Phân
tâm học nhập môn
Tác giả:
Sigmund Freud
Dịch giả:
Nguyễn Xuân Hiến
Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội, năm 2002.
Phần thứ hai
GIẤC MƠ
5. Những khó khăn đầu tiên
Một hôm loài người tìm ra rằng những triệu chứng bệnh
hoạn của những người thần kinh không vững, chắc chắn có một ý nghĩa. Đó là
điểm khởi đầu của phương pháp trị bệnh bằng phân tâm học. Trong lúc chữa
chạy người ta thấy rằng các người bệnh thường coi những giấc mơ như những
dấu hiệu chứng bệnh hoạn. Vì thế người ta đồn rằng những giấc mơ đó cũng
có một ý nghĩa gì.
Đáng lẽ phải theo thứ tự lịch sử trong công việc khảo
sát, chúng ta lại bắt đầu bằng cách đi từ dưới lên trên, từ sau ra trước.
Để chuẩn bị cho việc khảo sát các bệnh thần kinh chúng ta tìm hiểu ý nghĩa
của những giấc mơ. Sở dĩ chúng ta có thể đảo lộn trật tự trước sau như thế
là vì giấc mơ không những giúp nhiều trong công việc chuẩn bị khảo sát về
bệnh thần kinh mà giấc mơ còn là một triệu chứng của bệnh thần kinh này.
Đó là một triệu chứng rất tốt vì chúng ta có thể quan sát thấy gần như ở
khắp mọi người kể cả những người sức khoẻ bình thường. Khảo sát những
người khoẻ mạnh bình thường mà nằm mơ, chúng ta cũng thu lượm được những
kết quả như khi khảo sát người mắc bệnh thần kinh.
Chính vì thế nên giấc mơ trở thành đối tượng khảo sát
của môn phân tâm học. Giấc mơ là một hiện tượng tầm thường, một hiện tượng
không được coi là quan trọng, bề ngoài có vẻ chẳng có giá trị thực tế gì,
cũng như những người khoẻ mạnh bình thường, vì thế nên giấc mơ không hiến
cho chúng ta những điều kiện khảo sát có giá trị. Những hành vi sai lạc
không được khoa học để ý đến và mọi người chỉ hơi để ý đến thôi; nhưng dù
sao khảo sát các hành vi sai lạc này chả có gì đáng xấu hổ, người ta có
thể tự nhủ là những hành vi sai lạc cũng có thể hiến cho chúng ta những dữ
kiện để khảo sát những công trình quan trọng hơn. Nhưng khảo sát các giấc
mơ thường được coi như làm một công việc chẳng có ích lợi gì trong thực tế
đã vô ích mà còn bị coi như một trò giải trí đáng xấu hổ nữa, một công
việc phản khoa học chứng tỏ người muốn khảo sát là một người muốn làm một
chuyện thần bí. Làm sao một bác sĩ lại có thể khảo sát về giấc mơ được
trong khi môn bệnh lý thần kinh học và môn thần kinh học hiến cho chúng ta
những hiện tượng đúng đắn hơn nhiều: những cái nhọt bọc trong cơ năng thần
kinh hệ, những sự xuất huyết, những chứng viêm mạn v v...không được! Giấc
mơ là một thứ vô nghĩa không đáng cho chúng ta khảo cứu.
Ngoài ra giấc mơ còn là một thứ gì phản trái hẳn với
những đòi hỏi của khoa học, mà nhà khảo cứu không thể có một yếu tố gì
chắc chắn. Ví dụ như một ý tưởng cố chấp cũng có những giới hạn rõ ràng.
Một người bệnh tuyên bố rầm rĩ: “Tao là Hoàng đế nước Trung Hoa đây”. Chứ
còn giấc mơ! Nhiều khi người ta không kể cho ta nghe giấc mơ nữa. Khi một
người kể cho ta nghe giấc mơ của họ, có gì chứng tỏ rằng những điều anh ta
kể là đúng, rằng trong khi kể anh ta lại không tìm cách phóng đại ra, có
gì chứng tỏ anh ta lại không thêm thắt một vài điều tưởng tượng bởi vì anh
ta không nhớ rõ. Đó là chưa nói đến chuyện nhiều khi người ta không nhớ
lại cả giấc mơ nữa, chỉ nhớ được một vài mảnh vụn chả có nghĩa lý gì. Vậy
mà, người ta tạo lập cả một khoa học tâm lý và một phương pháp trị bệnh
trên những nền móng mỏng manh như thế?
Chúng ta bao giờ cũng nên ghi nhớ những lý luận hơi quá
đáng. Quả là những điều đưa ra để bài bác giấc mơ có đi hơi quá xa.. Người
ta bảo rằng những giấc mơ có một ý nghĩa chả có gì. Thì chúng ta chẳng có
cơ hội để trả lời bài bác tương tự như thế rồi sau khi khảo cứu các hành
vi sai lạc sao? Lúc đó chúng ta đã tự nhủ là những việc quan trọng nhiều
khi cũng được phát hiện bằng những dấu hiệu rất tầm thường. Còn việc giấc
mơ có tính cách mơ hồ thì đó cũng chỉ là một đặc tính như những đặc tính
khác; chúng ta làm sao có thể bắt buộc sự việc phải có những đặc tính mà
chúng ta muốn. Vả lại cũng có những giấc mơ rõ ràng và có giới hạn nhất
định. Ngoài ra chính những nhà thần kinh học cũng khảo sát những hiện
tượng cũng có tính chất mơ hồ như thí dụ những trường hợp có những ý tưởng
cố chấp mà nhiều vị bác sĩ thần kinh học nổi tiếng thường khảo cứu. Tôi
nhớ đến một trường hợp đã gặp trong thời kỳ chữa bệnh. Người bệnh bắt đầu
kể chuyện cho tôi nghe: “ Tôi có cảm tưởng muốn làm hại một sinh vật nào
đó.. Hại một đứa trẻ con! Không phải, hình như là hại một con chó thì
phải. Tôi có cảm tưởng là vừa vứt một con chó xuống sông hay làm gì cho nó
bị đau đớn lắm”. Để sửa chữa tính cách mơ hồ của những giấc mơ, chúng ta
phải nói ngay là chúng ta chỉ coi là những giấc mơ những điều mà người nằm
mơ kể lại cho chúng ta nghe thôi chứ không để ý đến việc người đó có thể
nhớ không kỹ hay sửa đổi những điều anh ta nhớ lại. Sau cùng người ta
không có quyền cho rằng giấc mơ là một hiện tượng không quan trọng. Ai
cũng đều biết có những trường hợp trong đó căn bệnh bắt đầu bằng một giấc
mơ và người bệnh cứ giữ mãi một ý tưởng bắt nguồn trong giấc mơ. Người ta
kể rằng có nhiều nhân vật lịch sử đã tìm thấy trong giấc mơ động lực thúc
đẩy mình làm nên những chuyện to tát. Vì thế chúng ta có thể tự hỏi xem sự
coi khinh các giấc mơ trong giới khoa học bắt nguồn từ đâu?
Tôi cho rằng nó bắt nguồn
ở chỗ ngày xưa người ta lại gán cho những giấc mơ một tầm quan trọng quá
đáng. Ai cũng biết là chúng ta không thể dễ dàng quay trở
lại quá khứ nhưng chúng ta có thể không ngần ngừ gì mà không cho rằng tổ
tiên của chúng ta cách đây hai ngàn năm hay hơn nữa cũng nằm mơ như chúng
ta vậy. Theo chỗ chúng ta biết thì tất cả những dân tộc cổ xưa đều gán cho
các giấc mơ giá trị rất cao và coi những giấc mơ như một thứ gì có thể
dùng được việc, ví dụ như dùng để đoán trước tương lai hay coi đó là một
điềm báo trước một sự gì. Đối với người Hi lạp ngày xưa cũng như đối với
một số người dân tộc Phương Đông, đi đánh trận mà không đem theo những
người chuyên môn giải các giấc mơ là việc không thể có được, cũng như ngày
nay chúng ta đi đánh trận mà không có máy bay trinh sát. Khi Đại đế
Alexandre đi chinh phục mọi nơi, bao giờ ngài cũng đem theo những nhà
chuyên môn giải các giấc mơ nổi tiếng nhất. Trong cuộc tấn công thành Tyr,
trước sức chống giữ mãnh liệt của thành này, nhà vua định không bao vây
nữa, nhưng đột nhiên nằm mơ thấy một con quỷ nhảy nhót điên cuồng. Người
thầy bói đoán rằng đó là một điềm chiến thắng. Vua liền ra lệnh tiếp tục
tấn công và hạ được thành. Dân tộc Etrusques và La Mã tuy có dùng những
phương pháp khác nhau để dự đoán tương lai nhưng cũng dùng những giấc mơ
trong suốt thời gian La Hy. Về vấn đề này chúng ta chỉ còn giữ lại được
một cuốn Artémidore ở Ephesé từ thời Hoàng đế Adrien.
Tại sao nghệ thuật đoán mộng lại suy sụp và những giấc
mơ không còn được tin cậy nữa? Tôi chịu không thể nói cho các bạn nghe
được. Người ta có thể cho rằng học vấn chính là nguyên nhân của sự suy sụp
và coi khinh nó vì Thời trung cổ hãy còn giữ lại được những điều khó hiểu
gấp bội sự đoán mộng. Nhưng sự thực là giấc mơ dần dần trở thành một thứ
mê tín dị đoan chỉ còn được những kẻ vô học để ý đến mà thôi. Mãi tận ngày
nay người ta vẫn hay còn tin tưởng vào giấc mơ để mua vé số. Trái lại khoa
học ngày nay lại càng để ý đến những giấc mơ, nhưng với ý định áp dụng vào
đó những lý thuyết về tâm lý học. Các thầy thuốc coi giấc mơ không phải là
một hoạt động tinh thần nhưng là một sự phát biểu của các sự kích thích về
cơ thể có dính dáng đến tinh thần. Năm 1987, Binz tuyên bố rằng “giấc mơ
là một sự hoạt động của thể xác, chẳng có ích lợi gì nhiều khi còn có tính
cách bệnh hoạn nữa. Đối với linh hồn bao quát và sự bất tử , giấc mơ ở vào
địa vị của một mảnh đất cát đầy cỏ dại , dưới một cái vực nào đó với bầu
không khí trong xanh trên nền trời cao vút”. Maury coi giấc mơ như những
sự nhảy nhót điên cuồng của vũ điệu Saint Guy, trái với những hành động có
trật tự của những con người bình thường. Ngày xưa người ta còn so sánh
những giấc mơ với những thanh âm do một người thông thạo về âm nhạc phát
ra trên phím đàn.
Giải thích tức là tìm những ý nghĩa chưa rõ rệt: nhưng
người ta không thể nói đến chuyện giải thích các giấc mơ khi người ta
khinh chúng như thế. Các bạn hãy đọc trong tác phẩm của Wund, Jodt và các
triết gia khác: tất cả đều chỉ liệt kê những điểm khác nhau giữa giấc mơ
và tình trạng thức, hay chú ý đến những sự phân hoá của các liên tưởng, sự
biến mất của trí óc phê bình, của mọi trí thức và những dấu hiệu tỏ ra
rằng giấc mơ không có giá trị gì hết. Khoa học chỉ đóng góp vào việc tìm
hiểu giấc mơ bằng mỗi một điểm, đó là việc xét ảnh hưởng của những sự kích
động về cơ thể trong khi ngủ đối với nội dung giấc mơ. Một tác giả người
Na uy đã để lại cho chúng ta hai cuốn sách về những thí nghiệm về giấc mơ
liên quan đến các kết quả của sự chuyển động chân tay thôi. Người ta cho
rằng những công trình khảo cứu đó là những công trình có giá trị về giấc
ngủ. Nhưng khoa học sẽ nói thế nào nếu biết rằng chúng ta đang tìm hiểu ý
nghĩa của những giấc mơ? ý kiến của khoa học ra sao thì mình đã biết rồi,
nhưng tôi không hề thấy nản lòng trước ý kiến đó. Một khi các hành vi sai
lạc cũng có một ý nghĩa thì chẳng có gì ngăn cản các giấc mơ cũng có một ý
nghĩa và trong nhiều giấc mơ chúng ta đã thấy là quả thực là chúng có một
ý nghĩa mà khoa học không tìm ra được. Vì vậy chúng ta hãy công nhận làm
của riêng của chúng ta và cái quan niệm của người xưa về các giấc mơ, và
chúng ta hãy đi lại con đường của họ về cách đoán mộng.
Trước hết, chúng ta phải tìm hướng đi cho công việc của
chúng ta và duyệt lại phạm vi của giấc mơ. Vậy giấc mơ là gì? Thực khó trả
lời câu hỏi đó bằng một định nghĩa. Vì thế nên chúng ta sẽ không cố gắng
đưa ra một định nghĩa trong khi không ai là người không biết đến giấc mơ
cả. Nhưng chúng ta phải đưa ra ánh sáng những đặc tính của giấc mơ. Nhưng
tìm đâu ra bây giờ? Trong phạm vi các giấc mơ có biết bao nhiêu thứ. Những
đặc tính cần thiết chúng ta nêu ra sẽ là những đặc tính chung cho mọi giấc
mơ.
Đặc tính chung thứ nhất là chúng ta chỉ nằm mơ khi chúng
ta ngủ thôi. Dĩ nhiên những giấc mơ chỉ là một sự hoạt động của tinh thần
trong khi ngủ, và nếu đời sống tinh thần này có một vài điểm gì giống như
đời sống trong trạng thái thức tỉnh thì trái lại cũng có những điểm khác
với đời sống này. Đó là định nghĩa của Aristote. Giữa giấc ngủ và giấc mơ
có thể có những liên quan chặt chẽ. Nhiều khi chúng ta bị giấc mơ đánh
thức dậy, nhiều khi đang mơ chúng ta đột nhiên tỉnh dậy, hay bị đánh thức
dậy một cách đột ngột. Như vậy tức là giấc mơ là một tình trạng trung gian
giữa giấc ngủ và tình trạng thức tỉnh. Như thế tức là chúng ta lại quay về
với giấc ngủ. Vậy giấc ngủ là gì?
