Đạo Phật Siêu Khoa Học
Minh Giác Nguyễn Học Tài
Chùa Liên Hoa, California, USA
ấn hành 1997
---o0o---
NGƯỜI PHẬT TỬ EINSTEIN
Trong cuốn Nền Tảng Của Ðạo Phật (Fundamentals
of Buddhism), Tiến sĩ Peter D. Santina, viết, “đã nhận xét Nhiều
người có địa vị đáng kể trong xã hội Tây phương là Phật tử hoặc có những
người không phải là Phật tửnhưng rất có cảm tình với Phật Giáo. Thí dụ cụ
thể là nhà bác học Albert Einstein trong bài tự thuật rằng ông
là người không tôn giáo, nhưng nếu ông là một nguời có tôn giáo thì ông
phải là một Phật tử.”
Nguyên văn, “There are many persons of
considerable standing in western societies who are either Buddhists or who
are sympathic towards Buddhism. This is most clearly exemplified by the
remark made by Albert Einstein that he was not a religious man, but if
he were one, he would be a Budhist.”
Sau đây là những lý do khiến ông ca tụng Phật
Giáo mà tôi trích dẫn trong cuốn “Buddhism in the Eyes of Intellectuals”
của Tiến sĩ Sri Dhammananda (Phật Giáo Dưới Mắt Các Nhà Trí Thức), bản
dich của Ðại Ðức Thích Tâm Quang.
1. “Tôn giáo Vũ trụ: Tôn giáo tương lai sẽ là
tôn giáo chung cho cả vũ trụ. Tôn giáo này siêu việt trên một đấng Thiêng
liêng nào đó và tránh hết mọi giáo điều và thần học. Bao trùm cả thiên
nhiên lẫn tinh thần tôn giáo, tôn giáo này phải căn cứ vào ý niệm đang
phát sinh từ những thực nghiệm của mọi vật, thiên nhiên và tinh thần như
một sự thuần nhất đầy đủ ý nghĩa. Ðạo Phật đáp ứng được điều đó” –
Albert Einstein (trang 54).
Nguyên văn, “Cosmic religion”: The religion of
future will be a cosmic religion. It should transcend a personal God and
avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual,
it should be based on a religious sense arising from the experience of all
things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers
this description.“ - Albert Einstein (trang 53).
2. Nhu cầu khoa học và tôn giáo: Nếu có một tôn giáo
nào đáp ứng những nhu cầu của khoa học hiện đại thì tôn giáo đó phải là
Phật Giáo.”- Albert Einstein (trang 115).
Nguyên văn, “Buddhism copes with science: If
there is any religion that would cope with modern scientific needs it
would be Buddhism” – Albert Einstein (trang 114).
Ngoài ra, những nhà trí thức nổi tiếng trên thế giới đã
hết lời ca ngợi Phật Giáo nói chung và đức Phật nói riêng:
1. Vận mệnh nhân loại:
Trên những giải đất mênh mông của thế giới, vận mệnh của nhân loại vẫn còn
tồn tại. Rất có thể trong sự tiếp xúc với khoa học Tây phương và được cảm
hứng bởi tinh thần lịch sử, giáo lý căn bản của đức Cồ Ðàm được phục hưng
thuần khiết có thể chiếm một vị trí lớn trong chiều hướng của vận mệnh
nhân loại.” - H. G. Well (trang 95).
Nguyên văn, “Human destiny: Over great areas of
the world is still survives. It is possible that in contact with Western
science, and inspired by the spirit of history, the originated teaching of
Gotama revived and purified, may yet play a large part in the direction of
human destiny.” – H.G.Well (trang 94).
2. Khoa học chấm dứt chỗ Phật Giáo bắt đầu:
Khoa học không thể đua ra sự đoan chắc. Nhưng Phật Giáo có thể đáp ứng sự
thách đố của Nguyên tử nên kiến thức siêu phàm của Phật Giáo bắt đầu ở chỗ
kết thúc của khoa học. Ðó là một điều rõ ràng cho những ai nghiên cứu
Phật Giáo. Vì vậy, nhờ Thiền định Phật Giáo, nhũng Phần tử cấu tạo
Nguyên tủ đã được nhìn và cảm thấy…” – Egerton C. Baptist, “Supreme
Science of the Buddha,” (trang 117).
Nguyên văn, “Buddhism begins where science ends:
Science can give no assurance herein. But Buddhism can meet the Atomic
Challenge, because the supramundante knowledge of Buddhism begins where
science leaves off. And this is clear enough to anyone who has made a
study of Buddhism. For, through Buddhism Meditation, the atomic
constituents making up matter have been see and felt…” – Egerton C.
Baptist, “Supreme Science of the Buddha” (trang 116).
3. Phật Giáo và khoa học hiện đại: Tôi đã
thường nói, và tôi sẽ nói mãi, nói nữa giữa Phật Giáo và Khoa học hiện đại
có quan hệ tinh thần khắn khít” – Sir Edwin Arnold (trang 115).
Nguyên văn, “Buddhism and modern science: I
often said, and I shall say again and again, that between Buddhism and
modern science there exists a close intellectual bond.” – Sir Edwin Arnold
(trang 115).
4. Văn hóa thế giới: Phật Giáo đã mang lại sự
tiến bộ cho thế giới văn minh và văn hóa chính đáng nhiều hơn là bất cứ
ảnh hưởng nào khác trong lịch sử của nhân loại. – H.G. Well (trang 99).
Nguyên văn, “World Culture: Buddhism has done
more for the advance of world civilization and true culture than any other
influence in the chronicles of mankind” – H.G. Wells (trang 98).
5. “Tôn giáo của con người: Phật Giáo sẽ
trường tòn như mặt trời và mặt trăng và loài người hiện hữu trên mặt đất;
do đó, Phật Giáo là tôn giáo của con người, của nhân loại, cũng như của
tất cả.” – Bandaranaike, Cựu Thủ Tướng Tích Lan (trang 65).
Nguyên văn, “Religion of Man: Buddhism will
last as long as the sun and moon the human race exists upon the earth, for
its religion of man, of humanity as a whole.” – Bandaranaike, Former Prime
Minister of Sri Lanka (trang 65).
6. “Dharma (Giáo pháp) là Quy luật: Tất
cả lời dạy của đức Phật có thể tóm tắt trong một quy luật (Pháp). Quy
luật này là lẽ thật, không những hiện hữu trong tâm con người mà còn tồn
tại trong vũ trụ. Tất cả trong vũ trụ đều là sự hiển lộ của Pháp
(Dharma). Quy luật của thiên nhiên mà các khoa học gia hiện đại đã khám
phá đều là biểu hiệu của Pháp.
Khi mặt trăng mọc và lặn là vì Pháp. Pháp là qui luật
của vũ trụ khiến mọi vật tác động theo những đường lối đã được khoa Vật
lý, Hóa học, Ðộng vật học, Thực vật học, và Thiên văn học nghiên cứu.
Pháp hiện hữu trong vũ trụ cũng như trong tâm con người. Nếu con người
sống đúng với Pháp, thì sẽ thoát khỏi khổ đau và đạt đến Niết bàn.” -
Thượng tọa Mahinda (trang 81).
Nguyên văn, “Dharma is the Law: All the
teachings of the Buddha can be summed in one word: ‘Dharma’. This law is
righteouness, exists not only in a man’s heart but it exists in the
universe also. All the universe is an embodiment of reveleation of
Dharma. The law of nature which modern science have discovered are
revelations of Dharma.
If the Moon rises and sets, it is because of Dharma,
for Dharma is that law residing in the universe that makes matter act in
the ways studied in physics, chemistry, zoology, botany and astromy.
Dharma exists in the universe just as Dharma exists in the heart of man.
If man will live by Dharma, he will escape misery and attain Nibbana.” –
Ven A. Mahinda (trang 80).
7. “Sự ngược đãi: Trong những tôn giáo vĩ đại
của lịch sử, tôi thích Phật Giáo, nhất là những dạng thức thưở ban đầu, vì
tôn giáo này có ít yếu tố ngược đãi nhất.” – Bertrand Russell (trang 81).
Nguyên văn, “Persecution: Of the great religion
of history, I prefer Buddhism, especially in its nearest forms, because it
has the smallest element of persecution.” – Bertrand Russell (trang 80).
Tại sao Albert Einstein và những bậc khoa bảng nổi
tiếng trên thế giới đã hết lời xưng tụng, tán thán Phật Giáo nói chung và
Ðức Phật nói riêng? Xin mời quí vị đọc một đoạn trích dẫn trong cuốn,
“Fundamentals of Buddhism” (Nền Tảng Của Ðạo Phật), của tiến sĩ Peter D.
Santina, bản dịch của Ðại Ðức Thích Tâm Quang:
“….Ở Tây Phương, Phật Giáo đang được chú ý và gây được
thiện cảm rộng rãi khắp nơi. Nhiều người có địa vị đáng kể trong xã hội
Tây Phương là Phật tử, hoặc có những người không phải là Phật tử nhưng rất
có cảm tình với Phật Giáo.
Nhìn vào xã hội Tây Phương hiện nay, chúng ta thấy một
nhà vật lý thiên văn học là một Phật tử tại Pháp, một nhà tâm lý nổi tiếng
là Phật tử tại Ðại Học La Mã, và mới đây một vị chánh án tại Anh Quốc cũng
là Phật tử. Chúng ta hãy xét kỹ những lý do khiến Phật Giáo được chú ý
hiện nay ở Tây Phương.
Nói chung tại Âu Châu có thái độ chú ý đến Phật Giáo vì
tôn giáo này rất tiến bộ, rất hợp lý, và rất tinh vi. Cho nên chúng tôi
ngạc nhiên khi đến một quốc giao Á Châu lại thấy người dân ở đây coi Phật
Giáo như một tôn giáo lỗi thời, không hợp lý và có nhiều liên hệ với mê
tín dị đoan.
Người Tây Phương thấy giá trị của Phật Giáo bởi vì Phật
Giáo không kết chặt với văn hóa, Phật Giáo không ràng buộc vào một xã hội
đặc biệt, vào một chủng tộc nào hay vào một nhóm thiểu sổ nào. Có những
tôn giáo gắn liền với văn hóa, chẳng hạn như Do Thái Giáo gắn liền với văn
hóa, nhưng Phật Giáo lại không. Cho nên trong lịch sử Phật Giáo ta thấy
có Phật tử Ấn, Thái, Trung Hoa, Tích Lan, Miến Ðiện v.v… và chúng ta có
Phật tử Anh, Phật tử Hoa Kỳ, Phật tử Pháp v.v… Ðó là lý do Phật Giáo không
gắn bó với văn hóa.
Phật Giáo nhập hội dễ dàng từ văn hóa này đến văn hós
khác bởi vì Phật Giáo chú trọng đến việc chuyển hóa nội tâm hơn là ở bên
ngoài. Nếu ta nhìn kỹ cách lý giải của Ðức Phật về vấn đề kiến thức,
ta thấy phương cách của Ngài tương tự như cách lý giải của khoa học, và
điều này đã khiến người Phương Tây hết sức chú ý đến.
