Lược sử thời gian
(A Brief History of Time)
Tác giả:
Khoa học gia
Stephen Hawking
Dịch giả:
Cao Chi
và
Phạm Văn Thiều
Nhà Xuất Bản Khoa Học và Kỹ Thuật

---o0o---
Giới thiệu cuốn sách "Lược sử thời gian"
Cuốn sách mà chúng tôi giới thiệu với các bạn sau đây có
tên là "Lược sử thời gian" (A Brief History of Time), một cuốn sách tuyệt
diệu, được viết bởi một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất của thời đại
chúng ta: nhà toán học và vật lý lý thuyết người Anh Stephen Hawking.
S.W. Hawking sinh năm 1942. Trong cuộc sống cá nhân, ông
gặp nhiều bất hạnh. Năm 1985, ông bị sưng phổi và sau khi phẫu thuật mở
khí quản, Hawking mất khả năng phát âm. Trước đó, một căn bệnh tê liệt
thần kinh (bệnh ALS) đã gắn chặt ông vào chiếc xe đẩy. Hawking chỉ còn
cách làm việc và giao tiếp với mọi người bằng một máy vi tính và một máy
tổng hợp tiếng nói lắp liền với ghế. Tuy nhiên, tất cả những bất hạnh này
không quật ngã được ý chí của nhà vật lý thiên tài. Hiện nay ông là giáo
sư tại Đại học Cambridge (Anh), ở chức vụ mà ngày xưa Newton, rồi sau đó
là P.A.M. Dirac, đảm nhiệm. Ông chuyên nghiên cứu về lý thuyết tương đối
rộng. Những kết quả thu được cùng với George Ellis, Roger Penrose,... và
nhất là sự phát hiện khả năng bức xạ của các các lỗ đen đã đưa Hawking lên
hàng những nhà vật lý nổi tiếng nhất thế giới.
Cuốn "Lược sử thời gian" được viết xong năm 1987. Ngay
từ khi ra đời, nó đã trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất thế
giới. "Lược sử thời gian" đứng trong danh mục sách bán chạy nhất của New
York Times trong 53 tuần, và tại nước Anh, 205 tuần liền nó có tên trong
mục sách bán chạy nhất của Sunday Times. Chính Stephen Hawking cũng phải
kinh ngạc. Từ trước đến nay, chưa có một cuốn sách khoa học nào được công
chúng đón nhận nồng nhiệt như vậy (tuy rằng nhiều người nói, họ mua nó chỉ
để bày ở tủ sách chứ không thực sự đọc. Về điểm này, cuốn sách của Hawking
cũng có số phận tương tự như Kinh Thánh hoặc các vở kịch của Shakespeare).
Bằng một lối trình bày sáng sủa, giọng văn hài hước, hơi
nhuốm màu bi quan, Stephen Hawking đã dẫn dắt người đọc phiêu lưu suốt
lịch sử vũ trụ, từ khi nó còn là một điểm kỳ dị với năng lượng vô cùng
lớn, cho tới ngày nay. Cuộc tìm kiếm của Hawking giúp người đọc khám phá
hết bí mật này đến bí mật khác. Đôi khi ông dụ độc giả vào những ngộ nhận
tưởng như rất có lý, rồi lại bất ngờ chỉ ra sự phi lý trong cách nghĩ, để
rồi phá vỡ mọi ngộ nhận. Cuốn sách đề cập đến những vấn đề nghiêm trọng và
hóc búa nhất của vật lý lý thuyết, như vụ nổ lớn, lỗ đen, không - thời
gian, thuyết tương đối, nguyên lý bất định... mà không hề làm bạn đọc bị
rối.
Bản tiếng Việt mà chúng tôi giới thiệu với các bạn sau
đây được dịch bởi Cao Chi và Phạm Văn Thiều, nhà xuất bản Văn hóa Thông
tin, Hà Nội, 2000.
Minh Hy
Lời giới thiệu của nhà xuất bản Bantam
Books
Chúng ta đang
sống cuộc sống hàng ngày của chúng ta mà hầu như không hiểu được thế giới
xung quanh. Chúng ta cũng ít khi suy ngẫm về cơ chế đã tạo ra ánh sáng mặt
trời - một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự sống, về hấp dẫn - cái
chất keo đã kết dính chúng ta vào trái đất, mà nếu khác đi chúng ta sẽ
xoay tít và trôi dạt vào không gian vũ trụ, về những nguyên tử đã cấu tạo
nên tất cả chúng ta - mà chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào sự bền vững của
chúng. Chỉ trừ có trẻ em (vì chúng còn biết quá ít để không ngần ngại đặt
ra những câu hỏi quan trọng) còn ít ai trong chúng ta tốn thời gian để băn
khoăn tại sao tự nhiên lại như thế này mà không như thế khác, vũ trụ ra
đời từ đâu, hoặc nó có mãi mãi như thế này không, liệu có một ngày nào đó
thời gian sẽ trôi giật lùi, hậu quả có trước nguyên nhân hay không; hoặc
có giới hạn cuối cùng cho sự hiểu biết của con người hay không? Thậm chí
có những đứa trẻ con, mà tôi có gặp một số, muốn biết lỗ đen là cái gì;
cái gì là hạt vật chất nhỏ bé nhất, tại sao chúng ta chỉ nhớ quá khứ mà
không nhớ tương lai; và nếu lúc bắt đầu là hỗn loạn thì làm thế nào có sự
trật tự như ta thấy hôm nay, và tại sao lại có vũ trụ.
Trong xã hội của
chúng ta, các bậc phụ huynh cũng như các thầy giáo vẫn còn thói quen trả
lời những câu hỏi đó bằng cách nhún vai hoặc viện đến các giáo lý mơ hồ.
Một số giáo lý ấy lại hoàn toàn không thích hợp với những vấn đề vừa nêu ở
trên, bởi vì chúng phơi bày quá rõ những hạn chế của sự hiểu biết của con
người.
Nhưng rất nhiều
môn triết học và khoa học lại ra đời từ những câu lục vấn như vậy. Ngày
càng có nhiều người lớn cũng muốn đặt những câu hỏi thuộc loại đó và thi
thoảng họ đã nhận được những câu trả lời khá lạ lùng. Nằm trung gian giữa
các nguyên tử và các vì sao, chúng ta đang mở rộng chân trời khám phá của
chúng ta, nhằm bao quát cả những cái rất nhỏ lẫn những cái rất lớn.
Mùa xuân năm
1974, khoảng 2 năm trước khi con tàu vũ trụ Viking hạ cánh xuống sao Hỏa,
tôi có tham dự một cuộc họp tổ chức ở Anh, do Hội Hoàng gia London tài
trợ, bàn về vấn đề làm thế nào tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất. Vào giờ
giải lao, tôi thấy một cuộc họp lớn hơn nhiều được tổ chức ở phòng bên
cạnh và vì tò mò tôi bước vào xem. Thì ra tôi đang chứng kiến một nghi lễ
cổ kính, lễ kết nạp hội viên mới của Hội Hoàng gia London, một trong những
tổ chức học thuật lâu đời nhất của hành tinh chúng ta. Ở hàng trên cùng,
một thanh niên ngồi trong xe đẩy đang rất chậm rãi ký tên mình vào cuốn sổ
mà ở những trang đầu tiên của nó còn giữ được chữ ký của Isaac Newton. Khi
Stephen Hawking, cuối cùng đã ký xong tên mình, những tràng hoan hô như
sấm nổi lên, ngay từ lúc đó ông đã là cả một huyền thoại.
Hiện nay,
Hawking là giáo sư toán học của trường Đại học Cambridge, với cương vị mà
trước đây Newton, rồi sau này P.A.M Dirac - hai nhà nghiên cứu nổi tiếng
về những cái cực lớn và những cái cực nhỏ - đảm nhiệm. Hawking là người kế
tục hết sức xứng đáng của họ. Cuốn sách đầu tiên của Hawking dành cho
những người không phải là chuyên gia này có thể xem là một phần thưởng về
nhiều mặt cho công chúng không chuyên. Cuốn sách hấp dẫn vừa bởi nội dung
phong phú của nó, vừa bởi nó cho chúng ta một cái nhìn khái quát qua những
công trình của chính tác giả. Cuốn sách chứa đụng những khám phá trên
những ranh giới của vật lý học, thiên văn học, vũ trụ học và của cả lòng
dũng cảm nữa.
Đây cũng là cuốn
sách về Thượng đế... hay đúng hơn là về sự không-có-mặt-của-Thượng-đế. Chữ
Thượng đế xuất hiện trên nhiều trang của cuốn sách này. Hawking
đã dấn thân đi tìm câu trả lời cho câu hỏi nổi tiếng của Einstein: Liệu
Thượng đế có sự lựa chọn nào trong việc tạo ra vũ trụ này hay không?
Hawking đã nhiều lần tuyên bố một cách công khai rằng ông có ý định tìm
hiểu ý nghĩa của Thượng đế. Và từ nỗ lực đó, ông đã rút ra kết luận bất
ngờ nhất, ít nhất là cho đến hiện nay, đó là
vũ trụ không có biên trong không gian, không có bắt đầu và kết
thúc trong thời gian và chẳng có việc gì cho Đấng sáng thế phải làm ở đây
cả.
Peter Guzzardi
Lời cảm ơn của Stephen Hawking
Lời cảm ơn sau đây được in trong lần xuất bản đầu tiên của
cuốn "Lược sử thời gian", nhà xuất bản Batam Books, 1987.
Tôi đã quyết định thử viết một cuốn sách phổ thông về
không gian và thời gian sau khi đã đọc một loạt bài giảng ở Đại học
Harvard năm 1982. Trước đó, cũng đã có khá nhiều cuốn sách viết về giai
đoạn đầu của vũ trụ và các lỗ đen, từ những cuốn sách rất hay như cuốn “Ba
phút đầu tiên” của Steven Weinberg (Bản dịch tiếng Việt của Nhà xuất bản
Khoa học và Kỹ thuật ra mắt năm 1982 - VnExpress), cho tới những cuốn rất
tồi mà tôi không muốn nhắc tên ở đây. Tuy nhiên, tôi cảm thấy chưa có cuốn
nào đề cập đến những vấn đề đã dẫn tôi đi nghiên cứu vũ trụ học và lý
thuyết lượng tử như: Vũ trụ ra đời từ đâu? Nó bắt đầu như thế nào và tại
sao lại như vậy? Nó có kết thúc không, và nếu có thì sẽ kết thúc như thế
nào? Đó là những vấn đề mà tất cả chúng ta đều quan tâm. Nhưng khoa học
hiện đại đã trở nên chuyên sâu tới mức chỉ có một số ít chuyên gia nắm
vững những công cụ toán học được dùng để mô tả chúng mới có thể hiểu được
chúng. Tuy nhiên, những ý tưởng cơ bản về nguồn gốc và số phận của vũ trụ
vẫn có thể trình bày dưới dạng phổ thông cho những người không thuộc giới
khoa học cũng có thể hiểu được mà không cần tới toán học. Đó là mục tiêu
mà tôi muốn thực hiện trong cuốn sách này. Mục tiêu đó có đạt được hay
không, xin để bạn đọc phán xét.
Có ai đó nói với tôi rằng, mỗi một phương trình mà tôi
đưa vào cuốn sách sẽ làm giảm số lượng bán đi một nửa. Do đó, tôi quyết
định sẽ hoàn toàn không dùng đến một phương trình nào. Tuy nhiên, cuối
cùng tôi cũng đành phải đưa vào một phương trình, đó là phương trình nổi
tiếng của Einstein E =mc2. Tôi hy vọng nó sẽ không làm cho một
số bạn đọc tiềm tàng của tôi phải hoảng sợ.
Ngoại trừ căn bệnh ALS (bệnh liệt toàn thân), hay bệnh
về thần kinh chuyển động, ở hầu hết các phương diện khác, tôi là một người
may mắn. Nhờ sự giúp đỡ và hỗ trợ của Jane, vợ tôi và các con Robert, Lucy
và Timmy mà tôi có thể sống gần như bình thường và có một sự nghiệp thành
công. Tôi còn may mắn ở một điểm nữa là tôi đã chọn vật lý lý thuyết, vì
tất cả chỉ được làm trong trí óc. Do đó bệnh tật của tôi không phải là một
sự tàn phế quá nghiêm trọng. Tất nhiên, những đồng nghiệp cũng đã giúp đỡ
tôi rất nhiều.
Trong giai đoạn đầu tiên, giai đoạn “cổ điển” của con
đường sự nghiệp, những người bạn và cộng sự chính của tôi là Roger
Penrose, Robert Geroch, Brandon Carter và George Elis. Tôi rất biết ơn sự
giúp đỡ mà họ đã dành cho tôi, và về công việc mà chúng tôi cùng tiến hành
với nhau. Giai đoạn này đã được đúc kết thành cuốn sách “Cấu trúc ở thang
vĩ mô của không - thời gian” do Elis và tôi viết năm 1973. Tôi không có ý
định khuyên độc giả tìm đọc cuốn sách đó để lấy thêm thông tin, bởi vì nó
quá chuyên sâu và tương đối khó đọc. Tôi hy vọng rằng từ khi viết cuốn
sách đó đến nay, tôi đã học được cách viết sao cho dễ hiểu hơn.
