Rất cao: Ở
trong nhà càng lâu càng tốt.
Những điều
cần biết về sấm, sét.
1. Sét là do
Ðiện từ trường gây nên.
2. Tia sét
dài chừng 3 dậm.
3. Sét có
nhiều màu: Ðỏ, vàng, xanh, và xanh lá cây.
4. Sét có
nhiều hình: Quả ban, cái niễng, và chuỗi ngọc.
5. Một tia
sét có đủ Năng lượng để thắp sáng một căn nhà trong hai tuần
6. Một tia
sét nóng đến khoảng 50,000 độ Farenheit, nghĩa là nóng gấp 5 lần Mặt trời.
7. Tia sét
rất nhỏ hẹp, thường không lớn quá nón tay, nhưng rất nguy hiểm.
8. Tia sét
được truyền đi 270,000 dặm trong một giây đồng hồ. Nếu bay nhanh được như
thế, quí vị có thể bay quanh Trái đất 11 lần trong một giây đồng hồ.
9, Cứ mỗi
phút có khoảng 2,000 lần mưa, bão, sấm, chớp; và mỗi lần tạo nên 100 tia
sét.
Quang minh
nhân tạo: Tia Laser
Tia Laser
được phát minh năm 1960, có nhiều tác dụng đối với đời sống của chúng ta.
Laser
là chữ viết tắt của:
Light
(Ánh sáng)
Amplification
(Khuyếch đại)
Simulated
(Khích động)
Emission
(Truyền)
Radiation
(Bức xạ)
Tạm dịch là
Khuyếch đại ánh sáng bằng cách khích động việc truyền bức xạ.
Có những loại
Laser khác như: Ống đầy hơi khí, ống đầy chất nhuộm, hay bán dẫn điện được
dùng thay cây hồng ngọc.
Cây hồng
ngọc làm việc ra sao? (49)
Ống đèn nháy
(Flash tube) được cuộn chung quanh một cây hồng ngọc. Một đầu được gắn một
tấm gương, và đầu kia được gắn một phần gương.
1. Ánh sáng
trong bóng đèn nháy nâng cao Năng lượng của những Nguyên tử ở trong cây
hồng ngọc khiến các Hạt này phát ra Quang tử (Proton).
2. Một số
Quang tử thoát ra từ hai bên bóng đèn nháy. Một số khác từ bề mặt hai tấm
gương dội lại. Những Quang tử bị dội lại va chạm với những hạt Nguyên tử
khiến tạo thêm nhiều Quang tử, rồi tất cả đều truyền theo cùng một hướng.
3. Quang tử
thâu góp đủ Năng lượng dần dần xuyên qua đầu gắn một phần tấm gương của
cây hồng ngọc để trở thành tia Laser.
Công dụng
của tia Laser (50)
Truyền
thông
- Truyền đi
những cuộc điện đàm và những tín hiệu truyền hình.
- Chạy dĩa
cứng và dĩa video.
- Chạy nhanh
bản in điện toán và bản sao.
Kỹ nghệ
- Cắt những
cơ phận của máy móc mỏng đến 1/10,000 của một inch (2cm 54).
- Hướng dẫn
những thiết bị nặng.
- Quan sát và
cắt vải.
- Hàn những
bộ phận nhỏ tí trong những dụng cụ điện và những cơ phận lớn trong việc
chế tạo những thiết bị nặng.
- Ðo các
chiều dài để vẽ bản đồ.
Khoa
học
- Dùng
Uranium chế Nhiên liệu Nguyên tử (Nuclear fuel).
- Tạo nên khí
nóng để nghiên cứu Nhiệt hợp hạt nhân (Nuclear fusion).
- Theo dõi
khoảng cách trong không gian như khoảng cách từ Trái đất đến Mặt trăng.
Quân sự
- Xác định
tầm bắn và tốc độ viên đạn để bắn trúng mục tiêu.
- Hướng dẫn
bom và hỏa tiễn.
- Kiểm soát
Ðịa bàn hàng hải (Gyroscope).
Các
lãnh vực khác
- Ðọc mã số
để tính tiền tại các siêu thị.
- Lau sạch
những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo.
- Ghi nhận
những sự Ðổi dời (Shifts) trong vỏ Ðịa cầu.
- Phát hiện
những dấu tay được ngụy trang.
- Tạo nên
những hình ảnh ba chiều (Hologram).
Y học
Mắt
Tia laser
chữa được những bệnh như:
- Áp huyết
cao vì quá nhiều nước nhờn trong mắt. Tia laser soi những lỗ nhỏ trong
Ðồng Tử (Iris) cho nước nhờn chảy ra.
- Hàn gắn
Võng mô bị rách (Torn retina).
- Cắt và hàn
những tia máu mọc quá nhiều trên mắt.
- Tia Laser
Excimer nắn hình Giác mô (Cornea) để chữa bịnh cận thị mà không cần đeo
kính.
- Tia Laser
Excimer lột những Phân tử (Molecule) ra khỏi tế bào.
Bướu
- Tia Laser
rọi qua nhọt bọc làm bịnh nhân bớt đau, hoặc đốt nhọc bọc để khai thông
các đường hô hấp và tiêu hóa; và chữa bịnh nhọt bọc trong Thanh quản
(Laryngeal papilloma) làm ngộp thở.
Ðiếc
Xương cuốn
(Stape) ở gần cái Ðe (Incus hay anvil) bị liệt. Tia Laser đục lỗ để cấy
Xương cuốn nhân tạo.
Cổ họng
- Tia laser
loại trừ Hạch cổ họng (Tonsil) và Mô mềm trong họng làm người ta ngáy.
Nhiếp hộ
tuyến
- Khi hạch
này sưng lên làm Niệu đạo (Urethra) thu hẹp khiến đái rát. Tia Laser đốt
cháy Mô và khai thông Niệu đạo.
Sạn Bàng
quang
Tia Laser gây
nên một tia sáng nóng đến 100,000 độ Celsius (*) tạo nên Sóng chấn động
(Shockwave) làm bể tan những hạt sạn.
(*) Viết
tắt là C. Nhiệt độ của nước dưới áp suất trung bình, từ 0 độ lạnh (O độ C)
đến 100 độ nóng (100 độ C), do Thiên văn gia Thụy Ðiển Anders Celcius
(1701-1744) phát minh.
Nghẽn động
mạch tim
Tia Laser
Excimer làm bớt chất béo Cholesterol trong động mạch và khai thông động
mạch bằng bong bóng.
Lột những
vết nám
Tia Laser lột
những vết nám trên da ngay từ lúc lọt lòng.
Lột những
hình khác chàm (Tatoo)
Tia Laser với
Năng lượng cao có thể làm mất những màu sắc chàm ở dưới da, nhưng thường
để lại một vết xám.
Cấy tóc
Các chuyên
viên về da lấy lông ở những vùng rậm trên cơ thể và cấy vào đỉnh đầu hói.
Radar
(51)
Radar
là chữ viết tắt của: Radio Detecting And
Ranging.
Radar là một
phương pháp để phát hiện những Vật thể (Object) ở xa, và xác định vị trí,
tốc độ, và những đặc tính khác bằng cách phân tích những sóng vô tuyến có
tần số cao từ bề mặt những Vật thể đó dội lại. Radar cũng có nghĩa là
những dụng cụ được dùng cho mục đích nói trên.
Radar và
môi sinh
Phi thuyền
con thoi Endeavour đem một hệ thống Radar tối tân chưa từng có lên không
gian, một do NASA và một do Ðức và Ý để giúp các khoa học gia tìm hiểu
những thay đổi môi sinh trên thế giới, và có thể phát giác mấu chốt của
những nền văn minh đã mất.
Sáu phi hành
gia trên Phi thuyền sẽ chụp hình những khu vực đã được Radar rà kỹ. Khoảng
2,000 người ở dưới đất sẽ thám sát những địa điểm đã chọn để các sưu tầm
gia xác định sự chính xác của Radar.
Radar hoạt
động ra sao?
1. Dụng cụ
Radar phát Sóng điện từ về Trái đất.
2. Sóng này
dội trở lại những dụng cụ trên Phi thuyền.
3. Dụng cụ đo
đạc Ðộ dài và thời gian sóng trở lại.
4. Những hình
ảnh Radar thâu được mô tả những điều kiện ở mặt đất. Những vùng đất khác
nhau có hình ảnh sáng rõ hơn là những vùng đơn thuần bởi vì một vùng có
nhiều Bình diện (Surface) khác nhau (như đồi, cây, và đá) phản chiếu nhiều
Năng lượng hơn là những vùng không gồ ghề như sa mạc.
Những vấn
đề cần nghiên cứu
- Ảnh hưởng
của lửa, lụt, và việc đốn rừng.
- Ảnh hưởng
việc mất rừng đối với thú vật.
- Ðộ dài của
những đỉnh núi tuyết và khu vực đầm lầy.
- Các loại đá
trong những vùng núi lửa đang hoạt động.
- Vị trí của
những hệ thống sông ngòi cũ ở trong sa mạc.
Quang
tuyến X (X ray) (52)
Quang tuyến X
là một loại Năng lượng điện từ có sóng ngắn hơn ánh sáng.
Quang tuyến X
được Wilhelm Roentgen khám phá ra năm 1895, và được ứng dụng trong nhiều
lãnh vực bởi vì Quang tuyến X xuyên qua những vật cứng.
Sau đây là
những ứng dụng của Quang tuyến X:
Quan sát
hành lý tại phi trường
- Dây truyền
đưa hành lý chạy qua một Ống Quang tuyến X khi Ống này phóng xuống một
chùm tia mỏng.
