Phân
tâm học nhập môn
Tác giả:
Sigmund Freud
Dịch giả:
Nguyễn Xuân Hiến
Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội, năm 2002.
Phần thứ
3
Thuyết tổng quát về các chứng bệnh thần kinh
16. Phân tâm học và thần kinh học
Tôi sung sướng khi lại được tiếp tục câu chuyện với các
bạn. Trước đây tôi đã nói cho các bạn nghe về quan niệm phân tâm học của
các hành vi sai lạc và giấc mơ. Ngày nay tôi muốn các bạn làm quen với
những hiện tượng chứng bệnh thần kinh, những hiện tượng này có hơn một
điểm tương đồng với những hành vi sai lạc cũng yêu cầu các bạn có một thái
độ như đối với các hiện tượng trên. Trước đây tôi không hề tiến thêm một
bước nào trước khi được sự đồng ý của các bạn; tôi đã thảo luận nhiều và
đã giải hết những điều thắc mắc của bạn; tôi đã tin cậy ở các bạn và lẽ
phải của các bạn để tiến được những bước tiến quyết định. Ngày nay sự việc
không thể xảy ra như thế nữa, bởi một lẽ rất thường: Hành vi sai lạc và
giấc mơ đối với các bạn không phải là những hiện tượng xa lạ gì, các bạn
có thể cũng có những kinh nghiệm giống như của tôi. Nhưng phạm vi chứng
bệnh thần kinh đối với các bạn hoàn toàn mới lạ. Nếu không phải là thầy
thuốc các bạn chẳng làm sao biết thêm được gì ngoài những điều tôi nói cho
các bạn nghe, trong khi sự phán đoán chỉ có giá trị khi người đưa ra phán
đoán đó quen thuộc với các vật liệu được đưa ra ánh sáng.
Tuy nhiên các bạn đừng cho rằng tôi sẽ nói cho các bạn
nghe những điều có tính giáo điều, tôi cũng không bắt buộc các bạn phải
đồng ý với tôi vô điều kiện, nếu các bạn tưởng lầm thì sẽ xảy ra nhiều
điều tai hại lắm. Tôi không hề có ý muốn bắt buộc ai công nhận những điều
mình nói, tôi chỉ muốn kích thích các bạn, làm tan những thành kiến. Khi
nào vì thiếu thốn tài liệu mà bạn không giải quyết được vấn đề gì, bạn
đừng vội tin, hay vứt bỏ ý tưởng này hay ý tưởng khác. Các bạn chỉ cần
ngồi nghe và lĩnh hội những điều nghe nói. Có được vài điều tin tưởng đâu
phải là chuyện dễ, những điều nào đến với mình một cách quá dễ dàng thường
là những điều chẳng có giá trị gì. Chỉ có những người nào dầy công làm
việc đêm ngày trong bao nhiêu năm ròng rã, tự mình làm đi làm lại biết bao
nhiêu thí nghiệm cá nhân mới mẻ, kỳ thú mới có quyền tự cho là mình biết
được nhiều điều. Về phương diện trí thức, những quan niệm hấp tấp, chớp
nhoáng, những sự phán đoán vội vàng dùng được gì? Những tiếng sét ái tình
chỉ có trong phương diện tình cảm thôi. Chúng ta không đòi hỏi thân chủ
của chúng ta tin tưởng vào sự hiệu nghiệm của phương pháp phân tâm học,
hay đứng về phía chúng ta. Nếu họ làm như thế chúng ta sẽ bị nghi ngờ,
chúng ta chỉ yêu cầu họ có một thái độ bi quan khoan hoà. Vậy các bạn hãy
thử để cho thấm dần trong lòng mình những ý niệm về phân tâm nào đó những
quan niệm khác nhau này hoà hợp với nhau, liên kết với nhau để hợp thành
một quan niệm cuối cùng có tính quyết định.
Ngoài ra các bạn không nên cho rằng điều tôi trình bày
với các bạn về phân tâm học có một tính cách vụ lợi nào. Đó chỉ là một sự
kiện bắt nguồn ở thực nghiệm, một sự quan sát trực tiếp hay hậu của những
công trình quan sát hay thực nghiệm này. Chính những tiến bộ đạt được
trong lĩnh vực khoa học sẽ giúp chúng ta biết những công trình khảo cứu
của chúng ta đã đầy đủ chưa, có hợp lý không. Riêng tôi, dựa vào cuộc sống
khá dài và hai mươi lăm năm kinh nghiệm, tôi có thể cam đoan với các bạn
là tôi đã phải làm việc rất cần cù mới có thể có được một mớ kinh nghiệm
xã hội, quan điểm của tôi về môn phân tâm học. Tôi luôn luôn có cảm tưởng
rằng những đối thủ của tôi không nhận ra những điều đó, và cho rằng những
ý kiến của tôi chỉ là những ý kiến chủ quan có thể chống đối được dễ dàng.
Tôi quả thực không hiểu thái độ này. Có thể là các thầy thuốc ngại không
muốn giao thiệp quá thân mật với những thân chủ mắc bệnh thần kinh của họ,
không thèm chú ý đến những lời họ nói nên không thể lợi dụng được những
điều này để tìm ra những hiểu biết có giá trong việc trị liệu, không thể
đưa ra được những điều quan sát giúp cho họ đạt được những kết luận có
tính cách tổng quát hơn. Tôi sẽ cố tránh không đả động đến những sự cãi vã
vô ích trong phạm vi những bài học này. Tôi không tin là bút chiến có thể
dùng được việc gì. Bút chiến chỉ là con đẻ của lối lý luận giáo điều ngày
xưa của người Hy Lạp, sở dĩ không thành công vì người ta đã quá chú trọng
đến lối biện chứng. Riêng tôi, tôi cho rằng những cuộc bút chiến trong
phạm vi khoa học chả đưa đến kết quả gì, cụ thể nhất là chúng thường có
khuynh hướng đề cao cá nhân. Từ trước tới nay, tôi chỉ có thảo luận gay go
với một nhà bác học thôi, đó là nhà bác học Lowenfeld ở Munich và kết quả
của cuộc thảo luận đó đã làm cho chúng tôi trở thành hai người bạn sau khi
đã là đối thủ của nhau. Vì không tin rằng những cuộc bút chiến sau này
cũng đưa đến kết quả khả quan như thế nên tôi đã không làm lại cuộc thí
nghiệm.
Các bạn có thể cho rằng thái độ lẩn tránh những cuộc bút
chiến như thế chứng tỏ là mình không đủ lý lẽ để bào chữa, hay một thái độ
ngoan cố. Tôi trả lời nghi vấn đó là một khi người ta đã dày công học hỏi
khảo cứu để đưa ra một quan niệm khoa học, người ta có đủ can đảm để tự
bào chữa và giữ nguyên quan điểm của mình chống lại với bất cứ trở lực
nào. Tôi cũng cần thêm rằng, tôi đã nhiều lần hoàn bị quan điểm của tôi,
nhiều lần thay đổi ý kiến và lần nào cũng công bố những sự thay đổi đó
công khai trước mắt mọi người . Hậu quả của sự thành thực đó ra sao các
bạn có biết không? Có người không hề chú trọng đến những điều thay đổi đó
và tiếp tục chỉ trích tôi về những quan điểm mà tôi không còn giữ nữa.
Người khác lại cho rằng thay đổi như thế chứng tỏ là người ta không thể
tin cậy nơi tôi được, vì kẻ nào luôn luôn thay đổi quan niệm của mình thì
không đáng được tin cậy và những điều thay đổi này cũng chẳng có giá trị
gì hơn những điều đưa ra từ trước. Nhưng kẻ nào cứ giữ nguyên quan niệm
của mình từ đầu đến cuối lại bị chính những người đó cho là ngoan cố, cứng
đầu cứng cổ. Đứng trước hai thái độ đó, tôi thấy chẳng còn gì khác hơn là
“đường ta ta cứ đi”. Tôi nhất định cứ tiếp tục con đường đã vạch sẵn,
không có điều gì ngăn cấm tôi thay đổi một vài quan điểm tuỳ theo đà tiến
triển của khoa học, mặc dù vẫn giữ nguyên những ý tưởng căn bản trong môn
phân tâm học.
Tôi có bổn phận trình bày
cho các bạn nghe về quan điểm của môn phân tâm học về các hiện tượng náo
loạn thần kinh. Tôi sẽ nói đến những điểm tương đồng và trái ngược giữa
những hiện tượng này và những hiện tượng đã học phần trên.
Lấy thí dụ về một triệu chứng thường có trong số thân chủ, chúng ta sẽ
không để ý đến những điều khổ não trong phân tâm học không thể bảo thân
chủ của họ là họ chẳng có bệnh tật gì hết rồi cho họ một liều thuốc bổ.
Một trong các bạn đồng nghiệp của tôi khi được hỏi về thái độ nên có đối
với các thân chủ đã trả lời là “tôi yêu cầu họ trả tôi một số tiền là bao
nhiêu đó”. Vì thế cho nên những bác sĩ hành nghề phân tâm học thường không
có nhiều thân chủ. Cửa phòng khám bệnh của tôi thường bọc bằng cao su và
có hai lần cửa. Làm như thế không phải là không có ý nghĩa đâu. Khách hàng
vào phòng khám bệnh thường quên đóng cửa phòng. Tôi luôn luôn nhắc họ phải
đóng cửa phòng lại bất kể địa vị của họ trong xã hội ra sao. Đó quả là một
điều khó chịu vì phần lớn họ là những người từ trước tới nay chưa hề giơ
tay ra sờ vào quả đấm cửa bao giờ, vì họ luôn luôn có người mở cửa cho họ
ra vào. Nhưng dù sao tôi làm thế vẫn là phải vì kẻ nào vào phòng mà không
đóng cửa thường là những kẻ không được giáo dục hẳn hoi và chúng ta không
có lý do gì gượng nhẹ đối với họ. Các bạn đừng vội phán đoán trước khi
biết rõ câu chuyện. Thân chủ chỉ không đóng cửa phòng khi trong phòng đợi
không có ai cả thôi. Nhưng khi trong phòng đợi có người là thế nào họ cũng
đóng cửa rất kỹ, vì họ không muốn cho người khác nghe được những điều họ
sắp nói với ông thầy thuốc.
Như thế tức là việc thân chủ không đóng cửa phòng khám
bệnh không phải là việc ngẫu nhiên, không phải là không có ý nghĩa, không
phải là không có một tầm quan trọng nào đó. Thân chủ thường là những người
muốn nổi tiếng, muốn được người đời săn sóc. Họ thường gọi điện hỏi trước
xem có thể đến vào giờ nào và tưởng tượng như có hàng dãy dài người đang
đứng chờ trước cửa phòng khám bệnh. Nhưng khi đến nơi họ chỉ gặp một căn
phòng trống rỗng, đồ đạc rất tầm thường. Họ bực mình, tỏ vẻ khinh thường
ông thấy thuốc bằng thái độ không thèm đóng cửa có vẻ như muốn bảo thẳng
ông thầy này: “Đóng cửa làm gì khi chẳng có ma nào trong phòng đợi”, rồi
trong lúc khám bệnh họ thường tỏ vẻ vô lễ ngang bướng.
Phân tích thái độ này, chúng ta không biết gì hơn những
điều đã biết rồi, nghĩa là thái độ đó không phải ngẫu nhiên, mà có một ý
nghĩa, lệ thuộc vào một toàn thể tinh thần nhất định, dấu hiệu của một
trạng thái tinh thần quan trọng. Không một thân chủ nào lại thú nhận rằng
họ có ý muốn tỏ ra vô lễ với ông thầy thuốc, điều đó chứng tỏ rằng họ
không hề có ý thức về việc mình làm. Có thể có người thú nhận rằng họ đã
thất vọng khi nhìn thấy căn phòng đợi vắng như chùa bà Đanh, nhưng điều
chắc chắn là họ không ý thức về thái độ của họ.
Tôi so sánh thái độ này với một điều quan sát được nơi
một thân chủ khác. Sự quan sát này hết sức mới mẻ có thể được kể lại một
cách vắn tắt tuy trong môn phân tâm học nhiều khi khó lòng tránh được
những lối kể chuyện dài dòng.
Một sĩ quan trẻ tuổi yêu cầu tôi chữa bệnh cho bà mẹ vợ.
Bà này tuy sống trong một hoàn cảnh hết sức sung sướng nhưng vẫn đầu độc
cuộc sống của mình và của người khác bằng một thiên kiến chẳng có nghĩa lý
gì. Bà ta khoảng chừng 53 tuổi, còn giữ được vẻ đẹp ngày xưa, dáng điệu
niềm nở, dễ chịu, vui vẻ, giản dị. Bà kể cho tôi nghe chuyện của bà, bà
sống rất sung sướng bên cạnh chồng, một ông Giám đốc một cơ xưởng, bà chả
có điều gì phàn nàn về thái độ của chồng đối với mình. Hai người lấy nhau
vì tình đã 30 năm nay, không hề xảy ra cãi cọ, ghen tuông gì. Hai người
con đã lập gia đình, người chồng chưa hề có ý định về hưu. Nhưng cách đây
một năm có một việc không tưởng tượng nổi xẩy ra. Bà ta nhận được một bức
thư nặc danh tố cáo chồng bà dan díu với một người con gái khác. Hạnh phúc
gia đình bắt đầu tan rã từ khi đó. Cuộc điều tra cho biết có một chị bồi
phòng của bà ghét cay ghét đắng một người bạn cũ tuy cũng sinh ra trong
hoàn cảnh nghèo nàn như mình nhưng đã thành công hơn mình, thay vì đi ở đợ
như mình người bạn này đã học hỏi và trở thành một người thư ký trong
xưởng của chồng bà chủ. Tổng động viên đã thu hút ra mặt trận một số nhân
viên trong xưởng người bạn trở nên một nhân vật quan trọng, được ăn ở ngay
trong xưởng, giao thiệp với các ông tai to mặt lớn được mọi người trọng
vọng. Mụ hầu phòng tức bực tìm hết cách nói xấu người bạn cũ. Một hôm nhân
dịp một ông khách ly thân với vợ, đang sống chung với tình nhân đến chơi,
bà chủ nói cho mụ hầu phòng nghe là ở địa vị bà ta chắc bà ta không chịu
nổi cảnh chồng có tình nhân như thế. Sáng hôm sau bà ta nhận được bức thư
nặc danh nói trên. Bà ta đồ chừng tác giả bức thư chính là mụ hầu phòng vì
bà biết mụ này ghét cay ghét đắng cô thư ký. Nhưng bà ta vẫn bị cái thư đó
ám ảnh, bà nổi trận lôi đình, xỉ vả chồng rất thậm tệ. Ông chồng tươi cười
cố trấn tĩnh vợ, nhờ hai vị bác sĩ trong gia đình và ở xưởng đến trấn tĩnh
giúp mình. Mụ hầu phòng bị đuổi, người thư ký vẫn giữ nguyên địa vị cũ.