Trong giai đoạn thứ hai, giai đoạn “lượng tử” của con
đường sự nghiệp của tôi, từ năm 1974, các cộng sự chính của tôi là Gary,
Gibsons, Don Page và Jim Hartle. Tôi phải mang ơn họ và các nghiên cứu
sinh của tôi rất nhiều vì sự giúp đỡ to lớn của họ đối với tôi. Sự tiếp
xúc với sinh viên luôn kích thích tôi mạnh mẽ, và tôi hy vọng nó đã giúp
tôi tránh được những con đường mòn.
Khi viết cuốn sách này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ lớn
của Brian Whitt, một sinh viên của tôi. Tôi bị sưng phổi năm 1985, sau khi
đã viết song bản thảo đầu tiên. Tôi đã phải phẫu thuật mở khí quản. Sau
phẫu thuật, tôi mất khả năng phát âm, và do đó, hầu như không còn khả năng
giao tiếp nữa. Tôi nghĩ sẽ không thể hoàn thành được cuốn sách. Nhưng
Brian không chỉ giúp tôi sửa lại bản thảo mà còn giúp tôi sử dụng chương
trình giao tiếp có tên là Living Center do Walt Woltosz thuộc World Plus
Inc. ở Sunnyvale, California tặng cho tôi. Với chương trình đó, tôi vừa có
thể viết sách báo, vừa có thể giao tiếp với mọi người bằng một máy tổng
hợp tiếng nói do Speech Plus, cũng ở Sunnyvale, California, tặng cho tôi.
Máy tổng hợp tiếng nói đó và một máy vi tính được David Manson lắp ngay
trên chiếc xe đẩy của tôi. Hệ thống này đã làm được một chuyện hoàn toàn
bất ngờ: thực tế bây giờ tôi có thể giao tiếp còn tốt hơn so với khi tôi
chưa bị mất tiếng nói.
Tôi cũng đã nhận được nhiều đề nghị hoàn thiện cuốn sách
từ nhiều người đã xem bản thảo sơ bộ của nó. Đặc biệt, ông Peter Guzzardi,
biên tập viên của tôi ở nhà xuất bản Bantam Books đã gửi cho tôi rất nhiều
trang nhận xét và yêu cầu về những điểm ông cảm thấy tôi giải thích chưa
thật thỏa đáng lắm. Tôi cũng phải thú nhận rằng tôi đã cảm thấy rất bực
mình khi nhận được những bản liệt kê dài gồm những điều cần phải sửa đổi,
nhưng ông đã hoàn toàn có lý. Tôi tin chắc rằng cuốn sách sở dĩ hay hơn
chính là do ông đã bắt tôi phải làm việc cận lực.
Tôi cũng rất cảm ơn những trợ tá của tôi:
Colin Williams, David Thomas và Raymond Laflamme; các thư ký Judy Fella,
Ann Ralph, Cheryl Billington và Sue Masey; cũng như đội ngũ các hộ lý của
tôi. Cuốn sách này cũng không thể ra đời nếu không có sợ hỗ trợ cho cho
nghiên cứu và chi phí y tế của tôi từ Trường Gonville và Caius, từ Hội
đồng nghiên cứu khoa học và kỹ thuật, cũng như các Quỹ Leverhulme,
Mcarthur, Nuffield và Ralph Smith. Tôi xin tỏ lòng biết ơn đối với các cơ
quan đó.
Stephen Hawking
Ngày 20 tháng 10 năm 1987
Chương 1:
Bức tranh của chúng ta về vũ
trụ
Một nhà khoa học nổi tiếng (hình như là Bertrand
Russell) một lần đọc trước công chúng một bài giảng về Thiên văn học. Ông
đã mô tả trái đất quay quanh mặt trời như thế nào và đến lượt mình, mặt
trời lại quay quanh tâm của một quần thể khổng lồ các vì sao - mà người ta
gọi là thiên hà - ra sao. Khi bài giảng kết thúc, một bà già nhỏ bé ngồi ở
cuối phòng đứng dậy và nói: “Anh nói với chúng tôi chuyện nhảm nhí gì vậy?
Thế giới thực tế chỉ là một cái đĩa phẳng tựa trên lưng một con rùa khổng
lồ mà thôi”. Nhà khoa học mỉm một nụ cười hạ cố trước khi trả lời: “Thế
con rùa ấy tựa lên cái gì?”. “Anh thông minh lắm, anh bạn trẻ ạ, anh rất
thông minh”, bà già nói, “nhưng những con rùa cứ xếp chồng lên nhau mãi
xuống dưới, chứ còn sao nữa”.
Nhiều người chắc thấy rằng bức tranh về vũ trụ của chúng
ta như một cái thang vô tận gồm những con rùa chồng lên nhau là chuyện khá
nực cười, nhưng tại sao chúng ta lại nghĩ rằng chúng ta hiểu biết hơn bà
già nhỏ bé kia? Chúng ta đã biết gì về vũ trụ và bằng cách nào chúng ta
biết về nó? Vũ trụ tới từ đâu và nó sẽ đi về đâu? Vũ trụ có điểm bắt đầu
không và nếu có thì điều gì xảy ra trước đó? Bản chất của thời gian là gì?
Nó có điểm tận cùng không? Những đột phá mới đây trong vật lý học - một
phần nhờ những công nghệ mới tuyệt xảo - đã đưa ra câu trả lời cho một số
câu hỏi tồn tại dai dẳng từ xa xưa vừa nêu ở trên. Một ngày nào đó, rất có
thể những câu trả lời này sẽ trở nên hiển nhiên đối với chúng ta như
chuyện trái đất quay xung quanh mặt trời hoặc cũng có thể trở nên nực cười
như chuyện tháp những con rùa. Chỉ có thời gian (dù cho có thế nào đi nữa)
mới có thể phán quyết.
Từ rất xa xưa, khoảng năm
340 trước công nguyên, nhà triết học Hy Lạp Aristotle, trong cuốn sách của
ông nhan đề “Về Bầu trời”, đã đưa ra hai luận chứng sáng giá chứng minh
rằng trái đất có hình cầu chứ không phải là cái đĩa phẳng.
Thứ nhất, ông thấy rằng hiện tượng nguyệt thực là do trái đất xen vào giữa
mặt trời và mặt trăng. Mà bóng của trái đất lên mặt trăng luôn luôn là
tròn, điều này chỉ đúng nếu trái đất có dạng cầu. Nếu trái đất là một cái
đĩa phẳng thì bóng của nó phải dẹt như hình elip, nếu trong thời gian có
nguyệt thực mặt trời không luôn luôn ở ngay dưới tâm của cái đĩa đó. Thứ
hai, từ những chuyến du hành của mình, người Hy Lạp biết rằng sao Bắc đẩu
nhìn ở phương nam dường như thấp hơn khi nhìn ở những vùng phương bắc!
(Bởi vì sao Bắc đẩu nằm ngay trên cực bắc, nên nó dường như ở ngay trên
đầu người quan sát ở Bắc cực, trong khi đó đối với người quan sát ở xích
đạo, nó dường như nằm ngay trên đường chân trời).
Từ sự sai khác về vị trí biểu kiến của sao Bắc đẩu ở Ai
Cập so với ở Hy Lạp, Aristotle thậm chí còn đưa ra một đánh giá về chiều
dài con đường vòng quanh trái đất là 400.000 stadia. Hiện nay ta không
biết chính xác 1 stadia dài bao nhiêu, nhưng rất có thể nó bằng khoảng 200
thước Anh (1 thước Anh bằng 0,914 mét). Như vậy, ước lượng của Aristotle
lớn gần gấp 2 lần con số được chấp nhận hiện nay. Những người Hy Lạp thậm
chí còn đưa ra một luận chứng thứ 3 chứng tỏ rằng trái đất tròn bởi vì nếu
không thì tại sao khi nhìn ra biển, cái đầu tiên mà người ta nhìn thấy là
cột buồm và chỉ sau đó mới nhìn thấy thân con tàu?
Aristotle nghĩ rằng trái đất đứng yên còn mặt trời,
mặt trăng, các hành tinh và những ngôi sao chuyển động xung quanh nó
theo những quỹ đạo tròn. Ông tin vào điều đó bởi vì ông cảm thấy - do
những nguyên nhân bí ẩn nào đó - rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ,
rằng chuyển động tròn là chuyển động hoàn thiện nhất. Ý tưởng này đã
được Ptolemy phát triển thành một mô hình vũ trụ hoàn chỉnh vào thế kỷ
thứ 2 sau Công nguyên. Theo mô hình này thì trái đất đứng ở tâm và bao
quanh nó là 8 mặt cầu tương ứng mang mặt trăng, mặt trời, các ngôi sao
và 5 hành tinh đã biết vào thời gian đó: sao Thủy, sao
Kim, sao Hỏa, sao Mộc và sao Thổ (Hình 1.1). Chính các hành tinh lại
phải chuyển động trên những vòng tròn nhỏ hơn gắn với các mặt cầu tương
ứng của chúng để phù hợp với đường đi quan sát được tương đối phức tạp
của chúng trên bầu trời. Mặt cầu ngoài cùng mang các thiên thể được gọi
là các ngôi sao cố định, chúng luôn luôn ở những vị trí cố định đối với
nhau, nhưng lại cùng nhau quay ngang qua bầu trời. Bên ngoài mặt cầu
cuối cùng đó là cái gì thì mô hình đó không bao giờ nói một cách rõ
ràng, nhưng chắc chắn nó cho rằng đó là phần của vũ trụ mà con người
không thể quan sát được.
Mô hình của Ptolemy đã tạo
ra được một hệ thống tương đối chính xác để tiên đoán vị trí của các thiên
thể trên bầu trời. Nhưng để tiên đoán những vị trí đó một
cách hoàn toàn chính xác, Ptolemy đã phải đưa ra giả thuyết rằng mặt trăng
chuyển động theo một quỹ đạo đôi khi đưa nó tới gần trái đất tới 2 lần nhỏ
hơn so với ở những thời điểm khác. Ptolemy đành phải chấp nhận điểm yếu
đó, nhưng dẫu sao về đại thể, là có thể chấp nhận được. Mô hình này đã
được nhà thờ Thiên chúa giáo chuẩn y như một bức tranh về vũ trụ phù hợp
với Kinh Thánh, bởi vì nó có một ưu điểm rất lớn là để dành khá nhiều chỗ
ở ngoài mặt cầu cuối cùng của các ngôi sao cố định cho thiên đường và địa
ngục.
Tuy nhiên, một mô hình đơn giản hơn đã được một mục sư
người Ba Lan, tên là Nicholas Copernicus đề xuất vào năm 1554. (Thoạt đầu,
có lẽ vì sợ nhà thờ quy là dị giáo, Copernicus đã cho lưu hành mô hình của
mình như một tác phẩm khuyết danh). Ý tưởng của ông là mặt trời đứng yên,
còn trái đất và những hành tinh chuyển động theo những quỹ đạo tròn xung
quanh mặt trời. Phải mất gần một thế kỷ, ý tưởng này mới được chấp nhận
một cách thực sự. Hai nhà thiên văn - một người Đức tên là Johannes Kepler
và một người Italy tên là Galileo Galilei - đã bắt đầu công khai ủng hộ
học thuyết Copernicus, mặc dù những quỹ đạo mà nó tiên đoán chưa ăn khớp
hoàn toàn với những quỹ đạo quan sát được. Và vào năm 1609 một đòn chí
mạng đã giáng xuống học thuyết Aristotle - Ptolemy. Vào năm đó, Galileo
bắt đầu quan sát bầu trời bằng chiếc kính thiên văn của ông vừa phát minh
ra. Khi quan sát sao Mộc, Galileo thấy rằng kèm theo nó còn có một số vệ
tinh hay nói cách khác là những mặt trăng quay xung quanh nó. Điều này ngụ
ý rằng không phải mọi thiên hà đều nhất thiết phải trực tiếp quay xung
quanh trái đất, như Aristotle và Ptolemy đã nghĩ. (Tất nhiên vẫn có thể
tin rằng trái đất đứng yên ở trung tâm của vũ trụ và các mặt trăng của sao
Mộc chuyển động theo những quỹ đạo cực kỳ phức tạp khiến ta có cảm tưởng
như nó quay quanh sao Mộc. Tuy nhiên học thuyết của Copernicus đơn giản
hơn nhiều). Cùng thời gian đó, Kepler đã cải tiến học thuyết của
Copernicus bằng cách đưa ra giả thuyết rằng các hành tinh không chuyển
động theo đường tròn mà theo đường elip. Và những tiên đoán bấy giờ hoàn
toàn ăn khớp với quan sát.
Đối với Kepler, các quỹ đạo elip đơn giản chỉ là một giả
thuyết tiện lợi và chính thế nó càng khó chấp nhận bởi vì các elip rõ ràng
là kém hoàn thiện hơn các vòng tròn. Khi phát hiện thấy gần như một cách
ngẫu nhiên rằng các quỹ đạo elip rất ăn khớp với quan sát, Kepler không
sao dung hòa được nó với ý tưởng của ông cho rằng các hành tinh quay quanh
mặt trời là do các lực từ. Điều này phải mãi tới sau này, vào năm 1867,
mới giải thích được, khi Isaac Newton công bố tác phẩm Philosophiae
Naturalis Principia Mathematica (Những nguyên lý toán học của triết học tự
nhiên) của ông. Có lẽ đây là công trình vật lý học quan trọng bậc nhất đã
được xuất bản từ trước đến nay. Trong công
trình này, Newton không chỉ đưa ra một lý thuyết mô tả sự chuyển động của
các vật trong không gian và thời gian, mà ông còn phát triển một công cụ
toán học phức tạp dùng để phân tích các chuyển động đó.