Giấc ngủ là một vấn đề của sinh lý hay của đời sống, đến
nay người ta hãy còn bàn cãi chưa dứt khoát. Chúng ta phải tìm những đặc
tính của giấc ngủ về phương diện sinh lý.. Giấc ngủ là một trạng thái mà
trong đó người ta ngủ không muốn biết gì về đời sống bên ngoài nữa, quyền
lợi của người ngủ thoát hẳn ra thế giới bên ngoài , muốn thoát khỏi sự
kích động của thế giới bên ngoài vào. Tôi đi ngủ khi mệt mỏi vì đời sống
bên ngoài và vì sự kích động đó. Khi đi ngủ tôi bảo đời sống bên ngoài
biết nên để cho tôi yên vì tôi muốn ngủ. Đứa bé con, trái lại lại nói:
“tôi chưa muốn đi ngủ, tôi không mệt, tôi muốn thức nữa”. Vậy khuynh hướng
đời sống của giấc ngủ là sự không thèm để ý đến đời sống bên ngoài nữa.
Đối với thế giới mà chúng ta bị bắt buộc phải bước vào mà không hề muốn,
chúng ta ở vào một trạng thái làm cho chúng ta không thể nào chịu đựng
được một cuộc sống liên tục mãi mãi không ngừng. Vì thế cho nên thỉnh
thoảng ta lại phải ru mình vào trạng thái của chúng ta trước khi ra đời
trong lúc còn đang nằm trong dạ con. Ít nhất trong tình
trạng đó chúng ta cũng tự tạo cho ta những điều kiện của đời sống: nào
nhiệt độ, nào bóng tối, nào sự vắng mặt của mọi sự kích động. Nhiều người
trong chúng ta nằm ngủ co quắp như khi đang còn nằm trong bụng mẹ. Người
ta có thể cho rằng khi đã trưởng thành chúng ta chỉ sống hai phần ba đời
người trong trạng thái trưởng thành thôi còn phần ba kia chúng ta sống như
chưa ra đời. Trong những điều kiện đó, mỗi buổi sáng khi tỉnh dậy chúng ta
có cảm tưởng như vừa mới sinh ra đời vậy. Chúng ta chẳng vẫn thường nói về
trạng thái của chúng ta khi tỉnh dậy rằng chúng ta như một đứa trẻ sơ sinh
sao? Nói như thế thực ra chúng ta có một ý niệm rất sai về đứa bé sơ sinh.
Sự thực là ta phải đồ rằng đứa bé lúc mới ra đời chẳng có gì là dễ chịu
cả. Nói về sự sinh ra đời chúng ta chẳng thường nói là ra ngoài ánh sáng
đó sao?
Nếu giấc ngủ như chúng ta vừa nói thì giấc mơ không thể
là một thành phần trong giấc ngủ mà lại còn là một cái gì rất khó chịu.
Chúng ta thường cho rằng những giấc ngủ không mơ là những giấc ngủ tốt đẹp
nhất, đó mới chính là một giấc ngủ độc nhất thực sự; không có một hoạt
động tinh thần nào được có trong giấc ngủ. Nếu có một hoạt động tinh thần
nào thì tức là chúng ta không thành công trong công việc quay lại trạng
thái của bào thai, chưa rũ bỏ lại được những cái gì còn sót lại trong đời
sống bên ngoài. Giấc mơ không gì khác hơn là những cái gì còn sót lại đó,
và có vẻ như những giấc mơ không có ý nghĩa gì cả. Những hành vi sai lạc,
những hoạt động của tình trạng tỉnh có tính chất khác hẳn. Nhưng khi tôi
ngủ sau khi đã thành công trong việc chấm dứt mọi hoạt động tinh thần
ngoài một dư âm còn sót lại, thì những dư âm này cần gì phải có ý nghĩa.
Dù rằng có ý nghĩa thì tôi cũng chẳng thể dùng được vào việc gì cả, vì đời
sống tinh thần của tôi đã ngừng lại khi tôi ngủ. Giấc mơ có thể chỉ là
những phản ứng xuất hiện dưới hình thức những sự co quắp, những hiện tượng
tinh thần do sự kích động cơ thể gây nên. Những giấc mơ có thể là những
cái gì còn sót lại của đời sống tinh thần lúc đang thức, những cái còn sót
lại có thể làm cho giấc ngủ không yên; và như thế chúng ta chỉ còn có việc
bỏ rơi vấn đề coi như không thuộc môn phân tâm học.
Dù cho rằng những giấc mơ chẳng có ích lợi gì cả, đó vẫn
là những sự gì có thực mà chúng ta cần cố gắng cắt nghĩa sự có thực này.
Tại sao đời sống tinh thần lại không ngủ nhỉ? Chắc chắn là có một vài sự
gì chống lại giấc ngủ đó. Có lẽ có những sự kích động làm cho đời sống
tinh thần phản ứng lại.
Vậy giấc mơ chính là sự
phản ứng của linh hồn chống lại những sự kích động phát sinh ra trong giấc
ngủ. Đến đây chúng ta đã nhìn thấy một con đường bỏ ngỏ
trong việc tìm kiếm giấc mơ. Chúng ta có thể tìm xem có những kích động
nào đã làm cho giấc ngủ không yên và người ngủ phản ứng lại . Như thế
chúng ta sẽ đưa ra được đặc tính chung thứ nhất cho các giấc mơ.
Ngoài ra còn đặc tính chung nào nữa không? Tất nhiên là
có nhưng khó nắm được và mô tả được. Sự hoạt động tâm lý trong lúc ngủ
khác hẳn trong khi thức. Trong lúc ngủ, người ta chứng kiến những biến cố
mà người ta tin tưởng trong khi thực tế đó có thể chỉ là những sự kích
động cơ thể làm cho giấc ngủ không yên. Người ta nhìn thấy các hình ảnh
nhiều khi có kèm theo những tình cảm, ý kiến và cảm giác do các giác quan
khác hơn là thị giác cung cấp, nhưng dù sao thì những hình ảnh bao giờ
cũng trội hơn. Cho nên khi chúng ta kể lại
một giấc mơ, điều khó cho chúng ta là làm sao diễn tả những hình ảnh đó
thành lời nói. Có nhiều khi một người nằm mơ bảo là: tôi
có thể vẽ lại cho ông xem giấc mơ của tôi chứ tôi không thể kể lại được.
Đó không phải là một hoạt động tinh thần sút kém như trong trường hợp
những người kém tinh thần bên cạnh những người có tài: hình như có một sự
khác biệt về phẩm nhưng không ai biết khác biệt ra sao. G.Th.Fisher cho
rằng sân khấu của giấc mơ khác hẳn sân khấu của tình trạng thức tỉnh. Đó
là một điều chúng ta không hiểu, không biết nghĩ ra sao nhưng cũng biết
diễn tả được cảm giác lạ lùng khi ta nằm mơ rồi thức dậy. Sự so sánh những
hoạt động trong giấc mơ với những thanh âm phát ra từ các phím đàn do tay
của một người không hiểu biết về âm nhạc đối với chúng ta chẳng có ích lợi
gì hết, vì dù không thạo về âm nhạc đi chăng nữa thì trường hợp khi đặt
tay lên phím đàn người ta cũng làm phát ra những thanh âm, và những thanh
âm này không cần du dương cho lắm. Đó là đặc tính chung thứ hai của các
giấc mơ, dù chưa được hiểu rõ.
Còn có những đặc tính chung nào khác nữa không? Tôi
không tìm ra nữa, tôi chỉ thấy những sự khác biệt về mọi điểm: về điểm
thời gian nằm mơ cũng như về tính cách rõ ràng hay không, về vai trò của
các sự xúc động, về sự kéo dài ra.. Theo tôi thì sự việc xảy ra chẳng khác
gì người ta phải chống lại một sự kích động dù là bị bó buộc, dù chỉ có
tính chất chốc lát, giành giật. Có những giấc mơ rất ngắn, có khi chỉ có
một hình ảnh, một tiếng nói; có những giấc mơ rất dài, rất dồi dào, kéo
dài như một cuốn tiểu thuyết. Có những giấc mơ rất rõ ràng chẳng khác gì
đời thực, rõ đến nỗi nhiều khi người ta tự hỏi không biết mình mê hay
tỉnh; có những giấc mơ rất yếu, mơ hồ, mờ mịt, có khi lại rõ ràng lại vừa
mờ mịt, có những giấc mơ có nhiều ý nghĩa, vui vẻ, đẹp đẽ; có những giấc
mơ trái lại loạn xạ, ngớ ngẩn, khó hiểu, ly kỳ. Có khi chúng ta thờ ơ với
giấc mơ nhưng có khi chúng ta thấy cảm động, đau đớn, có khi phát khóc,
xúc động, ngạc nhiên, thích thú... Nhiều giấc mơ bị quên ngay sau khi thức
dậy và nếu có còn được nhớ lại thì cũng mờ dần đi; trái lại có những giấc
mơ mà người ta nhớ mãi, nhất là những giấc mơ trẻ con, đến nỗi ba mươi năm
sau mà còn rõ ràng như vừa mới xảy ra ngày hôm qua. Có những giấc mơ chỉ
xảy ra có một lần; có những giấc mơ xảy đi xảy lại cho một người nhiều
lần, hoặc y nguyên như lần trước, hoặc có thay đổi chút ít. Nói tóm lại,
sự hoạt động của tinh thần này thực ra có rất nhiều hình thức, có khả năng
diễn lại những gì đã xảy ra ban ngày nhưng không bao giờ giống nhau cả.
Chúng ta có thể cắt nghĩa những hình thức khác nhau này
của những giấc mơ bằng cách cho rằng chúng tương ứng với những trạng thái
trung gian giữa giấc ngủ và tình trạng thức tỉnh, hoặc với những giai đoạn
khác nhau của giấc ngủ không hoàn toàn. Nhưng nếu thực như thế thì mỗi khi
giấc mơ càng ngày càng có giá trị hơn, rõ ràng hơn, có nội dung dồi dào
hơn, chúng ta phải cho rằng đó không phải là một tình trạng nửa thức nửa
ngủ mà là một giấc mơ thực sự, bởi vì trong những giấc mơ loại này, đời
sống tinh thần càng ngày càng gần với đời sống tinh thần lúc thức hơn.
Điều cần là những giấc mơ đó phải thực rõ chứ không thể có lúc rõ lúc mờ
hay có lúc hợp lý rồi có lúc lại ngớ ngẩn vô nghĩa. Nếu chúng ta chấp nhận
điều giải thích nói trên tức là chúng ta đã gán cho đời sống tinh thần khả
năng thay đổi tính chất say sưa của giấc ngủ theo một tốc độ và một cách
rõ ràng không có trong thực tế. Vì vậy chúng ta có thể nói rằng cách giải
thích đó không đứng vững được. Thường thường sự việc không đơn giản như
thế.
Bây giờ cho tới khi có quyết định mới, chúng ta sẽ không
tìm hiểu ý nghĩa của những giấc mơ nữa, nhưng sẽ tìm cách hiểu rõ những
giấc mơ bằng cách dựa vào những đặc tính của nó. Nói về liên quan giữa
giấc mơ và giấc ngủ, chúng ta đã nói rằng giấc mơ là một phản ứng đối với
một sự kích động trong giấc ngủ, làm cho giấc ngủ không yên. Đó chính là
điểm độc nhất mà môn Tâm lý học thực nghiệm có thể giúp đỡ chúng ta bằng
cách hiến cho chúng ta bằng chứng rằng những sự kích động xảy ra trong
giấc ngủ cũng xuất hiện trong giấc mơ. Chúng ta có nhiều công trình khảo
sát về vấn đề này kể cả công trình Maury Vold đã nói trong những dòng
trên, và mỗi người chúng ta có thể xác nhận điều đó dựa vào những kinh
nghiệm cá nhân. Tôi đơn cử những thí nghiệm chọn trong những thí nghiệm cũ
nhất. Chính Maury đã thí nghiệm ngay trên bản thân mình. Trong lúc ông ta
ngủ có người cho ông ta ngửi nước Cologne: ông ta mơ thấy mình ở Cario
kinh đô xứ Ai cập, trong tiệm Jean Maria Farina, rồi từ đó phát sinh ra
bao nhiêu chuyện ly kỳ. Người ta bấm nhẹ vào gáy ông: ông luôn mơ thấy một
miếng thuốc dán và đến ông thầy thuốc săn sóc ông trong lúc ông còn nhỏ.
Người ta nhỏ lên trán ông một giọt nước: ông mơ thấy mình ở bên Ý mồ hôi
ra như tắm và uống rượu vang Orvieto.
Điều đáng chú ý trong
những giấc mơ do những sự kích thích gây ra sẽ xuất hiện rõ ràng hơn trong
một loại giấc mơ khác. Đó là ba giấc mơ gây ra do một
tiếng động của một chiếc đồng hồ báo thức (thí nghiệm của Hildebrant).
“Một buổi sáng mùa xuân, tôi đi dạo qua một cánh đồng
đến một làng bên cạnh, thấy dân làng kéo nhau đi nhà thờ, quần áo đẹp, tay
cầm cuốn kinh. Hôm đó là chủ nhật và có dự thánh lễ bắt đầu rồi, tôi quyết
định vào xem lễ nhưng vì trời nóng quá nên tôi ngồi nghỉ trong nghĩa địa
chung quanh nhà thờ. Vừa chăm chú đọc những dòng chữ trên mộ tôi vừa nghe
tiếng người kéo chuông nhỏ sắp gióng lên để báo hiệu là buổi cầu kinh sắp
bắt đầu. Lúc đầu chuông còn đứng im, nhưng sau đó những tiếng chuông lanh
lảnh làm tôi tỉnh giấc. Thì ra chính chiếc đồng hồ bắo thức đã vừa kêu
lên”.