Người vợ luôn luôn tuyên bố rằng mình không còn nghi ngờ gì và không để ý
đến bức thư nữa. Nhưng đó chỉ là bề ngoài, mỗi khi nghe nói đến tên người
con gái hay gặp người này ngoài phố là bà ta lại nổi trận lôi đình ghen
tuông, bực tức.
Câu chuyện như thế đó, chả cần phải có nhiều kinh nghiệm
về thần kinh mới thấy là bà ta luôn luôn tìm cách giấu giếm tình cảm thực
của mình và trong thâm tâm, bà ta không hề rứt bỏ được lòng tin nơi bức
thư nặc danh kia.
Thái độ của nhà thần kinh học đứng trước sự việc này ra
sao? Thái độ này khác hẳn với thái độ đối với thân chủ không đóng cửa
phòng khám bệnh. Nhà thần kinh học không cho thái độ không đóng cửa là
quan trọng về phương diện tâm lý, đó chỉ là một sự ngẫu nhiên. Nhưng đứng
trước người đàn bà ghen tuông này thì khác. Hành động của người này không
quan trọng, nhưng triệu chứng của căn bệnh mới đáng để ý. Về phương diện
chủ quan, triệu chứng này làm cho người đàn bà đau đớn khổ sở; về phương
diện khách quan triệu chứng đó đe doạ hạnh phúc của một gia đình. Do đó
nhà thần kinh học không thể không quan tâm đến. Nhà thần kinh học trước
hết tìm cách xác định hiện tượng bằng một trong các tính chất thực sự của
nó. Người đàn bà không phải là không có lý khi nghi ngờ người chồng. Vì
kinh nghiệm cho thấy có nhiều người đàn ông tuy đã có vợ mà vẫn có những
cô nhân tình trẻ. Nhưng có một vài điều khác không tưởng tượng được, như
có vẻ vô nghĩa lý. Ngoài những điều nói trong thư nặc danh, người đàn bà
không có lý do nào khác để nghi ngờ chồng. Bà ta biết rõ nguồn gốc của bức
thư và bức thư quả thực không đáng tin chút nào. Vậy đáng lẽ bà ta phải
cho rằng mình không có lý do gì để ghen tuông cả. Chính bà cũng tự nhủ như
thế. Tuy nhiên, bà vẫn không thể không đau đớn chẳng khác gì có đủ chứng
cớ là chồng mình ngoại tình thực. Y học gọi đó là những ý kiến ám ảnh,
nghĩa là những ý kiến bỏ ngoài tai mọi lý lẽ hợp lý, đúng sự thực. Bà
khách này quả đang bị lòng ghen ám ảnh. Đó là đặc tính thiết yếu của
trường hợp này.
Sau nhận xét đầu tiên này, nhà thần kinh học còn quan
tâm đến một sự kiện khác nữa. Nếu sự ám ảnh bỏ ngoài tai hết mọi sự thực
thì tức là nó không bắt nguồn ở sự thực. Vậy nó bắt nguồn ở đâu? Những
trường hợp ám ảnh nhiều không tả. Tại sao ở đây lại là sự ghen tuông? Nhà
thần kinh học chẳng có gì nói với chúng ta về điểm này cả. Ông ta chỉ quan
tâm đến một trong các câu hỏi của chúng ta thôi. Ông ta sẽ tìm hiểu về di
truyền của người bệnh và có lẽ sẽ trả lời rằng: “Sự ám ảnh chỉ xảy ra đối
với những người có tính cách di truyền. Nghĩa là có những người cha, ông
đã bị chứng bệnh đó”. Nói khác đi, nếu người đàn bà này bị ám ảnh là vì bà
ta đã có sẵn trong máu sự di truyền. Lời giải thích này quả rất thú vị
nhưng có giải hết những điều thắc mắc không? Có còn nguyên nhân nào khác
nữa không? Thường thường sự ám ảnh hay xảy ra đối với sự ghen tuông hơn
đối với các sự khác; điều này có phải là một sự ngẫu nhiên không? Có tính
cách võ đoán không? Có thể giải thích được không? Và có phải một khi một
người đã bị ám ảnh rồi thì không làm sao cho người đó thoát khỏi sự ám ảnh
đó không? Tại sao nhà thần kinh học không giảng giải rõ hơn cho chúng ta
biết? Trả lời câu hỏi này chúng ta có thể nói: kẻ nào cho hơn cái gì mình
có là không lương thiện. Nhà thần kinh học không có phương tiện đi sâu
này, nên chẳng thể làm gì hơn là đưa ra một lời đoán bệnh không có gì chắc
chắn.
Thế môn phân tâm học có làm được gì hơn không? Tất nhiên
là có. Ngay cả trong trường hợp khó khăn này chúng ta cũng có thể đưa ra
những sự kiện giải thích được. Chúng ta cần để ý đến chi tiết nhỏ nhặt có
vẻ không quan trọng là chính người đàn bà đã là nguyên nhân gây ra bức thư
nặc danh đó: chính bà ta hôm trước đã phàn nàn với mụ hầu phòng là mình sẽ
khổ sở vô cùng khi biết chồng có nhân tình. Nói câu đó chính bà ta đã gợi
ý cho mụ hầu phòng gửi bức thư nặc danh. Vậy sự ám ảnh không hề dính dáng
gì đến bức thư cả, nó đã có từ trước trong tình trạng một mối lo âu (hay
một sự ham muốn). Thêm vào đó một vài sự kiện do tôi tìm ra sau hai giờ
đồng hồ phân tích. Sau khi nghe kể chuyện xong, tôi hỏi bà ta một vài điều
nhưng bà ta không sẵn sàng trả lời. Bà nói rằng, bà chẳng có điều gì cần
nói nữa và sau hai giờ nói chuyện bà tuyên bố là bà khỏi bị ám ảnh rồi,
thấy trong người khoẻ khoắn dễ chịu. Tất nhiên bà nói như thế vì cuộc nói
chuyện tiếp tục. Nhưng trong hai giờ đó bà khách đã để lộ một vài điểm
giúp cho ta hiểu rõ tình trạng của bà. Bà có cảm tình đặc biệt với một
chàng trẻ tuổi, người con rể đã nhờ đến tôi săn sóc bà. Bà không hề có ý
thức gì về cảm tình đó, vì là mẹ vợ và chàng rể nên mối cảm tình biến
thành một tấm lòng âu yếm rất dễ hiểu. Chúng ta đủ kinh nghiệm để đi sâu
vào cuộc đời tinh thần của người đàn bà rất tốt này. Cảm tình của bà đối
với con rể kinh khủng quá nên không thể có trong ý thức bà ta được, nhưng
nó vẫn tiềm tàng trong vô thức và thúc đẩy mạnh mẽ ghê gớm. Bà cần có một
cái gì để thoát khỏi sự ám ảnh đó, chính sự di chuyển đề tài đã giúp bà
giải quyết được vấn đề. Bà lý luận là trong khi mình có thể yêu một chàng
trẻ tuổi được thì không có lý do nào khiến cho chồng mình lại không yêu
một cô gái. Do đó bà không còn hối hận về tình yêu của mình nữa. Việc
chồng phụ tình mình như một liều thuốc an thần dán trên một vết thương
nóng bỏng. Vì không ý thức được tình yêu của mình nên bà bị ám ảnh bởi
hình bóng của tình yêu này, một bóng dáng mà bà cho là rất có lợi cho
mình. Mọi lý lẽ đưa ra đều không có hiệu quả gì vì chúng đâu có nhằm đúng
mục tiêu, chỉ nhằm vào cái mẫu của mục tiêu đó thôi, chính cái mục tiêu
này nấp trong vô thức truyền cho cái mẫu bên ngoài sức mạnh của mình.
Chúng ta hãy tóm tắt lại những dữ kiện thu lượm được
trong việc phân tích này rồi dựa vào đó tìm hiểu trường hợp của bà khách.
Dữ kiện thứ nhất: ý cố định không phải là một thứ gì vô lý, không hiểu
được, ý đó có ý nghĩa, có lý do, lệ thuộc vào một biến cố tình cảm trong
đời sống người bệnh. Dữ kiện thứ hai ý cố định này là một sự kiện cần
thiết, phản ứng chống lại một sự hoạt động tinh thần vô thức mà chúng ta
đưa ra ánh sáng được nhờ một vài dấu hiệu khác. Chính vì có dây liên lạc
với vô thức mà ý đó mới có tính cách ám ảnh, mới chống lại mọi lý luận hợp
lý, đúng với sự thực. Ý đó còn là một niềm an ủi đối với người bệnh nữa.
Dữ kiện thứ ba: nếu hôm trước người bệnh kể lể tâm tình với mụ hầu phòng
chính là vì bà ta đã bị thúc đẩy bởi tình yêu thầm kín đối với con rể,
tình yêu này chính là bức phông che lấp hậu trường căn bệnh. Trường hợp
này giống triêu chứng được phân tích trong phần trên ở nhiều điểm, vì ở cả
hai nơi chúng ta dều tìm ra được ý nghĩa hay ý muốn của sự biểu thị tinh
thần, những liên quan giữa chúng ta và một yếu tố vô thức.
Tất nhiên chúng ta chưa giải quyết được một thắc mắc
trong vấn đề trên. Còn nhiều vấn đề chưa tìm ra được giải pháp. Có những
vấn đề không giải quyết nổi vì một vài điều kiện đặc biệt khó khăn. Tại
sao người đàn bà được chồng chiều chuộng này lại đi yêu con rể? Tại sao
niềm an ủi lại không có một hình thức khác hơn là bóng dáng, là sự di
chuyển về phía người chồng một tình trạng đặc biệt của người bệnh? Những
vấn đề đó có phải là những vấn đề gai góc không? Chúng ta có nhiều tài
liệu để trả lời những câu hỏi đó. Người đàn bà này có thể đã đến tuổi hồi
xuân và cần được thoả mãn tình dục: riêng một sự kiện này có lẽ cũng đã
giải thích được nhiều. Có thể là ông chồng không có đủ sức cung phùng cho
bà vợ về phương diện sinh lý. Những người chồng như thế thường tỏ ra âu
yếm đối với vợ và rất khoan dung đối với tính nết cáu kỉnh của vợ. Việc
người bệnh yêu con rể không phải là không có ý nghĩa. Chính vì quá yêu con
gái, yêu một cách say mê như người con trai yêu con gái. Nên tình yêu đó
đã biến thể thành tình yêu người con rể. Tôi tưởng chẳng cần nhắc lại các
bạn rằng những sự giao hợp giữa mẹ và con rể thường bị phê phán thực gắt
gao trong xã hội, ngay cả trong thời cổ những sự loạn luân này cũng bị
trừng trị ghê gớm. Sự loạn luân này vượt quá mức luân lý mà xã hội có thể
chịu đựng được. Vì không thể tiếp tục khảo sát sau hai giờ nói chuyện nên
tôi không thể nói rõ trong ba yếu tố nói trên, yếu tố nào đã giữ phần quan
trọng quyết định, một trong ba yếu tố đó, hay hai, hay cả ba cùng một lúc.
Đó là những điều mà tôi chưa sửa soạn kỹ càng cho các
bạn hiểu. Tôi chỉ có ý so sánh giữa hai môn thần kinh học và phân tâm học
thôi. Các bạn có thấy hai môn này phản đối nhau trong điểm nào không? Thần
kinh học không áp dụng phương pháp kỹ thuật của phân tâm học, không để ý
đến ý tưởng cố định, chỉ cốt chứng minh rằng di truyền chính là nguyên
nhân gần hay xa của căn bệnh chứ không tìm những nguyên nhân đặc biệt và
gần hơn. Nhưng đó có phải là điều trái ngược không? Các bạn không thấy
rằng hai môn đó không hề trái ngược nhau mà còn bổ túc cho nhau nữa sao?
Hai yếu tố di truyền và biến cố tinh thần cũng thế, không hề xa nhau, trái
lại, lại cộng tác với nhau chặt chẽ để đạt cùng một mục đích. Thần kinh
học không thể đưa ra một lý lẽ gì để phản đối phân tâm học hết. Chính nhà
chuyên môn về thần kinh học chứ không phải môn thần kinh học chống đối với
môn phân tâm học. Đối với thần kinh học,
phân tâm học ở vào địa vị của môn học đối với giải phẫu học: một đằng khảo
cứu về hình thể bên ngoài của cơ quan, một đằng khảo cứu mô và tế bào cấu
thành các cơ quan. Không thể có mâu thuẫn giữa hai môn này
được vì môn này tiếp tục công việc của môn kia. Hiện nay giải phẫu học là
môn căn bản của khoa học y khoa nhưng có một thời người ta đã cấm không
cho mổ xẻ xác chết để khảo cứu về sự cấu thành các cơ quan bên trong cơ
thể, cũng như bây giờ người ta đang kết án những người muốn khảo cứu về
phân tâm học để tìm hiểu sự hoạt động của tinh thần. Nhưng mọi sự đều có
vẻ hướng về một tương lai gần đây, trong đó muốn khảo cứu hữu hiệu về thần
kinh học chúng ta phải biết rõ về những sự hoạt động bên trong và vô thức
của đời sống tinh thần.
