PHẬT
GIÁO & KHOA HỌC
Buddhism & Science
Việt dịch: Trần Như Mai
---oOo---
KHOA HỌC VÀ
CON ÐƯỜNG ÐƯA ÐẾN NIẾTBÀN
Nguyên
tác:
Gerald
Du Pré
Con đường đưa
đến giác ngộ, giải thoát và Niết Bàn chính là Bát Thánh Ðạo, Tứ Diệu
Ðế; và phần quan trọng nhất trong con đường này là Thiền định.
Trải qua hơn
hai ngàn năm trăm năm, Thiền định Phật giáo đã trở nên đa dạng vì pháp
môn này được du nhập từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác và đã
chịu ảnh hưởng của nghi lễ và truyền thống địa phương. Do đó, ngày nay
có hằng loạt pháp môn Thiền Phật giáo khác nhau, những người cổ xúy
cho pháp môn Thiền của họ thường nhấn mạnh một vài nét khác biệt nhỏ
để phân biệt truyền thống của họ với các truyền thống khác. Mặc dù
mang tính đa dạng, phần lớn các trường phái Phật giáo vẫn thành công
trong việc giúp cho con người được giác ngộ.
Trong Thắng Pháp
Luận, các học giả Phật giáo đã phân tích rất tỉ mỉ những yếu tố của
Thiền định. Ðó là những phân tích tuyệt diệu – có phương pháp khoa học
và dựa trên kinh nghiệm hành trì trực tiếp của hành giả.
Khoa học hiện
đại có thể dùng những phân tích này như một điểm căn bản, và có thể bổ
sung thêm và liên hệ với kiến thức hiện đại về hệ thống não bộ. Ðiều
này sẽ giúp cho những thiền sinh tương lai có một tiêu chuẩn khách
quan để đánh giá phương pháp này hay truyền thống kia. Qua thời gian,
điều này sẽ giúp nẩy sinh một hình thái Thiền định Phật giáo đặc biệt
theo kiểu Tây phương hoàn toàn phù hợp với thế giới hiện đại.
Việc đầu tiên
một thiền sinh cần thực hành là ‘tư thế ngồi thiền’. Có nhiều kiểu
ngồi khác nhau, một số kiểu ngồi gây cảm giác đau đớn, một số kiểu
khác hầu như chắc chắn là không tốt cho đôi chân. Các trường phái
Thiền khác nhau ấn định những kiểu ngồi khác nhau và nhấn mạnh một vài
điểm có vẻ không quan trọng như vị trí của bàn tay. Vậy thì người Tây
phương sẽ chọn kiểu ngồi nào ?
Rất may là các
nhà khoa học Nhật Bản đã nghiên cứu một số kiểu ngồi được áp dụng
trong Thiền Phật giáo. Trong số đó, họ thấy thế ngồi kiểu hoa sen
(kiết già) là thế vững chắc nhất. Họ đã đi đến kết luận rằng không có
một kiểu ngồi nào gọi là tối quan trọng trong lúc hành thiền. Họ thấy
rằng điều quan trọng là trạng thái tinh thần của thiền sinh, quan điểm
này cũng được tìm thấy trong các bài phân tích của Thắng Pháp Luận.
Như vậy thì bất cứ kiểu ngồi nào giúp thiền sinh cảm thấy thoải mái và
tỉnh giác đều tốt cả. Những khám phá khoa học này có thể giúp cho các
thiền sinh phương Tây khỏi phải chịu đựng những bó buộc không cần
thiết về kiểu ngồi Thiền khiến cho cơ thể đau đớn.
Trong Thiền
Phật giáo, không có một qui định chặt chẽ nào về vấn đề điều khiển hơi
thở như trong một số kiểu Thiền của Ấn Ðộ giáo. Thay vào đó, thiền
sinh Phật giáo thở thật tự nhiên, dùng hơi thở như là một đối tượng để
tập trung tư tưởng. Các nhà khoa học Nhật Bản cũng đã nghiên cứu
phương diện này của Thiền Phật giáo và tìm thấy rằng khi việc hành
thiền tiếp diễn đều đặn, thì hơi thở trở nên chậm hơn và thiền sinh
thở vào ít không khí hơn, và động tác thở chủ yếu xuất phát từ bụng,
đây là kiểu thở bình thường nếu cơ thể con người hoàn toàn thoải mái.
