Cuộc cách
mạng khoa-học phát khởi ở Tây phương từ thế kỷ thứ 16, phát triển mạnh
trong thế kỷ thứ 17, mở đầu bằng những tư tưởng và công trình khảo cứu của
Nicolaus Copernicus (1473-1543), Giordano Bruno (1548-1600), Galileo
Galilei (1564-1642), Johannes Kepler (1571-1630) v...v...Người ta gọi đó
là 1 cuộc cách mạng khoa học, bởi vì nhờ đó mà Tây phương thoát ra khỏi
cảnh tăm tối đã kéo dài gần 1000 năm, từ năm 476 tới năm 1473. Thời gian
này thường được gọi là thời Trung Cổ và cũng còn được gọi là thời kỳ tăm
tối hay thời kỳ hắc ám (Dark Ages). Chính trong khoảng thời gian này, Tây
phương đã bị thống trị bởi một ý thức hệ tôn giáo độc tôn. Những giáo
điều, tín lý của Gia Tô Giáo, tôn giáo của Tây phương, cộng với quyền hành
của các lãnh tụ tôn giáo ở địa vị nắm quyền, hay liên kết với những chính
quyền đương thời, đã ngăn chặn sự phát triển khoa học và tự do tư tưởng
của con người. Mọi khám phá khoa học, mọi tư tưởng trái ngược với Thánh
Kinh đều bị lên án là 'tà đạo" (heretics), phải diệt trừ. Do đó, cũng
chính trong khoảng thời gian này, Tây phương phải chịu đựng 8 cuộc Thánh
Chiến (Crusades) và hàng trăm ngàn các vụ xử án dị giáo (Inquisitions),
với kết quả là nhiều triệu người gồm già, trẻ, lớn, bé, trai, gái đã bỏ
mạng vì, hoặc bị tàn sát, có khi tập thể; hoặc bị tra tấn bởi những dụng
cụ tra tấn kinh khủng nhất trong lịch sử nhân loại (Hơn 40 dụng cụ tra tấn
dã man này hiện được trưng bầy trong 1 bảo tàng viện nhỏ tên là Medieval
Dungeon trên đường Jefferson, khu Fisherman Warf, tại San Francisco); hoặc
bị treo cổ, hoặc bị đốt sống v...v..., tất cả chỉ vì họ không chấp nhận
hay có những tư tưởng ngược với Thánh Kinh. Thánh chiến và tòa án xử dị
giáo là những sản phẩm đặc thù của Gia Tô Giáo Âu Châu, vì người ta không
thể tìm thấy những thứ này trong lịch sử của bất cứ tôn giáo nào ở Đông
phương, nhất là Phật Giáo. Đó là những vết tỳ ố không sao tẩy xóa được
trong lịch sử loài người, dù Giáo hội Gia Tô đã làm hết sức để quảng cáo
cái bộ mặt "thánh thiện" ngụy trang dưới những chiêu bài như nhân quyền,
từ thiện v..v.. với hi vọng làm cho thế giới ngày nay quên đi cái lịch sử
tàn bạo của Giáo hội, đẫm máu và nước mắt của hàng triệu người vô tội.
Nhưng trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, giáo hội Gia Tô không thể
cứ mãi mãi che dấu tội lỗi trải dài suốt 2000 năm nay, cho nên, ngày 12
tháng 3, 2000, Giáo Hoàng John Paul II cùng 5 Hồng Y và 2 Tổng Giám Mục,
trong một "thánh lễ" tại "thánh đường" Phê-rô, đã phải "xưng thú 7 núi tội
lỗi" của "hội thánh", và "xin được tha thứ" .
Cuộc cách mạng khoa học đã gây
nên hai ảnh hưởng to lớn: Trong giới khoa học, đó là khởi điểm của các
tiến bộ khoa học hiện đại, vì từ đó các khoa học gia đã thoát ra khỏi sự
thống trị tư tưởng của tôn giáo ; trong xã hội đại chúng, đó là khởi điểm
của sự đạp đổ nền độc tài tôn giáo và những giáo điều lỗi thời, vì những
khám phá khoa học mới đã có tác dụng mở mang dân trí, chấm dứt 1000 năm
tăm tối, giải phóng con người khỏi sự chuyên chế độc tài của giới giáo sĩ
Gia Tô, điển hình là cuộc cách mạng năm 1789 tại Pháp mà kết quả là tước
bỏ quyền hành của giới giáo sĩ lãnh đạo Gia Tô giáo trong quần chúng. Để
có một nhận định khách quan và trung thực về vấn đề trên, có lẽ chúng ta
nên duyệt sơ sự diễn tiến của cuộc cách mạng khoa học, một cuộc cách mạng
vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Tây phương, được viết trong các sách giáo
khoa mà bất cứ sinh viên đại học nào học về khoa học cũng phải biết.
