Lược sử thời gian
(A Brief History of Time)
Tác giả:
Khoa học gia
Stephen Hawking
Dịch giả:
Cao Chi
và
Phạm Văn Thiều
Nhà Xuất Bản Văn hóa Thông tin, 2000.
---o0o---
Phần 2
VŨ
TRỤ TUẦN HOÀN
Nicolaus Copernicus:
và tác phẩm De Revolutionibus Orbium Coelestium
Ngay từ thời tiền sử, con người đã bị mê hoặc bởi quang
cảnh bầu trời hùng vĩ: Mặt trời, mặt trăng, các hành tinh, các ngôi sao và
sự tuần hoàn không lúc nào ngừng của các vì tinh tú ấy. Mặt trời mọc rồi
lặn, mặt trăng tròn rồi khuyết, bốn mùa thay đổi, các hành tinh xuất hiện
rồi biến đi không những chỉ là những sự kiện có thể quan sát được mà trên
nhiều phương diện còn ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của nhân loại. Vì
vậy, không lạ gì có hàng vạn chuyện hoang đường và ngay cả vô số tín
ngưỡng, tôn giáo đã phát sinh từ những hiện tượng của bầu trời ấy.
Khi trình độ văn minh tiến bộ, các triết gia đã tìm cách
giải thích chuyển động tuần hoàn của bầu trời bằng những danh từ hợp lý.
Các nhà khoa học và tư tưởng tiến bộ hơn hết về khoa thiên văn thời xưa là
người Hy Lạp, bắt đầu với Pythagoras vào thế kỷ thứ năm và Aristotle vào
thế kỷ thứ tư trước Công nguyên. Một người Ai Cập, Claudius Ptolemy sinh
sống ở Alexandria khoảng năm 150 sau Công nguyên đã hệ thống lại những
hiểu biết của mình và của các đời trước thành một số những lý thuyết dễ
hiểu. Trong khoảng từ 1.500 thuyết của Ptolemy, như được trình bày trong
quyển “The Almagest” đã chế ngự trí óc con người và được công nhận như là
quan niệm chính xác về vũ trụ.
Thuyết của Ptolemy được
tạo dựng trên ý niệm: Quả đất là một khối đứng yên, bất động, nằm giữa
trung tâm vũ trụ và tất cả các thiên thể gồm mặt trời và các định tinh đều
quay xung quanh nó. Hồi đó người ta tin tưởng quả đất là trung tâm của hệ
thống các tinh cầu. Các hành tinh được kết cứng vào hệ
thống đó. Các ngôi sao thì được cột chặt vào một quả cầu khác bọc bên
ngoài hệ thống đó, và tất cả đều quay mỗi vòng trong hai mươi bốn giờ. Sự
chuyển động phức tạp của các định tinh đã được giải thích là đã được đính
vào các vòng ngoài (épicycles), còn các vòng đính các hành tinh nằm ở
trong (planetary spheres) thì quay ngược chiều với vòng hình cầu của các
vì sao (sphere of stars) nhưng lại bị lôi cuốn theo bởi một lực mạnh hơn.
Sao Thổ được coi là hành tinh xa tâm điểm nhất và gần vòm hình cầu của các
vì sao hơn hết, do đó nó quay một vòng phải mất một khoảng thời gian lâu
hơn cả. Mặt trăng gần tâm điểm nhất nên xoay xong một vòng với thời gian
ít nhất. Rosen mô tả quan niệm của Ptolemy như sau:
“Lý thuyết thông thường lúc bấy giờ chủ trương rằng
các hành tinh thường di chuyển về hướng đông, đồng thời chậm dần lại cho
tới khi ngừng hẳn, rồi tự đảo ngược một lần thứ hai để tiếp tục cuộc hành
trình về phía Đông, và cứ tiếp tục như thế mãi mãi”.
Vũ trụ do đó được coi như một khoảng có giới hạn bởi một
cái bao hình cầu bọc lại. Bên ngoài vũ trụ không còn gì nữa.
Người ta dễ dàng chấp nhận thuyết của Ptolemy vì hai yếu
tố mà hai yếu tố đó chính là phản ánh bản tính của con người: Yếu tố thứ
nhất là vì thuyết đó có vẻ phù hợp với những điều mà người nào ngẫu nhiên
quan sát cũng thấy. Yếu tố thứ hai là vì nó nuôi dưỡng cái chủ quan của
con người. Sung sướng bao nhiêu khi người ta tin rằng quả đất là tâm điểm
của vũ trụ, mọi hành vi và định tinh đều quay xung quanh mình. Cả vũ trụ
hình như chỉ được Chúa Trời tạo dựng để phục vụ con người.
Lâu đài vũ trụ kiến trúc
xinh đẹp như nói trên vẫn còn nguyên vẹn cho tới khi xuất hiện trào lưu
Phục hưng, một trào lưu vĩ đại về sự bừng tỉnh trí thức ở châu Âu.
Phá hủy lâu đài kiến thúc ấy là công lớn của Nicolaus
Copernicus, “một giáo sĩ, vừa là họa sĩ, thi sĩ, vật lý gia, chiến sĩ và
vừa là nhà khoa học...”, một trong những nhân vật uyên bác toàn diện đã
làm cho thời Phục hưng được muôn đời ca tụng.
Bảy mươi tuổi đời của Copernicus từ năm 1473 đến năm
1543 là giai đoạn hào hứng nhất và cũng nhiều sự kiện nhất của lịch sử
châu Âu: Columbus tìm ra châu Mỹ; Magellan đi vòng quanh trái đất; Vasco
de Gama lần đầu tiên vượt biển sang ấn Độ; Martin Luther khởi xướng đạo
Tin Lành cải cách; Michel Angelo xây dựng một thế giới nghệ thuật mới;
Paracelsus và Vesalius đặt nền móng cho khoa y học hiện đại; và Leonardo
da Vinci, “một thiên tài toàn diện”, nổi tiếng là họa sĩ, nhà điêu khắc,
kỹ sư, nhà kiến trúc, nhà vật lý, nhà sinh vật học và triết gia. Đó quả là
một thời đại thuận lợi biết bao để một thiên tài khác, Copernicus cống
hiến cho nhân loại một vũ trụ quan mới.
Nicolaus Copernicus sinh tại Torun, một thị trấn trên bờ
sông Vistula của Ba Lan, một thị trấn trước kia nằm trong Hiệp hội những
thành phố tự do ở Phổ. Về hướng nghiệp ông sớm bị ảnh hưởng sâu rộng của
người cậu là Lucas Watzelrode sau này làm Tổng Giám mục ở Ermeland. Ông
được hấp thụ một nền giáo dục lâu dài và phức tạp, trước ở Trường sơ cấp
Torun, sau năm 1491, tại Trường đại học Krakow. Trường đại học này cuốn
hút ông vì nổi tiếng là trung tâm lãnh đạo châu Âu về toán học và thiên
văn học. Năm năm sau Copernicus du lịch sang Italia, tiếp tục học ở
Bologna, một trong những trường đại học cổ xưa nhất và nổi tiếng nhất châu
Âu. Ông bỏ hết thì giờ vào việc học Giáo luật và thiên văn học. Sau đó ông
đến sống ở Rome một năm, vừa dạy toán vừa dạy thiên văn. Sau cùng, năm năm
học Y khoa và Giáo luật ở Padua và Ferrara, đã hoàn tất chương trình học
vấn của ông. Văn bằng Tiến sĩ Giáo luật được cấp cho ông năm 1503 ở
Ferrara.
Trong khi đó, do ảnh hưởng của người cậu, Copernicus
được phong linh mục ở Vương cung Thánh đường thánh Frauenburg và đó là nơi
ông sống 37 năm còn lại đời mình sau khi từ Italia trở về vào năm 1506.
Nhiệm vụ linh mục của Copernicus rất phức tạp: ông chăm
sóc thuốc men cho các tu sĩ và giáo dân; giúp việc phòng thủ quận của ông
về quân sự trong cuộc chiến tranh tái phát giữa Ba Lan, Phổ và các chiến
binh người Đức; tham dự hội nghị hòa bình được triệu tập sau khi chiến
tranh kết thúc; góp ý cải tổ vấn đề đúc tiền và lưu hành tiền tệ, cai quản
những họ đạo xa xôi thuộc địa phận ông; và để giải trí, ông vẽ và dịch các
tác phẩm thi ca Hy Lạp sang tiếng Latinh.
Nghiên cứu thiên văn chỉ
là một trong những hoạt động của Copernicus, con người có tri thức toàn
diện. Nhưng dần dần môn khoa học đó trở thành mối quan tâm lớn nhất của
ông, khi ông thấy phát sinh những nhận định về các hiện
tượng thiên văn, những ý niệm này hình như đã nảy nở trong tâm trí ông từ
trước và được tăng lên qua sự học hỏi ở các trường đại học Krakow và
Italia. Copernicus âm thầm và đơn độc tiếp tục tìm kiếm, không một ai giúp
đỡ và góp ý. Để có một trạm quan sát thiên văn, ông đã dùng một tháp canh
trên bức tường bao quanh thánh đường.
Các dụng cụ thiên văn của Copernicus rất thô thiển. Công
trình của ông được thực hiện gần một thế kỷ trước khi kính viễn vọng được
phát minh. Để đo lường, ông có một cái đồng hồ dùng bóng mặt trời; một cái
thước đo chiều cao (một dụng cụ thô sơ bằng gỗ có ba mặt) tự ông chế ra để
tính độ cao của các vì sao và các hành tinh, một cái kính trắc tinh, một
hình cầu trong đó có những vòng dọc ngang. Hơn nữa khí hậu gây trở ngại
cho việc quan sát thiên văn: biển Baltic và những con sông ở gần đó thường
xuyên tạo ra mây và sương mù. Hiếm có những ngày và đêm bầu trời hoàn toàn
trong sáng. Tuy nhiên, hết năm này qua năm khác, mỗi khi có cơ hội là
Copernicus lại vùi đầu vào các tính toán.
