
Kỷ yếu
Thân như
điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc
xuân vinh thu hựu khô
Vạn Hạnh
Thiền sư
Thịnh suy, hợp tan là lẽ thường tình.
Sau những năm tháng được ở bên nhau chung lòng học tập cũng phải đến lúc
bùi ngùi chia tay. Có quá nhiều hoài niệm đẹp! Làm gì đây để lưu giữ lại
tháng năm thân thương kia để khỏi hối tiếc khi dòng vô tận của lãng quên
cuốn trôi?
Không ngoài ý nguyện: Xây dựng một
hiện tại bền chắc, tự tin hướng đến một tương lai xán lạn.
Chư huynh đệ thân
mến,
Hôm nay là dịp
thuận tiện để chúng ta ngồi lại với nhau lần cuối, cùng hồi tưởng về những
kỷ niệm điệp trùng trong suốt bốn năm qua ...
Nhớ mãi những phút
giây hồi hộp, lo âu khi bước vào phòng thi tuyển sinh, nỗi mừng vui khi
“dò” được tên mình trên “bảng vàng”. Nỗi bồi hồi xúc động trong tiết học
đầu tiên tại Giảng đường Học Viện, với nhiều gương mặt sáng ngời, hứa hẹn
những mối tâm giao quý báu! ...
Và, cái khó khăn,
cái gian nan cũng dần dần xuất hiện trong sinh hoạt tại trú xứ, trường lớp
với những môn học đòi hỏi phải đầu tư thời gian sức lực. Ôi, căng thăng
của những kỳ thi nghiêm ngặt, kéo dài nhiều môn ... biết kể sao cho hết!
Nhiều biết bao
những nỗi niềm xao động của thời sinh viên ngồi dưới mái Học viện!
Giây phút này, xin
được lạm dùng từ “chia tay” để kết thúc một giai đoạn đã qua, một quãng
đời chứa đầy nhiệt huyết với nguyện ước: Về một mùa hoa trái bội thu.
Mà kỳ thực trong
bốn năm miệt mài qua, chư ân sư giáo thọ, giáo sư không quan lo nhọc, đã
tận tụy truyền trao biết bao kiến thức, khả năng quý báu. Chư vị đã chu
đáo trang bị đủ đầy cho đàn hậu lai của mình tư lương sung mãn để bước vào
đời sống, tiếp nối ngọn truyền đăng bất diệt: Từ, Bi, Trí, Tuệ của Đức
Phật làm quang rạng sự sống muôn loài, dâng tặng nguồn hạnh phúc, an lạc
vô tận cho khắp nhân gian.
Ngưỡng bạch chư
Tôn đức,
Kính thưa quý Liệt
vị,
Tập Kỷ Yếu
này là món quà nhỏ kính dâng lên chư Tôn đức và quý liệt vị trong ý thức
“Tri ân và Lưu niệm” mà toàn thể Tăng Ni sinh khóa IV-Học Viện Phật Giáo
Việt Nam tại Saigon đã đem hết sức lực, tâm lực để sớm hoàn thành nhân dịp
Lễ phát văn bằng Cử nhân Phật học.
Mặc dù có nhiều cố
gắng trong suốt quá trình biên tập, những sai sót không sao tránh khỏi
được. Ngưỡng mong chu Tôn Đức và quý Liệt vị lân mẫn hoan hỷ.
Sau cùng, Ban Biên
tập chúng tôi cũng hy vọng tập Kỷ Yếu này đến tay mọi người trong niềm hỷ
lạc chung hướng một lý tưởng: lý tưởng vì lợi ích chung. Tin tưởng sâu sắc
về cuộc tương ngộ vào một ngày mai huy hoàng.
“Xuân lai, xuân khứ, nghi xuân tận
Hoa
lạc, hoa khai, chỉ thị xuân”.
Chân Không Thiền sư.
Mong sao tập Kỷ
Yếu luôn là nguồn hứng khởi dạt dào, thú vị.
Kính chúc chư Tôn
Đức Thân Tâm Thường Lạc.
Kính chúc quý Liệt
vi luôn an lành khương thái.
Thân chúc quý
huynh đệ thành đạt mọi sở nguyện trên bước đường phụng sự của mình.
Học Viện, ngày 15/05/2001.
BAN BIÊN TẬP KỶ YẾU
NĂM THỨ NHẤT KHÓA IV
HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM tại Saigon
Do Hòa Thượng Viện Trưởng tuyên đọc ngày 25.6.1997
- Nam Mô Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật,
- Kính bạch chư
Tôn giáo phẩm, chư Hòa thượng,
- Kính thưa chư
Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni,
- Kính thưa quý vị
Giáo sư,
- Kính thưa chư vị
Khách quý,
- Thưa quý Phật tử
cùng Tăng, Ni sinh khóa IV thân mến!
Kính toàn toàn thể
qúy vị,
Hôm nay, ngày khai
giảng năm thứ nhất khóa IV, Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Saigon, Hội
đồng Điều hành Học Viện và toàn thể Tăng Ni sinh khóa IV hân hạnh được
nghênh đón chư tôn Giáo phẩm, chư Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni
và toàn thể quý vị quang lâm chứng minh, dự lễ thể hiện sự quan tâm và
khích lệ đặc biệt dành cho Tăng Ni sinh. Thay mặt tập thể Hội đồng Điều
hành Học Viện, chúng tôi xin gửi đến quý vị lời chào trân trọng và lời cầu
chúc tốt đẹp nhất của chúng tôi.
Kính thưa quý vị,
Thế là 12 năm đã
trôi qua, 12 năm Trường đã đào tạo 59 Tăng Ni sinh tốt nghiệp khóa I, 101
Tăng Ni sinh tốt nghiệp khóa II, và 234 Tăng Ni sinh tốt nghiệp khóa III.
Lễ cáp phát văn bằng tốt nghiệp Khóa III đã được tổ chức trọng thể để đánh
dấu các thành quả giáo dục đáng nhớ như là chuẩn bị cho một hướng phát
triển mới đại học và hứa hẹn theo hướng đi lên của Giáo Hội và xứ sở.
Nay khóa IV có 251
Tăng Ni sinh trúng tuyển chính thức và 39 Tăng Ni sinh được đề nghị với
theo các diện chính sách. Đây là kết quả của một quá trình tổ chức chiêu
sinh và thi tuyển được thực hiện chu đáo theo đúng các yêu cầu của một kỳ
thi tuyển vào đại học. Hôm nay là ngày mở đầu cho một chặng đưòng của bốn
năm học mà sẽ nói lên khá đầy đủ tiếng nói “giáo dục đại học” của Phật
Giáo, một chặng đường của hy vọng mở được hướng học tập cho các Tăng Ni
sinh đã tốt nghiệp trong các Khóa học qua.
Kính thưa quý vị,
Nói đến việc mở
hướng giáo dục là nói đến các yêu cầu phát triển giáo dục jiện nay của
Giáo hội, đó là công việc hoàn chỉnh một hệ thống sách giáo khoa, hoàn
chỉnh nội dung giảng dạy, hoàn chỉnh đội ngũ giảng sư cơ hữu, hình thành
một thư viện đại học, một hệ thống trường ốc và một cơ cấu cung ứng ngân
sách an toàn. Tất cả đó là trọng trách, gánh nặng của Học Viện.
Về đường hướng nội
dung và phương pháp giáo dục, giáo lý Phật Giáo sẽ cung ứng đầy đủ như có
nhiều dịp trước đây chúng tôi đã trình bày. Phật Giáo vốn có một đường
hướng, nội dung, và phương pháp giáo dục thực sự trí huệ, nhân bản và hiện
thực hữu ích cho đời, nói lên được sự thật của thiên nhiên, xã hội, môi
sinh, con người, khổ đau và hạnh phúc và đề bạt được một nếp sống, nếp văn
hóa đầy nhân ái, vị tha vì an lạc, hạnh phúc lâu dài cho số đông. Đó là
những gì của Giới đức, Tâm đức và Tuệ đức hay Văn huệ, Tư huệ và Tu huệ,
có khả năng phát triển sức mạnh của tâm lý, trí tuệ, sáng tạo, lòng nhân
ái, vị tha và bao dung của con người.
Về chuyên viên
giảng huấn cơ hữu, nội dung giảng dạy và sách giáo khoa, tất cả sẽ được
đáp ứng trong một tương lai không còn lâu xa nữa. Như quý vị đã biết, hiện
nay Học Viện đã có một Tăng sinh Khóa I vừa tốt nghiệp Tiến sĩ Phật học,
một Ni sinh Khóa I sắp tốt nghiệp Tiến sĩ, hai Tăng sinh khác của Khóa I
sẽ tốt nghiệp Tiến sĩ trong một một năm rưỡi tới; 16 Tăng, Ni sinh Khóa II
đang khởi đầu biên soạn luận án Tiến sĩ Phật học để bảo vệ vào hai năm tới
tại Ấn Độ; 5 Tăng Ni sinh khác Khóa II vừa tốt nghiệp Cao Học Phật Học
cũng tại Ấn Độ, một Tăng sinh Khóa II vừa tốt nghiệp Cao học tại Nhật Bản,
một sắp tốt nghiệp Cao học, cũng tại Nhật Bản, một đang theo học Cao học
tại Paris, Pháp; một số Tăng Ni sinh Khóa II đang theo học Hoa Ngữ và
ngành Phật học Trung Hoa tại Đài Loan.
Năm nay có thêm 50
Tăng Ni sinh khóa III đã có giấy phép nhập học tại Delhi Ấn Độ va đang
tiến hành các thủ tục du học. Với đà phát triển ấy, chừng 3 đến 6 năm tới,
Giáo hội Phật Giáo Việt Nam sẽ có một đội ngũ giảng sư và nghiên cứu cơ
hữu cho ngành Trung học và Đại học Phật Giáo. Tình hình này đòi hỏi công
tác biên soạn giáo khoa, xây dựng trường ốc và ngân sách sớm được thực
hiện. Tất cả đang trông chờ vào sự hộ trì giáo dục Phật Giáo của toàn thể
quý vị.
Kính thưa quý vị,
Bên cạnh nỗi lo,
chúng ta có được niềm tin mà Chánh Pháp ban cho. Thật là ngạc nhiên khi
khám phá ra rằng những lời dạy giải khổ đau của Đức Phật lại bao hàm phong
phú các phương pháp và tinh thần giáo dục tân tiến, bao hàm cả phương thức
khảo cứu và các trắc nghiệm tâm lý rất khoa học. Chỉ một từ ngữ Phật học
“Tứ vô ngại giải” (Từ vô ngại, Nghĩa vô ngại, Pháp vô ngại, Nhạo thuyết
Biện tài vô ngại) đã bao hàm các chuẩn mức sư phạm của một giáo sư. Chỉ
một định nghĩa vể Sắc pháp - nội sắc gồm cơ thể vật lý của cá nhân; ngoại
sắc là thế giới vật lý - đã bao hàm một triết lý về môi sinh và cho đáp án
cho cuộc khủng hoảng môi sinh và xã hội. Chỉ một tập kinh 80 trang của
Tiểu bộ kinh - Các câu chuyện Chư Thiên - đã bao hàm các bước đi của công
tác nghiên cứu khoa học (Reseach Methodology) và nhiều bài học về nhân
quả, nhân ái, vị tha. Chỉ trong một trang Kinh Từ bi đã bao hàm những trăn
trở về tinh Người của các giải thưởng Nobel Văn học v.v...
Còn có rất nhiều,
rất nhiều các gợi ý hữu ích, ý nghĩa khác từ Kinh tạng Phật Giáo mà con
đường phát triển giáo dục của Phật Giáo sẽ cống hiến.
Kính thưa quý vị,
Mười hai năm qua,
dù làm giáo dục giữa các nhân duyên giới hạn, nhà Trưòng cũng đã gặt hái
một số thành quả nhất định như đã được trình bày. Đạt được kết quả ấy là
do nhờ có sự quan tâm giúp đỡ của Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Tôn giáo
Saigon, chính quyền các cấp, và nhờ sự hỗ trợ tinh thần và vật chất của
Chư Tôn Giáo Phẩm, chư Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni và quý Phật
tử. Thay mặt tập thể Học Viện, chúng tôi xin chân thành bày tỏ nơi đây
lòng biết ơn sâu xa nhất của chúng tôi.
Nay chúng tôi xin
được nói chuyện với Tăng Ni sinh khóa IV.
