PHẬT
GIÁO & KHOA HỌC
Buddhism & Science
Việt dịch: Trần Như Mai
---oOo---
NGHIỆP , TÁI SANH VÀ DI TRUYỀN HỌC
(
Karma, Rebirth and Genetics)
Nguyên tác:
Buddhadasa P.
Kirthisinghe
Hạnh
phúc hay đau khổ là số phận chung của mọi chúng sinh, nhất là con
người, và theo quan điểm Phật giáo thì đây không phải là phần thưởng
hay hình phạt do Thượng Ðế ban cho một sinh linh đã làm điều thiện hay
điều ác. Tín đồ Phật giáo tin vào một định luật tự nhiên, gọi là “
luật nhân quả”, áp dụng chung cho tất cả mọi hiện tượng trong thế giới
này. Tín đồ Phật giáo không tin vào một Ðấng Thượng Ðế toàn năng, và
do đó một Ðấng Thượng Ðế như vậy, và ngay cả Ðức Phật đại từ bi cũng
không thể ngăn cản được định luật này.
Ðịnh
luật này được gọi là “Karma” (Nghiệp) trong tiếng Sanskrit
hay “Kamma” trong tiếng Pali, là ngôn ngữ của Ðức Phật. Trong những
bài thuyết pháp
của
Ðức Phật, chính ‘ nghiệp’ của chúng ta hay các hành động thiện ác sẽ
tưởng thưởng hay trừng phạt chúng ta. Ðó là một động lực thúc đẩy phản
ứng xảy ra tiếp theo sau hành động, chính cái năng lực tạo ra nó xuất
phát từ đời sống hiện tại, và đời sống mới là một giòng suối vô tận
chảy mãi không ngừng.
Do
đó, Ðại đức Piyadassi Thera đã nói:” Bao lâu có ý muốn, sẽ có hành
động. Bao lâu còn có hành động, bao lâu mà ‘nghiệp’ là một thực tại
lạnh lùng, thì phần thưởng hay hình phạt không phải là những danh từ
trống rỗng. Chính ái dục phát sinh hành động, hành động đưa đến kết
quả, kết quả tự phô bày như một thực thể vật chất bao hàm ái dục mới.
Cái năng lực bền bĩ này luôn luôn vận hành để chuyển thành đời sống
mới, và chúng ta mãi mãi luân hồi là do lòng khao khát được sống của
chúng ta. Tuy nhiên, cái trung gian để tạo ra mọi hiện hữu trong đời
chính là ‘nghiệp’.
Như
Tiến sĩ Paul Bahlke ở Ðức đã nói trong các bài nghị luận về Phật giáo
của ông rằng, chính sự hiểu biết về luật nhân quả, về hành động và hậu
quả của hành động, đã thúc đẩy con người biết kềm chế không làm việc
ác và tích lũy việc thiện. Một người tin vào luật nhân quả biết quá rõ
rằng chính hành động của mình sẽ làm mình đau khổ hay hạnh phúc.
Con người ngày nay là kết quả của hằng triệu lần lặp đi lặp lại những
tư tưởng và hành động của mình. Con người không phải là một hiện hữu
được tạo sẵn như vậy, con người đang hình thành và vẫn tiếp tục hình
thành. Tính tình của con người do con người lựa chọn và quyết định
trước. Tư tưởng, hành động mà con người lựa chọn theo thói quen, đã
hình thành con người như hiện tại.
“
Nghiệp tuyệt đối không biết xót thương và hoàn toàn vô tư trong hoạt
động của nó. Cũng như một tấm gương được lau chùi láng bóng sẽ phản
chiếu từng chi tiết nhỏ nhất của bất cứ hình ảnh nào chúng ta mang đặt
trước gương, ‘nghiệp’ cũng có mức độ chính xác như vậy, nó sẽ phản
chiếu lại hậu quả của hành động vào người tạo ra nó”.
Như
Ðức Phật đã dạy: “ Không phải bay lên trời cao, không phải lặn xuống
biển sâu, không phải chui vào hang núi, mà ngươi tìm ra một nơi nào
trên thế gian này có thể giúp ngươi trốn thoát được hậu quả hành động
của ngươi”.
Con người thoát khỏi ‘nghiệp’ không phải nhờ giáo huấn, mà nhờ biết
sống; học hỏi không giúp con người chấm dứt nghiệp, mà con người phải
biết sống như thế nào để có thể thoát khỏi nghiệp. Mỗi cá nhân phải có
những nỗ lực cần thiết để tự giải thoát mình, quyền lực định đoạt cuộc
đời chúng ta nằm trong tay chúng ta. Người khác có thể giúp chúng ta
một tay, nhưng giải thoát khỏi khổ đau phải do mỗi người tự rèn luyện
và xây dựng cho chính mình qua kinh nghiệm hành động của bản thân.