Trong thời Trung Cổ, tuy cũng
có những tiến bộ về khoa học và toán học, nhưng về nhân chủng học và vũ
trụ học, tất cả đều dựa trên Cựu Ước trong Thánh Kinh, một cuốn sách viết
bởi nhiều người thuộc nhiều môn phái và trong nhiều thế kỷ. Ngoài ra, Tân
Ước cũng được viết bởi nhiều người trong nhiều thế kỷ sau khi Chúa Giê-su
bị đóng đinh trên thập giá. Tuy ngày nay, nhiều học giả nghiên cứu Thánh
Kinh, và ngay cả những tín đồ Gia Tô tiến bộ, có đầu óc suy luận và kiến
thức về khoa học, đều công nhận là cuốn Thánh Kinh chứa đầy những huyền
thoại cóp nhặt từ các huyền thoại dân gian, đầy những sai lầm và mâu
thuẫn, những tư tưởng dã man của thời bán khai với những cảnh giết chóc,
tàn sát tập thể, loạn luân v...v... và hoàn toàn trái nghịch với những
khám phá mới nhất đã được kiểm chứng của khoa học. Nhưng vào thời Trung
Cổ, cuốn Thánh Kinh đã được giới lãnh đạo Gia Tô coi như chính là những
lời của Thần Gia Tô, do đó không thể sai lầm.
Theo sự đoan quyết của các nhà
thần học Gia Tô, dựa trên Thánh Kinh, thì thế giới mà chúng ta đang sống
là thế giới duy nhất do Thượng Đế tạo ra, và trái đất là trung tâm của thế
giới này. Mặt trời và các hành tinh khác đều do các thiên thần xoay vần
xung quanh trái đất. Trên trái đất là 1 vòm trời cứng để giữ nước ở phía
trên, có những cánh cửa mở để nước rơi xuống thành mưa theo hứng của
Thượng Đế. Những sao trên trời là những ngọn đèn mà tối tối Thượng Đế mang
ra treo. Vì đó là những lời của Thượng Đế trong Thánh Kinh nên bất cứ quan
niệm nào không phù hợp với Thánh kinh đều bị coi là "tà thuyết" và, theo
Thánh Philastre, đương nhiên "sai lầm đối với đức tin Gia-Tô" (Any other
view, St. Philastrius declared "false to the Catholic faith" ("Science and
Theology" by Andrew Dickson White).
Nhưng vào đầu thế kỷ 16,
Nicolaus Copernicus, một nhà thiên văn người Ba Lan, đã đưa ra một khám
phá mới: đó là, không phải là mặt trời và các hành tinh quay xung quanh
trái đất, mà chính là trái đất và các hành tinh quay xung quanh mặt trời.
Copernicus không dám phổ biến khám phá này như là một sự thực khoa học.
Nhưng cuối cùng ông cũng xuất bản một cuốn sách: "Chuyển động quay của các
thiên thể" (Revolutions of the Heavenly Bodies) trong đó có ghi những khám
phá của ông. Để tránh cho Copernius những hậu quả khó có thể lường trước
được, trong phần đề Tựa cuốn sách, bạn của Copernicus là Osiander đã khéo
léo trình bày công trình khảo cứu của Copernicus như là một giả thuyết
(hypothesis) hay là một nghịch lý (paradox). Nhưng, khi cuốn sách vừa được
xuất bản thì Copernicus qua đời, vào năm 1543. Do đó Tòa Thánh cũng làm
ngơ và cho phép các nhà thần học thỉnh thoảng được bàn tới "giả thuyết"
của Copernicus. Sự chống đối trong giới khoa học tuy có nhưng chỉ ngấm
ngầm, không ai dám lên tiếng coi thuyết của Copernicus là một chân lý, vì
sợ bị kết án là tà đạo, tra tấn, mang ra xử tại tòa án xử dị giáo, và đưa
đi thiêu sống.