Các con thân mến,
Hai tháng rưỡi qua
là thời gian vất vả của các con tập trung vào việc thi tuyển. Nay sự vất
vả đã được đền bù. Thầy rất hiểu tâm trạng thi đỗ và trượt của Tăng Ni
sinh. Thầy cũng hiểu tấm lòng của các bậc Sư trưởng, phụ huynh đối với các
con về kết quả thi tuyển. Hơn năm mươi năm qua sống trong thế giới của học
đường đã khiến Thầy ái ngại mỗi lần tổ chức thi cử và mỗi lần công bố kết
quả thi cử. Hình như có những hạt nước mắt ở đấy mà một nhà giáo dục
phương Tây gọi là “Trường của nước mắt”. Đã bao lần Thầy và Hội đồng Điều
hành nghĩ đến một “Học đường không nước mắt”, nhưng chỉ thấy đấy là hình
ảnh của ước mơ hơn là hiện thực. Biết làm thế nào khác được? (!). Thi cử
là hình thức cần có để đo đạc chất lượng và phát triển chất lượng giáo
dục; hơn thế nữa Thầy và Hội đồng điều hành đang có ý giới thiệu chất
lượng giáo dục đại học của Học Viện Phật Giáo chúng ta, cái chất lượng bảo
đảm giá trị Văn bằng và giá trị mở hướng hậu đại học. Chất lượng càng cao
thì tỉ lệ trúng tuyển càng thấp, và nỗi buồn thi trượt càng nhiều. Điểm
này đã tạo nên một ít ray rứt tâm hồn của một nhà giáo dục Phật Giáo, một
nhà giáo dục nhân bản, đã khiến cho một nhà giáo dục tổ chức thi cử lại
mang tâm trạng, nỗi niềm của một người thi trượt. Thế đấy! Với tâm trạng
của một người thi trượt, Thầy chúc các con tiếp tục nổ lực để gặt hái
những thành công lớn hơn trong học tập. Thầy cũng chân thành cầu chúc hết
thảy Tăng Ni sinh đã dự thi tiếp tục nỗ lực đi tới trên đường học vấn của
mình, bởi trước mắt chúng ta luôn có những cánh cửa khác mở như một ngạn
ngữ phương Tây đã nói: “Khi cánh cửa này khép lại thì cánh cửa khác mở
ra”. Môi trường học tập nào trên quê hương chúng ta cũng cho ta các bài
học giá trị. Tương lai của Giáo hội đang chờ đợi các thành quả học tập của
các con. Thầy tin rằng khi ngân sách giáo dục của Học Viện khấm khá, thì
nỗi buồn thi trượt của các Tăng Ni sinh không thể kéo dài hơn 1 hay 2
năm. Thầy đang muốn nói đến việc rút ngắn khoảng thời gian chờ đợi giữa
hai kỳ thi tuyển vào đại học Phật Giáo.
Chúc các con thành
công.
Kính bạch chư Tôn
Giáo phẩm, chư Hòa thượng,
Kính thưa chư
Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni,
Kính thưa quý vị
Giáo sư,
Kính thưa chư vị
Khách quý,
Thưa quý Phật tử,
Thưa toàn thể quý
vị,
Sự nghiệp giáo dục
của Phật Giáo là sự nghiệp Trí tuệ. Sự nghiệp này được xây dựng trên cơ
bản của Giới đức và Định đức, nhưng cũng cần được xây dựng trên năng lực
hộ trì của tất cả vật lực và tài lực. Chúng tôi mong rằng các thực thể
trong Học Viện Phật Giáo chúng ta, bao gồm Hội đồng Điều hành Học Viện,
Văn phòng, Ban Bảo trợ, Ban Giảng huấn và tập thể Tăng Ni sinh sẽ mở đầu
khóa học, và đi vào khóa học với một sự đoàn kết chặt chẽ và một sự hòa
điệu nhịp nhàng vì lợi ích của Phật Giáo và của xứ sở.
Chánh pháp luôn
luôn là niềm tin của chúng ta. Với niềm tin này, chúng tôi xin trân trọng
tuyên bố khai giảng năm học thứ nhất của Khóa IV, Học Viện Phật Giáo Việt
Nam tại Saigon.
Xin cảm ơn toàn
thể quý vị.
Nam Mô Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật.
CỦA HÒA THƯỢNG TRƯỞNG BAN GIÁO DỤC TĂNG NI
NHÂN DỊP LỄ KHÁNH THÀNH CƠ SỞ MỚI
HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM tại SAIGON.
- Kính bạch chư
Tôn giáo Phẩm, Chư Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni,
- Kính thưa chư vị
khách quý đại diện chính quyền, Đoàn thể, Ban ngành,
- Kính thưa Hội
đồng Điều hành Học Viện Phật giáo Việt Nam tại Saigon,
- Thưa quý vị Phật
tử, cùng các Tăng Ni sinh.
Tôi vô cùng hân
hoan được tham dự buổi lễ Khánh Thành Cơ Sở Mới của Học Viện Phật giáo
Việt Nam tại Saigon được tổ chức trang nghiêm, long trọng và đầy đạo vị
này. Tôi không ngăn được niềm hỷ lạc khi nhìn thấy tòa kiến trúc mới khá
đồ sộ, vững chãi với sự hài hòa giữa tính hiện đại và tính truyền thống
trong nghệ thuật và kỹ thuật xây dựng, tạo thành một hình ảnh độc đáo tổng
hợp của sự tiện nghi và mỹ thuật. Tôi lại càng vui mừng vì thấy được không
khí đầm ấm hôm nay với sự hiện diện quý báu và chân tình của chư Tôn giáo
Phẩm, chư Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni, Chư vị đại diện chính
quyền, Đoàn thể ban ngành, chư vị Phật tử và đặc biệt là Thượng Tọa Thích
Quảng Tâm cùng chư vị đại diện Hội Phật giáo Đồng Tu Đài Bắc, Đài Loan là
ân nhân lớn đối với nhiều công trình Phật sự của Giáo hội Phật giáo Việt
Nam, cụ thể là của Học Viện Phật giáo Việt Nam tại Saigon đã được sự ủng
hộ của đông đảo các giới, các ban ngành và quần chúng.
Sụ thành tựu này,
một lần nữa chứng tỏ hiệu năng của tinh thần vượt khó, ý chí phấn đấu và
sức xoay sở, vận động của Học Viện Phật giáo Việt Nam Saigon, của Hòa
Thượng Viện trưởng Thích Minh Châu, người mà nhiều chục năm qua đã đóng
góp tích cực cho Phật giáo Việt Nam, qua những công trình dịch thuật,
nghiên cứu Kinh tạng, qua nổ lực tham gia lãnh đạo và đặc biệt qua việc
phát triển giáo dục Phật giáo Việt Nam.
Thế là từ nay, Học
Viện Phật giáo Việt Nam đã có một kiến trúc tốt đẹp phù hợp với một cơ sở
đại học mà mọi sinh hoạt hiển nhiên là thuận tiện hơn trước đây nhiều. Dĩ
nhiên, một cơ sở khang trang và tiện nghi không phải là yếu tố chủ yếu
quyết định sự thành công của Học Viện mà điều quan trọng nhất vẫn là sự tổ
chức, vấn đề nhân sự và chất lượng sinh hoạt, giảng dạy và học tập. Đến
đây, tôi xin được nhắc lại một số nét cơ bản về giáo dục Phật giáo mà lâu
nay Giáo hội xem là nền tảng trong giáo dục và đào tạo Tăng Ni.
Từ giáo dục chỉ
xuất hiện tại Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 và cũng như nhiều từ khác của văn
hóa, khoa học phương Tây được người Nhật dịch ra tiếng Nhật theo cách viết
chữ Hán và lại được người Trung Hoa chấp nhận và sử dụng. Trong Phật giáo,
tương đương với từ “Giáo Dục” ta thấy có cả một nhóm từ đồng nghĩa: Cảm
hóa, khai hóa, nhiếp hóa, khuyến hóa, thí hóa, khuyến giáo v.v... Tất cả
những từ trên đều đặt trách nhiệm vào người Thầy, người thực hiện giáo dục
nhằm giúp người học tiến vững trên con đường giải, diệt trừ các ác pháp,
tăng trưởng các pháp thiện, bằng sự thực hiện Giới-Định-Tuệ. Mặt khác, từ
“Học” đã xuất hiện từ lâu ở Trung Quốc, cũng như ở Việt Nam và nhiều nơi
khác chỉ sự tìm hiểu, thọ nhận giáo dục, nghiên cứu, thực hành theo. Trong
Kinh sách Phật giáo, từ “Học” nhằm chỉ tính cốt yếu và thực tiễn của việc
tu hành, chỉ sự nghiên cứu chân lý để đoạn trừ vọng tưởng và lậu hoặc. Học
là nhằm thu thập nội dung đồng thời là mục tiêu Giới, Định và Tuệ bao gồm
việc Văn (nghe) Tư (suy nghĩ), Tu (thực hành). Cho nên Học được xem là
đồng nghĩa với tu học, tu tập, tu đạo, tu hành, đều nhằm đến sụ hướng
thiện, tiến bộ, và giải thoát. Tạp A hàm quyển thứ 14 ghi lời Phật dạy:
“Vị tỳ kheo ấy yểm ly dục, hướng về diệt tận, đấy gọi là học”. Như thế,
việc Học trong Phật giáo chỉ nhằm mục đích tối hậu là giải và học để hướng
thiện, là để hành cho tốt đẹp, viên mãn. Đây chính là ý nghĩa đạo đức nổi
bật trong Phật học.
Học là học hành,
là tu hành, là áp dụng cái sở tri vào thực tiễn và tu là tự tu, chứng là
tự chứng; điều này muốn nhắc nhở người học phải tự nổ lực, tự phát huy và
áp dụng sự hiểu biết của mình. Rõ ràng đây là tính thực tiễn, tính tự
nhiên và dân chủ được các nhà giáo dục mới hô hào kể từ hậu bán thế kỷ 18
ở phương Tây, từ thế kỷ 19 ở phương Đông cho đến ngày nay.
Trong thế kỷ 20,
Phật giáo phát triển mạnh mẽ, nhất là ở các nước Âu Mỹ, rất nhiều trường
đại học lớn trên thế giới đã nghiên cứu và đưa Phật học vào giảng dạy,
thành lập những phân khoa Phật cò đông đảo sinh viên theo học. Tại Châu Á,
ngoài các đại học Tổng hợp, còn rất nhiều trường đại học Phật học ở Trung
Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan v.v... Tại Việt Nam,
hiện có ba Học Viện Phật giáo Việt Nam: ở Hà Nội, Thành phố Huế và Saigon,
đang có tổ chức và sinh hoạt theo thể cách của những Trường đại học Phật
giáo. Điểm đặc biệt là, cũng như các Trung Cấp Phật học, các Học Viện Phật
giáo chỉ nhằm giáo dục và đào tạo Tăng Ni. Từ đó, một nội dung giáo dục
cần được nêu rõ là giáo dục đạo đức, là rèn luyện phẩm chất của người tu
sĩ Phật giáo, là sự xông ướp giới hạnh, là việc tu trì giới bổn
Ba-la-đề-mộc-xoa. Kinh nghiệm cho ta thấy những Tỳ kheo phải trở lại thế
tục phần lớn là người người có học thức, được nhiều người biết đến danh
tiếng, có được sự sống vật chất khá đầy đủ mà như đức Phật đã dạy, đó là
nguyên nhân đưa đến sự phạm pháp hữu lậu khiến Ngài phải vì hàng Tỳ kheo
mà kiết giới. Do đó, mọi cơ sở giáo dục Phật giáo trước hết cần phải là
một cơ sở giáo dục về Đạo đức Phật giáo.
Kính thưa Chư liệt
vị,
Đã 14 năm trôi qua
kể từ khi thành lập Cao Cấp Phật học Việt Nam và chuyển đổi thành Học Viện
Phật giáo Việt Nam tại Saigon, cơ sở giáo dục này đã phát triển không
ngừng và đạt được những thành tựu khả quan. Tôi hết sức tán thán khả năng
cao, nổ lực lớn và kinh nghiệm phong phú của Hòa Thượng Viện Trưởng và của
Hội đồng Điều hành Học Viện. Tôi cũng đã thông cảm những khó khăn, đặc
biệt là khó khăn về cơ sở vật chất, vì chính tự thân tôi cũng đã và đang
gặp phải khi tổ chức các khóa Phật học, trường Cơ bản Phật học và Học Viện
Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Huế. Đến nay thì với tòa kiến trúc mới
này nhất định những khó khăn như trên sẽ vơi đi nhiều và chúng ta có thể
tin tưởng rằng Học Viện Phật giáo Việt Nam tại Saigon xứng đáng là nơi
sinh hoạt của một cơ sở giáo dục hàng cao cấp nhất của Giáo hội, nổi bật
trong ngành giáo dục Tăng Ni và sẽ không ngừng đạt những thành quả tốt
đẹp, góp phần xây dựng, phát triển hữu hiệu cho Đất nước và cho Giáo hội.
