
Kỷ yếu
Thân như
điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc
xuân vinh thu hựu khô
Vạn Hạnh
Thiền sư
Thịnh suy, hợp tan là lẽ thường tình.
Sau những năm tháng được ở bên nhau chung lòng học tập cũng phải đến lúc
bùi ngùi chia tay. Có quá nhiều hoài niệm đẹp! Làm gì đây để lưu giữ lại
tháng năm thân thương kia để khỏi hối tiếc khi dòng vô tận của lãng quên
cuốn trôi?
Không ngoài ý nguyện: Xây dựng một
hiện tại bền chắc, tự tin hướng đến một tương lai xán lạn.
Chư huynh đệ thân
mến,
Hôm nay là dịp
thuận tiện để chúng ta ngồi lại với nhau lần cuối, cùng hồi tưởng về những
kỷ niệm điệp trùng trong suốt bốn năm qua ...
Nhớ mãi những phút
giây hồi hộp, lo âu khi bước vào phòng thi tuyển sinh, nỗi mừng vui khi
“dò” được tên mình trên “bảng vàng”. Nỗi bồi hồi xúc động trong tiết học
đầu tiên tại Giảng đường Học Viện, với nhiều gương mặt sáng ngời, hứa hẹn
những mối tâm giao quý báu! ...
Và, cái khó khăn,
cái gian nan cũng dần dần xuất hiện trong sinh hoạt tại trú xứ, trường lớp
với những môn học đòi hỏi phải đầu tư thời gian sức lực. Ôi, căng thăng
của những kỳ thi nghiêm ngặt, kéo dài nhiều môn ... biết kể sao cho hết!
Nhiều biết bao
những nỗi niềm xao động của thời sinh viên ngồi dưới mái Học viện!
Giây phút này, xin
được lạm dùng từ “chia tay” để kết thúc một giai đoạn đã qua, một quãng
đời chứa đầy nhiệt huyết với nguyện ước: Về một mùa hoa trái bội thu.
Mà kỳ thực trong
bốn năm miệt mài qua, chư ân sư giáo thọ, giáo sư không quan lo nhọc, đã
tận tụy truyền trao biết bao kiến thức, khả năng quý báu. Chư vị đã chu
đáo trang bị đủ đầy cho đàn hậu lai của mình tư lương sung mãn để bước vào
đời sống, tiếp nối ngọn truyền đăng bất diệt: Từ, Bi, Trí, Tuệ của Đức
Phật làm quang rạng sự sống muôn loài, dâng tặng nguồn hạnh phúc, an lạc
vô tận cho khắp nhân gian.
Ngưỡng bạch chư
Tôn đức,
Kính thưa quý Liệt
vị,
Tập Kỷ Yếu
này là món quà nhỏ kính dâng lên chư Tôn đức và quý liệt vị trong ý thức
“Tri ân và Lưu niệm” mà toàn thể Tăng Ni sinh khóa IV-Học Viện Phật Giáo
Việt Nam tại Saigon đã đem hết sức lực, tâm lực để sớm hoàn thành nhân dịp
Lễ phát văn bằng Cử nhân Phật học.
Mặc dù có nhiều cố
gắng trong suốt quá trình biên tập, những sai sót không sao tránh khỏi
được. Ngưỡng mong chu Tôn Đức và quý Liệt vị lân mẫn hoan hỷ.
Sau cùng, Ban Biên
tập chúng tôi cũng hy vọng tập Kỷ Yếu này đến tay mọi người trong niềm hỷ
lạc chung hướng một lý tưởng: lý tưởng vì lợi ích chung. Tin tưởng sâu sắc
về cuộc tương ngộ vào một ngày mai huy hoàng.
“Xuân lai, xuân khứ, nghi xuân tận
Hoa
lạc, hoa khai, chỉ thị xuân”.
Chân Không Thiền sư.
Mong sao tập Kỷ
Yếu luôn là nguồn hứng khởi dạt dào, thú vị.
Kính chúc chư Tôn
Đức Thân Tâm Thường Lạc.
Kính chúc quý Liệt
vi luôn an lành khương thái.
Thân chúc quý
huynh đệ thành đạt mọi sở nguyện trên bước đường phụng sự của mình.
Học Viện, ngày 15/05/2001.
BAN BIÊN TẬP KỶ YẾU
NĂM THỨ NHẤT KHÓA IV
HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM tại Saigon
Do Hòa Thượng Viện Trưởng tuyên đọc ngày 25.6.1997
- Nam Mô Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật,
- Kính bạch chư
Tôn giáo phẩm, chư Hòa thượng,
- Kính thưa chư
Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni,
- Kính thưa quý vị
Giáo sư,
- Kính thưa chư vị
Khách quý,
- Thưa quý Phật tử
cùng Tăng, Ni sinh khóa IV thân mến!
Kính toàn toàn thể
qúy vị,
Hôm nay, ngày khai
giảng năm thứ nhất khóa IV, Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Saigon, Hội
đồng Điều hành Học Viện và toàn thể Tăng Ni sinh khóa IV hân hạnh được
nghênh đón chư tôn Giáo phẩm, chư Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni
và toàn thể quý vị quang lâm chứng minh, dự lễ thể hiện sự quan tâm và
khích lệ đặc biệt dành cho Tăng Ni sinh. Thay mặt tập thể Hội đồng Điều
hành Học Viện, chúng tôi xin gửi đến quý vị lời chào trân trọng và lời cầu
chúc tốt đẹp nhất của chúng tôi.
Kính thưa quý vị,
Thế là 12 năm đã
trôi qua, 12 năm Trường đã đào tạo 59 Tăng Ni sinh tốt nghiệp khóa I, 101
Tăng Ni sinh tốt nghiệp khóa II, và 234 Tăng Ni sinh tốt nghiệp khóa III.
Lễ cáp phát văn bằng tốt nghiệp Khóa III đã được tổ chức trọng thể để đánh
dấu các thành quả giáo dục đáng nhớ như là chuẩn bị cho một hướng phát
triển mới đại học và hứa hẹn theo hướng đi lên của Giáo Hội và xứ sở.
Nay khóa IV có 251
Tăng Ni sinh trúng tuyển chính thức và 39 Tăng Ni sinh được đề nghị với
theo các diện chính sách. Đây là kết quả của một quá trình tổ chức chiêu
sinh và thi tuyển được thực hiện chu đáo theo đúng các yêu cầu của một kỳ
thi tuyển vào đại học. Hôm nay là ngày mở đầu cho một chặng đưòng của bốn
năm học mà sẽ nói lên khá đầy đủ tiếng nói “giáo dục đại học” của Phật
Giáo, một chặng đường của hy vọng mở được hướng học tập cho các Tăng Ni
sinh đã tốt nghiệp trong các Khóa học qua.
Kính thưa quý vị,
Nói đến việc mở
hướng giáo dục là nói đến các yêu cầu phát triển giáo dục jiện nay của
Giáo hội, đó là công việc hoàn chỉnh một hệ thống sách giáo khoa, hoàn
chỉnh nội dung giảng dạy, hoàn chỉnh đội ngũ giảng sư cơ hữu, hình thành
một thư viện đại học, một hệ thống trường ốc và một cơ cấu cung ứng ngân
sách an toàn. Tất cả đó là trọng trách, gánh nặng của Học Viện.
Về đường hướng nội
dung và phương pháp giáo dục, giáo lý Phật Giáo sẽ cung ứng đầy đủ như có
nhiều dịp trước đây chúng tôi đã trình bày. Phật Giáo vốn có một đường
hướng, nội dung, và phương pháp giáo dục thực sự trí huệ, nhân bản và hiện
thực hữu ích cho đời, nói lên được sự thật của thiên nhiên, xã hội, môi
sinh, con người, khổ đau và hạnh phúc và đề bạt được một nếp sống, nếp văn
hóa đầy nhân ái, vị tha vì an lạc, hạnh phúc lâu dài cho số đông. Đó là
những gì của Giới đức, Tâm đức và Tuệ đức hay Văn huệ, Tư huệ và Tu huệ,
có khả năng phát triển sức mạnh của tâm lý, trí tuệ, sáng tạo, lòng nhân
ái, vị tha và bao dung của con người.
Về chuyên viên
giảng huấn cơ hữu, nội dung giảng dạy và sách giáo khoa, tất cả sẽ được
đáp ứng trong một tương lai không còn lâu xa nữa. Như quý vị đã biết, hiện
nay Học Viện đã có một Tăng sinh Khóa I vừa tốt nghiệp Tiến sĩ Phật học,
một Ni sinh Khóa I sắp tốt nghiệp Tiến sĩ, hai Tăng sinh khác của Khóa I
sẽ tốt nghiệp Tiến sĩ trong một một năm rưỡi tới; 16 Tăng, Ni sinh Khóa II
đang khởi đầu biên soạn luận án Tiến sĩ Phật học để bảo vệ vào hai năm tới
tại Ấn Độ; 5 Tăng Ni sinh khác Khóa II vừa tốt nghiệp Cao Học Phật Học
cũng tại Ấn Độ, một Tăng sinh Khóa II vừa tốt nghiệp Cao học tại Nhật Bản,
một sắp tốt nghiệp Cao học, cũng tại Nhật Bản, một đang theo học Cao học
tại Paris, Pháp; một số Tăng Ni sinh Khóa II đang theo học Hoa Ngữ và
ngành Phật học Trung Hoa tại Đài Loan.
Năm nay có thêm 50
Tăng Ni sinh khóa III đã có giấy phép nhập học tại Delhi Ấn Độ va đang
tiến hành các thủ tục du học. Với đà phát triển ấy, chừng 3 đến 6 năm tới,
Giáo hội Phật Giáo Việt Nam sẽ có một đội ngũ giảng sư và nghiên cứu cơ
hữu cho ngành Trung học và Đại học Phật Giáo. Tình hình này đòi hỏi công
tác biên soạn giáo khoa, xây dựng trường ốc và ngân sách sớm được thực
hiện. Tất cả đang trông chờ vào sự hộ trì giáo dục Phật Giáo của toàn thể
quý vị.
Kính thưa quý vị,
Bên cạnh nỗi lo,
chúng ta có được niềm tin mà Chánh Pháp ban cho. Thật là ngạc nhiên khi
khám phá ra rằng những lời dạy giải khổ đau của Đức Phật lại bao hàm phong
phú các phương pháp và tinh thần giáo dục tân tiến, bao hàm cả phương thức
khảo cứu và các trắc nghiệm tâm lý rất khoa học. Chỉ một từ ngữ Phật học
“Tứ vô ngại giải” (Từ vô ngại, Nghĩa vô ngại, Pháp vô ngại, Nhạo thuyết
Biện tài vô ngại) đã bao hàm các chuẩn mức sư phạm của một giáo sư. Chỉ
một định nghĩa vể Sắc pháp - nội sắc gồm cơ thể vật lý của cá nhân; ngoại
sắc là thế giới vật lý - đã bao hàm một triết lý về môi sinh và cho đáp án
cho cuộc khủng hoảng môi sinh và xã hội. Chỉ một tập kinh 80 trang của
Tiểu bộ kinh - Các câu chuyện Chư Thiên - đã bao hàm các bước đi của công
tác nghiên cứu khoa học (Reseach Methodology) và nhiều bài học về nhân
quả, nhân ái, vị tha. Chỉ trong một trang Kinh Từ bi đã bao hàm những trăn
trở về tinh Người của các giải thưởng Nobel Văn học v.v...