Tuy nhiên, có một triết gia
thuộc loại "uy vũ bất năng khuất", đó là Giordano Bruno, một Linh mục dòng
Dominique người Ý. Bruno không những đồng ý với Copernicus mà còn táo bạo
hơn, đưa ra quan niệm là ngoài thế giới chúng ta đang sống có thể còn có
nhiều thế giới tương tự khác nữa. Điều này trái với lời của Thượng Đế
trong Thánh Kinh: "Trái đất là trung tâm của thế giới duy nhất mà chúng ta
đang sống." Do đó, Bruno bị bắt giam trong 6 năm. Sau cùng, vì từ chối
không chịu chấp nhận những điều trái với niềm tin mà ông cho là đúng, dù
rằng nếu chấp nhận chúng ông sẽ được tự do, ông bị đưa ra tòa án xử dị
giáo, kết án là có tội, dứt phép thông công và bị tuyên án tử hình bằng
cách thiêu sống. Ông bị các linh mục, những người được Chúa dạy là phải
thương yêu kẻ thù, dẫn từ nhà tù ra nơi hành hình. Ông bị cột vào một cọc
xung quanh có chất củi. Rồi các linh mục, đệ tử của Chúa Ki-Tô, châm lửa
và thiêu sống vị Thánh tử đạo vĩ đại nhất, hoàn hảo nhất này. (He believed
in a plurality of worlds, in the rotation of this, in the heliocentric
theory. For these crimes, and for these alone, he was imprisoned for six
years. He was offered his liberty, if he would recant. Bruno refused to
stain his soul by denying what he believed to be true. He was tried,
condemned, excommunicated and sentenced to be burned. He was taken from
his cell by the priests, by those who loved their enemies, led to the
place of execution..He was chained to a stake and about his body the wood
was piled. Then priests, followers of Christ, lighted the fagots and
flames consumed the greatest, the most perfect martyr, that ever suffered
death. ("Ingersoll The Magnificient" By Joseph Lewis).
Năm 1616, kính thiên văn đầu
tiên của Galilei đã làm cho vòm trời trong Thánh Kinh rớt ra từng mảng.
Công cuộc khảo cứu của Galileo Galilei dựa trên sự quan sát thiên văn qua
hàng loạt những kính thiên văn ngày càng tân kỳ hơn, đã thực chứng quan
niệm của Bruno và đồng thời khẳng định thuyết của Copernicus như là một
chân lý khoa học. Chúng ta đã biết, năm 1633, dưới triều Giáo Hoàng Urban
VIII, tòa án xử dị giáo đã buộc Galilei phải sửa đổi khám phá khoa học của
ông cho phù hợp với Thánh Kinh, nghĩa là mặt trời quay xung quanh trái
đất, và dù vậy vẫn biệt giam ông tại nhà cho đến khi ông chết vào năm
1642.
Ngoài ra, cùng thời với Galilei
còn có nhà thiên văn và toán học người Đức là Johannes Kepler. Không những
Kepler đồng ý với Copernicus và Galilei mà ông còn đưa ra 3 định luật về
cơ học các thiên thể (celestial mechanics) để mô tả một cách vô cùng chính
xác sự chuyển động của các hành tinh, trong đó có trái đất, xung quanh mặt
trời. Đó là:
1. Quỹ đạo của các hành tinh
quay xung quanh mặt trời là hình ellip (bầu dục) thay vì hình tròn.
2. Các hành tinh quét những
khoảng không gian bằng nhau trong những khoảng thời gian bằng nhau.(Nghĩa
là tùy theo vị trí của hành tinh trên quỹ đạo ellip, vận tốc chuyển động
của hành tinh khác nhau)
3. Bình phương chu kỳ quay T
(thời gian quay được một vòng quỹ đạo) thì tỷ lệ thuận với lập phương
khoảng cách trung bình R giữa hành tinh và mặt trời. (T^2 tỷ lệ thuận với
R^3).