Lý thuyết mang tính cách mạng mà Copernicus cố gắng
biện minh đúng hay sai qua những nghiên cứu lâu dài ngược hẳn với thuyết
của Ptolemy mà bấy lâu nay vẫn được tôn sùng. Lý thuyết của Copernicus đại
khái là: trái đất không đứng yên mà quay tròn, tựa như trên một trục, mỗi
ngày một vòng. Một quan niệm như vậy vào thế kỷ 16 quả là quá kỳ dị, đến
nỗi Copernicus không dám công bố sớm, trước khi ông tin chắc rằng những
điều ông đưa ra không thể chối cãi được. Đó là lý do khiến Copernicus phải
chờ đợi 30 năm, mới quyết định công bố lý thuyết của mình cho thế giới.
Trước đó, có vài nhà thiên văn Hy Lạp cho rằng trung tâm
của vũ trụ là mặt trời chứ không phải là trái đất. Nhưng Aristarchus,
“Copernicus của thời thượng cổ”, vào khoảng thế kỷ thứ ba trước Công
nguyên đã giải thích việc mặt trời mọc và lặn mỗi ngày bằng cách đưa ra
giả thuyết rằng trái đất quay tròn trên chính mình nó mỗi ngày một vòng.
Tuy nhiên, giả thuyết này cùng với các giả thuyết tương tự của các nhà
thiên văn khác đã bị Aristotle và Ptolemy bác bỏ và chỉ bênh vực giả
thuyết trái đất là trung tâm của vũ trụ.
Nhờ đọc những áng văn cổ
điển, Copernicus đã biết những giả thuyết cổ xưa ấy và rất có thể những
giả thuyết này đã thúc đẩy ông tới chỗ xét lại vấn đề.
Theo Copernicus hình như từ 1800 năm trước đó Arstarchus đã đưa ra một lối
giải thích về chuyển động của bầu trời đơn giản hơn thuyết của Ptolemy
nhiều.
Có lẽ ngay từ năm 1951 Copernicus đã viết một bản tóm
tắt về lý thuyết mới của ông. Nhan đề là Commentariolus (hay là
Tiểu luận). Quyển đó không được ấn hành trong khi tác giả còn
sống nhưng có một số bản viết tay được lưu hành trong giới sinh viên khoa
thiên văn học. Trong số những bản viết tay đó, nay còn lại hai bản. Trong
quyển Commentariolus Copernicus cho thấy sở dĩ ông bắt đầu khảo
cứu vì ông thấy các lý thuyết của Ptolemy về vũ trụ vừa quá phức tạp vừa
quá vô lý, lại không đưa ra được những giải thích thỏa đáng về các hiện
tượng của bầu trời. Kết quả chính yếu mà Copernicus đã phát hiện thấy là:
quả đất không phải là trung tâm của thái dương hệ mà chỉ là trung tâm của
quỹ đạo mặt trăng, và các hành tinh khác đều quay xung quanh Mặt trời.
Quyển Tiểu luận thể hiện một giai đoạn dứt khoát trong sự phát
huy tư tưởng của nhà địa thiên văn.
Ai có thể ngờ rằng tác
phẩm kiệt xuất mà Copernicus đã dụng công xây dựng, ba mươi năm trời vẫn
chưa được in thành sách? Do đó tác phẩm rất có thể bị thất lạc nếu không
có những cố gắng của một học giả trẻ tuổi người Đức. Mùa
hạ năm 1539, một giáo sư 25 tuổi dạy toán ở trường đại học Wittenberg tới
Frauenburg thăm Copernicus. Đó là George Joachim Rheticus. Danh tiếng đang
lên của Copernicus đã cuốn hút Rheticus và ông này tìm đến cốt để dò xét
xem danh tiếng kia có xác đáng không. Ông tính chỉ ở lại vài tuần lễ nhưng
ông được Copernicus đón tiếp nồng hậu khiến ông đã ở đó hơn hai năm.
Rheticus nhận thấy ngay rằng chủ nhà là một thiên tài vào bậc nhất.
Trong ba tháng ông nghiên cứu và bàn cãi về các tài liệu
do Copernicus ghi chép. Sau đó Rheticus đã viết một bản tóm tắt về tư
tưởng Copernicus và gửi cho ông thầy cũ của mình là Johann Schoner dưới
hình thức bức thư. Bức thư được in ở Dantzig năm 1540. Bài Narratio
prima hay là Bản tóm tắt thứ nhất của Rheticus là bản văn
đầu tiên trình bày lý thuyết làm rung chuyển địa cầu của nhà thiên văn Ba
Lan. Thực ra quyển sách nhỏ ấy chỉ trình bày chi tiết một phần trong toàn
bộ lý thuyết của Copernicus: đó là sự khảo sát về chuyển động của quả đất.
Tiếp theo “Bản tóm tắt thứ nhất” Rheticus còn tính cho ra thêm những bản
“tóm tắt” khác, nhưng những bản tóm tắt sau đều không cần thiết. Niềm thán
phục của Rheticus đối với Copernicus biến thành gần như sự tôn sùng và đã
bộc lộ ra trong việc ông tặng Copernicus danh hiệu “Tiến sĩ Quán Thế”
(Dominus Doctor) trong văn bản của ông.
Cho tới đó Copernicus vẫn kiên quyết không chịu cho ấn
hành toàn bộ công trình của ông. Ông vốn cầu toàn và cho rằng mỗi điều
quan sát thấy đều phải được thẩm tra nhiều lần. Nguyên bản viết tay tìm
thấy được ở Praha vào giữa thế kỷ 19 sau khi bị thất lạc 300 năm đã chứng
tỏ rằng bản văn đã được sửa lại từ trên xuống dưới sáu lần.
Thêm vào những ngần ngại nói trên, Copernicus có thể còn
bị cản trở vì Giáo hội Thiên Chúa lúc đó ngấm ngầm phản đối.
Cuộc cải cách tôn giáo của giáo phái Tin lành, sự bừng
tỉnh tri thức của thời Phục hưng đã làm cho các giới tôn giáo nghi ngại
các lý thuyết có tính chất cách mạng cũng như những tư tưởng có thể đưa
người ta xa rời các giáo lý chính thống. Copernicus, một giáo sĩ tin đạo
mãnh liệt, tất nhiên không muốn trở thành kẻ phản đạo cũng không muốn hy
sinh vì một lý thuyết.
Tuy nhiên, cuốn Narratio prima (Bản tóm tắt thứ
nhất), đã được tiếp nhận nồng hậu. Rheticus và nhiều người khác yêu cầu ấn
hành toàn văn tác phẩm. Cuối cùng Copernicus phải nhượng bộ. Bản thảo viết
tay được giao phó cho Rheticus ông này đem về Nuemberg và trông nom việc
ấn loát.
Trước khi công việc ấn hành hoàn tất thì Rheticus được
chỉ định làm giáo sư tại trường đại học Leibzig, và Andreas Osiander một
mục sư Tin lành được chỉ định trông coi việc ấn loát.
Hình như Osiander đã lo ngại trước những ý kiến cấp tiến
của Copernicus. Không xin phép và âm thầm, ông tự ý bỏ phần giới thiệu của
quyển một. Thay vào đó ông viết bài tựa nói rằng: “Quyển sách chỉ gồm
những giả thuyết có lợi cho các nhà thiên văn; việc trái đất quay không
phải là điều nhất thiết đúng hay có thể đúng”. Nói cách khác đi, những
điều viết trong quyển sách không có gì bảo đảm đã chính xác. Chắc Osiander
muốn né tránh những lời chỉ trích của phe đối lập, và như Mizwa đã nhấn
mạnh: “Có thể là vô tình mà Osiander đã góp phần lớn lao vào việc bảo toàn
công trình vĩ đại này hơn ông tưởng. Vì bài tựa giả dối và ôn hòa vô hại
của ông khéo léo núp dưới tên của tác giả (gửi cho người đọc định được
thuyết nêu ra trong sách), nên Giáo hội Thiên Chúa không quan tâm đến tính
chất cách mạng của quyển De Revolutionibus (về sự chuyển động).
Phải tới năm 1616 họ mới kịp nhận ra và ghi nó vào bảng sách cấm”.
Trước khi việc ấn loát hoàn tất, Copernicus bị bệnh
nặng. Một câu chuyện đáng tin cậy đã kể lại trong đoạn bi thảm nhất rằng,
một sứ giả tới Frauenburg, mang từ Nuremberg bản in đầu tiên cuốn sách
kiệt tác của Copernicus và chỉ kịp đặt vào tay ông vài giờ trước khi ông
chết. Hôm đó là ngày 24 tháng 5 năm 1543. Quyển sách đề là De
Revolutionibus Orbium Celestium nghĩa là về sự vận động của các thiên
thể”. Cũng như các tác phẩm giáo khoa hồi đó, quyển sách được viết bằng
tiếng Latinh.
Vừa vì khôn ngoan vừa vì xã giao, Copernicus đề tặng tác
phẩm cho Giáo hoàng Paul III. Qua lời đề tặng ấy, rõ ràng Copernicus đã
tiên đoán một số khó khăn sẽ gặp phải.