Việc chú trọng ngày càng tăng và những giáo lý hấp dẫn
của Ðạo Phật cùng với khuynh hướng mới của khoa học, triết học, và tâm lý
học lúc này lên cao đến tột đỉnh như khoa Vật Lý Nguyên Lượng đã được đề
xuất. Ðó là những triển khai cuối cùng của những lý thuyết vật lý đã được
thể nghiệm. Rồi chúng ta thấy không những Ðức Phật đã tiên đoán những
phương pháp phân tích của khoa học mà còn dạy rõ về bản chất của con người
và vũ trụ như đã nói trong phần triển khai gần đây của Vật Lý lượng Tử.
Cách đây không lâu, một nhà Vật lý học nổi tiếng nhận xét vũ trụ giống
như một tâm tưởng vĩ đại. Ðiều này đã được nói trong Kinh Dhammapada
(Kinh Pháp Cú): “Tâm dẫn đầu mọi pháp, tâm chủ, tâm tạo tác. ‘Sự liên
hệ giữa vật chất và năng lượng cũng đã được nói đến. Không có sự phân
chia cơ bản nào giữa Tâm và Vật. Tất cả những lời dạy đó đã những tiến bộ
mới nhất của khoa học tuần tự khám phá.
Cho nên, điều cho thấy trong học quy (văn cảnh) của Tây
Phưong, các nhà tâm lý và khoa học tìm thấy một truyền thống Phật Giáo phù
hợp với những nguyên tắc căn bản về tư tưởng khoa học của Tây Phưong.
Thêm vào đó, họ thấy Phật Giáo rất đặc sắc vì những phát minh của họ
thường tương đồng với Phật Giáo. Họ cũng thấy rằng cho đến nay khoa học
không mở con đường nào hay phương pháp nào có thể hoàn tất được việc
chuyển hóa nội tâm. Họ có những phương thức xây dựng, cải tiến các thành
phố, xa lộ; nhưng họ không có một hệ thống nào có thể xây dựng con người
tốt hơn được.
Cho nên người Tây Phương quay về với Phật Giáo. Là một
truyền thống lâu đời, Phật Giáo có nhiều khía cạnh gần giống như việc thực
hành trong truyền thống khoa học Tây Phương. Nhưng Phật Giáo vượt qua
truyền thống duy vật của Tây Phưong và vượt qua giới hạn của truyền thống
khoa hoc.” – Dr. Peter D. Santina, tác giả
cuốn Fundamentals of Buddhism (Nền Tảng của Phật Giáo).
ÐỨC
PHẬT ÐÃ THẤY VI TRÙNG
Trước khi uống nước, các vị tu sĩ thường chú nguyện như
sau:
“Phật quán nhất bất thuỷ
Bát vạn tứ thiên trùng
Nhược bất trì thử chú
Như thực chúng sanh nhục”
Xin lưu ý quý vị tám vạn bốn ngàn (84,000) đây chỉ là
con số tượng trưng của nhà Phật chứ không phải con số đếm thật. Ví dụ
84,000 pháp môn.
Nhân tiện, tôi xin phép nói qua về vi trùng.
Vào thế kỷ thứ 17, một nhà Sinh vật học người Hòa Lan
tên là Aton van Leeuwenhoek (1632-1723) đã khám phá ra nhiều loại Vi sinh
vật (Micro-organism) như: Protozans, microbes (vi trùng), algae, fungi,
bacteria, virus và rickettsiae …
Ðến hậu bán thế kỷ 19, khoa Siêu sinh vật học ra đời.
Nhà Sinh vật học kiêm Hóa học Louis Pasteur (1822-1895) đã xác định vai
trò của những Vi khuẩn (Bacteria) trong việc Gây men (Fermentation) và gây
bệnh. Rồi nhà Vật lý gia người Ðức tên là Robert Koch đã tìm những phương
cách chứng minh rằng những loại vi khuẩn nào gây nên những bệnh tật nào.
Trong các phòng thí nghiệm, với những dụng cụ đặc biệt, các nhà sưu tầm đã
phát hiện những tác hại khác nhau và ghê gớm của các Siêu sinh vật.
Ðén giữa thế kỷ thứ 20, khoa Siêu sinh vật học đã đạt
nhiều tiến bộ đáng kể. Một số Siêu sinh vật gây nên nhiều thứ bệnh đã được
nhận diện, và những phương pháp tiêu diệt chúng cũng đã được áp dụng.
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn biết tách rời những
loại vi khuẩn nào có ích lợi để dùng trong lãnh vực y tế, kỹ nghệ, canh
nông. Ví dụ Mốc rêu (Mold) đã được dùng để chế men (Enzym), thuốc kháng
sinh, và nhất là trụ sinh. Một số lớn Vi khuẩn (Bacteria) được dùng trong
thương mại để sản xuất Nhũ toan (Lactic Acid), và chữa bệnh thiếu máu và
thiếu chất vôi.
Xin trở lại với việc Phật đã thấy vi trùng. Tại sao
Ngài thấy được mà chúng ta muốn thấy phải dùng kính hiển vi?
Vì Phật đắc tam minh, lục thông và ngũ nhãn. Tam minh
tức là Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh.
“Với Túc mạng minh, Ngài thấy được cuộc sống của Ngài
và của chúng sinh đã trải qua nhiều số kiếp, và thấy được cái gốc sanh tử
từ trước đến giờ.
Với Thiên nhãn minh, Ngài thấy rõ tại sao người ta sanh
làm quỷ đói, và xuống địa ngục? Ngài thấy chúng sinh tùy nghiệp là nhân
dẫn sanh các cõi là quả. Ngài thấy chúng sanh đi đầu thai ở trong sáu
đường y như người đứng ở trên lầu cao nhìn thấy ở dưới đường những người
đi nhiều ngả.
Nhờ Thiên nhãn minh, Ngài thấy được những vật vô cùng
nhỏ và những cái vô cùng lớn. Ví dụ Ngài thấy vi trùng trong bát nước,
và thấy “Trong bầu trời có vô vàn, vô số thế giới nhiều như số cát sông
Hằng.”
Vì chứng được Lậu tận minh nên Ngài dứt được nghiệp
Sinh, Tử, Luân hồi. Ngài nhìn lại nghiệp nhân tạo ra khiến người ta phải
trôi lăn trong vòng sanh tử, và suy nghĩ làm sao thoát ra khỏi sanh tử?
Ngài đã thấy những lý do khiến chúng ta bị dẫn vào sanh tử, và những lý do
gì giúp chúng ta thoát khỏi sanh tử.
Từ ngàn xưa, chưa ai chống lại được sanh tử mà Ngài
thấy được nguyên nhân của Sinh, Tử, Luân hồi. Khi thấy được nguyên nhân
tạo sanh, tử, Ngài đã tìm những phương pháp để tiêu diệt những nguyên nhân
này: Ðó là giải thoát sanh tử.” (Tríc trong băng giảng “Hoa Sen Trong
Bùn”, mặt A, của Hòa Thượng Thích Thanh Từ).
Thế nào là Ngũ nhãn?
Nhục nhãn là mắt thịt như mắt của chúng ta. Thiên nhãn
là mắt của chư thiên thấy được gần xa, trên dưới và ngày đêm. Huệ nhãn là
mắt của Thanh Văn, Duyên Giác quán thấy các pháp và chúng sinh để tìm
phương tiện giúp họ tu hành. Phật nhãn là mắt của Phật. Ta thấy xa, Phật
thấy gần, ta thấy tối, Phật thấy sáng, chẳng có điều gì Phật không thấy,
không nghe, không biết.
Lục thông là gì?
Là (1) Thiên nhãn thông, (2) Thần túc thông, (3)
Thiên nhĩ thông, (4) Tha tâm thông, (5) Túc mệnh thông, và (6) Lậu tận
thông.
Thần túc thông là chân đi xa vạn dặm, Thiên nhĩ thông
là tai nghe xa vạn dặm (giống như Six Million Dollar Man) và Tha tâm thông
là đọc được tư tưởng của chúng sinh. Còn (1), (3) và (6) đã nói ở trên
rồi.
ÐỨC PHẬT ÐÃ THẤY NGUYÊN TỬ VÀ NHỮNG HẠT VI PHÂN TIỀM NGUYÊN TỬ
Không phải đợi đến thế kỷ 19 mới có Nguyên tử, mà
Nguyên tử đã có từ thời quá xa trong quá khứ. Trong kinh Hoa Nghiêm,
Phật gọi Nguyên tử là hạt Vi trần (Hạt bụi nhỏ). Sau đây là nhũng bài tóm
lược những thuyết về Nguyên tử của Ðạo Bà La Môn (Ấn Ðộ Giáo), Kỳ Na Giáo
và Phật Giáo:
Ðạo Bà La Môn, kinh Nyaỳa Vărtika, trang 223, có ghi:
‘Nguyên tử không thể thấy vì nó không được cấu tạo bằng vật thể’.
Theo Kỳ Na Giáo,: “Mọi vật trong vũ trụ đều được cấu
tạo - trừ linh hồn và không gian - bằng vật thể (pulgala), mà vật thể đó
là Nguyên tử ((paramanu). Mỗi nguyên tử chiếm khoảng thời gian
(pradena). Vật đó có thể lớn (Sthula) hay nhỏ (Suksma). Dưới trạng thái
nhỏ, có vô số hạt nhân kết thành và chiếm diện tích của không gian.
Nguyên tử là thường tồn và được xem như bản thể. Mỗi nguyên tử có mùi vị
riêng, màu sắc riêng, và có hai xúc giác. Nhưng tính chất này không
thường còn , có thể thay đổi. Hai hay nhiều hạt nhân kết lại có thể thay
đổi cường độ thô nhám hay nhẵn thín, và có thể tạo thành các căn
(skandha). Tóm lại. nguyên tử có thể tạo thành sự di động của chính nó và
sự di động này lắm lúc quá nhanh, trong tích tasc khắp cả tam thiên đại
thế giới.’
Phật giáo chủ trương nguyên tử thường còn hay không
thường còn. Phật giáo chỉ đề cập đến nhân và duyên. Có nhân có duyên,
nguyên tử có thể tạo nên bất cứ hình thể nào đó, mắt chúng ta có thể thấy
được, và đôi khi cực tinh vi với con mắt thường, không thể thấy được.
Nhưng với cặp mắt giác ngộ của các vị tu chứng ở trên núi Hy Mã Lạp hay
dọc theo rặng Hindukush, miền Bắc Ấn Ðộ, các thánh nhân thấy rằng ‘một hạt
nhân nguyên tử quá nhỏ, mắt thường không thể thấy được, được gọi là
paramanu. 36 paramanu được gọi là 1 anu, 36 anus được gọi là 1 tajjàri,
36 tajjàri được gọi là ratherenu. Như thế 1 paramanu là 1 phần 46,656
ratherenu. Với nhãn thông, Ðức Phật thấy paramanu là ‘vi thể năng động’
theo nhân duyên, nguyên tử là cội nguyền cấu tạo ra sơn hà vũ trụ vậy’.
Trang 467 nói rằng, “Người ta chưa ai thấy được Nguyên
tử, cho dầu với một kính hiển vi cực kỳ lớn. Song người ta vẫn tìm ra
nguyên tử, chẳng hạn như người ta có thể chụp được dấu xê dịch của những
nguyên tử với một máy chụp hình tinh xảo có thể so sánh như là một hơi
khói lạt phảng phất sau một luồng gió cuốn.”