- Quang tuyến
X từ một hàng Máy dò (Sensor) xuyên qua hành lý.
- Máy điện
toán thâu thập tín hiệu của những Máy dò tạo nên hình ảnh của hành lý.
Nhân viên an ninh quan sát hình ảnh hiện trên mặt máy truyền hình.
Những công
dụng khác của Quang tuyến X:
Thanh
tra kỹ nghệ: Quang tuyến X có thể nhìn xuyên qua những sản phẩm mà
không cần phá vỡ.
Thiên
văn: Những máy phát hiện bằng Quang tuyến X quan sát những vùng
quá xa của Giải Ngân Hà.
Quang
tuyến X được dùng trong Y học
Ðiện cực
Tungsten được gắn ở hai đầu của một bóng Chân không (Vaccum tube) được nút
kín và bọc bằng một lớp chì. Dòng điện làm Âm cực nóng, cháy sáng và nhả
ra Âm điện tử (Electron). Khi va chạm nhau, Quang tuyến X và nhiệt thoát
ra. Một tia Quang tuyến X thoát ra từ lỗ nhỏ của lớp chì, và chiếu vào nơi
đã định.
Vị trí của
Quang tuyến X trên Ðiện từ Quang phổ (Electromagnetic spectrum).
Máy truyền
hình và Vô tuyến có Ðộ dài sóng 1,000 bộ (feet) thuộc loại sóng dài không
thể xuyên qua Vật thể.
Ðộ dài của
sóng
Những loại
Bức xạ (Radiation) sau đây truyền đi giống nhau bằng tốc độ ánh sáng:
Tia Gamma: 1
phần triệu triệu của một inch
Ánh sáng: 1
phần triệu của một inch
Tia Gamma,
Quang tuyến X, và ánh sáng có sóng ngắn nên xuyên qua được Vật thể. Máy
Radar và Vi sóng (Microwave) có sóng dài 1 bộ (foot); và máy Truyền hình,
Vô tuyến, và những tần số có sóng cực thấp đều có sóng dài 1,000 feet
không xuyên qua Vật thể được.
Sơ đồ
phóng xạ
Rad:
Rad là số đo phóng xạ tương đương với 12 lần rọi Quang tuyến X.
Phóng
xạ: Nguy hiểm và định nghĩa (53)
Một vài
Nguyên tố (Element) như Uranium không bền vững, khi hư hoại, những Nguyên
tử của nó mất hết Phân tử (Particle). Một số gây nên tia Gamma. Và cả hai
trường hợp đều gây nên phóng xạ nguy hiểm.
Hư
hoại: Mất phóng xạ
Thường sau
khi bị hư hoại vài lần, những vật nhiễm phóng xạ trở thành những Nguyên tố
an toàn, ví dụ Uranium trở thành chì. Vài Nguyên tố khác thay đổi rất
nhanh, trở thành vô nhiễm xạ trong vài phút. Những Nguyên tố khác phải mất
nhiều năm hay nhiều thế kỷ mới trở nên an toàn.
Bán
thời: Do mức hư hoại
Bán thời là
thời gian cần thiết để một nửa Vật chất hư hoại trở thành một chất khác.
Vật
chất tại Chelybink
Một số lượng
lớn Strontium-90, Cesium-137, và Plutonium được những vật bị nhiễm xạ ở
Chelybink nhả ra.
Strontium-90
Bán thời: 29
năm.
Phát ra Phân
tử Beta (beta particle), có thể dùng lớp sắt mỏng hay xấp giấy dầy ngăn
chận. Nếu chạm da, có thể gây nên ung thư. Nếu vào trong cơ thể, Phóng xạ
Strontium hoạt động như chất vôi và tập trung trong xương, rồi gây nên
bệnh Bạch huyết (Leukiamia) hay ung thư xương.
Cesium-137
Bán thời: 30
năm
Phát ra Phân
tử beta và tia Gamma tương tự như Quang tuyến X. Có thể dùng lớp chì đầy
hay xi măng để ngăn chận. Gây nên nhiều loại ung thư. Vào cơ thể, Phóng xạ
này đọng lại thành mỡ.
Plutonium
Bán thời:
24,000 năm
Phát ra Phân
tử Alpha (Alpha particle), dùng một ờ giấy có thể ngăn chặn được. Vào
trong người, Phân tử Alpha rất nguy hiểm, có thể làm hư hại tế bào và gây
ung thư rất dễ dàng.
Phóng xạ
trong các thức ăn
Bơi lội trong
một con sông nhiều phóng xạ còn an toàn hơn uống sữa bò được nuôi gần nơi
có phóng xạ. Chất phóng xạ tập trung ở những vùng có cây cối và súc vật
tùy theo điều kiện khác nhau như số lượng và các loại dụng cụ sử dụng. Vì
vậy, những ví dụ sau đây chỉ là ước đoán. Nhưng có điều chắc chắn là chất
phóng xạ tập trung rất nhiều trong đồ ăn của chúng ta.
- Sông: Một
đơn vị phóng xạ trong một gram nước.
- Cỏ: Hút
nước ô nhiễm, chất phóng xạ tạp trung đến 3 đơn vị cho mỗi gram.
- Bò: Ăn cỏ,
chất phóng xạ tập trung trong cơ thể nó. Một vài chất như Strontium giống
vôi tập trung thật nhiều trong sữa. Lúc này, 10 đơn vị phóng xạ cho mỗi
gram sữa.
- Người: Khi
uống sữa, chất Strontium vào xương và tập trung đến 20 đơn vị cho mỗi gram
sữa, và còn cao hơn nữa đối với trẻ con vì xương của chúng đang tăng
trưởng.
Những bệnh
tật do phóng xạ gây nên
Nhọt
bọc (Cancerous growth)
- Chất phóng
xạ thâm nhập tế bào, khi hư hoại, một số phát ra phóng xa.
- Chất phóng
xạ làm hư hại những tế bào cận khiến chúng tăng trưởng khác nhau và bừa
bãi.
- Tế bào tiếp
tục tăng trưởng và trở thành một hay nhiều nhọt bọc.
Bệnh
bạch huyết (Leukiamia)
- Strontium
hay những vật nhiễm xạ giống chất vôi vào trong xương, nơi sản xuất Bạch
huyết cầu.
- Phóng xạ
tỏa ra làm hại Tế bào Bạch huyết.
- Những Tế
bào bạch huyết bị hư hại gia tăng nhanh chóng, và gây nên mệt mỏi, ăn mất
ngon, và cơ thể suy nhược.
- Phóng xạ
điện từ (Electromagnetic radiation) xáo trộn việc sản xuất Hormone
Melatomin là chất điều hòa giấc ngủ và ngăn chặn sự thoái hóa của bịnh tim
và bịnh lãng trí (Alzheimer’s disease).
Khoảng cách
an toàn được đề nghị là 0.2 Microteslas. Một người đứng cách một máy hút
bụi một foot có nguy cơ nhận lĩnh từ 2 đến 20 Microteslas).
Hoán
chuyển của Di tử (Gene)
- Phóng xạ
vào trong cơ thể làm hại dây DNA trong những tinh trùng của đàn ông và
trứng của đàn bà. DNA là sơ đồ chỉ dẫn cơ thể được tăng trưởng như thế
nào?
-Dây DNA bị
hư hại được di truyền cho con cái. Ðến thế hệ này, nó có thể gây nên chứng
Ðần độn (Mental retardation) và tật nguyền.
Những đơn
vị phóng xạ
Roentgen: Ðơn vị đo số lượng phóng xạ tỏa ra trong không khí khi
những Nguyên tử bị tan vỡ. Một vùng có nhiều phóng xạ là vùng có nhiều
Nguyên tử tan vỡ khiến số đo Roentgen càng cao.
(Roengent là
Vật lý gia người Ðức [1845 – 1923] có tên là Wilhem Conrad, đã khám phá và
nghiên cứu Quang tuyến X).
Rem:
Ðơn vị đo số lượng phóng xạ trong không khí hoặc những chất tác hại đến
thân thể con người. một Mili Rem bằng 1/1,000 Rem, và một Micro Rem bằng
1/1,000,000 Rem.
Curie:
Một Curie bằng 37 tỉ lần phát phóng xạ trong một giây đồng hồ. Thời gian
một đơn vị Curie tan biến tùy thuộc các loại Vật chất bị nhiễm xa. Curie
được dùng để đo lường những tác hại của phóng xạ trên thân thể con người.
Càng nhiều Curie tạo ra trong một vùng, con người phải chịu nhiều tác hại
độc địa hơn. (Về Curie, xin xem thêm ở phần Ðịnh nghĩa).
Tôi đã trình
bày mười loại quang minh vừa thiên nhiên vùa nhân tạo. Vì bài này đã khá
dài, tôi không thể nói hết những loại khác như: Gió Mặt trời (Solar wind),
khí Helium, Vi sóng (Microwace), Máy Tạo Hình Ba Chiều (Magnetic Resonance
Imaging – MRI) v.v...
Những trang
kinh xưa đã nói “khắp nơi, khắp xứ, chỗ nào cũng có đủ loại quang minh
cùng những loài chúng sanh cư ngụ”.
Những khám
phá của khoa học về quang minh thiên nhiên, và việc chế tạo những quang
minh nhân tạo đã chứng minh hùng hồn rằng lời kinh xưa đã nói đúng sự thật.