“Tâu Đức Thánh Cha, con có thể tin chắc rằng một số
người khi nghe nói đến sự xoay vần của địa cầu trong những cuốn sách này
lập tức tuyên bố đấy là những ý kiến cần phải loại bỏ. Lúc này, những giả
thuyết của chính con cũng chưa làm cho con hoàn toàn thỏa mãn đến độ không
quan tâm đến những lời người khác có thể chê trách. Khi con bắt đầu nghĩ
đến dư luận của những người công nhận quả đất đứng yên (như quan niệm phổ
biến từ bao thế kỷ nay) đối với thuyết quả đất quay của con, con đã lưỡng
lự rất lâu không biết có nên công bố những điều con đã viết để chứng minh
sự xoay vần của quả đất không, hay tốt hơn là nên theo gương các triết gia
thuộc nhóm Pythagore chỉ bác lại các điều huyền bí của triết học cho bà
con và bạn bè bằng nói miệng thôi. Sau khi suy nghĩ kỹ, con gần như bị
thúc đẩy đến chỗ xếp lại toàn bộ tác phẩm đã viết, vì con nhìn thấy trước
sự khinh bỉ của người đời đối với tính chất mới lạ và có vẻ phi lý của nó.
Tuy nhiên, các bạn bè khuyên con bỏ ý định đó và bảo
con phải ấn hành quyển sách con đã giấu kín trong nhà không phải chín năm
mà tới bốn lần cái chín năm đó. Không thiếu những nhân vật danh tiếng và
có học thức đã yêu cầu con ấn hành quyển sách. Họ bảo rằng không có gì
đáng lo ngại mà phải trì hoãn cống hiến công trình của con cho ích lợi
chung của toán học...
Con tin chắc rằng những người thông minh và học rộng
sẽ đồng ý với con nếu họ thành thật có thiện chí tìm hiểu và cân nhắc các
bằng chứng con đưa ra trong quyển sách. Nhưng để cả người thức giả lẫn
người thường dân có thể thấy rằng con không sợ sự phê phán của người đời,
con muốn đề tặng quyển sách này, kết quả những đêm dài vất vả của con, cho
Đức Thánh Cha hơn là bất cứ ai. Dù là một người ở trong một xó xa xôi của
địa cầu, con vẫn coi Đức Thánh Cha là người vĩ đại nhất về địa vị và tha
thiết nhất với khoa học và toán học. Do vậy Đức Thánh Cha nhờ địa vị và
nhận xét của người, có thể loại bỏ dễ dàng lời lẽ của những người xấu
miệng, mặc dầu tục ngữ có câu rằng không có thuốc gì chữa được vết cắn của
kẻ nói xấu. Cũng có thể có trường hợp những bọn có thói quen gièm pha,
lười biếng, dốt toán sẽ đòi quyền chỉ trích công trình của con bằng cách
viện dẫn một vài đoạn trong Thánh Kinh mà họ đã vo tròn bóp méo theo ý họ.
Nếu có kẻ nào dám liều lĩnh chỉ trích và tỏ ý than phiền về chủ trương của
con, con sẽ không quan tâm đến, và con coi những phán đoán của họ là không
chín chắn và đáng khinh”.
Copernicus đã tóm tắt vũ trụ quan của ông mấy lời sau
đây:
“Xa hơn hết là vòm hình cầu của các định tinh nó chứa
đựng đủ thứ và chính vì lý do đó, không chuyển động. Thực ra đó là cái
khung của vũ trụ mà sự chuyển động và vị trí của các vì sao phải quy chiếu
vào. Tuy một số người nghĩ rằng nó có thể chuyển động theo lối nào đó,
chúng tôi vẫn gán một lý do khác cho điều tại sao nó lại xuất hiện như vậy
trong thuyết của chúng ta về sự chuyển động của trái đất. Trong số các
hành tinh, trước hết phải kể sao Thổ, đi trong ba mươi năm mới hết một
vòng. Sau đó là sao Mộc vận chuyển mười hai năm một vòng. Thứ tư trong số
đó là hành tinh quay một năm một vòng mà chúng tôi đã nói, đó là trái đất
với quỹ đạo mặt trăng (lunar orbit) như là một vòng ngoài. Thứ năm đến sao
Kim quay một vòng đến chín tháng. Sao Thủy đứng hạng sáu đi một vòng hết
tám mươi ngày. Ở giữa các hành tinh đó là mặt trời. Thật ra giữa ngôi đền
đẹp hơn hết thảy ấy, ai đặt được một bó đuốc vào bất cứ chỗ nào khác hơn
là nơi, từ đó nó có thể soi sáng toàn thể và cùng một lúc?... Cho nên
chúng tôi thấy bên dưới sự xếp đặt có trật tự ấy một sự cân đối huyền diệu
trong vũ trụ, và một liên hệ rõ rệt trong sự chuyển động và tầm vóc vĩ đại
của các tinh cầu. Sự cân đối ấy và mối liên hệ ăn khớp ấy thuộc loại chúng
ta không thể có được bằng bất cứ một phương pháp nào khác”.
Mấy nét đại quát về nội dung quyển De Revolutionibus
đủ cho ta thấy phương pháp trình bày của tác giả. Tiếp theo lời đề tặng
Giáo Hoàng Paul III và bài tựa đánh lạc hướng của Osiander, tác phẩm được
chia làm sáu “quyển” hay sáu phần chính. Mỗi phần chia ra nhiều chương.
Phần một gồm vũ trụ quan của Copernicus, những lập luận
ông đưa ra để bênh vực thuyết mặt trời là trung tâm của Thái dương hệ, ý
niệm quả đất quay quanh mặt trời như các hành tinh khác và sự khác nhau
giữa các mùa trong năm. Nhiều chương ở cuối phần này trình bày về lượng
giác và những nguyên tắc lượng giác này được Copernicus dùng trong những
phần sau.
Phần II bàn về sự chuyển động của các thiên thể đã được
đo lường một cách chính xác và kết thúc bằng bảng liệt kê các tinh tú, xác
định vị trí chúng trong bầu trời. Bảng liệt kê phần lớn mượn của Ptolemy
tuy có sửa đổi đi chút đỉnh.
Bốn phần sau mô tả chi tiết sự chuyển động của trái đất,
mặt trăng và các hành tinh khác. Trong mỗi trường hợp sau, phần giải thích
sự chuyển động đều kèm theo hình vẽ đường đi của hành tinh ấy trên bầu
trời theo những tính toán của Copernicus.
Một trong những lý lẽ
chính yếu chống lại thuyết trái đất xoay vần trước đó đã được Ptolemy đưa
ra: trái đất phải yên, nếu không thể, bất cứ vật gì bay trên không gian
như, mây trời, chim chóc sẽ bị bỏ lại đằng sau và một vật tung vào trong
không gian khi rơi xuống sẽ phải chếch về phía tây rất xa.
Nguy hại hơn hết là nếu địa cầu quay một cách mau chóng, kinh khủng như
vậy thì nó sẽ sớm tan thành muôn mảnh và bay vào không gian. Trước khi
Galileo tìm ra cơ học và Newton tìm ra luật hấp dẫn thì những lập luận của
Ptolemy quả là khó mà phủ định.
Copernicus trả lời bằng cách đưa ra ý kiến rằng không
khí quanh mặt đất bị trái đất lôi theo trong khi quay, và quan niệm rằng
trái đất quay chứ không phải cả vũ trụ quay nghe vẫn thuận lý, hơn vì nếu
trái đất không quay thì bầu trời phải quay để có ngày và đêm. Những lý lẽ
bào chữa lại càng thêm mạnh nhờ những suy luận mang tính triết lý: thiên
nhiên không tự diệt và Thượng đế không tạo dựng nên vũ trụ để rồi nó lại
tự diệt nó.
Với Copernicus, mặt trời đứng yên một chỗ và thụ động
giữa các tinh cầu xung quanh, giống như vai trò của trái đất theo quan
niệm của Ptolemy. Vai trò của mặt trời chỉ là cung cấp ánh sáng và sức
nóng. Vũ trụ có giới hạn nhất định. Bên ngoài vòm hình cầu của các vì sao,
theo Ptolemy, không gian không còn nữa. Quan niệm về sự vô tận của không
gian có lẽ cũng không được Copernicus biết tới như trường hợp Ptolemy 1400
năm trước. Copernicus cũng không ra ngoài hệ thống “vòng ngoài” của
Ptolemy. Có một tâm điểm khác cho mỗi quỹ đạo và mặt trời không được đặt
vào trung tâm chính xác của bất cứ quỹ đạo hành tinh nào. Đó là những điểm
chưa đúng thuộc hệ thống của Copernicus, mà các nhà thiên văn lớp sau phải
sửa chữa lại.
Thuyết của Copernicus được giới khoa học lẫn quảng đại
quần chúng chấp nhận chậm chạp. Trừ vài trường hợp ngoại lệ, dư luận đương
thời nói chung tỏ ra chống đối mãnh liệt. Theo một chuyển kể lại thì xưởng
in ấn hành quyển De Revolutionibus đã bị đám sinh viên đại học
đập phá: họ phá hủy bản in và cả bản viết tay của tác giả. Thợ nhà in phải
làm rào cản trước cửa để có thể hoàn tất công việc. Một vở hài kịch chế
diễu Copernicus đã được gánh rong ở Elbing đặt ra. Vở kịch mô tả nhà thiên
văn đã từng bán linh hồn cho quỷ Satan.
Tuy nhiên nguy hiểm hơn chính là phản ứng đầy uy quyền
của các tổ chức thuộc Giáo hội.
Giả thuyết mới mẻ đã lật
nhào cả tiêu chuẩn triết học, niềm tin tôn giáo của thời tín ngưỡng. Nếu
thuyết của Copernicus mà đúng thì con người sẽ không còn là trung tâm vũ
trụ nữa; con người bị xô đổ khỏi đài danh vọng và quả đất của loài người
sẽ chỉ còn là một trong số những hành tinh.