Xin cảm ơn toàn thể Quý vị.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Vài nét về:
Học Viện Phật giáo
Việt Nam tại Saigon tọa lạc số 716, Nguyễn Kiệm, P.4 Quận Phú Nhuận,
Saigon. Đây là một cơ sở giáo dục cấp Đại học, Giáo hội Phật giáo Việt
Nam (Học Viện PG Việt Nam tại Hà Nội, Học Viện PG Việt Nam tại TP Huế),
được thành lập từ ngày 25 tháng 02 năm 1982 theo Nghị quyết phiên họp thứ
nhất của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Trung ương và theo Quyết định
0160/QD ngày 17 tháng 03 năm 1983 của Ủy ban nhân dân Saigon. Mục đích của
Học Viện là nhằm đào tạo những Tăng Ni có kiến thức Đại học về giáo lý căn
bản của các bộ phái Phật giáo, lịch sử Phật giáo Việt Nam và văn hóa (Phật
giáo) Việt Nam, để sau khi tốt nghiệp Cử nhân Phật học có thể tiếp tục học
cấp Cao học, Tiến sĩ, trở thành nghiên cứu viên Viện Nghiên cứu Phật học,
hoặc đảm trách các công tác chuyên môn, Phật sự tại Trung ương Giáo hội,
Ban Trị sự tại các Tỉnh, Thành trong toàn quốc.
Hệ thống tổ chức
của Học Viện Phật giáo tại Saigon gồm có Hội đồng Điều hành, Ban Học vụ,
Ban Giảng huấn, Văn phòng Điều hành, Ban Đại diện sinh viên và Ban Bảo
Trợ. Theo quy chế thì Học Viện thu nhận Tăng Ni sinh trên toàn quốc theo
một số tiêu chuẩn sau:
1.- Tăng Ni sinh
thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, được sự giới thiệu của Giáo hội và Ban
Tôn giáo cấp Tỉnh Thành, và chính quyền địa phương xác nhận.
2. Tốt nghiệp
trường Cơ bản Phật học (nay là trường Trung Cấp Phật học) và tốt nghiệp
phổ thông trung học (tú tài), đã thọ giới Tỳ kheo, Tỳ kheo ni.
3.- Trúng tuyển kỳ
thi tuyển sinh vào Học Viện gồm ba môn thi: Phật pháp căn bản; Văn học
Việt Nam, Anh ngữ (chương trình lớp 12 hiện hành).
Học Viện Phật giáo
Việt Nam theo chế độ niên chế, kéo dài trong 4 năm, mỗi năm học có hai học
kỳ, mỗi học kỳ kéo dài bốn tháng rưỡi. Cuối mỗi học kỳ đều có thi kiểm tra
cuối học kỳ. Điểm trung bình của hai học kỳ mỗi năm phải đạt điểm 10/20
mới được cấp chứng chỉ cuối năm và được học tiếp năm kế tiếp. Các sinh
viên Tăng Ni nếu đạt yêu cầu trong 4 năm học sẽ được cấp 4 chứng chỉ và
hoàn thành luận văn tốt nghiệp sẽ được Học Viện cấp văn bằng Cử nhân Phật
học.
Chương trình học
của Học Viện Phật giáo Việt Nam tại Saigon được phân bổ trong 4 năm. Mỗi
năm Tăng Ni sinh học trong 9 tháng, mỗi tháng 4 tuần, mỗi tuần 24 tiết. Số
học trình Tăng Ni học mỗi năm tương ứng 864 tiết, hoàn tất chưong trình 4
năm là 3456 tiết. Cụ thể như sau:
Phần Nội
điển:
- Kinh luật, Luận
Phật giáo - chuyên sâu về các giáo lý căn bản như Duyên khởi, Tứ đế, Nhân
quả, Nghiệp báo, Tái sinh, Ngũ uẩn, Thập Nhị xứ, Thập bát giới.
- Một số kinh tiêu
biểu của Thượng Tọa Bộ, Nhất Thiết Hữu Bộ, và Phật giáo phát triển.
- Lịch sử tư tưởng
các bộ phái (hay Tông phái Cương yếu) - Giới luật của ba bộ phái - Văn học
Phật giáo Việt Nam - Lịch sử Phật giáo Việt Nam - Thực tập thiền định.
Phần Ngoại
điển:
Gồm các môn học
thuộc chương trình Đại học Đại cương như: Lịch sử Việt Nam, Văn học Việt
Nam, Thẩm mỹ học, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Văn minh Việt Nam, Đại cương Cơ
sở Văn hóa Việt Nam, Môi sinh học, Tôn giáo học, Công dân giáo dục, Xã hội
học, Triết Đông, Triết Tây, Triết học Mac Le-nin, Giáo dục học, Quản trị
hành chánh. Ngoài ra, trong chương trình học còn có các môn học cổ ngữ và
sinh ngữ như: Sanskrit, Pàlì, Hán cổ, Hoa văn, Anh văn thuật ngữ và Anh
văn thực hành.
Phần chuyên
môn:
Một số kinh tiêu
biểu của ba bộ phái thuộc hệ Nikàya, A hàm, và Đại Thừa Phật giáo (Pháp
Hoa, Viên Giác, Kim Cương, Hoa Nghiêm, Lăng Già, Bảo Tích)... Lịch sử tư
tưởng các bộ phái (hay các tông phái của đạo Phật), Giới luật căn bản của
ba bộ phái, Văn học Phật giáo Việt Nam, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Thiền
học Việt Nam, Thiền học thực hành, Luận lý học Phật giáo (hay Nhân minh
học Phật giáo), Luận A tỳ đàm, Luận Thanh tịnh đạo, Duy thức luận, Luận
Câu xá, Luận Trung quán, Văn học Phật giáo thế giới, Lịch sử Phật giáo thế
giới.
Ngoại khóa
và luận văn tốt nghiệp:
Ngoài chương trình
học chính thức với các môn học vừa nói trên, Học Viện còn tổ chức chưong
trình ngoại khóa do các Giáo sư, Học giả, Tiến sĩ trong và ngoài nước đến
thuyết giảng về các đề tài Phật học và các đề tài khác có liên quan đến
Phật học như Văn học nghệ thuật và Mỹ thuật, Hội họa, Âm nhạc, Xã hội, Môi
trường, Hiến pháp, Sinh hoạt Đại học v.v... nhằm bổ túc kiến thức cho Tăng
Ni sinh. Bên cạnh đó, Ban Học vụ và Ban Giảng huấn còn tổ chức hướng dẫn
cho Tăng Ni sinh làm Luận văn tốt nghiệp theo yêu cầu ở cấp Cử nhân Phật
học.
Tứ lúc thành lập
đến nay, Học Viện Phật giáo Việt Nam đã và đang đào tạo 4 khóa cấp Cử nhân
Phật học. Khóa I (1983-1987) có 60 sinh viên. Khóa II (1988-1992) có 100
sinh viên. Khóa III (1993- 1997) có 234 sinh viên. Khóa IV (1997-2001) có
287 sinh viên đang theo học và sắp sửa tốt nghiệp.
Sau khi tốt nghiệp
Cử nhân Phật học, nhiều sinh viên tiếp tục chương trình hậu Đại học (Thạc
sĩ vả Tiến sĩ) tại các nước như: Ấn Độ (có 120 sinh viên), Đài Loan, Trung
Quốc, Nhật Bản, Pháp và Tích Lan. Trong vòng hai năm nữa, số Tăng Ni sinh
tốt nghiệp của Học Viện sẽ trình xong Luận án Tiến sĩ tại nước ngoài lên
đến 50 vị. Trong thời gian tới Học Viện sẽ hoàn chỉnh cơ sở mới với kinh
phí xây dựng trên 10 tỷ đồng Việt Nam, tiến tới mở cấp đào tạo Thạc sĩ,
Tiến sĩ Phật học. Tất cả mọi nổ lực của Học Viện là nhằm đào tạo đội ngũ
Tăng Ni sinh thích ứng với nhu cầu phát triển mới của đất nước và Giáo
hội, Học Viện thiết tha kêu gọi các tổ chức và cá nhân Phật tử cùng với
các thành viên Ban bảo trợ, đứng đầu là vị Trưởng Ban Đạo hữu Nguyên Đào
nổ lực đóng góp để Học Viện ngày càng thăng tiến trong công cuộc giáo dục
và đào tạo Tăng Ni trẻ.
Hai hướng vận hành của
tâm lý
Thượng Tọa Thích Chơn Thiện
Phó viện trưởng thường trực
(Thân tặng Tăng Ni sinh khóa IV)
I. Vào đề:
Tâm lý con người
có hai hướng vận hành: một là khổ đau hay dẫn đến khổ đau, hai là hạnh
phúc hay dẫn đến hạnh phúc. Hướng thứ nhất mở ra một thế giới tâm lý của
sinh tử; hướng thứ hai mở ra thế giới tâm lý của giải. Bởi sống là đi tìm
hạnh phúc chân thật, nên con người chỉ có một chọn lựa là đi vào hướng vận
hành thứ hai. Đi vào hướng vận hành này là đi vào trí tuệ, hay đi từng
bước đi trí tuệ. Thực hiện con đường thứ hai này có nghĩa là “xây dựng
vương quốc trí tuệ” của Phật giáo mà thuật ngữ gọi là
Dhammacakkapavattana, thường được dịch là “Chuyển vận bánh xe Pháp”.
Trong bài viết
này, tác giả sẽ giới thiệu ngắn, gọn về hai hướng vận hành của tâm lý nói
trên.
II. Hai hướng
vận hành của tâm lý:
Có nhiều kinh Nam
tạng và Bắc tạng nói đến các hướng tâm lý vận hành. Ở đây, tác giả nêu dẫn
một số kinh tiêu biểu.
1. Kinh Chánh Tri
Kiến (Kinh 9, Trung bộ I, Pàli tạng).
Theo kinh Chánh
Tri Kiến, do vì con người thường tác ý về các ngã tướng của mọi sự vật,
xem các ngã tướng là có thật nên tham tâm, sân tâm và si tâm hiện khởi đẫn
đến hệ quả: tâm lý dao động, tác động lên các hành động của thân, lời và ý
mà biểu hiện ra mười bất thiện nghiệp nuôi dưỡng Vô minh và Khổ đau. Cứ
thế, tâm lý vận hành ra một thế giới của Tam Giới (Tibhava) sinh diệt, của
các ngã tướng sinh diệt. Nếu, ngược lại, thường tác ý vô thường tướng, hay
như lý tác ý - Yonisomanasikàro - thì tâm lý vô tham, vô sân (hay từ), vô
si hiện khởi và điều động các hành động của thân, lời và ý biểu hiện ra
mười thiện nghiệp, nuôi dưỡng trí tuệ. Cứ thế, trí tuệ ấy vận hành thành
thế giới của tâm lý vắng mặt ngã tướng, ngã tưởng, gọi là Vô sinh. Con
đường chỉ có thể và gọi là con đường của “trí quán”.
2. Kinh Kim Cang
Bát Nhã:
Nếu để tâm đi vào
các ngã tướng thì tham, sân, si dấy khởi và sẽ làm tâm lý dao động, không
an trụ. Các ngã tướng ấy có thể được giới thiệu qua tám phạm trù:
a) Ngã tưởng:
Tưởng ‘Cái này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi’.
b) Nhân tưởng:
Tưởng rằng có một ngã thể thường hằng luân hồi, tái sinh từ đời này qua
đời khác.
c) Chúng sinh
tưởng: Tưởng rằng co một ngã thể biệt lập
của các hiện hữu, đồng nhất với chính nó qua các thời điểm khác nhau.
d) Thọ giả
tưởng: Tưởng rằng bên trong con người có một
ngã thể thường hằng tồn tại từ khi sinh đến khi chết.
e) Pháp tưởng:
Tưởng rằng có các pháp thực sự hiện hữu.
f) Phi Pháp
tưởng: Tưởng rằng có một hiện hữu chân thật
ở ngoài các pháp.
g) Tưởng:
Tin rằng cái tưởng tạo ra tính chất của các hiện hữu là có thực trong thực
tế.
h) Phi tưởng:
Tin rằng thế giới chân thật thì ở ngoài tưởng.
Nếu tâm lý không
rơi vào tám phạm trù ngã tưởng ấy thì sẽ đi ra khỏi các nhân tố gây ra tâm
lý dao động, và sẽ được an trụ. Đấy là những gì mà một Bồ tát hành lục độ
Ba la mật phải làm, qua kinh Kim Cương. Đấy là công phu “như lý tác ý”,
hay tác ý Vô tướng gọi là “thiền quán”.
3. Pháp Thất Giác
Chi (Tương Ưng V):
Con đường thực
hiện trí tuệ của Thất Giác Chi tựu trung là:
a) Liên tục tác ý
Vô tướng, hay “như lý tác ý” thì sẽ đi đến kết quả: Ngũ triền cái được
đoạn trừ.
b) Ngũ triền cái
là thức ăn của Vô minh nên khi Ngũ triền cái bị đoạn thì Vô minh đi đến bị
đoạn trừ, minh khởi.
c) Nếu tiếp tục
thực hành như thế thì Niệm giác chi sẽ hiện khởi và lần lượt dẫn đến Trạch
pháp, Hỷ, Khinh an, Định và Xả Giác Chi hiện khởi. Xả giác chi hiện khởi
sẽ dẫn đến kết quả Minh và Giải hiện khởi, Vô minh diệt và khổ đau diệt.