Môn phân tâm học thường bị chỉ trích ghê gớm, có thể gây
được cảm tình của một số các bạn vui mừng nhìn thấy ở đó một phương pháp
trị bệnh. Nhưng phương tiện hiện thời của môn thần kinh học không có tác
dụng gì đối với những ý cố định. Môn phân tâm học có thành công hơn về
phương diện này không? Không, phân tâm học cũng như mọi môn trị liêu khác
không có tác dụng đối với những ý kiến này. Hay ít nhất cũng trong tình
trạng hiện thời chúng ta có thể dùng phân tâm học tìm hiểu những sự gì xảy
ra ở người bệnh, nhưng không có tác dụng đối với những ý kiến này. Hay ít
nhất cũng trong tình trạng hiện thời, chúng ta có thể dùng phân tâm học
tìm hiểu những sự gì xảy ra ở người bệnh, nhưng không có phương tiện nào
làm cho người bệnh hiểu được chính mình. Trong trường hợp nói trên tôi đã
không thể đi quá sâu sau hai giờ nói chuyện. Có phải là sự phân tích vì
không đưa đến kết quả gì cụ thể nên phải bỏ đi không? Tôi không nghĩ thế.
Chúng ta có quyền và có bổn phận tiếp tục, công việc dù chưa đạt được mục
đích gì hữu ích ngay trước mắt. Sau cùng chúng ta không biết khi nào và
tại đâu những điều hiểu biết rất ít ỏi của chúng ta biến thành một phương
pháp điều trị. Dù môn phân tâm học bị bó tay trước những chứng bệnh thần
kinh khác cũng như trước những ý kiến cố định, môn đó vẫn tỏ ra không có
gì thay thế được trong công cuộc khảo cứu khoa học. Chúng ta chưa có đủ
điều kiện hoạt động. Ngay chính những người chúng ta đang tìm hiểu, những
người còn sống hẳn hoi và có lý do cần giúp đỡ, chúng ta cũng từ chối
không chịu cộng tác. Vì thế cho nên tôi không muốn chấm dứt những bài học
này mà không nói cho các bạn biết rằng, có nhiều loại rối loạn thần kinh
mà chúng ta có thể trị được sau khi tìm hiểu rõ ràng hơn và môn phân tâm
học, với một vài điều kiện có thể thu lượm được những kết quả khả quan
chẳng kém gì những kết quả thu lượm được trong các môn khoa học khác.
17. Ý nghĩa các triệu chứng
Trong chương trên tôi đã chứng tỏ rằng môn thần kinh học
không để ý đến nội dung và cách phát biểu ra ngoài của các triệu chứng;
môn phân tâm học, trái lại, chú trọng rất nhiều đến hai điều trên và đã
tìm ra là mỗi triệu chứng đều có ý nghĩa có liên quan chặt chẽ đến đời
sống tinh thần người bệnh. Chính F.Breuer nổi danh vì đã tái lập được một
trường hợp náo loạn thần kinh (1880-1882), là người đầu tiên tìm ra những
triệu chứng của bệnh thần kinh. P.Fanet cũng đã tìm ra những triệu chứng
đó và còn công bố công trình của mình trước cả Breuer nữa vì ông này chỉ
công bố mười năm sau đó thôi (1893-1895) thời kỳ ông cộng tác với tôi.
Chúng ta chả cần biết ai là người đầu tiên tìm ra vì một công trình nào
cũng được tìm đi tìm lại nhiều lần. Ví dụ như châu Mỹ là do Colomb tìm ra
nhưng đâu có lấy tên Colomb. Trước Breuer và Fanet, nhà thần kinh học nổi
danh Leuret đã cho biết là nếu biết diễn giải, người ta có thể tìm thấy ý
nghĩa của những lời nói trong lúc mê man của những người điên. Từ lâu tôi
sẵn sàng công nhận là P.Fanet đặc biệt đáng khen khi cắt nghĩa được những
triệu chứng bệnh thần kinh bằng cách cho rằng đó là cách phát biểu của
những ý tưởng vô thức bên trong người bệnh. Nhưng sau đó P.Fanet lại dè
dặt cho rằng vô thức đối với ông ta chỉ là một cách nói thôi chứ đối với
ông vô thức chẳng tương ứng với một điều gì có thực cả. Từ đó tôi chẳng
hiểu gì về ý kiến của ông nữa, tôi tiếc là đáng lẽ ông phải được tán
thưởng hơn thế nữa.
Vậy những triệu chứng cũng
có một ý nghĩa, y như hành vi sai lạc và giấc mơ và cũng liên can đến đời
sống con người. Tôi đơn cử
vài thí dụ giúp cho các bạn quen với vấn đề. Tuy chưa
chứng minh được, tôi chỉ có thể nói là bao giờ, những triệu chứng này cũng
có ý nghĩa và cũng liên quan đến đời sống con người. Các bạn nào sau này
làm các cuộc thí nghiệm cùng với tôi cũng sẽ nghĩ như tôi. Nhưng vì vài lý
do tôi sẽ không lấy thí dụ trong sự náo loạn thần kinh mà lấy trong một
chứng bệnh thần kinh khác, rất gần sự náo loạn, đó là sự ám ảnh, một chứng
bệnh không được nhiều người biết đến như sự náo loạn. Bệnh này không ầm ĩ
làm ai đó khó chịu, có vẻ như là việc riêng của người bệnh, không biểu lộ
ra ngoài, không có dấu hiệu gì trong cơ thể, có vẻ như hoàn toàn thuộc
tinh thần. Sự ám ảnh và sự náo loạn là hai chứng bệnh thần kinh được dùng
làm căn bản đầu tiên cho môn phân tâm học khảo cứu và môn này đã thu lượm
được những kết quả rất khả quan trong việc trị bệnh. Môn phân tâm học đã
làm cho sự ám ảnh trở thành rõ ràng hơn, quen thuộc hơn sự náo loạn, phát
hiện ra với nhiều tính cách chung cho các bệnh thần kinh.
Trong bệnh thần kinh ám ảnh, người bệnh bị ám ảnh bởi
một ý tưởng mà anh ta không chú trọng đến, cảm thấy bị một sự gì rất kỳ lạ
thúc đẩy, làm một vài cử chỉ mà chính người bệnh không lấy gì làm thích
nhưng không làm sao tránh được. Những ý tưởng ám ảnh có thể không có nghĩa
gì, không có giá trị gì đối với cá nhân người bệnh nhưng luôn luôn là một
hoạt động tri thức làm suy sụp người bệnh.
Người bệnh bị bó buộc phải làm việc, phải suy nghĩ y như
đó là một công việc hết sức quan trọng cho đời mình. Những sự thúc đẩy có
thể tỏ ra rất trẻ con và vô nghĩa lý, nhưng luôn luôn có một nội dung kinh
hoàng thúc đẩy người bệnh phạm những tội ác quan trọng thành ra người bệnh
luôn luôn muốn rũ bỏ dược những ý tưởng đó đi, tìm đủ mọi cách để lẩn
tránh, chống trả dữ dội. Ta nên nhớ rằng ý tưởng và hành vi xấu xa đó rất
ít khi được đem ra thi hành, trong nhiều trường hợp sự lẩn tránh chống trả
thường có kết quả. Những hành động có làm thực nhiều khi chẳng có hại gì,
vô nghĩa lý, có khi chỉ nhắc lại những hành động thường xuyên trong đời
sống thường ngày, nhưng hậu quả là những hành động đó như việc đi ngủ, ăn,
uống, tắm gội, đi chơi đều trở thành những hành động làm cho người bệnh
khổ sở, khó giải quyết. Những yếu tố cấu thành sự ám ảnh không đều nhau,
có khi yếu tố này mạnh hơn các yếu tố khác, nhưng dù xuất hiện dưới hình
thức nào, dưới tên gì, mọi hình thức căn bệnh đều có những tính chất chung
giống nhau rất rõ rệt.
Đó quả là một chứng bệnh kỳ khôi. Nếu không phải ngày
nào chúng ta cũng được mắt thấy tai nghe những chuyện đó, chúng ta không
thể nào tin là chúng lại có thực. Các bạn không thể giúp gì cho người bệnh
bằng cách khuyên họ nên giải trí đừng có những ý tưởng đó, thay thế chúng
bằng những ý tưởng khác hợp lý hơn. Chính người bệnh cũng hoàn toàn đồng ý
với bạn, lúc nào cũng sáng suốt, sẵn sàng làm theo ý bạn, có khi còn nói
ra trước những điều mà bạn muốn đem ra khuyên can. Chỉ có điều là dù muốn
anh ta cũng không làm sao khác được: người bệnh chịu tình trạng của mình
với một nghị lực phi thường khó thấy trong những người bình thường. Anh ta
chỉ làm được có một điều: đó là thay thế ý tưởng ám ảnh đó bằng một ý khác
nhẹ hơn, thay thế một điều cấm đoán bằng một điều khác, làm một vài lễ
nghi gì thay thế việc đang làm. Có thể di chuyển sự ám ảnh theo một chiều
hướng khác nhưng không thể bỏ đi được. Việc di chuyển những triệu chứng là
một trong các tính chất quan trọng trong cácbệnh: những điểm mâu thuẫn
trong đời sống tinh thần đặc biệt hiện ra rất rõ ràng trong trường hợp
này. Ngoài sự bó buộc hay sự ám ảnh, người ta còn thấy xuất hiện trong
phạm vi tri thức một mối nghi ngờ đối với những người bình thường. Vậy mà
trước khi có bệnh, người bệnh thường là một người rất nhiều nghị lực, kiên
nhẫn cùng cực, thông minh hơn bình thường, tinh thần luân lý rất cao, theo
đúng mọi nguyên tắc, lịch sự ít thấy. Các bạn chắc cũng thấy là chữa bệnh
trong những trường hợp rắc rối này quả là khó khăn. Vì thế cho nên trong
lúc này tham vọng của chúng ta rất ít: làm sao tìm hiểu và giải thích được
một vài triệu chứng thôi.
Thái độ của các nhà thần kinh học đối với chứng bệnh ám
ảnh này ra sao? Thái độ này rất giản dị, nhà thần kinh học chỉ gán cho mỗi
sự ám ảnh một cái tên, không hơn không kém. Thần kinh học còn cho rằng
những người có triệu chứng đó là những người thoái hoá tinh thần. Điều
khẳng định này không làm ai hài lòng không phải là một sự giải thích, một
sự xét đoán về giá trị, chỉ là một lời kết án. Tất nhiên những người bị ám
ảnh luôn có những cử chỉ kỳ khôi, khác hẳn những người bình thường. Nhưng
những người này có thoái hoá hơn những người bệnh khác như bị náo loạn hay
bị hư biến tinh thấn không? Danh từ thoái hoá tất nhiên có tính cách quá
tổng quát. Người ta tự hỏi có gì thoái hoá trong những người tuyệt hảo, có
địa vị cao trong xã hội nhưng cũng vẫn mắc bệnh ám ảnh không? Thường
thường chúng ta biết rất ít về đời sống của những vị tai to mặt lớn trong
xã hội: những người này thường tỏ ra rất kín đáo, còn những người chuyên
viết về đời họ nhiều khi không thành thực. Tuy nhiên cũng có người như
E.Zola chẳng hạn vạch cho chúng ta xem sự thực hoàn toàn về đời ông, và
chúng ta thấy ông bị ám ảnh rất nhiều (trong cuốn Điều tra về tâm lý và y
học).
Đối với những người đặc
hạng này, thần kinh học phát minh ra loại người đặc hạng thoái hoá. Chả
còn gì tiện hơn. Nhưng phân tâm học đã cho ta biết là có thể chữa khỏi
được bệnh ám ảnh cũng như đã chữa khỏi những chứng bệnh khác.
Chính tôi đã hơn một lần thành công trong lĩnh vực này.
Tôi kể cho các bạn nghe hai thí dụ, một lấy trong một
công cuộc khảo sát đã cũ, một mới hơn.
Một bà vào khoảng 30 tuổi mỗi ngày làm nhiều lần những
cử chỉ như sau: từ trong phòng riêng, bà chạy vội vào một phòng bên cạnh,
đứng trước bàn ở giữa phòng, bấm chuông gọi chị hầu phòng, ra cho chị này
một lệnh nào đó, hay có khi đuổi chị ta đi mà không nói gì cả, rồi chạy
biến về phòng mình. Triệu chứng này không có gì nghiêm trọng, nhưng cũng
gợi tính tò mò. Không cần thầy thuốc người ta cũng giải thích được một
cách chắc chắn, không cãi được. Chính tôi cũng không nhìn thấy cử chỉ đó
có nghĩa gì, không tìm ra cách giải thích. Lần nào hỏi người bệnh: “Tại
sao bà làm thế?”, bà ta đều trả lời: “Tôi cũng không biết nữa”. Nhưng một
hôm sau, khi thắng được một nỗi thắc mắc trong lương tâm nhờ sự can thiệp
của tôi, bà ta đột nhiên hiểu hết và kể cho tôi nghe những sự kiện liên
quan đến sự ám ảnh này. Cách đó mười năm, bà ta lấy một người chồng nhiều
tuổi hơn và trong đêm tân hôn đã tỏ ra bất lực. Ông chồng chạy từ phòng
mình sang phòng vợ nhiều lần để cố giao hợp nhưng không được. Sáng ra ông
nói: “Tôi xấu hổ với mụ hầu phòng sắp vào dọn giường”. Nói xong ông ta lấy
một lọ mực đỏ đổ ra giường nhưng không đúng chỗ đáng lẽ máu phải chảy ra
trên giường. Lúc đầu tôi không hiểu giữa sự việc này và sự ám ảnh có liên
quan gì. Việc chạy từ phòng này qua phòng khác, sự xuất hiện của người hầu
phòng là những sự kiện duy nhất đúng với sự thực. Bà ta liền dẫn tôi vào
phòng thứ hai, đến trước cái bàn và chỉ cho tôi xem một vết mực đỏ ngay
trên thảm. Bà giải thích là bà đứng trước bàn trong một cử chỉ làm cho
người hầu phòng không thể nào không thấy vết mực đỏ. Thế là tôi không nghi
ngờ gì nữa về liên quan giữa sự việc xảy ra trong đêm tân hôn với sự ám
ảnh hiện thời. Nhưng cũng còn nhiều điều giải thích khác.