Nhưng vì Giáo hội còn bận lo nhiều chuyện khác và có lẽ
một phần vì bài tựa nhằm đánh lạc hướng người đọc của Osiander, Giáo hội
Công giáo không có thái độ ngay với quyển sách của Copernicus. Nóng nảy
hơn cả là các lãnh tụ thuộc phe Tin lành - Martin Luther - trong nhiều
trường hợp đã gay gắt công kích Copernicus. Ông nhắc tới Copernicus như
một nhà thiên văn mới mẻ, muốn chứng minh rằng quả đất quay tròn chứ không
phải bầu trời, mặt trời và mặt trăng; đúng y như một người ngồi trên một
toa xe hay một con tàu đang di động lại tưởng rằng y đang ngồi yên và quả
đất và cây cỏ đang chuyển động vượt qua mắt y. Mà đó chính là chuyện hôm
nay đấy. Kẻ nào muốn tỏ ra ta đây thông minh cần phải sản xuất ra một cái
gì đó của chính mình, mà sản phẩm ấy lại bó buộc phải là cái tốt đẹp hơn
hết vì y đã tạo ra nó! Thằng khùng ấy sẽ đảo lộn tất cả khoa thiên văn.
Nhưng, như Thánh Kinh đã dạy: chính mặt trời chứ không phải là quả đất mà
Joshua đã ra lệch ngừng lại”. Melanchthon, môn đệ trung kiên của Luther,
chế diễu Copernicus thế này: “Y chặn mặt trời đứng lại rồi cho quả đất
quay”. John Calvin cũng hùng hồn buộc tội Copernicus, nhắc lại bài thành
ca 93: “Quả đất đã được định vị, nó không thể di chuyển đi được” và ông đã
giận dữ hỏi: “Ai dám cả gan đặt uy quyền của Copernicus trên Chúa và Thánh
Thần?”.
Mãi tới năm 1615, Giáo hội Công giáo mới có thái độ
nghiêm khắc chống lại quyển De Revolutionibus. Và hành động của
Giáo hội lúc đó là để chống lại những người bênh vực thuyết của Copernicus
như trong vụ án Galileo và Bruno. Những lý thuyết của Copernicus được loại
bỏ như sau:
“Điều thứ nhất cho rằng mặt trời là trung tâm và
không quay quanh quả đất là điên rồ, là phi lý, là sai lầm đối với khoa
thần học, là phản đạo vì rõ ràng trái với Kinh Thánh. Điều thứ hai cho
rằng quả đất quay chung quanh mặt trời và không là trung tâm vũ trụ là phi
lý, trái với triết học và theo quan điểm thần học thì trái với Đức Tin
chân chính”.
Năm sau, năm 1616, tác phẩm của Copernicus bị liệt vào
hạng sách cấm “cho đến khi có quyết định khác”. Cùng lúc đó, “mọi sách vở
quả quyết rằng quả đất quay” đều bị kết án. Cho tới hai thế kỷ sau; tên
tuổi Copernicus vẫn còn nằm trong bảng cấm. Và bản án chỉ được hủy bỏ vào
năm 1835.
Số phận của Galileo và Bruno đủ làm sợ hãi những ai dám
theo thuyết Copernicus. Giordano Bruno, một
người nhiệt thành tin theo Copernicus đã đi xa hơn cả ông này bằng cách
nêu thuyết không gian vô tận, và mặt trời với các hành tinh của nó chỉ là
một “hệ” trong nhiều tinh hệ tương tự. Bruno còn đi xa hơn
nữa với ý kiến là có thể nhiều thế giới khác cũng có người, và họ là những
sinh vật văn minh bằng hay cao hơn chúng ta.
Vì những lời lẽ phạm thượng ấy, Bruno đã bị đưa ra Tòa
án Tôn giáo, kết án và bị đưa lên giàn hỏa thiêu vào tháng 2 năm 1600. Chỉ
có cách xử với Galileo, một nhà đại thiên văn người Italia, là bớt quyết
liệt hơn. Năm 1633 vì Tòa án Tôn giáo đe dọa tra tấn và xử tử, ông đã phải
quỳ gối tuyên thệ từ bỏ mọi tin tưởng vào các thuyết của Copernicus, và
sau đó ông bị tù chung thân.
Các nhà thần học Công giáo và Tin lành cũng như các
triết gia và nhà khoa học đều nghi ngại, không chấp nhận thuyết của
Copernicus. Như Francis Bacon, một trong những ông tổ của phương pháp khoa
học hiện đại đã chống lại quan niệm quả đất quay trên một cái trục và còn
chạy xung quanh mặt trời vẽ thành một quỹ đạo.
Một thời gian dài sau khi cuốn De Revolutionibus
đời, địa vị của Aristotle và Ptolemy trong các trường đại học châu Âu vẫn
không đổ. Hiện nay, như Stebbins nhấn mạnh “Sự chậm chạp trong việc chấp
nhận thuyết Copernicus là điều đặc biệt trong mọi quốc gia. Ở Mỹ, thuyết
của Ptolemy và của Copernicus được đem ra dạy song song tại Harvard và cả
tại Yale”.
Tuy nhiên, dần dần và từng bước một, thuyết của
Copernicus đã được chấp nhận.
Sự tiếp tục tìm tòi của các nhà khoa học nổi danh như
Giordano Bruno, Tycho Brahe, Johann Kepler, Galileo Galilei và Isaac
Newton hàng mấy chục năm sau đã tìm ra những bằng chứng lớn lao và không
thể chối cãi. Những lỗi lầm trong thuyết của Copernicus được các vị đó hay
các nhà khảo cứu xóa bỏ, nhờ họ có những dụng cụ quan sát hoàn hảo hơn và
cũng vì mỗi người đều có thể dựa vào kinh nghiệm người đi trước.
Nhà thiên văn vĩ đại tiếp liền Copernicus là một người
Đan Mạch, ông Tycho Brahe. Tycho không công nhận thuyết quả đất quay chung
quanh mặt trời, nhưng với những dụng cụ tuyệt hảo do nhà vua Đan Mạch
tặng, ông có thể quan sát và tính toán về thiên văn chính xác hơn
Copernicus rất nhiều. Dựa vào các dữ kiện đó, viên phụ tá người Đức của
ông là Jahann Kepler sau khi Tycho chết, đã có thể nêu lên ba định luật
nổi tiếng.
a. Các hành tinh chạy theo hình bầu dục, chứ không theo
hình tròn, với mặt trời làm tiêu điểm.
b. Trái đất và các hành tinh khác quanh xung quanh mặt
trời theo quỹ đạo hình bầu dục nhưng tốc độ không quay đều nhau, mà hành
tinh nào gần mặt trời hơn thì quay mau hơn.
c. Khoảng cách giữa một hành tinh và mặt trời tỷ lệ với
khoảng thời gian chuyển động của nó quanh mặt trời.
Galileo là nhà quan sát đầu tiên đã sử dụng kính viễn
vọng trong ngành thiên văn, và những khám phá qua kính viễn vọng của ông
đã làm cho thuyết của Copernicus thêm vững chắc. Galileo tạo dựng nền móng
cho một khoa học mới khi đưa ra những nguyên tắc cơ bản về động lực, khoa
học của chuyển động. Bằng chứng cuối cùng khẳng định giá trị thuyết của
Copernicus đã do Isaac Newton đưa ra với sự phát minh của ông về luật hấp
dẫn và sự hình thành những luật về sự chuyển động của các hành tinh. Và
một vài bí mật còn lại của vũ trụ đã được Einstein khám phá vào thế kỷ 20
thuyết tương đối.
Dựa vào vô số những điều chỉnh do các nhà khoa học thuộc
về thế kỷ sau mang lại, một câu hỏi thường được đặt ra một cách hợp lý:
Thuyết của Copernicus có đúng không?
Không thể chối cái là
thuyết của Copernicus còn thiếu sót và sai lầm trên nhiều phương diện.
Quan niệm của ông cho rằng các thiên thể chuyển động theo hình tròn là
sai; ngược lại chúng chuyển động theo hình bầu dục.
Quan niệm của Copernicus cho rằng vũ trụ có ranh giới nhất định đã đi
ngược lại với thuyết hiện đại về số lượng vô biên của các thái dương hệ.
Trong nhiều chi tiết khác, những nguyên tắc do
Copernicus nêu lên bốn thế kỷ trước cũng không hoàn toàn phù hợp với sự
hiểu biết hiện nay của con người. Nhưng trong những nét chính như việc coi
mặt trời là trung tâm của hệ thống hành tinh, Copernicus đã khám phá ra
chân lý cơ bản và đã có công đặt nền móng cho khoa thiên văn hiện đại.
Sau hết, địa vị của Copernicus trong lịch sử khoa học đã
được khẳng định. Ảnh hưởng của ông đối với người đương thời và các thế hệ
trí thức về sau đã làm cho vai trò của ông nổi bật như Goethe đã viết:
“Trong tất cả các phát kiến cũng như các quan niệm,
không cái nào ảnh hưởng lớn lao đến tinh thần nhân loại bằng thuyết của
Copernicus. Người ta khó lòng mà cho rằng quả đất tròn và tự nó quay trên
mình nó, khi bị đòi hỏi phải từ bỏ đặc quyền vĩ đại coi nó là trung tâm
của vũ trụ. Có lẽ không bao giờ nhân loại phải chấp nhận một đòi hỏi lớn
lao hơn thế, vì công nhận như thế tức là tiêu hủy biết bao thực tại thành
tro bụi! Rồi còn thiên đường của chúng ta, cái thế giới của hồn nhiên, đạo
đức và của thi ca, tính cách hiển nhiên của giác quan; lòng tin tưởng ở
một tín ngưỡng thơ mộng, tất cả những điều đó sẽ ra sao? Không có gì lạ
nếu người đương thời không muốn cho thuyết đó được phổ biến và không lạ gì
khi họ đưa ra mọi lập luận chống lại thuyết đó, một thuyết vì tính cách
mạng của nó, đã khẳng định và đòi hỏi một nhất định khoáng đạt, một tư
tưởng cao thâm ngoài sức tưởng tượng của chúng ta”.