Hơn thế nữa, Newton còn đưa ra một định luật về hấp dẫn vũ trụ mà theo đó
mỗi một vật trong vũ trụ đều được hút bởi một vật khác bằng một lực càng
mạnh nếu hai vật càng nặng và càng ở gần nhau. Chính lực này đã buộc các
vật phải rơi xuống đất.(Câu chuyện kể rằng, do có quả táo rơi trúng đầu mà
Newton đã cảm hứng phát minh ra định luật hấp dẫn vũ trụ chắc chắn chỉ là
chuyện thêu dệt. Tất cả những điều mà Newton nói ra chỉ là: ý tưởng về hấp
dẫn đến với ông khi đang ngồi ở “trạng thái chiêm nghiệm” và “được nảy
sinh bởi sự rơi của quả táo”). Newton đã chỉ ra rằng theo định luật của
ông, lực hấp dẫn sẽ làm cho mặt trăng chuyển động theo quỹ đạo elip xung
quanh trái đất và các hành tinh chuyển động theo quỹ đạo elip xung quanh
mặt trời.
Mô hình Copernicus đã vứt bỏ những thiên cầu của Ptolemy
và cùng với chúng vứt bỏ luôn ý tưởng cho rằng vũ trụ có một biên giới tự
nhiên. Vì “những ngôi sao cố định” dường như không thay đổi vị trí của
chúng trừ sự quay xung quanh bầu trời do trái đất quay xung quanh trục của
nó, nên sẽ là hoàn toàn tự nhiên nếu giả thiết rằng các ngôi sao cố định
là những thiên thể giống như mặt trời của chúng ta, nhưng ở xa hơn rất
nhiều. Căn cứ vào lý thuyết hấp dẫn của mình, Newton thấy rằng do các ngôi
sao hút nhau nên về căn bản chúng không thể là đứng yên được. Vậy liệu
chúng có cùng rơi vào một điểm nào đó không? Trong bức thư viết năm 1691
gửi Richard Bentley, cũng là một nhà tư tưởng lỗi lạc thời đó, Newton đã
chứng tỏ rằng điều đó thực tế có thể xảy ra nếu chỉ có một số hữu hạn các
ngôi sao được phân bố trong một vùng hữu hạn của không gian. Nhưng mặt
khác, ông cũng chỉ ra rằng nếu có một số vô hạn các ngôi sao được phân bố
tương đối đồng đều trong không gian vô tận thì điều đó không thể xảy ra
được, bởi vì khi đó sẽ không có điểm nào là trung tâm để cho chúng rơi
vào. Luận chứng này là một ví dụ về những cái bẫy mà ta có thể gặp khi nói
về sự vô hạn. Trong vũ trụ vô hạn, mỗi một điểm đều có thể được xem là một
tâm, bởi mỗi một điểm đều có một số vô hạn các ngôi sao ở mỗi phía của nó.
Cách tiếp cận đúng đắn - mà điều này phải mãi sau này mới có - phải là xem
xét một tình trạng hữu hạn trong đó tất cả các ngôi sao sẽ rơi vào nhau và
sau đó đặt câu hỏi tình hình sẽ thay đổi như thế nào nếu ta thêm vào một
số ngôi sao nữa được phân bố gần như đồng đều ở ngoài vùng đang xét. Theo
định luật của Newton thì về trung bình, những ngôi sao mới thêm vào này
cũng hoàn toàn không làm được điều gì khác với những ngôi sao ban đầu, tức
là chúng cũng rơi nhanh như vậy. Chúng ta có thể thêm vào bao nhiêu ngôi
sao tùy ý, nhưng chúng cũng sẽ rơi sập vào nhau. Bây giờ thì chúng ta hiểu
rằng không thể có một mô hình tĩnh vô hạn của vũ trụ trong đó hấp dẫn luôn
là lực hút.
Đây là sự phản ánh lý thú về bầu không khí tư tưởng
chung của một giai đoạn trước thế kỷ hai mươi, trong đó không một ai nghĩ
rằng vũ trụ đang giãn nở hoặc đang co lại. Mọi người đều thừa nhận rằng
hoặc vũ trụ tồn tại vĩnh cửu trong trạng thái không thay đổi, hoặc nó được
tạo ra ở một thời điểm hữu hạn trong quá khứ đã gần giống chúng ta quan
sát thấy hiện nay. Điều này có thể một phần là do thiên hướng của con
người muốn tin vào những sự thật vĩnh cửu cũng như sự tiện lợi mà họ tìm
thấy trong ý nghĩ rằng vũ trụ là vĩnh cửu và không thay đổi, mặc dù ngay
bản thân họ cũng có thể già đi và chết.
Thậm chí ngay cả những người thấy rằng lý
thuyết hấp dẫn của Newton chứng tỏ vũ trụ không thể là tĩnh, cũng không
nghĩ tới chuyện cho rằng nó có thể đang giãn nở. Thay vì thế, họ lại có ý
định cải biến lý thuyết này bằng cách làm cho lực hấp dẫn trở thành lực
đẩy ở những khoảng cách rất lớn. Điều này không ảnh hưởng đáng kể đến
những tiên đoán của họ về chuyển động của các hành tinh, nhưng lại cho
phép một sự dàn trải vô hạn của các ngôi sao còn ở trạng thái cân bằng:
những lực hút của các ngôi sao ở gần nhau sẽ được cân bằng bởi lực đẩy từ
các ngôi sao ở rất xa. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta biết chắc chắn rằng,
sự cân bằng đó là không bền: nếu những ngôi sao ở một vùng nào đó chỉ cần
xích lại gần nhau một chút là lực hút giữa chúng sẽ mạnh hơn và lấn át lực
đẩy, và thế là các ngôi sao sẽ tiếp tục co lại vào nhau. Mặt khác, nếu
những ngôi sao dịch ra xa nhau một chút là lực đẩy sẽ lại lấn át, và các
ngôi sao sẽ chuyển động ra xa nhau.
Một phản bác nữa đối với mô hình vũ trụ tĩnh vô hạn
thường được xem là của nhà triết học người Đức Heinrich Olbers, người viết
về lý thuyết này vào năm 1823. Thực tế thì rất nhiều người đương thời của
Newton đã nêu ra vấn đề này, và bài báo của Olbers thậm chí cũng không
phải là bài đầu tiên chứa đựng những lý lẽ hợp lý chống lại nó. Tuy nhiên,
đây là bài báo đầu tiên được nhiều người chú ý. Khó khăn là ở chỗ trong
một vũ trụ tĩnh vô hạn thì gần như mỗi một đường ngắm đều kết thúc trên bề
mặt của một ngôi sao. Như thế thì toàn bộ bầu trời sẽ phải sáng chói như
mặt trời, thậm chí cả ban đêm. Lý lẽ phản bác của Olbers cho rằng ánh sáng
từ các ngôi sao xa sẽ bị mờ nhạt đi do sự hấp thụ của vật chất xen giữa
các ngôi sao. Tuy nhiên, dù cho điều đó có xảy ra đi nữa thì vật chất xen
giữa cuối cùng sẽ nóng lên, cho đến khi nó cũng phát sáng như những ngôi
sao. Con đường duy nhất tránh được kết luận cho rằng toàn bộ bầu trời đêm
cũng sáng chói như bề mặt của mặt trời là phải giả thiết rằng, các ngôi
sao không phát sáng vĩnh viễn, mà chỉ bật sáng ở một thời điểm hữu hạn nào
đó trong quá khứ. Trong trường hợp hợp đó, vật chất hấp thụ còn chưa thể
đủ nóng, hay ánh sáng từ các ngôi sao xa chưa kịp tới chúng ta. Và điều
này lại đặt ra cho chúng ta một câu hỏi: cái gì đã làm cho các ngôi sao
bật sáng đầu tiên?
Sự bắt đầu của vũ trụ, tất nhiên, đã được người ta thảo
luận từ trước đó rất lâu. Theo một số lý thuyết về vũ trụ có từ xa xưa, và
theo truyền thống của người Do Thái giáo/ Thiên Chúa giáo/ Hồi giáo, thì
vũ trụ bắt đầu có từ một thời điểm hữu hạn nhưng chưa thật quá xa trong
quá khứ. Một lý lẽ chứng tỏ có sự bắt đầu đó là cảm giác cần phải có cái
“nguyên nhân đầu tiên” để giải thích sự tồn tại của vũ trụ. (Trong vũ trụ,
bạn luôn luôn giải thích một sự kiện như là được gây ra bởi một sự kiện
khác xảy ra trước đó, nhưng sự tồn tại của chính bản thân vũ trụ chỉ có
thể được giải thích bằng cách đó, nếu nó có sự bắt đầu). Một lý lẽ nữa do
St. Augustine đưa ra trong cuốn sách của ông nhan đề Thành phố của Chúa.
Ông chỉ ra rằng, nền văn minh còn đang tiến bộ, và chúng ta nhớ được ai là
người đã thực hiện kỳ công này hoặc ai đã phát triển kỹ thuật kia. Như
vậy, con người và có lẽ cả vũ trụ nữa đều chưa thể được trải nghiệm được
quá lâu dài. Và đã thừa nhận ngày ra đời của vũ trụ vào khoảng 5.000 năm
trước Công nguyên, phù hợp với sách Chúa sáng tạo ra thế giới (phần Sáng
thế ký của Kinh Cựu ước). (Điều lý thú là thời điểm đó không quá xa thời
điểm kết thúc của thời kỳ băng hà cuối cùng, khoảng 10.000 năm trước Công
nguyên, thời điểm mà các nhà khảo cổ nói với chúng ta rằng nền văn minh
mới thực bắt đầu).
Mặt khác, Aristotle và các triết gia Hy Lạp khác lại
không thích ý tưởng về sự Sáng thế vì nó dính líu quá nhiều tới sự can
thiệp của thần thánh. Do đó họ tin rằng loài người và thế giới xung quanh
đã tồn tại và sẽ còn tồn tại mãi mãi. Những người cổ đại đã xem xét lý lẽ
nêu ở trên về sự tiến bộ và họ giải đáp như sau: đã có nhiều nạn hồng thuỷ
hoặc các tai họa khác xảy ra một cách định kỳ đưa loài người tụt lại điểm
bắt đầu của nền văn minh.
Những vấn đề: vũ trụ có
điểm bắt đầu trong thời gian và có bị giới hạn trong không gian hay không
sau này đã được nhà triết học Immannuel Kant xem xét một cách bao quát
trong cuốn Phê phán sự suy lý thuần tuý, một công trình vĩ đại (và
rất tối nghĩa) của ông, được xuất bản năm 1781. Ông gọi
những câu hỏi đó là sự mâu thuẫn của suy lý thuần tuý, bởi vì ông cảm thấy
có những lý lẽ với sức thuyết phục như nhau để tin vào luận đề cho rằng vũ
trụ có điểm bắt đầu, cũng như vào phản đề cho rằng vũ trụ đã tồn tại mãi
mãi. Lý lẽ của ông bênh vực luận đề là: nếu vũ trụ không có điểm bắt đầu
thì trước bất kỳ một sự kiện nào cũng có một khoảng thời gian vô hạn, điều
này ông cho là vô lý! Lý lẽ của ông bảo vệ phản đề là: nếu vũ trụ có điểm
bắt đầu, thì sẽ có một khoảng thời gian vô hạn trước nó, vậy thì tại sao
vũ trụ lại bắt đầu ở một thời điểm nào đó? Sự thật thì những trường hợp
ông đưa ra cho cả luận đề và phản đề đều chỉ là một lý lẽ mà thôi. Cả hai
đều dựa trên một giả thiết không nói rõ ra cho rằng thời gian lùi vô tận
về phía sau bất kể vũ trụ có tồn tại mãi mãi hay không. Như chúng ta sẽ
thấy sau này, khái niệm thời gian mất ý nghĩa trước thời điểm bắt đầu của
vũ trụ. St. Augustine là người đầu tiên đã chỉ ra điều đó. Khi được hỏi:
Chúa đã làm gì trước khi Người sáng tạo ra thế giới? Ông không đáp: Người
đang tạo ra Địa ngục cho những kẻ đặt những câu hỏi như vậy. Thay vì thế,
ông nói rằng thời gian là một tính chất của vũ trụ mà Chúa đã tạo ra và
thời gian không tồn tại trước khi vũ trụ bắt đầu.