Xin quí vị so sánh câu trên với việc mô tả Nguyên tố
(Element) 110 do Trung tâm Sưu Tầm Nguyên tử ở miền Nam Ðức Quốc khám phá
như sau:
“Mỗi lần xuất hiện trong một phần ngàn giây đồng hồ,
Nguyên tố 110 lại tan biến đi. Tuy nhiên, các khoa học gia tin rằng
Nguyên tố 110 hiện diện bởi vì nó đã phóng ra một nhân Helium trước khi
tan biến.”
Tuy rằng cách nhau trên 25 thế kỷ, việc mô tả sự ảnh
hiện chớp nhoáng của Nguyên tử và Nguyên tố 110 không sai nhau một hào ly.
Bây giờ chúng ta hãy nghiên cứu những điều chư Phật và
chư vị Bồ Tát nói cách đây mấy ngàn năm có đúng với những khám phá mời
của khoa học không?
Kỳ Na Giáo. “Dưới trạng thái nhỏ, có vô số hạt
nhân kết thành và chiếm diện tích lớn trong không gian.”
Khoa học ngày nay. Dưới Nguyên tử có những hạt
Vi phân Tiềm Nguyên tử (Subatomic particles) như Quark và dòng họ (Hadron,
Meson và Baryon), Lepton (Electron, Neutrino, muo…), Gluon (Photon,
Graviton, Gluon yếu…) có chừng 200 hạt như vậy.
Kỳ Na Giáo. “Mỗi nguyên tử có mùi vị và màu sắc
riêng, và có hai xúc giác. Nhưng tính chất này không thường con và có thể
thay đổi. Hai hay nhiều hạt nhân kết lại có thể thay đổi cường độ thô hay
nhám. Nguyên tử có thể tạo thành sự di động của chính nó, và sự di động
này lắm lúc quá nhanh, trong tích tắc đi khắp cõi tam thiên đại thiên thế
giới.”
Khoa học ngày nay. Theo Nguyên lượng Sắc động
học (Quantum Chromo dynamics – QCD), hạt Quark có ba màu: Ðỏ, xanh lá cây
và xanh dương. Ngoài Quark lại có hạt Ðối Quark (hai xúc giác). Tất cả
những hạt Vi phân Tiềm Nguyên tử đều là Hạt ảo, nghĩa là không có Trọng
khối, vị trí, luôn luôn ẩn hiện ma quái, thay đổi hình dạng trong từng Sát
Na. Người ta chỉ thấy những hạt này trong những phương trình toán học mà
thôi. Hạt Quark (Hadron) và Photon ( Quang tử) là những hạt thay đổi hình
dạng rất kỳ quái. Ngoài ra tất cả những hạt đó thay đổi hình dạng rất kỳ
quái. Ngoài ra tất cả những hạt đó chỉ xuất hiện trong vòng 1 phần triệu
cho đến 40 phần tỉ của một giây đồng hồ. Có hạt như Tachyon còn nhỏ hơn
Siêu Tơ Trời và bay nhanh hơn ánh sáng nữa (Ánh sáng bay 300,000 cây
số/giây hay 186,000 dặm/giây).
Theo Phật giáo, có đủ nhân duyên, Nguyên tử có thể tạo
nên bất cứ hình thể nào đó, mắt chúng ta không thấy được. Ðức Phật thấy
Nguyên tử là “vi thể năng động”.
Trong kinh, Ðức Phật gọi Nguyên tử và những hạt Vi phân
Tiềm Nguyên tử bằng những tên khác nhau như: Khích du trần, Mao đầu trần,
Vi trần, Cực vi, Cực vi trần, Lân hư trần và Lân-không…
Khích du trần là những hạt bụi ta thường thấy
khi ánh sáng mặt trời chiếu qua khe cửa. Một hạt khích du trần chỉ bằng
1/200 tiết điện của một sợi tóc. Mao đầu trần là những hạt bụi nhỏ bằng
đầu sợi lông. Tôi nghĩ rằng Mao đầu trần lớn hơn Khích du trần. Trước
kia, trong kinh Phật gọi Vi trần là Nguyên tử. Cực vi, Cực vi trần,
Lân hư trần và Lân không, theo tôi nghĩ là những hạt Vi phân Tiềm
Nguyên tử hay những Hạt ảo là những hạt gần Hư không, nó cũng giống như
Epsilon, một điểm hình học không kích thước và có giá trị gần bằng 0 do
Newton phát minh.
Nếu tôi sai, xin các bậc cao minh chỉ dạy.
Nều Phật, Bồ Tát và các vị thánh nhân thấy được Nguyên
tử và những hạt Vi Phân Tiềm Nguyên tử thì các Ngài đã thấy được thực tại
cuối cùng của sự vật mà các khoa học gia ngày nay gọi là những viên gạch
cuối cùng cấu tạo vật chất.
“Bản thể luận của nhà Phật cho rằng cái thực tại cuối
cùng, cái cỗi nguồn của Pháp giới này là chính cái Diệu Tâm không hình,
không ảnh, nó tương tự như Mặt trăng đó.” (Băng giảng kinh Lăng Nghiêm của
cụ Nghiêm Xuân Hồng).
“KHẮP NƠI, KHẮP XỨ, CHỖ NÀO CŨNG CÓ THỂ CÓ NHỮNG LOÀI CHÚNG SANH CƯ NGỤ”
Trong
cuốn Lăng Kính Ðại Thừa, trang 182, cụ Nghiêm Xuân Hồng đã viết
“Khoa học ngày nay cũng khám phá nhiều những Quang tuyến vũ trụ (Radiation
cosmisque). Khoảng không gian bao la giữa các hành tinh, mà trước kia các
khoa học gia tưởng là tuyệt đối trống rỗng, thì nay họ khám phá thấy có
rất nhiều quang tuyến vũ trụ. Những quang tuyến này đạt tới những tần số
ghê gớm, còn gấp bội tần số của Quang tuyến gamma, và thường xuyên oanh
tạc bầu khí quyển của Trái đất, và chắc chắn tạo nên nhiều sự chuyển hóa
chưa thể biết được”.
Ðiểm này
chứng minh lời kinh xưa dạy rằng “khắp nơi, khắp xứ, chỗ nào cũng có
đầy quang minh. Và cũng đều có thể có những loài chúng sanh cư ngụ”.
Bây giờ
chúng ta hãy tìm hiểu xem lời kinh xưa mà cụ Hồng đã trưng dẫn có đúng
không?
Hành
tinh mới phát hiện có thể có đời sống sinh vật (10)
Tiến sĩ
Geoffrey W. Marcy, Thiên văn gia tại đại học San Francisco, và Paul
Butler; sau tám năm quan sát tại Thiên văn đài Lick ở San Jose, đã phát
hiện hai Hành tinh chạy quanh quĩ đạo của Sao Mặt trời.
Nhiệt độ
của hai Hành tinh này có vẻ ấm áp nên có thể có nước ở thể lỏng, điều kiện
cần thiết cho những Tiến trình hóa học (Chemical process) và có thể có đời
sống sinh vật ngoại từng không gian. Hai Hành tinh quá cỡ Mặt trời nay lớn
hơn Mộc tinh (Jupiter) rất nhiều, đang cặp kè với Sao 70 Virginis, ở trong
Chòm sao Xử nữ (Virgo), và Sao 47 Ursae Majoris ở dưới Cán Gáo (The Big
Dipper) ở trong Chòm sao Ðại Hùng Tinh (Ursa Major). Chúng ở cách xa Trái
đất 35 quang niên. Chúng nhỏ bé và mờ tối trước ánh sáng rực rỡ của hai
ngôi sao mẹ, nhưng có Trọng trường (Gravity) rõ rệt.
Việc
khám phá này cùng với việc phát hiện một Hành tinh chạy quanh quĩ đạo của
Sao Pegasus 51 hồi tháng 10-1995 khiến các khoa học gia tăng thêm tin
tưởng rằng Thái Dương hệ độc đáo hơn những Hành tinh hệ bình thường khác.
Ðiều này ngụ ý rằng đời sống sinh vật, kể cả đời sống văn minh đã có
khắp nơi trong vũ trụ.
Tiến sĩ
Alan P.Boss, một Lý thuyết gia Thiên văn tại Viện Carnegie ở Hoa Thịnh
Ðốn, nói rằng “Chúng ta thật sự đang bắt đầu một kỷ nguyên Thiên văn mới.
Chúng ta sẽ tìm thêm nhiều Hành tinh khác trong thập niên tới”.
Tiến sĩ
William J. Boruchi, Thiên văn gia tại Trung tâm Nghiên cứu Ames ở Mountain
View nói “Ðây là sự trở lại lần thứ hai của Marco Polo và Kha Luân Bố:
Chúng ta đã tìm thêm những thế giới mới”.
Cơ quan
quan trị Hàng Không Không Gian (NASA) loan báo ưu tiên hàng dầu của họ
trong vũ trụ. Họ sẽ dùng những máy móc tối tân để chụp hình những Hành
tinh nhỏ như Trái đất, và quan sát sự phản xạ ánh sáng để tìm bằng chứng
đời sống sinh vật của chúng.
Tháng
10-1995, các khoa học gia Thụy Sĩ đã phát hiện một Hành tinh chạy quanh
quĩ đạo của Sao Pegasus 51 ở cách xa Trái đất 40 quang niên. Hành tinh này
chỉ nhỏ bằng nửa Mộc Tinh, nhưng vì ở gần Sao Pegasus quá nóng nên không
thể có đời sống sinh vật.
Marcy và
Butler phát hiện hai Hành tinh này nhờ quan sát sự thay đổi ánh sáng từ
các vì sao phát ra. Những Biến thiên mẫu mực này khiến họ cho rằng Trọng
trường lực của một hành tinh lớn, đang chạy quanh quĩ đạo gần đó, đã gây
nên lối Chuyển động lệch lạc (wooble) của các vì sao. Những Mẫu mực này
rất đơn giản như Kepler và Newton đã tiên đoán trước đây.
Marcy
nói “Chúng ta không thể giải thích cách nào khác ngoài việc một hành tinh
đã gây nên sự lệch lạc đó”
Cả hai
Hành tinh mới phát hiện đều tương đồng với Mặt trời về kích thước, nhiệt
độ và tuổi tác. Các khoa học gia đang cố gắng tìm kiếm 200 Hành tinh
tương tự như Mặt trời ở cách Trái đất 100 quang niên.
Hành
tinh chạy quanh quĩ đạo Sao 70 Virginis trong một Tâm sai (Eccentric) 110
ngày. Khoảng cách của Hành tinh này với Sao 70 Virginis bằng khoảng cách
giữa Thủy Tinh (Mercury) và Kim Tinh (Venus). Nó có Trọng khối bằng 8.1
Trọng khối của Mộc Tinh (Jupiter) là một Thiên thể lớn nhất trong Thái
dương hệ, lớn hơn Trái đất 317.8 lần. Bằng cách đo lường ánh sáng và
khoảng cách của Sao 70 Virginis, các Thiên văn gia có thể xác định số
nhiệt lượng mà Hành tinh này đã thâu hút. Rồi dùng công thức chuẩn, họ
đo nhiệt độ ở bề mặt của Hành tinh này vào khoảng 185 độ Fahrenheit, tức
là nhiệt độ của một ly trà ấm. Vì vậy, Hành tinh này phải có hơi nước ở
thể lỏng.