Người vợ đã tự đồng hoá mình với người chồng, bà chạy từ
phòng mình sang phòng khác giống y như ông chồng. Bà ta thay thế cái
giường và khăn trải giường bằng cái bàn và tấm thảm dưới bàn. Điều này có
vẻ như võ đoán nhưng chúng ta đã không uổng công khi khảo sát về tính cách
tượng trưng trong giấc mơ. Trong giấc mơ cái giường thường được tượng
trưng bằng cái bàn. Bàn và giường họp lại tượng trưng cho hôn nhân. Vì thế
người ta dễ dàng thay cái này bằng cái kia.
Chúng ta đã có bằng cớ rằng những hành vi ám ảnh có
nghĩa. Sự ám ảnh này có thể là một hình dung, một sự nhắc lại những cử chỉ
của ông chồng. Nhưng chúng ta sẽ không dừng lại ở đó; khảo sát liên quan
giữa cảnh tượng đêm tân hôn với sự ám ảnh biết đâu chúng ta lại chẳng thu
lượm được những kết quả đối với những sự kiện xa xôi hơn, ước muốn trong
hành vi. Điểm chính trong sự việc này là việc gọi người hầu phòng lên, làm
cho chị ta chú ý đến vết đỏ trái với người chồng tỏ ra xấu hổ trước mặt
người hầu phòng. Đóng vai người chồng, bà ta muốn tỏ rằng người chồng
chẳng có gì đáng xấu hổ trước mặt người hầu phòng vì vết đỏ có đấy thôi.
Vậy người đàn bà không chỉ diễn lại quang cảnh đó, mà thay đổi làm cho
quang cảnh đó thành công. Nhưng làm thế bà ta cũng thay đổi một tai nạn
xảy ra trong đêm tân hôn: vì người chồng bất lực nên mới phải dùng mực đỏ.
Vậy hành vi ám ảnh có nghĩa là: “Không, không đúng đâu, anh chẳng có gì
phải xấu hổ cả, anh có bất lực dâu”. Cũng như trong giấc mơ bà cho là sự
ham muốn này được thực hiện trong một cử chỉ hiện thời, chịu theo khuynh
hướng đưa ông chồng thoát khỏi sự thất bại trong đêm tân hôn.
Để chứng minh điều vừa được trình bày, tôi có thể nói
cho các bạn nghe thêm những điều tôi biết về người đàn bà này: những điều
chúng ta biết về bà ta bắt buộc chúng ta hiểu hành động của bà, một hành
động tự nó thực khó hiểu. Trong bao nhiêu năm, bà ta sống xa chồng và
chống lại ý muốn xin tiêu huỷ hôn thú. Nhưng không thể được: bà ta buộc
mình phải trung thành với chồng, sống cô độc để khỏi sa ngã, tìm cách gỡ
tội cho chồng và muốn đề cao chồng trong tâm trí mình. Hơn nữa điểm bí mật
trong vụ này là bà ta muốn dùng sự ám ảnh đó để che chở cho chồng đối với
những bàn tán độc ác, muốn cho rằng việc hai người sống xa nhau là có lý,
muốn cho chồng tuy sống xa mình nhưng vẫn sống một cuộc đời dễ chịu. Bằng
sự phân tích một cử chỉ bị ám ảnh bề ngoài có vẻ vô nghĩa lý, chúng ta đã
đi sâu vào bí mật của một trường hợp bệnh hoạn, đưa ra ánh sáng một phần
không nhỏ trong bí mật của một sự ám ảnh. Trường hợp này hiến cho chúng ta
những tài liệu khó chờ đợi được trong những trường hợp khác. Chính người
bệnh đã tự giải thích trường hợp của mình không cần sự can thiệp của bác
sĩ, lời giải thích này phù hợp với một biến cố xảy ra không phải trong
thời thơ ấu mà trong thời kỳ người đàn bà trưởng thành, còn nhớ mãi sự
việc xảy ra. Trường hợp này đủ đánh tan hết mọi lý luận bài bác. Trường
hợp như thế quả là hiếm có.
Trước khi qua trường hợp sau, tôi thấy cần nói thêm vài
lời. Các bạn có thấy trường hợp này đưa chúng ta vào sâu trong cuộc đời
thầm kín của người bệnh không? Còn gì thầm kín đối với người đàn bà hơn là
câu chuyện đêm tân hôn? Có phải là một điều ngẫu nhiên không, một điều
không quan trọng không, khi chúng ta đi sâu được vào trong đời sống tình
dục của người bệnh? Có thể là tôi đã may mắn đặc biệt. Nhưng chúng ta
không nên kết luận quá hấp tấp. Thí dụ thứ hai khác hẳn thí dụ trước: Đó
là những lễ nghi làm trước khi đi ngủ.
(còn nữa)
Phân tâm học nhập môn (phần 40)
Cô gái mới 19 tuổi, xinh đẹp, thông minh, con một, học
giỏi. Lúc bé cô tỏ ra kiêu ngạo man rợ, trong những năm gần đây, chẳng có
lý do gì rõ ràng, cô tỏ ra cáu kỉnh vô lối. Đối với mẹ, cô tỏ ra giận dữ,
lúc nào cũng tỏ ra bất bình, vẻ mặt tăm tối, tâm hồn bất định, luôn luôn
nghi ngờ, và rút cục thú nhận là không thể một mình đi ra phố được.
Cô gái mới 19 tuổi, xinh đẹp, thông minh, con một, học
giỏi. Lúc bé cô tỏ ra kiêu ngạo man rợ, trong những năm gần đây, chẳng có
lý do gì rõ ràng, cô tỏ ra cáu kỉnh vô lối. Đối với mẹ, cô tỏ ra giận dữ,
lúc nào cũng tỏ ra bất bình, vẻ mặt tăm tối, tâm hồn bất định, luôn luôn
nghi ngờ, và rút cục thú nhận là không thể một mình đi ra phố được. Trạng
thái này phức tạp gồm ít nhất hai căn bệnh: sợ không dám ra phố và bị ám
ảnh. Điều chúng ta cần để ý trong trường hợp này là những lễ nghi cô ta
làm trước khi đi ngủ làm cho cả mẹ cô đau đớn không ít. Người bình thường
trước khi đi ngủ cũng hay có thói quen làm một vài điều, một vài lễ nghi
gì đó rồi mới đi ngủ và tối nào không làm không sao ngủ được. Nhưng những
lễ nghi đó đối với người bình thường có vẻ hợp lý, rủi có khi nào vì cớ
này cớ khác phải thay đổi chút ít trong lễ nghi đó, người bình thường cũng
không tỏ vẻ khó chịu và có thể thích ứng ngay với tình thế mới. Nhưng
trong trường trong trường hợp bệnh hoạn thì những lễ nghi này bắt buộc
phải diễn ra hàng ngày, dù phải chịu nhiều sự hy sinh to lớn, chỉ khác
những lễ nghi thường ở chỗ quá tỷ mỉ không hợp lý. Người bệnh phân trần là
nếu không làm mất hết mọi tiếng động đi thì cô ta không sao ngủ được:
trước hết cô ta hãm không cho quả lắc chiếc đồng hồ to trong phòng chạy,
bắt cất hết những đồng hồ khác kể cả đồng hồ đeo tay; sau đó bắt mang vào
phòng, để lên bàn những bình hoa làm sao cho chúng không thể rơi xuống đất
ban đêm làm cho cô ta không ngủ được. Cô ta biết rõ những sự sửa soạn này
thực ra không cần thiết, chiếc đồng hồ đeo tay để trong hộp trong phòng
không thể làm cho cô mất ngủ, riêng chúng ta thì ta thấy rõ là tiếng tích
tắc của đồng hồ tay không làm cho ai mất ngủ cả trái lại còn giúp thêm cho
giấc ngủ nữa. Cô gái cũng biết là chẳng có lý do gì trong việc sợ các bình
hoa rơi xuống đất để làm cho mình mất ngủ. Những điều kiện khác trong lễ
nghi chẳng liên quan gì đến câu chuyện nghỉ ngơi. Trái lại nữa: người bệnh
đòi cửa phòng thông sang phòng cha mẹ phải mở, muốn đạt được mục đích đó
cô lấy nhiều đồ vật chặn không cho cửa mở ra mở vào được. Nhưng những lễ
nghi quan trọng hơn thuộc về chiếc giường. Gối không được chạm vào thành
giường, đệm nhỏ kê trên đầu phải đặt thành hình quả trám, lúc ngủ đầu phải
đặt đúng giữa đường chéo của hình này. Đệm lông dưới chân phải lắc sao cho
lông dồn về một phía, nhưng sau khi dồn xong người bệnh lại lắc lại cho
đều.
Tôi không muốn kể thêm nhiều chi tiết nữa vì chúng không
cho ta biết gì hơn, có thể đưa chúng ta đi quá xa mục đích của chúng ta.
Nhưng những việc làm trên không dễ dàng gì đâu: luôn luôn cô gái sợ làm
không đầy đủ, mọi cử động đều được xem xét kỹ càng, kiểm điểm lại kỹ
lưỡng, kéo dài hàng giờ hay có khi hai giờ liền khiến cho cô gái và cha mẹ
không sao ngủ được.
Phân tích sự việc này không dễ dàng như trong trường hợp
trên. Tôi phải hướng dẫn cô gái trong việc giải thích nhưng cô luôn luôn
gạt bỏ đề nghị của tôi bằng những tiếng “không” quả quyết, nếu có làm theo
lời tôi, cô chỉ làm một cách miễn cưỡng với một vẻ nghi ngờ khinh bỉ.
Nhưng sau đó cô tỏ ra chú ý đến những đề nghị đưa ra, tìm cách đưa ra một
vài ý tưởng. Nhớ lại vài kỷ niệm, và sau cùng, sau một công việc suy tính
kỹ càng, cô chấp nhận mọi lời giải thích của tôi. Trong khi chữa chạy, cô
dần dần tỏ ra không quá kỹ lưỡng trong lễ nghi nữa, và khi chữa chạy xong
cô bỏ hẳn không làm những lễ nghi đó nữa. Công việc của chúng ta không chú
trọng đặc biệt đến từng triệu chứng một, thỉnh thoảng chúng ta phải bỏ một
vài giả thiết vì chắc chắn sau này lại phải quay lại vấn đề đó bằng con
đường khác. Cho nên những điều giải thích về các triệu chứng đem trình bày
cho các bạn xem là một tổng hợp những kết quả thu lượm được sau bao nhiêu
tuần lễ, bao nhiêu tháng làm việc cần cù.
Người bệnh dần dần hiểu rằng vì chiếc đồng hồ tượng
trưng cho âm hộ đàn bà nên cô ta không chịu được sự có mặt của đồng hồ
trong phòng. Chiếc đồng hồ đeo tay sở dĩ tượng trưng cho âm hộ là vì tiếng
kêu đều dều, định kỳ. Có nhiều người đàn bà thường nói rằng kỳ kinh nguyệt
của mình đều đều như một chiếc đồng hồ. Nhưng người bệnh sợ nhất là bị mất
ngủ vì tiếng tích tắc, tiếng tích tắc này tường trưng cho sự phập phồng
của âm hạch trong khi bị kích động về dục tình. Chính sự kích động này đã
làm cô gái thức dậy ban đêm, chính vì sợ âm hạch cương lên nên cô ta không
dám để đồng hồ trong phòng. Bình hoa tượng trưng cho cơ quan sinh dục đàn
bà. Do đó sự sợ hãi khi thấy các bình hoa có thể rơi xuống đất và vỡ toang
ra không phải không có ý nghĩa. Các bạn chắc cũng biết thói tục của chúng
ta, trong lễ đính hôn đập vỡ một vài cái đĩa hay bình hoa. Mỗi người dự lễ
đính hôn đều nhặt lấy một mảnh vỡ, coi như mình không có quyền gì liên lạc
với cô dâu nữa. Cô gái có nhiều ý tưởng và kỷ niệm về chuyện cho bình hoa
vào phòng. Dạo còn nhỏ cô ta bị ngã trong lúc ôm trong tay một cái bình
bằng thuỷ tinh hay bằng đất và chảy máu tay rất nhiều. Trở thành con gái,
biết những sự việc liên quan đến việc giao hợp cô ta bị ám ảnh bởi ý nghĩa
là biết đâu trong đêm tân hôn, mình không chảy máu và sẽ bị chồng ngờ là
mất trinh. Vì thế, việc giữ gìn không cho bình hoa vỡ ban đêm chính là sự
phản kháng mất trinh là việc chảy máu sau khi giao hợp lần đầu, phản kháng
lòng sợ hãi không chảy máu cũng như có chảy máu ban đêm. Còn việc ngăn
không cho xảy ra tiếng động không liên quan gì đến những sự việc trên.
Lúc cô ta đột nhiên hiểu tại sao mình không muốn cho cái
gối chạm vào gỗ trên thành giường, cô ta cho tôi biết ý nghĩa của lễ nghi:
cái gối tượng trưng cho người đàn bà, còn thành giường dường thẳng tượng
trưng cho người đàn ông. Cô ta muốn đàn ông xa đàn bà, nghĩa là không muốn
cho cha mẹ giao hợp với nhau. Vì thế nên nàng giả vờ sợ hãi bắt cha mẹ
phải để ngỏ cửa thông sang phòng nàng để nàng có dịp rình mò, chính sự
rình mò này làm nàng mất ngủ trong bao nhiêu đêm. Thỉnh thoảng nàng lại
sang phòng cha mẹ nằm vào giữa hai người. Chính lúc đó là lúc “cái gối” và
“gỗ trên thành giường” xa cách nhau thực sự. Sau này lớn lên không thể nằm
trong giường cha mẹ được, nàng tiếp tục giả vờ sợ hãi, bắt mẹ nhiều khi
sang ngủ bên giường mình. Tình trạng này chắc chắn mở đầu cho nhiều điều
phát minh có dấu vết trong lễ nghi nói trên.