Ví dụ Vật lý
gia nổi tiếng Fritjof Capra, trong cuốn “The Tao of Physics” (Ðạo
của Khoa Vật Lý) của ông, trang 219, đã viết “Trong ngoại tầng không gian,
một số lớn Lượng tử xuất hiện ở tâm điểm của những Tinh tú trong những
cuộc đụng độ liên miên cũng giống như những cuộc đụng độ được thí nghiệm
trong các Máy Gia Tốc. Trong một số Tinh tú, những cuộc đụng độ đó tạo nên
những Phát xạ Ðiện từ rất mạnh dưới dạng những Sóng Vô tuyến, hay Quang
tuyến X khiến các Vật lý gia biết thêm về vũ trụ.
Vì vậy,
những khoảng không gian liên Tinh tú và những khoảng không gian ở giữa
những Thiên hà đầy rẫy những Phát xạ Ðiện từ với mọi tần số, ví dụ Quang
tử có Năng lượng cao. Trong việc Phóng xạ của Tia Vũ trụ, không những có
Quang tử mà còn có những Lượng tử lớn đủ loại mà nguồn gốc chưa được biết”.
Như vậy, qúi
vị có tin rằng đạo Phật là một đạo Siêu Khoa học hay không?
PHẦN 2:
SÁU CĂN HỔ TƯƠNG
Trong kinh
Lăng Nghiêm, trang 509, Phật dạy về Sáu căn thanh tịnh và trang 307,
Phật dạy về Sáu căn hổ tương.
Về sáu căn
thanh tịnh, Phật dạy “Nếu tu pháp Tam ma địa được nhãn căn thanh tịnh thì
chẳng cần có Thiên nhãn, chỉ với cái thân cha mẹ sinh ra tự nhiên nhìn
thấy thế giới trong mười phương, thấy Phật, nghe pháp, được phép đại thần
thông, chơi khắp mười phương quốc độ, được túc mạng thông, nghĩa là hiểu
thấu quá khứ, vị lai v.v..."
Thế nào là
Sáu căn thanh tịnh? Nghĩa là quí vị tu đến mức độ tâm quí vị ra khỏi
sáu căn đó khiến không dính mắc và đeo đuổi sáu trần, và trở về Tàng thức.
Vào Tàng thức, quí vị sẽ mở tâm nhãn thấy được chư Phật và chư Bồ tát mười
phương cùng những cảnh giới mà quí vị chưa thấy bao giờ.
Trang 306,
Phật dạy về tu Sáu căn hổ tương như sau:
“A Nan! Tánh
sáng suốt của sáu dụng tất phải tùy nơi sáu căn rồi sau mới phát ra được.
Ngươi hãy trông coi trong hội này, ông A Na Luật Ðà không mắt mà thấy,
ông Bạc Nan Ðà không tai mà nghe, nàng Cang Ðà thần nữ không mũi
mà biết mùi hương, ông Kiều Phạm Ba Ðề không lưỡi mà biết vị,
thần Thuấn Nhã Ða không thân mà biết xúc, ông Ðại Ca Diếp Ý căn
diệt đã lâu chẳng hề dùng đến tâm niệm để suy xét mà cũng sáng tỏ”.
Cách đây 25
thế kỷ, các vị trên đây không có sáu giác quan mà không gặp trở ngại gì.
Tại sao vậy? Tại vì tu hành nên đạt đến sáu căn hổ tương, nghĩa là căn nọ
hư thì căn kia thế vào. Còn nhân loại bây giờ thì sao? Khoa học đã giúp họ
được những gì?
Xin mời quí
vị đọc một loại bài sau đây nói về những cố gắng đáng kể của Khoa học
trong việc phụng sự nhân loại:
Mắt nhân
tạo
Các nhà sưu
tầm đang nghiên cứu một Hệ thống tí hon tạo hình ảnh bằng số để giúp người
mù thấy được.
Họ hy vọng sẽ
chế tạo được một con mắt nhân tạo mẫu vào năm 2010.
Phục hồi
thị giác (54)
1. Máy ảnh
bằng tia Laser thâu nhận hình ảnh và biến đổi thành những Dữ kiện số.
2. Linh kiện
(*) cấy trên Võng mô phát hiện tia sáng Laser.
(*) Chip.
3. Sợi dây
kim khí truyền tín hiệu đến những dây thần kinh của Võng mô.
Thị cụ
giúp người không có Trung tâm Thị giác Thần kinh thấy được (54)
Một máy ảnh
tí hon và tối tân được gắn vào một cặp kính đặc biệt khiến người mang kính
thấy được vật y như người có thị giác vậy.
1. Máy ảnh tí
hon phát hiện hoạt động của tròng mắt khi nhìn xuống, nhìn lên, và nhìn
sang phải hay sang trái.
2. Một máy
ảnh tí hon thứ hai, được nối liền với máy Vi tính (*), xoay tròn để theo
dõi hoạt động của tròng mắt.
(*)
Computer.
Cùng lúc, máy
này ghi nhận bất cứ hình ảnh nào đang nhắm tới.
3. Tia hồng
ngoại truyền hình ảnh từ phía sau của Máy ảnh đến một Phiến bắt ánh sáng
được gắn trên Võng mô. Phiến này được nối với dây thần kinh chạy tới bộ
não.
4. Thị giác
Thần kinh được nối với máy Vi tính để được tiếp diện.
Ông A Na
Luật không mắt mà thấy
Có cách
làm hết mù (55)
Trong một
cuộc hội thảo của một nhóm chuyên nghiên cứu về việc ngăn ngừa bệnh mù,
Bác sĩ Carl Kupler, Giám đốc Viện Nhãn thị Quốc gia, tuyên bố rằng “Chỉ
còn là vấn đề thời gian, chúng ta sẽ khám phá được cái bí ẩn của bệnh mù”.
Cuộc hội thảo
nhắm vào những chứng bệnh làm hư Võng mô (Retina) – là những lớp Tế bào
hình roi, hình nón, cùng những tế bào khác ở trong phần sau của con mắt -
biến đổi các hình ảnh thành những Xung động (Impulse) và đưa lên óc.
Kupler tiên
đoán rằng cuối thập niên này, các nhà sưu tầm có thể thí nghiệm ghép Tế
bào Võng mô (Retina – cell transplant) vào loài người để trị bệnh Hư Tâm
điểm Võng mô vì lão hóa (Mascular degeneration – AMD), và bịnh Hư Cảm
quang Tế bào (Retinitis pigmentosa).
Bệnh Hư thị
giác thần kinh do di truyền khiến Võng mô hư dần và đưa đến mù lòa.
Bác sĩ Eugene
de Juan Jt. thuộc đại học Johns Hopkins ở Baltimore, hu vọng sẽ phát minh
một Thị cụ nhân tạo (Artificial vision device) để phục hồi thị lực bị hạn
chế bằng cách kích thích Tế bào Võng mô (Retina cells).
Nếu Dụng cụ
bắt ánh sáng (Light – sensing device) được cấy vào Võng mô, có thể giúp
một số người mù thấy những đồ vật hay những cử động, và có thể đọc được
sách.
Cấy linh
kiện (Computer chip) vào Võng mô khiến người mù thấy được
(56)
Một hệ thống
thị giác gồm có những máy chụp hình nhỏ xíu và một Linh kiện khiến người
mù thấy được.
Máy chụp hình
nhỏ xíu được gắn ở cặp kính (Eyeglasses) để truyền những tín hiệu bằng tia
sáng Laser vô hình đến Phiến điện toán nhỏ bằng đồng xu đã cấy vào Võng
mô. Phiến này có những cục pin chạy bằng ánh sáng mặt trời (Solar cells)
và được tia sáng laser phát động.
Linh kiện đổi
Tín hiệu thị giác thành những Xung điện (Electrical impulse) và truyền đến
bộ não.
Linh kiện có
hai ngăn: Ngăn trên chứa pin chạy bàn ánh sáng mặt trời, và ngăn dưới là
mạch điện của máy điện toán.
Bác sĩ nhãn
khoa Jean Bennett nói “Sáng chế này có ích lợi cho trường hợp này nhưng
không ích lợi cho trường hợp khác”.
Bác sĩ Rizzer
nói “Trợ cụ đầu tiên lớn giá $500,000 nhưng sau này nhờ sản xuất dây
chuyền, giá này xuống còn $50.
Các nhà sưu
tầm còn phải thí nghiệm nhiều năm nữa mới cấy được Linh kiện vào con
người.
Sang năm, họ
dự định cấy Linh kiện này vào mắt một con thỏ.
Thiên lý
nhãn
Các phi hành
gia trong một loạt phim Star Strek đều đeo một cặp kính đen che cả hai
mắt. Ðiều đó chứng tỏ mắt không phải là cơ quan tuyệt đối của thị giác vì
người ta có thể nhìn sự vật bằng cách khác. Ðó là câu truyện khoa học giả
tưởng. Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy Tánh thấy là do ở Tịnh sắc
căn mà Phù trần căn (Ngũ quan) chỉ để làm mai mối. Thực tế, gần đây, một
khoa học gia chuyên về máy Vi tính đã chế ra một Thị cụ Vi tính chụp lên
đầu khiến ông thấy được người và mọi vật trong đêm tối rất rõ ràng. Thị cụ
này còn tối tân hơn loại kính nhìn trong đêm tối của Quân lực Hoa Kỳ.
Với Thị cụ Vi tính này, ông ta có thể đọc đưọc những hàng chữ và đếm được
những con ốc trên những bánh xe của một chiếc xe hơi đang chạy với tốc khá
nhanh.