“Một chuyện nữa: Hôm đó là một ngày mùa đông trong sáng.
Tuyết rơi đầy đường, tôi định đi xe trượt tuyết nhưng phải chờ xe. Trước
khi lên xe, tôi phải sửa soạn lại áo ấm, đem lò sưởi theo. Rồi tôi ngồi
vào xe, lại phải chờ nữa cho đến khi ngựa bắt đầu đi. Ngựa bắt đầu đi,
tiếng nhạc vang lên nghe rất khó chịu làm tôi tỉnh giấc. Thì ra lần này
cũng vẫn là cái đồng hồ báo thức lanh lảnh”.
“Thí dụ ba: tôi nhìn cô người làm mang một chồng đĩa từ
bếp theo hành lang vào phòng ăn. Chồng đĩa quá cao, tôi chỉ sợ không giữ
thăng bằng thì vỡ hết. Tôi bảo chị ta nên cẩn thận. Lần nào chị cũng trả
lời là chị quen rồi. Nhưng tôi vẫn nhìn chị ta bằng con mắt e ngại. Quả
nhiên chị vấp ngã, đĩa rơi xuống đất kêu nghe kinh khủng. Nhưng tôi có cảm
tưởng như đó không phải là tiếng đĩa vỡ, nhưng là một tiếng gì kéo dài mãi
như tiếng chuông. Lúc tỉnh dậy, tôi mới thấy đó là tiếng chuông đồng hồ
báo thức”.
Những giấc mơ này thực đẹp, đầy ý nghĩa, có mạch lạc hẳn
hoi. Vì thế nên chúng ta chả có gì trách chúng được. Chúng có đặc điểm
chung là bao giờ cũng kết thúc bằng một tiếng chuông đồng hồ báo thức. Thế
là chúng ta thấy rõ một giấc mơ đã phát sinh ra như thế nào. Nhưng chúng
ta còn biết một vài điểm khác nữa. Người nằm mơ không nhận ra tiếng chuông
đồng hồ báo thức (không có trong giấc mơ) nhưng mỗi lần hễ nghe tiếng
chuông là ông ta thay tiếng chuông bằng một thứ tiếng khác và giải thích
theo một lối khác. Tại sao? Không trả lời được. Người ta có thể cho rằng
đó là một cái gì hết sức võ đoán. Nhưng tìm hiểu một giấc mơ tức là tìm
hiểu xem tại sao người nằm mơ lại chọn tiếng động này chứ không chọn tiếng
khác để giải thích sự kích động làm cho bừng tỉnh dậy. Người ta có thể hỏi
Maury rằng nếu trong giấc mơ người ta thấy rõ ràng sự kích động là sự nào
thì người ta không thể hiểu tại sao sự kích động này lại xuất hiện dưới
một hình thức không liên can gì đến tính chất sự kích động cả? Vả lại
trong những giấc mơ của Maury người ta thấy nhiều biến cố kỳ lạ gắn liền
vào sự kích động như trong trường hợp ngửi nước Cologne, những biến cố này
không thể cắt nghĩa được.
Các bạn cần để ý rằng chính trong các giấc mơ có sự bừng
tỉnh dậy di theo mà chúng ta có thể nhìn thấy ảnh hưởng của những kích
động làm tan giấc mơ. Trong nhiều trường hợp khác sự việc khó khăn hơn
nhiều. Không phải lúc nào nằm mơ người ta cũng tỉnh dậy ngay, và khi sáng
dậy nhớ lại giấc mơ làm sao người ta biết được sự kích động nào đã gây ra
giấc mơ? Có một lần nhờ một trường hợp đặc biệt tôi tìm ra được một sự
kích động âm vang thuộc loại này. Một buổi sáng tại Tyrol tôi tỉnh dậy sau
khi nằm mơ rằng Đức giáo hoàng vừa từ trần. Tôi đang tìm hiểu ý nghĩa của
giấc mơ đó thì bà vợ tôi đột nhiên hỏi: “ Sáng nay anh có nghe tiếng
chuông ở khắp các nhà thờ không?” “Không, tôi không nghe thấy gì hết, tôi
ngủ rất say”. Nhưng sự kích động làm cho mình nằm mơ có tần số nào mà sau
đó người nằm mơ tỉnh dậy không hề hay biết gì về sự kích động đó? Tần số
này có thể rất cao mà cũng có thể không cao. Khi không có cách nào để biết
được có kích động hay không thì không làm sao biết được tần số đó. Vả lại
chúng ta chẳng cần thảo luận về giá trị của các sự kích động bên ngoài,
bởi vì những sự kích động này chỉ có thể cắt nghĩa được một phần nào trong
giấc mơ thôi chứ không cắt nghĩa toàn thể giấc mơ.
Nhưng không thể vì thế mà chúng ta có quyền bỏ rơi
thuyết này, một thuyết có phát triển sâu rộng. Vấn đề tự hỏi xem nguyên
nhân nào làm cho giấc ngủ không yên và làm cho người ta nằm mơ không phải
là vấn đề quan trọng. Nếu nguyên nhân không phải là một sự kích động từ
bên ngoài thì có lẽ là một sự kích động từ bên trong do giác quan gây nên.
Quan niệm này được người dân thành phố tin tưởng rất nhiều. Chúng ta chẳng
thường nghe nói rằng những giấc mơ thường do bao tử gây nên hay sao? Nhưng
khổ nỗi là trong trường hợp này nữa có thể rằng có một sự kích động nội
tâm xảy ra trong ban đêm nhưng sáng ra không còn để lại dấu vết gì nữa và
do đó không chứng minh được. Tuy vậy chúng ta không muốn tỏ vẻ lơ là vối
những thí nghiệm cho rằng những giấc mơ thường gắn liền với những sự kích
động bên ngoài. Không ai phủ nhận rằng trạng thái của các cơ quan nội tâm
có ảnh hưởng đến các giấc mơ. Người ta không thể bỏ qua sự liên quan giữa
một vài giấc mơ với việc nước tiểu chất đầy trong bàng quang hay sự kích
động các cơ quan sinh dục của phụ nữ. Từ những trường hợp rõ ràng này
người ta qua những trường hợp khác chứng tỏ rằng
những sự kích động bắt nguồn từ các cơ quan nội thể
quả có ảnh hưởng tới các giấc mơ và những sự xảy ra trong giấc mơ chính là
sự phác hoạ, sự thành hình, sự giải thích những sự kích động đó.
Scherner đã khảo cứu nhiều về các giấc mơ, đặc biệt nhấn
mạnh đến sự liên quan giữa những sự kích động nội thể này và những giấc
mơ. Ông đã cho chúng ta nhiều thí dụ rất hay để chứng minh ý kiến của
mình. Ví dụ như khi ông ta nằm mơ thấy hai hàng em bé xinh trai tóc nâu,
đứng trước mặt nhau trong thái độ đấu tranh, nhảy xổ vào đánh nhau, ông
nghĩ rằng đó là hai hàm răng. Sự giải thích này được xác nhận sau đó vì
khi tỉnh dậy ông đã phải đi nhổ một cái răng dài hơn những cái khác. Khi
người ta nằm mơ thấy một hành lang dài, ngoằn nghèo chật hẹp thì người ta
nghĩ ngay đến một sự kích động trong ruột. Cách cắt nghĩa này không phải
là không có lý. Chúng ta có thể chấp nhận ý kiến của Scherner cho rằng
giấc mơ thường hình dung cơ quan gây ra sự kích động bằng những đồ vật
giống cơ quan đó.
Vì thế chúng ta không công nhận rằng những sự kích động
nội thể có thể ảnh hưởng tới các giấc mơ y như những sự kích động từ bên
ngoài vào. Khổ một điều, sự giải thích đó cũng bị lý lẽ như đối với những
sự kích động bên ngoài bài bác. Trong rất nhiều trường hợp sự giải thích
bằng sự kích động bên trong không chứng minh được và không chắc chắn. Chỉ
có một vài giấc mơ làm cho người ta nghi rằng có một sự kích động bên
trong cũng như bên ngoài chỉ cắt nghĩa được một phần nào giấc mơ chứ không
cắt nghĩa được toàn thể.
Tuy nhiên chúng ta cần để ý đến một điểm đặc biệt của
những giấc mơ do sự kích động bên trong gây nên.
Giấc mơ không gợi lại sự kích động nguyên vẹn mà
thay đổi đi, bằng một sự ám chỉ xếp loại dưới một hình thức nào đó, thay
thế bằng một sự kích động khác. Chúng ta phải để ý đến
những sự biến dạng đó trong những giấc mơ tiếp diễn, bởi vì làm như thế
chúng ta có nhiều hy vọng hiểu được tính chất thực sự của các giấc mơ. Khi
chúng ta làm một hành động nào đó trong một trường hợp nào đó, đâu có phải
khi trường hợp đó không có nữa thì hành động của chúng ta bị triệt tiêu
luôn. Vở Macbeth chẳng hạn được viết trong trường hợp đăng quang của một
ông vua đầu tiên quy tụ trên đầu mình ba vương miện của ba nước. Nhưng có
phải trường hợp triệt tiêu hết nội dung của vở kịch đâu, có phải trường
hợp đó đủ cắt nghĩa được giá trị cao cả của những bí ẩn của vở kịch không?
Có thể là sự kích động bên trong và bên ngoài tác dụng đến người nằm ngủ
chỉ dùng để mở đầu cho giấc mơ thôi chứ không hề cho chúng ta biết gì về
tính chất thực sự của nó.
Tính chất chung kia của các giấc mơ, tính chất đặc biệt
tinh thần của chúng rất khó hiểu và không đưa ra một chỗ dựa nào cho một
cuộc khảo sát sau đó. Thường thường những biến cố trong giấc mơ hiện ra
dưới hình thức thị giác. Những sự kích động có thể giải thích được sự kiện
này không? Có đúng là chúng ta đã bị kích động trong mơ hay không? Nhưng
tại sao giấc mơ lại xuất hiện dưới hình thức thị giác trong khi những sự
kích động vào mắt lại rất ít khi gây nên giấc mơ? Hay là chúng ta nằm mơ
thấy nói chuyện hay nghe diễn văn làm sao chứng minh được rằng trong khi
ta ngủ những tiếng nói chuyện hay tiếng động đã đập vào tai ta? Tôi cương
quyết gạt bỏ giả thuyết này.
Nếu đặc tính chung cho mọi giấc mơ không giúp gì cho
chúng ta trong việc cắt nghĩa các giấc mơ thì biết đâu chúng ta lại chẳng
may mắn hơn khi xét đến các sự khác biệt giữa các giấc mơ. Thường thường
các giấc mơ lộn xộn, khó hiểu , không có ý nghĩ gì; nhưng cũng có những
giấc mơ đầy đủ ý nghĩa, rõ ràng. Chúng ta thử xem xét những giấc mơ này có
cắt nghĩa được giấc mơ kia không? Tôi kể cho các bạn nghe một giấc mơ hợp
lý do một thanh niên kể lại cho tôi nghe: “Trong lúc đi dạo phố tôi gặp
ông X và đi với ông một quãng đường, rồi sau đó tôi vào một tiệm để ăn cơm
thấy có hai người đàn bà và một người đàn ông đến ngồi ngay vào bàn tôi.
Tôi bực mình không thèm nhìn họ nhưng rồi sau cũng nhìn và thấy họ là
những người rất lịch sự”. Sau đó người kể chuyện nói rằng chiều hôm đó anh
ta quả có đi phố thực và có gặp ông X.. thực. Nhưng phần kia giấc mơ không
do những điều nhớ lại trực tiếp nhưng gắn liền vói một biến cố xảy ra
trước đó ít ngày. Và đây là một giấc mơ cùng loại của một bà. Chồng bà ta
hỏi: “Mình có cần phải căng lại dây cho cái đàn dương cầm không?” Bà ta
trả lời: “Vô ích, vì còn phải thay cả da bọc nữa”. “Giấc mơ này gợi lại
một câu chuyện của hai vợ chồng buổi chiều hôm đó. Hai giấc mơ ngắn ngủi
cho ta biết những gì? Chúng ta có thể tìm thấy trong giấc mơ những giai
đoạn gắn liền vào các biến cố đó. Nếu đó là kết quả của tất cả các giấc mơ
thì đó là điều đáng kể lắm rồi. Nhưng sự thực không phải như thế vì điều
chúng ta vừa nói chỉ áp dụng cho rất ít giấc mơ.
Trong đa số trường hợp chúng ta không thấy có ý
nghĩa gì liên quan đến biến cố xảy ra trong khi thức và không hiểu những
yếu tố nào gây nên những giấc mơ khó hiểu và vô nghĩa đó.
Chúng ta chỉ thấy rằng chúng ta lại đứng trước một vấn đề mới. Không những
chúng ta cần biết giấc mơ có những ý nghĩa gì, chúng ta còn cần biết là
trong những trường hợp nào những giấc mơ rõ ràng đầy ý nghĩa, tại sao và
vi mục đích nào mà chúng ta lại thấy trong giấc mơ những biến cố vừa xảy
ra trong ngày”.
Chắc các bạn cũng như tôi thấy chán nản trong công việc
khảo cứu như thế. Dù chúng ta có để hết tâm trí vào một vấn đề cũng chẳng
có ích gì một khi chúng ta chưa biết hướng công cuộc khảo cứu của chúng ta
về phía nào. Tâm lý học thực nghiệm chỉ hiến cho chúng ta một số rất ít
những dữ kiện về vai trò của các sự kích động bên ngoài dù những dữ kiện
đó rất quý báu đối với chúng ta. Triết học chẳng có thể cung cấp cho cái
gì khác hơn là thái độ khinh thường vì công việc của chúng ta bị coi chẳng
có lợi ích gì cho tri thức hết. Sau hết chúng ta không muốn vay mượn gì
các khoa học thần bí. Lịch sử và sự không ngoan của các dân tộc dạy chúng
ta rằng những giấc mơ có ý nghĩa, có tính chất quan trọng, báo trước được
tương lai nhưng đó là điều rất khó chấp nhận vì không chứng minh được.