Marcy
nói “Nhiệt độ của Hành tinh này đủ lạnh để cho phép những Phân tử phức tạp
từ Thán khí đến những Phân tử hữu cơ (Organic molecule) hiện hữu. Các
Thiên văn gia nói mặc dầu Hành tinh nói trên được phỏng đoán là một
Thiên thể hơi khí (Gaseous body) như Mộc tinh, nó cũng có những vệ tinh
với bề mặt cứng và cùng nhiệt độ ấm áp, và có viễn tượng tốt đẹp của đời
sống sinh vật.
Hành
tinh thứ hai lớn hơn Mộc tinh ba lần. Nó chạy quanh qũi đạo tròn cách xa
Sao 47 Ursae Majoris một khoảng cách từ Mặt trời đến khoảng giữa Hỏa tinh
(Mars) và Mộc tinh, và chạy hết một vòng trong 1,100 ngày. Nhiệt độ ở bề
mặt của nó bằng -112 độ, nhưng trong hạ tầng khí quyển của nó ấm áp hơn
khiến nó có thể có nước ở thể lỏng, và nhiều vệ tinh có nhiệt độ ôn hòa.
Vì Hành
tinh này ở cách xa Sao 47 Ursae Majoris một khoảng cách gần bằng khoảng
cách của Mộc tinh (với Mặt trời), Butler nói “Chúng ta chưa từng thấy
Hành tinh hệ nào giống nhiều như Thái dương hệ của chúng ta".
Tóm lại,
Hành tinh chạy gần Sao Pegasus 51 quá nóng, Hành tinh chạy xa Sao 47
Ursa Major quá lạnh, và chỉ Hành tinh gần 70 Virginis được tin là ấm áp và
có thể có nước.
Ði
tìm một chàng không gian (11)
Những
người ở ngoại tầng không gian có thể đã chế tạo những Phi thuyền liên tinh
tú (Starship) với tốc độ bay hàng ngàn dặm trong một giây đồng hồ khiến họ
có thể du hành giữa các vì sao.
Các sưu
tầm viên thuộc SETI (Chương Trình Tìm Kiếm Những Nền Văn Minh Ngoài Trái
đất) có thể phát hiện được những Phóng xạ quang tuyến (Radiation) phát ra
từ một vài loại Phi thuyền ở cách xa Trái đất 2,000 quang niên, tức là 500
lần khoảng cách của vì sao gần nhất với Trái đất. Họ đã dùng viễn vọng
kính vô tuyến để nghe ngóng tín hiệu của người không gian. Một số khoa học
gia đã đề nghị chế tạo những Phi thuyền liên tinh tú có thể bay nhanh gần
phân số của tốc độ ánh sáng và đến một vì sao gần nhất trong vòng một hay
hai đời người.
Robert
Zubrin, kỹ sư trưởng tại Cơ Quan Hàng Không Không Gian Martin Marietta ở
Denver, đã phân tích rằng những Phi thuyền của người không gian có thể
được phát động bốn cách căn bản:
Phá
vỡ Hạt nhân (Nuclear fission) như trong các lò nguyên tử thương mại;
Nhiệt hợp hạt nhân (Nuclear fusion), trộn hạch tâm như trong những
bom hạch tâm nhiệt; Hỏa tiễn Ðối vật thể (Antimatter rocket), trộn
Vật thể với Ðối vật thể để tạo Năng lượng thuần; và Sức đẩy của điện từ
(magnetic sail), tạo nên những Trọng trường mạnh để tương tác với những
Phân tử ở trong khoảng cách các Hành tinh như Gió Mặt trời (Solar wind).
Bằng
những cách này, Phi thuyền có thể bay với tốc độ mấy ngàn dặm trong một
giây đồng hồ, Zubrin nói “Ánh sáng phát ra từ các Phi thuyền có thể được
Viễn vọng kính Hubble phát hiện ở một khoảng cách chừng vài trăm quang
niên nếu đầu hỏa tiễn hướng về Trái đất”.
Tuy
nhiên, việc du hành liên tinh tú làm các khoa học gia ở SETI sởn da gà bời
vì các vì sao ở cách nhau quá xa khiến việc du hành này chẳng khác gì lên
Thiên đàng vậy.
Ðài
Thiên văn Parkes ở úc Châu có một Dĩa thu (disk) đường kính 210 bộ (feet).
Ðài sẽ nghe ngóng và phân tích 28 triệu băng tần vô tuyến phát ra từ những
làn sóng của máy vô tuyến, truyền hình, và những Tín hiệu vi ba (Microwave
signal).
Những
tín hiệu này phải mất vài thế hệ mới đến được những vùng quá xa của không
gian. Kể từ khi máy vô tuyến được phát minh cách đây một thế kỷ, Trái đất
đã gởi đi một số lớn tín hiệu. Có lẽ những tín hiệu đó chưa đủ thời gian
để đến tai các người không gian ở quá xa để họ biết có sự hiện diện của
chúng ta ở đây.
Các
Thiên văn gia báo cáo trong thời gian qua, họ đã nhận rất nhiều tín hiệu
của người không gian, nhưng chưa có tín hiệu nào được xác nhận.
Các khoa
học gia tin rằng người không gian phải có mặt ở nơi nào đó trong vũ trụ.
Những
nền văn minh trong vũ trụ
Bài này
đăng trong báo Mới, số ra tháng 8-1995, tác giả đã trình bày đầy đủ
chi tiết về Tinh tú, Thiên hà, nhất là những nền văn minh trong vũ trụ.
Ðây là một bài có giá trị cũng như một số bài khác của báo Mới nói
về Thiên văn, Khoa học, và Y học v.v...
Tôi xin
phép tác giả ghi lại những tin tức phù hợp với lời dạy của Ðức Phật là
“khắp nơi, khắp xứ, chỗ nào cũng có thể có những loài chúng sanh cư ngụ”.
“Thiên
hà là một tạp hợp nhiều hệ thống sao và Hành tinh. Trong toàn bộ vũ trụ có
chừng trên 100 tỉ thiên hà (tài liệu tôi đọc nói 200 tỉ). Giải Ngân Hà của
chúng ta có trên 100 tỉ ngôi sao (tài liệu tôi đọc có 400 tỉ). Như vậy
toàn bộ vũ trụ có chừng 1,201 Sao Mặt trời.
Trong Hệ
Thiên hà của chúng ta (Giải Ngân Hà) có chừng 10 tỉ Hành tinh giống như
Hành tinh Trái đất của chúng ta.
Chòm sao
Toseti (Cá Voi) ở cách Trái đất 12.2 quang niên, và sao Epsilon ở cách xa
Trái đất 10.8 quang niên. Hai chòm sao này có những điều kiện lý sinh gần
giống với Mặt trời của chúng ta.
Hệ Mặt
trời Sentauri ở cách Trái đất 4.1 quang niên. Các nhà Thiên văn cho rằng
hình như hệ này cũng có các Hành tinh với những điều kiện sống tương tự
như Trái đất.
“Các
khoa học gia đã đi đến kết luận rằng hiện nay trong Giải Ngân hà phải tồn
tại hàng triệu nền văn minh đang độ phát triển rực rỡ.
Năm
1972, tại Hội Nghị Du hành Vũ trụ Quốc tế, các Thiên văn gia cho rằng có
khoảng 10,000 nền văn minh ở cách Trái đất không quá 800 quang niên. Các
nhà khoa học cho rằng trong vũ trụ phải có hàng triệu Hành tinh có nhiều
đặc điểm gần giống với Hành tinh Trái đất của chúng ta, và có thể ở các
Hành tinh đó cũng có những sinh vật có trí tuệ ...”
Nếu gởi
một vô tuyến điện đến một Thiên hà gần nhất cách chúng ta chừng 1,000
quang niên, và nhận được điện phúc đáp phải mất 2,000 năm.
Một phi
thuyền bay nhanh gấp mười lần phi thuyền bây giờ phải mất 40,000 quang
niên mới đến được những ngôi sao cách chúng ta 10 quang niên.
Một phi
thuyền bay nhanh nhất phải bay 100,000 năm mới bay qua Giải Ngân Hà của
chúng ta.
Ði
tìm một nàng không gian (12)
NASA đã
khởi công tìm kiếm không gian từ năm 1963, nhưng bị các nhà lập pháp ngăn
cản nên tổ chức SETI ở California ra đời.
Trong
năm tháng liên tiếp, Viễn vọng kính Parkes ở Úc Châu đã thanh lọc nhiều tỉ
sóng vô tuyến trong Giải Ngân Hà để tìm kiếm đời sống ngoại tầng không
gian ở trên 200 vì sao. Ðây là một phần của Dự án Phượng Hoàng; theo đó,
các đài Thiên văn trên thế giới sẽ hoàn tất việc quan sát 1,000 ngôi sao
vào cuối thập niên này.
Seth
Shostak, phát ngôn viên của Dự án nói phần lớn những vì sao được quan sát
phải giống Mặt trời về tuổi tác và kích thước, với những Hành tinh giống
Trái đất, và có thể có đời sống sinh vật.
Sao gần
nhất với chúng ta là 4.5 quang niên, và sao xa nhất là 150 quang niên.
Dự án
nhằm mục đích phân tích những tín hiệu nhân tạo được đánh đi trong vô vàn
sóng thiên nhiên của vũ trụ. Nếu bắt được những làn sóng nhân tạo, đó có
thể là dấu hiệu của một nền văn minh của người không gian.
Qua
những tài liệu nói trên, chúng ta thấy NASA đã bắt đầu tìm kiếm người
không gian từ năm 1963. Cho đến nay họ đã tìm được hai Hành tinh có điều
kiện sống giống Trái đất.
Ngày
6-11-96, báo chí loan tải các Thiên văn gia Vô tuyến thuộc đại học
Illinois đã phát hiện dấu vết của một loại dấm ăn tên là Acetic acid ở
trong một đám mây liên tinh tú tên là Sagittarius B2 Bắc, ở cách Trái đất
25,000 quang niên (13).
Ðây là
một Phân tử hữu cơ có thể giữ vai trò tạo dựng đời sống. Amino acid là
những viên gạch cấu tạo đời sống. Proteins và DNA phối hợp nhau để thành
Amino acid có trong cơ thể của mọi sinh vật.
Nước đái
quỷ (Ammonia) đã được phát hiện trong một vùng liên tinh tú cách đây trên
25 năm.
Tháng
8-1996, báo chí cũng loan báo rằng các khoa học gia đã trưng dẫn bằng
chứng có đời sống sinh vật ở Sao Hỏa sau khi nghiên cứu những Vật hữu cơ
và khoáng chất bám vào một mảnh Ðá trời (Meteorite) đã rớt từ Sao Hỏa
xuống mặt đất.
Cũng
trong tháng này, họ công bố rằng những hình ảnh do phi thuyền Galileo chụp
ngày 6-27-96 cho thấy có những tảng băng lớn ở trên mặt Europa, một Vệ
tinh của Mọc tinh (Jupiter).