Kepler cũng bị Tòa Thánh chỉ
trích, hành hung và bắt bớ giam cầm trong nhiều năm, nhưng các khoa học
gia khác như Descartes, Fermat, Newton v...v...đều ủng hộ ông cùng góp
phần phát minh ra những khám phá mới. Sau cùngc, giáo hội Gia Tô chỉ còn
biết đưa ra sắc lệnh lên án các kết quả khảo cứu của Copernicus và Galilei
là sai lầm, thí dụ như: "Điểm thứ nhất, nói rằng mặt trời là trung tâm và
không quay xung quanh trái đất, là điên rồ, vô nghĩa, sai lầm về thần học,
và là tà thuyết vì trái ngược hẳn với Thánh Kinh; và điểm thứ hai, nói
rằng trái đất không phải là trung tâm mà lại quay xung quanh mặt trời , là
vô nghĩa, sai lầm về triết lý, và ít nhất từ quan điểm thần học, đối
nghịch với đức tin chân thật" (The first proposition, that the sun is the
centre and does not revolve about the earth, is foolish, absurd, false in
theology, and heretical, because expressely contrary to the Holy
Scriptures; and the second proposition, that the earth is not the centre
but revolves about the sun, is absurd, false in philosophy, and from a
theological point of view at least, opposed to the true faith. ("The
Scientific Revolution" Edited by Vern L. Bullough.)) và cấm các giáo sĩ và
con chiên đọc sách của Copernicus và Galilei. Lệnh cấm này kéo dài suốt
278 năm cho tới năm 1821 mới được Giáo Hoàng Pius VII thu hồi. Nhưng cấm
thì cứ cấm, giới trí thức cùng người dân đọc thì vẫn cứ đọc. Dần dần quyền
hành tôn giáo ở Âu Châu không còn địa vị độc tôn và giữ quyền sinh sát như
trước nữa, vì cuộc cách mạng khoa học và các phát triển khoa học về sau
trong mọi ngành, nhất là về nhân chủng học và di truyền học, và phương
pháp định tuổi của vật chất bằng phóng xạ đồng vị của Carbon và của vài
nguyên tố khác đã làm sụp đổ tận gốc rễ thuyết sáng tạo trong Thánh Kinh,
căn bản tín ngưỡng của Gia Tô giáo . Đó là ảnh hưởng trực tiếp to lớn của
cuộc cách mạng khoa học trên xã hội Tây phương. Ngày nay, những người còn
tin ở thuyết sáng tạo là do lòng tin lập thành trong tôn giáo chứ không
phải lòng tin qua suy lý khoa học.
Nhiều trí thức khoa học hiện
đại đã đặt vấn đề: trong một bối cảnh lịch sử cách mạng khoa học như trên,
thái độ của Phật Giáo sẽ ra sao? Cũng có vài trí thức Tây phương cho rằng
có thể thái độ của Phật Giáo cũng tương tự như của Thiên Chúa Giáo (Some
Western writers on religion seem to have assumed that this was so
("Buddhism and the Scientific Revolution" By K. N. Jayatilleke)), nhưng
những người hiểu biết chút ít về Phật Giáo thì lại bác bỏ hoàn toàn luận
cứ này.
Thật vậy, giáo lý căn bản của
Phật giáo là chứng nghiệm bản thân, cho nên rất phù hợp với tinh thần khoa
học. Hơn nữa, Phật Giáo không có Thánh Kinh, không có "bí tích" bắt buộc
phật tử phải tin, không có thần quyền, không có giáo điều khô cứng, cho
nên chúng ta có thể đoan chắc rằng Phật giáo sẽ rất hòa hợp với những sáng
tạo trong khoa học đừng nói đến chuyện đối kháng hay tìm cách ngăn chặn,
diệt trừ.
Về phương diện thuyết lý, quan
niệm về vũ trụ của Bruno rất phù hợp với quan niệm của Phật Giáo cách đây
đã hơn 2500 năm về trước, rằng ngoài thế giới chúng ta đang sống còn có
hằng hà sa số thế giới khác. Nếu Bruno sống trong một xứ Phật Giáo thì
Bruno sẽ được tôn vinh thay vì đưa lên giàn hỏa để thiêu sống. Quan niệm
tương đối trong các Kinh Phật không có gì trái nghịch với quan niệm của
Copernicus và Galilei về các chuyển động của trái đất và các hành tinh
xung quanh mặt trời. Thật vậy, theo Phật Giáo thì mọi sự vật trên thế gian
đều chỉ là tương đối. Điều này có nghĩa là hình sắc, tính chất của mọi sự
vật luôn luôn biến đổi tùy theo cảnh giới trong đó sự vật thể hiện. Nói
một cách giản dị thì tương đối có nghĩa là "thấy vậy mà không phải vậy",
bởi lẽ tùy theo quan điểm và vị thế quan sát của mỗi người, danh từ khoa
học gọi là "hệ thống qui chiếu", hình sắc và tính chất của một vật có thể
khác nhau (Kinh Thủ Lăng Ngiêm). Cho nên, một Thiền Sư hay một phật-tử có
thể hiểu rất rõ rằng trong Thái Dương Hệ thì trái đất quay xung quanh mặt
trời, nhưng hàng ngày thì vẫn thấy mặt trời "mọc" ở phương Đông và "lặn" ở
phương Tây. Hai điều này không có gì là trái ngược nhau, vì một thuộc Chân
Đế và một thuộc Tục Đế.