Khi mà số đông tin rằng vũ trụ về căn bản là tĩnh và
không thay đổi thì câu hỏi nó có điểm bắt đầu hay không thực tế chỉ là một
câu hỏi của siêu hình học hoặc thần học. Người ta có thể viện lẽ rằng
những điều quan sát được đều phù hợp tốt như nhau với lý thuyết cho rằng
nó bắt đầu vận động ở một thời điểm hữu hạn nào đó, theo cách sao cho
dường như là nó đã tồn tại mãi mãi. Nhưng vào năm 1929, Edwin Hubble đã
thực hiện một quan sát có tính chất là một cột mốc cho thấy dù bạn nhìn ở
đâu thì những thiên hà xa xôi cũng đang chuyển động rất nhanh ra xa chúng
ta. Nói một cách khác, vũ trụ đang giãn nở ra. Điều này có nghĩa là, ở
những thời gian trước kia các vật gần nhau hơn. Thực tế, dường như là có
một thời, mười hoặc hai mươi ngàn triệu năm về trước, tất cả chúng đều
chính xác ở cùng một chỗ và do đó mật độ của vũ trụ khi đó là vô hạn. Phát
minh này cuối cùng đã đưa câu hỏi về sự bắt đầu vũ trụ vào địa hạt của
khoa học.
Những quan sát của Hubble đã gợi ý rằng có một thời
điểm, được gọi là vụ nổ lớn, tại đó vũ trụ vô cùng nhỏ và vô cùng đặc (mật
độ vô hạn). Dưới những điều kiện như vậy, tất cả các định luật khoa học và
do đó mọi khả năng tiên đoán tương lai đều không dùng được.
Nếu có những sự kiện ở
trước điểm đó thì chúng không thể ảnh hưởng tới những cái đang xảy ra
trong hiện tại. Do đó, sự tồn tại của chúng có thể bỏ qua bởi vì nó không
có những hậu quả quan sát được. Người ta có thể nói rằng
thời gian có điểm bắt đầu ở vụ nổ lớn, theo nghĩa là những thời điểm trước
đó không thể xác định được. Cũng cần nhấn mạnh rằng sự bắt đầu này của
thời gian rất khác với những sự bắt đầu đã được xem xét trước đó. Trong vũ
trụ tĩnh không thay đổi, sự bắt đầu của thời gian là cái gì đó được áp đặt
bởi một Đấng ở ngoài vũ trụ, chứ không có một yếu tố nào cho sự bắt đầu đó
cả. Người ta có thể tưởng tượng Chúa tạo ra thế giới ở bất kỳ một thời
điểm nào trong quá khứ. Trái lại, nếu vũ trụ giãn nở thì có những nguyên
nhân vật lý để cần phải có sự bắt đầu. Người ta vẫn còn có thể tưởng tượng
Chúa đã tạo ra thế giới ở thời điểm vụ nổ lớn hoặc thậm chí sau đó theo
cách sao cho dường như có vụ nổ lớn, nhưng sẽ là vô nghĩa nếu cho rằng vũ
trụ được tạo ra trước vụ nổ lớn. Một vũ trụ giãn nở không loại trừ Đấng
sáng tạo, nhưng nó đặt ra những hạn chế khi Người cần thực hiện công việc
của mình!
Để nói về bản chất của vũ trụ và thảo luận những vấn đề
như: nó có điểm bắt đầu hay kết thúc hay không, các bạn cần hiểu rõ một lý
thuyết khoa học là như thế nào. Ở đây, tôi sẽ lấy một quan niệm mộc mạc
cho rằng lý thuyết chỉ là một mô hình về vũ trụ, hoặc về một phần hạn chế
nào đó, của nó cùng với tập hợp những quy tắc liên hệ các đại lượng của mô
hình với quan sát mà chúng ta sẽ thực hiện. Tất nhiên lý thuyết chỉ tồn
tại trong đầu của chúng ta chứ không có một thực tại nào khác (dù nó có
thể có ý nghĩa gì đi nữa). Một lý thuyết
được xem là tốt nếu nó thỏa mãn hai yêu cầu: nó phải mô tả chính xác một
lớp rộng lớn những quan sát, trên cơ sở của mô hình chỉ chứa một số ít
những phần tử tùy ý; và nó phải đưa ra được những tiên đoán về các quan
sát trong tương lai. Ví dụ, lý thuyết của Aristotle cho
rằng mọi vật đều được cấu tạo nên từ bốn yếu tố: đất, không khí, lửa và
nước. Nó có ưu điểm là khá đơn giản, nhưng lại không đưa ra được một tiên
đoán xác định nào. Trong khi đó, lý thuyết của Newton về hấp dẫn dựa trên
một mô hình còn đơn giản hơn, trong đó các vật hút nhau bởi một lực tỷ lệ
với một đại lượng được gọi là khối lượng của vật, và tỷ lệ nghịch với bình
phương khoảng cách giữa chúng. Thế nhưng nó lại tiên đoán được những
chuyển động của mặt trời, mặt trăng và các hành tinh với một độ chính xác
cao.
Bất kỳ một lý thuyết vật lý nào cũng chỉ là tạm thời,
theo nghĩa nó chỉ là một giả thuyết: bạn sẽ không khi nào có thể chứng
minh được nó. Dù cho những kết quả thực nghiệm phù hợp với một lý thuyết
vật lý bao nhiêu lần đi nữa, bạn cũng không bao giờ đảm bảo được chắc chắn
rằng kết quả thí nghiệm lần tới sẽ không mâu thuẫn với lý thuyết. Trong
khi đó, để bác bỏ một lý thuyết bạn chỉ cần tìm ra một quan sát không phù
hợp với những tiên đoán của lý thuyết đó. Như nhà triết học của khoa học
Karl Popper đã nhấn mạnh, một lý thuyết tốt
được đặc trưng bởi điều là: nó đưa ra được nhiều tiên đoán mà về nguyên
tắc có thể bác bỏ bởi quan sát. Mỗi một lần những thực
nghiệm mới còn phù hợp với những tiên đoán thì lý thuyết còn sống sót và
niềm tin của chúng ta vào nó lại được tăng thêm, nhưng nếu thậm chí chỉ có
một quan sát mới tỏ ra là không phù hợp thì chúng ta cần phải vứt bỏ hoặc
phải sửa đổi lý thuyết đó. Ít nhất đó là điều được xem là sẽ xảy ra, nhưng
bạn cũng luôn luôn có thể đặt vấn đề về thẩm quyền của người thực hiện
quan sát đó.
Trên thực tế, điều thường hay xảy ra là một lý thuyết
mới thực ra chỉ là sự mở rộng của lý thuyết trước. Ví dụ, những quan sát
rất chính xác về hành tinh Thủy (mà ta quen gọi sai là sao
Thủy) đã cho thấy sự sai khác nhỏ giữa chuyển động của nó và những tiên
đoán của lý thuyết hấp dẫn Newton. Sự thật là những tiên đoán của Einstein
hoàn toàn ăn khớp với quan sát, trong khi những tiên đoán của Newton chưa
đạt được điều đó - là một trong những khẳng định có tính chất quyết định
đối với lý thuyết mới. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn thường xuyên sử dụng lý
thuyết của Newton cho những mục đích thực tiễn, bởi vì sự khác biệt giữa
những tiên đoán của nó và của thuyết tương đối rộng là rất nhỏ trong những
tình huống mà chúng ta gặp thường ngày. (Lý thuyết của Newton cũng còn một
ưu điểm lớn nữa là nó dễ sử dụng hơn lý thuyết của Einstein rất nhiều).
Mục đích tối hậu của khoa
học là tạo ra được một lý thuyết duy nhất có khả năng mô tả được toàn bộ
vũ trụ. Tuy nhiên, cách tiếp cận mà phần đông các nhà khoa
học thực sự theo đuổi là tách vấn đề này ra làm hai phần. Thứ nhất là
những quy luật cho biết vũ trụ sẽ thay đổi như thế nào theo thời gian.
(Nếu chúng ta biết ở một thời điểm nào đó vũ trụ là như thế nào thì các
định luật vật lý sẽ cho chúng ta biết nó sẽ ra sao ở bất kỳ thời điểm nào
tiếp sau). Thứ hai là vấn đề về trạng thái ban đầu của vũ trụ. Một số
người cảm thấy rằng có lẽ khoa học chỉ nên quan tâm tới phần thứ nhất; họ
xem vấn đề về trạng thái ban đầu của vũ trụ là vấn đề của siêu hình học
hoặc của tôn giáo. Họ cho rằng Chúa, Đấng toàn năng có thể cho vũ trụ bắt
đầu theo bất cứ cách nào mà Người muốn. Cũng có thể là như vậy, nhưng
trong trường hợp đó Người cũng có thể làm cho vũ trụ phát triển một cách
hoàn toàn tùy ý. Nhưng hóa ra Người lại chọn cách làm cho vũ trụ tiến
triển một cách rất quy củ phù hợp với một số quy luật. Vì vậy cũng sẽ là
hợp lý nếu giả thiết rằng cũng có những quy luật chi phối trạng thái ban
đầu.
Thực ra, rất khó có thể xây dựng được một lý thuyết mô
tả được toàn bộ vũ trụ trong tổng thể của nó. Thay vì thế, chúng ta phân
bài toán thành từng phần và từ đó phát minh ra nhiều lý thuyết có tính
chất riêng phần. Mỗi một lý thuyết như thế mô tả và tiên đoán chỉ được một
lớp hạn chế những quan sát, trong khi phải bỏ qua ảnh hưởng của những đại
lượng khác hoặc biểu diễn chúng bằng tập hợp đơn giản các con số. Cũng có
thể cách tiếp cận này là hoàn toàn sai lầm. Nếu mọi vật trong vũ trụ phụ
thuộc vào nhau một cách căn bản, thì sẽ không thể tiếp cận lời giải đầy đủ
bằng cách nghiên cứu các phần của bài toán một cách riêng rẽ, cô lập. Tuy
nhiên, đó chắc chắn là cách mà chúng ta đã làm ra sự tiến bộ trong quá
khứ. Một ví dụ kinh điển lại là lý thuyết hấp dẫn của Newton. Lý thuyết
này nói với chúng ta rằng lực hấp dẫn giữa hai vật chỉ phụ thuộc vào một
con số gắn liền với mỗi vật - đó là khối lượng của chúng, nhưng lại hoàn
toàn độc lập với chuyện vật đó được làm bằng chất gì. Như vậy người ta
không cần phải có một lý thuyết về cấu trúc và thành phần của mặt trời và
các hành tinh mà vẫn tính được quỹ đạo của chúng.
Ngày nay, các nhà khoa học mô tả vũ trụ dựa trên hai lý thuyết cơ
sở có tính chất riêng phần, đó là thuyết tương đối rộng và cơ học lượng
tử. Hai lý thuyết đó là những thành tựu trí tuệ vĩ đại của
nửa đầu thế kỷ này. Lý thuyết tương đối rộng mô tả lực hấp dẫn và cấu trúc
cực vĩ của vũ trụ, - cấu trúc từ quy mô ít dặm tới triệu triệu triệu triệu
(1 và hai mươi bốn số 0 tiếp sau) dặm tức là kích thước của vũ trụ quan
sát được. Trái lại, cơ học lượng tử lại mô tả những hiện tượng ở phạm vi
cực nhỏ, cỡ một phần triệu triệu của 1 inch. Tuy nhiên, không may, hai lý
thuyết này lại không tương thích với nhau - nghĩa là cả hai không thể đều
đồng thời đúng. Một trong những nỗ lực chủ
yếu trong vật lý học ngày nay và cũng là đề tài chủ yếu của cuốn sách này,
đó là tìm kiếm một lý thuyết mới có thể dung nạp cả hai lý thuyết trên -
lý thuyết lượng tử của hấp dẫn. Hiện chúng ta còn chưa có
một lý thuyết như vậy và có thể còn lâu mới có được, nhưng chúng ta đã
biết được nhiều tính chất mà lý thuyết đó cần phải có. Và như chúng ta sẽ
thấy trong các chương sau, chúng ta cũng đã biết khá nhiều về những tiên
đoán mà lý thuyết lượng tử của hấp dẫn cần phải đưa ra.
Bây giờ, nếu bạn đã tin rằng vũ trụ không phải là tùy
tiện mà được điều khiển bởi những quy luật xác định thì điều tối hậu là
cần phải kết hợp những lý thuyết riêng phần thành những lý thuyết thống
nhất hoàn chỉnh có khả năng mô tả mọi điều trong vũ trụ. Nhưng trong quá
trình tìm kiếm một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh như vậy, lại vấp phải
một nghịch lý rất cơ bản. Những ý niệm về các lý thuyết khoa học được phác
ra ở trên xem rằng chúng ta là những sinh vật có lý trí tự do quan sát vũ
trụ theo ý chúng ta và rút ra những suy diễn logic từ những cái mà chúng
ta nhìn thấy. Trong một sơ đồ như thế, sẽ là hợp lý nếu cho rằng chúng ta
có thể ngày càng tiến gần tới các quy luật điều khiển vũ trụ.
Nhưng nếu quả thực có một lý thuyết thống
nhất hoàn chỉnh, thì nó cũng sẽ có thể quyết định những hành động của
chúng ta. Và như vậy tự bản thân lý thuyết đó sẽ quyết định kết quả việc
tìm kiếm lý thuyết ấy của chúng ta! Hơn nữa, tại sao nó sẽ
quyết định rằng chúng ta sẽ đi tới những kết luận đúng từ những điều quan
sát được? Hay là tại sao nó không thể quyết định để chúng ta rút ra những
kết luận sai? Hay là không có một kết luận nào hết?