Ðiều này
khiến các khoa học gia cho rằng có đại dương ở trên mặt Vệ tinh Europa mà
họ đã tiên đóan vào năm 1979. Họ cho rằng nếu có đại dương phải có nước,
mà có nước tất phải có đời sống sinh vật ở Sao Hỏa.
Những
chú bé da xanh từ Sao Hỏa xuống
Tháng
năm 1996, báo Mỹ tường thuật rằng những Ðá trời rớt từ Sao Hỏa có thể đem
theo đời sống sinh vật xuống Trái đất. Các khoa học gia nói rằng Sao Hỏa
dã ném hàng tấn đá xuống Trái đất, nhưng phần lớn chúng đã bay lạc đi
những nơi khác.
Những đá
trời cỡ nhỏ này thường bùng cháy khi vào khí quyển của Trái đất. Người ta
đã nhặt được 17,000 Vẫn thạch (Ðá trời), và qua những phân tích hóa học có
11 hòn được coi như từ Sao Hỏa xuống.
Ðá trời
có đủ cỡ: Có hòn bằng trái núi, có hòn nhỏ như đá sỏi; và chúng đã bay vi
vút trong thái dương hệ cách đây hàng tỉ năm. Những Ðá trời bay xẹt trong
bầu trời Texas và California hồi đầu tháng này là những Vẫn thạch, còn gọi
là Sao Xẹt.
Ðã từ
lâu, người ta cho rằng có đời sống sinh vật trên Sao Hỏa cho nên những Ðá
tròi này rớt xuống có thể đã đem theo đời sống sinh vật. Các khoa học gia
cho rằng có khoảng 1% số Ðá trời rớt xuống đã đến Trái đất trong sáu
tháng.
Những
cuộc nghiên cứu cho biết rằng những vi sinh vật có thể tồn tại trong không
gian ít nhất sáu tháng. Ví dụ một vệ tinh được phóng đi cách đây trên một
năm, khi trở về Trái đất đã đem theo những sinh vật còn sống. Những mẫu
đất do các phi hành gia Apollo thâu lượm được trên Mặt trăng cho thấy rằng
những vi sinh vật ở Trái đất có thể sống lâu dài trên mặt trăng.
Ðiều đó
chứng tỏ rằng Trái đất có thể đã có những quý khách từ Sao Hỏa xuống
viếng. Nếu Sao Hỏa có đời sống sinh vật, ít nhất phải có một số đã viếng
thăm Trái đất. Chúng có thể là những chú bé da xanh nguyên quán từ Hỏa
tinh.
Tìm
thấy hồ nước đá ở mặt trăng
Tháng
2-1996, báo chí Mỹ loan báo phi thuyền Clementine – phóng đi hồi tháng
Giêng 1995 – đã phát hiện một hồ nước đá nằm sâu trong một Miệng núi lửa
khổng lồ ở nam cực Mặt trăng. Miệng núi lửa này có tên là Lưu vực Aitkin
nam cực, có đường kính 1,5000 dặm, và chiều sâu tám dặm. Diện tích nước
đóng băng phát hiện ở đây lớn bằng cái hồ sâu vào khoảng 30 thước.
Các khoa
học gia nói chúng ta sẽ dùng nước này để uống, trồng cây, tạo thực phẩm,
và biến chế thành nhiên liệu để khỏi đem từ Trái đất lên. Sau đó, loài
người có thể lên ở trên mặt trăng để từ đó đi thám hiểm những Hành tinh
khác.
Phía nam
cực của mặt trăng luôn luôn tối và có nhiệt độ -382 F. Vì mặt trăng không
có khí quyển để giữ lại hơi khí và ẩm thấp nên việc phát hiện hồ nước đá
này cho biết Mặt trăng có thể được tạo thành cách dây bốn tỉ năm.
Cho đến
nay, khoa học đã đến gần ngưỡng cửa của việc phát hiện đời sống sinh vật ở
ngoại tầng không gian. Tháng 8 năm 1996, các khoa học gia đã có bằng chứng
về đời sống sinh vật ở Sao Hỏa. Tháng 12 năm 1996, khoa học lại phát hiện
hồ nước đá ở trên Mặt trăng.
Không
chóng thì chầy, khoa học sẽ khám phá ra đời sống sinh vật thật sự ở ngoài
Trái đất. Khi khoa học đạt được mục tiêu này, lời Phật dạy sau đây sẽ được
xác nhận:
“khắp
nơi, khắp xứ, chỗ nào cũng có đầy quang minh. Và cũng đều có thể có những
loài chúng sanh cư ngụ”.
Khi Phật
nói như vậy, Ngài ngụ ý có những chúng sanh trong thế giới hữu tình, và có
những chúng sanh trong những thế giới vô hình. Tất nhiên, khoa học không
thể phát hiện được những chúng sanh vô hình trong những thế giới vô hình
vì họ không có Phật nhãn.
Như vậy
quí vị có đồng ý với tôi rằng đạo Phật là đạo siêu khoa học hay không?
“Trong
bầu trời có vô vàn, vô số thế giới nhiều như số cát sông Hằng” (Lời Phật).
Trong băng giảng "Hoa Sen Trong Bùn", HT Thích Thanh Từ
đã nhắc lại lời của đức Thế Tôn rằng:
"Trong bầu trời có vô vàn, vô
số thế giới nhiều như số cát sông Hằng."
Trong kinh Lăng
Nghiêm, đức Quan Thế Âm cũng nói, "Trong thế giới tam thiên đại
thiên thế giới này có trăm ức mặt trời trời mặt trăng."
Rồi trong kinh Hoa Nghiêm,
đức Phổ Hiền lại dạy, "Tất cả các thế giới đó hình dạng khác nhau: Hoặc
hình xoáy nước, hình xoắn ốc, hình bán nguyệt, hình trục xe, hình bảo hoa
xoay tròn v.v... Thế giới có vi trần số hình dạng như vậy."
Trong hai bài, "Hình dạng thế giới" và "Có trăm ức mặt
trời, mặt trăng," tôi đã đưa những bằng chứng cụ thể chứng minh rằng nhị
vị Bồ tát nói trên đã thấy những gì mà khoa học ngày nay đang dần dần khám
phá ra.
Hôm nay, khi đọc bài "Bất ngờ, tinh tú mọc thêm nhiều
trong vũ trụ" (Suddenly, cosmic sprouts more stars," tôi phải đê đầu bái
phục ba vị Phật đã dùng Phật nhãn thấy được vô vàn, vô số Thiên hà cùng vi
trần số hình dạng của chúng.
Thật là nhiệm mầu, thật là bất khả thuyết, thật là quá
sức tưởng tượng của loài người.
Tôi xin tóm lược bài báo nói trên như sau:
Trong liên tiếp mười ngày tập trung ống kính vào một
vùng nhỏ hẹp trong bầu trời, Viễn vọng kính Hubble đã chụp được những tấm
hình đầy đủ chi tiết từ trước đến nay chưa từng có của vô vàn, vô số Thiên
hà (Galaxies) khác nhau ở sâu trong không gian như đang trở lại lúc khởi
thủy của thời gian ban đầu.
Nhờ thành quả này chúng ta thấy số lượng các Thiên hà
trong vũ trụ đã gia tăng khủng khiếp tăng đến 50 lần nghĩa là hơn năm lần
mà các Thiên văn gia trước kia đã ước tính. Mặt trời là một trong 50 đến
100 tỉ tinh tú trong Giải Ngân Hà.
Tiến sĩ E. Williams, Giám đốc viện Viễn Vọng kính Không
Gian ở Baltimore, tuyên bố, "Vùng nhỏ hẹp đó sẽ là vùng phải nghiên cứu
đặc biệt trong thập niên tới."
Vùng nhỏ hẹp trong bầu trời được quan sát chỉ rộng bằng
1/25 của một độ (degree), hay chiếm một diện tích bằng một hạt cát để trên
cánh tay. Thế mà, các Thiên văn gia báo cáo đã phát hiện ở nơi đó có
từ 1,500 đến 2,000 Thiên hà.
Các Thiên văn gia không chắc chắn rằng họ đã tiên đoán
đúng thời điểm thành lập Thiên hà khi họ nghĩ rằng thời điểm thành lập
Thiên hà khi họ nghĩ rằng thời điểm này bắt đầu khi vũ trụ còn rất nhỏ,
nhỏ từ 5 đến 10% kích thước của vũ trụ hiện thời.
Các Thiên văn gia rất phấn khởi khi quan sát những
tấm hình đa dạng của Thiên hà. Có những Thiên hà hình xoắn và bầu dục
quen thuộc, có những Thiên hà có những hình thể khác nhau, và có những
Thiên hà đường thẳng (Linear), và những Thiên hà có những hình dạng giống
như những Thiên hà đã phát hiện từ trước. Một số Thiên hà khác nữa có thể
có những hình dạng giống như hình dạng trong thời kỳ mới thành lập.
Trong một cuộc họp báo, Williams nói, "Có những
Thiên hà lớn, những Thiên hà nhỏ, có những cái đỏ, những cái xanh, có
những cái cấu trúc tạm bợ. Chúng ta chưa từng thấy những Thiên hà này
trước khi Viễn vọng kính Hubble thấy. Chúng ta chưa biết cái nghĩa lý gì
của chúng hết."
Chúng ta biết việc khám phá này sẽ thay đổi lối ước
tính tinh tú của các Thiên văn gia trong vũ trụ.
Andrew Fruchter, một Thiên văn gia tại Viện Viễn Vọng
kính Không gian nói, "Chúng ta chỉ biết có rất nhiều Thiên hà trong bầu
trời cũng như biết một số tinh tú trong Giải Ngân Hà của chúng ta."
Tất nhiên, chẳng ai biết đích xác có bao nhiêu Thiên hà
trong Giải Ngân Hà. Một Thiên văn gia khác nói trong Giải Ngân Hà có thể
có 100 tỉ, không phải 50 tỉ tinh tú. Có những Thiên hà lớn, những Thiên
hà nhỏ, và một trong những Cụm sao (Clumps of Stars) có thể có hàng tỉ
tinh tú.
Vùng mà Viễn vọng kính Hubble đã chụp được hình những
thiên hà mới ở gần cán của Cái Gáo Lớn (The Big Dipper) là một phần của
Chòm Sao Ðại Hùng Tinh (Ursa Major).
COBE (Cosmic Background Explorer Satellite: Vệ Tinh
Thám Sát Hậu Cảnh Vũ Trụ) được phóng đi cách đây sáu năm để quan sát những
Phóng xạ quang tuyến (Radiation) còn rớt lại sau vụ Bùng Nổ Lớn (The Big
Bang) đã không chụp hình như Viễn vọng kính Hubble.
Xin quý vị lưu ý hai điều dưới đây:
Thứ nhất, cách đây 50 năm, Albert Einstein nói trong vũ
trụ này có dộc nhất Giải Ngân Hà. Mấy thập niên gần đây, các nhà Thiên
văn vật lý đã khám phá rằng vũ trụ có vô vàn, vô số Thiên hà (Galaxies).
Thứ hai, cũng qua những khám phá trong những thập niên
gần đây nhất là việc khám phá mới nhất mà bài báo nói trên đã tường trình
các nhà Thiên văn vật lý đã thấy vi trần số hình dạng khác nhau của vi
trần số Thiên Hà.