Ngoài ra,
khoa Thiên văn gần đây đã khám phá ra một lối ghép nhiều Lăng kính gọi là
Optical Interferometry khiến các Thiên văn gia thấy được hai Sao Capella ở
cách xa nhau khoảng chừng một triệu dặm mà ngay Viễn vọng kính Hubble cũng
không thấy được lằn ranh của chúng. Hai Sao này ở cách Trái đất 40 quang
niên.
Trong
tương lai, cũng nhờ lối ghép kính này, người đứng ở Trái đất có thể thấy
được một cái bút chì để trên Mặt trăng.
Dần dần, nhờ
những tiến bộ của khoa học, những truyện thiên lý nhãn, thiên lý nhĩ,
thiên lý cước v.v... sẽ trở thành sự thật.
Kinh Pháp
Hoa, Phẩm Pháp Sư Công Ðức thứ mười chín, trang 431 nói “Nếu thiện nam
tử, thiện nữ nhân thụ trì kinh Pháp Hoa, người đó nhục nhãn thanh
tịnh của cha mẹ sinh ra, thấy khắp cõi tam thiên đại thiên, trong ngoài có
những núi, rừng, sông biển, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến cõi trời Hữu
đỉnh ...”
Ðó là thiên
lý nhãn của người tu được sáu căn thanh tịnh, nghĩa là sáu căn không dính
mắc với sáu trần.
Khoa học
ngày nay cũng có thể giúp con người có thiên lý nhãn. Như vậy, lời kinh
không hề nói những điều hư vọng.
Bây giờ
đến ông Bạc Nan Ðà không tai mà nghe:
Nghe là
thế nào? (57)
Khi đứa trẻ
nghe tiếng nói, bộ óc của nó ghi nhớ và sắp xếp các Tế bào óc thành một hệ
thống cần thiết để phát ra ngôn ngữ. Ðứa trẻ khi lên 10 tuổi mà không nghe
được tiếng nói tức là những Tế bào thần kinh đã làm công việc khác, và đứa
trẻ không bao giờ biết nói. Việc cấy Con Sên (Cochlear implant) là một Trợ
thính cụ giúp các trẻ điếc bẩm sinh phát triển các đường dây thần kinh để
tạo thành ngôn ngữ.
Chúng ta
thường nghe tiếng động ra sao?
Các làn sóng
âm thanh vào tai làm cho Màng Nhĩ rung động. Những rung động này chạy dọc
theo xương của tai giữa đến con Sên làm cho Tế bào hình tóc (Hail cell)
dẹp xuống và kích thích những Dây Thần kinh cảm thọ (Sensory nerve
fibers).
Những dây
thần kinh này hoán chuyển những Xung động thành những Xung động điện
(Electrical impulse) và đứa đến khu Thính giác của Bộ não (Auditory
cortex).
Con Sên
được cấy tạo âm thanh như thế nào?
(1) Âm thanh
được máy vi âm thâu.
(2) Âm thanh
được đưa đến máy Chuyển âm (Speech processor).
(3) Máy
Chuyển âm chọn lựa và mã số (Encode) những tiếng động hữu ích.
(4) Mã số
được truyền đến một Máy Phát (Tranmitter)
(5) Máy phát
truyền mã số đến Máy thu (Receptor) đã cấy dưới da.
(6) Máy
thâu/kích thích (Receiver/Stimulator) đổi mã số thành những Ðiện tín hiệu
(Electrical signals).
(7) Ðiện tín
hiệu được truyền đến những Ðiện cực (Electrodes) đã cấy trong Con Sên để
kích thích các sợi dây thần kinh.
(8) Ðiện tín
hiệu được truyền đến khu Thính giác của não xám (Auditory cortex).
Nghe và
nói như thế nào?
(1) Khu Thính
giác của Não xám nhận biết những tiếng nói.
(2) Khu
Wernicke (Wernicke’s area) thông dịch ý nghĩa của tiếng nói và nhập kho
danh từ để trả lời.
(3) Khu Broca
(Broca’s area) tiếp thu những tin tức trả lời, và điều hòa cử động trong
khi nói.
(4) Khu phát
động Não xám (Motor cortex) truyền chỉ thị cho những bắp thịt phát tiếng
nói.
Những thành
phần được cấy (Transplant components) gồm có:
(1) Máy
phát. Ðược uốn vòng và đặt trên vành tai.
(2) Máy Vi
âm. Làm khuôn cho vừa lỗ tai từng người.
(3) Máy
thu/kích thích. Cấy dưới da và ở trên vai.
(4) Máy
Phát âm (Speech processor). Cỡ bằng cái beeper có thể dắt vào túi áo.
Nghe là
thế nào?
(hình vẽ với
chú thích)
Khứu giác
(58)
Khứu giác có
thể phân biệt hàng ngàn mùi khác nhau. Sau dây là cơ hành của khứu giác:
(a) Khi hít
vào, không khí được hít vào mũi và được đưa đến những Lông bắt mùi
(Hair-like receptor) nằm trong màng nhầy ở trên đầu hai lỗ mũi. Những Phân
tử tạo mùi kích thích những Tế bào bắt mùi (Receptor cells).
(b) Những Dây
Thần kinh (Nerve fibers) nối liền với những Tế bào này truyền tín hiệu qua
những lỗ nhỏ của xuơng sọ đến Núm Bắt mùi (Olfactory bulb) là đoạn cuối
hình tròn của những Dây Thần kinh bắt mùi.
(c) Những Dây
Thần kinh này truyền tín hiệu đến những phần của Hệ thống Limbic (Limbic
system) và Trấy óc trước (Frontal lobe of the brain) để nhận biết mùi.
Nàng Ca Ðà
Thần Nữ không mũi mà biết mùi hương
Ngửi là
thế nào? (59)
Chúng ta có
một vũ trụ bao la trên mũi của chúng ta. Loài người và loài có vú có 1,000
Di tử bắt mùi (Smell gene) ở trong mũi.
Các khoa học
gia đã khám phá ra một số Di tử khác nhau được tạo ra để đáp ứng vói một
số mùi hương khác nhau. Những Di tử này hợp với những Di tử cảm thọ
(Sensory gene) có thể nhận biết trên dưới 10,000 mùi hương khác nhau khiến
các loài có vú có thể ngửi được.
Các Di tử này
truyền những tín hiệu của các mùi từ các Tế bào thần kinh trong mũi đến
một vùng của bộ não tên là Núm bắt mùi (Olfactory bulb).
Sau khi đã
khám phá ra được một số Di tử bắt mùi, các khoa học tự hỏi làm sao phát
giác đưọc mùi, và bộ óc phiên dịch mùi đó như thế nào?
Nhờ một số
Thần kinh thu mùi (Receptor), mũi và óc có thể phân biệt mùi chua của nước
chanh, mùi ngọt của mật, và mùi hăng của con chồn thối (shunk).
Các khoa học
gia rất ngạc nhiên sau khi khám phá những Dây thần kinh thu hình
(Photoreceptor) đáp ứng với màu đỏ, xanh dương, và xanh lá cây. Khi thấy
một vật, ba loại Dây thu hình này truyền những tín hiệu với cường độ khác
nhau vào óc, và óc sẽ phối hợp và phân biệt những tín hiệu đó.
Ðược cấu tạo
khác biệt, Hệ thống bắt mùi Olfactory system), có một số Dây thần kinh bắt
mùi khác nhau ở trong những Tế bào mũi để nhận biết một số lớn các mùi
khác nhau.
Bây giờ
đến ông Kiều Phạm Ba Ðề không lưỡi mà biết vị.
Vị giác
(60)
Ông Tổ chế
rượu Martini gọi lưỡi là “Phòng thí nghiệm ướt của miệng”. Những Tế bào Vị
giác (Taste cells) ở trong lưỡi có thể nhận biết bốn vị căn bản là mặn,
ngọt, chua, và đắng.
Trên mặt lưỡi
có một lớp Gai thịt (Papilliae) gồm có 2,250 Búp nếm (Taste bud), được
chia làm bốn loại:
1. Loại giống
cây nấm (Fungiform). Nằm ở một phía ngoài lưỡi.
2. Loại giống
sợi chỉ (Filiform). Nằm ở một nửa lưỡi phía ngoài. Có nhiều hơn loại hình
nấm.
3. Loại giống
lá cây (Foliate). Nằm ở phía sau lưỡi.
4. Loại giống
hình bánh Ðo nất (Doughnut shaped). Tạo thành hình chữ V ở phía sau lưỡi.
Chúng ta nếm
thử gia vị của món Sốt tôm (Shrimp marinate) ra sao:
1. Muối: Chảy
qua những hệ thống nằm trong màng của Tế bào Vị giác (Taste cell).
2. Nước
chanh: Ðóng kín hệ thống cho Potassium chảy ra khỏi Tế bào.
3. Ớt: Kích
thích những Dây thần kinh Cảm thọ trong mũi và lưỡi.
4. Mật ong:
Những Dây thần kinh trên mặt Tế bào Vị giác (Cell surface receptor) truyền
vị giác đến ngưỡng cửa của màng Tế bào.
5. Vỏ cam: Vị
đắng đóng kín hệ thống Potassium, có thể tiếp nối với những Dây Thần kinh
Vị giác, và gây nên một phản ứng để nhả chất vôi ra khỏi Tế bào.
Nếm là thế
nào?
(hình vẽ với
chú thích)
Bây giờ
đến ông Ðại Ca Diếp, ý căn đã diệt mà còn suy xét rành rẽ.