Cuộc cách mạng khoa học đã mở
đầu cho một kỷ nguyên mới cho nền khoa học tân tiến hiện đại, và cho tới
ngày nay khoa học đã đạt được nhiều thành quả ngoạn mục trong mọi ngành.
Song song với sự phát triển của khoa học, càng ngày các khoa học gia càng
nhận ra sự tương đồng giữa những quan niệm xa xưa của Phật Giáo và những
khám phá mới của Khoa học, và trong nhiều vấn đề tư tưởng Phật Giáo đã đi
trước khoa học khá xa. Không những vậy,trong nhiều trường hợp, các khoa
học gia đã phải mượn những tư tưởng trong Phật Giáo để giải thích những
hiện tượng khoa học. Lẽ dĩ nhiên, trong một bài báo ngắn ngủi tôi không
thể nào kể ra hết những sự tương đồng, dù chỉ ở ngoài mặt, giữa khoa học
và Phật Giáo. Sau đây tôi chỉ xin nêu ra vài thí dụ quen thuộc.
Sự phát minh ra kính hiển vi
rồi kính hiển vi điện tử đã giúp con người nhìn thấy những vật nhỏ li ti
như các vi khuẩn mà mắt thường không thể nhìn thấy được. Nhưng ngày xưa,
Đức Phật đã dạy các đệ tử mỗi khi uống nước hãy niệm chú để phổ độ cho các
chúng sinh nhỏ nhoi ở trong nước và ngài còn khẳng định trong mỗi giọt
nước có tới 84000 vi vật. Chúng ta nên hiểu con số trên, tuy có nhiều ý
nghĩa, nhưng trong trường hợp này tượng trưng cho một con số lớn chứ không
phải là một con số chính xác. Điều Đức Phật dạy như trên ngày nay chúng ta
có thể kiểm chứng bằng kính hiển vi. Đọc Kinh Phật càng ngày tôi càng thấy
nhiều điều kỳ lạ. Ở một thời chưa có những dụng cụ khoa học tinh vi, nền
khoa học Tây phương còn phôi thai, mà Đức Phật đã biết những điều mà hơn
2000 năm sau khoa học tiến bộ Tây phương mới kiểm chứng được, tôi nghĩ
không có cách giải thích nào khác ngoài sự tin tưởng rằng Đức Phật đã biết
rõ cơ cấu huyền bí của vũ trụ. Thí dụ sau đây sẽ chứng tỏ luận cứ trên
không phải là hoang đường.
Chúng ta đã biết, về thời gian
thì Phật giáo có quan niệm "vô thỉ, vô chung", không có bắt đầu và cũng
không có tận cùng. Và khi được hỏi là vũ trụ hữu hạn hay vô hạn, hay vừa
hữu hạn vừa vô hạn, hay vừa không hữu hạn vừa không vô hạn, thì Đức Phật
giữ yên lặng, không trả lời. Có người diễn giảng là: sự hiểu biết về những
vấn đề này không ích lợi gì cho sự tu tập trong Phật giáo nên Đức Phật
không trả lời để cho hành giả khỏi vướng mắc vào những sự viển vông mà lo
vấn đề tu tập, thực tế hơn. Cũng có người giảng giải là Đức Phật giữ yên
lặng để hiển dương tính vô chấp trong Phật Giáo. Nhưng nếu chúng ta tìm
hiểu ít nhiều về những tiến bộ của khoa học hiện đại thì có thể chúng ta
sẽ thấy rằng Đức Phật không trả lời vì Người đã nắm vững cơ cấu huyền bí
của vũ trụ, và thái độ của Người cách đây hơn 2500 năm hoàn toàn phù hợp
với những khám phá hiện đại nhất của khoa học.