Còn có rất nhiều,
rất nhiều các gợi ý hữu ích, ý nghĩa khác từ Kinh tạng Phật Giáo mà con
đường phát triển giáo dục của Phật Giáo sẽ cống hiến.
Kính thưa quý vị,
Mười hai năm qua,
dù làm giáo dục giữa các nhân duyên giới hạn, nhà Trưòng cũng đã gặt hái
một số thành quả nhất định như đã được trình bày. Đạt được kết quả ấy là
do nhờ có sự quan tâm giúp đỡ của Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Tôn giáo
Saigon, chính quyền các cấp, và nhờ sự hỗ trợ tinh thần và vật chất của
Chư Tôn Giáo Phẩm, chư Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni và quý Phật
tử. Thay mặt tập thể Học Viện, chúng tôi xin chân thành bày tỏ nơi đây
lòng biết ơn sâu xa nhất của chúng tôi.
Nay chúng tôi xin
được nói chuyện với Tăng Ni sinh khóa IV.
Các con thân mến,
Hai tháng rưỡi qua
là thời gian vất vả của các con tập trung vào việc thi tuyển. Nay sự vất
vả đã được đền bù. Thầy rất hiểu tâm trạng thi đỗ và trượt của Tăng Ni
sinh. Thầy cũng hiểu tấm lòng của các bậc Sư trưởng, phụ huynh đối với các
con về kết quả thi tuyển. Hơn năm mươi năm qua sống trong thế giới của học
đường đã khiến Thầy ái ngại mỗi lần tổ chức thi cử và mỗi lần công bố kết
quả thi cử. Hình như có những hạt nước mắt ở đấy mà một nhà giáo dục
phương Tây gọi là “Trường của nước mắt”. Đã bao lần Thầy và Hội đồng Điều
hành nghĩ đến một “Học đường không nước mắt”, nhưng chỉ thấy đấy là hình
ảnh của ước mơ hơn là hiện thực. Biết làm thế nào khác được? (!). Thi cử
là hình thức cần có để đo đạc chất lượng và phát triển chất lượng giáo
dục; hơn thế nữa Thầy và Hội đồng điều hành đang có ý giới thiệu chất
lượng giáo dục đại học của Học Viện Phật Giáo chúng ta, cái chất lượng bảo
đảm giá trị Văn bằng và giá trị mở hướng hậu đại học. Chất lượng càng cao
thì tỉ lệ trúng tuyển càng thấp, và nỗi buồn thi trượt càng nhiều. Điểm
này đã tạo nên một ít ray rứt tâm hồn của một nhà giáo dục Phật Giáo, một
nhà giáo dục nhân bản, đã khiến cho một nhà giáo dục tổ chức thi cử lại
mang tâm trạng, nỗi niềm của một người thi trượt. Thế đấy! Với tâm trạng
của một người thi trượt, Thầy chúc các con tiếp tục nổ lực để gặt hái
những thành công lớn hơn trong học tập. Thầy cũng chân thành cầu chúc hết
thảy Tăng Ni sinh đã dự thi tiếp tục nỗ lực đi tới trên đường học vấn của
mình, bởi trước mắt chúng ta luôn có những cánh cửa khác mở như một ngạn
ngữ phương Tây đã nói: “Khi cánh cửa này khép lại thì cánh cửa khác mở
ra”. Môi trường học tập nào trên quê hương chúng ta cũng cho ta các bài
học giá trị. Tương lai của Giáo hội đang chờ đợi các thành quả học tập của
các con. Thầy tin rằng khi ngân sách giáo dục của Học Viện khấm khá, thì
nỗi buồn thi trượt của các Tăng Ni sinh không thể kéo dài hơn 1 hay 2
năm. Thầy đang muốn nói đến việc rút ngắn khoảng thời gian chờ đợi giữa
hai kỳ thi tuyển vào đại học Phật Giáo.
Chúc các con thành
công.
Kính bạch chư Tôn
Giáo phẩm, chư Hòa thượng,
Kính thưa chư
Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni,
Kính thưa quý vị
Giáo sư,
Kính thưa chư vị
Khách quý,
Thưa quý Phật tử,
Thưa toàn thể quý
vị,
Sự nghiệp giáo dục
của Phật Giáo là sự nghiệp Trí tuệ. Sự nghiệp này được xây dựng trên cơ
bản của Giới đức và Định đức, nhưng cũng cần được xây dựng trên năng lực
hộ trì của tất cả vật lực và tài lực. Chúng tôi mong rằng các thực thể
trong Học Viện Phật Giáo chúng ta, bao gồm Hội đồng Điều hành Học Viện,
Văn phòng, Ban Bảo trợ, Ban Giảng huấn và tập thể Tăng Ni sinh sẽ mở đầu
khóa học, và đi vào khóa học với một sự đoàn kết chặt chẽ và một sự hòa
điệu nhịp nhàng vì lợi ích của Phật Giáo và của xứ sở.
Chánh pháp luôn
luôn là niềm tin của chúng ta. Với niềm tin này, chúng tôi xin trân trọng
tuyên bố khai giảng năm học thứ nhất của Khóa IV, Học Viện Phật Giáo Việt
Nam tại Saigon.
Xin cảm ơn toàn
thể quý vị.
Nam Mô Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật.
CỦA HÒA THƯỢNG TRƯỞNG BAN GIÁO DỤC TĂNG NI
NHÂN DỊP LỄ KHÁNH THÀNH CƠ SỞ MỚI
HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM tại SAIGON.
- Kính bạch chư
Tôn giáo Phẩm, Chư Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni,
- Kính thưa chư vị
khách quý đại diện chính quyền, Đoàn thể, Ban ngành,
- Kính thưa Hội
đồng Điều hành Học Viện Phật giáo Việt Nam tại Saigon,
- Thưa quý vị Phật
tử, cùng các Tăng Ni sinh.
Tôi vô cùng hân
hoan được tham dự buổi lễ Khánh Thành Cơ Sở Mới của Học Viện Phật giáo
Việt Nam tại Saigon được tổ chức trang nghiêm, long trọng và đầy đạo vị
này. Tôi không ngăn được niềm hỷ lạc khi nhìn thấy tòa kiến trúc mới khá
đồ sộ, vững chãi với sự hài hòa giữa tính hiện đại và tính truyền thống
trong nghệ thuật và kỹ thuật xây dựng, tạo thành một hình ảnh độc đáo tổng
hợp của sự tiện nghi và mỹ thuật. Tôi lại càng vui mừng vì thấy được không
khí đầm ấm hôm nay với sự hiện diện quý báu và chân tình của chư Tôn giáo
Phẩm, chư Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni, Chư vị đại diện chính
quyền, Đoàn thể ban ngành, chư vị Phật tử và đặc biệt là Thượng Tọa Thích
Quảng Tâm cùng chư vị đại diện Hội Phật giáo Đồng Tu Đài Bắc, Đài Loan là
ân nhân lớn đối với nhiều công trình Phật sự của Giáo hội Phật giáo Việt
Nam, cụ thể là của Học Viện Phật giáo Việt Nam tại Saigon đã được sự ủng
hộ của đông đảo các giới, các ban ngành và quần chúng.
Sụ thành tựu này,
một lần nữa chứng tỏ hiệu năng của tinh thần vượt khó, ý chí phấn đấu và
sức xoay sở, vận động của Học Viện Phật giáo Việt Nam Saigon, của Hòa
Thượng Viện trưởng Thích Minh Châu, người mà nhiều chục năm qua đã đóng
góp tích cực cho Phật giáo Việt Nam, qua những công trình dịch thuật,
nghiên cứu Kinh tạng, qua nổ lực tham gia lãnh đạo và đặc biệt qua việc
phát triển giáo dục Phật giáo Việt Nam.
Thế là từ nay, Học
Viện Phật giáo Việt Nam đã có một kiến trúc tốt đẹp phù hợp với một cơ sở
đại học mà mọi sinh hoạt hiển nhiên là thuận tiện hơn trước đây nhiều. Dĩ
nhiên, một cơ sở khang trang và tiện nghi không phải là yếu tố chủ yếu
quyết định sự thành công của Học Viện mà điều quan trọng nhất vẫn là sự tổ
chức, vấn đề nhân sự và chất lượng sinh hoạt, giảng dạy và học tập. Đến
đây, tôi xin được nhắc lại một số nét cơ bản về giáo dục Phật giáo mà lâu
nay Giáo hội xem là nền tảng trong giáo dục và đào tạo Tăng Ni.
Từ giáo dục chỉ
xuất hiện tại Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 và cũng như nhiều từ khác của văn
hóa, khoa học phương Tây được người Nhật dịch ra tiếng Nhật theo cách viết
chữ Hán và lại được người Trung Hoa chấp nhận và sử dụng. Trong Phật giáo,
tương đương với từ “Giáo Dục” ta thấy có cả một nhóm từ đồng nghĩa: Cảm
hóa, khai hóa, nhiếp hóa, khuyến hóa, thí hóa, khuyến giáo v.v... Tất cả
những từ trên đều đặt trách nhiệm vào người Thầy, người thực hiện giáo dục
nhằm giúp người học tiến vững trên con đường giải, diệt trừ các ác pháp,
tăng trưởng các pháp thiện, bằng sự thực hiện Giới-Định-Tuệ. Mặt khác, từ
“Học” đã xuất hiện từ lâu ở Trung Quốc, cũng như ở Việt Nam và nhiều nơi
khác chỉ sự tìm hiểu, thọ nhận giáo dục, nghiên cứu, thực hành theo. Trong
Kinh sách Phật giáo, từ “Học” nhằm chỉ tính cốt yếu và thực tiễn của việc
tu hành, chỉ sự nghiên cứu chân lý để đoạn trừ vọng tưởng và lậu hoặc. Học
là nhằm thu thập nội dung đồng thời là mục tiêu Giới, Định và Tuệ bao gồm
việc Văn (nghe) Tư (suy nghĩ), Tu (thực hành). Cho nên Học được xem là
đồng nghĩa với tu học, tu tập, tu đạo, tu hành, đều nhằm đến sụ hướng
thiện, tiến bộ, và giải thoát. Tạp A hàm quyển thứ 14 ghi lời Phật dạy:
“Vị tỳ kheo ấy yểm ly dục, hướng về diệt tận, đấy gọi là học”. Như thế,
việc Học trong Phật giáo chỉ nhằm mục đích tối hậu là giải và học để hướng
thiện, là để hành cho tốt đẹp, viên mãn. Đây chính là ý nghĩa đạo đức nổi
bật trong Phật học.