Nói bằng
Ðiện não (61)
Bộ não người
ta trung bình có 15 tỉ tỉ (tỉ tỉ: 1,000 tỉ) Ðường dây Ðiện thoại Sinh học
(Biological telephone line).
Kỹ thuật dùng
điện não có thể giúp một người hoàn toàn tàn phế - nghĩa là không nói,
không làm bắp thịt cử động, hay liếc mắt được - có thể truyền thông với
người khác bằng cách phát ra những Ðiện tín hiệu từ óc.
Kỹ thuật này
một ngày kia có thể giúp phi công dùng óc để xử dụng một số nút bấm. Căn
cứ Không quân ở Dayton, Ohio; đã chứng tỏ rằng dùng điện não để bấm nút là
một bước tiến đáng kể, không phải là khoa học giả tưởng.
Gần đây, các
khoa học gia đã trình bày rằng một người chỉ cần điều khiển não bộ có thể
khiến Con thoi (Cursor) di chuyển trên màn ảnh. Những điện cực, khi được
gắn vào da đầu, có thể phát giác được điện từ lực yếu từ bộ não phát ra.
Sau này, nhờ
những cải tiến mới, một người tàn phế hoàn toàn có thể di chuyển Con thoi
để bày tỏ ý tưởng, thay đổi băng tần Truyền hình, hoặc làm những việc giản
dị mà hiện nay những người khuyết tật chưa làm được.
Từ đầu năm
1930, các nhà tâm lý học đã biết bộ não phát ra những làn sóng điện từ, và
nếu gắn những điện cực vào da dầu, người ta có thể phát giác và đo đạc
những làn sóng đó.
Nhiều nhà sưu
tầm đã nghiên cứu mẫu mực nhịp nhàng của việc phát sóng này, và nghĩ rằng
đó là công việc riêng của bộ não. Một trở ngại là mỗi mẫu mực đáng kể của
Sóng não (Brain wave) bị “tiếng động” hay nhiễu âm (Interference) của bộ
não làm yếu đi một phần.
Dẫu sao, các
Phòng thí nghiệm ở Hoa Kỳ và Âu Châu đã chứng tỏ rằng một người chuyên tâm
có thể kiểm soát được một số Phát sóng của bộ não (Brain emission).
Bởi vì bán
cầu não phải và trái làm hai công việc khác nhau, các khoa học gia đang
tìm hiểu sự khác biệt đó để giúp người tàn phế liên lạc với thế giới bên
ngoài mà không hề cử động.
Hệ thống này
quan sát việc phát sóng não tự nhiên ở nhịp độ từ 8 đến 12 lần trong một
giây đồng hồ.
Sau khi lọc
những tín hiệu cần thiết, máy Vi tính áp dụng phương pháp cộng vào Biên độ
(Amplitude) của những tín hiệu đã chọn do hai Bán cầu não phát ra, và dùng
tổng số đó để di chuyển Con thoi lên xuống. Ðồng thời, máy Vi tính tính
hiệu số của những tín hiệu giữa Bán cầu não phải và trái, và dùng thành số
này để di chuyển Con thoi sang phải hay trái ...
Nhân bịnh mù
của ông A Na Luật, tôi xin kể qua truyện của ông:
Trong kinh
A Hàm, Phật gọi Mục Kiều Liên là “Trưởng lão thùy miên”, nghĩa là ông
Trưởng lão ngủ gật.
Còn ông A Na
Luật thì cứ mỗi lần Phật nói pháp, ông đều ngủ một giấc ngon lành. Một
hôm, bị Phật quở nhẹ, ông thề từ nay không ngủ gật nữa. Rồi ông đọc sách
ngày đêm khiến mắt sưng to, và dần dần lòa đi. Ngự y coi mạch nói ông cần
phải ngưng đọc sách một thời gian sẽ khỏi bệnh. Ông cứ tiếp tục đọc, Phật
cản ngăn, ông cũng không nghe. Ông cương quyết học tập ngày đêm không ngủ
khiến mù luôn hai mắt.
Bài kệ trong
“Trưởng lão tăng kệ” có ghi rằng trong suốt thời gian 55 năm trong cuộc
đời của ông, ông không bao giờ nằm, và 25 năm đoạn nhất ngủ nghỉ.
Có điều lạ
lùng là những vật ở gần ông không thấy, nhưng những cảnh giới ở trong Tam
thiên Ðại thiên thế giới ông đều thấy rõ mồn một.
Nói đến ngủ
gật, nếu không sợ lạc đề, xin quí vị cho phép tôi kể một truyện gần đây
rất hi hữu:
Có một số
tướng tá và sĩ quan các nước đến học quân sự ở Hoa Kỳ. Có một ông tướng
Tàu, ngày nào cũng ngủ gật. Một hôm, thuyết trình viên đánh thức ông và
hỏi “Xin Thiếu tướng nhắc lại bài giảng”. Ông Tướng mở mắt nói “Ai tống
nầu” (I don’t know), rồi lại tiếp tục ngủ.
Về truyện ông
Ma Ha Ca Diếp, xin nhắc lại quí vị khi thần thức hành giả đến cõi Trời Phi
tưởng phi phi tưởng xứ và đạt đến cái định gọi là Diệt thọ tưởng định, sẽ
đắc quả A La Hán, vượt qua Tam giới, tức là không phải chịu sinh, tử, luân
hồi. Ðắc quả A La Hán có nhiều thần thông và diệu dụng. Lúc đó, đâu có cần
giác quan.
* * *
Ðọc qua những
tài liệu nói trên, quí vị thấy khoa học ngày nay mới đạt được vài tiến bộ
trong việc chữa bệnh mù và bệnh điếc. Còn mũi, lưỡi thân và ý, chưa nói gì
đến. Ý căn hay bộ não là một vũ trụ vô biên khiến khoa học còn lâu mới
khám phá ra được.
Về mắt, các
khoa học gia hy vọng đến cuối thập niên này sẽ phát minh được dụng cụ trợ
thị cho người mù. Bây giờ, đang thí nghiệm trên Võng mô của con thỏ. Về
tai, khoa học mới cấy được Con Sên (Cochlear) cho người điếc, và kết quả
chưa có bao nhiêu.
Về việc Phật
kể có sáu vị mất hết giác quan mà vẫn hoạt động như thường, có nhiều người
nói rằng khoa học tuy tiến chậm, nhưng chắc chắn vì có những thí nghiệm cụ
thể và những chứng minh đàng hoàng. Còn kinh sách nói mơ hồ như vậy thì
làm sao mà tin được?
Câu trả lời
là những vị nói trên nhờ tu hành đắc đạo nên đã đạt đến trình độ sáu căn
hổ tương.
Thế nào là
sáu căn hổ tương? Sáu căn hổ tương cũng gọi là sáu căn dung thông, nghĩa
là căn nọ hư thì căn kia làm giúp. Ví dụ Mắt mù thì Tai trông dùm, Tai
điếc thì Mắt nghe dùm, Mũi thúi Lưỡi ngửi dùm, và Lưỡi mất Thân nếm dùm
v.v...
Ðối với phàm
phu chúng ta thì căn nào làm việc riêng của căn đó chứ các căn khác không
giúp dùm. Lý do là trong các căn của chúng ta toàn là cột, là gút cả nên
phân cách căn nọ với căn kia. Khi tu hành đắc đạo, các cột gút biến hết
khiến các căn dung thông với nhau.
Trong kinh
Lăng Nghiêm, trang 319-324, Phật đã dạy về pháp mở gút lục căn như
sau:
Phật lấy khăn
Kiếp ba của Ngài làm ví dụ. Lúc đầu cái khăn bằng phẳng không có cột, có
gút. Phật bèn thắt sáu cái nút tượng trưng cho sáu căn bị ngăn cách với
nhau. Rồi Phật mở một gút, hai nút, ba nút đến sáu nút, và trải thẳng cái
khăn ra. Bấy giờ, cái khăn trở lại như lúc ban đầu, nghĩa là không còn bị
những cột, gút ngăn cách nữa. Tu hành cũng tương tự như vậy, nghĩa là mở
cột, gút.
Có sáu cột
gút là trường hợp của phàm phu, và có sáu căn dung thông là trường hợp của
những vị đắc dạo, của các vị Thánh.
Trang 121,
Phật dạy chúng sanh trầm luân trong biển khổ, bến mê cũng vì những cột,
những gút đó. Chư Phật mười phương khác miệng, đồng tiếng, đều bảo với ông
A Nan rằng sáu căn của ông là nguồn gốc của sinh, tử luân hồi.
Cũng nằm
trong ý nghĩa sáu căn là nguồn gốc của sinh, tử luân hồi; tôi xin phép kể
qua truyện một trong hai con khỉ mà Hòa thượng Thanh Từ đã kể trong băng
giảng:
Một chú khỉ
con đã bỏ đoàn đi kiếm ăn một mình để có nhiều mồi mà khỏi phải chia chác.
Nó thấy một con mồi bị người thợ săn trói vào một cái bẫy nhựa. Mừng quá,
nó vồ lấy con mồi thì tay phải của nó bị nhựa cứng giữ lại. Nó bèn lấy tay
trái gỡ ra. Tay trái lại bị kẹt cứng. Nó lấy chân phải đạp cho hai tay
văng ra, Nhưng chân này cũng dính luôn. Rồi tới chân trái cũng bị tương tự
như vậy. Nó bèn lấy đầu xô vào để gỡ tứ chi. Nhưng đầu cũng dính luôn. Chỉ
còn cái đuôi, không có cách nào khác nó lấy đuôi quật mạnh vào chỗ đầu và
tứ chi bị kẹt dính. Rồi cái đuôi cũng bị kẹt dính luôn.