III. Kết luận:
Con đường thực
hiện trí tuệ của Phật là thế, giản dị là thế. Nhưng, bởi con người có các
nhận thức, từ tâm, ý chí và dục vọng khác nhau nên lòng trăn trở khác nhau
về ngõ đường thực hiện mà có ra các hệ phái, pháp môn tu khác nhau.
Nếu tất cả đều
thấy rõ công phu chính của giải là “như lý tác ý” để hàng phục tâm lý dao
động của chính mình, thì sẽ đi ta khỏi cái thắc mắc về bộ phái, về Đại,
Tiểu pháp, về sự hư, thật của hiện tượng giới. Bấy giờ vai trò của triết
lý sẽ chấm dứt cùng lúc với các quan điểm dị biệt, mùa xuân của tâm thức
sẽ ở lại mãi với cuộc đời như là sự kiện “Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”.
Tỳ kheo Thích Chơn Thiện
Chùa Núi
Chùa xưa ẩn khuất
lưng đèo,
Phồn hoa dứt nẻo,
đèo heo gió ngàn.
Cửa Thiền sạch bụi
trần gian,
Trong hư vô nhớ ba
ngàn cõi xa.
Chùa Vô Ưu
Phiền
ưu vốn nghĩa đời
Lòng
tục dẫu rối bời
Vào
cổng chùa thấy Bụt
Phiền
ưu dường nửa vơi
Vô ưu bởi vô cầu
Thơ hứng ngâm vài
câu
Kìa trời xanh mây
nổi
Và bọt nước sóng
xao
Chùa Lục Dung
Sáu cây đa nào
thấy cây đa
Cái lẽ vô thường
đã rõ ra
Điện tháp oai
nghiêm hương khói tỏa
Tìm đâu bút tích
của Đông Pha
Chùa chỉ còn tên
suông Lục Dung
Bồ đề không cây,
đa cũng không
Đông Pha, Lục Tổ
mờ thiên cổ
Kim cổ mang mang
nói chẳng cùng.
Ghi chú:
Chùa Lục Dung là một ngôi chùa nổi tiếng của Trung
Quốc, tọa lạc tại trung tâm thành phố Quảng Châu
Giáo Dục Nhân Cách trong Phật
giáo
Thượng Tọa Thích
Giác Toàn
I. Khái niệm về
nhân cách:
Một cách tổng
quát, nhân cách là tính cách đặc biệt của một con người trong suy nghĩ,
cảm nhận và thái độ hành xử của người ấy. Nhân cách bao gồm thể cách thái
độ, ý kiến, và được thể hiện trong quan hệ với những người khác. So với
hành vi, thói quen thì nhân cách có tính cố hữu hơn và có tính chất lọc từ
những gì thu đạt được trong quan hệ của một người với môi trường và xã
hội.
Dĩ nhiên, như vẫn
thường thấy trong triết học, có nhiều định nghĩa về nhân cách. Trong tâm
lý học, nhân cách được hiểu theo hai khía cạnh.
1. Do quan sát,
nhân cách được giải thích và xếp loại một cách tương đối về những đặc tính
tâm lý của con người.
2. Xét những tính
chất khiến mọi người giống nhau hay mọi người khác nhau với những người
khác về mặt tâm lý. Từ đó, xét về nhân cách là xét con người thể hiện mình
như thế nào và xét đâu là nguyên nhân của sự thể hiện ấy.
Khái niệm về nhân
cách đã có từ thời Hy Lạp cổ đại và phát triển cho đến thế kỷ XVI ở Châu
Âu, theo đó nhân cách là sự hài hòa của bốn chất lỏng (từ La tinh gọi là
humor) là máu, đờm, giận, buồn (giận buồn là biểu hiện của màu mặt) chỉ sự
quân bình của tinh thần. Về sau, do yêu cầu chữa trị bệnh kể cả bệnh cơ
thể và tâm lý, nhiều lý thuyết về tinh thần và cụ thể là lý thuyết về nhân
cách (personality) được đề ra. Đặc biệt yêu cầu về giáo dục nhân cách càng
lúc càng trở nên cần thiết khi giáo dục phát triển và những vấn đề con
người trong xã hội mới được đặt ra trong những thập niên đầu của thế kỷ
XX.
Theo
Sigmund Freud (1856-1930), nhân cách gồm dục tính, ngã, và siêu ngã
(ld,ego, superego), trong đó dục tính là quan trọng nhất, dục
tính tiếp xúc với thế giới đã tạo nên ngã, và từ ngã, có một siêu ngã
để đánh giá nó. Dục tính hay bản năng là nguyên nhân và động
lực tạo ra nhân cách. Carl Jung (1875-1962) tiếp tục triển khai cái
mà Freud gọi là tiềm thức và chủ trương nhân tính vốn hình thành từ những
hồi ức gốc (radical memories) mà ông gọi là tiềm thức tích tập (collective
unconscious). Do xếp các hồi ức này, Jung phân biệt nhân cách hướng nội và
nhân cách hướng ngoại của một con người.
Alfred
Adler (1879-1973) nhấn mạnh ảnh hưởng xã hội vào nhân cách và xem đây là
phần chủ yếu của nhân cách; phản khác là cái xu hướng muốn tiến đến quyền
lực để cân bằng mặc cảm tự ti.
Erich
Formn (1900-....?) xem nhân tính là bản năng (như thú vật) và sự tự ti, lý
trí và óc tưởng tượng (như con người), đồng thời nhấn mạnh phần ảnh hưởng
của xã hội. Carl Rogéry (1902-1987) chỉ chấp nhận cách cư xử như là biểu
hiện của nhân tính của một người trong hiện tại đối với hoàn cảnh chung
quanh. Trong chiều hướng đó, Rogers nói đến cái quan niệm về ngã hay cái
cơ cấu ngã (self-concept hay self-structure).
Nhân
cách còn được bàn đến qua các cơ cấu khác nữa kể từ năm 1930 đến nay: Ross
Stognné, Goren W. Aliport, Henri A. Marray, Gardner Murphy ... trong khi
Erik Erikson có tham vọng tạp hợp các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội
thành một học thuyết trọn vẹn về sự phát triển và thay dổi của nhân cách
bao gồm suốt đời người.
Thực tế
hơn, những cuộc trắc nghiệm tâm lý để tìm hiểu nhân cách bằng sự thống kê
(inventories tests) hay sự bày tỏ (phóng chiếu) của người được trắc nghiệm
(projective tests) của các trường đại học Mỹ như Minnesota, California
(Minnesota multiphasic personality inventory, thematic Apperception test
...) thu được một số thành quả nhất định trong việc khám phá, giáo dục
nhân cách. Nhìn chung, giáo dục nhân cách càng lúc càng được coi trọng và
có lịch sử lâu dài kể từ thế kỷ trước, nó tiếp tục được dò dẫm, phát triển
mãi cho đến ngày nay.
Mục
đích của giáo dục phương Tây là để tìm hiểu con người, tâm hồn con người,
tâm lý hay bản chất con người, để xây dựng một nhân cách tốt, cải thiện
nhân cách chưa tốt. Mục đích này là của giáo dục học, xã hội học, tâm lý
học và tâm lý trị liệu, thậm chí cả sinh lý trị liệu.
Tuy
nhiên, hiện nay một định hướng cho con người vẫn chưa cụ thể rõ ràng và
những căn bệnh tâm lý, xã hội vẫn có dấu hiệu càng lúc càng trầm trọng.
Nếp sống buông thả, phóng đãng, vô định vẫn càng lúc càng nhiều, hiện
tượng cuồng tín, sát nhân, tự tử càng lúc càng gia tăng, đó là chưa kể
những sa đọa tinh thần, đạo đức trầm trọng khác ... Như thế nghĩa là giáo
dục nhân cách của phương Tây và của nhiều nước phương Đông đang bị ảnh
hưởng bởi văn minh phương Tây chưa được định hướng đúng đắn, chưa đáp ứng
yêu cầu của xã hội, của thời đại.
Chúng
ta không phủ nhận những nổ lực đáng kể của phương Tây trong việc nghiên
cứu nhân cách. Đó là việc càng lúc càng đào sâu vào bản năng trong tâm lý
của con người. Ta thấy bàn đến bản năng, dục tính, đến các thái độ tâm lý,
đến cách cư xử, đến ngã, đến siêu ngã, đến sự bẩm sinh, đến ảnh hưởng của
môi trường, của xã hội với nhân cách của một người và của một nhóm người,
của toàn thể loài người.
Nếu xét
nhân cách trong Phật Giáo ta sẽ thấy nhân cách được bàn không chỉ khởi từ
bản năng, dục tính mà còn được đào sâu hơn, mở rộng hơn khi xét đến con
người ngũ uẩn.
II.
Nhân cách trong giáo dục Phật Giáo:
Như đã
nói, con người theo quan điểm của Phật Giáo là con người ngũ uẩn, tập hợp
của 5 thành tố: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Khi con người có ý thức về
mình thì con người đã là một chúng sinh của cõi hữu vi, của thế giới hiện
tượng, vô thường, khổ đau, tức là con người được hình thành bằng ngũ uẩn.
Vậy, bàn đến nhân cách là bàn đến những nét chung và riêng của những hành
vi, của tâm lý, cách cư xử, tính tình của một cá nhân, nghĩa là bàn đến
nhân cách hay tính chất của cái tập hợp ngũ uẩn.
1.
Con người ngũ uẩn:
Ngũ uẩn
gồm sắc (vật chất, hình tướng), thọ (cảm nhận, cảm giác khi tiếp xúc với
các sự vật, đối tượng), tưởng (suy nghĩ, so sánh đối chiếu), hành (vận
động, hành động của thân, miệng, ý), thức (cái biết do các quan năng mang
lại). Con người theo Phật Giáo là tập hợp của 5 thành tố trên, ngoài ra
không có gì khác. Tập hợp là một từ bao hàm trong nó ý nghĩa hữu vi, bị
điều kiện hay bị chi phối bởi nhân duyên. Mỗi một thành tố tự nó cũng là
do nhân duyên, tức là không có cái sắc nào tự đứng một mình, không có cái
thọ nào, tướng nào, hành nào, thức nào tự thành lập mà không có sự hiện
diện, hỗ trợ của các thành tố khác. Tóm lại, tất cả các thành tố và tập
hợp các thành tố đều do nhân duyên, như vậy lý duyên khởi là yếu tính của
sự thành lập ngũ uẩn. Và đã như vậy thì tập hợp ngũ uẩn hay con người, xét
cho cùng không thể hàm chứa một ngã tính nào cả. Không có ngã tính, không
có ngã, và do đó cái gọi là nhân cách con người chỉ là nói tạm thời, qui
ước mà thôi.
2.
Nhân cách:
Bản
chất của con người là vô ngã, nhưng vì con người là con người của cõi hữu
vi, mọi người đều có tâm lý, thái độ, hành xử, tư duy ... giống và khác
với những người khác nên chúng ta phân biệt nhân cách người nói chung và
nhân cách của một người nói riêng.
Theo
quan điểm của đạo Phật, con người là duyên khởi, cụ thể là tập hợp của ngũ
uẩn. Con người tự nhận mình có ngã là do thói quen từ vô thỉ, thói quen
chấp trước, phân biệt, cho rằng cái tập hợp ngũ uẩn là ngã. Cái thức (A
lại da) mang các chủng tử được huân tập từ bao đời bao kiếp được nhận là
một ngã-linh-hồn. Cái hoàn cảnh chung của cái sức sống tương tục, hay nói
khác đi, là nghiệp hay nghiệp lực của thế giới này (hay cộng nghiệp) khiến
người ta có những thái độ, hành xử, tư duy giống nhau, như đau buồn trước
sự mất mát, giận dỗi khi bị xúc phạm, vui mừng khi được xứng ý. Như vậy,
nghiệp đã tạo ra nhân cách, hay nói khác đi, nhân cách của một người chính
là nghiệp của người ấy.
Phật
Giáo chấp nhận khá nhiều học thuyết về tâm lý, về nhân cách của các triết
gia, các nhà khoa học hiện đại, nhưng điều đặc biệt là Phật Giáo còn đi
sâu hơn những học thuyết ấy trong việc xem các bản năng, dục tính, ngã,
siêu ngã, tiềm thức có gốc gác trong những đời trước. Trong khi bàn về
nguyên nhân của nhân cách trong Phật Giáo, người ta phải đụng chạm đến 12
chi phần duyên khởi, 5 thành tố trong tập hợp ngũ uẩn, 3 tính chất căn bản
của con người là: tham, sân, si.
Tham,
sân, si là biểu hiện của tự ngã sai lầm, của cái ngã khổ đau nhưng lý
duyên khởi cho ta biết rằng ngã vốn không, cho nên cái tính không vẫn là
bản chất của nó. Mặt khác, vô tham, vô sân, vô si là biểu hiện của cái vô
ngã. Đây là hai mặt của một nhân cách. Do hai mặt này, nhân cách không
thiện và nhân cách thiện đều có mặt trong cùng một cá nhân. Thiên và
không thiện là hai đặc tính của nhân cách: có gây trở ngại cho cá nhân và
cho người khác hay không. Như vậy, thiện hay ác là tính chất của thái độ,
cảm xúc, hành động, tâm lý và tư duy của con người nói chung.