Học là học hành,
là tu hành, là áp dụng cái sở tri vào thực tiễn và tu là tự tu, chứng là
tự chứng; điều này muốn nhắc nhở người học phải tự nổ lực, tự phát huy và
áp dụng sự hiểu biết của mình. Rõ ràng đây là tính thực tiễn, tính tự
nhiên và dân chủ được các nhà giáo dục mới hô hào kể từ hậu bán thế kỷ 18
ở phương Tây, từ thế kỷ 19 ở phương Đông cho đến ngày nay.
Trong thế kỷ 20,
Phật giáo phát triển mạnh mẽ, nhất là ở các nước Âu Mỹ, rất nhiều trường
đại học lớn trên thế giới đã nghiên cứu và đưa Phật học vào giảng dạy,
thành lập những phân khoa Phật cò đông đảo sinh viên theo học. Tại Châu Á,
ngoài các đại học Tổng hợp, còn rất nhiều trường đại học Phật học ở Trung
Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan v.v... Tại Việt Nam,
hiện có ba Học Viện Phật giáo Việt Nam: ở Hà Nội, Thành phố Huế và Saigon,
đang có tổ chức và sinh hoạt theo thể cách của những Trường đại học Phật
giáo. Điểm đặc biệt là, cũng như các Trung Cấp Phật học, các Học Viện Phật
giáo chỉ nhằm giáo dục và đào tạo Tăng Ni. Từ đó, một nội dung giáo dục
cần được nêu rõ là giáo dục đạo đức, là rèn luyện phẩm chất của người tu
sĩ Phật giáo, là sự xông ướp giới hạnh, là việc tu trì giới bổn
Ba-la-đề-mộc-xoa. Kinh nghiệm cho ta thấy những Tỳ kheo phải trở lại thế
tục phần lớn là người người có học thức, được nhiều người biết đến danh
tiếng, có được sự sống vật chất khá đầy đủ mà như đức Phật đã dạy, đó là
nguyên nhân đưa đến sự phạm pháp hữu lậu khiến Ngài phải vì hàng Tỳ kheo
mà kiết giới. Do đó, mọi cơ sở giáo dục Phật giáo trước hết cần phải là
một cơ sở giáo dục về Đạo đức Phật giáo.
Kính thưa Chư liệt
vị,
Đã 14 năm trôi qua
kể từ khi thành lập Cao Cấp Phật học Việt Nam và chuyển đổi thành Học Viện
Phật giáo Việt Nam tại Saigon, cơ sở giáo dục này đã phát triển không
ngừng và đạt được những thành tựu khả quan. Tôi hết sức tán thán khả năng
cao, nổ lực lớn và kinh nghiệm phong phú của Hòa Thượng Viện Trưởng và của
Hội đồng Điều hành Học Viện. Tôi cũng đã thông cảm những khó khăn, đặc
biệt là khó khăn về cơ sở vật chất, vì chính tự thân tôi cũng đã và đang
gặp phải khi tổ chức các khóa Phật học, trường Cơ bản Phật học và Học Viện
Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Huế. Đến nay thì với tòa kiến trúc mới
này nhất định những khó khăn như trên sẽ vơi đi nhiều và chúng ta có thể
tin tưởng rằng Học Viện Phật giáo Việt Nam tại Saigon xứng đáng là nơi
sinh hoạt của một cơ sở giáo dục hàng cao cấp nhất của Giáo hội, nổi bật
trong ngành giáo dục Tăng Ni và sẽ không ngừng đạt những thành quả tốt
đẹp, góp phần xây dựng, phát triển hữu hiệu cho Đất nước và cho Giáo hội.
Xin cảm ơn toàn thể Quý vị.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Vài nét về:
Học Viện Phật giáo
Việt Nam tại Saigon tọa lạc số 716, Nguyễn Kiệm, P.4 Quận Phú Nhuận,
Saigon. Đây là một cơ sở giáo dục cấp Đại học, Giáo hội Phật giáo Việt
Nam (Học Viện PG Việt Nam tại Hà Nội, Học Viện PG Việt Nam tại TP Huế),
được thành lập từ ngày 25 tháng 02 năm 1982 theo Nghị quyết phiên họp thứ
nhất của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Trung ương và theo Quyết định
0160/QD ngày 17 tháng 03 năm 1983 của Ủy ban nhân dân Saigon. Mục đích của
Học Viện là nhằm đào tạo những Tăng Ni có kiến thức Đại học về giáo lý căn
bản của các bộ phái Phật giáo, lịch sử Phật giáo Việt Nam và văn hóa (Phật
giáo) Việt Nam, để sau khi tốt nghiệp Cử nhân Phật học có thể tiếp tục học
cấp Cao học, Tiến sĩ, trở thành nghiên cứu viên Viện Nghiên cứu Phật học,
hoặc đảm trách các công tác chuyên môn, Phật sự tại Trung ương Giáo hội,
Ban Trị sự tại các Tỉnh, Thành trong toàn quốc.
Hệ thống tổ chức
của Học Viện Phật giáo tại Saigon gồm có Hội đồng Điều hành, Ban Học vụ,
Ban Giảng huấn, Văn phòng Điều hành, Ban Đại diện sinh viên và Ban Bảo
Trợ. Theo quy chế thì Học Viện thu nhận Tăng Ni sinh trên toàn quốc theo
một số tiêu chuẩn sau:
1.- Tăng Ni sinh
thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, được sự giới thiệu của Giáo hội và Ban
Tôn giáo cấp Tỉnh Thành, và chính quyền địa phương xác nhận.
2. Tốt nghiệp
trường Cơ bản Phật học (nay là trường Trung Cấp Phật học) và tốt nghiệp
phổ thông trung học (tú tài), đã thọ giới Tỳ kheo, Tỳ kheo ni.
3.- Trúng tuyển kỳ
thi tuyển sinh vào Học Viện gồm ba môn thi: Phật pháp căn bản; Văn học
Việt Nam, Anh ngữ (chương trình lớp 12 hiện hành).
Học Viện Phật giáo
Việt Nam theo chế độ niên chế, kéo dài trong 4 năm, mỗi năm học có hai học
kỳ, mỗi học kỳ kéo dài bốn tháng rưỡi. Cuối mỗi học kỳ đều có thi kiểm tra
cuối học kỳ. Điểm trung bình của hai học kỳ mỗi năm phải đạt điểm 10/20
mới được cấp chứng chỉ cuối năm và được học tiếp năm kế tiếp. Các sinh
viên Tăng Ni nếu đạt yêu cầu trong 4 năm học sẽ được cấp 4 chứng chỉ và
hoàn thành luận văn tốt nghiệp sẽ được Học Viện cấp văn bằng Cử nhân Phật
học.
Chương trình học
của Học Viện Phật giáo Việt Nam tại Saigon được phân bổ trong 4 năm. Mỗi
năm Tăng Ni sinh học trong 9 tháng, mỗi tháng 4 tuần, mỗi tuần 24 tiết. Số
học trình Tăng Ni học mỗi năm tương ứng 864 tiết, hoàn tất chưong trình 4
năm là 3456 tiết. Cụ thể như sau:
Phần Nội
điển:
- Kinh luật, Luận
Phật giáo - chuyên sâu về các giáo lý căn bản như Duyên khởi, Tứ đế, Nhân
quả, Nghiệp báo, Tái sinh, Ngũ uẩn, Thập Nhị xứ, Thập bát giới.
- Một số kinh tiêu
biểu của Thượng Tọa Bộ, Nhất Thiết Hữu Bộ, và Phật giáo phát triển.
- Lịch sử tư tưởng
các bộ phái (hay Tông phái Cương yếu) - Giới luật của ba bộ phái - Văn học
Phật giáo Việt Nam - Lịch sử Phật giáo Việt Nam - Thực tập thiền định.
Phần Ngoại
điển:
Gồm các môn học
thuộc chương trình Đại học Đại cương như: Lịch sử Việt Nam, Văn học Việt
Nam, Thẩm mỹ học, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Văn minh Việt Nam, Đại cương Cơ
sở Văn hóa Việt Nam, Môi sinh học, Tôn giáo học, Công dân giáo dục, Xã hội
học, Triết Đông, Triết Tây, Triết học Mac Le-nin, Giáo dục học, Quản trị
hành chánh. Ngoài ra, trong chương trình học còn có các môn học cổ ngữ và
sinh ngữ như: Sanskrit, Pàlì, Hán cổ, Hoa văn, Anh văn thuật ngữ và Anh
văn thực hành.
Phần chuyên
môn:
Một số kinh tiêu
biểu của ba bộ phái thuộc hệ Nikàya, A hàm, và Đại Thừa Phật giáo (Pháp
Hoa, Viên Giác, Kim Cương, Hoa Nghiêm, Lăng Già, Bảo Tích)... Lịch sử tư
tưởng các bộ phái (hay các tông phái của đạo Phật), Giới luật căn bản của
ba bộ phái, Văn học Phật giáo Việt Nam, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Thiền
học Việt Nam, Thiền học thực hành, Luận lý học Phật giáo (hay Nhân minh
học Phật giáo), Luận A tỳ đàm, Luận Thanh tịnh đạo, Duy thức luận, Luận
Câu xá, Luận Trung quán, Văn học Phật giáo thế giới, Lịch sử Phật giáo thế
giới.
Ngoại khóa
và luận văn tốt nghiệp:
Ngoài chương trình
học chính thức với các môn học vừa nói trên, Học Viện còn tổ chức chưong
trình ngoại khóa do các Giáo sư, Học giả, Tiến sĩ trong và ngoài nước đến
thuyết giảng về các đề tài Phật học và các đề tài khác có liên quan đến
Phật học như Văn học nghệ thuật và Mỹ thuật, Hội họa, Âm nhạc, Xã hội, Môi
trường, Hiến pháp, Sinh hoạt Đại học v.v... nhằm bổ túc kiến thức cho Tăng
Ni sinh. Bên cạnh đó, Ban Học vụ và Ban Giảng huấn còn tổ chức hướng dẫn
cho Tăng Ni sinh làm Luận văn tốt nghiệp theo yêu cầu ở cấp Cử nhân Phật
học.
Tứ lúc thành lập
đến nay, Học Viện Phật giáo Việt Nam đã và đang đào tạo 4 khóa cấp Cử nhân
Phật học. Khóa I (1983-1987) có 60 sinh viên. Khóa II (1988-1992) có 100
sinh viên. Khóa III (1993- 1997) có 234 sinh viên. Khóa IV (1997-2001) có
287 sinh viên đang theo học và sắp sửa tốt nghiệp.