Nếu cái gối tượng trưng cho người đàn bà thì việc dồn
cho lông trong đệm kê chăn về một phía tường trưng cho sự có thai. Người
bệnh sau khi dồn lòng vào một chỗ để tượng trưng cho sự có thai. Ngay sau
đó lại san bằng lông trong đệm là ngụ ý không muốn cho mẹ mình có thai và
sinh ra môt đứa em có thể cạnh tranh với mình. Nếu cái gối to tượng trưng
cho người em thì cái gối chỉ kê ở đầu tượng trưng cho người con. Tại sao
cái gối nhỏ phải để theo hình quả trám. Tại sao đầu người con gái phải đặt
đúng đường chéo của hình đó? Hình quả trám tượng trưng cho dương vật chui
vào âm hộ lúc mở to và đầu người con gái tượng trưng cho dương vật chui
vào âm hộ.
Đó là những điều đáng buồn đối với một cô gái còn trong
trắng, nhưng xin các bạn nhớ cho là tôi không hề bịa ra những chuyện đó,
tôi chỉ giải thích thôi. Lễ nghi của cô gái quả là một điều kỳ lạ, giữa lễ
nghi này và những điều giải thích hẳn phải có một sự tương ứng nào.
Nhưng điều quan trọng là lễ nghi đó không
phải chỉ bắt nguồn ở một ý tưởng kỳ khôi mà ở nhiều ý tưởng tập trung ở
một điểm nào đó. Lễ nghi này cũng hình dung sự ham muốn về tình dục, khi
theo nghĩa tích cực, có tính cách thay thế, khi có nghĩa tiêu cực, như một
phương sách tự bảo vệ.
Sự phân tích lễ nghi nói trên có thể dựa đến nhiều kết
quả nữa nếu chúng ta chú trọng đến những triệu chứng khác của người bệnh,
nhưng những kết quả này không liên can gì đến mục đích của chúng ta. Các
bạn chỉ cần biết là cô gái đối với cha có một tình nhục dục phát sinh ngay
từ hồi còn nhỏ, vì thế nên cô mới tỏ ra không thân thiện với mẹ. Sự phân
tích những triệu chứng đã đưa chúng ta đi sâu vào đời sống tình dục của
người bệnh và một khi đã hiểu rõ ý nghĩa và ý muốn của các triệu chứng
thần kinh này, chúng ta sẽ không ngạc nhiên trước những điều nhận thấy.
Tôi đã trình bày là giống như hành vi sai lạc và giấc
mơ, những triệu chứng bệnh thần kinh cũng có ý nghĩa và liên quan chặt chẽ
đến đời sống thầm kín của người bệnh. Tất nhiên tôi không đòi hỏi các bạn
tin tưởng vào những đề nghị của tôi sau hai thí dụ này. Nhưng các bạn cũng
không thể đòi hỏi tôi đưa ra thực nhiều thí dụ khác cho tới khi nào các
bạn tin tưởng hoàn toàn. Vì có nhiều chi tiết quá nên nếu chúng ta muốn
hiểu rõ một trong các điểm về lý thuyết bệnh thần kinh, tôi phải dành một
lớp học trong sáu tháng mỗi tuần 5 giờ mới dạy xong được. Vì thế nên tôi
dừng lại ở hai thí dụ này thôi. Các bạn muốn khảo cứu sâu rộng hơn nên đọc
những sách vở về điểm này, ví dụ như những công trình giải thích cái triệu
chứng đã trở thành cổ điển của J.B reuer (chứng náo loạn thần kinh), công
trình giải thích những triệu chứng tăm tối của bệnh điên dại trẻ con của
C.G.Jung và những bài đăng trên các tạp chí khác. Những công trình khảo
cứu này không thiếu sót. Sự phân tích, giải thích, dẫn giải những triệu
chứng bệnh thần kinh được các nhà phân tâm học chú trọng đến nỗi họ quên
luôn những vấn đề khác trong vấn đề này.
Các bạn nào muốn tìm hiểu sẽ ngạc nhiên khi thấy sao
nhiều tài liệu thế, nhưng các bạn cũng sẽ gặp một vài khó khăn. Ý nghĩa
của một triệu chứng nằm trong các liên quan với đời sống thầm kín của
người bệnh. Triệu chứng càng có tính cách cá nhân bao nhiêu, chúng ta càng
cần giải thích những liên quan đó bấy nhiêu. Mỗi khi đứng trước một tình
trạng không có ý nghĩa hay trước một hành vi không có mục đích rõ ràng,
chúng ta phải cố tìm ra ý nghĩa và mục đích đó. Hành vi ám ảnh của người
bệnh chạy từ phòng này qua phòng khác rồi bấm chuông gọi người hầu phòngn
thực có tính điển hình cho những triệu chứng này. Nhưng nhiều khi chúng ta
cũng thấy có những triệu chứng có đặc tính khác. Những triệu chứng này
phải được coi như điển hình cho bệnh thần kinh, vì giống nhau trong mọi
trường hợp, sự khác biệt giữa cá nhân bị xoá nhoà đến nỗi chúng ta không
thể gắn liền chúng vào với đời sống cá nhân của người bệnh hay đặt chúng
trước những tình trạng có thực. Lễ nghi của người bệnh thứ hai có tính
điển hình nhiều hơn nhưng cũng có nhiều tính cá biệt làm cho chúng ta có
thể giải thích được lịch sử của trường hợp đó. Nhưng tất cả những người bị
ám ảnh đều có khuynh hướng lặp đi lặp lại một cử chỉ, làm cho cử chỉ này
thành nhịp nhàng, tìm cách tách bạch cử chỉ đó ra. Phần lớn bọn họ có thói
quen rửa tay. Những người bệnh sợ ra phố, không phải là những sự ám ảnh,
có thể coi như những chứng náo loạn thần kinh, hay sự lo âu phập phồng,
thường lặp đi lặp lại mãi mãi một vài cử chỉ đến chán nản: sợ những nơi tù
túng, những nơi ở ngoài trời rộng, những đường phố dài ngoằng mãi không
hết. Họ có cảm tưởng được che chở khi đi cùng một người quen hay nghe
tiếng xe đằng sau lưng. Nhưng đằng sau những triệu chứng chung này, mỗi
người đều có những tính cá biệt nhiều khi hoàn toàn trái ngược nhau. Có
người sợ đường phố chật hẹp, người khác sợ đường phố rộng, có người chỉ đi
ra ngoài khi có ít người qua lại, có người chỉ đi ra ngoài khi có nhiều
người ngoài phố. Sự náo loạn thần kinh cũng thế tuy có nhiều điểm cá biệt
nhưng cũng có nhiều điểm điển hình có tính cách chung làm cho rất khó tìm
ra cội rễ khi khảo sát lịch sử của người bệnh. Chúng ta dựa vào những tính
cách điển hình có thể đoán bệnh. Nếu trong một trường hợp náo loạn thần
kinh chẳng hạn, chúng ta có thể gán cho một trường họp điển hình một biến
cố cá biệt nào đó, ví dụ như một sự nôn oẹ vào nhiều sự nôn oẹ khác, chúng
ta sẽ bị lạc hướng khi sự phân tích cho thấy trong một trường hợp khác sự
nôn oẹ lại bắt nguồn ở một biến cố cá nhân có tính cách khác hẳn. Lúc đó
chúng ta sẽ phải công nhận rằng những sự nôn oẹ do sự náo loạn thần kinh
gây ra có những nguyên nhân mà chúng ta không biết, vì những sự kiện do sự
phân tích đưa ra chỉ là những duyên cớ bị lợi dụng khi cần đến.
Vì thế cho nên chúng ta đi đến kết luận nản lòng là nếu
nhớ những sự kiện và biến cố sống động đối với người bệnh, chúng ta đã đi
đến một vài sự giải thích thoả đáng về ý nghĩa các triệu chứng thần kinh,
về phương diện cá nhân thì chúng ta đã không tìm được ý nghĩa của những
triệu chứng điển hình xảy ra luôn luôn. Ngoài ra tôi cũng chưa đưa ra cho
các bạn xem được hết những khó khăn gặp phải mỗi khi muốn phân tích thực
rõ ràng những triệu chứng. Tôi sẽ không nói đến nhiều sự khó khăn đó không
phải vì muốn cho công cuộc của mình có vẻ tốt đẹp nhưng chính vì không
muốn làm loạn óc các bạn trong buổi đầu tiếp xúc này. Chúng ta chỉ mới đi
những bước đầu chập chững trong công việc tìm hiểu ý nghĩa của các triệu
chứng, chúng ta phải tạm hài lòng với những kết quả thu lượm được và chỉ
tiến dần về phía những điều chưa biết. Tôi an ủi các bạn bằng mọi cách nói
rằng, giữa những triệu chứng nói trên không thể nào có sự khác biệt dược.
Nếu những triệu chứng cá nhân chắc chắn phụ thuộc vào những biến cố sống
động của người bệnh thì những triệu chứng điển hình cũng phụ thuộc vào
những biến cố điển hình, nghĩa là chung cho mọi người. Những tính chất
khác tìm thấy đều đều trong các người bệnh chỉ là những phản ứng tổng quát
thường xảy ra đối với người bệnh, ví dụ như những sự lặp đi lặp lại một cử
chỉ nào đó và lòng đa nghi trong triệu chứng bị ám ảnh. Tóm lại chúng ta
chẳng có lý do gì để nản lòng trước khi biết được những kết quả thu lượm
được về sau này.
Trong thuyết về giấc mơ chúng ta cũng gặp những khó khăn
tương tự. Nội dung rõ ràng của giấc mơ cũng có sự khác biệt cá nhân to
lớn, chúng ta đã trình bày là sự phân tích giúp được cho ta những gì chứa
đựng trong nội dung đó. Nhưng cạnh những giấc mơ cá nhân có những giấc mơ
điển hình xảy ra giống nhau hoàn toàn đối với mọi người. Đó là những giấc
mơ có nội dung đồng nhất rất khó giải thích: ví dụ như người ta nằm mơ
thấy mình bị ngã, bay lên, lượn đi lượn lại, bơi lội, thấy mình bị ngăn
trở hay trần truồng, và nhiều giấc mơ hồi hộp lo âu khác có thể giải thích
nhiều cách khác nhau tuỳ theo từng người, nhưng không giải thích được tại
sao nó lại có tín cách điển hình và đều đều chán nản như thế. Trong những
giấc mơ này cũng như trong chứng bệnh thần kinh điển hình chúng ta thấy có
những chi tiết cá nhân, thay đổi luôn luôn, nếu mở rộng quan niệm này ra
chúng ta có thể đưa chúng vào khung cảnh của những giấc mơ khác mà không
cần làm một điều gì mạnh mẽ cả.
Cô gái mới 19 tuổi, xinh đẹp, thông minh, con một, học
giỏi. Lúc bé cô tỏ ra kiêu ngạo man rợ, trong những năm gần đây, chẳng có
lý do gì rõ ràng, cô tỏ ra cáu kỉnh vô lối. Đối với mẹ, cô tỏ ra giận dữ,
lúc nào cũng tỏ ra bất bình, vẻ mặt tăm tối, tâm hồn bất định, luôn luôn
nghi ngờ, và rút cục thú nhận là không thể một mình đi ra phố được. Trạng
thái này phức tạp gồm ít nhất hai căn bệnh: sợ không dám ra phố và bị ám
ảnh. Điều chúng ta cần để ý trong trường hợp này là những lễ nghi cô ta
làm trước khi đi ngủ làm cho cả mẹ cô đau đớn không ít. Người bình thường
trước khi đi ngủ cũng hay có thói quen làm một vài điều, một vài lễ nghi
gì đó rồi mới đi ngủ và tối nào không làm không sao ngủ được. Nhưng những
lễ nghi đó đối với người bình thường có vẻ hợp lý, rủi có khi nào vì cớ
này cớ khác phải thay đổi chút ít trong lễ nghi đó, người bình thường cũng
không tỏ vẻ khó chịu và có thể thích ứng ngay với tình thế mới. Nhưng
trong trường trong trường hợp bệnh hoạn thì những lễ nghi này bắt buộc
phải diễn ra hàng ngày, dù phải chịu nhiều sự hy sinh to lớn, chỉ khác
những lễ nghi thường ở chỗ quá tỷ mỉ không hợp lý. Người bệnh phân trần là
nếu không làm mất hết mọi tiếng động đi thì cô ta không sao ngủ được:
trước hết cô ta hãm không cho quả lắc chiếc đồng hồ to trong phòng chạy,
bắt cất hết những đồng hồ khác kể cả đồng hồ đeo tay; sau đó bắt mang vào
phòng, để lên bàn những bình hoa làm sao cho chúng không thể rơi xuống đất
ban đêm làm cho cô ta không ngủ được. Cô ta biết rõ những sự sửa soạn này
thực ra không cần thiết, chiếc đồng hồ đeo tay để trong hộp trong phòng
không thể làm cho cô mất ngủ, riêng chúng ta thì ta thấy rõ là tiếng tích
tắc của đồng hồ tay không làm cho ai mất ngủ cả trái lại còn giúp thêm cho
giấc ngủ nữa. Cô gái cũng biết là chẳng có lý do gì trong việc sợ các bình
hoa rơi xuống đất để làm cho mình mất ngủ. Những điều kiện khác trong lễ
nghi chẳng liên quan gì đến câu chuyện nghỉ ngơi. Trái lại nữa: người bệnh
đòi cửa phòng thông sang phòng cha mẹ phải mở, muốn đạt được mục đích đó
cô lấy nhiều đồ vật chặn không cho cửa mở ra mở vào được. Nhưng những lễ
nghi quan trọng hơn thuộc về chiếc giường. Gối không được chạm vào thành
giường, đệm nhỏ kê trên đầu phải đặt thành hình quả trám, lúc ngủ đầu phải
đặt đúng giữa đường chéo của hình này. Đệm lông dưới chân phải lắc sao cho
lông dồn về một phía, nhưng sau khi dồn xong người bệnh lại lắc lại cho
đều.