Phật
Giáo với lý thuyết về A lai da còn quan niệm về nhân cách thứ ba là vô ký
(không thiện không ác). Điều này rất quan trọng đối với giáo dục nhân
cách, chúng ta sẽ bàn tiếp sau này.
Nhưng
đối với một cá nhân là đối tượng của giáo dục thì nhân cách riêng của cá
nhân ấy mới là quan trọng. “Bá dân bá tánh” (trăm người là trăm tánh), hẳn
là rất đúng trong ý nghĩa rằng mỗi người có một nhân cách riêng, không có
hai nhân cách hoàn toàn giống nhau.
Tại sao
như vậy?
Ta hãy
trở lại tập hợp ngũ uẩn. Do tập khí từ các đời quá khứ và đặc biệt do hoàn
cảnh nhân duyên hiện tại, trong đó yếu tố quan trọng nhất là giáo dục mà
chức năng vận hành của từng thành tố và “cấu trúc” của 5 thành tố của mỗi
người không giống nhau. Việc không giống nhau của 5 uẩn này khiến cho mỗi
người có một nhân cách riêng.
3.
Giáo dục nhân cách:
Nhân
cách, nói cho đến chỗ tuyệt đối là vô ngã. Giáo dục nhân cách là làm sao
chuyển cái giả ngã thành ra vô ngã.
Cái giả
ngã, cái ta hay nhân cách mà một người tự ý thức về mình là cái không
thật, cái gây đau khổ. Cái gọi là “ta” chỉ là do duyên khởi, do tập hợp 5
uẩn mà tạo thành.
Theo
Duy thức học, cái chấp ngã là chức năng của Mạt na, Mạt na nhìn vào A lại
da mà cho rằng A lại da là ngã, là ta. Vậy, “ngã” được hình thành do nội
dung mà A lại da chứa đựng và sự chấp ngã của Mạt na. Để tiến tới vô ngã,
một người phải phá bỏ chấp trước và mặt khác không làm phong phú cái nội
dung ngã của A lại da bằng cách điều phục thân, khẩu, ý trong hành động,
đồng thời tạo thêm và phát triển các chủng tử thiện, hạn chế sự hiện hành
của các chủng tử ác. Để đạt mục tiêu ấy thiền định là phương pháp tốt
nhất. Thiền định giúp ta buông bỏ phân biệt chấp trước, phát triển trí tuệ
để nhìn rõ nguyên nhân của khổ đau.
Giáo
dục giúp con người phát triển trí tuệ để thấy rõ ngũ uẩn là không (có tự
thể) là vô ngã. Phật Giáo đề cao 6 Ba la mật là bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Bốn đức của Ba la mật là khổ,
không, vô thường và vô ngã. Chính việc thực hành lục Ba la mật là một
phương pháp rèn luyện nhân cách tuyệt vời, là phương cách trị liệu hữu
hiệu nhất đối với những bệnh nhân cách (personality disease) mà các nhà
phân tích nhân cách hiện đại đã phân tích và tìm cách chữa trị.
Ngoài
ra, nhờ việc phân tích ngũ uẩn và áp dụng giáo lý duyên khởi nền giáo dục
nhân cách của Phật Giáo có thể xếp loại nhân cách và phương pháp giáo dục,
trị liệu cho từng nhân cách: Người có dục tham nặng thì cần tu tập quán vô
thường, vô ngã, và thực hành bố thí. Người nặng sân hận thì cần thực hành
từ vô lượng tâm.
III.
Kết luận:
Như
vậy, cái nhân cách tốt đẹp nhất là cái nhân cách vô ngã. Nhân cách càng
gần với tinh thần vô ngã thì càng tạo hạnh phúc cho cá nhân mang nhân cách
ấy và góp phần tạo hạnh phúc cho những người chung quanh.
Mọi khổ
đau đều là những thể hiện của tham, sân và si. Ngã chấp là động cơ vận
hành của tam độc này: càng sống theo tinh thần vô ngã thì càng được giải,
tức là càng giảm thiểu khổ đau. Sự thật này là kinh nghiệm sống hằng ngày
mà người ta lại không để ý đến. Giáo dục phải nhắc nhở cho người ta, phải
khuyến khích người ta thực hiện tinh thần vô ngã. Như thế, nói một cách
khác, giáo dục, nhất là giáo dục nhân cách, là phải xem sự hướng đến một
đời sống vô ngã là mục đích tối hậu.
Những
trường hợp bất thường về nhân cách mà các nhà chuyên môn gọi là bệnh nhân
cách chính là bệnh chấp ngã, chấp ngã trong các lĩnh vực khác nhau về ý
nghĩ, về tâm lý, về ứng xử, hành động. Giáo dục Phật Giáo có thể điều
chỉnh, chữa trị những trường hợp bất thường ấy. Con đường giáo dục theo
tinh thần vô ngã chính là con đường của giáo dục Phật Giáo vậy.
Về tác giả bài thơ:
XUÂN NHẬT TỨC SỰ
(^)
Giáo sư Lê Mạnh Thát
Xuân nhật tức sự
là một bài thơ hay, được các thi tuyển xưa chép vào phần thơ của Huyền
Quang (1), do đó được nhiều người dẫn và bình luận (2). Có điều trong thơ
văn chữ Hán của nước ta, đặc biệt trong thơ văn chữ Hán của các nhà sư
Việt Nam có lẫn rất nhiều bài thơ của Trung Quốc. Chẳng hạn, trong số 40
bài thơ do Lê Quý Đôn chép lại trong Kiến Vân Tiểu Lục và nói là
của Thiền sư Hương Hải, thì có đến 32 bài là của tác giả Trung Quốc đời
Tống (3) mà ta có thể tìm lại trong các sách Trung Quốc hiện còn. Trường
hợp Chân Nguyên cũng thế (4). Thậm chí những tác giả sống gần thời với ta
như Viên Thành (1879-1928) cũng có những bài thơ chữ Hán của Trung Quốc
chép trong thi tập của mình, mà những người sau do thiếu cẩn thận đã cho
là của chính Viên Thành (5). Vậy Xuân nhật tức sự có ở trong trường
hợp nhầm lẫn, gán ghép đó không?
Những ai có dịp
đọc các bộ chính sử của Thiền Tông Trung Quốc, thì biết ngay Xuân nhật
tức sự là một bài thơ của Thiền sư Ảo Đường Trung Nhân (?-1203). Người
đầu tiên ghi lại tiểu sử và bài thơ nói trên của Trung Nhân không phải ai
khác mà là học trò của ông, tức Thiền sư Lôi Am Chính Thọ (1145-1208), tác
giả bộ Gia Thái phổ đăng lục, là bộ lịch sử Thiền Tông viết trong
khoảng Gia Thái đời Tống Ninh Tông (1201-1204). Chính trong Gia Thái phổ
đăng lục 15, tờ 117c 14-d12 mà cuộc đời và tác phẩm của Trung Nhân được
ghi lại như sau:
“Thiền sư Ảo Đường
Trung Nhân chùa Linh Phong ở Nhạn Sơn, Ôn Châu là người Lạc Dương. Thuở
nhỏ xuất gia ở viện Phụng Tiên tại Đông Kinh. Trong khoảng đầu năm Tuyên
Hòa (1119-1125), được cấp điệp ở viện Khánh Cơ, bèn xuống tóc thọ giới Cụ
túc, sau đó lui tới Sở dịch kinh Tam tạng, nghiên cứu khắp hết kinh luận,
nhưng đặc biệt đối với Thiền Tông thì chưa tin. Đến khi Viên Ngộ (Khắc
Cần, 1063-1135) được chiếu vua mời tới ở chùa Thiên Ninh, sáng sớm bèn yết
kiến. Ngộ khi ấy mới vì chúng nhập thất. Sư vừa thấy liền kính phục, hớn
hở bước tới mặt. Ngộ nói: “Dựa kinh giải nghĩa ba đời oan Phật, rời kinh
một chữ tức giống thuyết ma, nói mau!”. Sư đang cách trả lời thì Ngộ vung
tay đánh vào miệng, nhân thế làm gãy một răng. Sư tức thì đại ngộ. Do thế,
sư ở lại Thiên Ninh. Từ đó, thầy trò tương hợp, hỏi đáp không ngừng. Từ
khi (nhà Tống) vượt về phương Nam, trong năm đầu Long Hưng (1163-1164) bèn
lúc đầu mở trường giảng ở Đại giác, rồi dời chùa về Trung Thiên Trúc, rồi
lại dời tới chùa Linh Phong. Sư thượng đường nói:
“Chín chục tia Xuân quá nửa đêm,
Vun
hoa thiên khí chính dung hòa.
Hải
đường cành ấy oanh ríu rít,
Đạo
với dòng đời thấy được ha?”
Nhưng tuy thế, khi
đã rõ thanh rõ sắc thì một câu hỏi, làm sao nói ra?
“Đàm
vàng ngựa hí đất thơm cỏ
Lầu
ngọc người say trời hạnh hoa”
Sư thượng đường
nêu chuyện con chó không có tính Phật, nói:
Đôi
tám giai nhân thêu chậm dân
Tử
kinh hoa rộ hót hoàng anh
Đáng yêu vô hạn thương xuân ý
Dồn
ở dừng kim chẳng nói năng.
Nguyên văn chữ
Hán:
Nhị
bát giai nhân thích tú trì,
Tứ
kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.
Khả
lân vô hạn thương Xuân ý,
Tận
tại đình châm bất ngữ thi.
Ngày 8 tháng 4 năm
Thuần Hy, Giáp Ngọ (1174), vua Hiển Tông xuống chiếu mời vào, ban cho chỗ
ngồi để thuyết pháp. Vua nêu chuyện không cùng với muôn pháp làm bè bạn,
để xin sư niêm đề. Sư niêm xong làm bài tụng:
Quả
cân lấy khởi làm đầu,
Thôi đừng nói dài lâu.
Lưng đeo tiền mười vạn,
Cỡi
hạc lên Dương Châu.
Trong năm Quí Hợi
(1203), sư thượng đường từ biệt mọi người mà mất.
Tiểu sử trên, sau
này Ngũ đăng hội nguyên 19, tờ 383a9-b6 do Đại Xuyên Phổ Tế viết
trong khoảng 1228-1233 và Tục truyền đăng lục 28, tờ 657b4-22 do
Viên Cực Cư Đình (?-1404) hoàn thành từ khoảng 1396 trở đi, đã sao y
nguyên văn, còn Thiền tông chính mạch 19, tờ 31a 13-14 của Như Cẩn
viết xong năm 1489 thì lược bớt nhưng còn giữ lại bài thơ “Nhị bát giai
nhân ...”, trong khi Nam Tống Nguyên Minh Thiền lâm Tăng bảo truyện
4, tờ 331a3-c2 của hai thầy trò Tự Dung và Tĩnh Lôi viết xong vào năm 1664
thì không còn thấy chép bài thơ ấy nữa.
Thế là rõ ràng Bài
thơ với nhan đề đặt thêm Xuân nhất tức sự không phải của Huyền
Quang, một nhà sư Việt Nam sống giữa những năm 1254-1334, mà là của Ảo
Đường Trung Nhân (-1203), một Thiền sư đời Tống. Nó đã được chép vào những
sách vở, chủ yếu là Gia Thái phổ đăng lục và Ngũ đăng hội nguyên,
ra đời trước khi Huyền Quang có mặt trên cõi thế.
Cũng cần nói thêm,
Phổ Hội có chép một bài thơ xuất nhập với bài thơ của Trung Nhân trong
Thiền tông tụng cố liên châu thông tập và ghi là của Nam Tẩu Sực. Bài
thơ đó như sau:
Nhật noãn giai nhân thích tú trì,
Tử
kinh chi thượng chuyển hoàng ly.
Dục
tri vô hạn thương Xuân ý,
Tận
tại đình châm bất ngữ thi.
Thiền tông tụng
cố liên châu thông tập là một tác phẩm do
Phổ Hội chỉnh lý và bổ sung. Thiền tông tụng cố liên châu tập của
Pháp Ứng hoàn thành giữa những năm 1295-1418 và được khắc bản vào năm
1318. Bài thơ nói trên của Nam Tẩu Sực cho thấy, ngay ở Trung Quốc thời
Huyền Quang đã có một dị bản của bài thơ Trung Nhân, chứng tỏ nó lưu hành
khá rộng rãi.
Chúng tôi có ý
giám định về mặt văn bản học toàn bộ thơ văn Huyền Quang hiện biết đã rồi
mới công bố kết quả cho đầy đủ. Song vì bạn Nguyễn Phương Chi đã có nhã ý
nhắc đến chúng tôi khi đề cập tới bài thơ Trung Nhân nói trên (6) nên
chúng tôi công bố trước tư liệu này, trong khi tiến hành một công trình
nghiên cứu nghiêm túc hơn về toàn bộ thơ văn được biết dưới tên Huyền
Quang về mặt văn bản học.