Bấy giờ,
người thợ săn mỉm cười, trói con khỉ lại và đeo nó lên vai.
Bốn chân tay,
đầu và đuôi con khỉ tượng trưng cho sáu căn. Sáu căn dính mắc không gỡ
được mà phải mạng vong cũng chỉ vì con khỉ tham lam. Theo đó, con khỉ với
con người đâu có khác!
Trở lại vấn
đề sáu căn hổ tương, xin quí vị đọc thêm Tính thấy và Tính nghe mà Phật đã
dạy trong kinh Lăng Nghiêm.
Tất cả cái
Thấy Nghe Hay Biết của mình nhờ ở sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý
mà kinh Phật dạy khác hẳn với lối giải thích của khoa học.
Năm căn đầu:
Mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân gõi là Tiền ngũ thúc là những căn ở bên ngoài
làm mai mối đưa những hình ảnh, âm thanh, mùi vị, và xúc chạm v.v... vào
trong Ý thức (Thức thứ 6) của chúng ta. Tiền ngũ thức chỉ là những Phù
trần căn (căn thô phù) ở ngoài, Tịnh sắc căn mới là Tứ đại thanh tịnh. Cái
đó mới thật là cái Thấy Nghe Hay Biết của mình. Tính thấy, tính nghe và
các tính khác đều nằm trong Tịnh sắc căn, và Tịnh sắc căn này đi sâu vào
Diệu tâm. Phù trần căn của Thức thú 6 là Ý căn, của Thức thứ 7 là bộ óc,
của Thức thứ 8 có thể là tướng Bạch Hào (năm chòm lông. Xin xem kinh A
Di Ðà: “Bạch Hào uyển chuyển năm Tu di”).
Một khi tu
lọt được vào Tàng thức, lúc bấy giờ những Phù trần căn: Mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ý, không cần thiết nữa vì nhờ Tịnh sắc căn mình vẫn Thấy
Nghe Hay Biết được.
Vì vậy, Phật
đã dạy “Ông A Na Luật Ðà không mắt mà thấy, ông Bạc Nan Ðà không tai mà
nghe, nàng Cang Ðà Thần Nữ không mũi mà biết mùi hương ...”.
Ðó là những
truyện cách đây trên 25 thế kỷ. Gần đây, có một cô bé người Nga bị mù từ
lúc lên một. Ðến năm 20 tuổi, cô bỏ nhiều năm học cách nhìn bằng mười ngón
tay. Rồi nhờ “phép lạ” hay “thần thông” gì đấy, cô đã thấy sự vật bàng
mười ngón tay.
“Cách đây
hơn 20 năm, một bác sĩ tên là Vincent ở Montréal, Canada đã dùng hai điện
cực tiếp xúc với não bộ của một người để làm thí nghiệm. Ông ta giải phẩu
da đầu của một người đàn bà để hai cây kim có dẫn theo dòng điện có thể
tiếp xúc được não bộ của bà này. Khi hai cây kim chạm vào một chỗ nào của
óc bà này, bà ấy liền nói rằng bà đang nghe một tiếng hát quen thuộc nào
đó. Thực ra, lúc bấy giờ chẳng có ai đang hát cả. Khi hai cây kim được rút
ra, bà ta lại nói tiếng hát đã chấm dứt; và cứ thế mỗi khi cây kim điện
chạm vào là bà ta nghe thấy tiếng hát, khi cây kim được rút ra thì tiếng
hát lại chấm dứt. Thí nghiệm kể trên cho chúng ta thấy rằng bà ấy chỉ sử
dụng não bộ mà vẫn nghe thấy âm thanh. Chúng ta gọi cái đó là: Văn” (sự
nghe thấy: Audial conciousness). Lúc nằm chiêm bao, chúng ta nghe
người khác kể chuyện, đó cũng là sự nghe thấy, chứ không phải là Nghe
(hearing)”.*
* Trích
trong cuốn “Phương pháp và Quá trình tu chứng của Bồ Tát Quán Thế Âm”
của Giáo sư Trầm Gia Trinh.
Thí nghiệm
này cũng tương tự như việc những phi hành gia trong phim Star Strek
đeo cặp kính đen che hết hai mắt. Như vậy, họ đâu cần đến hai mắt? Tuy là
khoa học giả tưởng, nhưng giả tưởng này phù hợp với lời dạy của Ðức Phật.
Như trên đã
nói, khoa học giúp người mù thấy được bằng cách ghép Linh kiện vào Võng
mô, giúp người điếc nghe được bằng cách cấy Thính cụ vào tai, và giúp
người tàn phế hoàn toàn dùng điện não để nói chuyện bằng cách di chuyển
Con Thoi của máy Vi tính.
Ðúng như Phật
đã dạy trong kinh Lăng Nghiêm về Tính Thấy và Tính Nghe. Năm căn
ngoài, gọi là Phù trần căn, chỉ làm mai mối đưa Sắc trần hay Thanh trần
vào Thức thứ sáu (Ý thức). Khi hai Phù trần căn này hư rồi, không có nghĩa
là mất hết Tính nghe, Tính thấy. Tính nghe, Tính thấy ăn sâu và Tịnh sắc
căn, và Tịnh sắc căn dung thông với Diệu Tâm, mà Diệu Tâm là cái màn Thiên
la võng, là Pháp giới bao la.
Như vậy,
khi tìm hiểu những thí nghiệm khoa học hiện nay và đọc lại những lời Phật
dạy về Sáu căn hổ tương, chúng ta thấy Phật đâu có nói những điều hư vọng?
Có những bí
mật lạ lùng khác mà chúng ta không thể hiểu nổi. Ví dụ gần đây, chó của
cảnh sát Mỹ có thể đánh hơi một phần tỉ của một gram ma túy. Mắt con chó
chỉ thấy hai màu đen trắng, nhưng nó thấy được bóng dáng của ma quỷ nên
người ta gọi là “chó cắn ma”. Có một loại bướm nhỏ phát những siêu âm để
gọi đồng bạn ở cách xa hàng mấy cây số. Nghe nói, ngựa cũng bắt được siêu
âm mà tai người không bắt được, vì siêu âm có những Âm tần (Acoustic
frequencies) cao hơn Âm giai khả thính (Audible range) của tai người, hay
trên 20,000 chu kỳ trong một giây đồng hồ.
Như vậy, quí
vị thấy cách đây 2 thế kỷ, Phật đã dạy rất rõ ràng về Phù trần căn và Tịnh
sắc căn, điển hình là Sáu căn hỗ tương mà khoa học ngày nay đang tìm cầu,
thí nghiệm.
Như vậy, quí
vị có đồng ý với tôi rằng đạo Phật là một đạo Siêu khoa học không?
PHẦN 3:
TAM TAI - TẬN THẾ
Sinh tử
của các vì sao (62)
Trong một bài
viết ngắn của báo The Knight Tribune, số ra ngày 10-3-95, dưới tiêu
đề “Sinh tử của các vì sao”, ở phần nói về Mặt trời như sau:
“Mặt trời
ca chúng ta đã cháy trên 4 tỉ rưỡi năm và còn đủ nhiên liệu để cháy trong
5 tỉ năm nữa. Lúc bấy giờ, Mặt trời sẽ trở thành một Sao đỏ khổng lồ, và
bề mặt của nó sẽ bành trướng đến tận qũi đạo của Trái đất và đốt cháy Trái
đất thành tro bụi”.
Ngày tận
thế còn xa lắm! (63)
Theo bài
tường trình của James Kasting và Caldeira đăng trong báo Thiên Nhiên,
Trái đất của chúng ta còn tồn tại trong một tỉ năm nữa, nghĩa là 10 lâu
hơn thời gian các khoa học gia đã tiên đoán trên một thập niên qua. Họ
công nhận đời sống của sinh vật trên Trái đất không thể tồn tại mãi mãi.
Lý do là Mặt trời sẽ bành trướng, và vỏ ngoài của nó sẽ nướng Trái đất
cùng sinh vật trên đó thành tro bụi.
Một số khoa
học gia lại cho rằng ngày tận thế sẽ đến sớm hơn. Công thức toán học do
Caldeira và Kasting triển khai phù hợp với những tiên đoán cho rằng Trái
đất sẽ bị tận diệt sớm hơn vì chất Carbon dioxide đang biến mất nhanh
chóng. Vì vậy, cây cỏ sẽ thiếu hụt hóa chất chính xây dựng đời sống, và
việc sản xuất thực phẩm dây chuyền sẽ bị phá hoại.
Caldeira và
Kasting nói thế giới sẽ tận thế khi cây cỏ sản xuất thực phẩm và nhả dưỡng
khí cần thiết cho đời sống loài người chấm dứt.
Tuy nhiên,
thế giới chúng ta còn cả tỉ năm nữa mới bị tiêu diệt.
Việc đốt cháy
này trong Câu Xá Luận Cương Yếu, bản dịch của Hòa thượng Thích Ðức
Niệm, trang 100-107, và Nhị Khóa Hiệp Giải của Hòa thượng Khánh
Anh, trang 320-323; gọi là đại nạn Hỏa tai, một trong đại Tam tai là Thủy
tai, Hỏa tai, và Phong tai.