Sau cùng xin nói đến lời phê phán của ba nhà khoa học
nổi danh Hoa Kỳ hiện còn sống. Ông Vannevar Bush viết: “Việc
ấn hành kiệt tác của Copernicus đánh dấu bước ngoặt vô cùng quan trọng của
tư tưởng nhân loại, tạo ra một trường hợp điển hình về chân lý của khoa
học trong công cuộc giải phóng sự hiểu biết của nhân loại, và làm sáng tỏ
sự nhận định về việc chiến thắng sự ngu dốt và lòng chấp nê trong tương
lai”.
Ông Harold C. Urey, người từng đoạt giải Nobel, đã quả
quyết: “Tất cả những danh từ vĩ đại đều không đủ để mô tả giá trị công
trình của Nicolaus Copernicus. Ông dứt khoát từ bỏ một quan niệm về hệ
thống mặt trời đã đứng vững cả ngàn năm để đưa ra một quan niệm hoàn toàn
mới về tương quan giữa các hành tinh với mặt trời. Làm như thế ông đã mở
đầu cho toàn bộ phương pháp hiện đại về khoa học và đã sửa đổi lối suy tư
của ta trong mọi giai đoạn của đời sống con người”.
Sau cùng, đây là ý kiến của Harlan True Steson, một nhà
thiên văn nổi tiếng:
“Thật là lúng túng khi phải kiểm lại bản danh sách
dài về các chân lý đã từng góp phần vào sự tiến bộ của khoa học trong lịch
sử thế giới, để lựa ra một thiểu số chân lý nổi bật nhất. Tuy nhiên, nếu
bắt buộc phải lựa chọn ba tên tuổi thì tôi không ngần ngại nói ngay:
Copernicus, Newton và Darwin. Ba tên tuổi đó có những đặc tính chung không
thể tách rời khỏi sự chiến thắng của tiến bộ khoa học. Những đặc tính đó
là trí tưởng tượng, lòng can đảm của thiên tài và một nét độc đáo biểu lộ
khả năng phi thường của trí thông minh. Trong ba người, sau khi cân nhắc
cận thận, tôi tin rằng vinh quang lớn nhất phải thuộc về Copernicus, người
vĩ đại nhất, vì chính ông đã đặt nền móng cho khoa thiên văn hiện đại.
Không có những nền móng đó, Newton không thể xây dựng định luật về trọng
lực. Copernicus đã mở đầu cho một cuộc cách mạng về tư duy, đã thách thức
lối tư duy chính thống từng thống trị trước khi thuyết tiến hóa tạo được
thế đứng trong ý thức hệ của chúng ta”.
Vũ trụ hệ
Isaac Newton và tác phẩm nguyên tắc toán học
Trong số những cuốn sách gây ảnh hưởng sâu rộng đến cuộc
sống, có lẽ hiếm có cuốn nào nổi tiếng nhưng lại có ít độc giả bằng tập
Nguyên tắc toán học trong vạn vật học (Philosophiae Naturalis
Principia Mathematica) của Isaac Newton. Sách viết bằng cổ ngữ
Latinh, kèm thêm những hình kỷ hà chằng chịt, Newton đã cố tình viết nó
thật khó hiểu, dùng toàn những lời lẽ chuyên môn trừu tượng. Chỉ những bác
học trong các ngành thiên văn, toán và vật lý rất thông thái mới có thể
đọc nổi sách của ông.
Một nhà viết sử Newton đã kể lại rằng: Khi cuốn sách
Nguyên tắc toán học xuất bản vào cuối thế kỷ 17, chỉ có ba hay bốn người
đương thời có thể hiểu nổi. Một nhà viết tiểu sử khác nâng con số đó lên
mười hay mười hai người là cùng. Newton cũng nhìn nhận sách của ông rất
khó đọc; có điều là ông muốn vậy, để những người có trình độ toán học thật
cao mới có thể hiểu được sách của ông.
Tuy nhiên, các nhà khoa học nổi tiếng đều coi Newton là
một nhà bác học vĩ đại của mọi thời đại. Laplace nhà thiên văn học trứ
danh Pháp gọi Nguyên tắc toán học “vượt lên trên mọi tác phẩm
khác của thiên tài nhân loại”. Lagrange, nhà toán học lừng danh nhìn nhận
Newton là một thiên tài vĩ đại chưa từng thấy. Boltzann, nhà khai sáng ra
khoa học vật lý toán học hiện đại gọi cuốn sách Nguyên tắc toán học
là tác phẩm đầu tiên và vĩ đại nhất về môn vật lý lý thuyết. Nhà thiên văn
lỗi lạc Mỹ W.W. Campbell nhận xét: “Đối với tôi, không những Isaac Newton
là một vĩ nhân của khoa vật lý học mà còn là người độc nhất đã khai phá ra
khoa vật lý thiên văn học”. Viết về Newton,
những nhà khoa học cự phách trong gần ba thế kỷ vừa qua đều đồng ý: Newton
là nhà khoa học siêu việt bậc nhất, những người không thuộc giới khoa học
chỉ có thể biết được kết quả cụ thể do học thuyết Newton, và tin tưởng ở
những lời nhận xét trên.
Newton ra đời gần đúng một thế kỷ sau khi Copernicus tạ
thế, và đúng vào những năm Galileo từ trần. Hai bậc vĩ nhân đó trong khoa
thiên văn học đã cùng với Johannes Kepler đặt nền móng để sau này Newton
tiếp tục xây dựng sự nghiệp.
Newton là nhà toán học thiên tài, sinh trong thời đại có
nhiều nhà toán học nổi tiếng. Marvin nhận định rằng: “Thế kỷ 17 là thế kỷ
toán học trổ hoa, cũng như thế kỷ 18 là thế kỷ của hoá học, thế kỷ 19,
sinh vật học. Khoa học trong nửa sau thế kỷ 17 đã tiến được những bước dài
hơn mọi thời kỳ khác”. Newton bao quát được các ngành chính của khoa vật
lý như: toán học, hóa học, vật lý học và thiên văn học, vì trong thế kỷ
17, nghĩa là trước khi khoa học chia ra nhiều ngành chuyên môn, một nhà
khoa học có thể cùng một lúc bao quát nhiều ngành khoa học.
Newton sinh đúng ngày lễ Giáng sinh năm 1642. Thiếu thời
ông được chứng kiến sự thăng trầm của Chính phủ liên hiệp Oliver Cromwell,
trận hỏa hoạn tàn phá hầu hết thành phố London và nạn dịch hạch sát hại
một phần ba dân số thành phố này. Sau 18 năm sống trong một xóm nhỏ ở
Woolsthorpe, Newton được gửi theo học trường đại học Cambridge. Ở đây
Newton may mắn được theo học một giáo sư toán học có tài tên là Isaac
Barrow, người được gọi là “cha tinh thần” của Newton, Barrow biết là
khuyến khích thiên tài Newton. Và ngay khi còn ở trường, Newton đã khám
phá ra định lý nhị thức.
Trường đại học Cambridge phải đóng cửa năm 1665 vì nạn
dịch hạch, Newton lại trở về quê. Trong hai năm liền sống cách biệt hẳn
với thế giới bên ngoài, Newton dành hết thì giờ để suy tư và nghiên cứu
khoa học. Kết quả thật là siêu phàm: chưa
đầy 25 tuổi, Newton đã thực hiện được ba phát minh khiến ông nghiễm nhiên
trở nên ngang hàng với các thiên tài khoa học của mọi thời đại.
Trước hết Newton phát minh ra khoa toán học vi phân dùng để tính những số
lượng chuyển biến như sự vận động của các vật thể, của làn sóng và để giải
những bài toán vật lý có liên quan tới mọi sự chuyển động “Toán học vi
phân có thể nói đã mở được cửa kho tàng báu vật toán học, đã đặt thế giới
toán học dưới chân Newton và các học trò của ông”.
Khám phá quan trọng thứ hai của Newton là định luật về
thành phần ánh sáng và từ đó ông phân tích được bản chất của màu sắc và
bản chất của ánh sáng trắng. Newton chứng minh rằng: ánh sáng trắng của
mặt trời gồm có những tia sáng màu mà ta thường thấy ở cầu vồng. Như vậy
màu sắc là bản chất của ánh sáng, và ánh sáng trắng - những thí nghiệm
bằng lăng kính của Newton đã chứng minh - là do sự trộn lẫn tất cả các màu
sắc của quang phổ. Từ khám phá này, Newton tiến đến việc chế tạo kiểu viễn
kính phản chiếu đầu tiên, có thể đem ra sử dụng một cách có hiệu quả.
Khám phá thứ ba có lẽ là
khám phá vĩ đại nhất của Newton, là định luật vạn vật hấp dẫn. Khám phá
này đã kích động trí tưởng tượng của các nhà khoa học, mãnh liệt hơn mọi
khám phá về lý thuyết khác trong thời kỳ cận đại. Theo một
giai thoại ai cũng biết thì Newton giác ngộ rồi tìm ra định luật hấp dẫn
khi ông quan sát quả táo rơi. Sự thật thì chuyện trái đất hút những vật ở
gần không có gì mới lạ. Nhưng điều mới lạ là Newton đã mở rộng nhận xét đó
để áp dụng đối với vạn vật, từ trái đất các hành tinh và chứng minh được
thuyết của ông bằng toán học.