Tôi không muốn kể thêm nhiều chi tiết nữa vì chúng không
cho ta biết gì hơn, có thể đưa chúng ta đi quá xa mục đích của chúng ta.
Nhưng những việc làm trên không dễ dàng gì đâu: luôn luôn cô gái sợ làm
không đầy đủ, mọi cử động đều được xem xét kỹ càng, kiểm điểm lại kỹ
lưỡng, kéo dài hàng giờ hay có khi hai giờ liền khiến cho cô gái và cha mẹ
không sao ngủ được.
Phân tích sự việc này không dễ dàng như trong trường hợp
trên. Tôi phải hướng dẫn cô gái trong việc giải thích nhưng cô luôn luôn
gạt bỏ đề nghị của tôi bằng những tiếng “không” quả quyết, nếu có làm theo
lời tôi, cô chỉ làm một cách miễn cưỡng với một vẻ nghi ngờ khinh bỉ.
Nhưng sau đó cô tỏ ra chú ý đến những đề nghị đưa ra, tìm cách đưa ra một
vài ý tưởng. Nhớ lại vài kỷ niệm, và sau cùng, sau một công việc suy tính
kỹ càng, cô chấp nhận mọi lời giải thích của tôi. Trong khi chữa chạy, cô
dần dần tỏ ra không quá kỹ lưỡng trong lễ nghi nữa, và khi chữa chạy xong
cô bỏ hẳn không làm những lễ nghi đó nữa. Công việc của chúng ta không chú
trọng đặc biệt đến từng triệu chứng một, thỉnh thoảng chúng ta phải bỏ một
vài giả thiết vì chắc chắn sau này lại phải quay lại vấn đề đó bằng con
đường khác. Cho nên những điều giải thích về các triệu chứng đem trình bày
cho các bạn xem là một tổng hợp những kết quả thu lượm được sau bao nhiêu
tuần lễ, bao nhiêu tháng làm việc cần cù.
Người bệnh dần dần hiểu rằng vì chiếc đồng hồ tượng
trưng cho âm hộ đàn bà nên cô ta không chịu được sự có mặt của đồng hồ
trong phòng. Chiếc đồng hồ đeo tay sở dĩ tượng trưng cho âm hộ là vì tiếng
kêu đều dều, định kỳ. Có nhiều người đàn bà thường nói rằng kỳ kinh nguyệt
của mình đều đều như một chiếc đồng hồ. Nhưng người bệnh sợ nhất là bị mất
ngủ vì tiếng tích tắc, tiếng tích tắc này tường trưng cho sự phập phồng
của âm hạch trong khi bị kích động về dục tình. Chính sự kích động này đã
làm cô gái thức dậy ban đêm, chính vì sợ âm hạch cương lên nên cô ta không
dám để đồng hồ trong phòng. Bình hoa tượng trưng cho cơ quan sinh dục đàn
bà. Do đó sự sợ hãi khi thấy các bình hoa có thể rơi xuống đất và vỡ toang
ra không phải không có ý nghĩa. Các bạn chắc cũng biết thói tục của chúng
ta, trong lễ đính hôn đập vỡ một vài cái đĩa hay bình hoa. Mỗi người dự lễ
đính hôn đều nhặt lấy một mảnh vỡ, coi như mình không có quyền gì liên lạc
với cô dâu nữa. Cô gái có nhiều ý tưởng và kỷ niệm về chuyện cho bình hoa
vào phòng. Dạo còn nhỏ cô ta bị ngã trong lúc ôm trong tay một cái bình
bằng thuỷ tinh hay bằng đất và chảy máu tay rất nhiều. Trở thành con gái,
biết những sự việc liên quan đến việc giao hợp cô ta bị ám ảnh bởi ý nghĩa
là biết đâu trong đêm tân hôn, mình không chảy máu và sẽ bị chồng ngờ là
mất trinh. Vì thế, việc giữ gìn không cho bình hoa vỡ ban đêm chính là sự
phản kháng mất trinh là việc chảy máu sau khi giao hợp lần đầu, phản kháng
lòng sợ hãi không chảy máu cũng như có chảy máu ban đêm. Còn việc ngăn
không cho xảy ra tiếng động không liên quan gì đến những sự việc trên.
Lúc cô ta đột nhiên hiểu tại sao mình không muốn cho cái
gối chạm vào gỗ trên thành giường, cô ta cho tôi biết ý nghĩa của lễ nghi:
cái gối tượng trưng cho người đàn bà, còn thành giường dường thẳng tượng
trưng cho người đàn ông. Cô ta muốn đàn ông xa đàn bà, nghĩa là không muốn
cho cha mẹ giao hợp với nhau. Vì thế nên nàng giả vờ sợ hãi bắt cha mẹ
phải để ngỏ cửa thông sang phòng nàng để nàng có dịp rình mò, chính sự
rình mò này làm nàng mất ngủ trong bao nhiêu đêm. Thỉnh thoảng nàng lại
sang phòng cha mẹ nằm vào giữa hai người. Chính lúc đó là lúc “cái gối” và
“gỗ trên thành giường” xa cách nhau thực sự. Sau này lớn lên không thể nằm
trong giường cha mẹ được, nàng tiếp tục giả vờ sợ hãi, bắt mẹ nhiều khi
sang ngủ bên giường mình. Tình trạng này chắc chắn mở đầu cho nhiều điều
phát minh có dấu vết trong lễ nghi nói trên.
Nếu cái gối tượng trưng cho người đàn bà thì việc dồn
cho lông trong đệm kê chăn về một phía tường trưng cho sự có thai. Người
bệnh sau khi dồn lòng vào một chỗ để tượng trưng cho sự có thai. Ngay sau
đó lại san bằng lông trong đệm là ngụ ý không muốn cho mẹ mình có thai và
sinh ra môt đứa em có thể cạnh tranh với mình. Nếu cái gối to tượng trưng
cho người em thì cái gối chỉ kê ở đầu tượng trưng cho người con. Tại sao
cái gối nhỏ phải để theo hình quả trám. Tại sao đầu người con gái phải đặt
đúng đường chéo của hình đó? Hình quả trám tượng trưng cho dương vật chui
vào âm hộ lúc mở to và đầu người con gái tượng trưng cho dương vật chui
vào âm hộ.
Đó là những điều đáng buồn đối với một cô gái còn trong
trắng, nhưng xin các bạn nhớ cho là tôi không hề bịa ra những chuyện đó,
tôi chỉ giải thích thôi. Lễ nghi của cô gái quả là một điều kỳ lạ, giữa lễ
nghi này và những điều giải thích hẳn phải có một sự tương ứng nào.
Nhưng điều quan trọng là lễ nghi đó không
phải chỉ bắt nguồn ở một ý tưởng kỳ khôi mà ở nhiều ý tưởng tập trung ở
một điểm nào đó. Lễ nghi này cũng hình dung sự ham muốn về tình dục, khi
theo nghĩa tích cực, có tính cách thay thế, khi có nghĩa tiêu cực, như một
phương sách tự bảo vệ.
Sự phân tích lễ nghi nói trên có thể dựa đến nhiều kết
quả nữa nếu chúng ta chú trọng đến những triệu chứng khác của người bệnh,
nhưng những kết quả này không liên can gì đến mục đích của chúng ta. Các
bạn chỉ cần biết là cô gái đối với cha có một tình nhục dục phát sinh ngay
từ hồi còn nhỏ, vì thế nên cô mới tỏ ra không thân thiện với mẹ. Sự phân
tích những triệu chứng đã đưa chúng ta đi sâu vào đời sống tình dục của
người bệnh và một khi đã hiểu rõ ý nghĩa và ý muốn của các triệu chứng
thần kinh này, chúng ta sẽ không ngạc nhiên trước những điều nhận thấy.
Tôi đã trình bày là giống như hành vi sai lạc và giấc
mơ, những triệu chứng bệnh thần kinh cũng có ý nghĩa và liên quan chặt chẽ
đến đời sống thầm kín của người bệnh. Tất nhiên tôi không đòi hỏi các bạn
tin tưởng vào những đề nghị của tôi sau hai thí dụ này. Nhưng các bạn cũng
không thể đòi hỏi tôi đưa ra thực nhiều thí dụ khác cho tới khi nào các
bạn tin tưởng hoàn toàn. Vì có nhiều chi tiết quá nên nếu chúng ta muốn
hiểu rõ một trong các điểm về lý thuyết bệnh thần kinh, tôi phải dành một
lớp học trong sáu tháng mỗi tuần 5 giờ mới dạy xong được. Vì thế nên tôi
dừng lại ở hai thí dụ này thôi. Các bạn muốn khảo cứu sâu rộng hơn nên đọc
những sách vở về điểm này, ví dụ như những công trình giải thích cái triệu
chứng đã trở thành cổ điển của J.B reuer (chứng náo loạn thần kinh), công
trình giải thích những triệu chứng tăm tối của bệnh điên dại trẻ con của
C.G.Jung và những bài đăng trên các tạp chí khác. Những công trình khảo
cứu này không thiếu sót. Sự phân tích, giải thích, dẫn giải những triệu
chứng bệnh thần kinh được các nhà phân tâm học chú trọng đến nỗi họ quên
luôn những vấn đề khác trong vấn đề này.
Các bạn nào muốn tìm hiểu sẽ ngạc nhiên khi thấy sao
nhiều tài liệu thế, nhưng các bạn cũng sẽ gặp một vài khó khăn. Ý nghĩa
của một triệu chứng nằm trong các liên quan với đời sống thầm kín của
người bệnh. Triệu chứng càng có tính cách cá nhân bao nhiêu, chúng ta càng
cần giải thích những liên quan đó bấy nhiêu. Mỗi khi đứng trước một tình
trạng không có ý nghĩa hay trước một hành vi không có mục đích rõ ràng,
chúng ta phải cố tìm ra ý nghĩa và mục đích đó. Hành vi ám ảnh của người
bệnh chạy từ phòng này qua phòng khác rồi bấm chuông gọi người hầu phòngn
thực có tính điển hình cho những triệu chứng này. Nhưng nhiều khi chúng ta
cũng thấy có những triệu chứng có đặc tính khác. Những triệu chứng này
phải được coi như điển hình cho bệnh thần kinh, vì giống nhau trong mọi
trường hợp, sự khác biệt giữa cá nhân bị xoá nhoà đến nỗi chúng ta không
thể gắn liền chúng vào với đời sống cá nhân của người bệnh hay đặt chúng
trước những tình trạng có thực. Lễ nghi của người bệnh thứ hai có tính
điển hình nhiều hơn nhưng cũng có nhiều tính cá biệt làm cho chúng ta có
thể giải thích được lịch sử của trường hợp đó. Nhưng tất cả những người bị
ám ảnh đều có khuynh hướng lặp đi lặp lại một cử chỉ, làm cho cử chỉ này
thành nhịp nhàng, tìm cách tách bạch cử chỉ đó ra. Phần lớn bọn họ có thói
quen rửa tay. Những người bệnh sợ ra phố, không phải là những sự ám ảnh,
có thể coi như những chứng náo loạn thần kinh, hay sự lo âu phập phồng,
thường lặp đi lặp lại mãi mãi một vài cử chỉ đến chán nản: sợ những nơi tù
túng, những nơi ở ngoài trời rộng, những đường phố dài ngoằng mãi không
hết. Họ có cảm tưởng được che chở khi đi cùng một người quen hay nghe
tiếng xe đằng sau lưng. Nhưng đằng sau những triệu chứng chung này, mỗi
người đều có những tính cá biệt nhiều khi hoàn toàn trái ngược nhau. Có
người sợ đường phố chật hẹp, người khác sợ đường phố rộng, có người chỉ đi
ra ngoài khi có ít người qua lại, có người chỉ đi ra ngoài khi có nhiều
người ngoài phố. Sự náo loạn thần kinh cũng thế tuy có nhiều điểm cá biệt
nhưng cũng có nhiều điểm điển hình có tính cách chung làm cho rất khó tìm
ra cội rễ khi khảo sát lịch sử của người bệnh. Chúng ta dựa vào những tính
cách điển hình có thể đoán bệnh. Nếu trong một trường hợp náo loạn thần
kinh chẳng hạn, chúng ta có thể gán cho một trường họp điển hình một biến
cố cá biệt nào đó, ví dụ như một sự nôn oẹ vào nhiều sự nôn oẹ khác, chúng
ta sẽ bị lạc hướng khi sự phân tích cho thấy trong một trường hợp khác sự
nôn oẹ lại bắt nguồn ở một biến cố cá nhân có tính cách khác hẳn. Lúc đó
chúng ta sẽ phải công nhận rằng những sự nôn oẹ do sự náo loạn thần kinh
gây ra có những nguyên nhân mà chúng ta không biết, vì những sự kiện do sự
phân tích đưa ra chỉ là những duyên cớ bị lợi dụng khi cần đến.