Thủy tai
tương tự như nạn Hồng thủy đã ghi trong quyển Cựu Ước của Kinh
Thánh như sau:
“Sau bảy
ngày, nước lụt xảy trên mặt đất. Nhằm năm 600 của đời Nô Ê, tháng 2, ngày
17, chính ngày đó, các nguồn của vực lớn nổ ra và các đập trên trời mở
xuống; mưa sa trên mặt đất trong 40 ngày và 40 đêm ... Nước lụt phủ trên
mặt đất ... hết thảy những ngọn núi cao ở dưới trời đều bị ngập ... Nước
dâng trên mặt đất trong 150 ngày. Ðức Chúa Trời nhớ lại Nô Ê cùng các loài
thú và súc vật ở trong tàu với người, bèn khiến một trận gió thổi ngang
qua trên đất, thì nước dừng lại ... trong 150 ngày, nước mới bớt xuống.
Ðến tháng 7, ngày 17, chiếc tàu tấp trên núi A Ra Rát. Nước cứ lần lần hạ
cho đến tháng 10, ngày mồng 1 ..., mấy đỉnh núi mới lộ ra ... Nhằm năm 601
đời Nô Ê, ngày mồng một tháng giêng, nước đã giựt bày mặt đất khô!”.
Theo kinh
Phật, khi có nạn Thủy tai, nước dâng lên từ trời Sơ Thiền đến trời Nhị
Thiền sau khi làm ngập lụt bốn châu: Ðông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa
Châu, Bắc Câu Lư Châu, và Nam Thiệm Bộ Châu * cùng một tỉ Hành tinh trong
cõi Ta Bà.
* Quả Ðịa
cầu thuộc Nam Thiệm Bộ Châu.
Từ trời Tam
Thiền trỏ lên không bị ngập lụt.
Kế đến là
đại nạn Hỏa tai: Lửa sẽ đốt cháy từ Trái đất lên đến trời Sơ Thiền, đốt
Trái đất cháy tiêu như đốt một quả bóng vậy.
Rồi đến nạn
Phong tai: Gió thổi bay hết các cõi từ Trái đất lên đến trời Tam Thiền.
Phong tai Thổi Trái đất bấy giờ đã cháy đen thành tro bụi.
Tóm lại chỉ
có trời Tứ Thiền trở lên là không bị Tam Tai tàn phá.
Vạn vật trong
vũ trụ đều phải trải qua bốn giai đoạn:
Thành, Trụ,
Hoại, Diệt (hay Thành, Trụ, Hoại, Không). Từ những cái cực tiểu như những
con vi khuẩn cho đến những cái cực đại như sơn hà, đại địa ... đều không
tránh khỏi quy luật này. Ngay đến bản thân ta cũng vậy. Sau khi cha mẹ
sinh ra (Thành), ta sống ở thế giới này được vài chục năm (Trụ), rồi bịnh
tật và già yếu (Hoại), cuối cùng là cái chết (Diệt).
Trở lại bài
báo nói vào khoảng 5 tỉ năm nữa, Mặt trời sẽ bành trướng đến quĩ đạo của
Trái đất và đốt cháy Trái đất thành tro bụi.
Quí vị
thấy không? Kinh Phật đã nói rõ về Hỏa tai, một trong Tam tai, cách đây
trên 25 thế kỷ mà bây giờ khoa học mới đề cập đến, và sự khác biệt chỉ là
vấn đề thời gian.
PHẦN 4: HÓA SANH VÀ THẤP SANH
Trong kinh
Lăng Nghiêm, trang 256, Phật đã chia chúng sanh làm 12 loài: Loài sinh
từ trứng (Noãn sinh), loài sinh bằng thai (Thai sinh), loài sinh ở dưới
đất do ẩm ướt như côn trùng (Thấp sinh), loại bỏ bản chất cũ mà sinh ra
hình chất mới như bông lúa hóa sâu, gạo hóa mọt, cỏ mục hóa đom đóm (Hóa
sinh), loài có sắc (hình tướng), loài không sắc (ma, quỷ, thần, phi nhân,
chư thiên), loài có tưởng (người), loài không có tưởng (gỗ, đá, kim loại),
loài chẳng phải có sắc, loài chẳng phải không sắc, loài chẳng phải có
tưởng, và loài chẳng phải không tưởng.
Kinh Ðại
Niết Bàn, trang 341-342, Sư Tử Hống Bồ Tát bạch Phật rằng trong bốn
loài Noãn, Thai, thấp, Hóa; loài người đều có đủ. Do đấy, trong loài người
cũng có Noãn sanh, Thấp sanh; và thuở kiếp sơ, tất cả chúng sanh đều là
Hóa sinh.
Thấp sinh là
loài sinh ở dưới đất do ẩm ướt như côn trùng. Hóa sinh là loài bỏ bản chất
cũ mà sinh ra hình chất mới như bông lúa hóa sâu, cỏ mục hóa đom đóm.
Bây giờ, xin
mời quí vị cùng chúng tôi đi tìm những chứng liệu của Sinh vật học, Khảo
cổ học, Nhân chủng học, Ðịa chất học, và Hải dương học để xem lời dạy của
Sư Tử Hống Bồ Tát và của Ðức Phật có đúng không?
Lịch trình
tiến hóa của sinh vật và thảo mộc
Theo tài liệu
của những nhà Cổ Nhân chủng học (Paleanthropology), sự sống bắt đầu cách
đây 4 tỉ năm, thảo mộc xuất hiện đầu tiên cách đây 425 triệu năm, những
loài có vú đầu tiên cách đây 50 triệu năm, và chủng loại Ramapithecus cách
đây 12 triệu năm.
Tài liệu thứ
hai cho rằng loài vật đã xuất hiện cách đây khoảng một tỉ năm; và những vi
sinh vật sống trong bùn, trải qua nhiều thời kỳ tiến hóa, đã ngẫu nhiên
trở thành giống người, chim bồ nông, voi, giun đất, và hàng ngàn chủng
loại khác nhau mà ta thấy trong thế giới loài vật bây giờ.
Tất cả những
loài vật xuất hiện cách đây trên một tỉ năm đã sống trong các đại dương,
có lúc nổi lên, có lúc chìm xuống như những vi sinh vật mà chúng ta thường
thấy trong nước ngọt hay nước mặn.
Tài liệu thứ
ba cho rằng những vi sinh vật đó thuộc loại Ðơn bào (một Tế bào). Theo
những tài liệu khảo cổ, những hóa thạch đầu tiên xuất hiện vào Kỷ nguyên
Ðột xuất Cambrian (Cambrian Explosion) * là thời kỳ các chủng loại khác
nhau đã xuất hiện bất ngờ.
* Thời kỳ
các lớp đá, địa tầng và hóa thạch đã được khám phá, tức là thời kỳ địa
chất đầu tiên cách đây 500 triệu năm.
Chỉ trong
vòng 20 triệu năm những sinh vật Ðơn bào sống trong các đại dương đã trở
nên đa dạng, đột nhiên tạo điều kiện phát sinh những loài vật có thống
thuộc với những giống côn trùng, tôm hùm, sứa, hải sâm, cá, và con người
...
Tài liệu thứ
tư nói rằng trong việc sưu tầm sự sống, các khoa học gia đã khám phá trong
lớp địa tầng cổ xuất hiện ở Phần Lan cách đây 3 tỉ 850 triệu năm những hạt
khoáng chất do những vi sinh vật (có thể là những loài Ðơn bào) tạo nên.
Những vi sinh
vật sống dưới đáy đại dương đã để lại những dấu vết thật sự của sự sống.
Tài liệu thứ
năm nói rằng một hòn Ðá trời cỡ bằng củ khoai từ trên Sao Hỏa rớt xuống
Trái đất đã đem theo những vi sinh vật. Ðiều đó chứng tỏ có sự sống ở trên
Sao Hỏa.
Qua những tài
liệu nói trên, chúng ta nhận thấy rằng các loài Ðơn bào, qua nhiều quá
trình tiến hóa, nhất là trong Kỷ nguyên Ðột xuất Cambrian, đã trở thành
những loài đa bào, đa dạng trong đó có loài người.
Vậy loài
ngưòi đã từ những Ðơn bào tức là những vi sinh vật đã tạo nên qua nhiều
quá trình tiến hóa.
Như thế, Sư
Tử Hống Bồ Tát và Ðức Phật đã nói đúng là loài người cũng đã sinh ra từ
những loài Thấp sinh và Hóa sinh như côn trùng và vi sinh vật. Ðức Phật
biết chúng xuất hiện cách đây khoảng một tỉ năm.
Như vậy quí
vị có đồng ý vói tôi rằng đạo Phật là đạo siêu khoa học hay không?
PHẦN
5: HOẢ QUANG TAM MUỘI
Tiến sĩ Peter
D. Santina, tác giả cuốn Fundamentals of Buddism, đã nói trong
trang 30 và 32 rằng lời kinh xưa đã đề cập đến sự liên hệ giữa Vật chất và
Năng lượng, và không có sự phân chia cơ bản nào giữa Tâm và Vật.*
* Nền tảng
Ðạo Phật, bản dịch của Ðại Ðức Thích Tâm Quang.
“Similary,
the relative of matter and energy is mentioned. There is no radical
division between mind and matter”.
Cách đây
khoảng 75 năm, Albert Einstein đã khẳng định rằng Vật chất và Năng lượng
mà công thức E = mc2 là bằng chứng. Con người là một Vật thể mà
Vật thể tức là Năng lượng. Ai cũng biết trong người có nhiệt lượng, và
nhiệt lượng được gọi là thân nhiệt. Nhiệt lượng là do sự Hô hấp
(Combustion lente) và thúc ăn có calories tạo nên.