Sau khi tốt nghiệp
Cử nhân Phật học, nhiều sinh viên tiếp tục chương trình hậu Đại học (Thạc
sĩ vả Tiến sĩ) tại các nước như: Ấn Độ (có 120 sinh viên), Đài Loan, Trung
Quốc, Nhật Bản, Pháp và Tích Lan. Trong vòng hai năm nữa, số Tăng Ni sinh
tốt nghiệp của Học Viện sẽ trình xong Luận án Tiến sĩ tại nước ngoài lên
đến 50 vị. Trong thời gian tới Học Viện sẽ hoàn chỉnh cơ sở mới với kinh
phí xây dựng trên 10 tỷ đồng Việt Nam, tiến tới mở cấp đào tạo Thạc sĩ,
Tiến sĩ Phật học. Tất cả mọi nổ lực của Học Viện là nhằm đào tạo đội ngũ
Tăng Ni sinh thích ứng với nhu cầu phát triển mới của đất nước và Giáo
hội, Học Viện thiết tha kêu gọi các tổ chức và cá nhân Phật tử cùng với
các thành viên Ban bảo trợ, đứng đầu là vị Trưởng Ban Đạo hữu Nguyên Đào
nổ lực đóng góp để Học Viện ngày càng thăng tiến trong công cuộc giáo dục
và đào tạo Tăng Ni trẻ.
Hai hướng vận hành của
tâm lý
Thượng Tọa Thích Chơn Thiện
Phó viện trưởng thường trực
(Thân tặng Tăng Ni sinh khóa IV)
I. Vào đề:
Tâm lý con người
có hai hướng vận hành: một là khổ đau hay dẫn đến khổ đau, hai là hạnh
phúc hay dẫn đến hạnh phúc. Hướng thứ nhất mở ra một thế giới tâm lý của
sinh tử; hướng thứ hai mở ra thế giới tâm lý của giải. Bởi sống là đi tìm
hạnh phúc chân thật, nên con người chỉ có một chọn lựa là đi vào hướng vận
hành thứ hai. Đi vào hướng vận hành này là đi vào trí tuệ, hay đi từng
bước đi trí tuệ. Thực hiện con đường thứ hai này có nghĩa là “xây dựng
vương quốc trí tuệ” của Phật giáo mà thuật ngữ gọi là
Dhammacakkapavattana, thường được dịch là “Chuyển vận bánh xe Pháp”.
Trong bài viết
này, tác giả sẽ giới thiệu ngắn, gọn về hai hướng vận hành của tâm lý nói
trên.
II. Hai hướng
vận hành của tâm lý:
Có nhiều kinh Nam
tạng và Bắc tạng nói đến các hướng tâm lý vận hành. Ở đây, tác giả nêu dẫn
một số kinh tiêu biểu.
1. Kinh Chánh Tri
Kiến (Kinh 9, Trung bộ I, Pàli tạng).
Theo kinh Chánh
Tri Kiến, do vì con người thường tác ý về các ngã tướng của mọi sự vật,
xem các ngã tướng là có thật nên tham tâm, sân tâm và si tâm hiện khởi đẫn
đến hệ quả: tâm lý dao động, tác động lên các hành động của thân, lời và ý
mà biểu hiện ra mười bất thiện nghiệp nuôi dưỡng Vô minh và Khổ đau. Cứ
thế, tâm lý vận hành ra một thế giới của Tam Giới (Tibhava) sinh diệt, của
các ngã tướng sinh diệt. Nếu, ngược lại, thường tác ý vô thường tướng, hay
như lý tác ý - Yonisomanasikàro - thì tâm lý vô tham, vô sân (hay từ), vô
si hiện khởi và điều động các hành động của thân, lời và ý biểu hiện ra
mười thiện nghiệp, nuôi dưỡng trí tuệ. Cứ thế, trí tuệ ấy vận hành thành
thế giới của tâm lý vắng mặt ngã tướng, ngã tưởng, gọi là Vô sinh. Con
đường chỉ có thể và gọi là con đường của “trí quán”.
2. Kinh Kim Cang
Bát Nhã:
Nếu để tâm đi vào
các ngã tướng thì tham, sân, si dấy khởi và sẽ làm tâm lý dao động, không
an trụ. Các ngã tướng ấy có thể được giới thiệu qua tám phạm trù:
a) Ngã tưởng:
Tưởng ‘Cái này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi’.
b) Nhân tưởng:
Tưởng rằng có một ngã thể thường hằng luân hồi, tái sinh từ đời này qua
đời khác.
c) Chúng sinh
tưởng: Tưởng rằng co một ngã thể biệt lập
của các hiện hữu, đồng nhất với chính nó qua các thời điểm khác nhau.
d) Thọ giả
tưởng: Tưởng rằng bên trong con người có một
ngã thể thường hằng tồn tại từ khi sinh đến khi chết.
e) Pháp tưởng:
Tưởng rằng có các pháp thực sự hiện hữu.
f) Phi Pháp
tưởng: Tưởng rằng có một hiện hữu chân thật
ở ngoài các pháp.
g) Tưởng:
Tin rằng cái tưởng tạo ra tính chất của các hiện hữu là có thực trong thực
tế.
h) Phi tưởng:
Tin rằng thế giới chân thật thì ở ngoài tưởng.
Nếu tâm lý không
rơi vào tám phạm trù ngã tưởng ấy thì sẽ đi ra khỏi các nhân tố gây ra tâm
lý dao động, và sẽ được an trụ. Đấy là những gì mà một Bồ tát hành lục độ
Ba la mật phải làm, qua kinh Kim Cương. Đấy là công phu “như lý tác ý”,
hay tác ý Vô tướng gọi là “thiền quán”.
3. Pháp Thất Giác
Chi (Tương Ưng V):
Con đường thực
hiện trí tuệ của Thất Giác Chi tựu trung là:
a) Liên tục tác ý
Vô tướng, hay “như lý tác ý” thì sẽ đi đến kết quả: Ngũ triền cái được
đoạn trừ.
b) Ngũ triền cái
là thức ăn của Vô minh nên khi Ngũ triền cái bị đoạn thì Vô minh đi đến bị
đoạn trừ, minh khởi.
c) Nếu tiếp tục
thực hành như thế thì Niệm giác chi sẽ hiện khởi và lần lượt dẫn đến Trạch
pháp, Hỷ, Khinh an, Định và Xả Giác Chi hiện khởi. Xả giác chi hiện khởi
sẽ dẫn đến kết quả Minh và Giải hiện khởi, Vô minh diệt và khổ đau diệt.
III. Kết luận:
Con đường thực
hiện trí tuệ của Phật là thế, giản dị là thế. Nhưng, bởi con người có các
nhận thức, từ tâm, ý chí và dục vọng khác nhau nên lòng trăn trở khác nhau
về ngõ đường thực hiện mà có ra các hệ phái, pháp môn tu khác nhau.
Nếu tất cả đều
thấy rõ công phu chính của giải là “như lý tác ý” để hàng phục tâm lý dao
động của chính mình, thì sẽ đi ta khỏi cái thắc mắc về bộ phái, về Đại,
Tiểu pháp, về sự hư, thật của hiện tượng giới. Bấy giờ vai trò của triết
lý sẽ chấm dứt cùng lúc với các quan điểm dị biệt, mùa xuân của tâm thức
sẽ ở lại mãi với cuộc đời như là sự kiện “Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”.
Tỳ kheo Thích Chơn Thiện
Chùa Núi
Chùa xưa ẩn khuất
lưng đèo,
Phồn hoa dứt nẻo,
đèo heo gió ngàn.
Cửa Thiền sạch bụi
trần gian,
Trong hư vô nhớ ba
ngàn cõi xa.
Chùa Vô Ưu
Phiền
ưu vốn nghĩa đời
Lòng
tục dẫu rối bời
Vào
cổng chùa thấy Bụt
Phiền
ưu dường nửa vơi
Vô ưu bởi vô cầu
Thơ hứng ngâm vài
câu
Kìa trời xanh mây
nổi
Và bọt nước sóng
xao
Chùa Lục Dung
Sáu cây đa nào
thấy cây đa
Cái lẽ vô thường
đã rõ ra
Điện tháp oai
nghiêm hương khói tỏa
Tìm đâu bút tích
của Đông Pha
Chùa chỉ còn tên
suông Lục Dung
Bồ đề không cây,
đa cũng không
Đông Pha, Lục Tổ
mờ thiên cổ
Kim cổ mang mang
nói chẳng cùng.
Ghi chú:
Chùa Lục Dung là một ngôi chùa nổi tiếng của Trung
Quốc, tọa lạc tại trung tâm thành phố Quảng Châu
Giáo Dục Nhân Cách trong Phật
giáo
Thượng Tọa Thích
Giác Toàn
I. Khái niệm về
nhân cách:
Một cách tổng
quát, nhân cách là tính cách đặc biệt của một con người trong suy nghĩ,
cảm nhận và thái độ hành xử của người ấy. Nhân cách bao gồm thể cách thái
độ, ý kiến, và được thể hiện trong quan hệ với những người khác. So với
hành vi, thói quen thì nhân cách có tính cố hữu hơn và có tính chất lọc từ
những gì thu đạt được trong quan hệ của một người với môi trường và xã
hội.
Dĩ nhiên, như vẫn
thường thấy trong triết học, có nhiều định nghĩa về nhân cách. Trong tâm
lý học, nhân cách được hiểu theo hai khía cạnh.
1. Do quan sát,
nhân cách được giải thích và xếp loại một cách tương đối về những đặc tính
tâm lý của con người.
2. Xét những tính
chất khiến mọi người giống nhau hay mọi người khác nhau với những người
khác về mặt tâm lý. Từ đó, xét về nhân cách là xét con người thể hiện mình
như thế nào và xét đâu là nguyên nhân của sự thể hiện ấy.
Khái niệm về nhân
cách đã có từ thời Hy Lạp cổ đại và phát triển cho đến thế kỷ XVI ở Châu
Âu, theo đó nhân cách là sự hài hòa của bốn chất lỏng (từ La tinh gọi là
humor) là máu, đờm, giận, buồn (giận buồn là biểu hiện của màu mặt) chỉ sự
quân bình của tinh thần. Về sau, do yêu cầu chữa trị bệnh kể cả bệnh cơ
thể và tâm lý, nhiều lý thuyết về tinh thần và cụ thể là lý thuyết về nhân
cách (personality) được đề ra. Đặc biệt yêu cầu về giáo dục nhân cách càng
lúc càng trở nên cần thiết khi giáo dục phát triển và những vấn đề con
người trong xã hội mới được đặt ra trong những thập niên đầu của thế kỷ
XX.
Theo
Sigmund Freud (1856-1930), nhân cách gồm dục tính, ngã, và siêu ngã
(ld,ego, superego), trong đó dục tính là quan trọng nhất, dục
tính tiếp xúc với thế giới đã tạo nên ngã, và từ ngã, có một siêu ngã
để đánh giá nó. Dục tính hay bản năng là nguyên nhân và động
lực tạo ra nhân cách. Carl Jung (1875-1962) tiếp tục triển khai cái
mà Freud gọi là tiềm thức và chủ trương nhân tính vốn hình thành từ những
hồi ức gốc (radical memories) mà ông gọi là tiềm thức tích tập (collective
unconscious). Do xếp các hồi ức này, Jung phân biệt nhân cách hướng nội và
nhân cách hướng ngoại của một con người.