Ðến đây thì ta
thấy rõ ràng điểm căn bản đầu tiên của Thiền Phật giáo không phải là
kiểu ngồi hay phương pháp thở, mà là sự thoải mái của cơ thể.
Ðiểm căn bản
thứ hai, được tìm thấy trong mọi pháp môn Thiền Phật giáo là ‘duy trì
thân tâm bất động’. Thiền sinh không có phản ứng trước bất cứ một tác
động kích thích nào về thể xác hay tinh thần, hoặc nếu vị ấy có phản
ứng, thì sẽ phản ứng rất từ tốn và có suy tính. Tất cả những phản ứng
tự đông đều được kiểm soát. Vì tình cảm đóng một vai trò quan trọng
trong việc nẩy sinh các hoạt động thể xác hay tinh thần, sự bất động
này phần lớn là để tránh không cho phát sinh những phản ứng tình cảm.
Các học giả khi viết Thắng Pháp Luận đã nói đến vấn đề thiền sinh cần
rèn luyện tâm vô tham ái hay vô chấp thủ, vô sân và tỉnh lặng.
Trong tâm lý
học, ngăn cản không cho nẩy sinh các phản ứng tình cảm được biết như
là một phương cách làm giảm tính nhạy cảm, và ngày nay được dùng
trong ‘ứng xử trị liệu pháp’ như là một phương pháp chửa bệnh cho
những người bị ám ảnh bởi sự sợ hãi hay thù ghét (Trị liệu pháp này
được gọi là ‘phương pháp làm giảm tính nhạy cảm một cách có hệ
thống’, và tôi đã mô tả trong bài viết về Phật giáo và Tâm lý học ).
Về phương diện thần kinh, tiến trình này hoạt động như thế nào thì
chưa được biết rõ. Có nhiều giả thuyết đang ở trong quá trình kiểm
chứng bằng phương pháp thực nghiệm.
Tuy nhiên, việc
áp dụng ‘phương pháp trị liệu làm giảm tính nhạy cảm’ đã cung cấp một
số thông tin thực tiển. Ví dụ, trong phương pháp trị liệu này, trong
lúc nghỉ ngơi thoải mái, con người cố ý tập trung vào những đối tượng
thường dễ gây ra những phản ứng tình cảm. Trong Thiền Phật giáo, vào
lúc đó, những đối tượng ấy được để cho phát khởi tự nhiên. Có thể là
những đối tượng ấy đã được cố ý lựa chọn như là những đối tượng để
thiền quán. Cũng vậy, những ‘đối tượng tình cảm ấy’ trước tiên phải
được cảm nhận bằng một hình thái nhẹ nhàng, và rồi từng bước một, tiến
đến những hình thái mạnh hơn. Trong Thiền Phật giáo, việc từ từ gia
tăng cường độ cảm nhận các đối tượng tình cảm phần lớn sẽ được để hoàn
toàn ngẫu nhiên. Một lần nữa, có thể sẽ có sự cố ý xếp hạng mức độ
phản ứng tình cảm.
Trong phương
pháp trị liệu làm giảm tính nhạy cảm, cần duy trì trạng thái thư giãn
ở mỗi mức độ, và chỉ khi nào điều này được thực hiện một cách dễ dàng
thì mức độ kế tiếp mới được áp dụng. Theo lý thuyết của phương pháp
trị liệu này, tiến lên mức độ kế tiếp quá nhanh đưa đến việc đánh mất
trạng thái thư giãn và do đó để cho phản ứng tình cảm lấn áp, thì sẽ
làm gia tăng cường độ của phản ứng tình cảm chứ không phải ngăn cản
chúng. Ðiều này cũng phản ảnh quan điểm của Thiền Phật giáo là nhấn
mạnh đến tầm quan trọng của việc duy trì một trạng thái thư giãn và
bất động. Nó cũng chứng tỏ rằng, nếu không duy trì được trạng thái bất
động thì có lẽ điều quan trọng nhất là phải ngưng hành thiền ngay lập
tức. Trong nhiều phương cách tương tự như vậy, việc làm giảm tính nhạy
cảm, cả lý thuyết lẫn thực hành, có thể cung cấp nhiều thông tin khoa
học quan trọng cho Thiền Phật giáo và giúp cho pháp môn này hữu hiệu
hơn.