Năng lượng
được hai cơ quan vi tế và tinh xảo nhất trong các Tế bào của con người tạo
ra. Cơ quan thứ nhất là Mitochondrion mà tôi tạm dịch là Vi Năng Tử, tức
là những nhà máy vi ti phát sinh Năng lượng và Phân tử Protein F1-ATPase,
hay là Cánh quạt máy thiên nhiên và vi ti nhất.
Vi Năng Tử
(MITOCHONDRION)
Trong cơ thể
người ta có 100 tỉ tỉ Tế bào. Trong Tế bào có nhiều Nhân (Neucleus). Mỗi
Nhân chứa 46 Dây Nhiễm Sắc (Chromosome) được chia làm 23 đôi. Một Dây
Nhiễm Sắc trong mỗi đôi thuộc cha hoặc thuộc mẹ. Những Dây Nhiẽm Sắc có
đầy những đoạn DNA uốn vòng. Di tử là những đoạn DNA (deoxyibonucleic
acid) hàm chứa chỉ thị tạo tác Protein là chất căn bản cấu tạo sự sống.
Vi năng tử
được gọi là những nhà máy vi ti nằm trong Tế bào của những cơ quan sống.
Vi năng tử chứa chất Hoạt toan (Enzyme) (1) là chất có chức năng biến đổi
thức ăn thành Năng lượng. Vi năng tử, nơi hô hấp của Tế bào, có chức năng
bảo vệ năng lượng thoát ra trong việc Ốc xít hóa của những hợp chất hữu cơ
do sự phân tán thức ăn tạo nên.
Tế bào động
vật và thực vật chứa từ vài trăm đến một ngàn Vi năng tử. Nhưng cũng có
những Tế bào chỉ chứa một hay 100,000 Vi năng tử. Vi năng tử hình dạng
giống như một miếng dồi có đưòng kính từ 0.5 đến 100 micrometers (2), và
chiều dài từ một đến 10 micrometers tùy theo loại Tế bào.
Mỗi Vi năng
tử có hai màng: Màng trong và màng ngoài có những chức năng chuyên biệt.
Màng ngoài có sức thẩm thấu tương đối, đối với những Phân tử nhỏ hơn
10,000 Ðơn vị Dalton (3). Ngược lại, Màng trong, với đặc tính thẩm thấu
rất cao, cơ chức năng bảo tồn Năng lượng. Màng này gồm có khoảng 30% chất
Lipid (4) và 70 % chất Protein.
Phần lớn
những Tế bào nhận được Năng lượng từ sự Ốc xít hóa trong việc biến chế
thức ăn ở trong các Vi năng tử. Chỉ một phân số rất nhỏ của tổng số
Protein của Vi năng tử được tổng hợp trong các Vi năng tử. Cho đến nay
chưa ai biết Protein được đưa vào những Vi năng tử như thế nào mà chỉ giả
thuyết rằng có thể những Lông hút (Receptor) nằm ở mặt ngoài của Vi năng
tử hút vào.
(1) Là
những chất protein đa hợp có thể khả năng thay đổi hóa chất trong các chất
mà không bị thay đổi. Hoạt toan hiện diện trong nước tiêu hóa, tác động
trên thức ăn và phân tán thức ăn thành những phần nhỏ. Ngoài ra, Hoạt toan
còn có thể gia tăng tốc độ tương tác của các hóa chất.
(2) 1
microm = 1mu hay 1/1,000,000 của một thước.
(3) Tên
nhà Vật lý/Hóa học người Anh John Dalton (1766-1844) đã phát minh thuyết
nguyên tử đầu tiên và thiết lập bảng Nguyên tử trọng.
(4) Chất
béo tan trong nước nhưng không tan trong những dung dịch hữu cơ thông
thường. Chất này hợp với chất Carbonhydrate và Protein tạo thành cấu trúc
vật chất chính của những Tế bào sống.
Phân tử
protein F1-ATPASE, hay Cánh quạt máy thiên nhiên vi ti
Các khoa học
gia Nhật Bản loan báo khi nghiên cứu chiều sâu của Tế bào, họ đã khám phá
ra những Cánh quạt máy thiên nhiên vi ti nhất. Họ nói rằng những cánh quạt
này quay với một lực rất mạnh, và họ có thể quay phim hoạt động này.
Trong một bài
đăng trong báo Thiên Nhiên, các khoa học gia tại Viện Kỹ Thuật Ðông
Kinh đã tuyên bố rằng bằng cách quan sát trực tiếp sự chuyển động, họ đã
nhận thấy một Phân tử Protein F1-ATPase hoạt động như một Cánh quạt máy vi
ti nhất. Ðường kính của nó chỉ bằng một Namometer (1 phần tỉ của một
thước) đang quay trong một cái “thùng” có đường kính 10 Nanometer.
Tôi không
phải là một khoa học gia nên không thể đưa ra một giả thuyết với đủ dữ
kiện khoa học mà chỉ ước đoán như sau:
Những Vi năng
tử nằm trong Tế bào phát sinh Năng lượng do sự Ốc xít hóa trong việc chế
biến thức ăn tạo nên. Phân tử Protein F1-ATPase, hay những Cánh quạt máy
thiên nhiên vi ti quay với một lực rất mạnh để phân phối Năng lượng xuất
phát từ những Vi năng tử đến các cơ quan trong cơ thể của người ta.
Trong khoa
học, Năng lượng này gọi là Ðiện từ (Electromagnetic). Bộ óc và Trung tâm
Thần kinh hệ là nơi tương tác với Ðiện từ trường bởi vì các cơ quan thường
dùng Ðiện từ có tần số thấp để hoạt động và truyền thông. Những thí nghiệm
cho biết Màng Tế bào là nơi tương tác giữa những từ trường có tần số thấp
với Tế bào. Ðiện từ trưòng có trong thiên nhiên và trong cơ thể của sinh
vật
Các khoa học
gia gọi Năng lượng và Ðiện từ trong khi những nhà huyền nhiệm hay đồng cốt
gọi là Nhân điện. Những việc thôi miên, thần giao cách cảm, thiên lý nhãn,
dùng điện não bẻ cong cái thìa, và đọc tư tưởng của người khác v.v... đều
là do tác dụng của Nhân điện, Năng lượng, hay Ðiện từ trong người.
Có những
người sanh đắc thông, nghĩa là bẩm sanh đã có thần thông. Ví dụ có những
người bay lên cây cao hay lên trần nhà, đi qua tường vách, đi trên than
hồng, hoặc trong người phát ra lửa ... Nhiều lắm! (Xin xem Người Có
Năng Lực Siêu Phàm của Ðặng Văn Thông). Trái lại, có những người có
năng lực siêu phàm là do sự tu luyện gian khổ trong nhiều năm. Ví dụ những
đạo sĩ Ấn Ðộ hay Tây Tạng tu luyện trong hang đá, rừng sâu, hay trên những
chóp đỉnh lạnh buốt của dãy Hy Mã Lạp Sơn.
Ngoài ra,
công phu Thiền định đã nâng trí tuệ của phàm phu lên đến mức tột đỉnh
khiến họ trở thành những bậc Thánh nhân. Chư Phật ba đời đã nhờ Thiền định
mà thành Phật, và Ðức Thích Ca đã thành Phật qua con đường Thiền quán.
Kinh nói rằng
thần thông của những đạo sĩ nói trên là do tu luyện mà có nhưng còn lệ
thuộc thời gian, không gian và số lượng. Ðó là thần thông của ngoại đạo,
nghĩa là không phải của đạo Phật. Thần thông của đạo Phật là phải do tu
luyện mà có và là do ở Tự tánh, nghĩa là đắc đạo tự nhiên có thần thông.
Tu hành đạt đến quả vị A La Hán đã có nhiều thần thông. Bây giờ tôi xin
phép giở lại những trang kinh xưa.
Hỏa Quang
Tam Muội
Trong băng
giảng về “Chết”, Sư cô Như Thủy kể rằng sau khi Phật nhập diệt, bà Kiều
Ðàm di mẫu (dì của Phật) và bà Da Du Ðà LA cùng 500 ni tăng đã dùng một
thứ lửa gọi là Hỏa Quang Tam Muội để tự thiêu. Sư cô nói thêm rằng trong
thế gian này có một số người tự phát ra lửa để đốt cháy thân thể của họ.
Ví dụ một bác sĩ đang ngồi làm việc, bỗng trong người ông phát ra một thứ
lửa đốt cháy cơ thể của ông ra tro trong khi bàn làm việc, giày dép và
quần áo vẫn y nguyên.
Trong Lăng
Kính Ðại Thừa, cụ Nghiêm Xuân Hồng kể rằng Ngài Mã Minh Bồ Tát lúc thị
hiện tịch diệt, Ngài nhập Long Phân Tán Tam Muội, thân bay lên hư không,
bay luôn và chói sáng như mặt trời trong một hồi lâu rồi là là đáp xuống
mặt đất, ngồi kiết già mà thị tịch.
Trong cuốn
Người Có Năng Lực Siêu Phàm, tác giả Ðoàn Văn Thông kể chuyện một cậu
bé nằm xuống giường, giường bốc cháy, đứng gần tấm màn, màn gió bốc cháy
...
Hai chuyện
nữa của hai người tự nhiên thân thể phát ra lửa. Tác giả nói hiện tượng
thân phát ra lửa đã xảy ra rất nhiều trên thế giới. Ðiều này phù hợp với
lời kể của Sư cô Như Thủy.
Theo tác giả,
các đạo sĩ đã khổ luyện để tập trung lửa nội thân gọi là thân nhiệt. Khi
thân nhiệt được đánh thức dậy, đó là Tam Muội.
Qua những câu