Vì thế cho nên chúng ta đi đến kết luận nản lòng là nếu
nhớ những sự kiện và biến cố sống động đối với người bệnh, chúng ta đã đi
đến một vài sự giải thích thoả đáng về ý nghĩa các triệu chứng thần kinh,
về phương diện cá nhân thì chúng ta đã không tìm được ý nghĩa của những
triệu chứng điển hình xảy ra luôn luôn. Ngoài ra tôi cũng chưa đưa ra cho
các bạn xem được hết những khó khăn gặp phải mỗi khi muốn phân tích thực
rõ ràng những triệu chứng. Tôi sẽ không nói đến nhiều sự khó khăn đó không
phải vì muốn cho công cuộc của mình có vẻ tốt đẹp nhưng chính vì không
muốn làm loạn óc các bạn trong buổi đầu tiếp xúc này. Chúng ta chỉ mới đi
những bước đầu chập chững trong công việc tìm hiểu ý nghĩa của các triệu
chứng, chúng ta phải tạm hài lòng với những kết quả thu lượm được và chỉ
tiến dần về phía những điều chưa biết. Tôi an ủi các bạn bằng mọi cách nói
rằng, giữa những triệu chứng nói trên không thể nào có sự khác biệt dược.
Nếu những triệu chứng cá nhân chắc chắn phụ thuộc vào những biến cố sống
động của người bệnh thì những triệu chứng điển hình cũng phụ thuộc vào
những biến cố điển hình, nghĩa là chung cho mọi người. Những tính chất
khác tìm thấy đều đều trong các người bệnh chỉ là những phản ứng tổng quát
thường xảy ra đối với người bệnh, ví dụ như những sự lặp đi lặp lại một cử
chỉ nào đó và lòng đa nghi trong triệu chứng bị ám ảnh. Tóm lại chúng ta
chẳng có lý do gì để nản lòng trước khi biết được những kết quả thu lượm
được về sau này.
Trong thuyết về giấc mơ chúng ta cũng gặp những khó khăn
tương tự. Nội dung rõ ràng của giấc mơ cũng có sự khác biệt cá nhân to
lớn, chúng ta đã trình bày là sự phân tích giúp được cho ta những gì chứa
đựng trong nội dung đó. Nhưng cạnh những giấc mơ cá nhân có những giấc mơ
điển hình xảy ra giống nhau hoàn toàn đối với mọi người. Đó là những giấc
mơ có nội dung đồng nhất rất khó giải thích: ví dụ như người ta nằm mơ
thấy mình bị ngã, bay lên, lượn đi lượn lại, bơi lội, thấy mình bị ngăn
trở hay trần truồng, và nhiều giấc mơ hồi hộp lo âu khác có thể giải thích
nhiều cách khác nhau tuỳ theo từng người, nhưng không giải thích được tại
sao nó lại có tín cách điển hình và đều đều chán nản như thế. Trong những
giấc mơ này cũng như trong chứng bệnh thần kinh điển hình chúng ta thấy có
những chi tiết cá nhân, thay đổi luôn luôn, nếu mở rộng quan niệm này ra
chúng ta có thể đưa chúng vào khung cảnh của những giấc mơ khác mà không
cần làm một điều gì mạnh mẽ cả.
18. Vô thức có thể coi như một
tác động gây thương tích
Trong những dòng trên tôi đã nói với các bạn rằng tôi
không muốn dùng làm khởi điểm cho công trình khảo sát của chúng ta những
điểm nghi ngờ mà là những dữ kiện chúng ta đã đạt được. Hai câu chuyện
phân tích trong phần trên có những kết quả rất hay mà tôi chưa nói đến.
Thứ nhất: cả hai người bệnh đều cho ta cảm tưởng là họ
bị ràng buộc vào một mảnh đời quá khứ của họ. Họ không thể tách rời ra
khỏi quá khứ đó cho nên không để ý gì đến hiện tại cũng như tương lai. Họ
chìm sâu vào căn bệnh của họ cũng như những người muốn vào nhà tu kín để
trốn tránh số mệnh không đẹp đẽ. Đối với người bệnh thứ nhất nguyên nhân
của mọi điều đau khổ chính là sự bất lực của ông chồng trong đêm tân hôn.
Chính trong những triệu chứng của căn bệnh hiện rõ ra ngoài mà ta thấy rõ
bà làm như thế nào trong công việc phán đoán thái độ của chồng: Những lời
gỡ tội cho chồng, tha thứ cho chồng, nâng chồng lên cao, rồi tiếc rẻ vì
mất chồng. Dù hãy còn trẻ, hãy còn giữ được tuổi xuân, bà dùng đủ mọi cách
thực tế hay tương tượng để trung thành với chồng. Bà không tiếp người lạ,
không để ý đến cách ăn mặc, ngồi xuống ghế rồi mà không đứng lên được một
cách dễ dàng, ngập ngừng khi phải ký tên, không thể tặng cho ai một vật gì
cả, muốn chứng tỏ rằng bà ta không thể cho người khác một thứ gì của mình.
Đối với người bệnh thứ hai, nguyên nhân là mối tình thắm
thiết đối với người cha trong tuổi dậy thì rồi kéo dài mãi về sau. Cô gái
đi đến kết luận là không thể lấy chồng một khi chưa khỏi bệnh. Nhưng chúng
ta có đủ lý do rằng, chính vì muốn ở gần cha và không muốn lấy chồng nên
cô ta mới bị mắc bệnh.
Chúng ta phải tự hỏi bằng cách nào và bằng đường lối nào
người ta có thể có một thái độ hết sức kỳ lạ và bất lợi như thế đối với
cuộc đời; giả dụ như thái độ đó là một đặc tính chung cho mọi thứ bệnh
thần kinh chứ không riêng cho hai người bệnh này. Quả đó là một đặc tính
chung cho mọi bệnh thần kinh có một tầm quan trọng rất cao trong thực tế.
Người bệnh náo loạn thần kinh của Breuer bị ám ảnh ngay trong thời kỳ
người cha bị chết và cô ta bị ốm nặng. Dù đã khỏi bệnh cô ta cũng gần như
không còn muốn sống nữa; dù sức khỏe đã trở lại bình thường cô ta cũng
không muốn sống như những người đàn bà khác. Phân tích kỹ những triệu
chứng và những hậu quả của trường hợp từng người bệnh, chúng ta thấy rằng
người nào cũng quay về dĩ vãng. Trong phần lớn trường hợp họ thường chọn
một thời kỳ rất sớm của đời họ, những năm đầu tiên của tuổi ấu thơ, có khi
ngay cả thời kỳ còn bú sữa.
Những người mắc bệnh thần kinh vì bị thương trong trận
chiến vừa qua cũng tương tự như những người bệnh của chúng ta trong những
thí dụ trên. Trước chiến tranh cũng có nhưng trường hợp tương tự như thế
xảy ra sau những tai nạn xe lửa hay những tai nạn ghê gớm khác. Tuy nhiên
những người bị bệnh thần kinh vì bị thương cũng không thể đem so sánh với
những người bệnh bị thần kinh tự nhiên như những người nói trên. Chúng ta
chưa thể xếp họ vào loại đó, tôi hy vọng là một ngày kia sẽ có điều muốn
nói với các bạn về họ. Nhưng hai loại người bệnh này giống nhau hoàn toàn
ở điểm này: cả hai bị bệnh vì bị thương hay vì tự nhiên đều trở về thời kỳ
tai nạn xảy ra, làm cho họ bị thương. Trong giấc mơ họ thường sống lại
cảnh đó: trong những trường hợp bị lên cơn động kinh cơn nào cũng làm cho
họ quay trở lại thời kỳ đó. Người ta có thể cho rằng những người bệnh
không sao quên được tình trạng bị thương đó và tình trạng này lúc nào cũng
như đứng sừng sững trước mặt họ như một công việc hiện thời, cấp bách;
quan niệm này đối với chúng ta quan trọng vì nó mở đường cho một quan niệm
kinh tế về những sự hoạt động tinh thần. Ngay chữ bị thương cũng
chẳng có nghĩa gì khác hơn là một nghĩa kinh tế. Chúng ta gọi bằng danh từ
đó một cách biến cố trong một thời gian ngắn đem lại cho đời sống tinh
thần một số kích động quá nhiều khiến cho ta không thể dùng những phương
sách thông thường để gạt bỏ được chúng, và hậu quả của tình trạng này là
gây ra những sự rối loạn lâu dài trong việc sử dụng nghị lực của con
người.
Sự tương tự này khuyến khích chúng ta gọi những biến cố
sống động của những người bệnh của chúng ta là những biến cố gây xúc động.
Do đó chứng bệnh thần kinh có một tính cách rất giản đơn: chứng bệnh thần
kinh có thể được đồng hóa với một vết thương và giải thích được bằng cách
cho rằng người bệnh không đủ khả năng phản ứng với một biến cố tinh thần
có tính cách tình cảm sâu đậm một cách bình thường. Đó chính là điều
Breuer và tôi đã công bố năm 1893 - 1895 trong một công thức đầu tiên tóm
tắt những kết quả đạt được sau những công trình khảo sát mới. Trường hợp
đàn bà sống xa chồng phù hợp với quan niệm này. Vết thương tinh thần do sự
bất lực của ông chồng gây ra chưa thành sẹo nên bà ta luôn luôn nhớ lại
vết thương này. Nhưng ngay trong trường hợp thứ hai người con gái có cảm
tình thắm thiết với người cha quan niệm của chúng ta đã có điều gì không
dễ hiểu. Trước hết, lòng thương của một đứa con gái đối với cha là một
việc rất thường xảy ra và là một tình cảm rất dễ bị chế ngự cho nên danh
từ bị thương có vẻ như không có nghĩa gì; sau nữa, tình cảm này lúc đầu
chẳng có tác dụng gì tai hại và chỉ xuất hiện sau khi bị bệnh thần kinh
thôi. Do đó chúng ta phải cho rằng sự thực phức tạp hơn chúng ta tưởng
nhưng dù sao cũng không phải vì những lẽ đó mà quan niệm về vết thương của
chúng ta không có giá trị: nó sẽ có một địa vị khác và chịu những điều
kiện khác.
Vì thế chúng ta rời bỏ con đường chúng ta đi. Trước hết,
con đường này không dẫn chúng ta đi xa và chúng ta còn phải học hỏi nhiều
trước khi biết nó dẫn ta đi đâu. Về việc quay trở lại một thời kỳ trong
quá khứ, chúng ta còn một nhận xét nữa là sự kiện này vượt qua giới hạn
của bệnh thần kinh. Bệnh thần kinh quả có những sự quay trở về như thế
nhưng không phải sự quay trở về nào cũng gây ra bệnh, không đồng hóa với
bệnh và không len lỏi vào trong đời người bệnh. Một thí dụ trong sự trở về
này có thể tìm thấy trong nỗi buồn làm cho người ta rời bỏ hẳn quá khứ vào
tương lai. Nhưng sự buồn rầu khác hẳn bệnh thần kinh. Nhưng trái lại cũng
có những bệnh thần kinh được coi như hình thức bệnh hoạn của sự buồn rầu.
Cũng có khi sau một biến cố làm rung chuyển cả đời họ,
nhiều người thất vọng đến nỗi không còn nghĩ gì đến hiện tại và tương lai
nữa, chỉ chú trọng đến quá khứ thôi. Nhưng không phải vì thế mà họ là
những người mắc bệnh thần kinh. Cho nên dù vấn đề bị thương có quan trọng
và xuất hiện luôn luôn như thế nào chăng nữa chúng ta cũng sẽ không dùng
nó để biểu thị bệnh thần kinh.
Thứ hai: kết quả của công trình khảo cứu không có giới
hạn về sau. Nói về người bệnh thứ nhất chúng ta đã trình bày là cử chỉ bị
ám ảnh của bà ta không có ý nghĩa gì và bà ta đã gắn liền vào đó những kỷ
niệm thầm kín của cuộc đời. Chúng ta đã nghiên cứu những liên quan giữa cử
chỉ này và những kỷ niệm kia rồi dựa theo tính chất của những kỷ niệm này
để tìm ra ý muốn của cử chỉ kia. Nhưng lúc đó chúng ta đã gạt ra ngoài một
chi tiết đáng được chú ý. Trong khi người bệnh làm những cử chỉ ám ảnh như
thế, bà ta không hề biết gì về biến cố phát sinh ra cử chỉ đó. Liên quan
giữa những điều bà ta làm biến cố ra sao bà ta không hề hay biết, bà đã
nói thực khi nói rằng bà ta không rõ nguyên nhân nào đã thúc đẩy mình làm
việc đó. Thế rồi bị ảnh hưởng bởi phương pháp trị bệnh, một ngày kia bà
biết rõ liên quan đó và nói cho chúng ta nghe. Nhưng bà ta vẫn không biết
gì về nguyên nhân của cử chỉ dó: đối với bà ta chỉ có vấn đề sửa chữa một
biến cố đáng buồn trong quá khứ và nâng chồng lên một bậc cao hơn. Chỉ sau
một sự chữa chạy lâu dài bà mới biết được lý do đó chính là lý do độc nhất
khiến cho bà đã có những hành động ám ảnh nói trên.
Chúng ta đã dựa vào quang cảnh trong nhà sau đêm tân hôn
và những nguyên nhân thúc đẩy người bệnh do lòng yêu chồng gây nên để tìm
ra ý nghĩa của cử chỉ ám ảnh. Trong khi làm những cử chỉ đó, người bệnh
không hề biết đến ý nghĩa, nguồn gốc và mục đích của những cử chỉ đó. Vậy
có nghĩa là trong người bệnh có cả một sự hoạt động tinh thần mà cử chỉ ám
ảnh chỉ là hậu quả. Bà cũng cảm thấy hậu quả này nhưng không một điều kiện
tinh thần nào đã xâm nhập được vào ý thức của bà. Bà ta hành động giống
như anh chàng bị thôi miên nhận lệnh của Bernheim phải mở một cái dù trong
phòng trình diễn, năm phút sau khi tỉnh dậy, đã tuân lệnh mà không biết
tại sao mình làm thế. Khi chúng ta nói đến những hoạt động tinh thần vô
thức, chúng ta đã nghĩ đến tình trạng vừa nói. Chúng ta thách bất cứ ai có
thể khảo sát tình trạng đó một cách đúng nguyên tắc khoa học hơn chúng ta
vì nếu họ làm được chúng ta sẽ hủy bỏ quan niệm về những sự hoạt động tinh
thần vô thức. Cho đến khi đó chúng ta sẽ bỏ ngoài tai mọi lời bài bác cho
rằng vô thức không có thực theo nghĩa khoa học của chữ này, và đó chỉ là
một cách nói cho hay mà thôi. Lời bài bác này không có giá trị gì vì cái
vô thức mà họ cho là không có thực lại có những kết quả rất thực và nhận
thấy được sự ám ảnh.