Ðiểm căn bản
thứ ba của tất cả mọi pháp môn Thiền Phật giáo là ‘sự chú tâm’. Có lẻ
về phương diện này, Thiền định là một tiến trình học tập tương đối đơn
giản. Thiền huấn luyện chức năng tập trung sự chú ý của não bộ, cũng
giống như người ta huấn luyện bất cứ bộ phận nào của cơ thể nhằm mục
đích đạt đến một kỹ năng nào đó.
Thắng Pháp Luận
đã mô tả rất rõ ràng . Thiền sinh khởi đầu bằng khả năng chú ý bình
thường. Vị ấy cố ý hướng sự chú ý đến đối tượng thiền quán, từ đó khả
năng này trở thành sự chú tâm có chủ đích. Nhờ được huấn luyện, thiền
sinh học tập cách duy trì sự chú tâm trong một thời gian dài. Như vậy,
sự chú tâm ngay cả trong những giai đoạn thiền cao nhất cũng không có
gì khác hơn sự tập trung tư tưởng bình thường, được huấn luyện ở trình
độ cao.
Thiền chú tâm
có hai pháp môn chính, tùy theo sự lựa chọn một hay nhiều đối tượng
trong lúc hành Thiền. Ðây là điểm phân loại căn bản của Thiền Phật
giáo thành Thiền Chỉ /Ðịnh (Samatha) hay Thiền Quán/ Thiền Minh Sát (
Vipassana).
Trong Thắng
Pháp Luận, sự chú tâm được tập trung vào một đối tượng mà thôi dược
gọi là Nhất Tâm hay Thiền Chỉ. Ðiểm này được xem như đồng nghĩa với
Samadhi hay Ðịnh, cũng như đồng nghĩa với Chánh Ðịnh trong Bát Thánh
Ðạo.
Thiền sinh Phật
giáo không phải luôn luôn ý thức rằng mình đang hành trì pháp môn này.
Trong Phật giáo Tây Tạng, pháp môn này được biết như là ‘phép quán
tưởng’ và trong các truờng phái Phật Giáo Phát Triển (Ðại Thừa) thì
được biết như là pháp môn ‘niệm Phật tam muội ’, như là lời niệm Phật
A Di Ðà trong trường phái Tịnh Ðộ Tông của Nhật. Nói tóm lại, bất cứ
pháp môn Thiền nào tập trung sự chú ý vào một đối tượng và loại bỏ mọi
ý niệm khác đều thuộc về Ðịnh.
Trong Ấn Ðộ
Giáo, pháp môn Thiền này có thể là cứu cánh tự thân. Thiền sinh đạt
được sự thăng bằng tâm trí bằng cách duy trì sức chú tâm vào một đối
tượng và an trú trong một trạng thái tỉnh thức. Nếu một người nào đó
gặp phải một bi kịch bất ngờ trong cuộc sống đời thường, thì người ấy
hoá giải nỗi khổ đau tinh thần bằng cách nhanh chóng nhập vào vào pháp
môn thiền này, tập trung tư tưởng vào đối tượng thiền và an trú mãi
trong đó. Thắng Pháp Luận đã nói rất rõ rằng đây chỉ là để đối trị sự
rối loạn tâm linh, chứ không phải là phương pháp chữa trị đau khổ, có
lẽ đó là lý do tại sao pháp môn này được gọi là Ðịnh, hay tĩnh tâm (có
nghĩa là thanh tịnh hóa tâm). Bao lâu mà Thiền định còn được duy trì,
thì những yếu tố tâm linh không lành mạnh như tham dục và sân hận sẽ
bị ngăn cản, nhưng đến lúc chấm dứt Thiền, thì các chướng ngại pháp ấy
sẽ sinh khởi trở lại. Khoa học hiện đại cũng tìm thấy rằng ngăn cản
không cho phản ứng tình cảm sinh khởi chưa đủ để loại bỏ chúng.