Tâm
lý Phật giáo cho thấy rằng con người tự thân có những khả năng vô tận,
và chính nhờ nỗ lực của bản thân mà con người mới có thể phát triển và
khai thác những tiềm năng đó. Con người là một hổn hợp của Thiện và Ác.
Sự thay đổi không thể nào tránh khỏi, và tuỳ thuộc hoàn toàn vào hành
động của con người chứ không phải vào cái gì khác. Chính do hành động
của ta mà ta hình thành tính tình, nhân cách và cá tính. Bằng chính
hành động của ta, ta phải thay đổi để trở thành tốt hơn, để tự tái tạo
mình và giải phóng bản thân khỏi những điều ác.
Chính vì chúng ta khao khát cuộc sống, tham đắm cuộc sống, bám chặt
vào cuộc sống khiến cho tấn tuồng hành động và hậu quả của hành động
cứ tái diễn mãi không ngừng. Bao lâu mà ta chưa thấy được bản chất
đích thực của nhân quả, bản chất đích thực của yếu tố đạo đức tạo ra
nhân, bao lâu chúng ta còn vô minh và ái dục, thì chúng ta còn bị trói
buộc vào “ Bánh Xe Luân Hồi của Ðời Sống”. Khi nguyên nhân tạo ra sự
vật bị tiêu diệt thì kết quả sẽ tự động chấm dứt. Ðau khổ sẽ biến mất
nếu mọi gốc rễ gây nên khổ đau được loại bỏ. Ví dụ, một người đốt một
hạt xoài thành tro là đã chấm đứt khả năng nẩy mầm của nó, và hạt xoài
ấy sẽ không bao giờ nẩy sinh thành cây xoài. Cũng giống như vậy đối
với tất cả các sự vật do duyên sinh, dù là vật hữu tri hay vô tri.
Như
bóng theo liền với hình, và khói bốc lên sau khi lửa tắt, cũng vậy quả
theo liền sau nhân, đau khổ và hạnh phúc theo sau tư tưởng và hành
động của con người. Trong thế giới quanh ta không có quả nhưng lại có
nhân ẩn hiện, và nhân đó theo đúng lẽ công bằng tuyệt đối. Con người
gặt hái quả đau khổ vì trong một quá khứ gần hay xa, hay trong đời
hiện tại, họ đã gieo hạt giống ác; họ gặt hái hạnh phúc như kết quả
của việc gieo trồng hạt giống thiện.
“
Một người nô lệ lao động nhọc nhằn vẫn có thể trở thành một Hoàng
tử,
Nhờ thành tựu nhiều phẩm hạnh xứng đáng và cao quý;
Một vị vua cai trị đất nước vẫn có thể trở thành kẻ lang thang đói
rách,
Vì
đã làm nhiều điều ác và đã không làm những hạnh lành
”.
Hãy
để con người suy ngẫm về định luật này, hãy để con người cố gắng hiểu
được định luật này, và rồi họ sẽ bắt đầu chỉ gieo hạt giống lành, và
sẽ đốt cháy những hạt giống độc và cỏ dại mà trước đây họ đã trồng
trong khu vườn tâm thức của họ.
TÁI
SANH
Tái
sinh và đời sống sau khi chết là một sự kiện đã được công nhận trong
Phật giáo. Năng lượng hay động lực được tích lũy này sẽ tiếp tục biểu
hiện qua nhiều tầng ý thức khác nhau. Theo định luật bảo toàn năng
lượng và tính bất khả diệt của vật chất, chắc chắn là trong quá trình
này không có gì mất đi. Thần thức hay nghiệp lực đã thoát khỏi cơ thể
chúng ta sẽ bắt đầu một chu kỳ thể hiện mới.
Chính
thần thức luân lưu này vẫn tìm cách tự biểu hiện từ một hình thái hiện
hữu này sang một hình thái hiện hữu khác, và ái dục sẽ là sức mạnh duy
trì nghiệp lưc này. Ðây là một nghiệp lực vô hình.
‘
Nghiệp’ là một dạng năng lượng mà chúng ta mang theo từ đời này sang
đời khác - cả nghiệp tốt lẫn nghiệp xấu. Khi chúng ta chết, nghiệp lực
của chúng ta sẽ chuyển thành một dạng năng lượng cho đến khi nó gặp
được một cơ duyên thích hợp để gá vào bào thai mới tượng hình do tinh
trùng và noãn châu phối hợp trong tử cung của người mẹ. Cha mẹ chỉ là
những người trang bị điều kiện vật chất cho một đời sống mới được
thành hình. Nghiệp lực hay thần thức tái sinh là yếu tố quyết định
một đời sống mới. Ðiều này không phủ nhận khoa di truyền học, theo đó
một đứa trẻ thừa kế những đặc điểm của cha mẹ và bà con gần, môi
trường xã hội cũng góp phần hình thành đứa trẻ, tuy nhiên tất cả điều
này còn tùy thuộc vào ‘nghiệp’ của đứa trẻ.
Trong
Phật giáo có năm cảnh giới hiện hữu, và như vậy có năm hình thức tái
sinh. Ðó là cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người và thiên giới.