Chú thích:
1. Chẳng hạn
Việt âm thi tập, soạn xong 1459, bản in hiện còn 1729.
2. Đặng Thai
Mai: Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học trong Thơ văn Lý-Trần I. NXB
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 44. Đinh Gia Khánh và nnk. Văn học Việt
Nam thế kỷ XVII, nửa đầu thế kỷ XVIII, NXB Đại học và trung học chuyên
nghiệp, Hà Nội, 1978, tr. 67, Tổng tập văn học Việt Nam I, NXB Khoa học xã
hội, 1980, tr. 104.
3. Xem Lê Mạnh
Thát: Thơ văn Thiên sư Minh Châu Hương Hải, Viện Phật học Vạn Hạnh, TP.
HCM, 1980 (bản đánh máy). Đấy là chưa kể những câu ngữ lục và một số bài
thơ dôi ra trong Hương Hải Thiền sư ngữ lục, bản in năm Cảnh Hưng thứ 8
(1747).
4. Xem Lê Mạnh
Thát: Chân Nguyên Thiền sư toàn tập III, Viện Phật học Vạn Hạnh, TP. HCM,
1979 (bản đánh máy). Thí dụ bài:
Hữu thuyết giai thành báng,
Vô
ngôn diệc bất dung
Vị
quân thông nhất tuyến,
Nhật xuất lĩnh đầu hồng
Trong Ngô đạo
nhân duyên và Kiến tinh thành Phật của Chân Nguyên, thực sự là một bài thơ
của dã Phụ đạo xuyên đời Tống.
5. Chẳn hạn bà
Sơn cư ngẫu tác trong Lược ước tùng sao, tờ 54b.
6. Nguyễn
Phương Chi: Huyền Quang nhà sư thi sĩ Tạp chí văn học số 3 năm 1982, tr.
79.
Hoa Đàm đua nở
(^)
Hòa thượng Thích Trí Quảng
Tôi đã tham gia
vào công tác giảng dạy tại Học Viện Phật Việt Nam từ khóa I cho đến nay là
khóa IV sắp sửa tốt nghiệp. Nhớ lại thời gian tôi bắt đầu dạy thì lúc ấy
trường mới được thành lập với tên là Trường Cao Cấp Phật học, nay được đổi
tên là Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Saigon.
Đặc biệt lớp học
của khóa IV (1997-2001), cả Tăng Ni đều học Kinh Đại Bảo Tích với tôi, vì
bận nhiều Phật sự, nên thời gian tôi giảng dạy cho Tăng Ni khóa học này
rất ít, không được bao nhiêu. Tuy nhiên, tôi nhận thấy Tăng Ni đều tiếp
thu tốt ý nghĩa tinh ba của bộ Kinh mà tôi đã hết lòng truyền trao, và kết
quả là anh em đã làm bài thi cuối năm đều đạt yêu cầu.
Theo tôi, mặc dù
chúng ta chưa hài lòng lắm, nhưng Tăng Ni sinh của các khóa học trước,
cũng học hành có kết quả tốt và sau đó một số anh em cũng đã thành tựu
được những Phật sự đáng kể. Có nhiều người bảo vệ thành công Luận án Tiến
sĩ ở nước ngoài như Nhật Bản, Ấn Độ v.v...
Riêng khóa IV, có
nhiều triển vọng hơn. Thật vậy, tôi vui mừng khi thấy Tăng Ni sinh khóa
này học hành đạt được trình độ khả quan hơn và đồng đều hơn. Điều đó khiến
chúng ta tin tưởng rằng chắc chắn trong tương lai Phật Giáo Việt Nam sẽ có
được nhiều tu sĩ tài giỏi làm rường cột cho sự tồn tại và phát triển đạo
pháp của nước nhà.
Cầu nguyện chư
Phật gia hộ cho các Tăng Ni sinh thành tựu viên mãn trên bước đường tự
giác, giác tha, xứng đáng với vai trò thừa kế các bậc tôn đức, làm rạng
danh Phật Giáo Việt Nam.
Cầu nguyện cho Học
Viện Phật Giáo Việt Nam luôn luôn đào tạo được những tu sĩ tài đức gánh
vác được Phật sự thành công, đưa Phật Giáo nước nhà tiến lên đỉnh cao
trong thiên niên kỷ mới.
Thân thương dòng lưu niệm
CS. Tống Hồ Cầm
Phó Viện trưởng Học Viện
Phật Giáo Việt Nam tại Saigon.
Thế là bốn năm học
khóa IV Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Saigon của quý vị Tăng Ni sinh
viên đã đến kỳ hoàn mãn.
Hội đồng Điều hành
Học Viện, trên hết là Hòa thượng Thích Minh Châu kính mến, cộng sự cùng
với quý chức vị thành viên của Hội đồng, quý thân giáo sư, quý nhân sự văn
phòng, quý Ban Bảo Trợ của Học Viện, đều đã hoàn thành trách nhiệm theo
thiên chức của mỗi người gắn bó vì sự nghiệp giáo dục và đào tạo Tăng Ni
tài đức xuất phát từ định hướng hệ thống tổ chức của Phật Giáo Việt Nam
chúng ta.
Tới đây, ngày 15
tháng 6 năm 2001 cử hành lễ tốt nghiệp chính thức cho quý sinh viên Tăng
Ni chúng ta và được công nhận đây là nấc thang học vị đại học đầu tiên,
vào ngày mãn khóa.
Với bằng cấp Cử
nhân Phật học, quý học Tăng, học Ni các khóa trước đây có điều kiện cầu
học thêm, được giúp đỡ hội đủ nhiều mặt để du học, đã lần lượt tốt nghiệp
với các học vị Thạc sĩ, Tiến sĩ Phật học. Điều này chứng tỏ sự tự quyết
tâm toàn tâm toàn ý thật đáng biểu dương, ca ngợi.
Thực ra với bất cứ
học vị nào, nếu có thời gian vả điều kiện học tiếp, học tới nữa, tất nhiên
chóng chày cũng đều sẽ thành đạt, nhưng sau đó phải có cống hiến phục vụ
hiệu quả thì chức vị mới trở thành hiện thực, đồng thời danh vị và hiện
thân thực học thực tu cao quý đó, cũng tất nhiên là điều thiết tha kỳ vọng
kế thừa, tiếp nối vào tổ chức Phật Giáo chúng ta.
Những năm tháng
trôi qua, với đạo tình và có duyên lành thân gần trao đổi bổ ích cho nhau
với quý Tăng Ni sinh của khóa IV này cũng như các khóa trước, chúng tôi
chí thành tin tưởng quý vị lấy trí tuệ làm sự nghiệp, nối chí Thầy Tổ,
sáng giá là sứ giả Như Lai, sẽ dày công phát huy thêm những trang sử huy
hoàng cho Đạo pháp, cho dân tộc và vinh quang đất nước chúng ta.
Chức Năng của PHẬT
GIÁO VIỆT NAM NGÀY NAY
Gs. Trần Tuấn Mẫn
Suốt 20 thế kỷ từ
khi du nhập vào Việt Nam, Phật Giáo đã bắt rễ thâm sâu vào mảnh đất này,
đóng một vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước trải qua những thăng trầm trong lịch sử của dân tộc.
Sau 1,000 năm bị
người Trung Quốc đô hộ, một thời kỳ độc lập bắt đầu với cuộc chiến thắng
vẻ vang quân xâm lược Nam Hán vào năm 939. Đây là một thời kỳ vàng son của
Phật Giáo Việt Nam. Trong hơn 400 năm dưới các triều đại Đinh (968-980),
Lê (980-1009), Lý (1010-1225) và Trần (1225-1400), các nhà nước đều ủng hộ
Phật Giáo như một quốc giáo và được Phật Giáo tích cực ủng hộ. Do đó mà
đất nước trở nên hùng cường, thịnh vượng và nhân dân hiền thiện, hạnh
phúc, với những thành tựu tốt đẹp nhất về quân sự và văn hóa trong lịch sử
phong kiến ở Việt Nam. Nhiều vị Tăng tài đức được mời làm Quốc sư. Vua,
đại thần, tướng lãnh ... đều là những tín đồ và học giả Phật Giáo. Nhiều
người sau khi hoàn thành việc nước, đã từ bỏ gia đình, tài sản, để tu hành
tại một ngôi chùa hẻo lánh. Vua Lý Thái Tổ, người sáng lập Triều Lý vốn là
một Sa di, kế vị của ông là Lý Thánh Tông, cũng là một nhà Phật học. Vua
Trần Thái Tông là một Thiền sư, tác giả của nhiều bộ sách Phật học giá
trị, sau khi lãnh đạo nhân dân chiến thắng lẫy lừng các đạo quân Mông Cổ,
đã nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông, từ bỏ ngai vàng mà đến núi Yên
Tử tu tập và sáng lập Thiền phái đầu tiên tại Việt Nam, tức Thiền phái
Trúc Lâm.
Những dấu tích văn
hóa và tư tưởng Phật Giáo Việt Nam không chỉ thể hiện trong các tác phẩm
do các tu sĩ và học giả Phật học biên soạn tạo thành một nền văn học phong
phú mà còn thể hiện trong các sinh hoạt hàng ngày, nhất là trong các công
trình kiến trúc, điêu khắc, trang trí. Các nghệ nhân và các nhà kiến trúc
Phật tử đã ghi khắc niềm tin của mình trong xây dựng lăng mộ, chùa chiền,
cung điện, trong việc chạm khắc bia tượng và trang hoàng nhà cửa. Phật
Giáo thâm nhập vào quần chúng nhân dân Việt Nam qua các chuyện thần kỳ, ca
dao tục ngữ, ca trù dân gian ... truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Nhiều đại tác phẩm trong văn học Việt Nam do các Nho gia viết như Truyện
Kiều (Nguyễn Du), Cung Oán Ngâm Khúc, (Nguyễn Gia Thiều), Bạch Vân Thi
(Nguyễn Bỉnh Khiêm) v.v... cũng chứa đựng tư tưởng Phật Giáo. Có thể nói,
văn hóa Việt Nam thấm nhuần màu sắc Phật Giáo.
II. Xã hội Việt
Nam ngày nay và chức năng của tôn giáo:
Khi chiến tranh
chấm dứt vào năm 1975, chính quyền và nhân dân Việt Nam phải đối mặt với
nhiều khó khăn trong một giai đoạn chuyển tiếp 15 năm do bởi những hậu quả
của cuộc chiến tranh lâu dài vì độc lập tự do và thống nhất đất nước và do
những khác biệt giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam về cơ cấu chính trị, xã
hội, kinh tế và cả về lối sinh hoạt, suy nghĩ. Nhưng rồi tình trạng này
dần dần trở nên tốt đẹp hơn và đời sống xã hội ngày càng được ổn định.
Chính sách mở cửa
của nhà nước Việt Nam rõ ràng đã giúp đất nước tiến tới một bước ngoặc
trong sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, khi chuyển dần sang nền kinh tế
thị trường, trong xã hội đã xuất hiện một số điều đáng lưu ý, chẳng hạn đó
là sự xói mòn nền tảng đạo đức của xã hội. Nhiều người, nhất là giới trẻ,
đã phải đối mặt với những nền văn hóa ngoại lai, những lối sống mới và
cuối cùng chấp nhận chúng mà không hề đắn đo cân nhắc. Một tảng lớp xã hội
mới gồm những người giàu, sản phẩm của kinh tế thị trường, của tham nhũng,
bất chính đã khởi sự hình thành. Trong khi đó, dù có những thành tựu đáng
kể về phát triển kinh tế, nghèo khổ, thậm chí đói khát và lạc hậu vẫn tồn
tại ở một số vùng xa ...
Hiện nay một số
người bảo rằng do chính sách mở cửa, xã hội Việt Nam bị ảnh hưởng bởi hệ
thống kinh tế tư bản và những xu hướng mới về chính trị, xã hội văn hóa,
điều này đòi hỏi một sự thay đổi chế độ chính trị. Tôi không phải là một
nhà chính trị nhưng tôi nghĩ rằng Trung Quốc đã và đang được những kết quả
rất tốt đẹp nhờ chính sách mở cửa từ hai thập niên vừa qua mà chẳng cần có
một thay đổi chế độ chính trị nào cả. Theo tôi, nhiệm vụ trước mắt là phải
thực hiện cho được một sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và phát triển
đạo đức cho xã hội Việt Nam ngày nay.
Chính quyền không
ngừng kêu gọi nhân dân gìn giữ đạo đức, văn hóa truyền thống và tôn trọng
tinh thần tuân thủ pháp luật, nhưng số tội phạm vẫn gia tăng liên tục, gây
nhiều rối ren cho xã hội.