Thật vậy, các khoa học gia, tuy
chưa đạt tới kết luận chung cùng về nguồn gốc loài người và nguồn gốc vũ
trụ, nhưng tất cả đều đồng ý là thuyết sáng tạo có rất nhiều mâu thuẫn, vô
lý, và phản khoa học. Thí dụ như ánh sáng là những sóng điện từ và màu sắc
của ánh sáng tùy thuộc tần số dao động của ánh sáng. Ta có thể phân một
loại ánh sáng, thí dụ như ánh sáng trắng, ra làm nhiều ánh sáng màu sắc
khác nhau qua một chiếc lăng kính chẳng hạn, nhưng ánh sáng không phải là
một "vật" mà ta có thể chia làm 2 phần, sáng và tối, như Thượng Đế đã làm
trong ngày thứ nhất của thuyết sáng tạo. Tối là vì không có ánh sáng chứ
tối không phải là một phần của ánh sáng. Thí dụ thứ hai là khoa di truyền
học ngày nay đã chứng tỏ rằng các giống người khác nhau là do di truyền.
Không có một cặp vợ chồng người Việt Nam nào có thể sinh ra một đứa con
Phi Châu. Vậy nếu nhận Adam và Eve là tổ tông loài người thì một câu hỏi
được đặt ra là Adam và Eve là người giống nào, da đen? da trắng? da đỏ? da
vàng? Và những sắc dân khác nhau này từ đâu mà ra? Chúng ta nên nhớ rằng,
theo Thánh Kinh thì Thần Gia Tô mới tạo ra thế giới và Adam cách đây 6000
năm, trong khi khoa học đã chứng minh rằng trái đất của chúng ta đã có
tuổi ít ra là 4 tỷ rưỡi năm, và tổ tiên loài người đã xuất hiện trên trái
đất cả gần 2 triệu năm nay rồi. Đọc Cựu Ước, chúng ta thấy rõ là Adam và
Eve là tổ tiên của giống người Do Thái, vậy làm sao mà Adam và Eve có thể
là tổ tông của những giống người khác như da đen hay da vàng v..v.. Người
Việt Nam chúng ta tuyệt đối không liên hệ gì tới những nhân vật hoang
đường như Adam và Eve trong lịch sử Do Thái. Charles Darwin đã đưa ra
thuyết tiến hóa, và càng ngày những bằng chứng tràn ngập trong mọi bộ môn
khoa học càng chứng tỏ thuyết tiến hóa của Darwin là đúng. Phật giáo và
khoa học đều không chấp nhận thuyết sáng tạo. Đặc biệt, thuyết tiến hóa
của Darwin không xa với thuyết duyên sinh của Phật Giáo bao nhiêu. Tôi sẽ
bàn tới sự tương đồng này ở một nơi khác. Hi vọng trong tương lai khoa học
sẽ đưa ra một thuyết phù hợp với những quan niệm về nghiệp chuyển, vô thỉ
vô chung, và duyên sinh của Phật giáo.
Sau đây tôi xin trình bày hết
sức sơ lược quan niệm về thời gian và vũ trụ của khoa học hiện đại. Chúng
ta sẽ thấy những quan niệm này cũng là những quan niệm xa xưa của Phật
giáo. Vấn đề khá phức tạp nhưng phần lớn những điều tôi viết sau đây đều
có thể chứng minh bằng toán học.
Thuyết tương đối suy rộng
(general theory of relativity) của Albert Einstein đã vô cùng thành công
trong việc giải thích thuyết về trọng trường, nghĩa là vạn vật hấp dẫn
(theory of gravitation). Trong những thập niên 1960 và 1970, các khoa học
gia đã làm nhiều thí nghiệm để kiểm chứng những sự tiên đoán dựa vào
thuyết này, và trong mọi trường hợp, thuyết tương đối suy rộng đã được
công nhận là đúng. Thuyết tương đối, tuy rất thành công trong việc tiên
đoán các hiện tượng ở cấp thô đại, nhưng lại gặp nhiều khó khăn chưa giải
quyết được khi áp dụng thuyết này vào những trường hợp ở cấp cực vi, tiềm
nguyên tử (subatomic), cấp vật chất thuộc lãnh vực khảo sát của cơ học
nguyên lượng (quantum mechanics). Tuy nhiên, thuyết tương đối của Einstein
đã cho chúng ta một hình ảnh chính xác về vũ trụ: " vũ trụ có thể có 3 cấu
hình, hoặc mở, hoặc đóng, hoặc phẳng dẹt." (Einstein's theory tell us that
there are three possible configurations that the universe might have. It
is either open, or closed, or flat. ("The Edges of Science" By Richard
Morris)). Nhưng dù theo cấu hình nào thì vũ trụ cũng phát khởi từ một sự
bùng nổ lớn (big bang). Thuyết "big bang" ngày nay đã được mọi người chấp
nhận kể cả Gia Tô giáo như tôi sẽ trình bày hết sức sơ lược sau đây. Tôi
sẽ viết kỹ hơn và đầy đủ hơn về thuyết Big Bang trong một bài khác.