Chính vì thế mà những cố gắng đầu tiên của chúng ta đã không đưa lại kết
quả gì, như nước chảy qua cầu.
Nhưng trong khi không chờ
đợi, chúng ta lại được giúp đỡ từ một hướng khác đến, một hướng chưa bao
giờ ngờ tới. Tiếng nói, một thứ tiếng không bao giờ có
tính cách ngẫu nhiên cả, như sự kết tinh của tất cả những điều hiểu biết
của loài người, tiếng nói mà người ta phải dùng một cách rất thận trọng
biết có “những giấc mơ trong khi thức”: đó là kết quả của trí tưởng tượng,
những hiện tượng rất phổ thông, có thể xảy ra đối với những người đau ốm
mà bất cứ ai cũng khảo sát được bằng chính bản thân mình. Điềm đặc biệt ở
đây là tuy được gọi là “những giấc mơ trong khi thức”, những giấc mơ đặc
biệt này lại không có tính chất nào chung cho những giấc mơ thực sự cả.
Đúng như tên gọi, chúng không có liên quan gì đến giấc ngủ. Những giấc mơ
trong khi thức này không có một chút gì liên quan đến tính chất chung thứ
hai trong các giấc mơ thực sự vì không hề có những biến cố, không hề có
những ảo tưởng mà chỉ có những hình dung thôi: người ta biết rằng mình
tưởng tượng, người ta không hề trông thấy mà chỉ suy nghĩ thôi. Những giấc
mơ này thường xảy ra ở tuổi dậy thì, trong thời niên thiếu, biến mất khi
đứng tuổi, rồi lại xảy ra lúc tuổi già. Nội dung của những giấc mơ, kết
quả của sự tưởng tượng này thường có những lý do rất rõ ràng. Đó là những
khung cảnh về uy quyền, những ham muốn về tình ái của người mơ mộng được
thoả mãn. Đối với những người trẻ tuổi thì đó là những giấc mơ về tham
vọng; đối với những đàn bà thích có những thành công về tình ái thì đó là
những giấc mơ về tình ái. Nhưng luôn luôn người ta gặp những nhu cầu về
tình ái đằng sau những giấc mơ của đàn ông: những sự thành công và những
hành vi anh hùng của những người mơ mộng đều tập trung vào những sự thành
công về tình ái, có mục đích nhằm đạt được sự thán phục và lòng yêu của
người đàn bà. Ngoài những tính chất đó ra những giấc mơ trong khi hình ảnh
có nhiều hình thức khác nhau và chịu nhiều hậu quả khác nhau. Có những cơn
mộng bị bỏ rơi và bị thay thế bằng những giấc mơ khác; có những cơn mơ
được giữ lại, phát triển mạnh mẽ và trở thành những câu chuyện dài dằng
dặc và biến đổi theo những biến cố của cuộc đời. Người ta có thể cho rằng
chúng ta đi theo cùng với thời gian và in dấu vết của thời gian như là
bằng chứng của những tình trạng mới. Chúng là đề tài cho các tác phẩm thi
văn thường thay đổi, biến hoá các giấc mơ trong khi thức này thành những
trạng thái rồi đặt vào trong các tiểu thuyết, truyện ngắn, hay kịch bản.
Bao giờ người mơ mộng cũng là nhân vật chính trong tác phẩm đó dù xuất
hiện dưới hình thức của chính mình hay dưới hình thức của một nhân vật tạo
nên.
Những giấc mơ trong khi thức này sỡ dĩ được gọi như thế
là vì những sự liên quan với đời thực chúng không có thực hơn gì những
giấc mơ chính thức. Có thể rằng cả hai loại đều được gọi là những giấc mơ
vì cả hai đều có căn bản trên một tính chất tinh thần nào đó mà chúng ta
chưa biết và đang tìm kiếm. Cũng có thể là cái danh từ chung người ta dùng
để gọi chúng chẳng có gì quan trọng đáng chú ý. Đó là tất cả những vấn đề
chỉ được giải đáp trong những phần sau thôi.
6. Những điều kiện và kỹ thuật
của sự giải thích
Như vậy, muốn cho công cuộc khảo sát về giấc mơ tiến
triển, chúng ta phải có một con đường mới, một phương pháp mới. Tôi muốn
đề nghị với các bạn một điều thực giản dị: chúng ta hãy coi những giấc mơ
như những hiện tượng không có tính chất cơ thể mà chỉ có tính chất tinh
thần. Bạn biết điều đó có nghĩa gì, nhưng cái gì đã cho phép chúng ta làm
điều đó? Không có gì hết nhưng cũng chẳng có gì cấm chúng ta. Sự việc như
thế này: nếu giấc mơ là hiện tượng cơ thể thì chúng ta chẳng cần để ý đến
nữa, chúng ta chỉ để ý đến những giấc mơ vì đó là những hiện tượng tinh
thần. Vì vậy chúng ta phải gán cho nó những tính chất tinh thần để xem
công việc khảo cứu của chúng ta sẽ đi đến đâu trong điều kiện đó. Theo kết
quả thu lượm chúng ta sẽ biết là có nên giữ giả thuyết của chúng ta không?
Bởi vì chúng ta định đi tới đâu, mục đích của chúng ta là gì? Mục đích đó
là mục đích của mọi khoa học nói chung: chúng ta muốn tìm hiểu các hiện
tượng, ràng buộc chúng vào với nhau để rồi mở rộng phạm vi quyền hạn của
chúng ta đối với chúng.
Vậy chúng ta tiếp tục công trình khảo cứu bằng cách coi
giấc mơ như một hiện tượng tinh thần. Nhưng trong giả thuyết các giấc mơ
đó như là một cách phát biểu của người nằm mơ, một cách phát biểu không
cho chúng ta biết gì hết, mà chúng ta không hiểu. Ở trường hợp các bạn thì
có thể làm việc gì khi bạn không hiểu gì về tôi cả. Bạn sẽ hỏi tôi phải
vậy không? Vậy tại sao chúng ta không hỏi luôn người nằm mơ? Tại sao chúng
ta không hỏi ngay chính người đó xem giấc mơ của anh ta có nghĩa gì?
Các bạn hãy nhớ rằng, có một lần chúng ta đã ở trong
tình trạng tương tự. Đó là trường hợp một hành vi sai lạc, một trường hợp
lỡ lời. Có một người nói: “ Có những việc đã xảy ra ( Vorschwein
gekommen)”. Chúng ta hỏi anh ta xem anh ta định nói gì trong câu nói vô
nghĩa đó. Anh ta trả lời là ý anh ta muốn nói: “Đó là những trò con heo
(Das waren Schweinrein)” nhưng ý kiến này bị một ý kiến ôn hòa hơn chèn
ép: “ Có những sự việc xảy ra (Vorschein)”. Nhưng ý tưởng thứ nhất bị dồn
ép làm cho anh ta thay chữ Vorchein bằng chữ Vorschwein, một chữ không có
nghĩa gì nhưng diễn tả được ý chê bai của anh ta. Lúc đó tôi đã giảng cho
các bạn nghe rằng, sự phân tích này là điển hình cho công cuộc khảo cứu về
phân tâm học. Và bây giờ thì bạn hiểu tại sao môn phân tâm học lại áp dụng
kỹ thuật giải quyết các điều bí ẩn bằng cách hỏi ngay đương sự. Vì thế,
cho nên đến lượt người nằm mơ phải nói cho chúng ta biết giấc mơ của anh
ta có nghĩa gì.
Tuy nhiên trong giấc mơ không phải là mọi sự đều giản
đơn như thế. Trong các hành vi sai lạc chúng ta đứng trước những trường
hợp đơn giản; rồi sau đó chúng ta phải gặp những trường hợp bớt đơn giản,
khi mà đương sự không muốn nói cho chúng ta nghe gì cả, trái lại còn giận
dữ trước những lời đề nghị của chúng ta. Về các giấc mơ bao giờ anh ta
cũng trả lời không biết gì hết. Anh ta cũng không có ý kiến gì về cách
giải thích của chúng ta vì thực sự chúng ta chẳng có gì đề nghị với anh ta
hết. Có phải vì thế mà chúng ta đành phải bỏ rơi lối giải thích của chúng
ta không? Người nằm mơ không biết gì hết, chẳng có người thứ ba nào cho
chúng ta biết thêm được điều gì, chính chúng ta cũng không có một nguồn
tin tức nào để biết thêm, chúng ta chẳng còn hy vọng được biết điều gì cả.
Đúng vậy, các bạn cứ việc đầu hàng đi theo tôi. Tôi cho rằng có thể người
nằm mơ biết giấc mơ của anh ta có nghĩa gì nhưng vì không biết rằng mình
biết nên cho rằng mình không biết.
Các bạn sẽ cho rằng đây là lần thứ hai tôi lại dùng lại
sự giả dụ và làm như thế tôi giảm giá trị của phương pháp đi nhiều. Điều
giả dụ thứ hai: Trong con người có những hoạt động tinh thần mà anh ta
biết là có nhưng không biết đó là gì... Các bạn sẽ cho rằng những giả dụ
này không thể nào thành sự thực được nên những kết luận của tôi sẽ không
có giá trị gì.
Đúng thế, nhưng tôi không mời các bạn đến đây để giấu
giếm hay phơi bày cái gì hết. Tôi đã báo thức trước rằng đây chỉ là bài
học nhập môn, điều đó không có nghĩa rằng tôi phải hiến cho các bạn các
bài học tường trình thực đẹp che giấu những cái khó khăn, lấp các hố thiếu
sót để làm cho các bạn có cảm tưởng rằng đã học được một chút gì rồi.
Không, chính vì các bạn là những người mới bắt đầu nên tôi phải trình bày
khoa học của chúng ta với nguyên hình của nó, với những cái gì không điều
hòa, cao vọng của nó cũng như những khó khăn. Tôi biết khoa học nào cũng
thế nhất là những khoa học mới bắt đầu. Tôi cũng biết là giáo dục thường
có thói quen che giấu không cho sinh viên biết những khó khăn và những
điều thiếu sót của môn học. Vì vậy, tôi đã đưa ra hai điều giả dụ có liên
quan chặt chẽ đến nhau, nếu các bạn thấy sự việc đó khó nhọc quá, không
vững chắc và nếu các bạn quen với những sự xác thực cao hơn, những sự diễn
dịch đẹp đẽ thì các bạn chẳng nên đi xa hơn nữa. Tôi còn cho rằng các bạn
nên gạt ra một bên những vấn đề tâm lý thì hơn. Bởi vì các bạn sẽ không
thấy con đường chúng ta đang theo đuổi là con đường chắc chắn đáng theo.
Vả lại một khoa học có thể cho nhân loại điều gì đó mà không cần tìm những
kẻ ủng hộ mình. Chính những kết quả sẽ nói nhiều về giá trị của nó, nó có
thể chờ cho những kết quả đó làm cho mọi người chú ý.
Nhưng tôi cần báo trước cho những người muốn theo con
đường tôi đi là hai điều giả dụ của tôi không có giá trị bằng nhau. Đối
với điều thứ nhất, chúng ta sẽ dùng công cuộc khảo cứu để chúng ta chứng
minh rằng giấc mơ là một hiện tượng tinh thần. Còn về điều thứ hai, chúng
ta đã dùng nó trong một công việc khác rồi, chúng ta chỉ còn dùng nó để
giải những bài toán trong vấn đề này.
Ở đâu và trong phạm vi nào người ta chứng minh rằng có
một tri thức mà chúng ta không biết gì hết, đúng như trường hợp của anh
chàng nằm mơ của chúng ta. Đó là một điều rất đáng chú ý, đáng ngạc nhiên,
có thể thay đổi hẳn quan niệm của chúng ta về đời sống tinh thần, không
cần phải lánh mặt làm gì. Đó là một sự kiện diễn tả một cái gì có thực.
Vậy mà sự kiện này không hề lánh mặt. Nếu người ta không biết đến nó đâu
có phải lỗi tại nó; chúng ta cũng không có lỗi gì nếu tất cả những người
xa lạ đối với những sự quan sát và thí nghiệm về vấn đề này đưa ra.
Việc chứng minh sự có mặt của sự kiện này đã được thực
hiện trong phạm vi thôi miên. Tôi được chứng kiến thí nghiệm sau đây của
Liebault và Bernheim năm 1889 ở Nancy: Người ta ru ngủ một người trong một
giấc ngủ mộng du, trong đó người bị ru ngủ được gây cho có một thứ ảo
giác: lúc tỉnh dậy anh chàng có vẻ như không hay biết những sự việc xảy ra
trong giấc ngủ. Khi Bernheim hỏi anh về những sự việc xảy ra, anh trả lời
là anh không nhớ gì hết. Nhưng Bernheim hỏi đi hỏi lại và quả quyết là anh
ta phải biết và chắc chắn có biết: thế là anh chàng ngập ngừng, bắt đầu
tập trung ý tưởng rồi lại nhớ lại như trong giấc mơ một điều, rồi hai điều
rồi càng ngày càng nhiều hơn, càng rõ hơn lên cho tới khi nhớ lại được hết
từ đầu đến cuối không còn sót một điều nào. Vì đương sự không hề được ai
cho biết những điều đó, chúng ta phải kết luận rằng ngay trước khi bị thúc
đẩy, bắt phải nhớ lại, anh ta đã biết có những sự việc xảy ra trong lúc
ngủ. Chỉ có điều là những biến cố đó như không biết rằng mình biết, tưởng
rằng mình không biết. Trường hợp đó hoàn toàn giống như trường hợp người
nằm mơ của chúng ta.