Mặc khác, thiền
Nhất-tâm hay Thiền Chỉ được sử dụng trong Phật giáo như một kỹ thuật
phát huy sức tập trung tư tưởng. Như vậy thì khoa học hiện đại có khả
năng đóng góp vào tính hiệu năng của pháp môn này bằng nhiều cách.
Nghiên cứu về sự chú tâm có lẽ có thể quyết định đối tượng nào đáng
tập trung sự chú ý nhiều nhất- về thị giác hay thính giác, đơn giản
hay phức tạp vv…Nghiên cứu về học tập nói chung có thể quyết định
khoảng thời gian tối đa để hành thiền cũng như thời gian cần nghỉ ngơi
và nghỉ bao nhiêu lần. Kỹ thuật cũng có thể cung cấp một hệ thống tạo
nên tiếng chuông reo khi thiền sinh xao lãng sự chú tâm, một hệ
thống có thể chứng tỏ là hữu hiệu hơn cả những vị thiền sư tỉnh giác
bậc nhất!
Một khi đã được
phát triển thì sức tập trung tư tưởng có thể được sử dụng trong lúc
hành thiền một cách đúng đắn. Thiền Phật giáo đích thực được gọi là
Thiền Quán hay Thiền Minh Sát (Vipassana).Theo Thắng Pháp Luận, Thiền
Quán bắt đầu bằng Bốn Nền Tảng của Chánh Niệm. Chánh niệm là một danh
từ khác của sự chú tâm, và trong nền tảng thứ nhất, chánh niệm được áp
dụng đối với thân, trong nền tảng thứ hai, được áp dụng với các cảm
thọ, trong nền tảng thứ ba, đối với các trạng thái của tâm và trong
nền tảng thứ tư, đối với các pháp. Góp chung lại, Bốn Nền Tảng của
Chánh Niệm bao gồm hầu hết các đối tượng có thể sinh khởi trong lúc
hành thiền. Như vậy, trong Thiền Quánt, sự tập trung tư tưởng được
áp dụng cho mọi đối tượng, chứ không phải chỉ một đối tượng. Sức
tập trung tư tưởng được mở rộng cho đến khi đạt đến điều mà học giả
Trungpa gọi là ‘ một sự tỉnh giác toàn diện’.
Pháp môn thiền
này không còn đơn thuần là đối tượng cho việc quan sát khoa học mà
chính nó là sự quan sát khoa học ! Thiền sinh đang tự huấn luyện
để quan sát trọn vẹn và chính xác bằng một thái độ hoàn toàn tách rời
và thản nhiên, cũng giống như nhà khoa học cố gắng quan sát sự vật một
cách khách quan. Thêm vào đó, giống như một nhà khoa học, thiền sinh
quan sát kinh nghiệm trực tiếp, chứ không dựa trên một khái niệm đã có
sẵn, cũng không có một sự can thiệp nào từ bên ngoài, và quan sát kinh
nghiệm ngay trong hiện tại. Một điều mà thiền sinh không làm là
khái niệm hóa sự quan sát của mình, bởi vì vị ấy quan sát kinh nghiệm
như một tổng thể. Do đó, khái niệm, ý tưởng, lý thuyết…tất cả đều
ngang nhau như là những nhận thức của giác quan, chúng cũng chỉ là đối
tượng cho việc quan sát khách quan.