Câu trả lời duy nhất mà tôi có thể đưa ra cho vấn vấn đề
này là dựa trên nguyên lý chọn lọc tự nhiên của Darwin. Y tưởng đó như
sau: trong bất cứ quần thể nào của các cơ thể tự sinh sản, cũng đều có
những biến đổi trong vật liệu di truyền và sự giáo dưỡng, khiến cho có các
cá thể khác nhau. Sự khác nhau đó có nghĩa là, một số cá thể có khả năng
hơn những cá thể khác trong việc rút ra những kết luận đúng về thế giới
quanh mình và biết hành động một cách phù hợp. Những cá thể này có sức
sống và sinh sản mạnh hơn, và vì thế, kiểu mẫu hành vi và suy nghĩ của họ
sẽ dần chiếm ưu thế. Trong quá khứ, đúng là những cái mà chúng ta gọi là
trí tuệ và phát minh khoa học đã truyền được cái lợi thế sống sót của con
người. Nhưng còn chưa rõ ràng là liệu điều đó có còn đúng trong trường hợp
khi mà những phát minh khoa học của chúng ta
có thể sẽ tiêu diệt tất cả chúng ta và thậm chí nếu không xảy ra điều đó,
thì một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh cũng có thể không làm khác đi bao
nhiêu cơ hội sống sót của chúng ta. Tuy nhiên, với điều
kiện vũ trụ đã tiến triển một cách quy củ, chúng ta có thể hy vọng rằng
những khả năng suy luận mà sự chọn lọc tự nhiên đã cho chúng ta vẫn còn
đắc dụng trong cuộc tìm kiếm một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh và sẽ
không dẫn chúng ta tới những kết luận sai lầm.
Vì những lý thuyết riêng phần mà chúng ta đã có đủ để
đưa ra những tiên đoán về tất cả, trừ những tình huống cực đoan nhất, nên
việc tìm kiếm một lý thuyết tối hậu về vũ trụ khó có thể biện minh trên cơ
sở những ứng dụng thực tiễn. (Tuy nhiên, cần phải thấy rằng chính lý lẽ
tương tự đã được đưa ra để chống lại thuyết tương đối và cơ học lượng tử,
thế mà chính những lý thuyết này đã mang lại cho chúng ta cả năng lượng
hạt nhân lẫn cuộc cách mạng vi điện tử!). Do đó sự phát minh ra lý thuyết
thống nhất hoàn chỉnh có thể không giúp gì cho sự sống sót của chúng ta.
Nó thậm chí cũng không ảnh hưởng gì đến lối sống của chúng ta. Nhưng ngay
từ buổi bình minh của nền văn minh, loài người đã không bằng lòng nhìn
những sự kiện như những thứ rời rạc và không giải thích được. Họ đã khao
khát hiểu biết cái trật tự nằm sâu kín trong thế giới. Ngày hôm nay chúng
ta cũng vẫn trăn trở muốn biết tại sao chúng ta lại ở đây và chúng ta từ
đâu tới. Khát vọng tri thức, khát vọng sâu xa nhất của loài người, đủ để
biện minh cho sự tìm kiếm liên tục của chúng ta. Và mục đích của chúng ta
không gì khác hơn là sự mô tả đầy đủ vũ trụ, nơi chúng ta đang sống.
Chương II: Không gian và thời gian
Những ý niệm của chúng ta hiện nay về chuyển động của
vật thể bắt nguồn từ Galileo và Newton. Trước họ, người ta tin Aristotle,
người đã nói rằng trạng thái tự nhiên của một vật là đứng yên, và nó chỉ
chuyển động dưới tác dụng của một lực hoặc một xung lực. Từ đó suy ra
rằng, vật nặng sẽ rơi nhanh hơn vật nhẹ, bởi vì nó có một lực kéo xuống
đất lớn hơn.
Truyền thống Aristotle cũng cho rằng người ta có thể rút
ra tất cả các định luật điều khiển vũ trụ chỉ bằng tư duy thuần túy, nghĩa
là không cần kiểm tra bằng quan sát. Như vậy, cho tới tận Galileo không có
ai băn khoăn thử quan sát xem có thực là các vật có trọng lượng khác nhau
sẽ rơi với vận tốc khác nhau hay không.
Người ta kể rằng Galieo đã chứng minh niềm tin của Aristotle là sai bằng
cách thả những vật có trọng lượng khác nhau từ tháp nghiêng Pisa. Câu
chuyện này chắn hẳn là không có thật, nhưng Galileo đã làm
một việc tương đương: ông thả những viên bi có trọng lượng khác nhau trên
một mặt phẳng nghiêng nhẵn. Tình huống ở đây cũng tương tự như tình huống
của các vật rơi theo phương thẳng đứng, nhưng có điều nó dễ quan sát hơn
vì vận tốc của các vật nhỏ hơn. Các phép đo của Galileo chỉ ra rằng các
vật tăng tốc với một nhịp độ như nhau bất kể trọng lượng của nó bằng bao
nhiêu. Ví dụ, nếu bạn thả một viên bi trên một mặt phẳng nghiêng có độ
nghiêng sao cho cứ 10 m dọc theo mặt phẳng thì độ cao lại giảm 1m, thì
viên bi sẽ lăn xuống với vận tốc 1m/s sau 1 giây, 2m/s sau 2 giây... bất
kể viên bi nặng bao nhiêu. Tất nhiên, viên bi bằng chì sẽ rơi nhanh hơn
một chiếc lông chim, nhưng chiếc lông chim bị làm chậm lại chỉ vì sức cản
của không khí mà thôi. Nếu thả hai vật không chịu nhiều sức cản không khí,
ví dụ như hai viên bi đều bằng chì, nhưng có trọng lượng khác nhau, thì
chúng sẽ rơi nhanh như nhau.
Những phép đo của Galileo đã được Newton sử dụng làm cơ
sở cho những định luật về chuyển động của ông. Trong những thực nghiệm của
Galileo, khi một vật lăn trên mặt phẳng nghiêng, nó luôn luôn chịu tác
dụng của cùng một lực (là trọng lực của nó) và kết quả là làm cho vận tốc
của nó tăng một cách đều đặn. Điều đó chứng
tỏ rằng, hậu quả thực sự của một lực là luôn luôn làm thay đổi vận tốc của
một vật, chứ không phải là làm cho nó chuyển động như người ta nghĩ trước
đó. Điều này cũng có nghĩa là, bất cứ khi nào vật không
chịu tác dụng của một lực, thì nó vẫn tiếp tục chuyển động thẳng với cùng
một vận tốc. Ý tưởng này đã được phát biểu một cách tường minh lần đầu
tiên trong cuốn Principia Mathematica (Các nguyên lý toán học), được công
bố năm 1867, của Newton và sau này được biết như định luật thứ nhất của
Newton. Định luật thứ hai của Newton cho biết điều gì sẽ xảy ra đối với
một vật khi có một lực tác dụng lên nó. Định luật này phát biểu rằng vật
sẽ có gia tốc, hay nói cách khác là sẽ thay đổi vận tốc tỷ lệ với lực tác
dụng lên nó. (Ví dụ, gia tốc sẽ tăng gấp đôi, nếu lực tác dụng tăng gấp
đôi). Gia tốc cũng sẽ càng nhỏ nếu khối lượng (lượng vật chất) của vật
càng lớn.(Cùng một lực tác dụng lên vật có khối lượng lớn gấp hai lần sẽ
tạo ra một gia tốc nhỏ hơn hai lần). Một ví dụ tương tự lấy ngay từ chiếc
ô tô: động cơ càng mạnh thì gia tốc càng lớn, nhưng với cùng một động cơ,
xe càng nặng thì gia tốc càng nhỏ.
Ngoài những định luật về chuyển động, Newton còn phát
minh ra định luật về lực hấp dẫn. Định luật này phát biểu rằng mọi vật đều
hút một vật khác với một lực tỉ lệ với khối lượng của mỗi vật. Như vậy lực
giữa hai vật sẽ mạnh gấp đôi nếu một trong hai vật (ví dụ vật A) có khối
lượng tăng gấp hai. Đây là điều bạn cần phải trông đợi bởi vì có thể xem
vật mới A được làm từ hai vật có khối lượng ban đầu, và mỗi vật đó sẽ hút
vật B với một lực ban đầu. Như vậy lực tổng hợp giữa A và B sẽ hai lần lớn
hơn lực ban đầu. Và nếu, ví dụ, một trong hai vật có khối lượng hai lần
lớn hơn và vật kia có khối lượng ba lần lớn hơn thì lực tác dụng giữa
chúng sẽ sáu lần mạnh hơn. Bây giờ thì ta có thể hiểu tại sao các vật lại
rơi với một gia tốc như nhau: một vật có trọng lượng lớn gấp hai lần sẽ
chịu một lực hấp dẫn kéo xuống mạnh gấp hai lần, nhưng nó lại có khối
lượng lớn gấp hai lần. Như vậy theo định luật 2 của Newton, thì hai kết
quả này bù trừ chính xác cho nhau, vì vậy gia tốc của các vật là như nhau
trong mọi trường hợp.
Định luật hấp dẫn của Newton cũng cho chúng ta biết rằng
các vật càng ở xa nhau thì lực hấp dẫn càng nhỏ. Ví dụ, lực hút hấp dẫn
của một ngôi sao đúng bằng một phần tư lực hút của một ngôi sao tương tự,
nhưng ở khoảng cách giảm đi một nửa. Định luật này tiên đoán quỹ đạo của
trái đất, mặt trăng và các hành tinh với độ chính xác rất cao. Nếu định
luật này khác đi, chẳng hạn, lực hút hấp dẫn của một ngôi sao giảm theo
khoảng cách nhanh hơn, thì quỹ đạo của các hành tinh không còn là hình
elip nữa, mà chúng sẽ là những đường xoắn ốc về phía mặt trời. Nếu lực đó
lại giảm chậm hơn, thì lực hấp dẫn từ các ngôi sao xa sẽ lấn át lực hấp
dẫn từ mặt trời.
Sự khác biệt to lớn giữa
những tư tưởng của Aristotle và những tư tưởng của Galileo và Newton là ở
chỗ Aristotle tin rằng trạng thái đứng yên là trạng thái được “ưa thích”
hơn của mọi vật - mọi vật sẽ lấy trạng thái đó, nếu không có một lực hoặc
xung lực nào tác dụng vào nó. Đặc biệt, ông cho rằng trái
đất là đứng yên. Nhưng từ những định luật của Newton suy ra rằng không có
một tiêu chuẩn đơn nhất cho sự đứng yên. Người ta hoàn toàn có quyền như
nhau khi nói rằng, vật A là đứng yên và vật B chuyển động với vận tốc
không đổi đối với vật A hoặc vật B là đứng yên và vật A chuyển động. Ví
dụ, nếu tạm gác ra một bên chuyển động quay của trái đất quanh trục của nó
và quỹ đạo của nó xung quanh mặt trời, người ta có thể nói rằng trái đất
là đứng yên và đoàn tàu trên nó chuyển động về phía bắc với vận tốc 90 dặm
một giờ hoặc đoàn tàu là đứng yên còn trái đất chuyển động về phía nam
cũng với vận tốc đó. Nếu người ta tiến hành những thí nghiệm của chúng ta
với các vật chuyển động trên con tàu đó thì tất cả các định luật của
Newton vẫn còn đúng. Ví dụ, khi đánh bóng bàn trên con tàu đó, người ta sẽ
thấy rằng quả bóng vẫn tuân theo các định luật của Newton hệt như khi bàn
bóng đặt cạnh đường ray. Như vậy không có cách nào cho phép ta nói được là
con tàu hay trái đất đang chuyển động.
Việc không có một tiêu chuẩn tuyệt đối cho sự đứng yên
có nghĩa là người ta không thể xác định được hai sự kiện xảy ra ở hai thời
điểm khác nhau có cùng ở một vị trí trong không gian hay không. Ví dụ, giả
sử quả bóng bàn trên con tàu nảy lên và rơi xuống chạm bàn ở cùng một chỗ
sau khoảng thời gian 1 giây. Đối với người đứng cạnh đường ray thì hai lần
chạm bàn đó xảy ra ở hai vị trí cách nhau 40 m vì con tàu chạy được quãng
đường đó trong khoảng thời gian giữa hai lần quả bóng chạm bàn. Sự không
tồn tại sự đứng yên tuyệt đối, vì vậy, có nghĩa là người ta không thể gán
cho một sự kiện một vị trí tuyệt đối trong không gian, như Aristotle đã
tâm niệm. Vị trí của các sự kiện và khoảng cách giữa chúng là khác nhau
đối với người ở trên tàu và người đứng cạnh đường ray và chẳng có lý do gì
để thích vị trí của người này hơn vị trí của người kia.
Newton là người rất băn
khoăn về sự không có vị trí tuyệt đối, hay như người ta vẫn gọi là không
có không gian tuyệt đối, vì điều đó không phù hợp với ý niệm của ông về
Thượng đế tuyệt đối. Thực tế, Newton đã chối bỏ, không
chấp nhận sự không tồn tại của không gian tuyệt đối, mặc dù thậm chí điều
đó đã ngầm chứa trong những định luật của ông. Ông đã bị nhiều người phê
phán nghiêm khắc vì niềm tin phi lý đó, mà chủ yếu nhất là bởi Giám mục
Berkeley, một nhà triết học tin rằng mọi đối tượng vật chất và cả không
gian lẫn thời gian chỉ là một ảo ảnh. Khi người ta kể cho tiến sĩ Johnson
nổi tiếng về quan điểm của Berkeley, ông kêu lớn: “Tôi sẽ bác bỏ nó như
thế này này!” và ông đá ngón chân cái vào một hòn đá lớn.