Trước tình hình
suy thoái đạo đức này, tôn giáo phải tham gia chữa trị căn bệnh của xã hội
bằng cách thiết lập một trật tự đạo đức. Cả chính quyền lẫn tôn giáo đều
hứa hẹn hạnh phúc cho nhân dân. Tuy nhiên, lời hứa về hạnh phúc của tôn
giáo thì hấp dẫn hơn vì người vẫn bảo rằng hạnh phúc do tu tập thì tuyệt
đối và vĩnh cữu. Chỉ có tôn giáo mới có thể thực sự khắc sâu vào tâm thức
người ta một niềm tin sâu sắc, mãnh liệt, một tin tưởng vào sự tuyệt đối,
vào năng lực tối thượng. Niềm tin tưởng này hành động, phán đoán và chẳng
dính dáng gì đến luật pháp và sự thưởng phạt của đời thường.
Tôn giáo và đạo
đức sẽ có khả năng đương đầu với sức mạnh kinh tế và chủ nghĩa tư bản hay
không? Câu hỏi này đã được nêu ra ở nhiều nước đã phát triển hay đang phát
triển, và câu trả lời là “Vâng, sẽ có khả năng”.
Điều quan trọng là
phải có một sự hợp tác chặt chẽ giữa chính quyền và tôn giáo. Chính quyền
phải ủng hộ tôn giáo trong những hoạt động vì hạnh phúc của số đông và vì
sự phát triển của tôn giáo.
III. Chức năng
của Phật Giáo tại Việt Nam ngày nay:
Chấm dứt chiến tranh vào năm 1975, mở ra một kỷ nguyên mới của nước
CHXHCNVN. Trong bối cảnh chính trị này, một cuộc vận động được phát khởi
nhằm thống nhất các tổ chức và hệ phái Phật Giáo ở hai miền Nam và Bắc
Việt Nam. Vào ngày 06 tháng 11 năm 1981, một Đại hội được tổ chức tại Hà
Nội với sự tham dự của 165 đại biểu, soạn thảo một bản hiến chương, theo
đó Giáo hội Phật Giáo Việt Nam là tổ chức duy nhất đại diện cho toàn thể
Tăng Ni và Phật tử tại Việt Nam. Đại hội cũng đưa ra một chương trình hành
động cho Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, gồm các điểm sau:
1. Thực hiện sự
hợp tác hòa hợp dân tộc giữa các hệ phái Phật Giáo, giữa Tăng Ni Phật tử;
2. Truyền bá Chánh
pháp và nêu rõ tính tích cực của Phật Giáo;
3. Thiết lập một
hệ thống giáo dục cho Tăng Ni và một lối sống đúng đắn cho các Phật tử;
4. Tăng cường
truyền thống yêu nước của Phật Giáo Việt Nam, mối liên hệ gắn bó của Phật
Giáo với nhân dân Việt Nam và sự đóng góp tích cực của Phật Giáo vào công
cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc;
5. Ổn định kinh tế
nhà chùa để cải thiện điều kiện sinh hoạt của Tăng ni và đóng góp tạo phồn
vinh cho đất nước;
6. Tăng cường mối
liên hệ hữu nghị với Phật tử và các tổ chức Phật Giáo trên thế giới, tham
gia xây dựng hòa bình và hạnh phúc cho nhân loại.
Thật khó có thể
miêu tả hết những thành tựu nhiều mặt của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam suốt
gần 20 năm qua kể từ ngày Giáo hội được thành lập. Ở đây tôi chỉ có thể
nêu ra một số nét. Hiện nay, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam lãnh đạo và tổ
chức tất cả các hoạt động Phật sự của khoảng 30,000 Tăng Ni trong 15,000
tự viện và 40 triệu Phật tử trong toàn nước. Bên cạnh Giáo hội Trung ương,
có 44 tỉnh, thành hội Phật Giáo. Hội đồng Trị sự Giáo hội Trung ương gồm 9
Ban Ngành Viện chịu trách nhiệm về những mặt hoạt động khác nhau: đó là
các ban ngành: Tăng sự, Giáo dục Tăng Ni, Hoằng Pháp, Văn hóa, Nghi lễ,
Hướng dẫn Phật tử, Kinh tế nhà chùa, Từ thiện xã hội, Phật Giáo quốc tế và
Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam. Mỗi ban ngành đều có nhân sự và trụ sở
tại mỗi tỉnh thành. Ba Học Viện Phật Giáo Việt Nam và 26 trường Cơ bản
Phật học cùng nhiều khóa chuyên môn ngắn hạn hay dài hạn, đang đảm nhiệm
giáo dục và đào tạo Tăng Ni. Hơn 100 Tăng Ni sinh tốt nghiệp đang du học
tại các đại học nổi tiếng ở nước ngoài. Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam
đã tập hợp, dịch thuật và xuất bản 27 tập kinh Pàli, và Hán ngữ nhằm hình
thành một bộ Đại Tạng Kinh Việt Nam cho Tăng Ni, Phật tử, và các nhà Phật
học Việt Nam. Trên toàn nước, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam đã xây dựng 25
bệnh viện miễn phí, 655 phòng phát thuốc, 196 lớp học tình thương cho trẻ
em đường phố, 116 nhà từ thiện. Số sách báo Phật Giáo đủ loại cứ tăng dần
mỗi năm ...
Nói chung, Phật
Giáo Việt Nam đã đạt được những thành quả quan trọng trong việc tham gia
phát triển đất nước. Bây giờ tôi xin trình bày vắn tắt một số đặc trưng
của Đạo đức học Phật Giáo và một số nổ lực của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam
nhằm phổ biến những đặc trưng ấy trong quần chúng.
Theo Đạo đức học
Phật Giáo, ba gốc rễ tệ hại gây đau khổ cho cuộc đời là tham, sân, và si.
Bạo lực, chiến tranh, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng
và mọi xấu ác đều là những biểu hiện của ba căn bản xấu xa ấy. Phật Giáo
giảng dạy và dẫn dắt người ta đến sự tiêu trừ ba thứ độc dược ấy. Học
thuyết về Nghiệp-Tái sinh-Nhân quả ... khẳng định rằng con người phải chịu
trách nhiệm về những hành động của chính mình. Học thuyết Vô ngã khích lệ
người ta quên mình và hành động vì lợi ích của số đông.
Phật Giáo đặt ra
cho các tín đồ 5 giới để sống đời đạo đức. Đó là: không sát sinh, không
trộm cắp, không tà dâm, không nói xấu và không dùng chất gây say. Nếu mọi
người, Phật tử hay không phải Phật tử, tuân theo năm giới này thì đạo đức
cá nhân sẽ toàn thiện và cuộc đời sẽ trở nên an lành hạnh phúc.
Các Phật tử đến
chùa để lẽ Phật, hành thiền hay tham dự các khóa giáo lý. Thói quen này
làm phong phú đời sống tâm linh của họ và tạo sự tĩnh lặng, sáng suốt cho
tâm họ. Ban Hướng dẫn Phật tử là một bộ phận nhằm truyền bá đạo đức Phật
Giáo. Ban Hướng dẫn đã thành lập nhiều đoàn Phật tử gồm thanh niên, người
lớn tuổi thâm nhập quần chúng làm công tác xã hội và kêu gọi mỗi người giữ
gìn nếp sống đạo đức. “Gia đình Phật tử” là bộ phận nhằm hướng dẫn và huấn
luyện các thanh thiếu niên Phật tử. Đội ngũ này gồm 50,000 đoàn viên và
6,000 huynh trưởng được chia thành từng nhóm gia đình sinh hoạt tại nhiều
chùa ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Ban Hoằng pháp tuyển chọn các Tăng
Ni nhiều khả năng để huấn luyện qua các khóa dài hạn và ngắn hạn được tổ
chức tại nhiều tỉnh thành. Đội ngũ Giảng sư được chuyên môn hóa này đảm
nhiệm công việc giảng dạy Phật pháp, truyền bá đạo đức Phật Giáo và nêu ra
cho mọi người một lối sống tốt đẹp hơn.
IV. Kết luận:
Phật Giáo là một
tôn giáo của từ bi và trí tuệ. Nguyên tắc căn bản của Đạo đức học Phật
Giáo là mọi người cần phát triển lòng từ bi. Về mặt đạo đức, trí tuệ thật
sự chính là sự hiểu biết thực tiễn thể hiện thái độ và hành vi trong đời
sống xã hội. Phật Giáo luôn có thái độ cởi mở đối với các tôn giáo và các
hệ ý thức. Phật Giáo chấp nhận bất cứ hệ thống đạo đức, triết học hay
chính trị nào miễn là hệ thống ấy có thể giúp người ta đạt hạnh phúc và
hoàn thành cứu cánh.
Trong tinh thần
hợp tác, đoàn kết và hòa hợp dân tộc, tôi tin chắc rằng Phật Giáo cũng như
các tôn giáo khác tại Việt Nam có thể đóng một vai trò quan trọng trong
việc giúp nhà nước và nhân dân Việt Nam ổn định xã hội và phát triển đất
nước.
Ý NGHĨA GIÁO DỤC NGANG
QUA GIỚI ĐỊNH TUỆ
Thượng tọa Thích
Thiện Nhơn
Tính chất giáo
dục, mục tiêu hiệu năng giáo dục đạo đức-nhân bản, đặt cơ sở giáo dục trên
con người, còn gọi là giáo dục tự thân và giáo dục tha nhân, tức là con
người xã hội. Do đó, trong khế kinh đức Phật dạy: “Con người là tối thắng,
vì có hai khả năng, một là chứng được đạo quả Bồ đề, hai là làm cho chánh
báo và y báo trang nghiêm” tức là làm cho tư tưởng, con người và hoàn cảnh
xã hội chung quanh tốt đẹp. (Kinh Anh Lạc).
Qua đó, có thể
nói, Giới-Định-Tuệ là một trong những phạm trù giáo dục nổi bật, làm hoàn
thiện con người tự thân và con người xã hội.
1.
Giới-Định-Tuệ là một hệ thống giáo dục đạo đức nhân bản đoạn ác - tu
thiện:
Từ nhận thức khái
quát trên, ý nghĩa giáo dục của giới, là đoạn trừ các điều ác, thực hiện
các điều thiện, dựa trên cơ sở con người và 3 nghiệp - thân nghiệp, khẩu
nghiệp và ý nghiệp. Từ 5 giới của người tại gia, 10 giới của người xuất
gia v.v... và triển khai thành 10 hạnh lành - Không sát sanh, không trộm
cướp, không dâm dục, không nói dối, không nói ly gián, không nói thêm bớt,
không nói lời ác độc, không tham, không sân, và không tà kiến si mê.
Trên cơ sở tự tánh
từ bi, thực hành hạnh từ bỏ sát sanh, nhằm tôn trọng tính bình đẳng, phát
triển tâm từ bi và đoạn trừ nhân quả nghiệp báo trả quay trong vòng luân
hồi sanh tử. Như khế kinh nói: “Hận thù diệt hận thù. Đời này không thể
được. Từ bi diệt hận thù. Là Định luật thiên thu”.(PC-5). Từ đó, phát
triển tình người, tình thương yêu đồng loại chúng sinh, xây dựng và củng
cố hòa bình cho nhân loại trên hành tinh này. Như cổ đức nói: “Tất cả
chúng sinh không nghiệp sát, lo gì thế giới đầy đao binh, mọi nhà, mọi
chốn đều tu thiện. Lo gì thiên hạ chẳng thái bình”.
Qua tâm xả, thực
hành hạnh từ bỏ trộm cướp phát triển tâm bố thí, thực hành hạnh bố thí,
tôn trọng tài sản của người và xã hội, kiến tạo một xã hội công bằng, văn
minh và giàu mạnh. Đoạn trừ nhân quả trả vay lẫn nhau. Như cổ đức dạy:
“Khoét vách đào tường chi đã lâu. Ngàn mưu trăm kế luống tham cầu. Của
người dù có đời này được. Đời khác luôn luôn kiếp ngựa trâu”. (Thiền sư
Trần Thái Tông).
Với tâm thanh tịnh
giải thoát, tu hạnh ly dục, ly tà hạnh và dâm dục, xây dựng hạnh phúc gia
đình, tôn trọng nhân phẩm con người, thành tựu phạm hạnh, và cuối cùng
giải thoát sinh tử luân hồi, như cổ đức dạy: “Đường sinh tử tu hành đã
đoạn. Gốc ái ân vi tế không còn. Đường giải thoát lâng lâng nhẹ bước. Vượt
trần gian siêu thoát ba đường”.
Y cứ chân như thật
tánh, thực hành hạnh không nói dối nhằm tôn trọng sự thật, xây dựng niềm
tin cho nhau trong các quan hệ song phương, từ gia đình đến xã hội và toàn
cầu, từ người lãnh đạo đến người thừa hành, đồng thời tạo cơ sở chính xác
cho niềm tin tuyệt đối. Như cổ đức nói: “Một lời nói chân thật thì được
muôn người tin dùng, một lời nói không chân thật, thì muôn việc không
thành tựu”. (Nhất ngôn trúng, vạn nhân dụng - Nhất ngôn bất trúng, vạn
sự bất thành).