Tuy nhiên, có
một giai đoạn chánh niệm thứ hai, được gọi là ‘ tỉnh giác’, đi từ sự
tập trung tư tưởng đơn thuần đến việc quán sát tích cực đối tượng của
thiền. Thiền sinh giờ đây quán sát đối tượng của kinh nghiệm hành trì
trong ánh sáng của giáo lý Ðức Phật. Ví dụ, trong Nền Tảng của Chánh
Niệm thứ nhất, thân được xem là biến đổi không ngừng, không có một bản
thể hay linh hồn trường cửu, và đó là nguyên nhân của khổ đau hiện
tại. Tiến trình này cũng được quán sát như thế đối với ba Nền Tảng
kia, cũng như giai đoạn thứ ba, thứ tư và thứ sáu trong ‘Thanh Tịnh
Ðạo’(Visuddhi). Giai đoạn thứ sáu trong Thanh Tịnh Ðạo được chia thành
chín loại quán, có nghĩa là quán về sự sinh diệt của các pháp, và
tính chất giả tạm của việc chấp thủ các pháp ấy.
Pháp môn thiền
quán này dễ bị hiểu lầm như một kiểu tự bắt buộc mình tẩy não, một
kiểu tự động chấp nhận một loạt các giáo điều tôn giáo trong nỗ lực
loại bỏ lòng nghi ngờ. Ðối với những tôn giáo đòi hỏi một đức tin
tuyệt đối vào giáo điều, như Công giáo La mã, thì điều này quả đúng
như vậy. Nhưng đối với Phật giáo thì không phải như vậy. Trái lại,
thiền sinh đang sử dụng một hình thức của phương pháp thực nghiệm. Vị
ấy chấp nhận giáo lý Phật giáo và đang thử nghiệm bằng chính kinh
nghiệm bản thân.
Khi quán sát
các diễn biến của kinh nghiệm với sức tập trung tư tưởng và thái độ
tách rời khách quan, hành giả khám phá ra rằng quả thật chúng đang
biến đổi không ngừng. Dù hành giả cố gắng đến đâu, vị ấy cũng không
thể tìm thấy bằng chứng của một bản thể hay tâm linh truờng cửu trong
chính mình hay trong bất cứ một đối tượng hay diễn biến nào. Trong
Thiền Minh Sát, hành giả đi đến chỗ thấy đuợc rằng cái mà vị ấy
xem là thân hay tâm thật ra chỉ là một chuổi kinh nghiệm trong đó khái
niệm và ý tưởng liên tục sinh khởi và hoại diệt. Vì các pháp sinh diệt
không ngừng, nếu ta cứ bám chặt vào chúng thì rõ ràng là nguy hiểm, vô
vọng và hoàn toàn lãng phí thời gian. Hành giả đi đến chỗ nhận biết
bằng kinh nghiệm trực tiếp rằng con đường duy nhất để thoát khỏi lối
sống bám víu vào các pháp vô thường là từ bỏ mọi tham dục và sân hận,
thay vào đó là duy trì một thái độ an nhiên tự tại đối với tất cả các
pháp.
Trong quá trình
hành thiền, mỗi thiền sinh sơ cấp có thể lập lại những nhận xét của
chính Ðức Phật và tự thử nghiệm giáo lý của Ngài. Việc nghiên cứu lý
thuyết và triết lý Phật giáo trong ánh sáng của kinh nghiệm tự thân
được xem là sự phát triển trí tuệ (prajna), đó là nền tảng của chánh
niệm thứ tư và cũng là nền tảng cuối cùng của Thiền Phật giáo.Trong
Phật giáo, có hai định nghĩa về trí tuệ, mà nếu quan sát thật kỹ thì
đó chỉ là hai giai đoạn của trí tuệ.
Trong Thắng
Pháp Luận của các trường phái Nguyên Thủy đầu tiên, những mô tả về
‘tuệ’ (panna) đã nói rõ đó là kiến thức khoa học. Trong các bài luận
của trường phái Nguyên Thuỷ gần đây, đặc biệt ‘tuệ’ được so sánh với
kiến thức của một nhà hóa học, là người biết rõ những đặc tính hóa học
và các thành tố của mọi vật vị ấy quan sát.