Cả Aristotle lẫn Newton đều tin vào thời gian tuyệt đối.
Nghĩa là, họ tin rằng người ta có thể đo một cách đàng hoàng khoảng thời
gian giữa hai sự kiện, rằng thời gian đó hoàn toàn như nhau dù bất kỳ ai
tiến hành đo nó, miễn là họ dùng một chiếc đồng hồ tốt. Thời gian hoàn
toàn tách rời và độc lập với không gian. Đó là điều mà nhiều người xem là
chuyện thường tình. Tuy nhiên, đến lúc chúng ta phải thay đổi những ý niệm
của chúng ta về không gian và thời gian. Mặc dù những quan niệm thông
thường đó của chúng ta vẫn có kết quả tốt khi đề cập tới các vật như quả
táo hoặc các hành tinh là những vật chuyển động tương đối chậm, nhưng
chúng sẽ hoàn toàn không dùng được nữa đối với những vật chuyển động với
vận tốc bằng hoặc gần bằng vận tốc ánh sáng.
Năm 1676, nhà thiên văn
học Đan Mạch Ole Christensen Roemer là người đầu tiên phát hiện ra rằng
ánh sáng truyền với vận tốc hữu hạn, mặc dù rất lớn. Ông
quan sát thấy rằng thời gian để các mặt trăng của sao Mộc xuất hiện sau
khi đi qua phía sau của hành tinh đó không cách đều nhau như người ta chờ
đợi, nếu các mặt trăng đó chuyển động vòng quanh sao Mộc với vận tốc không
đổi. Khi trái đất và sao Mộc quanh xung quanh mặt trời, khoảng cách giữa
chúng thay đổi. Roemer thấy rằng sự che khuất các mặt trăng của sao Mộc
xuất hiện càng muộn khi chúng ta càng ở xa hành tinh đó. Ông lý luận rằng
điều đó xảy ra là do ánh sáng từ các mặt trăng đó đến chúng ta mất nhiều
thời gian hơn khi chúng ta ở xa chúng hơn. Tuy nhiên, do những phép đo của
ông về sự biến thiên khoảng cách giữa trái đất và sao Mộc không được chính
xác lắm, nên giá trị vận tốc ánh sáng mà ông xác định được là 140.000
dặm/s, trong khi giá trị hiện nay đo được của vận tốc này là 186.000 dặm/s
(khoảng 300.000 km/s). Dù sao thành tựu của Roemer cũng rất đáng kể, không
chỉ trong việc chứng minh được rằng vận tốc của ánh sáng là hữu hạn, mà cả
trong việc đo được vận tốc đó, đặc biệt nó lại được thực hiện 11 năm trước
khi Newton cho xuất bản cuốn Principia Mathematica.
Một lý thuyết đích thực về sự truyền ánh sáng phải mãi
tới năm 1865 mới ra đời, khi nhà vật lý người Anh James Clerk Maxwell đã
thành công thống nhất hai lý thuyết riêng phần cho tới thời gian đó vẫn
được dùng để mô tả riêng biệt các lực điện và từ. Các phương trình của
Maxwell tiên đoán rằng có thể có những nhiễu động giống như sóng trong một
trường điện từ kết hợp, rằng những nhiễu động đó sẽ được truyền với một
vận tốc cố định giống như những gợn sóng trên hồ. Nếu bước sóng của những
sóng đó (khoảng cách của hai đỉnh sóng liên tiếp) là một mét hoặc lớn hơn,
thì chúng được gọi là sóng radio (hay sóng vô tuyến). Những sóng có bước
sóng ngắn hơn được gọi là sóng cực ngắn (với bước sóng vài centimet) hoặc
sóng hồng ngoại (với bước sóng lớn hơn mười phần ngàn centimet). Ánh sáng
thấy được có bước sóng nằm giữa bốn mươi phần triệu đến tám mươi phần
triệu centimet. Những sóng có bước sóng còn ngắn hơn nữa là tia tử ngoại,
tia - X và các tia gamma.
Lý thuyết của Maxwell tiên đoán các sóng vô tuyến và
sóng ánh sáng truyền với một vận tốc cố định nào đó. Nhưng lý thuyết của
Newton đã gạt bỏ khái niệm đứng yên tuyệt đối, vì vậy nếu ánh sáng được
giả thiết là truyền với một vận tốc cố định, thì cần phải nói vận tốc cố
định đó là đối với cái gì. Do đó người ta cho rằng có một chất gọi là
“ether” có mặt ở khắp mọi nơi, thậm chí cả trong không gian “trống rỗng”.
Các sóng ánh sáng truyền qua ether như sóng âm truyền trong không khí, và
do vậy, vận tốc của chúng là đối với ether. Những người quan sát khác nhau
chuyển động đối với ether sẽ thấy ánh sáng đi tới mình với những vận tốc
khác nhau, nhưng vận tốc của ánh sáng đối với ether luôn luôn có một giá
trị cố định. Đặc biệt, vì trái đất chuyển động qua ether trên quỹ đạo quay
quanh mặt trời, nên vận tốc của ánh sáng được đo theo hướng chuyển động
của trái đất qua ether (khi chúng ta chuyển động tới gần nguồn sáng) sẽ
phải lớn hơn vận tốc của ánh sáng hướng vuông góc với phương chuyển động
(khi chúng ta không chuyển động hướng tới nguồn sáng). Năm 1887, Albert
Michelson (sau này trở thành người Mỹ đầu tiên nhận được giải thưởng Nobel
về vật lý) và Edward Morley đã thực hiện một thực nghiệm rất tinh xảo tại
trường Khoa học ứng dụng Case ở Cleveland. Họ đã so sánh vận tốc ánh sáng
theo hướng chuyển động của trái đất với vận tốc ánh sáng hướng vuông góc
với chuyển động của trái đất. Và họ đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy rằng
hai vận tốc đó hoàn toàn như nhau!
Giữa năm 1887 và năm 1905 có một số ý định, mà chủ yếu
là của vật lý người Hà Lan Hendrik Lorentz, nhằm giải thích kết quả của
thí nghiệm Michelson - Morley bằng sự co lại của các vật và sự chậm lại
của đồng hồ khi chúng chuyển động qua ether. Tuy nhiên, trong bài báo công
bố vào năm 1905, Albert Einstein, một nhân viên thuộc văn phòng cấp bằng
sáng chế phát minh ở Thụy Sĩ, người mà trước đó còn chưa ai biết tới, đã
chỉ ra rằng toàn bộ ý tưởng về ether là không cần thiết nếu người ta sẵn
lòng vứt bỏ ý tưởng về thời gian tuyệt đối. Quan niệm tương tự cũng đã
được một nhà toán học hàng đầu của Pháp là Henri Poincaré đưa ra chỉ ít
tuần sau. Tuy nhiên, những lý lẽ của Einstein gần với vật lý hơn Poincaré,
người đã xem vấn đề này như một vấn đề toán học. Công lao xây dựng nên lý
thuyết mới này thường được thừa nhận là của Einstein, nhưng Poincaré vẫn
thường được nhắc nhở tới và tên tuổi của ông gắn liền với một phần quan
trọng của lý thuyết đó.
Tiên đề cơ bản của lý thuyết mới - mà người ta thường
gọi là thuyết tương đối - được phát biểu như
sau: mọi định luật của khoa học là như nhau đối với tất cả những người
quan sát chuyển động tự do bất kể vận tốc của họ là bao nhiêu.
Điều này đúng đối với các định luật của Newton về chuyển động, nhưng bây
giờ lý thuyết đó được mở rộng ra bao hàm cả lý thuyết của Maxwell và vận
tốc ánh sáng: mọi người quan sát đều đo được vận tốc ánh sáng có giá trị
hoàn toàn như nhau bất kể họ chuyển động nhanh, chậm như thế nào. Ý tưởng
đơn giản đó có một số hệ quả rất đáng chú ý. Có lẽ nổi tiếng nhất là hệ
quả về sự tương đương của khối lượng và năng lượng được đúc kết trong
phương trình nổi tiếng của Einstein: E = mc2 và định luật nói rằng không
có vật nào có thể chuyển động nhanh hơn ánh sáng. Vì có sự tương đương
giữa năng lượng và khối lượng nên năng lượng mà vật có thể nhờ chuyển động
sẽ làm tăng khối lượng của nó. Nói một cách khác, nó sẽ làm cho việc tăng
vận tốc của vật trở nên khó khăn hơn.
Hiệu ứng này chỉ trực sự quan trọng đối với các vật
chuyển động với vận tốc gần với vận tốc ánh sáng. Ví dụ, vận tốc chỉ bằng
10 % vận tốc ánh sáng khối lượng của vật chỉ tăng 0,5 % so với khối lượng
bình thường, trong khi vận tốc bằng 90 % vận tốc ánh sáng khối lượng của
nó còn tăng nhanh hơn, vì vậy sẽ càng mất nhiều năng lượng hơn để tăng vận
tốc của nó lên nữa. Thực tế không bao giờ có thể đạt tới vận tốc của ánh
sáng vì khi đó khối lượng của vật sẽ trở thành vô hạn và do sự tương đương
giữa năng lượng và khối lượng, sẽ phải tốn một lượng vô hạn năng lượng để
đạt được điều đó. Vì lý do đó, một vật bình thường vĩnh viễn bị tính tương
đối giới hạn chuyển động chỉ chuyển động với vận tốc nhỏ hơn vận tốc ánh
sáng. Chỉ có ánh sáng hoặc các sóng khác không có khối lượng nội tại là có
thể chuyển động với vận tốc ánh sáng.
Một hệ quả cũng đáng chú ý không kém của thuyết tương
đối là nó đã làm cách mạng những ý niệm của chúng ta về không gian và thời
gian. Trong lý thuyết của Newton, nếu một xung ánh sáng được gửi từ nơi
này đến nơi khác thì những người quan sát khác nhau đều nhất trí với nhau
về thời gian truyền xung ánh sáng đó (vì thời gian là tuyệt đối). Vì vận
tốc ánh sáng chính bằng khoảng cách mà nó truyền được chia cho thời gian
đã tốn để đi hết quãng đường đó, nên những người quan sát khác nhau sẽ đo
được vận tốc của ánh sáng có giá trị khác nhau. Trong thuyết tương đối,
trái lại, mọi người quan sát đều phải nhất trí về giá trị vận tốc của ánh
sáng. Tuy nhiên, họ vẫn còn không nhất trí về khoảng cách mà ánh sáng đã
truyền, vì vậy họ cũng phải không nhất trí về thời gian mà ánh sáng đã tốn
(thời gian này bằng khoảng cách ánh sáng đã truyền - điều mà các nhà quan
sát không nhất trí - chia cho vận tốc ánh sáng - điều mà các nhà quan sát
đều nhất trí). Nói một cách khác, lý thuyết tương đối đã cáo chung cho ý
tưởng về thời gian tuyệt đối! Hóa ra là mỗi người quan sát cần phải có một
bộ đo thời gian riêng của mình như được ghi nhận bởi đồng hồ mà họ mang
theo và các đồng hồ giống hệt nhau được mang bởi những người quan sát khác
nhau không nhất thiết phải chỉ như nhau.
Mỗi một người quan sát có thể dùng radar để biết một sự
kiện xảy ra ở đâu và khi nào bằng cách gửi một xung ánh sáng hoặc sóng vô
tuyến. Một phần của xung phản xạ từ sự kiện trở về và người quan sát đo
thời gian mà họ nhận được tiếng dội. Thời gian xảy ra sự kiện khi đó sẽ
bằng một nửa thời gian tính từ khi xung được gửi đi đến khi nhận được
tiếng dội trở lại, còn khoảng cách tới sự kiện bằng nửa số thời gian cho
hai lượt đi-về đó nhân với vận tốc ánh sáng. (Một sư kiện, theo ý nghĩa
này, là một điều gì đó xảy ra ở một điểm duy nhất trong không gian và ở
một điểm xác định trong thời gian).
Ý tưởng này được minh họa trên hình 2.1, nó là một ví dụ
về giản đồ không-thời gian. Dùng thủ tục này, những người quan sát chuyển
động đối với nhau sẽ gán cho cùng một sự kiện những thời gian và vị trí
khác nhau. Không có những phép đo của người quan sát đặc biệt nào là đúng
hơn những người khác, nhưng tất cả các phép đo đều quan hệ với nhau. Bất
kỳ một người quan sát nào cũng tính ra được một cách chính xác thời gian
và vị trí mà một người quan sát khác gán cho một sự kiện, miễn là người đó
biết được vận tốc tương đối của người kia.
Ngày hôm nay để đo khoảng cách một cách chính xác, chúng
ta vẫn còn dùng phương pháp nói trên, bởi vì chúng ta có thể đo thời gian
chính xác hơn đo chiều dài. Thực tế, mét được định nghĩa là khoảng cách mà
ánh sáng đi được trong khoảng thời gian 0,000000003335640952 giây đo theo
đồng hồ nguyên tử xesi. (Nguyên nhân dẫn tới con số lạ lùng này là để nó
tương ứng với định nghĩa có tính chất lịch sử của mét: là khoảng cách giữa
hai vạch trên một cái thước đặc biệt làm bằng bạch kim được giữ ở Paris).