Alfred
Adler (1879-1973) nhấn mạnh ảnh hưởng xã hội vào nhân cách và xem đây là
phần chủ yếu của nhân cách; phản khác là cái xu hướng muốn tiến đến quyền
lực để cân bằng mặc cảm tự ti.
Erich
Formn (1900-....?) xem nhân tính là bản năng (như thú vật) và sự tự ti, lý
trí và óc tưởng tượng (như con người), đồng thời nhấn mạnh phần ảnh hưởng
của xã hội. Carl Rogéry (1902-1987) chỉ chấp nhận cách cư xử như là biểu
hiện của nhân tính của một người trong hiện tại đối với hoàn cảnh chung
quanh. Trong chiều hướng đó, Rogers nói đến cái quan niệm về ngã hay cái
cơ cấu ngã (self-concept hay self-structure).
Nhân
cách còn được bàn đến qua các cơ cấu khác nữa kể từ năm 1930 đến nay: Ross
Stognné, Goren W. Aliport, Henri A. Marray, Gardner Murphy ... trong khi
Erik Erikson có tham vọng tạp hợp các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội
thành một học thuyết trọn vẹn về sự phát triển và thay dổi của nhân cách
bao gồm suốt đời người.
Thực tế
hơn, những cuộc trắc nghiệm tâm lý để tìm hiểu nhân cách bằng sự thống kê
(inventories tests) hay sự bày tỏ (phóng chiếu) của người được trắc nghiệm
(projective tests) của các trường đại học Mỹ như Minnesota, California
(Minnesota multiphasic personality inventory, thematic Apperception test
...) thu được một số thành quả nhất định trong việc khám phá, giáo dục
nhân cách. Nhìn chung, giáo dục nhân cách càng lúc càng được coi trọng và
có lịch sử lâu dài kể từ thế kỷ trước, nó tiếp tục được dò dẫm, phát triển
mãi cho đến ngày nay.
Mục
đích của giáo dục phương Tây là để tìm hiểu con người, tâm hồn con người,
tâm lý hay bản chất con người, để xây dựng một nhân cách tốt, cải thiện
nhân cách chưa tốt. Mục đích này là của giáo dục học, xã hội học, tâm lý
học và tâm lý trị liệu, thậm chí cả sinh lý trị liệu.
Tuy
nhiên, hiện nay một định hướng cho con người vẫn chưa cụ thể rõ ràng và
những căn bệnh tâm lý, xã hội vẫn có dấu hiệu càng lúc càng trầm trọng.
Nếp sống buông thả, phóng đãng, vô định vẫn càng lúc càng nhiều, hiện
tượng cuồng tín, sát nhân, tự tử càng lúc càng gia tăng, đó là chưa kể
những sa đọa tinh thần, đạo đức trầm trọng khác ... Như thế nghĩa là giáo
dục nhân cách của phương Tây và của nhiều nước phương Đông đang bị ảnh
hưởng bởi văn minh phương Tây chưa được định hướng đúng đắn, chưa đáp ứng
yêu cầu của xã hội, của thời đại.
Chúng
ta không phủ nhận những nổ lực đáng kể của phương Tây trong việc nghiên
cứu nhân cách. Đó là việc càng lúc càng đào sâu vào bản năng trong tâm lý
của con người. Ta thấy bàn đến bản năng, dục tính, đến các thái độ tâm lý,
đến cách cư xử, đến ngã, đến siêu ngã, đến sự bẩm sinh, đến ảnh hưởng của
môi trường, của xã hội với nhân cách của một người và của một nhóm người,
của toàn thể loài người.
Nếu xét
nhân cách trong Phật Giáo ta sẽ thấy nhân cách được bàn không chỉ khởi từ
bản năng, dục tính mà còn được đào sâu hơn, mở rộng hơn khi xét đến con
người ngũ uẩn.
II.
Nhân cách trong giáo dục Phật Giáo:
Như đã
nói, con người theo quan điểm của Phật Giáo là con người ngũ uẩn, tập hợp
của 5 thành tố: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Khi con người có ý thức về
mình thì con người đã là một chúng sinh của cõi hữu vi, của thế giới hiện
tượng, vô thường, khổ đau, tức là con người được hình thành bằng ngũ uẩn.
Vậy, bàn đến nhân cách là bàn đến những nét chung và riêng của những hành
vi, của tâm lý, cách cư xử, tính tình của một cá nhân, nghĩa là bàn đến
nhân cách hay tính chất của cái tập hợp ngũ uẩn.
1.
Con người ngũ uẩn:
Ngũ uẩn
gồm sắc (vật chất, hình tướng), thọ (cảm nhận, cảm giác khi tiếp xúc với
các sự vật, đối tượng), tưởng (suy nghĩ, so sánh đối chiếu), hành (vận
động, hành động của thân, miệng, ý), thức (cái biết do các quan năng mang
lại). Con người theo Phật Giáo là tập hợp của 5 thành tố trên, ngoài ra
không có gì khác. Tập hợp là một từ bao hàm trong nó ý nghĩa hữu vi, bị
điều kiện hay bị chi phối bởi nhân duyên. Mỗi một thành tố tự nó cũng là
do nhân duyên, tức là không có cái sắc nào tự đứng một mình, không có cái
thọ nào, tướng nào, hành nào, thức nào tự thành lập mà không có sự hiện
diện, hỗ trợ của các thành tố khác. Tóm lại, tất cả các thành tố và tập
hợp các thành tố đều do nhân duyên, như vậy lý duyên khởi là yếu tính của
sự thành lập ngũ uẩn. Và đã như vậy thì tập hợp ngũ uẩn hay con người, xét
cho cùng không thể hàm chứa một ngã tính nào cả. Không có ngã tính, không
có ngã, và do đó cái gọi là nhân cách con người chỉ là nói tạm thời, qui
ước mà thôi.
2.
Nhân cách:
Bản
chất của con người là vô ngã, nhưng vì con người là con người của cõi hữu
vi, mọi người đều có tâm lý, thái độ, hành xử, tư duy ... giống và khác
với những người khác nên chúng ta phân biệt nhân cách người nói chung và
nhân cách của một người nói riêng.
Theo
quan điểm của đạo Phật, con người là duyên khởi, cụ thể là tập hợp của ngũ
uẩn. Con người tự nhận mình có ngã là do thói quen từ vô thỉ, thói quen
chấp trước, phân biệt, cho rằng cái tập hợp ngũ uẩn là ngã. Cái thức (A
lại da) mang các chủng tử được huân tập từ bao đời bao kiếp được nhận là
một ngã-linh-hồn. Cái hoàn cảnh chung của cái sức sống tương tục, hay nói
khác đi, là nghiệp hay nghiệp lực của thế giới này (hay cộng nghiệp) khiến
người ta có những thái độ, hành xử, tư duy giống nhau, như đau buồn trước
sự mất mát, giận dỗi khi bị xúc phạm, vui mừng khi được xứng ý. Như vậy,
nghiệp đã tạo ra nhân cách, hay nói khác đi, nhân cách của một người chính
là nghiệp của người ấy.
Phật
Giáo chấp nhận khá nhiều học thuyết về tâm lý, về nhân cách của các triết
gia, các nhà khoa học hiện đại, nhưng điều đặc biệt là Phật Giáo còn đi
sâu hơn những học thuyết ấy trong việc xem các bản năng, dục tính, ngã,
siêu ngã, tiềm thức có gốc gác trong những đời trước. Trong khi bàn về
nguyên nhân của nhân cách trong Phật Giáo, người ta phải đụng chạm đến 12
chi phần duyên khởi, 5 thành tố trong tập hợp ngũ uẩn, 3 tính chất căn bản
của con người là: tham, sân, si.
Tham,
sân, si là biểu hiện của tự ngã sai lầm, của cái ngã khổ đau nhưng lý
duyên khởi cho ta biết rằng ngã vốn không, cho nên cái tính không vẫn là
bản chất của nó. Mặt khác, vô tham, vô sân, vô si là biểu hiện của cái vô
ngã. Đây là hai mặt của một nhân cách. Do hai mặt này, nhân cách không
thiện và nhân cách thiện đều có mặt trong cùng một cá nhân. Thiên và
không thiện là hai đặc tính của nhân cách: có gây trở ngại cho cá nhân và
cho người khác hay không. Như vậy, thiện hay ác là tính chất của thái độ,
cảm xúc, hành động, tâm lý và tư duy của con người nói chung.
Phật
Giáo với lý thuyết về A lai da còn quan niệm về nhân cách thứ ba là vô ký
(không thiện không ác). Điều này rất quan trọng đối với giáo dục nhân
cách, chúng ta sẽ bàn tiếp sau này.
Nhưng
đối với một cá nhân là đối tượng của giáo dục thì nhân cách riêng của cá
nhân ấy mới là quan trọng. “Bá dân bá tánh” (trăm người là trăm tánh), hẳn
là rất đúng trong ý nghĩa rằng mỗi người có một nhân cách riêng, không có
hai nhân cách hoàn toàn giống nhau.
Tại sao
như vậy?
Ta hãy
trở lại tập hợp ngũ uẩn. Do tập khí từ các đời quá khứ và đặc biệt do hoàn
cảnh nhân duyên hiện tại, trong đó yếu tố quan trọng nhất là giáo dục mà
chức năng vận hành của từng thành tố và “cấu trúc” của 5 thành tố của mỗi
người không giống nhau. Việc không giống nhau của 5 uẩn này khiến cho mỗi
người có một nhân cách riêng.
3.
Giáo dục nhân cách:
Nhân
cách, nói cho đến chỗ tuyệt đối là vô ngã. Giáo dục nhân cách là làm sao
chuyển cái giả ngã thành ra vô ngã.
Cái giả
ngã, cái ta hay nhân cách mà một người tự ý thức về mình là cái không
thật, cái gây đau khổ. Cái gọi là “ta” chỉ là do duyên khởi, do tập hợp 5
uẩn mà tạo thành.
Theo
Duy thức học, cái chấp ngã là chức năng của Mạt na, Mạt na nhìn vào A lại
da mà cho rằng A lại da là ngã, là ta. Vậy, “ngã” được hình thành do nội
dung mà A lại da chứa đựng và sự chấp ngã của Mạt na. Để tiến tới vô ngã,
một người phải phá bỏ chấp trước và mặt khác không làm phong phú cái nội
dung ngã của A lại da bằng cách điều phục thân, khẩu, ý trong hành động,
đồng thời tạo thêm và phát triển các chủng tử thiện, hạn chế sự hiện hành
của các chủng tử ác. Để đạt mục tiêu ấy thiền định là phương pháp tốt
nhất. Thiền định giúp ta buông bỏ phân biệt chấp trước, phát triển trí tuệ
để nhìn rõ nguyên nhân của khổ đau.