Điều đáng ngạc nhiên là
Newton không hề công bố gì về ba phát minh cực kỳ quan trọng của ông về
toán học vi phân, màu sắc và định luật hấp dẫn. Bản tính
rất dè dặt kín đáo, ông không thích tiếng tăm, không thích tranh luận, và
có ý muốn xếp xó những phát minh của ông. Những gì ông công bố sau này đều
do bạn bè thúc ép, những công bố song ông lại hối hận vì trót mềm yếu nghe
lời họ. Ông nghĩ rằng công bố sẽ khiến cho người ta phê bình, rồi từ phê
bình đi tới tranh luận, điều mà Newton với bẩm tính nhạy cảm rất lấy làm
khổ tâm.
Sau những năm sống ẩn dật và nhàn hạ bất đắc dĩ vì bệnh
dịch hạch tàn sát London, Newton lại trở lại Cambridge. Tốt nghiệp đại học
xong, ông được cử làm giáo sư trường Trinity. Ít lâu sau, cựu giáo sư của
Newton là Barrow từ chức, Newton khi đó mới 27 tuổi được bổ nhiệm làm giáo
sư toán học, một chức vụ ông giữ trong hai mươi bảy năm liền. Mười hay
mười hai năm tiếp theo, người ta biết rất ít về những hoạt động của
Newton. Chỉ biết ông tiếp tục nghiên cứu về ánh sáng và công bố khám phá
của ông về thành phần của ánh sáng trắng. Lập tức ông bị lôi cuốn vào một
cuộc tranh luận vì lẽ những kết luận của ông về ánh sáng trái ngược hẳn
với quan niệm đương thời, và vì trong tập tài liệu công bố, ông đã trình
bày quan niệm triết lý của ông về khoa học. Ông chủ trương rằng: nhiệm vụ
chính yếu của khoa học là tiến hành những cuộc thí nghiệm, ghi nhận những
kết quả của thì nghiệm, và sau hết là rút ra những định luật toán học căn
cứ vào kết quả những thí nghiệm đó. Ông viết: “Phương pháp thích đáng nhất
để nghiên cứu đặc tính của sự vật là suy luận xuất phát từ những cuộc thí
nghiệm”. Những nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với phương pháp nghiên cứu
khoa học hiện đại, nhưng trong thời Newton lại không được chấp nhận. Thời
đó, chịu ảnh hưởng triết học cổ, các học giả thường hay tin ở trí tưởng
tượng, ở lý trí, ở bề ngoài của sự vật nhiều hơn là tin ở sự thí nghiệm.
Các nhà khoa học có tiếng tăm như Huygens và Hooke cũng
lên tiếng đả kích Newton khiến ông bực dọc và quyết định từ nay về sau sẽ
không công bố gì nữa. Ông viết: “Tôi bị khổ sở vì những cuộc tranh luận về
lý thuyết quang học đến nỗi tôi phải hối hận tại sao lại từ bỏ nếp sống
yên vui của tôi để chạy theo một cái bóng”. Không những vậy, ông còn tỏ ra
chán ngấy cả khoa học và nói ông đã mất hết lòng “nhiệt thành” trước kia
đối với khoa học. Sau này vì nhiều bạn bè “khuyến khích và quấy rầy” nên
ông mới viết tập sách vĩ đại: Nguyên tắc toán học, một tập sách
được thành hình chỉ vì một sự ngẫu nhiên.
Và năm 1684, qua những con tính của Picard, lần đầu tiên
người ta đo được chính xác chu vi trái đất.
Dựa vào những kết quả của nhà thiên văn học Pháp, Newton áp dụng nguyên
tắc lực hấp dẫn để chứng minh rằng: Sở dĩ mặt trăng xoay quanh trái đất và
các hành tinh xoay quanh mặt trời đều là vì lực hấp dẫn (sức hút).
Lực hấp dẫn này thay đổi theo khối lượng vật thể bị hút và thay đổi nghịch
với bình phương của khoảng cách. Newton chứng minh rằng chính định luật đó
giải thích hình bầu dục của quỹ đạo các hành tinh, lực hấp dẫn đã giữ vững
được mặt trăng và các hành tinh trong quỹ đạo và đã cân bằng được với lực
ly tâm của các hành tinh khi quay tạo ra
Một lần nữa Newton lại không muốn công bố phát minh của
ông về sự bí mật lớn nhất của vũ trụ. Tuy nhiên đương thời cũng có nhiều
nhà khoa học nỗ lực tìm kiếm giải đáp cho những câu hỏi về sự chuyển động
trong thái dương hệ. Nhiều nhà thiên văn học cho rằng: các hành tinh chạy
theo mặt trời là vì lực hấp dẫn, trong số đó có Robert Hooke xưa nay
chuyên môn đả kích Newton rất dữ dội. Tuy vậy vẫn không có vị nào chứng
minh được lý thuyết của mình bằng toán học. Vào giai đoạn này, Newton đã
trở nên nhà toán học nổi tiếng, và nhà thiên văn học Edmund Halley trình
bày bài toán xong, tới thăm ông ở Cambridge, yêu cầu ông giúp đỡ. Khi ấy
Halley mới vỡ lẽ ra rằng từ hai năm về trước Newton đã giải đáp được bài
toán này rồi. Hơn nữa Newton còn tìm ra những định luật về sự chuyển động
của các vật thể chịu sự chi phối của lực hấp dẫn. Ấy vậy mà Newton không
hề có ý định công bố những phát minh của ông.
Halley thấy ngay tầm quan trọng những phát minh của
Newton và ông hết lòng thuyết phục Newton phải khai triển trên bình diện
lý thuyết. Phần vì nhiệt tình của Halley, phần vì ông lại cảm thấy hứng
khởi với khoa học, Newton khởi công viết tập Nguyên tắc toán học
mà Langer gọi là: “Một kho báu của khoa học, một tác phẩm mới lạ nhất từ
xưa đến nay”.
Điều ly kỳ là Newton chỉ
mất có mười tám tháng đã viết xong bộ Nguyên tắc toán học. Trong
thời gian đó, quá say sưa vào bộ sách đến nỗi ông quên ăn, quên ngủ.
Chỉ có một bộ óc siêu phàm, có sức làm việc siêu phàm mới có thể hoàn tất
một công trình vĩ đại như bộ Nguyên tắc toán học trong một thời
gian ngắn ngủi như vậy. Viết xong bộ sách Newton gần như kiệt sức về cả
vật chất lẫn tinh thần.
Trong thời gian viết bộ Nguyên tắc toán học,
Newton còn bị quấy rầy vì những cuộc tranh luận thường xuyên, nhất là
những cuộc tranh luận với Hooke, người đã tự cho chính ông ta mới là người
tìm ra thuyết chuyển động của hành tinh, có thể giải thích bằng luật hấp
dẫn bình thường đối nghịch. Bực mình vì những lời vu cáo đó, Newton chán
nản không viết tiếp bộ sách Nguyên tắc toán học mà ông đã viết
xong được hai phần ba. Một lần nữa Halley lại phải van nài Newton viết
tiếp phần còn lại, và là phần quan trọng nhất của bộ sách.
Trong lịch sử bộ
Nguyên tắc toán học người ta không thể không nhắc đến vai trò của
Edmund Halley. Không những ông đã khuyến khích, thúc đẩy Newton làm việc,
mà ông còn vận động để Hội khoa học Hoàng gia xuất bản bộ sách, và chính
ông đã bỏ rơi mọi việc riêng để trông nom công việc ấn loát.
Về sau Hội khoa học Hoàng gia lại từ chối tài trợ và Halley phải bỏ tiền
túi ra để chi cho việc xuất bản, dù ông không giàu có gì và có cả một gia
đình phải nuôi dưỡng.
Năm 1687, sau không biết bao nhiêu trở ngại, cuốn sách
Nguyên tắc toán học in xong, khổ nhỏ, bán 10 hay 12 shillings một
cuốn. Trang in nhan đề sách có ghi: giấy phép xuất bản của Samuel Pepys,
Chủ tịch Hội khoa học Hoàng gia. Có người nhận xét rằng: rất có thể Pepys
không hiểu một câu nào trong sách của Newton.
Tóm lược sách Nguyên
tắc toán học bằng những lời lẽ thông thường là việc khó khăn nếu
không nói là không thể làm được. Tuy nhiên ở đây chúng ta
có thể ghi ra mấy điểm chính yếu của bộ sách. Trong Nguyên tắc toán
học Newton đề cập đến sự chuyển động của các vật thể trên bình diện
toán học, nhất là sự áp dụng động lực học và luật vạn vật hấp dẫn vào hệ
thống mặt trời. Khởi đầu, Newton trình bày phép toán học vi phân, một phát
minh được dùng làm phương tiện tính toán trong toàn thể bộ sách. Kế đó
Newton định nghĩa về không gian, thời gian, trình bày những định luật về
sự chuyển động và các ứng dụng. Nguyên tắc cơ bản là: mọi vật thể đều hút
lẫn nhau với một lực nghịch với bình phương khoảng cách. Ngoài ra Newton
còn đưa ra các định luật về sự va chạm các vật thể. Newton dùng những hình
kỷ hà cổ điển để trình bày các thuyết vật lý của ông.