Như vậy chúng ta có thể dùng một đơn vị mới thuận tiện hơn, được gọi là
giây-ánh-sáng. Nó đơn giản là khoảng cách mà ánh sáng đi được trong một
giây. Trong lý thuyết tương đối, bây giờ ta định nghĩa khoảng cách thông
qua thời gian và vận tốc ánh sáng, như vậy phải tự động suy ra rằng mọi
người quan sát đo vận tốc của ánh sáng sẽ nhận được cùng một giá trị (theo
định nghĩa là 1 mét trong 0,000000003335640952 giây). Khỏi cần phải đưa
vào khái niệm ether, và lại sự có mặt của nó không thể được ghi nhận bằng
cách nào, như thí nghiệm của Michelson - Morley đã chứng tỏ.
Tuy nhiên, lý thuyết tương đối buộc chúng ta phải thay
đổi một cách căn bản những ý niệm của chúng ta về không gian và thời gian.
Chúng ta buộc phải chấp nhận rằng thời gian không hoàn toàn tách rời và
độc lập với không gian mà kết hợp với nó thành một đối tượng gọi là không
- thời gian.
Theo kinh nghiệm thông thường, người ta có thể mô tả vị
trí của một điểm trong không gian bằng ba con số, hay nói cách khác là ba
tọa độ. Ví dụ, người ta có thể nói: một điểm ở trong phòng cách một bức
tường 7 bộ, cách một bức tường khác 3 bộ, và cao so với sàn 5 bộ. Hoặc
người ta có thể chỉ rõ một điểm ở kinh tuyến nào, vĩ tuyến bao nhiêu và ở
độ cao nào so với mực nước biển. Người ta có thể thoải mái dùng ba tọa độ
thích hợp nào mà mình muốn, mặc dù chúng chỉ có phạm vi ứng dụng hạn chế.
Chẳng hạn, chúng ta sẽ không chỉ vị trí của mặt trăng bằng khoảng cách
theo phương bắc và phương tây so với rạp xiếc Piccadilly và chiều cao của
nó so với mực nước biển. Thay vì thế, người ta cần phải mô tả nó qua
khoảng cách từ mặt trời, khoảng cách từ mặt phẳng quĩ đạo của các hành
tinh và góc giữa đường nối mặt trăng với mặt trời và đường nối mặt trời
tới một ngôi sao ở gần như sao Alpha của chòm sao Nhân Mã. Nhưng thậm chí
những tọa độ này cũng không được dùng nhiều để mô tả vị trí của mặt trời
trong thiên hà của chúng ta hoặc của thiên hà chúng ta trong quần thể
thiên hà khu vực. Thực tế, người ta có thể mô tả toàn bộ vũ trụ bằng một
tập hợp các mảng gối lên nhau. Trong mỗi một mảng, người ta có thể dùng
một tập hợp ba tọa độ khác nhau để chỉ vị trí của các điểm.
Một sự kiện là một cái gì đó xảy ra ở một điểm đặc biệt
trong không gian và ở một thời điểm đặc biệt. Như vậy, người ta có thể chỉ
nó bằng 4 con số hay là 4 tọa độ. Và lần này cũng thế, việc lựa chọn các
tọa độ là tùy ý, người ta có thể dùng ba tọa độ không gian đã biết và một
độ đo nào đó của thời gian. Trong thuyết
tương đối, không có sự phân biệt thực sự giữa các tọa độ không gian và
thời gian, cũng hệt như không có sự khác biệt thực sự giữa hai tọa độ
không gian. Người ta có thể chọn một tập hợp tọa độ mới,
trong đó, chẳng hạn, tọa độ không gian thứ nhất là tổ hợp của tọa độ không
gian cũ thứ nhất và thứ hai. Ví dụ, thay vì đo vị trí của một điểm trên
mặt đất bằng khoảng cách theo phương bắc và tây của nó đối với rạp xiếc
Piccadilly người ta có thể dùng khoảng cách theo hướng đông bắc và tây bắc
đối với Piccadilly. Cũng tương tự như vậy, trong thuyết tương đối, người
ta có thể dùng tọa độ thời gian mới là thời gian cũ (tính bằng giây) cộng
với khoảng cách (tính bằng giây - ánh sáng) theo hướng bắc của Piccadilly.
Một cách rất hữu ích để suy nghĩ về bốn tọa độ của một
sự kiện là chỉ vị trí của nó trong một không gian 4 chiều, được gọi là
không -thời gian. Chúng ta không thể tưởng tượng nổi một không gian 4
chiều. Riêng bản thân tôi hình dung một không gian 3 chiều cũng đã vất
vả lắm rồi. Tuy nhiên vẽ một sơ đồ về không gian 2 chiều thì lại khá dễ
dàng, chẳng hạn như vẽ bề mặt của trái đất (Bề mặt của trái đất là hai
chiều vì vị trí của một điểm trên đó có thể được ghi bằng hai tọa độ,
kinh độ và vĩ độ). Tôi sẽ thường sử dụng những giản đồ trong đó thời
gian tăng theo phương thẳng đứng hướng lên trên, còn một trong những
chiều không gian được vẽ theo phương nằm ngang. Hai chiều không gian còn
lại sẽ bỏ qua, hoặc đôi khi một trong hai chiều đó được vẽ theo phối
cảnh. (Những giản đồ này được gọi là giản đồ không-thời gian, giống như
hình 2.1). Ví dụ, trong hình 2.2 thời gian được đặt hướng lên trên với
đơn vị là năm, còn khoảng cách nằm dọc theo đường thẳng nối mặt trời với
sao Anpha của chòm sao Nhân mã được đặt nằm ngang với đơn vị là dặm.
Những con đường của mặt trời và sao Alpha qua không - thời gian là những
con đường thẳng đứng ở bên trái và bên phải của giản đồ. Tia sáng từ mặt
trời đi theo đường chéo và phải mất 4 năm mới tới được sao Alpha.
Như chúng ta đã thấy, các phương trình Maxwell tiên đoán
rằng vận tốc của ánh sáng sẽ là như nhau bất kể vận tốc của nguồn sáng
bằng bao nhiêu, và điều này đã được khẳng định bằng nhiều phép đo chính
xác.
Điều này suy ra từ sự kiện là nếu một xung ánh sáng được
phát ra ở một thời điểm đặc biệt, tại một điểm đặc biệt trong không gian,
thì sau đó với thời gian nó sẽ lan ra như một mặt cầu ánh sáng với kích
thước và vị trí không phụ thuộc vào vận tốc của nguồn sáng. Sau một phần
triệu giây, ánh sáng sẽ lan truyền, tạo thành một mặt cầu có bán kính 300
mét, sau hai phần triệu giây, bán kính là 600 mét, và cứ như vậy mãi. Điều
này cũng giống như những gợn sóng truyền trên mặt nước khi có hòn đá ném
xuống hồ.
Những gợn sóng truyền như một vòng tròn cứ lớn dần mãi
theo thời gian. Nếu ta nghĩ về một mô hình ba chiều gồm bề mặt hai chiều
của hồ và một chiều thời gian thì vòng tròn lớn dần của các gợn sóng sẽ
tạo thành một nón có đỉnh nằm đúng tại chỗ và tại thời điểm hòn đá chạm
vào mặt nước (hình 2.3). Tương tự, ánh sáng lan truyền từ một sự kiện sẽ
tạo nên một mặt nón ba chiều trong không-thời gian 4 chiều. Mặt nón đó
được gọi là mặt nón ánh sáng tương lai của sự kiện đang xét. Cũng bằng
cách như vậy ta có thể dựng một mặt nón khác, gọi là mặt nón ánh sáng quá
khứ - đó là tập hợp các sự kiện mà từ chúng một xung ánh sáng có thể tới
được sự kiện đang xét ( hình 2.4).
Những mặt nón ánh sáng quá khứ và tương lai của một sự
kiện P chia không gian thành ba miền (hình 2.5.). Tương lai tuyệt đối của
sự kiện là vùng nằm trong mặt nón ánh sáng tương lai của P. Đây là tập hợp
của tất cả các sự kiện có thể chịu ảnh hưởng của những điều xảy ra ở P.
Những tín hiệu từ P không thể tới được những sự kiện nằm
ngoài nón ánh sáng của P bởi vì không gì có thể chuyển động nhanh hơn ánh
sáng. Do vậy mà các sự kiện đó không chịu ảnh hưởng những gì xảy ra ở P.
Quá khứ tuyệt đối của P là vùng nằm trong nón ánh sáng quá khứ. Đây là tập
hợp các sự kiện mà từ đó những tín hiệu truyền với vận tốc bằng hoặc nhỏ
hơn vận tốc của ánh sáng có thể tới được P. Do đó, tập hợp những sự kiện
này có thể ảnh hưởng tới những gì xảy ra ở P.
Nếu biết được ở một thời điểm đặc biệt nào đó những gì xảy ra ở
mọi nơi trong vùng không gian nằm trong nón ánh sáng quá khứ của P thì
người ta có thể tiên đoán những gì sẽ xảy ra ở P.
Phần còn lại là vùng không - thời gian không nằm trong
nón ánh sáng tương lai hoặc quá khứ của P. Các sự kiện trong phần còn lại
này không thể ảnh hưởng hoặc chịu ảnh hưởng bởi những sự kiện ở P. Ví dụ,
nếu mặt trời ngừng chiếu sáng ở chính thời điểm này, thì nó sẽ không ảnh
hưởng tới các sự kiện trên trái đất ở ngay thời điểm đó bởi vì chúng nằm
ngoài nón ánh sáng của ánh sáng khi mặt trời tắt (hình 2.6). Chúng ta sẽ
biết về sự kiện đó chỉ sau 8 phút - là thời gian đủ để ánh sáng đi từ mặt
trời đến trái đất. Và chỉ khi này những sự kiện trên trái đất mới nằm
trong nón ánh sáng tương lai của sự kiện ở đó mặt trời tắt. Tương tự như
vậy, ở thời điểm hiện nay chúng ta không thể biết những gì đang xảy ra ở
những nơi xa xôi trong vũ trụ, bởi vì ánh sáng mà chúng ta thấy từ những
thiên hà xa xôi đã rời chúng từ hàng triệu năm trước. Như vậy, khi chúng
ta quan sát vũ trụ thì thực ra là chúng ta đang thấy nó trong qúa khứ.
Nếu người ta bỏ qua những
hiệu ứng hấp dẫn, như Einstein và Poincaré đã làm năm 1905, thì ta có
thuyết tương đối được gọi là thuyết tương đối hẹp. Đối với
mỗi sự kiện trong không-thời gian ta đều có thể dựng một nón ánh sáng (là
tập hợp mọi con đường khả dĩ của ánh sáng trong không-thời gian được phát
ra ở sự kiện đó), và vì vận tốc ánh sáng là như nhau ở mỗi sự kiện và theo
mọi hướng, nên tất cả các nón ánh sáng là như nhau và cùng hướng theo một
hướng. Lý thuyết này cũng nói với chúng ta rằng không gì có thể chuyển
động nhanh hơn ánh sáng. Điều đó có nghĩa là đường đi của mọi vật qua
không-thời gian cần phải được biểu diễn bằng một đường nằm trong nón ánh
sáng ở mỗi một sự kiện trên nó (hình 2.7.).
Lý thuyết tương đối hẹp rất thành công trong việc giải
thích sự như nhau của vận tốc ánh sáng đối với mọi người quan sát (như thí
nghiệm Michelson - Morley đã chứng tỏ) và trong sự mô tả những điều xảy ra
khi các vật chuyển động với vận tốc gần với vận tốc ánh sáng. Tuy nhiên,
lý thuyết này lại không hòa hợp với thuyết hấp dẫn của Newton nói rằng các
vật hút nhau với một lực phụ thuộc vào khoảng cách giữa chúng.
Điều này có nghĩa là, nếu làm cho một vật chuyển động thì lực tác dụng lên
các vật khác sẽ thay đổi ngay lập tức. Hay nói một cách
khác, các tác dụng hấp dẫn truyền với vận tốc vô hạn, thay vì nó bằng hoặc
nhỏ hơn vận tốc ánh sáng như thuyết tương đối hẹp đòi hỏi.
Trong khoảng thời gian từ năm 1908 đến năm 1914,
Einstein đã nhiều lần thử tìm một lý thuyết hấp dẫn hòa hợp được với
thuyết tương đối hẹp, nhưng đã không thành công. Cuối cùng, vào năm 1915,
ông đã đưa ra được một lý thuyết mà ngày nay chúng ta gọi là thuyết tương
đối rộng (hay thuyết tương đối tổng quát). Ông đã đưa ra một giả thiết có
tính chất cách mạng cho rằng hấp dẫn không phải là một lực giống như những
lực khác mà nó là kết quả của sự kiện là: không - thời gian không phải
phẳng như trước kia người ta vẫn tưởng, mà nó cong hay “vênh” đi do sự
phân bố của khối lượng và năng lượng trong nó. Các vật như trái đất không
phải được tạo ra để chuyển động trên các quĩ đạo cong bởi lực hấp dẫn, mà
thay vì thế, chúng chuyển động theo đường rất gần với đường thẳng trong
không gian cong mà người ta gọi là đường trắc địa. Đường trắc địa là đường
ngắn nhất (hoặc dài nhất) giữa hai điểm cạnh nhau. Ví dụ, bề mặt trái đất
là một không gian cong hai chiều.