Giáo
dục giúp con người phát triển trí tuệ để thấy rõ ngũ uẩn là không (có tự
thể) là vô ngã. Phật Giáo đề cao 6 Ba la mật là bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Bốn đức của Ba la mật là khổ,
không, vô thường và vô ngã. Chính việc thực hành lục Ba la mật là một
phương pháp rèn luyện nhân cách tuyệt vời, là phương cách trị liệu hữu
hiệu nhất đối với những bệnh nhân cách (personality disease) mà các nhà
phân tích nhân cách hiện đại đã phân tích và tìm cách chữa trị.
Ngoài
ra, nhờ việc phân tích ngũ uẩn và áp dụng giáo lý duyên khởi nền giáo dục
nhân cách của Phật Giáo có thể xếp loại nhân cách và phương pháp giáo dục,
trị liệu cho từng nhân cách: Người có dục tham nặng thì cần tu tập quán vô
thường, vô ngã, và thực hành bố thí. Người nặng sân hận thì cần thực hành
từ vô lượng tâm.
III.
Kết luận:
Như
vậy, cái nhân cách tốt đẹp nhất là cái nhân cách vô ngã. Nhân cách càng
gần với tinh thần vô ngã thì càng tạo hạnh phúc cho cá nhân mang nhân cách
ấy và góp phần tạo hạnh phúc cho những người chung quanh.
Mọi khổ
đau đều là những thể hiện của tham, sân và si. Ngã chấp là động cơ vận
hành của tam độc này: càng sống theo tinh thần vô ngã thì càng được giải,
tức là càng giảm thiểu khổ đau. Sự thật này là kinh nghiệm sống hằng ngày
mà người ta lại không để ý đến. Giáo dục phải nhắc nhở cho người ta, phải
khuyến khích người ta thực hiện tinh thần vô ngã. Như thế, nói một cách
khác, giáo dục, nhất là giáo dục nhân cách, là phải xem sự hướng đến một
đời sống vô ngã là mục đích tối hậu.
Những
trường hợp bất thường về nhân cách mà các nhà chuyên môn gọi là bệnh nhân
cách chính là bệnh chấp ngã, chấp ngã trong các lĩnh vực khác nhau về ý
nghĩ, về tâm lý, về ứng xử, hành động. Giáo dục Phật Giáo có thể điều
chỉnh, chữa trị những trường hợp bất thường ấy. Con đường giáo dục theo
tinh thần vô ngã chính là con đường của giáo dục Phật Giáo vậy.
Về tác giả bài thơ:
XUÂN NHẬT TỨC SỰ
(^)
Giáo sư Lê Mạnh Thát
Xuân nhật tức sự
là một bài thơ hay, được các thi tuyển xưa chép vào phần thơ của Huyền
Quang (1), do đó được nhiều người dẫn và bình luận (2). Có điều trong thơ
văn chữ Hán của nước ta, đặc biệt trong thơ văn chữ Hán của các nhà sư
Việt Nam có lẫn rất nhiều bài thơ của Trung Quốc. Chẳng hạn, trong số 40
bài thơ do Lê Quý Đôn chép lại trong Kiến Vân Tiểu Lục và nói là
của Thiền sư Hương Hải, thì có đến 32 bài là của tác giả Trung Quốc đời
Tống (3) mà ta có thể tìm lại trong các sách Trung Quốc hiện còn. Trường
hợp Chân Nguyên cũng thế (4). Thậm chí những tác giả sống gần thời với ta
như Viên Thành (1879-1928) cũng có những bài thơ chữ Hán của Trung Quốc
chép trong thi tập của mình, mà những người sau do thiếu cẩn thận đã cho
là của chính Viên Thành (5). Vậy Xuân nhật tức sự có ở trong trường
hợp nhầm lẫn, gán ghép đó không?
Những ai có dịp
đọc các bộ chính sử của Thiền Tông Trung Quốc, thì biết ngay Xuân nhật
tức sự là một bài thơ của Thiền sư Ảo Đường Trung Nhân (?-1203). Người
đầu tiên ghi lại tiểu sử và bài thơ nói trên của Trung Nhân không phải ai
khác mà là học trò của ông, tức Thiền sư Lôi Am Chính Thọ (1145-1208), tác
giả bộ Gia Thái phổ đăng lục, là bộ lịch sử Thiền Tông viết trong
khoảng Gia Thái đời Tống Ninh Tông (1201-1204). Chính trong Gia Thái phổ
đăng lục 15, tờ 117c 14-d12 mà cuộc đời và tác phẩm của Trung Nhân được
ghi lại như sau:
“Thiền sư Ảo Đường
Trung Nhân chùa Linh Phong ở Nhạn Sơn, Ôn Châu là người Lạc Dương. Thuở
nhỏ xuất gia ở viện Phụng Tiên tại Đông Kinh. Trong khoảng đầu năm Tuyên
Hòa (1119-1125), được cấp điệp ở viện Khánh Cơ, bèn xuống tóc thọ giới Cụ
túc, sau đó lui tới Sở dịch kinh Tam tạng, nghiên cứu khắp hết kinh luận,
nhưng đặc biệt đối với Thiền Tông thì chưa tin. Đến khi Viên Ngộ (Khắc
Cần, 1063-1135) được chiếu vua mời tới ở chùa Thiên Ninh, sáng sớm bèn yết
kiến. Ngộ khi ấy mới vì chúng nhập thất. Sư vừa thấy liền kính phục, hớn
hở bước tới mặt. Ngộ nói: “Dựa kinh giải nghĩa ba đời oan Phật, rời kinh
một chữ tức giống thuyết ma, nói mau!”. Sư đang cách trả lời thì Ngộ vung
tay đánh vào miệng, nhân thế làm gãy một răng. Sư tức thì đại ngộ. Do thế,
sư ở lại Thiên Ninh. Từ đó, thầy trò tương hợp, hỏi đáp không ngừng. Từ
khi (nhà Tống) vượt về phương Nam, trong năm đầu Long Hưng (1163-1164) bèn
lúc đầu mở trường giảng ở Đại giác, rồi dời chùa về Trung Thiên Trúc, rồi
lại dời tới chùa Linh Phong. Sư thượng đường nói:
“Chín chục tia Xuân quá nửa đêm,
Vun
hoa thiên khí chính dung hòa.
Hải
đường cành ấy oanh ríu rít,
Đạo
với dòng đời thấy được ha?”
Nhưng tuy thế, khi
đã rõ thanh rõ sắc thì một câu hỏi, làm sao nói ra?
“Đàm
vàng ngựa hí đất thơm cỏ
Lầu
ngọc người say trời hạnh hoa”
Sư thượng đường
nêu chuyện con chó không có tính Phật, nói:
Đôi
tám giai nhân thêu chậm dân
Tử
kinh hoa rộ hót hoàng anh
Đáng yêu vô hạn thương xuân ý
Dồn
ở dừng kim chẳng nói năng.
Nguyên văn chữ
Hán:
Nhị
bát giai nhân thích tú trì,
Tứ
kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.
Khả
lân vô hạn thương Xuân ý,
Tận
tại đình châm bất ngữ thi.
Ngày 8 tháng 4 năm
Thuần Hy, Giáp Ngọ (1174), vua Hiển Tông xuống chiếu mời vào, ban cho chỗ
ngồi để thuyết pháp. Vua nêu chuyện không cùng với muôn pháp làm bè bạn,
để xin sư niêm đề. Sư niêm xong làm bài tụng:
Quả
cân lấy khởi làm đầu,
Thôi đừng nói dài lâu.
Lưng đeo tiền mười vạn,
Cỡi
hạc lên Dương Châu.
Trong năm Quí Hợi
(1203), sư thượng đường từ biệt mọi người mà mất.
Tiểu sử trên, sau
này Ngũ đăng hội nguyên 19, tờ 383a9-b6 do Đại Xuyên Phổ Tế viết
trong khoảng 1228-1233 và Tục truyền đăng lục 28, tờ 657b4-22 do
Viên Cực Cư Đình (?-1404) hoàn thành từ khoảng 1396 trở đi, đã sao y
nguyên văn, còn Thiền tông chính mạch 19, tờ 31a 13-14 của Như Cẩn
viết xong năm 1489 thì lược bớt nhưng còn giữ lại bài thơ “Nhị bát giai
nhân ...”, trong khi Nam Tống Nguyên Minh Thiền lâm Tăng bảo truyện
4, tờ 331a3-c2 của hai thầy trò Tự Dung và Tĩnh Lôi viết xong vào năm 1664
thì không còn thấy chép bài thơ ấy nữa.
Thế là rõ ràng Bài
thơ với nhan đề đặt thêm Xuân nhất tức sự không phải của Huyền
Quang, một nhà sư Việt Nam sống giữa những năm 1254-1334, mà là của Ảo
Đường Trung Nhân (-1203), một Thiền sư đời Tống. Nó đã được chép vào những
sách vở, chủ yếu là Gia Thái phổ đăng lục và Ngũ đăng hội nguyên,
ra đời trước khi Huyền Quang có mặt trên cõi thế.
Cũng cần nói thêm,
Phổ Hội có chép một bài thơ xuất nhập với bài thơ của Trung Nhân trong
Thiền tông tụng cố liên châu thông tập và ghi là của Nam Tẩu Sực. Bài
thơ đó như sau:
Nhật noãn giai nhân thích tú trì,
Tử
kinh chi thượng chuyển hoàng ly.
Dục
tri vô hạn thương Xuân ý,
Tận
tại đình châm bất ngữ thi.
Thiền tông tụng
cố liên châu thông tập là một tác phẩm do
Phổ Hội chỉnh lý và bổ sung. Thiền tông tụng cố liên châu tập của
Pháp Ứng hoàn thành giữa những năm 1295-1418 và được khắc bản vào năm
1318. Bài thơ nói trên của Nam Tẩu Sực cho thấy, ngay ở Trung Quốc thời
Huyền Quang đã có một dị bản của bài thơ Trung Nhân, chứng tỏ nó lưu hành
khá rộng rãi.
Chúng tôi có ý
giám định về mặt văn bản học toàn bộ thơ văn Huyền Quang hiện biết đã rồi
mới công bố kết quả cho đầy đủ. Song vì bạn Nguyễn Phương Chi đã có nhã ý
nhắc đến chúng tôi khi đề cập tới bài thơ Trung Nhân nói trên (6) nên
chúng tôi công bố trước tư liệu này, trong khi tiến hành một công trình
nghiên cứu nghiêm túc hơn về toàn bộ thơ văn được biết dưới tên Huyền
Quang về mặt văn bản học.
Chú thích:
1. Chẳng hạn
Việt âm thi tập, soạn xong 1459, bản in hiện còn 1729.
2. Đặng Thai
Mai: Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học trong Thơ văn Lý-Trần I. NXB
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 44. Đinh Gia Khánh và nnk. Văn học Việt
Nam thế kỷ XVII, nửa đầu thế kỷ XVIII, NXB Đại học và trung học chuyên
nghiệp, Hà Nội, 1978, tr. 67, Tổng tập văn học Việt Nam I, NXB Khoa học xã
hội, 1980, tr. 104.