Tình trạng của người bệnh thứ hai cũng giống như thế. Cô
ta đã tạo ra một nguyên tắc theo đó cái gối không được chạm vào gỗ trên
thành giường rồi theo nguyên tắc đó mà không hiểu nó bắt nguồn ở đâu, có
nghĩa gì và do động lực nào thúc đẩy. Dù cô ta có phản kháng dữ dội đến
đâu chăng nữa, hay không thèm để ý đến nguyên tắc đó, hay tìm cách làm
trái lại, đều không ảnh hưởng gì đến việc phải cử hành đúng theo nguyên
tắc đã đặt ra. Cô ta bị bắt buộc phải theo và tha hồ tự hỏi tại sao mình
lại làm như thế. Trong những triệu chứng của sự ám ảnh, trong cách phát
biểu và thúc đẩy đột nhiên hiện ra không ai biết từ đâu tới, chống lại ảnh
hưởng của đời sống bình thường, xuất hiện như những người khách lạ đầy đủ
quyền hành, như những người bất tử có mặt trong cuộc đời ồn ào của người
thường, làm sao không nhận ra rằng đó là dấu vết của một vùng nào đặc biệt
trong tinh thần, một vùng sống riêng biệt đối với các vùng khác, với mọi
hoạt động và biểu thị của đời sống bên trong. Những triệu chứng, biểu thị
và thúc đẩy đó làm cho chúng ta chắc chắn rằng có một vô thức tinh thần,
và môn thần kinh học vì chỉ biết có một tâm lý hữu thức thôi nên không làm
cách nào khác hơn là tuyên bố rằng biểu thị nói trên chỉ là kết quả của sự
suy nhược. Tất nhiên tự chúng, những sự biểu thị và thúc đẩy này không có
tính cách vô thức, cũng như những cử chỉ ám ảnh cũng không thoát khỏi cảm
giác hữu thức. Những sự biểu thị và thúc đẩy đó sẽ không trở nên những
triệu chứng nếu không xâm nhập vào ý thức. Nhưng những điều kiện tinh thần
mà những biểu thị và thúc đẩy này phải chịu cũng như các tập thể mà sự
giải thích của chúng ta đã xếp chúng vào có tính cách vô thức, ít nhất
cũng cho tới khi chúng trở nên có ý thức nhờ những điều phân tích của
chúng ta.
Những điều nhận thấy trong trường hợp hai người bệnh nói
trên cũng là những điều nhận thấy trong mọi trường hợp bệnh thần kinh
khác; trong mọi trường hợp, người bệnh không hề hay biết gì về những điều
đó cả; bao giờ sự phân tích cũng cho thấy rằng những triệu chứng này chỉ
là kết quả của những hoạt động tinh thần vô thức có thể trở thành hữu thức
với một số điều kiện nào đó. Nếu các bạn thêm tất cả những điều này vào
những điều vừa được trình bày trong đoạn trên, các bạn sẽ hiểu dễ dàng tại
sao môn phân tâm học không thể bỏ qua giả thuyết về sự vô thức và tại sao
chúng ta lại coi sự vô thức như một cái gì đó có thể sờ mó thấy được. Các
bạn cũng hiểu luôn tại sao nhưng kẻ chỉ hiểu biết qua loa về sự vô thức,
chưa hề phân tích sự vô thức bao giờ, chưa hề giải thích một giấc mơ bao
giờ, chưa hề tìm hiểu ý nghĩa của một triệu chứng bệnh thần kinh bao giờ,
những kẻ đó không thể coi được là những chuyên viên. Chúng ta cần nhắc lại
một lần nữa: chỉ một việc có thể dùng sự giải thích để tìm hiểu ý nghĩa
của một triệu chứng bệnh thần kinh cũng đủ là một bằng chứng không phủ
nhận được là sự vô thức quả là một điều có thực và chúng ta cần chấp nhận
sự có mặt của nó.
Nhưng như thế chưa phải là hết. Một phát minh khác của
Breuer mà tôi coi là rất quan trọng cho ta biết nhiều hơn nữa về liên quan
giữa vô thức và những triệu chứng bệnh thần kinh. Không những ý nghĩa của
các triệu chứng này có tính cách vô thức mà giữa vô thức này và sự có mặt
của các triệu chứng có những liên quan có thể thay thế nhau được. Các bạn
sẽ hiểu tôi ngay, cùng với Breuer tôi khẳng định rằng: mỗi khi chúng ta
đứng trước một triệu chứng, chúng ta phải kết luận rằng trong người bệnh
có một vài hoạt động vô thức có chứa đựng ý nghĩa của triệu chứng này. Ý
nghĩa nầy phải vô thức thì triệu chứng mới phát hiện ra được. Những sự
hoạt động tinh thần hữu thức không phát sinh ra những triệu chứng bệnh
thần kinh; một khi những hoạt động vô thức trở thành hữu thức thì những
triệu chứng đó biến mất ngay. Bạn thấy rõ chưa: đó là một phương pháp trị
bệnh, làm cho các triệu chứng biến mất. Chính Breuer đã dùng phương pháp
làm biến mất triệu chứng để chữa khỏi bệnh cho người bệnh bị náo loạn thần
kinh đầu tiên của ông. Ông ta đã tìm ra một kỹ thuật hữu thức hóa những sự
hoạt động vô thức dấu giếm ý nghĩa của những triệu chứng rồi từ đó làm cho
những triệu chứng này biến mất.
Sự phát minh của Breuer là kết quả không phải của lý
luận mà của một sự quan sát thành công với sự giúp đỡ của người bệnh. Các
bạn đừng tìm hiểu sự phát minh này bằng cách kéo nó về một sự phát minh
khác; các bạn hãy chấp nhận nó như một sự kiện căn bản có thể đưa đến sự
giải thích nhiều sự kiện khác. Vì thế nên tôi xin phép các bạn diễn tả sự
phát minh này theo một hình thức khác.
Một triệu chứng được phát hiện để thay thế một cái gì
không phát hiện ra được. Một vài sự hoạt động tinh thần vì không phát
triển bình thường được để đi tới ý thức nên phải phát sinh ra một triệu
chứng. Vậy triệu chứng bệnh thần kinh là kết quả của một sự hoạt động mà
sự phát triển đã bị ngăn chặn làm rối loạn bởi một nguyên nhân nào đó.
Triệu chứng được phát hiện để thay thế hoạt động bị ngăn chặn này và như
thế đã có một sự thay bậc đổi ngôi; khi phương pháp trị liệu hủy bỏ được
liên quan này tức là phương pháp đã đạt được mục đích.
Phát minh của Breuer cho
đến bây giờ vẫn là căn bản của phương pháp trị bệnh bằng phân tâm học.
Đề luận: “những triệu chứng sẽ biến mất một khi các điều kiện vô thức đã
được hữu thức hóa” đã được mọi công trình khảo cứu về sau khẳng định, mặc
dù gặp biết bao nhiêu sự phức tạp kỳ khôi và không chờ đợi nhất trong việc
áp dụng vào thực tế. Phương pháp trị bệnh
của chúng ta là làm sao biến vô thức thành hữu thức, phương pháp đó chỉ
hữu hiệu khi làm được việc đó.
Các bạn đừng lầm tưởng rằng công việc trị bệnh như thế
sẽ dễ áp dụng. Người ta sở dĩ mắc bệnh thần kinh chính vì không biết rằng
bên trong mình có một hoạt động tinh thần nào đó mà đáng lẽ mình phải
biết. Đề luận này làm ta nhớ lại một đề luận khác của Socrate khi ông cho
rằng tội lỗi chính là kết quả của một sự ngu dốt. Một vị bác sĩ không khó
khăn gì không tìm ra dễ dàng những hoạt động tinh thần mà người bệnh không
ý thức được. Cho nên vị bác sĩ phải giải thoát cho người bệnh ra khỏi sự
ngu dốt đó bằng cách nói cho y biết điều mình tìm ra. Vị bác sĩ phải có đủ
khả năng hủy bỏ một phần nào tính cách vô thức của những triệu chứng, còn
về liên quan giữa triệu chứng và biến cố trong đời sống người bệnh thì bác
sĩ làm sao đoán ra được và phải chờ đợi người bệnh cho mình biết. Nhưng về
điểm này, bác sĩ có thể có được tài liệu bằng cách hỏi những người sống
xung quanh người bệnh để biết về những biến cố trong đời người bệnh, cả về
những biến cố mà người bệnh không biết vì xảy ra trong thời thơ ấu. Hòa
hợp hai phương pháp này, bác sĩ có thể trong một khoảng thời gian ngắn đạt
được mục đích định đến, nghĩa là làm cho những hoạt động tinh thần vô thức
trở thành hữu thức.
Kết quả như thế thực hoàn hảo, chúng ta đã đạt được
những kinh nghiệm không chờ đợi. Cũng như theo Molìere có thứ củi này có
thứ củi nọ, có thứ hiểu biết này, cũng như có thứ hiểu biết nọ, và mọi thứ
hiểu biết đều không có giá trị tâm lý như nhau. Sự hiểu biết của bác sĩ
không giống sự hiểu biết của người bệnh và không thể có cùng một hiệu quả.
Nếu bác sĩ nói cho người bệnh điều hiểu biết của mình, bác sĩ không thể
thành công. Hay nói cho đúng hơn, sự thành công của bác sĩ không phải ở
chỗ đã hủy bỏ được những triệu chứng, nhưng là khởi đầu một sự phân tích
mà những dấu hiệu đầu tiên thường do chính những điều mâu thuẫn do người
bệnh cung cấp. Người bệnh biết một điều trước kia không biết, đó là ý
nghĩa của triệu chứng căn bệnh của mình, vậy mà người bệnh cũng không biết
gì hơn trước. Như thế chúng ta thấy rằng có hơn một sự “không biết”. Muốn
biết những điều “không biết” có khác nhau ra sao, cần có những hiểu biết
sâu xa về tâm lý. Nhưng không phải vì thế mà đề luận của chúng ta là:
“những triệu chứng sẽ biến mất một khi ý nghĩa của chúng trở thành hữu
thức” trở thành không đúng. Chỉ có điều là sự hiểu biết phải đặt nền tảng
trên một sự thay đổi bên trong người bệnh, sự thay đổi này chỉ phát hiện
sau một công việc tinh thần theo đuổi một mục đích nhất định. Chúng ta
đứng trước những vấn đề mà sự tập hợp lại sẽ xuất hiện như một động lực
trong công việc cấu thành những triệu chứng.
Và bây giờ tôi hỏi các bạn: điều tôi vừa nói các bạn có
cho là quá tăm tối và rắc rối không? Các bạn có bị lạc hướng khi thấy tôi
rút lại những điều vừa đưa ra, bao quanh những đề luận của tôi bằng mọi
thứ giới hạn, đi vào một chiều hướng này để rồi lại quay theo một chiều
hướng khác không? Tôi tiếc rằng sự việc đã xảy ra như thế. Nhưng tôi quả
không thích đơn giản hóa chân lý, không thấy có gì trở ngại khi trình bày
cho các bạn biết rằng vấn đề của chúng ta có nhiều khía cạnh phức tạp kỳ
lạ, không thấy hại gì khi đưa cho các bạn biết những điều mà bạn chưa thể
dùng ngay trong lúc này. Tôi biết là mỗi sinh viên đều sắp xếp những ý
tưởng của giáo sư theo tiện lợi riêng cho mình, vắn tắt hóa bài thuyết
trình, giản dị hóa và trích ra trong đó những điều mình muốn giữ lại. Tất
nhiên càng có nhiều điều được trình bày bao nhiêu thì những điều được giữ
lại càng nhiều bấy nhiêu. Dù sao tôi cũng hy vọng rằng trong bao nhiêu
điều trình bày, các bạn cũng đã có được một ý niệm khá rõ ràng về phần
chính trong bài thuyết trình của tôi, nghĩa là phần liên quan đến ý nghĩa
của các triệu chứng đến vô thức và đến liên quan giữa vô thức và các ý
nghĩa này. Có lẽ các bạn sẽ hiểu rằng sau
này công trình khảo cứu của chúng ta sẽ hướng về hai điểm sau đây: một
đằng tìm hiểu tại sao loài người lại bị bệnh, trở thành nạn nhân của một
chứng bệnh thần kinh có thể kéo dài suốt đời, và đó là vấn đề trị bệnh;
đằng khác tìm xem triệu chứng bệnh hoạn đã phát triển như thế nào với các
điều kiện của chứng bệnh thần kinh, và đó là vấn đề động lực tinh thần.
Thế nào cũng có những nơi mà hai vấn đề này tiếp giáo với nhau.
Tôi không muốn đi xa hơn nữa nhưng vì còn một chút thì
giờ nên tôi muốn các bạn để ý đến một đặc tính khác trong hai vụ phân tích
nói trên: đó là những lỗ hổng trong trí nhớ hay chứng mất trí nhớ.
Tôi đã nói là công việc của phương pháp trị bệnh
theo lối phân tâm là: biến vô thức, căn nguyên của bệnh thành hữu thức.
Các bạn sẽ ngạc nhiên nếu thấy công thức này có thể được thay thế bằng
công thức sau: lấp hết những lỗ hổng trong trí nhớ, hủy bỏ bệnh mất trí
nhớ. Công thức sau chẳng khác gì công thức trước. Vậy
chứng mất trí nhớ của người bệnh thần kinh giữ một vai trò quan trọng
trong việc phát sinh các triệu chứng. Nhưng suy nghĩ kỹ về trường hợp
người bệnh thứ nhất, chúng ta thấy là va