Đường trắc địa trên mặt trái đất chính là vòng tròn lớn
và nó là đường ngắn nhất giữa hai điểm trên mặt đất (H.2.8). Vì đường trắc
địa là đường ngắn nhất giữa hai sân bay, nên nó là đường mà những người
dẫn đường hàng không hướng các phi công bay theo.
Trong lý thuyết tương đối rộng, các vật luôn luôn chuyển động theo
các đường “thẳng” trong không-thời gian 4 chiều, nhưng đối với chúng ta,
chúng có vẻ chuyển động theo những đường cong trong không gian 3 chiều.
(Điều này rất giống với việc quan sát chiếc máy bay trên một vùng đồi gò.
Mặc dù nó bay theo đường thẳng trong không gian 3 chiều, nhưng cái bóng
của nó lại chuyển động theo một đường cong trên mặt đất hai chiều).
Khối lượng của mặt trời làm cong không-thời gian theo
cách sao cho mặc dù trái đất chuyển động theo đường thẳng trong không-thời
gian 4 chiều, nhưng nó lại thể hiện đối với chúng ta là chuyển động theo
quĩ đạo tròn trong không gian ba chiều. Và thực tế, quĩ đạo của các hành
tinh được tiên đoán bởi lý thuyết tương đối rộng cũng chính xác như được
tiên đoán bởi lý thuyết hấp dẫn của Newton. Tuy nhiên, trong trường hợp
đối với sao Thủy, hành tinh gần mặt trời nhất, do đó cảm thấy hiệu ứng hấp
dẫn mạnh nhất và có quĩ đạo thuôn dài hơn, thì thuyết tương đối rộng tiên
đoán rằng trục dài của elip quĩ đạo quay quanh mặt trời với vận tốc 1 độ
trong 10 ngàn năm. Mặc dù hiệu ứng là rất nhỏ, nhưng nó đã được ghi nhận
từ trước năm 1915 và được dùng như một bằng chứng đầu tiên khẳng định lý
thuyết của Einstein. Trong những năm gần đây, những độ lệch thậm chí còn
nhỏ hơn nữa của quĩ đạo các hành tinh khác so với những tiên đoán của lý
thuyết Newton cũng đã được đo bằng rada và cho thấy chúng phù hợp với
những tiên đoán của thuyết tương đối rộng.
Những tia sáng cũng cần phải đi theo những đường trắc
địa trong không-thời gian. Cũng lại do không gian bị cong nên ánh sáng
không còn thể hiện là truyền theo đường thẳng trong không gian nữa. Như
vậy thuyết tương đối rộng tiên đoán rằng anh sáng có thể bị bẻ cong bởi
các trường hấp dẫn. Ví dụ, lý thuyết này tiên đoán rằng nón ánh sáng của
những điểm ở gần mặt trời sẽ hơi bị uốn hướng vào phía trong do tác dụng
của khối lượng mặt trời. Điều này có nghĩa là ánh sáng từ một ngôi sao
xa khi đi qua gần mặt trời có thể bị lệch đi một góc nhỏ, khiến cho đối
với những người quan sát trên mặt đất, ngôi sao đó dường như ở một vị trí khác (H.2.9). Tất nhiên, nếu ánh sáng
từ ngôi sao đó luôn luôn đi qua gần mặt trời, thì chúng ta không thể nói
tia sáng có bị lệch hay không hoặc thay vì thế ngôi sao có thực sự nằm ở
đúng chỗ chúng ta nhìn thấy nó hay không. Tuy nhiên, vì trái đất quay
quanh mặt trời nên những ngôi sao khác nhau có lúc dường như đi qua phía
sau mặt trời và ánh sáng của chúng bị lệch. Vì thế những ngôi sao này
thay đổi vị trí biểu kiến của chúng đối với các ngôi sao khác.
Thường thì rất khó quan sát hiệu ứng này, bởi vì ánh
sáng của mặt trời làm cho ta không thể quan sát được những ngôi sao có vị
trí biểu kiến ở gần mặt trời trên bầu trời. Tuy nhiên, điều này có thể làm
được trong thời gian có nhật thực, khi mà ánh sáng mặt trời bị mặt trăng
chắn mất. Nhưng tiên đoán của Einstein không được kiểm chứng ngay lập tức
trong năm 1915 vì cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất lúc đó đang lan
rộng, và phải tới tận năm 1919 một đoàn thám
hiểm Anh khi quan sát nhật thực ở Tây Phi đã chứng tỏ được rằng ánh sáng
thực sự bị lệch do mặt trời đúng như lý thuyết đã dự đoán.
Sự chứng minh lý thuyết của một người Đức bởi các nhà khoa học Anh đã được
nhiệt liệt hoan nghênh như một hành động hòa giải vĩ đại giữa hai nước sau
chiến tranh. Do đó, thật là trớ trêu khi kiểm tra lại sau đó những bức ảnh
mà đoàn thám hiểm đã chụp, người ta phát hiện ra rằng sai số cũng lớn cỡ
hiệu ứng mà họ định đo. Phép đo của họ hoàn toàn chỉ là may mắn hoặc một
trường hợp đã biết trước kết quả mà họ muốn nhận được - một điều cũng
thường xảy ra trong khoa học. Tuy nhiên, sự lệch của tia sáng đã được
khẳng định hoàn toàn chính xác bởi nhiều quan sát sau này.
Một tiên đoán khác của thuyết tương đối rộng là thời
gian dường như chạy chậm hơn khi ở gần những vật có khối lượng lớn như
trái đất. Đó là bởi vì một mối liên hệ giữa năng lượng của ánh sáng và tần
số của nó (tần số là sóng ánh sáng trong một giây): năng lượng càng lớn
thì tần số càng cao. Khi ánh sáng truyền hướng lên trong trường hấp dẫn
của trái đất, nó sẽ mất năng lượng và vì thế tần số của nó giảm. (Điều này
có nghĩa là khoảng thời gian giữa hai đỉnh sóng liên tiếp tăng lên).
Đối với người ở trên cao mọi chuyện ở phía
dưới xảy ra chậm chạp hơn. Điều tiên đoán này đã được kiểm
chứng vào năm 1962 bằng cách dùng hai đồng hồ rất chính xác: một đặt ở
đỉnh và một đặt ở chân một tháp nước. Đồng hồ ở chân tháp, gần trái đất
hơn, chạy chậm hơn - hoàn toàn phù hợp với thuyết tương đối rộng. Sự khác
biệt của tốc độ đồng hồ ở những độ cao khác nhau trên mặt đất có một tầm
quan trọng đặc biệt trong thực tiễn hiện nay khi người ta sử dụng những hệ
thống đạo hàng chính xác dựa trên những tín hiệu từ vệ tinh. Nếu khi này
người ta bỏ qua những tiên đoán của thuyết tương đối rộng, thì vị trí tính
toán được có thể sai khác tới vài ba dặm!
Những định luật về chuyển
động của Newton đã đặt dấu chấm hết cho ý niệm về vị trí tuyệt đối trong
không gian. Thuyết tương đối đã vứt bỏ khái niệm thời gian tuyệt đối.
Ta hãy xét hai đứa trẻ sinh đôi. Giả sử rằng một đứa được đưa lên sống
trên đỉnh núi và một đứa sống ở ngang mực nước biển. Đứa thứ nhất sẽ già
nhanh hơn đứa thứ hai. Như vậy, nếu gặp lại nhau một đứa sẽ già hơn đứa
kia. Trong trường hợp này sự khác nhau về tuổi tác sẽ rất nhỏ, nhưng nó sẽ
lớn hơn rất nhiều nếu một đứa thực hiện chuyến du hành dài trong con tàu
vũ trụ chuyển động với vận tốc gần vận tốc ánh sáng. Khi trở về nó sẽ trẻ
hơn rất nhiều so với đứa ở lại trái đất. Điều này được gọi là nghịch lý
hai đứa trẻ sinh đôi, nhưng nó là nghịch lý chỉ nếu ý niệm về thời gian
tuyệt đối vẫn còn lẩn quất trong đầu óc chúng ta. Trong lý thuyết tương
đối không có một thời gian tuyệt đối duy nhất, mà thay vì thế mỗi cá nhân
có một độ đo thời gian riêng của mình và độ đo đó phụ thuộc vào nơi họ
đang ở và họ chuyển động như thế nào.
Trước năm 1915, không gian và thời gian được xem là một
sân khấu cố định nơi diễn ra mọi sự kiện và không chịu ảnh hưởng bởi những
điều xảy ra trong nó. Điều này đúng thậm chí cả với thuyết tương đối hẹp.
Các vật chuyển động, các lực hút và đẩy, nhưng không gian và thời gian vẫn
liên tục và không bị ảnh hưởng gì. Và ý nghĩ cho rằng không gian và thời
gian cứ tiếp tục như thế mãi mãi cũng là chuyện tự nhiên.
Tuy nhiên, tình hình hoàn toàn khác trong thuyết tương
đối rộng. Bây giờ không gian và thời gian là những đại lượng động lực: khi
một vật chuyển động, hoặc một lực tác dụng, chúng đều ảnh hưởng tới độ
cong của không gian và thời gian và đáp lại, cấu trúc của không - thời
gian sẽ ảnh hưởng tới cách thức mà các vật chuyển động và các lực tác
dụng. Không gian và thời gian không chỉ có
tác động mà còn bị tác động bởi mọi điều xảy ra trong vũ trụ.
Chính vì người ta không thể nói về các sự kiện trong vũ trụ mà
không có khái niệm về không gian và thời gian, nên trong thuyết tương đối
rộng sẽ trở nên vô nghĩa nếu nói về không gian và thời gian ở ngoài giới
hạn của vũ trụ. Trong những thập kỷ tiếp sau, sự nhận thức mới này về
không gian và thời gian đã làm cách mạng quan niệm của chúng ta về vũ trụ.
Ý tưởng xưa cũ cho rằng một vũ trụ căn bản không thay đổi có thể đã tồn
tại và có thể còn tiếp tục tồn tại đã vĩnh viễn được thay thế bằng khái
niệm một vũ trụ động, đang giãn nở, một vũ trụ dường như đã bắt đầu ở một
thời điểm hữu hạn trong quá khứ và có thể chấm dứt ở một thời điểm hữu hạn
trong tương lai. Cuộc cách mạng này là đề tài của chương tiếp sau. Và
những năm sau đó nó cũng đã là điểm xuất phát cho hoạt động của tôi trong
lĩnh vực vật lý lý thuyết. Roger Penrose và tôi đã chứng tỏ được rằng
chính thuyết tương đối rộng đã ngụ ý vũ trụ cần phải có điểm bắt đầu và có
thể cả điểm kết thúc nữa.
Chương 3: Vũ trụ giãn nở
Nếu ta nhìn lên bầu trời vào những đêm quang đãng, không
trăng, những vật sáng nhất mà chúng ta nhìn thấy có lẽ là các hành tinh:
sao Kim, sao Hỏa, sao Mộc và sao Thổ. Cũng có rất nhiều các ngôi sao tương
tự như mặt trời của chúng ta nhưng ở rất xa. Một số những ngôi sao cố định
đó, thực tế, lại dường như thay đổi - dù là rất ít - vị trí tương đối của
chúng với nhau khi trái đất quay xung quanh mặt trời: chúng hoàn toàn
không phải là cố định! Sở dĩ có điều này là do chúng tương đối ở gần chúng
ta. Khi trái đất quanh xung quanh mặt trời, từ những vị trí khác nhau
chúng ta thấy chúng trên nền của những ngôi sao ở xa hơn. Đó là một điều
may mắn, vì nó cho phép chúng ta đo được một cách trực tiếp khoảng cách từ
những ngôi sao đó đến chúng ta: chúng càng ở gần thì càng có vẻ di chuyển
nhiều hơn.
Ngôi sao gần chúng ta nhất là sao Proxima của chòm sao
Nhân Mã được tìm thấy cách chúng ta khoảng 4 năm ánh sáng (nghĩa là ánh
sáng từ nó phải mất 4 năm mới tới được trái đất), hay khoảng hai mươi ba
triệu triệu dặm. Đa số các ngôi sao khác thấy được bằng mắt thường nằm
cách chúng ta trong khoảng vài trăm năm ánh sáng. Để so sánh, bạn cần biết
rằng mặt trời chỉ cách chúng ta có 8 phút ánh sáng! Những ngôi sao thấy
được dường như nằm rải rắc trên toàn bộ bầu trời đêm, nhưng chúng đặc biệt
tập trung trong một dải mà người ta gọi là dải Ngân hà (Milky Way). Rất
lâu về trước, vào khoảng năm 1750, đa số các nhà thiên văn cho rằng sự
xuất hiện của dải Ngân hà có thể giải thích được nếu phần lớn các sao nhìn
thấy nằm trong một cấu hình đĩa duy nhất - một ví dụ về cái mà hiện