3. Xem Lê Mạnh
Thát: Thơ văn Thiên sư Minh Châu Hương Hải, Viện Phật học Vạn Hạnh, TP.
HCM, 1980 (bản đánh máy). Đấy là chưa kể những câu ngữ lục và một số bài
thơ dôi ra trong Hương Hải Thiền sư ngữ lục, bản in năm Cảnh Hưng thứ 8
(1747).
4. Xem Lê Mạnh
Thát: Chân Nguyên Thiền sư toàn tập III, Viện Phật học Vạn Hạnh, TP. HCM,
1979 (bản đánh máy). Thí dụ bài:
Hữu thuyết giai thành báng,
Vô
ngôn diệc bất dung
Vị
quân thông nhất tuyến,
Nhật xuất lĩnh đầu hồng
Trong Ngô đạo
nhân duyên và Kiến tinh thành Phật của Chân Nguyên, thực sự là một bài thơ
của dã Phụ đạo xuyên đời Tống.
5. Chẳn hạn bà
Sơn cư ngẫu tác trong Lược ước tùng sao, tờ 54b.
6. Nguyễn
Phương Chi: Huyền Quang nhà sư thi sĩ Tạp chí văn học số 3 năm 1982, tr.
79.
Hoa Đàm đua nở
(^)
Hòa thượng Thích Trí Quảng
Tôi đã tham gia
vào công tác giảng dạy tại Học Viện Phật Việt Nam từ khóa I cho đến nay là
khóa IV sắp sửa tốt nghiệp. Nhớ lại thời gian tôi bắt đầu dạy thì lúc ấy
trường mới được thành lập với tên là Trường Cao Cấp Phật học, nay được đổi
tên là Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Saigon.
Đặc biệt lớp học
của khóa IV (1997-2001), cả Tăng Ni đều học Kinh Đại Bảo Tích với tôi, vì
bận nhiều Phật sự, nên thời gian tôi giảng dạy cho Tăng Ni khóa học này
rất ít, không được bao nhiêu. Tuy nhiên, tôi nhận thấy Tăng Ni đều tiếp
thu tốt ý nghĩa tinh ba của bộ Kinh mà tôi đã hết lòng truyền trao, và kết
quả là anh em đã làm bài thi cuối năm đều đạt yêu cầu.
Theo tôi, mặc dù
chúng ta chưa hài lòng lắm, nhưng Tăng Ni sinh của các khóa học trước,
cũng học hành có kết quả tốt và sau đó một số anh em cũng đã thành tựu
được những Phật sự đáng kể. Có nhiều người bảo vệ thành công Luận án Tiến
sĩ ở nước ngoài như Nhật Bản, Ấn Độ v.v...
Riêng khóa IV, có
nhiều triển vọng hơn. Thật vậy, tôi vui mừng khi thấy Tăng Ni sinh khóa
này học hành đạt được trình độ khả quan hơn và đồng đều hơn. Điều đó khiến
chúng ta tin tưởng rằng chắc chắn trong tương lai Phật Giáo Việt Nam sẽ có
được nhiều tu sĩ tài giỏi làm rường cột cho sự tồn tại và phát triển đạo
pháp của nước nhà.
Cầu nguyện chư
Phật gia hộ cho các Tăng Ni sinh thành tựu viên mãn trên bước đường tự
giác, giác tha, xứng đáng với vai trò thừa kế các bậc tôn đức, làm rạng
danh Phật Giáo Việt Nam.
Cầu nguyện cho Học
Viện Phật Giáo Việt Nam luôn luôn đào tạo được những tu sĩ tài đức gánh
vác được Phật sự thành công, đưa Phật Giáo nước nhà tiến lên đỉnh cao
trong thiên niên kỷ mới.
Thân thương dòng lưu niệm
CS. Tống Hồ Cầm
Phó Viện trưởng Học Viện
Phật Giáo Việt Nam tại Saigon.
Thế là bốn năm học
khóa IV Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Saigon của quý vị Tăng Ni sinh
viên đã đến kỳ hoàn mãn.
Hội đồng Điều hành
Học Viện, trên hết là Hòa thượng Thích Minh Châu kính mến, cộng sự cùng
với quý chức vị thành viên của Hội đồng, quý thân giáo sư, quý nhân sự văn
phòng, quý Ban Bảo Trợ của Học Viện, đều đã hoàn thành trách nhiệm theo
thiên chức của mỗi người gắn bó vì sự nghiệp giáo dục và đào tạo Tăng Ni
tài đức xuất phát từ định hướng hệ thống tổ chức của Phật Giáo Việt Nam
chúng ta.
Tới đây, ngày 15
tháng 6 năm 2001 cử hành lễ tốt nghiệp chính thức cho quý sinh viên Tăng
Ni chúng ta và được công nhận đây là nấc thang học vị đại học đầu tiên,
vào ngày mãn khóa.
Với bằng cấp Cử
nhân Phật học, quý học Tăng, học Ni các khóa trước đây có điều kiện cầu
học thêm, được giúp đỡ hội đủ nhiều mặt để du học, đã lần lượt tốt nghiệp
với các học vị Thạc sĩ, Tiến sĩ Phật học. Điều này chứng tỏ sự tự quyết
tâm toàn tâm toàn ý thật đáng biểu dương, ca ngợi.
Thực ra với bất cứ
học vị nào, nếu có thời gian vả điều kiện học tiếp, học tới nữa, tất nhiên
chóng chày cũng đều sẽ thành đạt, nhưng sau đó phải có cống hiến phục vụ
hiệu quả thì chức vị mới trở thành hiện thực, đồng thời danh vị và hiện
thân thực học thực tu cao quý đó, cũng tất nhiên là điều thiết tha kỳ vọng
kế thừa, tiếp nối vào tổ chức Phật Giáo chúng ta.
Những năm tháng
trôi qua, với đạo tình và có duyên lành thân gần trao đổi bổ ích cho nhau
với quý Tăng Ni sinh của khóa IV này cũng như các khóa trước, chúng tôi
chí thành tin tưởng quý vị lấy trí tuệ làm sự nghiệp, nối chí Thầy Tổ,
sáng giá là sứ giả Như Lai, sẽ dày công phát huy thêm những trang sử huy
hoàng cho Đạo pháp, cho dân tộc và vinh quang đất nước chúng ta.
Chức Năng của PHẬT
GIÁO VIỆT NAM NGÀY NAY
Gs. Trần Tuấn Mẫn
Suốt 20 thế kỷ từ
khi du nhập vào Việt Nam, Phật Giáo đã bắt rễ thâm sâu vào mảnh đất này,
đóng một vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước trải qua những thăng trầm trong lịch sử của dân tộc.
Sau 1,000 năm bị
người Trung Quốc đô hộ, một thời kỳ độc lập bắt đầu với cuộc chiến thắng
vẻ vang quân xâm lược Nam Hán vào năm 939. Đây là một thời kỳ vàng son của
Phật Giáo Việt Nam. Trong hơn 400 năm dưới các triều đại Đinh (968-980),
Lê (980-1009), Lý (1010-1225) và Trần (1225-1400), các nhà nước đều ủng hộ
Phật Giáo như một quốc giáo và được Phật Giáo tích cực ủng hộ. Do đó mà
đất nước trở nên hùng cường, thịnh vượng và nhân dân hiền thiện, hạnh
phúc, với những thành tựu tốt đẹp nhất về quân sự và văn hóa trong lịch sử
phong kiến ở Việt Nam. Nhiều vị Tăng tài đức được mời làm Quốc sư. Vua,
đại thần, tướng lãnh ... đều là những tín đồ và học giả Phật Giáo. Nhiều
người sau khi hoàn thành việc nước, đã từ bỏ gia đình, tài sản, để tu hành
tại một ngôi chùa hẻo lánh. Vua Lý Thái Tổ, người sáng lập Triều Lý vốn là
một Sa di, kế vị của ông là Lý Thánh Tông, cũng là một nhà Phật học. Vua
Trần Thái Tông là một Thiền sư, tác giả của nhiều bộ sách Phật học giá
trị, sau khi lãnh đạo nhân dân chiến thắng lẫy lừng các đạo quân Mông Cổ,
đã nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông, từ bỏ ngai vàng mà đến núi Yên
Tử tu tập và sáng lập Thiền phái đầu tiên tại Việt Nam, tức Thiền phái
Trúc Lâm.
Những dấu tích văn
hóa và tư tưởng Phật Giáo Việt Nam không chỉ thể hiện trong các tác phẩm
do các tu sĩ và học giả Phật học biên soạn tạo thành một nền văn học phong
phú mà còn thể hiện trong các sinh hoạt hàng ngày, nhất là trong các công
trình kiến trúc, điêu khắc, trang trí. Các nghệ nhân và các nhà kiến trúc
Phật tử đã ghi khắc niềm tin của mình trong xây dựng lăng mộ, chùa chiền,
cung điện, trong việc chạm khắc bia tượng và trang hoàng nhà cửa. Phật
Giáo thâm nhập vào quần chúng nhân dân Việt Nam qua các chuyện thần kỳ, ca
dao tục ngữ, ca trù dân gian ... truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Nhiều đại tác phẩm trong văn học Việt Nam do các Nho gia viết như Truyện
Kiều (Nguyễn Du), Cung Oán Ngâm Khúc, (Nguyễn Gia Thiều), Bạch Vân Thi
(Nguyễn Bỉnh Khiêm) v.v... cũng chứa đựng tư tưởng Phật Giáo. Có thể nói,
văn hóa Việt Nam thấm nhuần màu sắc Phật Giáo.
II. Xã hội Việt
Nam ngày nay và chức năng của tôn giáo:
Khi chiến tranh
chấm dứt vào năm 1975, chính quyền và nhân dân Việt Nam phải đối mặt với
nhiều khó khăn trong một giai đoạn chuyển tiếp 15 năm do bởi những hậu quả
của cuộc chiến tranh lâu dài vì độc lập tự do và thống nhất đất nước và do
những khác biệt giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam về cơ cấu chính trị, xã
hội, kinh tế và cả về lối sinh hoạt, suy nghĩ. Nhưng rồi tình trạng này
dần dần trở nên tốt đẹp hơn và đời sống xã hội ngày càng được ổn định.
Chính sách mở cửa
của nhà nước Việt Nam rõ ràng đã giúp đất nước tiến tới một bước ngoặc
trong sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, khi chuyển dần sang nền kinh tế
thị trường, trong xã hội đã xuất hiện một số điều đáng lưu ý, chẳng hạn đó
là sự xói mòn nền tảng đạo đức của xã hội. Nhiều người, nhất là giới trẻ,
đã phải đối mặt với những nền văn hóa ngoại lai, những lối sống mới và
cuối cùng chấp nhận chúng mà không hề đắn đo cân nhắc. Một tảng lớp xã hội
mới gồm những người giàu, sản phẩm của kinh tế thị trường, của tham nhũng,
bất chính đã khởi sự hình thành. Trong khi đó, dù có những thành tựu đáng
kể về phát triển kinh tế, nghèo khổ, thậm chí đói khát và lạc hậu vẫn tồn
tại ở một số vùng xa ...