Tuy cách nhau 25 thế kỷ mà sự quan sát và mô tả của đức
Thế tôn với những vị Bồ tát cùng với các nhà Thiên văn vật lý ngày nay
giống nhau như đúc.
Xin quý vị đọc lại lời dạy của ba vị Phật và lời tuyên
bố của khoa học gia ngày nay để thấy tôi nói có đúng không?
Nếu đúng, quí vị có tin rằng đạo Phật là một đạo
Siêu khoa học hay không?
THẦN THÔNG CỦA ĐỨC
PHẬT VÀ BỒ TÁT DUY-MA-CẬT
Máy truyền hình vĩ đại có vô lượng băng tần
Kinh Quán Vô Lượng Thọ, trang 24-27, kể rằng bà
Vi Ðề Hy, chánh hậu của vua Tần Bà Sa la, buồn phiền vì Thái tử bắt vua
cha bỏ ngục. Bà khẩn cầu Ðức Phật cho thấy những cõi không còn buồn rầu,
khổ lụy. “Lúc bấy giờ, Ðức Thế Tôn, từ tướng bạch hào phóng ra ánh sáng
vàng rực rỡ soi khắp vô lượng thế giới. Những cõi nước của chư Phật mười
phương, và vô lượng tịnh độ hiện bóng rõ nơi tòa quang minh,
rất rõ ràng và nghiêm đẹp. Song, Ðức Phật bảo bà quan sát kỹ và chọn nơi
nào ưa thích”.
Xin qúi vị lưu ý chữ hiện bóng tức là hình ảnh
hiện lên, và đài quang minh tức là màn ảnh. Ðức Phật bảo bà chọn nơi ưa
thích thì rõ ràng là một băng video.
Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Văn Thù Sư Lợi, trang
51-52, kể rằng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi đến thăm bệnh ông Duy Ma Cật, đem
theo 8,000 Bồ Tát, 500 Thanh Văn, và 100,000 Thiên nhân vào căn phòng nhỏ
của ông.
Phẩm Bất Tư Nghì, trang 60-64, kể rằng Ðức Phật
ở Thế Giới Tu Di Ðăng Vương điều khiển ba vạn hai nghìn tòa Sư Tử cao rộng
đến căn phòng của ông Duy Ma Cật.
Phẩm Thấy Phật A Súc, trang 113, Ðức Phật Vô Ðộng Như
Lai bảo ông Duy Ma Cật hãy hiện cõi nước Diệu Hỉ, Ðức Vô Ðộng Như Lai và
các hàng Bồ Tát, Thanh Văn cho chúng hội xem. Ngài Duy Ma bèn lấy tay phải
chấn cõi nước Diệu Hỉ để vào cõi nước Ta Bà, và cõi Ta Bà không chật hẹp,
vẫn y nguyên như trước.
Qúi vị thấy thần thông của chư Phật và của Bồ Tát Duy
Ma Cật rõ ràng là những máy truyền hình. Thí dụ ta mở một máy truyền hình
có màn ảnh 2 inches để xem một trận cầu quốc tế có hàng ngàn người coi
trên một sân banh rộng lớn. Sân banh rộng lớn và hàng ngàn người coi đâu
có chèn ép gì mình? Dẫu có cả nước Mỹ hay cả thế giới chiếu lên màn ảnh
đó, những quang cảnh to lớn đem bỏ vào phòng mình đâu có chật?
Ngoài ra đài truyền hình cũng là Tâm vì Tâm chứa đựng
được hết, và thực hiện được hết. Sách Thiền có kể “Cầu đá Triều Châu” có
thể dung chứa được biết bao nhiêu người, vật và ngựa xe chạy trên đó. Cầu
đá tượng trưng cho tâm, và Tâm được tượng trưng bằng con thuyền Bát Nhã,
nghĩa là con thuyền không đáy (không phải là Con Thuyền Không Bến),
vì trí tuệ Bát Nhã là trí tuệ tuyệt vời thì làm gì có đáy?
Tiện đây tôi cũng xin nói thêm rằng chư Phật và Bồ Tát
Duy Ma thị hiện thần thông để đại chúng thấy được những cảnh giới siêu
xuất của chư Phật là do ở phép quán tưởng. Khi đã quán đến trình độ cao
rồi thì nghĩ đến vật gì thì vật đó hiện ra. Ví dụ quán lửa thấy lửa, quán
nước thấy nước, quán vàng thấy vàng ... Kinh Lăng Nghiêm kể truyện
Nguyệt Quang Ðồng tử ngồi quán nước. Một lúc nước dâng lên. Chú tiểu tinh
nghịch lấy hòn đá ném xuống nước khiến Ngài đau bụng. Ngài dặn chú tiểu
hôm sau thấy nước lên thì nhặt hòn đá và vứt đi. Sai đó, Ngài hết đau
bụng. Có ba phép quán: (1) Vô biểu sắc, có nghĩa là quán dở, chẳng
thấy gì cả. (2) Ðịnh quả sắc, có nghĩa là quán lửa thấy lửa, nhưng
người ngoài không thấy được, và (3) Diệu quả sắc, nghĩa là quán lửa
thấy lửa, quán nước thấy nước, và người ngoài cũng thấy được như trường
hợp chú tiểu thấy Thầy ngồi quán nước, và khi thấy nước dâng lên thì chú
tinh nghịch ném hòn đá xuống nước.
Thần thông
Về thần thông phải viết cả pho sách cũng chưa đủ. Vả
lại, quí vị đã đọc khá nhiều rồi, tôi chỉ xin vắn tắt.
Tu theo chánh pháp của Như lai, người Phật tử không
mong cầu thần thông vì mục đích của tu hành là để giải thoát. Một khi đã
đắc đạo, tha hồ mà có thần thông.
Theo H.T.T. Duy Lực, thần thông của ngoại đạo còn lệ
thuộc vào không gian và thời gian. Thần thông của Ma Vương và quỷ Sa tăng
không thua gì thần thông của Phật và của Chúa. Chỉ khác nhau là bên tà bên
chính.
Theo thiển nghĩ, khoa học hiện đại là thần thông có thể
cắt nghĩa và chứng minh được. Thần thông của chư Phật cũng là khoa học,
nhưng không cắt nghĩa hay chứng minh được vì quá cao siêu.
Ví dụ Kim Tự tháp Ai Cập chẳng hạn, khoa học ngày nay
có đủ khả năng xây một cái tương tự như thế không? Tại sao cách đây mấy
ngàn năm, người ta có thể đưa những tảng đá khổng lồ và nặng hàng tấn lên
cao hàng trăm thước?
Ðọc những truyện kiếm hiệp, ta thấy có những màn đấu
chưởng như sau: Một hiệp khách giơ ngón tay phát ra một luồng ánh sáng
trong đó có một cây kiếm nhắm đầu một hiệp khách khác chém xuống. Hiệp
khách kia vội chỉ tay lên trời phóng ra một cái đinh ba để chặn cây kiếm
lại.
Ðó là thần thông ngày xưa, kể ra thì nhiều lắm.
Bay giờ những phép thần thông này đã trở thành sự thật.
Trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh, Iraq đã bắn hỏa tiển
sang nước Do thái. Quân đội Mỹ dùng hệ thống hỏa tiễn chống hỏa tiễn phóng
những hỏa tiễn lên trời, nhắm vào hỏa tiễn địch mà công phá.
Các phi hành gia Apollo đã đổ bộ Mặt trăng, và phi
thuyền Viking cũng đã được đưa lên Sao Hỏa lấy mẫu đất đem về.
Gần đây, (11-6-96), Hoa Kỳ đã phóng Vệ tinh Thám Sát
Global Surveyor lên Sao Hỏa; và vài ngày sau, Nga sô cũng đã phóng Con bọ
Mars 96 lên Sao Hỏa với mục đích nghiên cứu bầu khí quyển, bề mặt, và bề
trong của sao này. Ngoài ra, những con Bọ này còn nghiên cứu từ trường, đo
khí hậu và phóng xạ tuyến, và phân tích những lớp đất của sao này với mục
đích tìm kiếm người Hỏa tinh. Khi một vài bộ phận của phi thuyền hay con
Bọ bị trục trặc, những Trạm kiểm soát ở Trái đất có thể sữa chửa hay điều
chỉnh.
Gần đây, nhờ kỹ thuật ráp lăng kính, các khoa học gia
đã phân biệt được vòng đai của hai Ngôi sao Capella mà chính Viễn Vọng
Kính Hubble cũng không thấy. Cũng nhờ kỹ thuật này, người ta có thể thấy
được một cái bút chì đặt ở trên Mặt trăng.
Một khoa học gia trẻ tuổi đã chế một máy Vi tính. Khi
chụp vào đầu, ông trông thấy rõ ràng mọi vật trong đêm tối. Ông còn đếm
được những con ốc và đọc những hàng chữ in trên bánh xe của một chiếc xe
hơi đang chạy với tốc độ nhanh.
Như vậy là thiên lý nhãn rồi. Kinh Pháp Hoa nói
tu được sáu căn thanh tịnh thì với con mắt của mẹ cha sinh, chúng ta thấy
được nhiều cảnh giới của chư Phật. Như vậy, kinh Phật đâu có nói những
điều hư vọng?
Tất cả những thí dụ kể trên là thần thông của khoa học
ngày nay.
Thần thông của dĩa bay
Những người ở ngoại tầng không gian đã dùng một thứ
nhiên liệu gì khiến họ có thể du hành liên hành tinh cách nhau hàng tỉ
quang niên? (Một quang niên bằng 5 tỉ 88 dặm)
Khoa học ngày nay đang sưu tầm một thứ nhiên liện để
phi thuyền có thể bay đến những hành tinh gần nhất bằng cách nghiên cứu
Ðối Vật thể (Antimatter).
Ðối vật thể, hay bóng gương của Vật thể, là một nguồn
Năng lượng toàn hảo, nhưng khó nắm bắt. Ðối Vật thể, khi tiếp xúc với Vật
thể đổi thành một thứ Năng lượng ròng (Pure energy). Một gram Ðối Vật thể
mạnh bằng 1,000 tấn sức đẩy hỏa tiễn bay đến Hỏa tinh.
Cũng như Neutrino, Ðối Vật thể rất kỳ lạ khiến các nhà
khoa học không tin nó có thật. Bây giờ, họ khám phá rằng mọi Phân tử căn
bản như Dương điện tử (Proton), đối Phân tử (Antiparticle)). Ðối Phân tử
là bóng gương của những Phân tử chính.
Ngoài ra, Ðối Dương điện tử (Antiproton) cũng rất đắt
tiền. Một gram Ðối Dưong điện tử trị giá bằng một trăm tỉ tỉ (10 lũy thừa
13) Mỹ kim.
Tháng Hai vừa qua, lần đầu tiên, các khoa học gia đã
thành công trong việc chế tạo những Nguyên tử của một Ðối Vật thể, một vật
kỳ lạ, thường tiêu diệt Vật thể khác khi chạm phải. Những nguyên tử này
chỉ xuất hiện trong vòng 40 phần tỉ của một giây đồng hồ.