Thuyết "big bang" bắt nguồn từ
sự khám phá ra hiện tượng "vũ trụ nở rộng" (expansion of the universe) của
Edwin Hubble vào năm 1929. Hubble quan sát được rằng, các thiên hà
(galaxy) cứ di chuyển mỗi ngày một xa trái đất hơn, và thiên hà nào càng ở
xa trái đất thì di chuyển càng nhanh, và khoảng cách giữa các thiên hà
cũng càng ngày càng xa dần. Điều này chứng tỏ vũ trụ không cố định mà càng
ngày càng nở rộng. Tính ngược thời gian thì tại một thời điểm nào đó, cách
đây khoảng 15 tỉ năm, vũ trụ chỉ là một dị điểm (singularity) vô cùng nóng
và vô cùng đặc theo nghĩa dị điểm này có 1 chất lượng vô tận (infinite
mass). Dị điểm này bùng nổ và biến đổi dần dần thành vũ trụ hiện nay. Sự
bùng nổ lớn này (big bang) được coi như là nguồn gốc của vũ trụ, và vũ trụ
có cấu hình nào, đóng, hay mở, hay phẳng dẹt, là do số lượng vật chất có
trong vũ trụ. Không đi vào chi tiết, vũ trụ đóng là một vũ trụ hữu hạn
trong đó không gian tự khép lại trên chính nó nhưng không có biên giới.
Khuôn mẫu này khá trừu tượng nhưng có thể mô tả được bằng toán học và
người ta có thể tìm hiểu tính chất của nó một cách khá chi tiết. Lượng vật
chất trong vũ trụ đóng này sẽ làm cho vũ trụ ngưng nở rộng trong tương lai
và vũ trụ lại co lại dần dần thành 1 dị điểm như lúc đầu, danh từ khoa học
gọi là sự "tới hạn lớn" (big crunch). Vũ trụ mở thì vô hạn (infinite),
luôn luôn nở rộng vì lượng vật chất trong đó không đủ để làm ngưng sự nở
rộng này. Trọng trường có thể làm cho sự nở rộng càng ngày càng chậm nhưng
không bao giờ ngưng. Vũ trụ phẳng dẹt là vũ trụ trong đó lượng vật chất đã
tới hạn, nghĩa là vừa đủ để làm cho sự nở rộng hầu như ngưng lại mà không
phải là ngưng.
Như trên đã nói, thuyết "big
bang" đã được hầu như mọi người đều chấp nhận kể cả Gia Tô Giáo La Mã.
Thật vậy, Stephen Hawking, một vật lý gia nổi tiếng nhất hiện nay về những
thuyết vũ trụ của ông đã kể như sau:
"Năm 1981, khi dự một cuộc hội
thảo về vũ trụ học do các cha dòng Tên tổ chức ở Vatican, tôi lại quan tâm
tới vấn đề nguồn gốc và số phận của vũ trụ. Giáo hội Gia Tô đã phạm phải
một sai lầm nghiêm trọng đối với Galileo khi đặt luật lệ tôn giáo trên 1
vấn đề khoa học, rằng mặt trời quay xung quanh trái đất. Nay, nhiều thế kỷ
sau, giáo hội quyết định mời một số chuyên gia để cố vấn cho họ về vũ trụ
học. Cuối cuộc hội thảo, các tham dự viên được hội kiến với Giáo hoàng.
Ông ấy bảo chúng tôi rằng có thể nghiên cứu về sự tiến hóa của vũ trụ sau
sự nổ bùng lớn, nhưng không nên tìm hiểu về chính sự bùng nổ lớn vì đó là
lúc sáng tạo và đó là sáng tạo của Thượng Đế. Tôi rất mừng vì ông ta không
biết đến đề tài mà tôi mới trình bày trong cuộc hội thảo - có thể là miền
không-thời gian hữu định nhưng không có biên giới, nghĩa là không có bắt
đầu, không có lúc Sáng Tạo."
(In 1981 my interest in
questions about the origin and fate of the universe was reawakened when I
attended a conference on cosmology organized vy the Jesuits in the
Vatican. The Catholic Church had made a bad mistake with Galileo when it
tried to lay down the law on a question of science, declaring that the sun
went around the earth. Now, centuries later, it had decided to invite a
number of experts to advise it on cosmology. At the end of the conference
the participants were granted an audience with the pope. He told us that
it was all right to study the evolution of the universe after the big
bang, but we should not inquire into the big bang itself because that was
the moment of Creation and therefore the work of God. I was glad then that
he did not know the subject of the talk I had just given at the conference
- the possibility that space-time was finite but had no boundary, which
means that it had no beginning, no moment of Creation. ("A Brief History
of Time" By Stephen Hawking, p. 116)).