Chắc hẳn các bạn ngạc nhiên khi nghe kể lại sự kiện đó
và bạn sẽ hỏi: tại sao ông lại không áp dụng phương pháp đó cho những hành
vi sai lạc trong khi chúng ta gán cho người nói lỡ lời những ý muốn mà anh
ta cho là không có và nhất định phủ nhận. Ngay khi một người cho rằng mình
không hay biết gì về những biến cố, thực ra có trong trí nhớ của mình thì
việc anh ta không biết gì về những biến cố khác trong sự hoạt động về tinh
thần chả làm ai ngạc nhiên cả. Lý luận đó sẽ làm cho chúng ta hiểu các
hành vi sai lạc. Đáng lẽ trong lúc đó tôi phải dùng cách đó thực nếu tôi
không muốn để dành dùng trong một trường hợp khác mà tôi cho là cần dùng
hơn. Một phần trong các hành vi sai lạc đã khiến cho các bạn có những giải
thích, còn phần kia đã đưa các bạn đến chỗ chấp nhận sự có mặt của các sự
hoạt động tinh thần chưa được biết đến. Đối với những giấc mơ chúng ta
buộc phải tìm cách giải thích nơi khác và tôi nghĩ rằng chúng ta có thể
coi đó như một trường hợp thôi miên. Tình
trạng một người khi làm hành vi sai lạc là một tình trạng thôi miên. Trái
lại giữa tình trạng thôi miên và tình trạng ngủ có sự giống nhau rất rõ
ràng. Thực tế người ta thường nói rằng thôi miên tức là giấc ngủ nhân tạo.
Chúng ta bảo người đang bị thôi miên: ngủ đi. Và những lời chúng ta gợi
cho người đó giống như một giấc mơ trong giấc ngủ bình thường. Trạng thái
tinh thần trong cả hai trường hợp giống nhau hoàn toàn. Trong giấc ngủ tự
nhiên chúng ta gạt bỏ hết những dây liên lạc với đời sống bên ngoài; trong
giấc ngủ thôi miên cũng thế chỉ khác một điều là chúng ta vẫn tiếp tục để
ý đến người đang thôi miên ta - và chỉ người đó thôi - và đang liên lạc
với ta. Vả lại cái mà người ta gọi là giấc ngủ của người vú trong đó người
vú tuy ngủ nhưng vẫn liên lạc với đứa trẻ chẳng khác gì giấc ngủ thôi
miên. Vì vậy sẽ chẳng có điều gì quá táo bạo nếu chúng ta gán cho giấc ngủ
tự nhiên một điểm đặc biệt của giấc ngủ thôi miên. Do đó, khi chúng ta cho
rằng người nằm ngủ biết rõ giấc mơ của mình nhưng không biết rằng mình
không biết không phải là không có căn bản.
Đến đây chúng ta thấy mở ra một con đường thứ ba trong việc khảo sát các
giấc mơ: sau những giấc mơ đó, những kích thích bên ngoài gây nên sau
những giấc mơ trong khi thức, chúng ta có những giấc mơ do sự thôi miên
gây nên.
Và bây giờ chúng ta lại có thể tiếp tục công việc khảo
sát với một lòng tin tưởng to lớn. Vậy tức
là người nằm mơ biết rõ về giấc mơ của mình, chúng ta chỉ còn làm sao cho
họ biết và nói cho ta nghe. Chúng ta sẽ không yêu cầu
người đó nói ngay cho ta biết giấc mơ đó có ý nghĩa gì, chúng ta chỉ muốn
làm sao cho anh ta nhớ lại nguyên nhân giấc mơ, gợi lại những ý kiến và
lợi ích của giấc mơ đó. Trong trường hợp hành vi sai lạc (chắc chắn các
bạn còn nhớ) đặc biệt là trong câu chuyện lỡ lời về chữ Vorchwein, chúng
ta đã hỏi đương sự tại sao y lại lỡ lời như thế, thì ý tưởng đầu tiên đến
trong đầu anh ta đủ cho chúng ta biết rõ sự việc rồi. Chúng ta sẽ đưa vào
thí dụ này, áp dụng một kỹ thuật đơn giản. Chúng ta sẽ hỏi người nằm mơ là
tại sao ông ta lại nằm mơ như thế và coi câu trả lời đầu tiên là một lời
giải thích. Chúng ta sẽ không để ý đến những sự khác biệt trong trường hợp
người nằm mơ tưởng rằng mình biết với trường hợp cho rằng mình không biết,
và chúng ta sẽ giải quyết vấn đề bằng cách coi những tài liệu đó như thuộc
cùng một loại.
Kỹ thuật này quả thực rất giản dị nhưng tôi sợ các bạn
lại phản đối. Và các bạn sẽ bảo: “Đó là một điều giả dụ mới”. Điều giả dụ
thứ ba và điều này còn không đáng tin hơn hai điều kia nữa. Thế nào? Ông
bảo người nằm mơ nói cho ông những điều anh ta nhớ lại về giấc mơ rồi ông
ta coi luôn câu trả lời đầu tiên của anh ta như là một lời giải thích sao?
Nhưng thực sự thì có thể là anh ta không nhớ lại hết và chỉ có trời mới
biết anh ta nhớ lại điều gì. Chúng tôi không hiểu ông định chờ gì ở chúng
tôi. Đáng lẽ phải vận dụng trí óc phê bình thì ở đây ông lại đòi hỏi chúng
tôi tin tưởng ông quá đáng. Vả lại một giấc mơ không thể so sánh với sự lỡ
lời vì trong giấc mơ có nhiều thứ lắm, mình phải chú ý đến những điều nào
trong những điều người ta nhớ lại.
Các bạn nói đúng. Một giấc mơ khác một sự lỡ lời ở chỗ
có nhiều yếu tố và chúng ta phải coi sự khác biệt này là quan trọng khi
khảo sát. Vì thế tôi đề nghị chia giấc mơ ra thành nhiều yếu tố và xét
từng yếu tố riêng biệt một, như thế chúng ta sẽ có một sự giống nhau với
sự lỡ lời. Bạn cũng có lý khi cho rằng khi hỏi về từng yếu tố một trong
giấc mơ cũng có thể là người nằm mơ sẽ trả lời anh ta không nhớ gì hết.
Sau này bạn sẽ thấy là có những trường hợp một câu trả lời như thế chúng
ta cũng dùng được, và điều kỳ lạ là đó lại chính là những trường hợp giúp
cho chúng ta có được những ý tưởng vững chắc. Nhưng thường thường khi
người ta nằm mơ trả lời là không nhớ gì cả, chúng ta sẽ vặn vẹo anh ta,
hỏi đi hỏi lại, bảo cho anh ta biết là anh ta phải có một ý gì và sau cùng
chúng ta sẽ thành công. Anh ta sẽ cho chúng ta một ý kiến bất cứ ý kiến
nào cũng được, không quan hệ gì, anh ta sẽ cho chúng ta rất dễ dàng những
ý kiến mà anh ta gọi là ý kiến lịch sử. Anh ta sẽ nói: “Sự việc xảy ra
chiều hôm qua” hay “ Điều này làm tôi nhớ lại việc mới xảy ra gần đây”.
Làm như thế dần dần chúng ta sẽ thấy là những giấc mơ thường gắn liền với
những cảm tưởng nhận được trong ngày gần đó và sự việc này xảy ra luôn
luôn hơn là chúng ta tưởng lúc đầu. Sau cùng, đi từ giấc mơ anh chàng đó
sẽ bắt đầu nhớ lại những điều rất xa xôi, nhiều khi xa xôi lắm.
Tuy nhiên nếu về những ý kiến phụ bạn có lý thì về điểm
cần thiết bạn lại không có lý. Bạn tưởng rằng tôi đã hành động võ đoán khi
coi câu trả lời đầu tiên của người nằm mơ là một lời giải thích, một điều
đem lại cho tôi điều tôi muốn tìm hay chỉ vẽ cho tôi con đường phải theo;
bạn không có lý khi cho rằng câu trả lời của người nằm mơ sẽ không liên
quan gì đến những điều tôi đang tìm và nếu tôi đang chờ đợi có một điểm gì
tức là tôi đang tin tưởng quá đáng. Có lần tôi đã trách các bạn về điểm
quá tin tưởng vào sự tự do và tính cách tự nhiên về phương diện tâm lý,
tôi đã có dịp nói rằng một sự tin tưởng như thế là phản khoa học, không
thể đứng vững được trước sự đòi hỏi của thuyết định mệnh tinh thần. Khi
người ta được hỏi đưa ra một ý kiến, chúng ta đứng trước một sự kiện mà
chúng ta phải chấp nhận. Nói như thế chúng tôi không muốn đưa ra một ý
kiến này để phản đối một ý khác. Người ta có thể chứng tỏ được rằng ý kiến
đó người được hỏi đưa ra không phải là không liên quan gì đến điều chúng
ta tìm. Tôi vừa được tin là môn tâm lý học thực nghiệm cũng vừa cho chúng
ta những bằng chứng như thế tuy tôi cũng không tin tưởng quá đáng vào sự
việc đó.
Vì là vấn đề quan trọng, tôi yêu cầu các bạn chú ý đặc
biệt. Khi đòi hỏi một người nào đó cho tôi biết ý nghĩ gì đã đến trong đầu
óc anh ta về một điểm nhất định nào đó trong giấc mơ tôi yêu cầu, người đó
cứ để cho ý kiến tự nhiên liên tưởng với nhau khi đi từ một ý kiến nguyên
thủy. Điều này cần một sự chú ý đặc biệt, một chiều hướng khác hẳn chiều
hướng của sự suy nghĩ. Có nhiều người tìm thấy chiều hướng đó dễ dàng,
nhiều người khác lại gặp phải khó khăn trong vấn đề này. Vậy mà sự tự do
liên tưởng có một giá trị rất cao: ví dụ khi tôi bỏ rơi sự hình dung
nguyên thủy mà chỉ để ý đến tính chất của ý kiến đó thôi, ví dụ như yêu
cầu đương sự tự do nghĩ đến một tên riêng hay một con số nào đó. Một ý
tưởng như thế còn võ đoán không lường được hơn là ý kiến dùng trong kỹ
thuật của chúng ta. Nhưng chúng ta có thể chứng tỏ rằng, trong trường hợp
nào ý kiến này cũng được quy định bằng những sự việc nội thể. Những sự
việc nội thể này khi có tác dụng, chúng ta không biết gì hơn là những
khuynh hướng gây rối trong những hành vi sai lạc hay những khuynh hướng
gây ra những hành vi bất chợt.
Tôi đã làm nhiều cuộc thí nghiệm như thế về những tên
riêng và những con số đến tự nhiên trong óc. Nhiều người khác cũng làm như
tôi, và nhiều công trình khảo cứu đã được in lên thành sách. Người ta dựa
vào tên riêng vừa nghĩ đến để đề nghị những liên tưởng có tính cách liên
tục, không phải là hoàn toàn tự do nhưng gắn liền ý nọ vào ý kia như những
ý tưởng được gợi ra cho từng yếu tố một trong giấc mơ. Người ta cứ thế
tiếp tục cho tới khi không còn gợi được thêm một ý nào nữa. Khi thí nghiệm
chấm dứt người ta đứng trước một sự giải thích cho biết những lý do tại
sao ý đó lại được hiện ra trong óc người được hỏi tên riêng đó gây nên, và
cho chúng ta hiểu rõ tầm quan trọng của cái tên đó đối với người được hỏi.
Những thí nghiệm bao giờ cũng đưa đến những kết quả như nhau, được làm với
nhiều trường hợp khác nhau và cần phát triển thêm nhiều trường hợp khác
nữa. Những sự liên tưởng do những con số gây nên còn có giá trị hơn nữa:
những liên tưởng này tuôn ra nhanh và hướng về một mục đích còn được che
giấu dưới một sự chắc chắn khó hiểu đến nỗi chúng ta đâm ra hoang mang khi
nhìn chúng diễu qua. Tôi kể cho các bạn nghe một thí dụ thôi, một thí dụ
đặc biệt có lợi vì có thể được trình bày mà không cần dài dòng lắm.
Một hôm, nói chuyện với một thân chủ, tôi cho người này
biết rằng, mặc dầu với tính cách võ đoán bề ngoài của nó, mỗi khi người ta
tự do nghĩ đến một cái tên riêng nào đó, tên đó thế nào cũng chịu ảnh
hưởng của những chi tiết rất gần người đang nghĩ đến nó, của những điểm
đặc biệt cùng tình trạng hiện thời của những người chịu thí nghiệm. Người
đó có vẻ không tin tôi, đề nghị thử ngay. Biết anh chàng rất thích chạy
quanh đàn bà, tôi nghĩ rằng khi bảo anh chọn tên một người đàn bà thế nào
anh cũng tỏ vẻ lúng túng không biết chọn tên nào. Anh cũng công nhận điều
đó. Nhưng tôi cũng như anh đều ngạc nhiên xiết bao khi thấy anh ngồi im
một lúc, rồi nói ra mọi tên hiện ra trong đầu anh: Albine. Tôi bảo: “lạ
nhỉ. Trong đầu anh có gì dính dáng đến cái tên đó? Có bao nhiêu người đàn
bà có tên đó trong số những người anh quen biết?” Không, anh không biết
người đàn bà nào có cái tên như thế cả và trong óc anh không có gì dính
dáng đến cái tên đó. Thế là hỏng chứ gì? Sự thực thì như thế là xong rồi,
không cần phải có một ý nào mới có thể cắt nghĩa sự việc đó. Anh chàng trẻ
tuổi này tóc rất vàng và trong khi thí nghiệm tôi luôn luôn gọi đùa anh là
albinos (bạch tạng). Vả lại trong lúc đang thí nghiệm, tôi và anh ta đang
xét về việc anh ta trông có vẻ con gái quá. Do đó, ta thấy Albine không ai
khác hơn là anh ta, một người con gái mà anh ta để ý đến nhiều nhất.
Cũng như thế khi phân tích những bản đàn hiện ra trong
đầu chúng ta, chúng ta thấy là sự xuất hiện của những bản đàn đó tùy thuộc
vào một số ý kiến trong đầu chúng ta mà chúng ta có quyền để ý đến tuy
không biết chúng hoạt động ra sao. Chúng ta có thể dễ dàng chứng tỏ rằng
sở dĩ bản đàn đó có vẻ vô tình hiện ra những thực ra chính bởi vì bản văn
của bản đàn đó hay nguồn gốc của nó. Tôi không nói đến những nhạc sĩ chính
cống vì trong trường hợp những người này, sự xuất hiện của một bản đàn tự
nó đã cắt nghĩa nhiều rồi. Nhưng có một anh chàng trong một thời gian rất
lâu luôn luôn bị ám ảnh bởi bản đàn của Paris trong vở “Người đẹp Hèlène”.