Quyển đầu tiên của bộ sách
Nguyên tắc toán học, đề cập đến sự chuyển động các vật thể trong không
gian. Phần thứ hai của quyển này đề cập đến sự chuyển động
trong môi trường trở lực, thí dụ như chuyển động dưới nước. Trong phần
cuối Newton đề cập đến sự chuyển động phức tạp của thể lỏng và những bài
toán về sự chuyển động này đều được giải đáp. Ngoài ra Newton có tính các
tốc độ của âm thanh và diễn tả bằng toán học sự chuyển động của làn sóng.
Quyển một này là nền tảng của khoa học vật lý toán
học, khoa thủy tĩnh học và thủy động học ngày nay.
Quyển thứ hai Newton đả
phá vũ trụ hệ của Descartes đang thịnh hành. Theo thuyết
của Descartes những chuyển động của các vật thể trong không trung đều là
do cơn lốc mà ra. Tất cả không gian đều tràn ngập một “chất lỏng” và ở
nhiều nơi những chất này quay cuồng thành bão lốc. Hệ thống mặt trời gồm
14 trung tâm bão lốc, trong trung tâm lớn có mặt trời. Các hành tinh đều
chỉ là những vật thể bị cuốn theo cơn bão lốc như những miếng gỗ nhỏ trong
xoáy nước. Descartes đã dùng thuyết “báo lốc” này để giải thích hiện tượng
hấp dẫn trong vũ trụ. Trái với Descartes, Newton chứng minh bằng thực
nghiệm và bằng toán học rằng: “Thuyết bão lốc hoàn toàn mâu thuẫn với
những sự kiện thiên văn và không giải thích nổi sự chuyển động của các vật
thể trong không gian”.
Quyển thứ ba được đề là:
“Vũ trụ hệ” đây là phần quan trọng nhất trong công trình của Newton.
Trong phần này Newton đề cập đến những hệ quả thiên văn học của định luật
hấp dẫn, ông viết:
“Trong những quyển trước tôi đã xác định những
nguyên tắc của khoa học, những nguyên tắc không phải là triết lý mà là
toán học... Những nguyên tắc đó là những định luật và điều kiện của một số
những chuyển động, những năng lực...Tôi đã chứng minh nguyên tắc đó ở
nhiều đoạn...với...sự giải thích rằng: đây là những sự kiện thông thường
trong tạo vật... như là trọng lượng và sức cản của ánh sáng, của âm thanh.
Bây giờ, cũng từ những nguyên tắc đó tôi trình bày vũ trụ hệ”.
Giải thích tại sao ông không phổ thông hóa thuyết của
mình, Newton viết:
“Phần thứ ba này, thoạt đầu tôi dùng ngôn ngữ phổ
thông để nhiều người có thể hiểu. Nhưng về sau nghĩ lại, tôi viết phần này
bằng những công thức toán học và chỉ những người nào nắm vững các nguyên
tắc trình bày ở những quyển trước mới hiểu được. Sở dĩ tôi viết khó khăn
như vậy, để những ai có nắm vững những nguyên tắc đó thì mới ước lượng
được tầm quan trọng của nó, và do đó mới gạt bỏ được những định kiến về vũ
trụ mà họ quen thuộc từ trước. Tôi không khuyên mọi người phải nghiên cứu
những nguyên tắc tôi đã đề ra, vì ngay những độc giả có trình độ toán học
cao cũng phải mất nhiều công phu mới hiểu được”.
Vì những lẽ đó, đã có người gọi cuốn Nguyên tắc toán
học có giọng văn “xa vời, lạnh buốt, giọng văn của một giáo chủ nói
để mà nói”.
Ở đoạn mở đầu, Newton trình bày ý kiến mang tính cách
mạng rằng: những hiện tượng trên mặt đất cũng không khác gì những hiện
tượng trong không gian.
“Những nguyên nhân như nhau cho kết quả như nhau,
loài người và loài vật cũng thở như nhau, đá rơi ở châu Âu hay châu Mỹ thì
cũng thế, ánh sáng ở bếp lửa không khác gì ánh sáng mặt trời, sự phản
chiếu ánh sáng trên mặt đất cũng tương tự như ở các hành tinh”.
Với lời xác định này Newton đã đả phá quan niệm cổ
truyền cho rằng chỉ có trái đất là xấu xa còn các thế giới khác đều hoàn
mỹ cả. Mac Muray bình luận: Những định luật duy lý “đem lại trật tự và do
đó làm sáng sủa những chốn xưa nay vẫn được coi là hỗn mang và bí mật”.
Quyển thứ ba của bộ Nguyên tắc toán học đề cập đến vô số
vấn đề. Newton đã khẳng định sự chuyển động của các hành tinh và các vệ
tinh, trình bày phương pháp đo khối lượng của mặt trời và các hành tinh,
tính tỷ trọng của trái đất, tính sai biệt về năm, trình bày lý thuyết về
thuỷ triều, về quỹ đạo của sao chổi, sự chuyển động của mặt trăng và những
vấn đề tương tự.
Trong lý thuyết về những sự “xáo trộn” trong không gian,
Newton đã chứng minh: mặt trăng chịu sức hút của cả trái đất lẫn mặt trời,
do đó quỹ đạo của mặt trăng bị sức hút của mặt trời xáo trộn mặc dù sức
hút của trái đất mạnh hơn. Các hành tinh khác cũng bị xáo trộn tương tự.
Mặt trời không phải trung tâm đứng yên một
chỗ của vũ trụ như mọi người đều tin tưởng từ trước tới nay. Mặt trời cũng
chịu sức hút của các hành tinh cũng như hành tinh chịu sức hút của mặt
trời, và cũng chuyển động như các hành tinh. Sau này vì áp
dụng thuyết “xáo trộn trong không gian” nên người ta đã khám phá ra được
hai hành tinh nữa: Hải vương và Diêm vương.
Newton tính khối lượng của các hành tinh và mặt trời
tương đối với khối lượng trái đất. Ông ước lượng tỷ trọng của trái đất gấp
năm hay sáu lần tỷ trọng của nước (con số của các nhà khoa học ngày nay là
5,5) và dựa vào ước lượng này Newton tính khối lượng của mặt trời, các
hành tinh và vệ tinh, Adam Smith đã gọi những con tính này của Newton là
“vượt lên trên tầm lý trí và kinh nghiệm của con người”.
Sau đó Newton giải thích sở dĩ trái đất dẹp hai đầu vì
trái đất quay trên mình nó, và ông tính được trái đất dẹp đầu là bao
nhiêu. Căn cứ vào trái đất dẹp hai đầu và hơi phình ra ở khoảng xích đạo,
Newton suy diễn ra rằng: sức hút ở xích đạo mạnh hơn ở hai đầu - chính
hiện tượng này đã giải thích được bí mật sai biệt về niên lịch, giải thích
được sự chuyển động hình nón của trục trái đất giống như con quay. Hơn nữa
nghiên cứu nghiên cứu hình thù của mặt đất, Newton còn áp dụng định luật
vạn vật hấp dẫn để giải thích hiện tượng thuỷ triều lên xuống. Khi trăng
tròn, nước trên mặt đất chịu sức hút mạnh nhất, do đó thuỷ triều dâng cao.
Đến khi sức hút của cả mặt trời và mặt trăng cùng tác động thì thuỷ triều
dâng lên cao nhất.
Một hiện tượng khác rất
thường thấy cũng được Newton giải thích, đó là hiện tượng sao chổi, Newton
giải thích rằng: chuyển động dưới sức hút của mặt trời, sao chổi bay theo
một hình bầu dục vô cùng rộng lớn và phải mất nhiều năm mới bay được một
vòng. Giải thích như vậy, sao chổi không còn là điểm gở
theo cách mê tín dị đoan, mà là một hiện tượng thiên văn ngoạn mục và vô
hại. Căn cứ vào thuyết của Newton về sao chổi, Edmund Halley có thể nhận
rõ và tiên đoán đúng sự xuất hiện cứ 75 năm một lần của ngôi sao chổi được
gọi là “Sao chổi Halley”. Sao chổi một khi đã quan sát được, người ta có
thể tiên đoán bước đường tương lại của nó.
Một kỳ công nữa của Newton là ông khám phá ra được
phương pháp đo khoảng cách một định tinh, căn cứ vào số lượng ánh sáng
nhận được từ một hành tinh do sự phản chiếu của ánh sáng mặt trời.
Trong sách Nguyên tắc toán học Newton không hề
trả lời câu hỏi: tại sao trong vũ trụ, mà chỉ trả lời câu hỏi: thế nào
trong vũ trụ? Sau này có dư luận lên án quan niệm của ông về vũ trụ có
tính chất thuần tuý máy móc vì không thừa nhận phần sáng tạo thế gian của
Chúa, nên Newton phải viết thêm lời tuyên ngôn về tín ngưỡng. Trong kỳ tái
bản lần thứ hai, ông viết:
“Cả một hệ thống hùng vĩ và vô cùng ngoạn mục gồm
mặt trời, hành tinh và sao chổi chỉ có thể xuất phát từ một đấng toàn trí,
toàn năng... Giống như người mù, không biết gì đến mầu sắc, chúng ta cũng
không thể biết được Thượng đế nhận thức các sự vật ra sao”.
Newton tin tưởng rằng: sứ mạng của khoa học là tìm hiểu,
và hiểu biết càng sâu rộng chúng ta càng tiến gần được cái lý khởi đầu của
sự vật, dù rằng chúng ta không thể khám phá ra những định luật Khởi thuỷ
của tạo vật.
Nguyên tắc toán học của
Newton là bộ sách vĩ đại, tuy nhiên những nhà khoa học hâm mộ Newton nhất
cũng đều nhìn nhận rằng tác phẩm đó không phải là “vô tiền”.