Theo Stephen Hawking thì "điều
kiện biên của vũ trụ là không có biên giới". Vũ trụ có tính cách hoàn toàn
tự có sẵn và không bị ảnh hưởng của bất cứ gì ở ngoài nó. Vũ trụ chẳng
sanh chẳng diệt. Nó là như vậy. ("The boundary condition of the universe
is that it has no boundary." The universe would be completely
self-contained and not affected by anything outside itself. It would
neither be created nor destroyed. It would just be. (Ibid., p. 136)).
Một câu hỏi liên quan đến quan
niệm về thời gian là: Trước sự bùng nổ lớn thì thời gian ra sao? Theo khoa
học thì khi vũ trụ là một dị điểm thì tất cả những định luật vật lý, kể cả
quan niệm về thời gian đều không áp dụng được. Vì khi đó thời gian không
còn tính chất của thời gian nữa, ít nhất là theo nghĩa chúng ta thường
hiểu về thời gian. Cho nên, không thể nói là vũ trụ bắt đầu từ đâu, sanh
ra từ đâu. Thuyết này đã được kiểm chứng bằng toán học và hoàn toàn phù
hợp với những sự kiện trong khuôn mẫu nở rộng của vũ trụ (inflationary
paradigm). Theo Hawking, nếu vũ trụ chẳng sanh thì tất nhiên nó cũng chẳng
diệt, vì thời gian cũng trở thành vô biên (no boundary in time). Nếu
thuyết của Hawking đúng thì vũ trụ có cấu hình đóng như đã mô tả ở trên,
nghĩa là tới một thời điểm nào đó thì vũ trụ ngưng dãn thêm và bắt đầu co
dần trở lại thành 1 dị điểm. Vậy sau đó thì sao? Câu hỏi này không thích
hợp vì không có gì có thể gọi là "sau đó". "Sau đó" nằm trong quan niệm về
một dòng thời gian, nhưng thời gian lại mất thời gian tính khi vũ trụ là
một dị điểm, cho nên những thắc mắc về "trước big bang" và "sau big
crunch" là những thắc mắc vô nghĩa.
Chúng ta thấy rằng, những
thuyết mới nhất về vũ trụ trong khoa học hiện đại rất phù hợp với quan
niệm "vô thỉ vô chung", "vô thường" của Phật Giáo, và thái độ giữ yên lặng
của đức Phật trước những câu hỏi về siêu hình đã phản ánh sự kiện nắm vững
cơ cấu huyền bí của vũ trụ của Người. Cho nên, chúng ta có thể nói, đối
với cuộc cách mạng khoa học, Phật giáo không có gì phải chống đối, vì thật
ra cuộc cách mạng khoa học đã nằm trong các tư tưởng Phật giáo rồi. Kinh
điển Phật giáo là một rừng tư tưởng vĩ đại, rất phù hợp với tính chất thực
tế của khoa học, tự hợp (self-consistent), tự giải (self-explained), hoàn
toàn không có chút nào huyền hoặc, viển vông. Tâm Kinh viết rằng: "Không
tướng của mọi Pháp chẳng sanh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng tăng
chẳng giảm" chẳng phải đã nói lên tính chất không phụ thuộc vào thời gian,
không gian, mà còn đi xa hơn, không phụ thuộc vào cả tính chất vật lý nữa?
Các Thiền sư thường nói: thực chứng được Tính Không của mọi Pháp là thực
chứng được Phật Tánh. Nay chúng ta đã hiểu tại sao một số luận gia đã so
sánh Phật Tánh, Chân Như với Vũ Trụ vì ngoài đặc tính chẳng sanh chẳng
diệt, chẳng tăng chẳng giảm (lượng vật chất trong vũ trụ luôn luôn như vậy
bất kể vũ trụ co hay dãn), ngày nay, một số khoa học gia còn quan niệm
phải nhìn vũ trụ một cách toàn ký (holographic view of the universe). Cách
nhìn toàn ký vũ trụ là nội dung của Kinh Hoa Nghiêm, hiển nhiên không
thuộc phạm vi đề tài của bài viết này.