Sau khi phân tích người ta nhận ra rằng trong đầu anh ta luôn luôn có sự
giằng co giữa hai người đẹp Ida và Hèlène.
Nếu những ý tưởng tự do xuất hiện, không bị ép buộc hay
bị cố gắng nào chèn ép cũng được giải thích là có liên quan đến những
trường hợp sẵn có trong chúng ta thì chúng ta có thể kết luận bằng những ý
tưởng chỉ gắn liền vào một hình dung lúc đầu thôi cũng có thể quy định
được. Phân tích cho thấy rằng, ngoài những liên quan gắn liền với hình
dung nguyên thủy, những ý đó còn phụ thuộc vào những ý tưởng tình cảm,
những mặc cảm, nghĩa là vô thức, trong lúc phát sinh.
Những ý tưởng phụ thuộc đó cũng đã được đem ra thí
nghiệm rất hiệu quả và đã giữ trong môn phân tâm học một vai trò quan.
Trường phái Wundt đề nghị thí nghiệm gọi là thí nghiệm về liên tưởng trong
đó người chịu trách nhiệm sẽ trả lời rất nhanh bằng một phản ứng rất nhiều
câu hỏi được coi như những sự kích động. Người ta cũng có thể khảo sát
khoảng thời gian giữa sự kích động và phản ứng, tính chất của câu trả lời
được coi như phản ứng, những sự lầm lẫn được coi như xảy ra nếu những thí
nghiệm đó được làm đi làm lại nhiều lần v v...Dưới quyền điều khiển của
Bleuler và Jung, trường phái Zurich đã cắt nghĩa được những phản ứng trong
thí nghiệm nói rõ về những phản ứng của họ trong trường hợp những phản ứng
này không rõ rệt bằng cách đặt các câu hỏi phụ. Lúc ấy người ta thấy rằng
những phản ứng ít bộc lộ kỳ khôi đó có thể được quy định rất rõ ràng bằng
những mặc cảm của người chịu thí nghiệm. Bằng nhận xét đó Bleuler và Jung
đã bắc được một cây cầu giữa môn Tâm lý học thực nghiệm và môn phân tâm
học.
Sau những điều trình bày này các bạn có thể bảo tôi là:
“Chúng tôi công nhận rằng những ý tưởng được tự do suy nghĩ quả là có chịu
ảnh hưởng nào đó chứ không phải chỉ là võ đoán như trước kia chúng tôi
từng tưởng. Chúng tôi cũng công nhận rằng những ý đó có ảnh hưởng đến các
giấc mơ. Nhưng đó không phải là điều chúng tôi chú ý đến. Ông nói rằng một
ý tưởng phát sinh ra từ một yếu tố của một giấc mơ được quy định bằng đời
sống tinh thần tiềm tàng đằng sau yếu tố đó và đời sống tinh thần đó chưa
được tìm hiểu. Vậy mà điều đó chúng tôi thấy là chưa hề được chứng minh.
Chúng tôi thấy trước rằng một ý tưởng phát sinh ra so với một yếu tố của
một giấc mơ thế nào cũng phụ thuộc vào những phức thể của người nằm mơ.
Những nhận xét này có lợi ích gì? Đáng lẽ phải giúp cho chúng ta hiểu rõ
giấc mơ nó chỉ cho chúng ta biết là có những phức thể đó thôi. Mà mặc cảm
này thì có liên lạc gì với những giấc mơ?”
Các bạn nói đúng, nhưng không trông thấy một điều và
điều đó chính là lý do tại sao không lấy thí nghiệm về sự liên tưởng làm
điểm khởi đầu trong cuộc khảo sát này. Trong cuộc thí nghiệm này chúng ta
võ đoán một trong các yếu tố quan trọng của phản ứng: đó là tiếng được
dùng làm vật kích động. Lúc đó tiếng này trở thành một cái móc trung gian
giữa tiếng kích động và mặc cảm do tiếng này gợi ra cho người chịu thí
nghiệm. Trong giấc mơ tiếng kích động được thay thế bằng một điều gì trong
đời sống tinh thần của người nằm mơ. Điều này bắt nguồn ở đâu không ai
biết và cũng có thể kết quả của một phức thể. Vì thế cho nên quả thực
không phải là một sự quá đáng khi công nhận rằng, những ý tưởng về sau này
gắn liền vào những yếu tố của một giấc mơ cũng phụ thuộc vào phức thể của
yếu tố này và tất nhiên có thể giúp cho chúng ta tìm ra phức thể đó.
Các bạn hãy cho phép tôi trình bày một thí dụ khác để
chứng tỏ rằng sự việc xảy ra đúng như chúng ta mong đợi.
Sự quên lãng các tên riêng cũng gồm có nhiều diễn
biến giống như những diễn biến trong giấc mơ, chỉ có khác một điều là
trong quên lãng mọi sự diễn biến đều tiến hành trong một người thôi, trong
khi với sự giải thích giấc mơ chúng ta phải chia đôi cho hai người.
Mỗi khi tôi quên hẳn một tiên riêng, tôi dù sao cũng biết chắc rằng mình
biết tên đó. Muốn cho người nằm mơ cũng có sự chắc chắn này chúng tôi phải
dùng thí nghiệm của Bernheim. Chỉ có điều là tôi không làm sao biết được
cái tên quên đó là gì. Tôi cứ việc cố gắng để gợi lại trong óc người nằm
mơ: chẳng mấy lúc mà tôi sẽ thấy những cố gắng này không đi đến đâu cả.
Tuy nhiên tôi có thể gợi ra thực nhiều tên để thay thế vào những cái tên
bị quên lãng. Mỗi khi một cái tên bị thay thế đó hiện ra trong óc tôi thì
tôi với người nằm mơ ở vào tình trạng hoàn toàn giống nhau. Yếu tố của
giấc mơ không phải là một cái gì có thực: nó chỉ có nhiệm vụ thay thế một
cái gì mà tôi không biết và phân tích sẽ làm cho biết. Sự khác biệt duy
nhất giữa hai tình trạng đó là ở chỗ trong việc quên tôi nhận ra ngay là
một tên nào đó gợi lên chỉ là một cái tên dùng để thay thế trong khi
trường hợp yếu tố của một giấc mơ thì chúng ta chỉ có thể đạt được đến chỗ
đó sau bao nhiêu công trình khảo cứu lâu dài và khó nhọc. Nhưng ngay trong
trường hợp quên tên chúng ta có cách để tìm lại tên thực khi tên này bị
chìm trong vô thức. Khi tập trung tất cả tư tưởng vào việc tìm các tên
thay thế, mỗi khi bất thần đưa ra một cái tên thay thế chúng ta cũng có
thể sau bao nhiêu lần dò hỏi, ngoằn nghèo tiến tới cái tên bị quên và nhận
thấy rằng những cái tên thay thế đột nhiên hiện ra cũng như các tên do
chúng ta gợi lên đều có liên lạc chặt chẽ với cái tên bị quên và phụ thuộc
vào nó.
Vả lại đây là một sự phân tích thuộc loại đó: một hôm
tôi thấy rằng mình quên tên xứ Riviera trong đó tên Monte- Carlo là một
thành phố được biết đến nhiều nhất. Bực quá, nhưng sự thực là như thế. Tôi
duyệt lại tất cả những điều mình biết về xứ đó, nghĩ đến ông hoàng Albert,
đến tòa Matignon-Grimaldi, đến đám cưới của ông hoàng, đến sự ham mê thám
hiểm dưới biển của ông ta, đến nhiều liên can đến xứ đó lắm nhưng không ăn
thua gì. Tôi thôi không tìm nữa và cho những tên thay thế hiện ra cạnh cái
tên bị quên: nào Monte- Carlo, nào Pirémant, nào Albanie, Montevideo,
Colico. Trong những tên đó tên Albanie được tôi chú ý đến nhưng được thay
bằng Montenegro vì sự phản trí giữa đen và trắng. Tôi nhận thấy rằng trong
những tên đó có bốn tên có chữ Mon, thế là tôi nhớ ra và kêu lên: Monaco.
Vậy là những tiếng thay thế thực sự đều xuất phát từ tên bị quên, bốn tên
thứ nhất có vần đầu Mon, tên cuối cùng có những vần sau và nhất là vần
cuối. Tôi cũng tìm ra luôn lý do làm cho tôi quên tên Monaco: chính chữ
Munchen tên Đức của Monaco đã là cho tôi quên hẳn chữ đó.
Thí dụ vừa kể chắc chắn tốt đẹp nhưng quá đơn giản.
Trong trường hợp khác chúng ta phải tập trung nhiều tên hơn nữa mới có thể
làm cho giống những sự xảy ra trong giấc mơ. Tôi đã làm các cuộc thí
nghiệm như thế. Một hôm có một người lạ mặt mời tôi uống rượu vang Ý.
Nhưng khi vào đến tiệm rượu anh ta không làm sao nhớ lại được cái tên thứ
rượu mà anh ta rất thích nên mới mời tôi uống. Sau khi đưa ra rất nhiều
tên để thay thế vào cái tên bị quên, tôi đi đến kết luận rằng sự quên lãng
này là hậu quả của một sự cấm đoán nào đó có dính dáng đến cái tên
Hedwige. Tôi nói cho anh bạn mới nghe, không những anh nhận rằng quả có
một lần anh uống thứ rượu này với một người đàn bà tên là Hedwige mà anh
ta còn nhớ được cái tên đã bị quên nữa. Dạo đó anh ta có vợ và đang sống
yên ấm trong gia đình nên không muốn nhớ lại cái tên Hedwige của một thời
xa xưa.
Tất cả những gì giúp cho chúng ta tìm lại được một cái
tên bị quên lãng chắc cũng sẽ giúp được chúng ta trong việc giải thích một
giấc mơ: chắc chắn chúng ta tìm hiểu được những yếu tố còn ẩn náu, chưa
được biết đến bằng cách đưa ra nhiều sự liên tưởng ức đoán để thay thế
những yếu tố nào đó mà chúng ta dùng làm khởi điểm. Theo như thí dụ trong
việc quên tên chúng ta phải cho rằng những liên tưởng có dính dáng đến một
yếu tố đó trong giấc mơ cũng có thể tìm ra được nhờ chính yếu tố đó và bức
bình phong vô thức đằng sau. Nếu những điều giả dụ của tôi đúng thì kỹ
thuật của chúng ta sẽ được chứng minh luôn.
7. Nội dung rõ ràng và những ý
tưởng tiềm tàng trong giấc mơ.
Các bạn hẳn đã thấy sự khảo sát của chúng ta về những
hành vi sai lạc đã không vô ích. Nhờ những cố gắng trên phương diện này
chúng ta đã đạt được hai kết quả: một quan niệm về yếu tố của giấc mơ và
một kỹ thuật giải thích giấc mơ. Về yếu tố của giấc mơ chúng ta biết là nó
không xác thực, nó chỉ dùng để thay thế vào điều mà người nằm mơ không
biết cũng như chúng ta không biết gì về khuynh hướng trong những hành vi
sai lạc của chúng ta, chỉ có khác là người nằm mơ có sẵn trong đầu mình
yếu tố đó nhưng không biết được. Chúng ta hy vọng có thể mở rộng quan niệm
này ra đối với toàn thể giấc mơ, nghĩa là coi giấc mơ như là nhiều yếu tố
tạo thành. Kỹ thuật của chúng ta là để sự liên tưởng này để rồi tìm ra xem
nội dung vô thức của giấc mơ như thế nào.
Bây giờ tôi đề nghị thay đổi một chút về những danh từ
đang dùng để cho sự hoạt động được tự do hơn. Đáng lẽ nói: ẩn náu, không
biết được, không xác thực, chúng ta sẽ nói: vô thức hay không vào được
trong tri thức của người nằm mơ. Cũng giống như trong những trường hợp
quên tên hay những khuynh hướng phát sinh ra một hành vi sai lạc, trong
giấc mơ chỉ có những cái gì không được ý thức trong một thời gian. Đối lập
với tính cách vô thức giới hạn trong thời gian này những yếu tố của những
giấc mơ và những hình dung dùng thay thế cho sự liên tưởng đạt được sẽ gọi
là hữu thức. Danh từ này thực ra chưa ngụ ý rằng chúng ta đã có một hành
động kỹ thuật nào đối với nó. Người ta quả không thể chê trách gì chúng ta
khi chúng ta dùng chữ vô thức để diễn tả cho thực dụng và cho dễ hiểu.
Nếu chúng ta mở rộng quan niệm này từ một yếu tố đơn độc
của toàn thể giấc mơ đến toàn giấc mơ, chúng ta sẽ thấy giấc mơ là một
hình thức đã được sửa đổi của một biến cố vô thức và sự giải thích giấc mơ
có mục đích tìm ra cái vô thức này. Từ nhận xét này, chúng ta có thể rút
ra ba nguyên tắc mà chúng ta phải theo trong công việc giải thích:
1.Vấn đề tìm hiểu xem giấc mơ khác có nghĩa lý gì đối
với chúng ta không có gì quan trọng. ý nghĩa này có thể rõ ràng hay khó
hiểu, dễ hiểu hay mập mờ, cũng chẳng có gì quan hệ bởi lẽ ý nghĩa đó chẳng
hình dung gì được cái vô thức mà chúng ta đang tìm (tuy nhiên sau này
chúng ta sẽ thấy là nguyên tắc này cũng là ngoại lệ).
2.Công việc của chúng ta là gợi nhớ ra những hình dung
có thể thay thế được chung quanh các yếu tố của giấc mơ mà không cần suy
nghĩ, không cần tìm hiểu xem những hình dung này có chứa đựng cái gì đúng
hay không, không cần tìm cách hiểu xem những hình dung này có đưa ta đi xa
các yếu tố trong giấc mơ hay không và nếu có thì trong giới hạn nào.