Cohen viết:
“Thành công lớn của Newton sở dĩ có được nhờ những
công trình của các nhà khoa học tiền bối. Ngày trước Newton, Descartes và
Fernat đã phát minh ra khoa hình học giải tích, Oughtred, Harriot và
Wallis đã phát triển môn đại số, Kepler tìm ra định luật về chuyển động,
Galileo tìm ra định luật về tốc độ và xác định rằng: một sự chuyển động có
thể chia ra nhiều thành phần độc lập (thí dụ như trái đạn bay gồm có một
tốc độ tiến đều về phía trước và một tốc độ rơi xuống tăng dần như kiểu
một vật nặng rơi xuống vậy). Nhưng công trình vừa kể của các nhà bác học
chỉ là những yếu tố chuẩn bị cho khối óc vĩ đại của Newton thực hiện một
sự “tổng hợp” để chứng minh mình dứt khoát rằng: vũ trụ chuyển vận theo
các định luật toán học”.
Viết về Newton, Jean cũng nhìn nhận rằng: “Thời đó thế
giới đang cần một người có khả năng hệ thống hoá, tổng hợp và triển khai
những công trình toán học có tính toàn thể, và người đó là thiên tài
Newton”.
Chính Newton cũng nhìn
nhận rằng: vũ trụ hệ của ông chỉ là tiếp tục công trình khởi đầu từ
Corpernicus được Tycho Brahe, Kepler và Galileo phát triển thêm. Ông viết:
“nếu tôi nhìn được xa hơn những người khác, ấy là vì tôi đứng trên vai các
vĩ nhân”.
Tất cả những cuộc tranh luận diễn ra trong thời Newton
là vì thời đó sự hoạt động khoa học rất sôi nổi. Các lý thuyết mới đua
nhau ra đời, mở đường cho những công cuộc nghiên cứu của các nhà khoa học
tài năng. Người ta không lấy làm lạ có hai nhà khoa học mỗi người ở một
nơi mà đồng thời có những khám phá như nhau. Đó là trường hợp xảy ra trong
cuộc tranh luận giữa Newton với Leibniz và với Hooke, đề ra thuyết vạn vật
hấp dẫn. Tuy thành công muộn hơn Newton, nhưng Leibniz và Hooke công bố
công trình trước Newton, vì Newton vốn không thích sự phô trương.
Nước Anh và Scotland tiếp nhận sách Nguyên tắc toán
học của Newton nồng nhiệt hơn lục địa châu Âu, và khắp mọi nơi sách
phổ biến rất chậm chạp. Đúng như Newton đã nói trước, muốn hiểu tư tưởng
của ông phải có trình độ toán học rất cao. Tuy nhiên ngay những người chỉ
hiểu đại khái cũng phải nhìn nhận giá trị vĩ đại công trình của Newton.
Dần dần, các nhà khoa học ở khắp thế giới đều chấp nhận hệ thống của
Newton và đến thế kỷ 18 hệ thống của Newton đã chiếm được chỗ đứng vững
chãi trong thế giới khoa học.
Viết và cho xuất bản xong sách Nguyên tắc toán học
Newton còn sống hơn bốn chục năm nữa, nhưng hình như ông mất gần hết sự
hứng thú đối với công cuộc nghiên cứu khoa học. Trong thời gian này Newton
được cử làm Viện trưởng Viện sáng chế, được Nữ hoàng Anne phong tước, được
bầu làm Chủ tịch Hội khoa học Hoàng gia Anh từ năm 1703 đến năm 1727 là
năm ông tạ thế, được chứng kiến sách Nguyên tắc toán học tái bản
lần thứ hai rồi lần thứ ba và được người đời tôn sùng và trọng vọng.
Những khám phá khoa học
trong thế kỷ hai mươi đã chứng tỏ công trình của Newton có nhiều thiếu sót
và phải sửa đổi lại, nhất là trong lĩnh vực thiên văn học.
Thí dụ, Einstein trong thuyết tương đối đã chứng minh rằng: không gian và
thời gian không phải là tuyệt đối theo như quan niệm của Newton. Tuy nhiên
nhiều nhà khoa học và kỹ thuật đã nhận xét rằng: những hiện tượng thường
thấy như cách bố cục của những nhà trọc trời, sự an toàn của vòm cầu xe
hoả, sự chuyển động của xe hơi, máy bay, tàu thuỷ vượt đại dương, cách đo
thời gian và nhiều thực hiện khác của nền văn minh cơ khí, đều bắt nguồn
từ những định luật do Newton khám phá ra.
James Jeans nhận định rằng: "Những nguyên tắc của Newton
chỉ lạc hậu đối với một phần hết sức nhỏ của khoa học hiện đại. Khi các
nhà thiên văn học muốn viết những bài thông thường về vấn đề hàng không
hay muốn thảo luận về sự chuyển động của các hành tinh, họ chỉ cần sử dụng
những lý thuyết của Newton. Các kỹ sư xây cầu, đóng tàu thuỷ, đầu máy xe
hoả vẫn sử dụng những kiến thức xưa, và như thế lý thuyết của Newton không
còn gì thay đổi. Trường hợp kỹ sư điện sửa chữa máy điện thoại hay vẽ
thiết kế nhà máy phát điện cũng tương tự. Khoa học ứng dụng trong cuộc
sống hàng ngày vẫn hoàn toàn là khoa học căn cứ vào công trình của Newton.
Chính khối óc siêu việt của ông đã đưa khoa học vào đúng đường của nó, và
bất kỳ ai am hiểu phương pháp của Newton đều phải tin tưởng những phương
pháp đó chắc chắn sẽ dẫn ta tìm ra sự thật về khoa học”.
Những lời tán dương Newton của Einstein đã dứt khoát
đánh đổ hẳn mọi lý lẽ phê phán Newton. Einstein viết: “Đối
với Newton, tạo vật là một quyển sách mở ngỏ mà ông có thể đọc được một
cách dễ dàng. Ở Newton người ta thấy sự kết hợp nhà thực nghiệm, nhà lý
thuyết, nhà cơ khí học và ông còn là một nghệ sĩ khi ông phô diễn tư tưởng
của ông”.
Về cuối đời, Newton đã chứng tỏ ông là một người hết sức
khiêm tốn khi ông nhận định về cuộc đời của mình như sau:
“Tôi không biết người ta cho tôi là một người như thế
nào? Nhưng riêng mình, tôi thấy tôi chỉ là một đứa trẻ con chơi đùa trên
bãi biển, thỉnh thoảng phát hiện được một hòn sỏi nhẵn nhụi, một vỏ sò
xinh đẹp, trong khi trước mặt tôi còn cả một đại dương bao la đầy những bí
mật chưa được khám phá”.
ĐẤU TRANH SINH TỒN
Charles Darwin
Và tác phẩm nguồn gốc các chủng loại
Một sự trùng phùng kỳ lạ xảy ra trong năm 1809 là năm đã
chứng kiến nhiều vĩ nhân chào đời hơn mọi năm khác. Trong mỗi địa hạt
riêng, các vĩ nhân đó, vị nào cũng xây dựng được sự nghiệp siêu việt.
Trong số có Charles Darwin, một “Newton của khoa sinh vật học” và Abraham
Lincoln, vị Tổng thống “giải phóng nô lệ ở Hoa Kỳ”. Hai vĩ nhân đó sinh
cùng ngày và gần như cùng giờ. Ngoài hai vị đó, người ta còn phải nhắc đến
những tên tuổi như: Gladstone. Tennyson, Edgar Allan Poe, Oliver Wendell
Holmes, Elizabeth Barret Browning và Felix Mendelsohn, cũng chào đời trong
năm 1809.
Có lẽ ngoại trừ Karl Marx, trong số những nhân vật nổi
danh đó và nói rộng ra trong số hàng triệu người sinh trong thế kỷ 19,
không ai được như Darwin, vì Darwin đã mở ra những trào lưu tư tưởng,
những quan niệm mới về sức sống của con người. Ngày nay người ta nói đến
học thuyết Darwin như nói đến học thuyết Karl Marx, học thuyết Malthus và
học thuyết Machiavelli.
Trong suốt gần một thế kỷ,
các nhà bác học đã tranh luận sôi nổi về những nguyên tắc nền tảng của học
thuyết Darwin, và ngày nay những nguyên tắc đó đã được giới khoa học thừa
nhận. Cuộc tranh chấp giữa hai phái Tân và Cựu khởi đầu
năm 1859, kéo dai dẳng sang cả thế kỷ 20, và ác liệt nhất là khi xảy ra
“vụ án con khỉ” lịch sử ở bang Tennessee. Chỉ mới đây, cuộc cãi cọ giữa
hai phái mới có dấu hiệu dịu xuống.
Khi Darwin còn ở tuổi thiếu niên, không ai có thể ngờ
sau này ông sẽ trở nên nhà khoa học nổi tiếng nhất thế giới. Darwin sinh
trưởng trong một gia đình gồm những người làm nghề tự do và những học giả.
Thân sinh của Darwin cũng nghĩ rằng Darwin sẽ khó có thể làm nên công
chuyện gì đáng kể. Ở trường trung học, cậu học sinh Darwin rất chán môn cổ
ngữ Hy Lạp, và chán luôn cả chương trình cổ điển cứng nhắc. Cậu thường bị
giáo sư mắng về tội phí phạm thì giờ vào những thí nghiệm hóa học, phí
phạm thì giờ sưu tầm sâu bọ cùng các mẫu đá. Năm 16 tuổi, cũng như ông
thân khi xưa, Darwin được gia đình cho theo học ngành y khoa tại trường
đại học Edinburgh. Hai năm sau, Darwin nói rằng nghề chữa bệnh không phải
là nghề của mình, nên liền đó Darwin được gửi tới trường đại học
Cambridge, học làm mục sư