KHOA HỌC VỀ DI TRUYỀN
Di
truyền học là khoa nghiên cứu về sinh lý học của vấn đề sinh sản và
nghệ thuật nuôi dưỡng cây cỏ và thú vật.
Tất
cả đặc tính di truyền được truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác qua
những tế bào giống bé nhỏ gọi là tinh trùng (ở người nam) và noãn châu
(ở người nữ). Hai tế bào này phối hợp trong tử cung để thành một tế
bào trứng đã được thụ tinh, rồi tiếp tục nẩy nở thành bào thai và cuối
cùng là một đứa trẻ được ra đời.
Cha mẹ đóng vai trò quan trọng trong vấn đề di truyền. Nhân của những
tế bào giống chứa đựng nhiều nhiễm sắc thể, và mỗi tinh trùng của
người nam chứa 24 nhiễm sắc thể, chỉ bằng nửa số lượng nhiễm sắc thể
chứa trong một tế bào bình thường, và con số này thay đổi đối với
những động vật khác và cây cỏ.
Quá
trình thụ tinh gồm có việc phối hợp nhân của tinh trùng với nhân của
noãn châu. Tế bào trứng đã thụ tinh tiếp tục phân chia thành 2, 4, 8,
và cuối cùng thành hằng tỷ tế bào của cơ thể một người trưởng thành.
Gregor Johann Mendel đã nhận diện đơn vị di truyền như là những di tố.
Chúng là những đơn vị sống động được tìm thấy trong các nhiễm sắc thể
và có kích thước nhỏ bằng một phân tử. Mỗi đặc điểm nổi bật của cỏ cây
và động vật đều có chứa di tố, và như đã nói trước đây, di tố nằm
trong các nhiễm sắc thể của nhân tế bào trong tất cả tế bào sinh vật.
Mendel đã khám phá ra qui luật di truyền, với tỷ lệ 3:1 đối với cả cây
cỏ lẫn động vật. Ông cũng khám phá ra những di tố nổi bật và những di
tố chìm. Cuộc thí nghiệm cổ điển của ông đã giúp củng cố lý thuyết của
Charles Darwin về nguồn gốc các chủng loại, sự chọn lọc của thiên
nhiên và sự sống còn của những sinh vật mạnh nhất trong cuộc đấu tranh
để sinh tồn.
Ðến
nay thì người ta biết rằng trong các tế bào giống (noãn châu và tinh
trùng) số lượng di tố được tách làm hai và được gọi là những đơn bào
nhiễm sắc thể (haploids), rồi chúng sẽ tái phối hợp trong tế bào trứng
đã thụ tinh và bổ sung cho nhau để tạo thành một tổng hợp đầy đủ các
di tố như trong những tế bào mẹ.
Vì
vậy, trong bất cứ một gia đình nào, trẻ con cũng có thể trông rất
giống nhau. Tuy nhiên, nhìn theo quan điểm đạo đức, trí tuệ và tình
cảm thì chúng có thể rất giống nhau mà cũng có thể rất khác nhau. Ðây
là ý nghĩa của cái gọi là ‘duyên nghiệp’. Cha mẹ thông minh có thể
sinh ra con ngu đần hay ngược lại, tùy thuộc vào ‘nghiệp’ của cả cha
mẹ lẫn con cái.
Ðã
có nhiều công trình nghiên cứu thú vị về trường hợp của những đứa trẻ
song sinh, một cặp song sinh từ hai tế bào trứng đã thụ tinh riêng
biệt trong tử cung được so sánh tương phản với một cặp song sinh do
cùng một tế bào trứng đã thụ tinh được tách làm hai. Ðối với hai trẻ
song sinh từ hai tế bào trứng được thụ tinh riêng biệt thì vấn đề
chúng khác nhau là hoàn toàn tự nhiên, và chúng để lộ những điểm khác
biệt về di truyền cũng giống như những anh chị em bình thường khác.
Nhưng điều này sẽ không đúng đối với hai trẻ song sinh từ một tế bào
trứng được tách làm hai.
Một
nhóm khoa học gia của Viện đại học danh tiếng Chicago University - là
Newman, Freeman và Holzinger - đã quan sát và nhận thấy rằng khi một
cặp song sinh từ một tế bào trứng lớn lên, một số điểm khác nhau giữa
chúng nó bắt đầu xuất hiện. Một đứa có thể lên cân nhanh hơn đứa kia,
một đứa có thể học dễ dàng hơn, một đứa có thể bộc lộ tính nóng nảy
hoặc những điểm khác với đứa kia. Câu trả lời cho vấn đề những trẻ
song sinh phát triển lệch hướng với khoa di truyền học là, bởi vì
những đứa trẻ này đã chịu ảnh hưởng của ‘ nghiệp’ - một yếu tố không
thể tránh đựơc.
---o0o---
| Mục Lục|
---o0o---
Cập nhật : 07-2003