3.Chúng ta hãy chờ cho tới khi nào vô thức đang ẩn náu,
đang tìm đột nhiên xuất hiện giống như trong trường hợp chữ Monaco ở trên.
Bây giờ hẳn là chúng ta
hiểu rằng chúng ta không hề cần biết người nằm mơ có thể nhớ lại giấc mơ
đến giới hạn nào, đúng hay sai tới mức nào, bởi lẽ giấc mơ mà người ta nhớ
lại không phải là điều chúng ta cần tìm. Nó chỉ là một
hình thức thay thế được sửa đổi của cái mà chúng ta đang tìm nghĩa là dùng
những hình thức thay thế khác do chúng ta gợi ra để làm cho cái vô thức
trở thành hữu thức, tức là điều nhớ lại bị biến dạng một lần nữa và lần
này tất cũng phải có nguyên do.
Công việc giải thích này chúng ta có thể làm đối với
chính các giấc mơ của chúng ta cũng như đối với giấc mơ của người khác.
Nhưng đối với giấc mơ của chính chúng ta thì chúng ta sẽ học được nhiều
hơn bởi lẽ trong trường hợp này sự giải thích dễ chứng minh hơn. Ngay khi
bắt đầu làm công việc này chúng ta đã gặp trở ngại. Chúng ta có thực nhiều
ý kiến nhưng những ý kiến này hiện ra không rõ rệt. Chúng ta phải thử
thách và lựa chọn. Đối với một ý tưởng chúng ta bảo: không được, ý này
không phù hợp với giấc mơ, không dùng được; đối với một ý khác: khó hiểu
quá đối với một ý thứ ba: chỉ có tính cách thứ yếu. Rồi ta nhận thấy rằng
theo lối đó các ý tưởng hoặc sẽ bị bóp nghẹt hoặc là bị sa thải trước khi
nó có thể trở nên rõ ràng. Vì thế cho nên một đằng người ta để ý quá nhiều
đến sự hình dung đầu tiên, đến yếu tố của giấc mơ, một đằng người ta làm
cho kết quả của sự liên tưởng rối bung lên vì có thành kiến về lựa chọn.
Khi người ta để cho người khác giải thích giấc mơ của chúng ta thay vì tự
làm lấy, quả là một lý do mới đã xuất hiện trong việc lựa chọn người giải
thích. Có khi người ta tự nhủ: không, ý này khó chịu quá, tôi không muốn
xét đến.
Tất nhiên những sự bài bác đó gây trở ngại cho công việc
của chúng ta. Chúng ta phải đề phòng chống lại chúng: khi chúng ta tự giải
thích, chúng ta phải cương quyết chống lại chúng, nhất định không nhượng
bộ: khi giải thích hộ người khác, chúng ta bắt buộc họ phải theo một điều
kiện thực chặt chẽ là không bỏ qua ý tưởng nào hiện ra trong đầu họ mà họ
không nói ra cho ta biết dù rằng người kia cho rằng ý đó không liên hệ,
khó hiểu, không liên quan gì đến các giấc mơ hay khó chịu không muốn nói
ra. Người kia phải hứa là theo đúng quy tẵc đó, những chúng ta cũng không
nên nổi giận khi họ không giữ lời hứa. Có người cho rằng dù làm thế nào
chúng ta cũng không thể thuyết phục đương sự, rằng họ phải để cho sự liên
tưởng được tự do tung hoành, rằng muốn thuyết phục được họ chúng ta phải
giảng giải lâu dài bằng cách chúng ta cho họ đọc thật nhiều sách vở hay
tham dự các buổi nói chuyện. Làm như thế chúng ta sẽ vấp phải một sai lầm
nghiêm trọng, và muốn tránh khỏi sai lầm này chỉ cần tự chủ là ngay cả khi
chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào điều chúng ta nghĩ, chúng ta vẫn thấy nẩy
ra những ý tưởng phê bình chỉ trích, và những sự phê bình này chỉ được gạt
ra ngoài một thời gian sau đó thôi.
Thay vì bực tức trước sự khó bảo của đương sự, chúng ta
có thể lợi dụng những cuộc thí nghiệm để tìm ra những bài học mới. Những
bài học này càng quan trọng hơn lên khi chúng ta càng ít chờ đợi chúng.
Công việc giải thích phải tiến hành mặc dù có những trở ngại và sự trở
ngại này chính là những ý tưởng chống đối nói trên. Sự chống đối này không
hề phụ thuộc vào quan niệm lý thuyết của người nằm mơ. Chúng ta còn học
thêm được điều này nữa, đó là những ý tưởng chống đối không bao giờ đúng
cả. Trái lại, những ý tưởng mà mình muốn kìm hãm bao giờ cũng là những ý
tưởng quan trọng nhất, có tính cách quyết định nhất trong công việc đi tìm
vô thức. Một sự chống đối loại đó chính là đặc điểm của một ý tưởng đi
kèm.
Sự chống đối đó là điều mới lạ mà chúng ta tìm ra được
những giả thuyết đưa ra không phụ thuộc gì vào những giả thuyết đó. Yếu tố
mới này cho bài toán một sự ngạc nhiên không thể nói là dễ chịu. Chúng ta
có cảm tưởng là nó phát hiện không phải làm dễ dàng công việc của chúng
ta, có thể làm tê liệt những cố gắng của chúng ta để giải quyết vấn đề
giấc mơ. Khảo sát một công việc rất ít quan trọng như giấc mơ, mà lại vấp
phải những trở ngại lớn lao về kỹ thuật đến như thế. Nhưng trái lại những
khó khăn đó khuyến khích chúng ta và cho ta thấy sự cố gắng không phải là
vô ích. Bao giờ chúng ta cũng gặp khó khăn khi muốn từ những hình dung
thay thế cho các yếu tố trong giấc mơ để đi sâu vào cái vô thức đang ẩn
náu. Vì vậy chúng ta có quyền cho rằng đằng sau cái hình dung thay thế đó
phải có một cái gì quan trọng. Vậy những khó khăn này có lợi ích gì nếu
chúng ta tiếp tục giam hãm cái điều gì đang ẩn náu đó? Khi một đứa bé nhất
định không mở bàn tay ra xem bên trong có gì thì nhất định là bên trong
bàn tay đó có cái gì mà nó không có quyền giấu diếm.
Ngay lúc chúng ta đưa ra cái quan niệm về sự chống đối,
chúng ta phải báo trước đó chỉ là một yếu tố luôn luôn thay đổi về số
lượng. Sự chống đối có thể to hay nhỏ, nó sẽ luôn luôn ngăn cản công việc
của chúng ta. Chúng ta có thể gắn liền sự kiện này vào những thí nghiệm đã
làm trong việc giải thích giấc mơ. Vì thế có nhiều trường hợp chúng ta chỉ
cần có một ý tưởng hay một số ít ý tưởng là cũng đủ đi từ một yếu tố của
giấc mơ đến cái vô thức, nhưng trong nhiều trường hợp khác, chúng ta lại
phải dùng không biết bao nhiêu ý tưởng và phải bác bỏ những ý kiến chống
đối. Chúng ta có thể có lý khi cho rằng những sự khác biệt này là do sự
chống đối mạnh hay yếu. Khi sự chống đối yếu ớt thì khoảng cách giữa các
yếu tố giấc mơ và cái vô thức là rất ít; nhưng khi chống đối mạnh thì lập
tức phát sinh ra những biến dạng của vô thức làm cho khoảng cách càng xa
hơn.
Có lẽ đã đến lúc đem kỹ thuật này áp dụng vào một giấc
mơ để xem những điều chúng ta chờ đợi vào kỹ thuật đó có đúng không? Được
lắm, nhưng dùng giấc mơ nào bây giờ? Các bạn không thể nào tưởng tượng
rằng sự lựa chọn đối với tôi lại khó khăn như thế. Tất nhiên là thế nào
chẳng có những giấc mơ không bị biến dạng nhiều, có lẽ nên bắt đầu bằng
những giấc mơ đó thì hơn. Nhưng những giấc mơ ít bị biến dạng nhất là
những giấc mơ nào? Có phải là những giấc mơ hữu ý không lơ mơ như trong
hai thí dụ đã nói cho các bạn nghe không? Không đâu. Phân tích ra người ta
sẽ thấy là những giấc mơ đó biến dạng ghê gớm. Nếu bây giờ tôi chọn bất cứ
giấc mơ nào thì các bạn lại thất vọng. Bởi vì có thể chúng ta sẽ nhận ra
nhiều yếu tố khác nhau khiến cho công việc trở thành phức tạp quá không
làm được. Nếu chép lại giấc mơ, ghi lại hết những điều xuất hiện dần dần
thì bao nhiêu pho sách cũng chả đủ. Vì thế có lẽ chúng ta nên chọn giấc mơ
ngắn. Đó là điều mà chúng ta sẽlàm trừ phi trong lúc làm việc chúng ta tìm
được những giấc mơ ít bị biến dạng thì không kể.
Có một cách khác cũng có thể làm dễ dàng công việc của
chúng ta. Thay vì khảo sát toàn thể giấc mơ, chúng ta chỉ xét từng phần
nhỏ để xem sau khi áp dụng kỹ thuật của chúng ta vào những thí dụ sẽ đưa
đến những kết quả gì?
a. Một bà kể lại rằng trong thời thơ ấu bà thường nằm mơ
thấy là Đức Chúa trời đội một cái mũ ni nhọn bằng giấy. Làm sao hiểu được
giấc mơ này nếu không có sự giúp đỡ của người nằm mơ? Có phải là thực
chẳng có nghĩa gì không? Nhưng bà ta kể cho chúng ta nghe rằng hồi nhỏ
trong bữa cơm bà ta thường bị bắt buộc phải đội cái mũ ni như thế để khỏi
đưa mắt nhìn sang đĩa các anh chị xem bọn họ có được ăn nhiều hơn mình
không? Như thế là giấc mơ hẳn không còn vô nghĩa lý nữa. Vậy cái mũ ni
chính là dùng để che mắt khỏi nhìn ngang nhìn ngửa. Đó là một điểu chỉ có
tính chất lịch sử được đưa ra một cách dễ dàng. Do đó sự giải thích trở
nên rõ ràng. “Vì tôi tin rằng Đức chúa trời biết hết, nhìn thấy hết nên
giấc mơ chỉ có nghĩa rằng dù đội mũ ni tôi vẫn biết hết nhìn thấy hết,
người ta chẳng làm sao ngăn cản được”. Nhưng thí dụ này có lẽ quá đơn
giản.
b. Một bà thân chủ bi quan kể chuyện lại rằng bà ta nằm
mơ thấy có một vài người nói chuyện với bà không ngớt khen ngợi cuốn sách
của tôi về “Những tiếng nhanh trí” (Witz). Rồi bà ta nói đến một “con sông
đào” có thể là một cuốn sách nói đến sông đào hay một cái gì dính dáng đến
sông đào.. bà ta không biết rõ .. loạn cả lên.
Có lẽ các bạn cho rằng yếu tố “con sông đào” từ trên
trời rơi xuống như thế sẽ rất khó giải thích. Tất nhiên là khó rồi nhưng
không phải là không rõ ràng: trái lại không rõ ràng hay không giải thích
được cũng đều do một nguyên nhân cả. Người nằm mơ không có ý niệm về con
sông đào cả, tất nhiên về phần tôi, tôi không thể có điều gì để nói được.
Nhưng sau đó, thực ra là ngày hôm sau, bà ta có một ý có lẽ đó dính dáng
đến con sông đào. Thì ra đó là một gạch trí khôn mà ta đã được nghe. Trên
chuyến tàu biển chạy đường Calais-Douvres một nhà văn nổi tiếng nói chuyện
với một người Anh, người này nhắc lại câu: “Từ chỗ trác tuyệt đến chỗ lố
bịch chỉ có một đường thôi”. Nhà văn trả lời: “Đúng rồi, đó là bước
Calais”. Ý nhà văn muốn nói là theo ý của ông ta thì nước Pháp trác tuyệt
còn nước Anh thì lố bịch. Nhưng bước Calais là một con sông đào trên bờ
biển Manche. Các bạn sắp hỏi tôi có thấy gì liên quan đến ý này và giấc mơ
không? Nhất định rồi và chính ý này đã cho chúng ta giải đáp bài toán. Có
khi bạn ngờ rằng cái gạch trí khôn từ đó đã có từ lâu trước khi xảy ra
giấc mơ. Ý này chứng tỏ sự bi quan của bà kia và sự bi quan này lại nấp
sau một sự ngạc nhiên hết sức vô tình, do đó người ta mới hiểu tại sao ý
tưởng đó lại xuất hiện chậm như thế và tại sao giấc mơ lại khó hiểu như
thế. Liên quan giữa yếu tố của giấc mơ và nền tảng vô thức của yếu tố đó:
yếu tố chỉ là một phần nhỏ vô thức, y như một ảo ảnh thôi, chính vì được
tách rời ra khỏi tảng vô thức mà yếu tố giấc mơ trở thành không thể thiếu
được.
c. Một người bệnh nằm mơ một giấc mơ khá dài: nhiều
người trong gia đình ngồi chung quanh một cái bàn có một hình thù đặc
biệt. Về cái bàn này anh ta nhớ lại là có lần đã trông thấy một cái bàn
như thế tại nhà một người quen. Rồi những ý tưởng của anh cứ nối đuôi nhau
mà ra; trong gia đình có hai cha con không hợp nhau lắm; anh thêm luôn
rằng chính anh và ba anh cũng không hoà nhau như thế. Chính vì muốn chứng
tỏ sự giống nhau này mà cái bàn hình thù đặc biệt xuất hiện trong giấc mơ.