Hiện nay một số
người bảo rằng do chính sách mở cửa, xã hội Việt Nam bị ảnh hưởng bởi hệ
thống kinh tế tư bản và những xu hướng mới về chính trị, xã hội văn hóa,
điều này đòi hỏi một sự thay đổi chế độ chính trị. Tôi không phải là một
nhà chính trị nhưng tôi nghĩ rằng Trung Quốc đã và đang được những kết quả
rất tốt đẹp nhờ chính sách mở cửa từ hai thập niên vừa qua mà chẳng cần có
một thay đổi chế độ chính trị nào cả. Theo tôi, nhiệm vụ trước mắt là phải
thực hiện cho được một sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và phát triển
đạo đức cho xã hội Việt Nam ngày nay.
Chính quyền không
ngừng kêu gọi nhân dân gìn giữ đạo đức, văn hóa truyền thống và tôn trọng
tinh thần tuân thủ pháp luật, nhưng số tội phạm vẫn gia tăng liên tục, gây
nhiều rối ren cho xã hội.
Trước tình hình
suy thoái đạo đức này, tôn giáo phải tham gia chữa trị căn bệnh của xã hội
bằng cách thiết lập một trật tự đạo đức. Cả chính quyền lẫn tôn giáo đều
hứa hẹn hạnh phúc cho nhân dân. Tuy nhiên, lời hứa về hạnh phúc của tôn
giáo thì hấp dẫn hơn vì người vẫn bảo rằng hạnh phúc do tu tập thì tuyệt
đối và vĩnh cữu. Chỉ có tôn giáo mới có thể thực sự khắc sâu vào tâm thức
người ta một niềm tin sâu sắc, mãnh liệt, một tin tưởng vào sự tuyệt đối,
vào năng lực tối thượng. Niềm tin tưởng này hành động, phán đoán và chẳng
dính dáng gì đến luật pháp và sự thưởng phạt của đời thường.
Tôn giáo và đạo
đức sẽ có khả năng đương đầu với sức mạnh kinh tế và chủ nghĩa tư bản hay
không? Câu hỏi này đã được nêu ra ở nhiều nước đã phát triển hay đang phát
triển, và câu trả lời là “Vâng, sẽ có khả năng”.
Điều quan trọng là
phải có một sự hợp tác chặt chẽ giữa chính quyền và tôn giáo. Chính quyền
phải ủng hộ tôn giáo trong những hoạt động vì hạnh phúc của số đông và vì
sự phát triển của tôn giáo.
III. Chức năng
của Phật Giáo tại Việt Nam ngày nay:
Chấm dứt chiến tranh vào năm 1975, mở ra một kỷ nguyên mới của nước
CHXHCNVN. Trong bối cảnh chính trị này, một cuộc vận động được phát khởi
nhằm thống nhất các tổ chức và hệ phái Phật Giáo ở hai miền Nam và Bắc
Việt Nam. Vào ngày 06 tháng 11 năm 1981, một Đại hội được tổ chức tại Hà
Nội với sự tham dự của 165 đại biểu, soạn thảo một bản hiến chương, theo
đó Giáo hội Phật Giáo Việt Nam là tổ chức duy nhất đại diện cho toàn thể
Tăng Ni và Phật tử tại Việt Nam. Đại hội cũng đưa ra một chương trình hành
động cho Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, gồm các điểm sau:
1. Thực hiện sự
hợp tác hòa hợp dân tộc giữa các hệ phái Phật Giáo, giữa Tăng Ni Phật tử;
2. Truyền bá Chánh
pháp và nêu rõ tính tích cực của Phật Giáo;
3. Thiết lập một
hệ thống giáo dục cho Tăng Ni và một lối sống đúng đắn cho các Phật tử;
4. Tăng cường
truyền thống yêu nước của Phật Giáo Việt Nam, mối liên hệ gắn bó của Phật
Giáo với nhân dân Việt Nam và sự đóng góp tích cực của Phật Giáo vào công
cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc;
5. Ổn định kinh tế
nhà chùa để cải thiện điều kiện sinh hoạt của Tăng ni và đóng góp tạo phồn
vinh cho đất nước;
6. Tăng cường mối
liên hệ hữu nghị với Phật tử và các tổ chức Phật Giáo trên thế giới, tham
gia xây dựng hòa bình và hạnh phúc cho nhân loại.
Thật khó có thể
miêu tả hết những thành tựu nhiều mặt của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam suốt
gần 20 năm qua kể từ ngày Giáo hội được thành lập. Ở đây tôi chỉ có thể
nêu ra một số nét. Hiện nay, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam lãnh đạo và tổ
chức tất cả các hoạt động Phật sự của khoảng 30,000 Tăng Ni trong 15,000
tự viện và 40 triệu Phật tử trong toàn nước. Bên cạnh Giáo hội Trung ương,
có 44 tỉnh, thành hội Phật Giáo. Hội đồng Trị sự Giáo hội Trung ương gồm 9
Ban Ngành Viện chịu trách nhiệm về những mặt hoạt động khác nhau: đó là
các ban ngành: Tăng sự, Giáo dục Tăng Ni, Hoằng Pháp, Văn hóa, Nghi lễ,
Hướng dẫn Phật tử, Kinh tế nhà chùa, Từ thiện xã hội, Phật Giáo quốc tế và
Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam. Mỗi ban ngành đều có nhân sự và trụ sở
tại mỗi tỉnh thành. Ba Học Viện Phật Giáo Việt Nam và 26 trường Cơ bản
Phật học cùng nhiều khóa chuyên môn ngắn hạn hay dài hạn, đang đảm nhiệm
giáo dục và đào tạo Tăng Ni. Hơn 100 Tăng Ni sinh tốt nghiệp đang du học
tại các đại học nổi tiếng ở nước ngoài. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam
đã tập hợp, dịch thuật và xuất bản 27 tập kinh Pàli, và Hán ngữ nhằm hình
thành một bộ Đại Tạng Kinh Việt Nam cho Tăng Ni, Phật tử, và các nhà Phật
học Việt Nam. Trên toàn nước, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam đã xây dựng 25
bệnh viện miễn phí, 655 phòng phát thuốc, 196 lớp học tình thương cho trẻ
em đường phố, 116 nhà từ thiện. Số sách báo Phật Giáo đủ loại cứ tăng dần
mỗi năm ...
Nói chung, Phật
Giáo Việt Nam đã đạt được những thành quả quan trọng trong việc tham gia
phát triển đất nước. Bây giờ tôi xin trình bày vắn tắt một số đặc trưng
của Đạo đức học Phật Giáo và một số nổ lực của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam
nhằm phổ biến những đặc trưng ấy trong quần chúng.
Theo Đạo đức học
Phật Giáo, ba gốc rễ tệ hại gây đau khổ cho cuộc đời là tham, sân, và si.
Bạo lực, chiến tranh, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng
và mọi xấu ác đều là những biểu hiện của ba căn bản xấu xa ấy. Phật Giáo
giảng dạy và dẫn dắt người ta đến sự tiêu trừ ba thứ độc dược ấy. Học
thuyết về Nghiệp-Tái sinh-Nhân quả ... khẳng định rằng con người phải chịu
trách nhiệm về những hành động của chính mình. Học thuyết Vô ngã khích lệ
người ta quên mình và hành động vì lợi ích của số đông.
Phật Giáo đặt ra
cho các tín đồ 5 giới để sống đời đạo đức. Đó là: không sát sinh, không
trộm cắp, không tà dâm, không nói xấu và không dùng chất gây say. Nếu mọi
người, Phật tử hay không phải Phật tử, tuân theo năm giới này thì đạo đức
cá nhân sẽ toàn thiện và cuộc đời sẽ trở nên an lành hạnh phúc.
Các Phật tử đến
chùa để lẽ Phật, hành thiền hay tham dự các khóa giáo lý. Thói quen này
làm phong phú đời sống tâm linh của họ và tạo sự tĩnh lặng, sáng suốt cho
tâm họ. Ban Hướng dẫn Phật tử là một bộ phận nhằm truyền bá đạo đức Phật
Giáo. Ban Hướng dẫn đã thành lập nhiều đoàn Phật tử gồm thanh niên, người
lớn tuổi thâm nhập quần chúng làm công tác xã hội và kêu gọi mỗi người giữ
gìn nếp sống đạo đức. “Gia đình Phật tử” là bộ phận nhằm hướng dẫn và huấn
luyện các thanh thiếu niên Phật tử. Đội ngũ này gồm 50,000 đoàn viên và
6,000 huynh trưởng được chia thành từng nhóm gia đình sinh hoạt tại nhiều
chùa ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Ban Hoằng pháp tuyển chọn các Tăng
Ni nhiều khả năng để huấn luyện qua các khóa dài hạn và ngắn hạn được tổ
chức tại nhiều tỉnh thành. Đội ngũ Giảng sư được chuyên môn hóa này đảm
nhiệm công việc giảng dạy Phật pháp, truyền bá đạo đức Phật Giáo và nêu ra
cho mọi người một lối sống tốt đẹp hơn.
IV. Kết luận:
Phật Giáo là một
tôn giáo của từ bi và trí tuệ. Nguyên tắc căn bản của Đạo đức học Phật
Giáo là mọi người cần phát triển lòng từ bi. Về mặt đạo đức, trí tuệ thật
sự chính là sự hiểu biết thực tiễn thể hiện thái độ và hành vi trong đời
sống xã hội. Phật Giáo luôn có thái độ cởi mở đối với các tôn giáo và các
hệ ý thức. Phật Giáo chấp nhận bất cứ hệ thống đạo đức, triết học hay
chính trị nào miễn là hệ thống ấy có thể giúp người ta đạt hạnh phúc và
hoàn thành cứu cánh.
Trong tinh thần
hợp tác, đoàn kết và hòa hợp dân tộc, tôi tin chắc rằng Phật Giáo cũng như
các tôn giáo khác tại Việt Nam có thể đóng một vai trò quan trọng trong
việc giúp nhà nước và nhân dân Việt Nam ổn định xã hội và phát triển đất
nước.
Ý NGHĨA GIÁO DỤC NGANG
QUA GIỚI ĐỊNH TUỆ
Thượng tọa Thích
Thiện Nhơn
Tính chất giáo
dục, mục tiêu hiệu năng giáo dục đạo đức-nhân bản, đặt cơ sở giáo dục trên
con người, còn gọi là giáo dục tự thân và giáo dục tha nhân, tức là con
người xã hội. Do đó, trong khế kinh đức Phật dạy: “Con người là tối thắng,
vì có hai khả năng, một là chứng được đạo quả Bồ đề, hai là làm cho chánh
báo và y báo trang nghiêm” tức là làm cho tư tưởng, con người và hoàn cảnh