Ngoài ra, các khoa học gia hy vọng rằng một ngày nào
đó. Ðối khinh khí sẽ trở thành một thứ nhiên liệu cho các hỏa tiễn liên
hành tinh cà các siêu bom.
Ðó là những thần thông của khoa học hiện đại.
Ðể kết luận, chúng ta không nên nghĩ rằng những thần
thông của chư Phật là những điều bịa đặt.
Con người là một Tiểu vũ trụ trong cái Ðại vũ trụ, hay
còn được gọi là Tiểu ngã trong cái Ðại ngã. Vũ trụ có những bí hiểm bao
nhiêu, con người cũng có những bí hiểm bấy nhiêu. Bộ óc của con người là
một vũ trục vô biên mà chỉ có kinh Phật mới có thể phân tích được.
Khoa Tâm lý học chỉ phân biệt dước Ý thức, và Tiềm
thức. Nhưng theo Duy thức học, ngoài Tiền ngũ thức (Mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân), còn có Thức thứ 6 (Ý thức), Thức thứ bảy (Mạt na thức), và Thức thứ
tám (Tàng thức, hay A lợi da thức). Kinh Lăng Nghiêm đã liệt kê đến
12 A lợi da trí thức khác nhau được tùy theo mức độ tu hành.
Về mặt tình cảm, chúng ta thường nói thất tình, lục dục
như vui buồn, giận, ghét, yêu thưong ... Sự thật, Duy thức học đã chia
thành 100 Pháp. Thành thử, muốn hiểu con con người toàn diện, phải hiểu
Bách Pháp Minh Môn, và muốn hiểu vũ trụ phải hiểu Thập huyền Môn.*
(Tôi sẽ trở lại vấn đề này trong cuốn “Vào nhà Như Lai” mà tôi hy
vọng sẽ xuất bản trong một ngày gần đây).
Tâm lý phàm phu chúng ta thường bị những cột, những gút
ngăn cách; và những tham, sân, si của chúng ta chẳng khác gì những lớp bùn
đóng cứng ở dưới đáy lu nước khiến không thể thấy được đồng tiền nằm ở
dưới đáy. Tu hành là để chùi sạch những lớp bùn đó. Kinh Lăng Nghiêm
ví những lớp bùn đó là năm màn sương mù che lấp Diệu tâm: Sắc ấm,
Thọ ấm, Tưởng ấm, Hành ấm, và Thức ấm.
Một khi tu hành lọt vào Tàng thức và tìm đường đến Diệu
tâm, tâm thức của hành giả sẽ dung thông với cái màn Thiên La Võng của
Pháp giới; hay nói một cách khác, Tiểu vũ trụ và Ðại vũ trục sẽ hợp nhất.
Tức là Y báo, nhập Chánh báo. Những đấng giác ngộ là những bậc đã lọt vào
Tàng thức khiến Tiểu ngã hòa đồng vào cái Ðại ngã, bởi vì “Tất cả là một,
và một là tất cả". Lúc bấy giờ, hành giả sẽ có nhiều thần thông và diệu
dụng. Nghĩa là cái Thấy, Nghe, Hay, Biết của họ không còn lệ thuộc vào
những Phù trần căn hạn hẹp của con người. Muốn biết rõ thần thông của chư
Phật, xin xem kinh Hoa Nghiêm.
Nói tóm lại, khoa học ngày nay là thần thông cắt nghĩa
được, và thần thông của chư Phật là khoa học siêu xuất khiến bộ óc phàm
phu của chúng ta không hiểu nổi và cắt nghĩa được.
ÐỨC PHẬT CÓ PHẢI LÀ
BẬC ÐẠI Y VƯƠNG KHÔNG?
Sinh đẻ không cần giống đực (15)
Vấn đề Di tử (Gene).
Có nhiều chủng loại (species) đặc biệc sinh đẻ giản dị
và tốt đẹp không cần giống đực.
Khi chuông nhà thờ ngân vang khắp mọi nơi, chúng ta lại
ăn mừng ngày Giáng sinh của một đứa trẻ ra đời cách đây khoảng 2,000 năm.
Ðây không phải là đứa trẻ tầm thường vì bà mẹ sinh ra nó không hề có đàn
ông.
Phép mầu của việc đẻ con không cần có cha là nền tảng
tín ngưỡng của đạo Công giáo trong 2,000 năm qua.
Trong sản khoa hiện đại, việc thụ thai không cần cha
chẳng những phổ biến trong nhà thờ mà còn nẩy nở trong những phòng thí
nghiệm.
Bây giờ, các khoa học gia biết rằng đẻ con không cần
đàn ông là một hiện tượng thông thường của Thiên nhiên.
Ngoài loài người, trong đời sống của các loài vật, có
nhiều việc thụ tinh không cần con đực. Loại thụ tinh này có trong hầu hết
các loại sinh vật (người, vật, cây cỏ), ngoại trừ những loài có vú.
Richard Michod, nmột nhà Sinh vật học cải cách thuộc
Ðại học Arizona, nói rằng, “Việc thụ thai không cần làm tình
(Parthenogenesis) là một lối gian dị và hữu hiệu nhất để sinh nở. Theo
quan điểm của Darwin, vấn đề đặt ra là không phải chỉ cắt nghĩa việc sinh
nở không thôi mà cần phải giải thích những loại biết làm tình”.
Ông tiếp, “Cuộc đời sẽ khiếm khuyết nếu không có đàn
bà”.
Trong việc sinh nở không cần làm tình (Sexless hay
asxual), những trái trứng tự nở lấy mà không cần sự can thiệp của tinh
trùng, là điều rất thông thường đối với các loài sâu bọ như ong, chuồn
chuồn, mọt gỗ, và rận cây (aphid). Loại này có khi cần con đực, có khi
không. Lối sinh nở này cũng thấy trong những con thằn lằn, cá, và rắn mối.
Torng số những loài vật có xương sống, ít nhất cũng có cả trăm loài sinh
nở như vậy.
Graham Bell Molson, giáo sư về Di tử (gene) tại Ðại học
McGill ở Montreal, Gia Nã Ðại, nói, “Có một vài loại cá cần phải có con
đực để làm tình. Nhưng tinh trùng chỉ dùng làm thủng trứng để kết tinh.
Các Di tử (Gene) của con đực không di truyền lại cho thế hệ sau”.
Các nhà sinh vật học về Tiến hóa tin rằng trên con
đường Tiến hóa, nhiều chủng loại đã không cần đến việc làm tình.
Khi không còn con đực và không cần hy sinh một nửa số
Di tử (Gene) trong thời kỳ làm tình, hình như chủng loại này có điều lợi
ngay. Ðáng buồn là loại sinh vật này không sống đưọc bao lâu, Bằng chứng
thu lượm được ở những hóa thạch cho biết những chủng loại này ít khi sống
quá 20,000 năm.
Mặc dù việc sinh nở không cần con đực không phổ biến
trong các loài có vú, những chủng loại có áo giáp (Armadillos) lại thụ
tinh với Ða phôi bào (Polyembryony). Khi con cái đi đực, trứng thụ tinh
của nó chia làm hai và nở thành những đúa con giống nhau. Ở Texas, trứng
của loài vật có áo giáp luôn luôn chia thành sáu, và nở ra sáu con, hay
sinh sáu.
Theo nguyên tắc, những giống có vú, ngay cả loài người,
cũng có thể sinh con không cần làm tình.
Tuy nhiên, kết quả là những đứa con của bất cứ loại nào
sinh nở hoàn toàn không cần con đực phải là những Trái trứng tự phân
(Genetic clones) của mẹ chúng nó, và chúng luôn luôn là những giống cái.
Một đứa con trai sinh không cần tinh trùng (16)
Bác sĩ David Bothron thuộc Ðại học Edinburgh,
Scottland; nói rằng đây không phải là việc thụ thai không cần Tinh trùng
(Immaculation conception) – tinh trùng thường làm trứng thụ tinh. Việc
khám phá không có ý nói rằng có thể tạo nên con người mà không cần thụ
tinh gì hết.
Tinh trùng thường đem vào trứng một nửa số Di tử của
người cha và một nửa số Di tử của người mẹ.
Phôi bào bắt đầu thành hình khi trứng chia làm hai tế
bào, rồi mỗi tế bào lại chia làm hai tế bào nữa, và cứ chia như thế mãi.
Bình thường, toàn bộ Di tử (Set of genes) được đưa đến
mỗi tế bào.
Bác sĩ Bonthron tiếp rằng về trường hợp của đứa con
trai, bây giờ đã ba tuổi, các khoa học gia nghĩ rằng trứng bắt đầu tự phân
trước khi tinh trùng đến.
Những chi tiết về việc này không rõ ràng. Nhưng việc
thụ thai vẫn có thể đã xảy ra trước quá trình hình thành Phôi bào, và có
thể trước khi trứng hoàn tất việc tự phân dầu tiên.
Việc chậm trễ này có nghĩa là những Di tử của người cha
chưa được đưa vào trong tế bào của đứa trẻ, kể cả những Di tử tạo thành
Bạch huyết cầu.
Da của đứa trẻ có đầy đủ chất Di tử của cha mẹ. Như
vậy, về phương diện Di tử, thân thể của nó là sự trộn lẫn của những Di tử
bình thường và bất bình thường.
Ðứa trẻ học hành hơi khó khăn, và mặt bên trái của nó
nhỏ hơn mặt bên phải dấu hiệu chứng tỏ nó có những Di tử bất bình thường.
Bothron và đồng bạn tường trình lý thuyết này trên tờ
báo “Di tử Thiên nhiên”, số ra tháng 10-1994 (?).
Azim Surani, một chuyên viên về Di tử thuộc Ðại học
Cambridge nói rằng lý thuyết của Brothron rất hợp lý.
Kỹ thuật thụ thai nhân tạo (17)
Loại thai sanh không cần cha áp dụng cho cả loài người
và súc vật. Loại này gọi là Thụ tinh trong ống nghiệm (test tube, hay
Vitra ferilization).
Ví dụ ông A và bà B lấy nhau nhiều năm mà không có con.
Lý do có thể do những khuyết tật về sinh lý của ông hay bà, hoặc cả hai.
Những khuyết tật này có thể do Ống dẫn trứng (Fallopian
tube) bị bệnh, tinh trùng không đủ mạnh để thụ tinh trứng, thiếu tinh
trùng, thiếu trứng, không có tử cung, không có tử cung và trứng, không có
tinh trùng và trứng, và không có tử cung và tinh trùng.
Có năm phương pháp thụ thai nhân tạo sau đây có kết quả
từ 25 đến 50 %.* (Tài liệu tham khảo cũ. Bây giờ có thể hơn nhiều).
a. Cấy trứng vào Ống
dẫn trứng (Gamete Intrafallopian Transfer – GIFT).
Trứng và tinh trùng được trộn lẫn và cấy liền trong Ống
dẫn trứng, và từ đó trứng tự nhiên được đưa vào Tử cung (Uterus).
Phưong pháp này có kết quả 40% và được áp dụng trong
trường hợp việc Thụ thai khó cắt nghĩa (unexplained fertility). Khi áp
dụng vào trường hợp người cho trứng hay cho mượn Tử cung (Surrogate), kết
quả 50-50. (Một bác sĩ gọi là ‘Tử cung cho thuê’), hay mướn người ‘mang
nặng đẻ đau dùm’.
b.Cấy trứng
(Insemination).