Cũng bằng cách
đó, trong lúc quán sát những diễn biến của tâm, thiền sinh xem xét
những yếu tố vật lý của cơ thể mình và nguyên nhân của các biến cố
tâm linh. Chúng ta thường nghe nói rằng văn hóa phương Tây, đặc biệt
là khoa học, đã dẫn dắt người phương Tây đi xa hẳn thứ tuệ giác đạt
được trong lúc hành thiền. Nhưng sự thật thì ngược lại ! Thái độ khoa
học theo bản tính tự nhiên của người phương Tây thực sự giúp cho họ
được thuận lợi trong vấn đề liên quan đến thứ tuệ giác này. Sau 400
năm tiến bộ khoa học và 200 năm theo chủ thuyết vô thần, hầu hết người
phương Tây đều không thể tin vào một linh hồn trường cửu dù cho họ có
muốn tin như vậy ! Và sau những khám phá của nhà phân tâm học
Freud thì khỏi cần nói họ cũng đã thừa biết rằng các biến cố tâm linh
đều có nguyên nhân. Trong kỷ nguyên sinh học, cũng không có gì mới lạ
đối với họ khi bảo rằng cơ thể là một tập hợp các phân tử tự sắp xếp
có trật tự.
Thật ra, một số
điểm phân tích trong Thắng Pháp Luận nay có thể được thay thế bằng
thông tin khoa học hiện đại hơn. Ví dụ, thiền quán về các yếu tố tạo
thành cơ thể, được tìm thấy trong cả Thiền Chỉ lẫn Thiền Minh Sát, sẽ
không còn phân tích cơ thể con người như một tập hợp của tứ đại (đất,
nước, gió, lữa) như trong kiểu vật lý cổ sơ thời Ðức Phật, mà nên thay
thế bằng các yếu tố hiện đại như carbon, oxygen và nitrogen, …vv.
Một số nhà tâm
lý trị liệu có thể chất vấn rằng không biết những kiến thức đó có thực
sự giúp chúng ta giải quyết các vấn đề tâm thần không. Tôi nghĩ rằng
có. Phần lớn những nỗi sợ hãi hay căm ghét trong tâm trí chúng ta đều
bắt nguồn từ những nguyên nhân sâu xa từ khi chúng ta còn bé, và đây
là điểm hầu như chúng ta không biết được. Nếu khi đã trưởng thành,
chúng ta vô ý rơi xuống sông, chúng ta không cảm thấy sợ hãi nước
sông, bởi vì chúng ta có đủ kiến thức để tự trách sự vụng về của mình,
chứ không phải trách nước sông. Khi kiến thức khoa học giúp chúng ta
thoát khỏi sự ngu dốt, nó cũng giúp chúng ta không còn sợ hãi. Bác sĩ
không sợ bệnh tật hay tử vong, bởi vì ông ta biết nguyên nhân và hậu
quả của chúng.
Nhược điểm của
quan điểm về trí tuệ trong Phật giáo nguyên thủy là nó có vẻ giới hạn
trí tuệ trong một số giáo lý Phật giáo, và mặc dù những tín đồ Phật
giáo Nguyên thuỷ đã quả quyết ngược lại, hình như quan điểm ấy muốn
biến giáo lý thành giáo điều. Duyệt lại giáo lý Phật giáo trong ánh
sáng của kiến thức khoa học mới nhất giúp cải thiện tình trạng này.
Tuy nhiên, bất cứ kiến thức nào, dù có hay đến đâu, dù có tính khoa
học đến đâu, cũng vẫn không hoàn hảo, cũng có thể sai sót và phải chịu
qui luật của đổi thay. Do đó, trường phái Phật giáo Phát triển (Ðại
Thừa) đã xem tất cả giáo lý Phật giáo như một phần của chân lý tương
đối và đã dành cho trí tuệ một ý nghiã sâu sắc hơn. Phật giáo Phát
triển định nghĩa trí tuệ như là thấy rõ chân tướng của vạn pháp. Ðiều
này có nghĩa là các pháp chính là kinh nghiệm, và cảm nhận kinh nghiệm
như nó hiện hữu, trong bản chất đích thực của nó, mà không có sự can
thiệp của bất cứ một khái niệm nào, cho dù đó là một khái niệm sâu xa
và tinh tế đến đâu. Trên phương diện tinh thần, đây là lý thuyết Phật
giáo về khoa học. Kinh nghiệm được cảm nhận trực tiếp, đó là sự giải
phóng hoàn toàn khỏi bóng tối của vô minh.