Anh chàng này vốn quen với những sự đòi hỏi trong sự
giải thích giấc mơ. Một người chưa quen sẽ ngạc nhiên khi thấy người ta để
ý đến một chi tiết nhỏ nhặt như hình thù một cái bàn. Thực tế đối với
chúng ta chẳng có chi tiết nào là nhỏ nhặt hay không quan trọng, chính nhờ
sự tìm hiểu những chi tiết nhỏ nhặt đó mà chúng ta tìm được giải pháp cho
các bài toán trong giấc mơ. Điều làm cho các bạn ngạc nhiên có lẽ là điều
này: Tại sao người ta lại chọn cái bàn có hình thù đặc biệt để diễn tả ý
tưởng: “trong nhà chúng ta sự việc cũng xảy ra giống như ở nhà kia”. Nhưng
bạn sẽ cắt nghĩa được ngay khi tôi cho bạn biết rằng cái gia đình đó là
gia đình Tisbler (nghĩa là cái bàn). Khi cho các người thân trong gia đình
ngồi xung quanh cái bàn, người nằm mơ đã xử sự như người trong chính gia
đình này cũng tên là Tisbleer. Các bạn nên để ý là trong khi muốn giải
thích một vài điểm trong giấc mơ nhiều khi mình cũng phải nói đến một vài
điều có tính cách riêng tư. Đó chính là sự khó khăn lựa chọn. Đáng lẽ tôi
phải thay giấc mơ này bằng một giấc mơ khác nhưng biết đâu trong thí dụ
này tôi lại chẳng gặp một cái riêng tư hơn nữa.
Đến đây tôi phải đưa ra một ít danh từ nữa mà đáng lẽ
mình phải dùng đến từ lâu rồi. Chúng ta sẽ gọi là nội dung rõ ràng của
giấc mơ những điều người ta kể cho ta nghe về giấc mơ, và gợi lại những ý
tưởng tiểm tàng trong giấc mơ những điều người ta giấu không nói đến hay
ẩn náu trong giấc mơ, những ý tưởng mà người ta muốn tìm hiểu khi phân
tích những ý tưởng gặp trong đó. Chúng ta hãy xét đến những liên quan giữa
nội dung và ý tưởng tiềm tàng của giấc mơ. Những liên quan đó có thể có
nhiều loại. Trong các thí dụ a và b nói trên nội dung cũng nằm trong thành
phần của những ý tưởng tiềm tàng nhưng chỉ ít thôi. Một phần lớn tinh thần
do các ý tưởng vô thức trong giấc mơ hợp thành đã in sâu vào trong nội
dung giấc mơ với tính cách hoặc là những phần nhỏ, hoặc bằng cách ám chỉ,
hoặc là những biểu ngữ có tính cách tượng trưng, những chữ vắn tắt dùng
trong điện tín. Công việc giải thích là bổ túc những mảnh nhỏ, những ám
chỉ đó như chúng ta đã thành công trong thí dụ b. Vậy sự thay thế bằng một
mảnh nhỏ hay một ẩn ngữ trong giấc mơ chính là một trong các hình thức
thay đổi của giấc mơ. Ngoài ra trong thí dụ chúng ta thấy xuất hiện một
trường hợp tìm lại được hết sức rõ ràng trong những thí dụ sau đây.
d. Người nằm mơ kéo ra sau giường một bà mà anh quen
biết. Ý tưởng đầu tiên đến trong đầu làm cho anh ta hiểu hết ý nghĩa của
giấc mơ: anh thích người đó hơn các người khác (trong tiếng Đức chữ kéo
theo sau hervorziehen với chữ thích hơn Vorzug cùng một gốc zug và
ziehen).
e. Một người khác nằm mơ thấy em bị nhốt trong cái
rương. Ý tưởng đầu tiên thay cái rương bằng một cái tủ và ý sau cho biết ý
nghĩa của giấc mơ: em anh ta muốn giảm bớt chi tiêu (Schranktsich ein:
nghĩa từng chữ là tự nhốt vào trong tủ).
f. Người nằm mơ thấy mình trèo lên một ngọn núi và tìm
ra một phong cảnh rộng mênh mông. Chả còn gì tự nhiên hơn, có vẻ như không
cần giải thích nữa, chỉ cần tìm xem một kỷ niệm nào liên quan đến giấc mơ
và lý do nào đã làm cho kỷ niệm đó sống lại. Sai rồi. Giấc mơ này cũng cần
được giải thích như bất cứ giấc mơ nào khác vì thực ra nó cũng rắc rối
lắm. Người nằm mơ không hề nhớ đến một cuộc trèo núi, anh chỉ nghĩ đến
người bạn cho anh xuất bản tờ tạp chí (Revue tiếng Đức là Rundschau: nhìn
quanh) nói về những sự liên lạc của chúng ta với những miền xa xôi khác
trên trái đất. Vậy trong trường hợp này ý tưởng tiềm tàng trong giấc mơ
chính là sự đồng hoá người nằm mơ với người đã nhìn chung quanh mình và
duyệt lại không gian đó (Rundschuer).
Ở đây chúng ta tìm ra một liên quan mới giữa nội dung rõ
ràng của giấc mơ và những ý tưởng tiềm tàng trong đó. Nội dung không phải
là một hình thức bị biến dạng của ý thức tiềm tàng nhưng là một hình dung
của nó, hình dung nổi bật lên, cụ thể bắt nguồn từ thế giới của từ ngữ.
Thực ra cũng là một sự biến dạng vì khi chúng ta nói lên một tiếng nào đó,
chúng ta quên hẳn hình dung cụ thể phát sinh ra tiếng đó, thành ra khi nó
được thay thế bằng một hình ảnh mới thì chúng ta không nhận ra nữa. Vì các
giấc mơ thường gồm những hình ảnh thị giác là những ý tưởng hay tiếng nói
nên chúng ta phải dành cho những liên quan mới này một vai trò quan trọng
trong việc giải thích. Các bạn thấy ngay rằng trong giấc mơ rõ ràng ta có
thể tạo ra một số hình ảnh dùng để thay thế những tư tưởng trừu tượng, và
những hình ảnh này không hề phản trái với những ý tưởng tiềm tàng trong
đó. Đó là kỹ thuật của chúng ta trong việc tìm ra giải đáp cho các bài
toán về tính chất bí ẩn của những hình ảnh. Nhưng do đâu mà có sự liên kết
giữa hình ảnh này? Đó là một vấn đề khác mà chúng ta không cần xét đến.
Tôi sẽ bỏ qua một lối thứ tư về sự liên quan giữa nội
dung rõ ràng của giấc mơ và những ý tưởng tiềm tàng trong đó. Tôi sẽ nói
đến khi nó tự xuất hiện trong kỹ thuật của chúng ta. Vì thế mà sự kê khai
của chúng ta sẽ thiếu sót nhưng trong lúc này chúng ta không cần gì hơn.
Bây giờ bạn có can đảm tìm hiểu một giấc mơ hoàn toàn
không? Chúng ta thử xem có đủ mọi thứ cần dùng trong công việc đó không?
Tất nhiên chúng ta sẽ chọn một giấc mơ tuy không đến nỗi tăm tối lắm nhưng
cũng sẽ có đủ mọi tính chất của một giấc mơ.
Vậy, một bà hãy còn trẻ, lấy chồng từ nhiều năm nay, nằm
mơ như sau: bà ta cùng chồng đi xem hát, một phần rạp hát hãy còn trống.
Chồng bà ta kể là Elise và vị hôn phu cũng muốn đi xem hát nhưng không tìm
được chỗ tối, chỉ có những chỗ tối không nhận được (ba chỗ giá một florin
và 50 kreuzer). Bà ra nghĩ rằng điều đó cũng chẳng có gì đáng tiếc hết.
Điều đầu tiên bà ta kể cho tôi nghe chứng tỏ rằng lý do
của giấc mơ này nằm ngay trong nội dung rõ ràng rồi. Chồng bà ta quả thực
có kể cho bà ta nghe là Elisa L., một người bạn cùng lứa tuổi vừa mới đính
hôn xong. Vậy giấc mơ chính là một phản ứng đối với tin này. Chúng ta đã
biết rằng trong nhiều trường hợp người ta rất dễ tìm thấy trong những biến
cố xảy ra trong ngay lý do của giấc mơ, và lý do này dễ dàng được các
người nằm mơ xác nhận. Bà nằm mơ này cũng hiến cho chúng ta những tin tức
cùng loại để hiểu những yếu tố khác của giấc mơ. Do đâu mà có chi tiết về
sự rạp hát vắng khách? Chi tiết này ám chỉ đến một sự việc có thực xảy ra
ở tuần trước. Định đi xem một vở kịch bà ta mua vé trước rất lâu, lâu đến
nỗi phải trả thêm tiền giữ chỗ. Nhưng khi đến rạp hát bà ta thấy rằng mình
mua vé trước là một điều dại dột vì phần lớn rạp hát còn trống. Giá có đợi
đến tận ngày trình chiếu mới mua vé cũng chẳng thiệt hại gì. Ông chồng bà
ta cũng nói đùa với bà về sự hấp tấp quá lo xa đó. Thế còn đâu có chi tiết
về số tiền 1fl 50kr? Chi tiết này cũng bắt nguồn ở một sự việc có thật xảy
ra trước ngày nằm mơ tuy không dính dáng gì đến việc vừa kể ở trên. Người
em gái chồng bà vừa được chồng bà cho một món tiền 150 fl, vội vàng đem
ngay ra hiệu kim hoàn mua một món đồ nữ trang. Thế còn chi tiết về con số
ba (3 chỗ ngồi trong rạp hát)? Về vấn đề này bà ta không biết giải thích
ra sao, chỉ nói rằng có lẽ con số 3 là do việc người bạn bà ta chỉ kém bà
ta có ba tháng mà mãi năm nay mới đính hôn trong khi bà ta đã lấy chồng
mười năm rồi. Thế tại sao chỉ có hai người mà mua tận ba vé? Bà khách
không nói cho biết và từ chối không chịu nhớ lại gì thêm.
Nhưng những điều bà ta cho chúng ta biết đủ để cho ta rõ
đâu là những ý tưởng tiềm tàng trong giấc mơ, bà khách đã nhiều lần cho ta
biết những chi tiết có liên quan đến nhiều sự việc cùng một lúc. Trước hết
những chi tiết này có tính chất thời gian. Bà ta đã nghĩ đến việc mua vé
quá sớm, đã mua vé trước quá sớm, và do đó phải trả đắt
hơn thường lệ; người em chồng đã quá vội vàng trong việc đi mua
nữ trang chỉ sợ không mua được thôi. Nếu bây giờ chúng ta thêm vào những
sự việc quá sớm, quá vội vàng, những sự việc dính dáng đến người bạn gái
chỉ kém mình ba tháng vừa đính hôn với một người rất khá, việc trách cô em
chồng quá vội vàng, chúng ta có thể tìm ra những ý tưởng tiềm tàng sau đây
trong giấc mơ trong khi nội dung giấc mơ chỉ là một sự biến dạng của những
ý tưởng đó thôi.
“Tôi lấy chồng vội vàng quá là một điều vô tích sự. Cô
bạn gái vừa đính hôn xong đã cho tôi thấy là giá mình có chờ đến tận ngày
nay mới lấy chồng cũng chẳng thiệt thòi gì. (Sự vội vã được diễn tả trong
giấc mơ bằng sự việc mua vé quá sớm, cô em chồng quá vội vã trong việc đi
mua nữ trang. Còn việc lấy chồng thì được thay bằng việc cùng chồng đi xem
hát). Ý chính của giấc mơ là như thế. Chúng ta có thể tiếp tục nhưng không
được chắc chắn như trên, bởi vì những điều dưới đây không được chính miệng
bà ta xác nhận “và với cùng một số tiền đáng lẽ tôi phải mua được một thứ
gì đáng giá trăm lần hơn (150 fl bằng một trăm lần số tiền 1fl 50).” Nếu
thay chữ tiền bằng chữ hồi môn ta sẽ hiểu là với số tiền hồi môn chúng ta
có thể mua được một người chồng: món đồ nữ trang và những vé xem hát là
những khái niệm thay thế khái niệm người chồng. Không biết có phải là con
số 3 vé cũng dính dáng đến một người đàn ông nào không? Nhưng không có chi
tiết nào cho phép chúng ta đi xa như thế. Chúng ta chỉ cần tìm thấy là
giấc mơ chứng tỏ rằng bà khách này không yêu chồng và hối rằng đã lấy
chồng quá sớm”.
Theo tôi thì kết quả của sự giải thích này làm chúng ta
ngạc nhiên bối rối hơn là thoả mãn. Có nhiều điều xuất hiện ra quá khiến
chúng ta không biết đường nào mà mò. Ngay từ lúc này chúng ta đã thấy là
không thể nào hiểu được hết những quy tắc đó. Chúng ta hãy rút ra những dữ
kiện mà ta cho là chắc chắn mới lạ:
Thứ nhất: Điều ngạc nhiên là ý tưởng quá vội vàng
có trong các ý tưởng tiềm tàng mà không có nội dung rõ ràng của giấc
mơ. Nếu không phân tích có lẽ chẳng bao giờ người ta ngờ là có yếu tố đó.
Tức là có thể rằng, điểm chính trong một giấc mơ, trung tâm điểm của các ý
tưởng vô thức, không hiện ra trong nội dung rõ ràng của các giấc mơ, và
điều này thay đổi sâu rộng những cảm giác mà giấc mơ để lại trong tâm trí
ta.
Thứ hai: Trong giấc mơ có điểm thực khó hiểu: tại sao ba
vé mà chỉ có 1fl 50? Chúng ta tìm thấy trong những ý của giấc mơ lời giải
thích: lấy chồng quá sớm là điều dại dột. Chúng ta có thể phủ nhận rằng ý
kiến đó là điều dại dột được hình dung bằng cách đưa ra một sự dại dột vào
trong giấc mơ không?
Thứ ba: Chỉ cần nhìn sơ qua chúng ta cũng thấy rằng
những liên quan giữa những yếu tố tiềm tàng và nội dung giấc mơ không đơn
giản tí n