Ðặt tinh trùng mạnh khoẻ vào trong Ống dẫn trứng hơn
chu kỳ sáu thág, kết quả 50%. Nếu không thụ thai, cần dùng thuốc để kích
thích trứng. Có thể áp dụng khi có người cho trứng và cho mượn Tử cung.
c. Cấy trứng đã thụ tinh vào Ống dẫn trứng
(Zygote Intrafallopian Transfer – ZIFT)
Lối cấy Trứng đã thụ tinh (Zygote) vào Ống dẫn trứng
thường được áp dụng khi người đàn ông bị tuyệt tự (sterile), hoặc áp dụng
trường hợp có người cho mượn Tử cung. Kết quả 40%.
d. Thụ tinh trong Ống nghiệm
(Test tube, hay Vitro fertilization)
Một Phôi bào, sau khi được tạo ra trong phòng thí
nghiệm bằng trứng và tinh trùng, được đưa thẳng vào tử cung. Phương pháp
này được áp dụng khi Ống dẫn trứng bị bệnh, hoặc người đàn ông hay đàn bà
có khiếm khuyết về sinh lý. Kết quả 25 % khi áp dụng trong trường hợp mượn
tử cung hay xin trứng của người khác. Kết quả 50-50.
e. Chích tinh trùng thẳng vào trứng
Phương pháp này được chia làm ba giai đọan:
- Trứng và tinh trùng được đặt trong một dung dịch có
điều kiện như trong cơ thể người ta. Trứng mới lấy ra trong vòng 24 tiếng
được loại bớt những tế bào ở ngoài thành trứng. Tinh trùng được trong một
dung dịch khiến nó bớt di động. Người ta chọn một con tinh trùng và hút nó
vào trong ống chích.
- Người ta chích mũi kim vào thành trứng. Nếu trứng
không bể, việc chích kết quả. Tinh trùng được đẩy nhẹ vào tâm điểm của
trứng. Tại đây, những dây DNA của tinh trùng phối hợp với những dây DNA
của trứng.
- Trứng được đặt trong Lò ấp (Incubator) có nhiệt độ
bằng nhiệt độ trong Tử cung. Trong vòng tám tiếng, nếu việc thụ tinh có
kết quả, trứng và tinh trùng trở thành một Phôi nhân (Pronuclei) có hai
vòng tròn trong trứng - Một vòng chứa những dây DNA của tinh trùng, và một
vòng chứa những dây DNA của trứng.
Trong trường hợp này, Phôi bào khi thành hình được đặt
trong Ống dẫn trứng.
Ðã tìm ra chất Di tử (Gene) tạo hình Phôi bào (18)
Bản tường trình của ba khoa gia đăng trong báo “Tế
bào”, nói rằng sau 25 năm nghiên cứu, họ đã khám phá ra chất Di tử chuyên
tạo hình và định mẫu (Pattern), Phôi bào, biến đổi những tế bào vô dạng
thành một loài có xương sống có đủ chân tay và ngón, tạo nên bộ óc và Dây
Thần Kinh Cột sống (Spinal cord), và nắn hình dạng của thân thể từ đầu đến
chân.
Những chất Di tử này sản xuất ra chất Morphogen (tạm
dịch là Tạo hình tố) là những Phân tử (Molecule) tạo hình sinh vật mà các
nhà sưu tầm đã biết từ lâu nhưng chưa tách rời ra được. Danh từ Morphogen
có nghĩa là “Tạo hình tố”; hay là chất Protein.* (Một hợp chất Nitrogen
hữu cơ chứa Amino acids là những chất tạo hình căn bản ở trong Thể chất
[Matter] của sinh vật, rất cần để nuôi dưõng và bổ sung các Mô [tissue]).
Sau khi đã vào trong Phôi bào, những Phân tử này từ từ
“quét qua những Nụ mô (Buds of tissue)* (Mô chưa trọn vẹn như nụ chưa nở
thành hoa), và bắt đầu nắn một hình dạng chưa rõ, tạo xương sống và xương
sườn ở giữa, nhào nặn chân tay và các ngón ở hai bên Phôi bào và bộ óc ở
trong xương sọ. Tạo hình tố (Morphogen) chạm đến những tế bào ở khắp mọi
nơi trong cơ thể khiến những tế bào trở thành những hình dạng nhất định
nào đó. Chất này cho tế bào địa chỉ, số phận, lý lịch, và mục đích của
cuộc đời.
Ðầu tiên được khám phá từ những con Ruồi trái cây
(Fruit fly), những chất Di tử này được đặt tên con Nhím (Hedgehog) là vì
chúng thay đổi mau lẹ để tạo hình con ruồi giống hình con Nhím.
Công việc thông thường của chất này trong con Ruồi trái
cây là quyết định sự tăng trưởng và cấu tạo hình dạng của tất cả các loài
có xương sống.
Bản tường trình nói rằng các khoa học gia đã tách rời
những Di tử có hình con Nhím từ những con chuột, Cá vằn (Zebra fish), và
gà.
Bác sĩ Clifford J. Tabin, một nhà nhà Phát triển sinh
vật học tại trường Y khoa Harvard, và là một trong ba tác giả của bản
tường trình nói trên, tuyên bố rằng:
“Loại Phân tử mới đặc biệt này chắc chắn sẽ trở thành
những Phân tử quan trọng nhất trong việc phát triển các loài có xương
sống”.
Tạo hình phôi bào (19)
(a) Các khoa học gia đã khám phá ra một loại Di tử
(Gene) gọi là Di tử hình con nhím (Hedgehog) chuyên nắn hình và định mẫu
cho phôi bào. Một khi được “bật đèn xanh”, Di tử này tạo thành chất
Protein, và chất này chỉ thị cho các tế bào kề cận biết vị trí và vai trò
của mình trong việc tạo hình chân, cánh, hay đuôi. Ở những nơi khác, chất
Protein con Nhím hướng dẫn việc phát triển thần kinh hệ.
(b) Trứng của một con chuột đã thụ tinh phát triển
thành 16 Tế bào trong ba ngày. Trong thời gian còn là Bọt nước* (Một Phôi
bào mới thành hình gồm có một Tế bào hình tròn và rỗng mà Ðức Phật gọi là
Yết La lam, nghĩa là Bọt nước), có nhiều Tế bào tăng trưởng, và những Tế
bào trong cùng cũng bắt đầu làm những nhiệm vụ riêng biệt.
(c) Ở trong thần kinh hệ mới tạo, những dấu hiệu nổi
lên từ trên xuống dưới đang tham gia việc tạo những Tế bào thần kinh riêng
biệt ở những nơi đặc biệt. Những Tế bào thần kinh ở trên có liên hệ đến
những chức năng cảm thọ, trong khi những Tế bào ở dưới kiểm soát sự hoạt
động của sinh vật.
Phôi bào của một con chuột từ 8 ngày rưỡi đến 9 ngày
rưỡi
(a) Trong những chân tay chưa thành hình (limb bud),
những chỉ thị riêng biệt của chất Protein con nhím khiến các tế bào bắt
đầu ấn định việc sắp đặt các ngón tay của một bàn tay thô kệch mới thành
hình.
(b) Lúc này, Di tử con nhím hoạt động khắp trong phôi
bào con chuột. Những vùng có dấu chấm thưa trong hình vẽ là những địa điểm
của những Tế bào biểu lộ sự hiện diện của Di tử này. (Xem hình vẽ).
Theo kinh Thánh, Chúa Jesus Christ được Ðức Mẹ Maria
đồng trinh sinh ra cách đây gần 2,000 năm. (Theo Tây lịch, Chúa Jesus sinh
vào năm thứ nhất, bây giờ là năm 1996).
Theo lịch sử của Ðức Phật Thích Ca, một hôm Hoàng hậu
Ma Da nằm chiêm bao thấy một hòn núi lớn, rồi từ trên đỉnh núi thấy Phật
Như Lai cưỡi một con voi trắng sáu ngà, nơi vòi có có ngậm một nhánh bông
huệ, vừa theo sườn núi đi xuống đến chỗ bà nằm, bèn lấy ngà khai hông bên
hữu mà chui vào.* (Phật Thích Ca Mâu Ni, trang 10).
Trong những băng giảng kinh Lăng Nghiêm, cụ
Nghiêm Xuân Hồng có kể Ngài Tu Bồ Ðề khi nhập thai mẹ vẫn ngồi trên kiệu
đặt trong một cung điện nguy nga. Mới sinh ra, Ngài đã biết hết những tiền
kiếp của mình.
Cả ba truyện thực hiện đản sinh trên đây, người đời cho
là những truyện huyền hoặc, khó hiểu, khó tin.
Vấn đề đặt ra là tôn giáo có chạy theo khoa học, hay
khoa học phải chạy theo tôn giáo?
Ðiển hinh là những khoa học gia lỗi lạc đều là những
con chiên ngoan đạo có đức tin vững chải. Tuy họ không chứng minh được có
Thượng đế, họ vẫn dốc lòng tin có Thượng đế (Xin đọc bài Thượng đế không
chơi tứ sắc với vũ trụ [God doesn’t play dice with the universe] trong khi
tranh luận với đồ đệ là Neil Bohr, Albert Eintein đã nói câu trên.
Tôn giáo mang sắc thái khoa học như đạo Phật vẫn tiềm
tàng rất nhiều thần bí và huyền nhiệm. Bởi những thần bí và huyền nhiệm đó
là bất khả tư nghì, nghĩa là không thể nghĩ bàn, khiến những đầu óc phàm
phu tầm thường không thể hiểu được.
Bấy giờ, xin trở lại vấn đề sinh sản của các loài.
Trong kinh Lăng Nghiêm, tr. 256, Phật đã chia
chúng sinh làm 12 loài: (1) Loài sinh trứng (Noãn sinh), (2) Loài sinh
bằng thai (Thai sinh), (3) Loài sinh ở dưới đất do ẩm ướt như côn trùng
(Thấp sinh), (4) Loài bỏ bản chất cũ mà sinh ra hình chất mới như bông lúa
hóa sâu, gạo hóa mọt, cỏ mục hóa đom đóm, (loài Hóa sinh), (5) Loài có sắc
(hình tướng), (6) Loài không sắc (ma, qủy, thần, phi nhân, chư thiên), (7)
Loài có tưởng (người), (8) Loài không tưởng (gỗ, đá, thảo mộc), (9) Loài
chẳng phải có sắc, (10) Loài chẳng phải không sắc, (11) Loài chẳng phải có
tưởng, và (12) Loài chẳng phải không tưởng. Loài thai sinh là các con cái
do tinh khí cha mẹ sinh ra. Thân sinh ra gọi là thân tứ đại: Ðất, Nước,
Gió, Lửa; hay Ðịa, Thủy, Hỏa, Phong. Xương thì thuộc về Ðất, tinh huyết
thuộc về Nước, vận động thuộc về Gió, và Hơi nóng thuộc về Lửa.
“Bốn thứ ấy đều có âm dương, hễ âm dưong giao hợp thì
thành thai bào. Nhưng tuy giao cấu mà không nhân theo năm thứ: Sát, Ðạo,
Dâm, Tham, Ái, thì cũng chẳng thành thai được.