Thật ra, quan
điểm của Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Phát triển đã mô tả hai
giai đoạn của con đường đưa đến trí tuệ. Các trường phái nguyên thuỷ
như Theravada nhấn mạnh đến con đường đưa đến trí tuệ rốt ráo
mà thật ra cũng vẫn còn trong thế giới chân lý tương đối, trong khi
Phật giáo phát triển nhấn mạnh đến trí tuệ rốt ráo tự thân.
Kết hợp và so
sánh những phân tích trong Thắng Pháp Luận với nghiên cưú khoa học
hiện đại trong bài viết ngắn gọn này, chúng ta đã có thể chọn ra được
bốn ‘trụ cột’ của thiền định Phật giáo. Ðó là, an tịnh thân, bất động
tâm, nhất tâm và trí tuệ. Bốn trụ cột này có vẻ như là ‘những yếu tố
tích cực’ của thiền và có thể dùng như một tiêu chuẩn để đánh giá bản
chất và giá trị của các phương pháp hành thiền của bất cứ truyền thống
Phật giáo nào.
Và hình như
Niết Bàn là sự phát triển trọn vẹn tột đỉnh của bốn trụ cột đó. Trong
Niết Bàn, bốn trụ cột ấy không còn được cố ý vận dụng mà chúng hoạt
động một cách tự nhiên trong mỗi giây phút suốt ngày đêm. Hệ thống não
bộ hoàn toàn thoải mái và sẵn sàng hoạt động lúc cần thiết. Những cảm
thọ như tham dục, sân hận và sợ hãi không còn khởi lên, hoặc nếu chúng
có sinh khởi thì chúng sẽ được nhận biết và chế ngự ngay nhờ sự tỉnh
giác cao độ của hành giả. Thay thế cho những cảm thọ tiêu cực đó là
một cảm thọ tích cực của Phật giáo, đó là lòng từ bi - một tình yêu
thương rộng lớn mà không có tham dục.
Những trạng thái
của Niết Bàn đó vẫn còn trong lãnh vực của chân lý tương đối và sẵng
sàng đón nhận mọi nghiên cứu khoa học. Nhưng Niết Bàn không chỉ là một
trạng thái an tịnh tâm linh, một trạng thái đặc biệt của não bộ.
Nền tảng thứ tư của trí tuệ biến đổi Niết Bàn từ một trạng thái tâm
lý trở thành một thực chứng hoàn toàn siêu việt . Nhờ trí tuệ,
bậc giác ngộ thấy rằng toàn thể thế giới vật chất, với tất cả những
định luật của nó, chỉ là một khuôn mẫu lý thuyết, lý thuyết chỉ
là những từ ngữ và con số, và từ ngữ và con số chỉ là hình ảnh và âm
thanh, và hình ảnh và âm thanh là kinh nghiệm đích thực. Vì
kinh nghiệm đích thực chứa đựng tất cả mọi lý thuyết, tự nó sẽ vượt ra
ngoài mọi lý thuyết và nghiên cứu.
Ðó là lý do tại
sao bậc giác ngộ không còn là đối tượng để tái sinh, vì vị ấy đã chặt
đứt sợi dây xích tạo ra nhân. Và đây chính là điểm cho thấy tại sao
Niết Bàn rốt cuộc đã vượt lên hẳn tâm lý học và tri thức, vượt lên
toàn thể khoa học và toàn thể vũ trụ để đạt đến cứu cánh cao thượng
nhất.
---o0o---
| Mục Lục|
---o0o---
Cập nhật : 07-2003