Bằng cơ sở tự tánh
hòa hiệp, thực hành hạnh không nói ly gián, nhằm tạo sự đoàn kết, hòa hợp
các phần tử với nhau, trong gia đình, xã hội, và thế giới, tạo thành một
khối thực thể bất khả phân, một sức mạnh tổng hợp, dung thông không gì lay
chuyển nổi. “Một cây làm chẳng nên non - Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.
Bằng tự tánh bình
đẳng, thực hành hạnh không nói thêm bớt, nhằm tôn trọng tính chính xác,
không tăng giảm của các pháp bình đẳng, tạo cơ sở chính xác cho công tác
thông tin đại chúng, báo, đài, và thông tấn xã v.v... Như người xưa nói:
“Đừng ai vẽ rắn thêm chân, chuyện không nói có, chuyện gần nói xa”.
Qua cơ sở tâm bi,
vô sân, nhẫn nhục, thực hành hạnh không nói lời ác độc, mà nói lời hòa nhã
để đoạn trừ tâm ác, tâm sân, tâm bất nhân, thanh tịnh khẩu nghiệp, tạo sự
hoan hỷ cảm thông, dung thứ, từ ái với nhau, qua ý nghĩ, việc làm, trong
giấc ngủ, trong các môi trường giao tế hàng ngày. Như ca dao Việt Nam có
câu: “Chim khôn kêu tiếng ráng rang. Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ
nghe. Lời nói không mất tiền mua. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.
Trên ý nghĩa tâm
vô tham, đoạn trừ tâm tham, về tài, sắc, danh, thực, thủy - sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp, hướng đến ly dục, ly tham, thiểu dục tri túc, phạm
hạnh thanh bạch, cuộc sống đơn giản, giải thoát, bảo vệ môi sinh, môi
trường thiên nhiên của con người và nhân loại. Như khế kinh nói: “Không
mong cầu quốc độ, của cải và vợ con. Không mong mình thành tựu. Với việc
làm phi pháp. Người ấy thật trì giới. Với trí tuệ thanh tịnh”. (PC-84).
Bằng tâm vô sân,
đoạn trừ tâm sân, phát triển tâm từ bi, nhẫn nhục, hạn chế, đoạn trừ sự
tổn hại chính mình và tha nhân, cũng như xã hội và thế giới, làm lợi lạc
chúng sinh, đem lại an vui, hòa bình, hạnh phúc cho mọi người. Như cổ đức
dạy: “Lửa lòng đã tắt từ lâu, tự tâm thanh tịnh một bầu thanh hương. Mưa
từ, nước pháp, nhành dương, chúng sinh lợi lạc bốn phương đượm nhuần”.
Lấy trí tuệ làm
thể, đoạn trừ tà kiến si mê, phát triển tâm sáng suốt, tức năng lực trí
tuệ, thấy đúng như thật về thân tâm và hoàn cảnh. Thấy rõ và tin lý nhân
quả cũng như chân lý tuyệt đối. Như khế kinh nói: “Phi chơn hiểu là phi
chơn. Chơn thật hiểu là chơn thật. Người hiểu đúng như thế, mau đạt được
lý chơn”. (PC-13).
Như vậy, giáo dục
đạo đức ngang qua Giới, chính là đoạn trừ 10 pháp ác, thực hành 10 pháp
thiện, hay nói dễ hiểu hơn khi đoạn trừ 10 điều ác, chính là thành tựu 10
điều thiện và thân khẩu ý thanh tịnh, thành tựu đoạn đức, trí đức và ân
đức, Bồ đề xuất hiện. Như cổ đức dạy: “Thân khẩu ý thanh tịnh gọi là Phật
ra đời”. Hoàn thành nhân cách tuyệt đối của con người.
2.
Giới-Định-Tuệ là giáo dục tâm lý, nhân bản - trong sạch hóa tự tâm - đưa
đến trí tuệ:
Dẫn khởi từ thân
khẩu thanh tịnh, tức ly dục, ly bất thiện pháp, thành tựu giới. Do đó,
giáo dục về định là chế ngự và chặn đứng vọng niệm, đoạn trừ phiền não. Có
thể nói, trước nhất nhất điều hòa hơi thở, tâm ý chuyên nhất. Như khế kinh
nói: “Mỗi khi tọa thiền đếm hơi thở. Tâm ý chánh định tâm không động. Dù
đất chấn động tâm không động. Ấy là Thiền độ nên tu tập”. (Tăng 1).
Hoặc ngồi một nơi
thanh vắng, tư duy theo dõi quán sát tự tâm, đoạn trừ phiền não - thành
tựu chánh định luôn luôn làm chủ tự tâm, làm chủ tự thân và hoàn cảnh. Như
đức Phật dạy: “Ngồi yên nơi thanh vắng. lặng lẽ diệt điều ác. Đạm bạc được
nhất tâm. Vui ấy không ai bằng”. (PC -373- Bát nhã).
Đặc biệt, khi tiếp
xúc ngũ dục, lục trần, giữ tâm định tĩnh, bất động và trong mọi động tác
thường nhật luôn luôn làm chủ tự tâm, làm chủ tự thân và hoàn cảnh. Như cổ
đức dạy: “Thấy sắc không can dự. Nghe thinh không nhiễm thinh. Sắc thinh
không chướng ngại. Mau đến pháp vương thành”. Nhất là trông các oai nghi,
động tác - đi, đứng, ngồi, nằm, không rời đương niệm.
Trên cơ sở đoạn
trừ các phiền não, tức là đoạn trừ 5 triền cái, chứng 5 thiền chỉ và các
trạng thái thiền. Do đoạn trừ tham dục, trạo hối, thành tựu hỷ lạc. Do
đoạn trừ sân hận, tâm được định tĩnh nhất tâm, đoạn trừ thùy miên, nghi
ngờ, nên thành tựu giác quán (Tầm tứ) tức Huệẹ. Như trừ phiền não, điều
phục các căn, chế ngự ác pháp, bất thiện pháp, 3 nghiệp thanh tịnh, xa lìa
ngũ dục, lục trần, tam độc (tham, sân, si) thanh tịnh. (Kinh Niết Bàn).
Tóm lại, mục tiêu
giáo dục của Định là chặn đứng vọng tâm, không cho chạy theo ngũ dục, lục
trần, nhằm trong sạch hóa tự tâm, đoạn trừ phiền não, đạt được khinh an,
hỷ lạc nhất tâm, trí tuệ vô lậu phát sinh, làm cơ sở cho giải thoát, giác
ngộ cứu cánh. Như cổ đức dạy: “Trăng trong in khắp muôn dòng nước. Thông
cõi tha hồ bốn gió rung. Xưa mê nay tỉnh là như thế. Đạo cả sâu xa hiểu
lòng”.
3.
Giới-Định-Tuệ: Một hệ thống Giáo dục đạo đức quán chiếu đoạn trừ lậu hoặc
- chứng quả giải thoát:
Bằng trí tuệ thân
chứng, dẫn đi từ Định, là mối quan hệ nhân quả tất yếu. Liên tục nhi tiến
và hợp lý. Qua đó, với trí tuệ vô lậu, trong sáng định tĩnh, quán sát thấy
thân, tâm và cảnh vật là vô thường, khổ và vô ngã. Như Khế kinh nói:
Tất
cả các hành vô thường,
Tất
cả các hành khổ đau,
Tất
cả các pháp vô ngã,
Với
tuệ quán thấy thế,’
Sẽ
đoạn hết khổ đau.
Đường đưa đến thanh tịnh”.
(PC.227-229)
Về mặt nhân quả,
thiện ác với trí tuệ thanh tịnh quán thấy và hiểu rõ vấn đề. Như cổ đức
dạy:
“Việc
làm giả thật tự mình hay,
Họa
phúc do mình chờ ai hỏi.
Quả
báo cuối cùng rồi phải đến,
Chẳng
qua đến sớm hay đến chày”.
Về mặt chủ thể
nhận thức, giáo dục trí tuệ, tạo cho con người có 5 sự thấy: Chánh kiến:
Thấy đúng như thật sự vật khách quan - Biên kiến: Thấy một cách phổ quát -
Thứ đệ kiến: Thấy một cách trình tự, quy luật diễn biến nhất định, có hệ
thống và khoa học - Biệt kiến: Thấy được cái dị biệt trong cái đồng nhất -
Tổng kiến: Thấy được cái đồng nhất trong cái dị biệt. (Kinh Niết Bàn).
Trên cơ sở giải
thoát cứu cánh, bằng trí tuệ thanh tịnh, thấy lý Tứ đế - Khổ, Tập, Diệt,
Đạo, đoạn trừ hết các lậu hoặc dục lậu, vô minh lậu, thành tựu Tam minh:
Thiên nhãn minh, Túc mạng minh, và Lậu tận minh, chứng quả giải thoát tâm
giải thoát, trí giải thoát, Niết Bàn an lạc; Như khế kinh nói: những vị A
la hán đã đoạn trừ hết lậu hoặc hoặc uống ăn vừa biết đủ - tự tại nơi hành
xử không, Vô thường, Vô nguyện. Như chim giữa hư không tìm dấu chân không
thấy. (PC-93).
Tóm lại, ý nghĩa
giáo dục Phật Giáo ngang qua Giới-Định-Tuệ là nhằm cải tạo, xây dựng và
huấn luyện tự thân, tự tâm tất cả những người đệ tử Phật và những nhà giáo
dục đạo đức chân chính, cũng như tất cả mọi thời đại, nhằm đạt được thanh
tịnh an lạc, giải thoát tự thân, tự tâm và giải thoát cứu cánh trong cuộc
sống và tại thế gian này, đồng thời xây dựng một nhân sinh quan, một thế
giới quan an lạc, hạnh phúc thật sự.
Bằng khả năng hành
trì liên tục của con người và sức người, nổ lực tự thân và vươn lên, đoạn
trừ các điều ác, thực hành các điều thiện, trong sạch hóa tự tâm, được
định tĩnh làm chủ bản tâm, tự thân và hoàn cảnh, đoạn trừ lậu hoặc thành
tựu trí tuệ giải thoát cứu cánh, ngang qua phương thức giáo dục
Giới-Định-Tuệ.
Hơn bao giờ hết,
Giới-Định-Tuệ là một hệ thống giáo dục đạo đức, tâm lý trong sáng, thực tế
và toàn bích, hổ tương tác động lẫn nhau. Nếu đứng ở phạm trù giáo dục tác
động cùng chiều, tức từ nhân đến quả thì Giới là nhân tố đầu tiên dẫn đến
Định và từ Định phát sinh Trí Tuệ. Nếu ở phạm vi giáo dục tác động nghịch
chiều, thì chính Trí Tuệ làm cho Giới và Định được thanh tịnh và thành
tựu. Nếu đứng ở phạm vi giáo dục tác động đồng thời, thì trong Giới đã có
đầy đủ Định và Huệ, trong Định đã có đầy đủ Giới và Huệ và trong Huệ đã có
đầy đủ Giới và Định. Như Khế kinh nói: “Nơi nào có trí huệ thì nơi đó có
giới luật. Nơi nào có giới luật thì nơi đó có trí huệ và cũng có nghĩa là
đã có thiền định”.
GIỚI LUẬT LÀ CÔNG TRUYỀN
HAY BÍ TRUYỀN
Thượng Tọa Thích Phước Sơn
Trong lời phàm lệ
của quyển Tứ Phần Giới Bổn Như Thích. Luật sư Hoằng Tán (1611-1685) nói:
“Tam thế chư Phật câu thuyết Kinh Luật Luận tam tạng Thánh giáo. Kinh luận
nhị tạng hàm thông tại gia, xuất gia, duy Luật nhất tạng Tỳ kheo độc trì,
như vương bí tạng phi ngoại quan sở tư. Nhược Sa di, bạch y tiên lâm giả,
vĩnh bất thọ đại giới, tội dữ ngũ nghịch đồng liệt. Vị sư giả tối nghi cẩn
thận”. Dịch nghĩa: “Ba đời chư Phật đều nói ba tạng Thánh giáo Kinh luật
Luận. Hai tạng Kinh Luận chung cả cho tại gia lẫn xuất gia, riêng tạng
Luật chỉ dành cho Tỳ Kheo gìn giữ, như tạng bí mật của vua, hàng ngoại
quan không được biết đến, Nếu Sa di, bạch y mà xem trước thì vĩnh viễn
không được thọ đại giới, mắc tội ngang với tội ngũ nghịch. Phàm là người
làm thầy phải hết sức cẩn thận”.
Ý kiến này có lẽ
bắt nguồn từ Luật sư Châu Hoằng (1532-1612) trong quyển luật Sa di: “Bất
đắc đạo thính Đại sa môn thuyết giới”. (Không được lén nghe Bậc Đại sa môn
thuyết giới).
Thật ra, câu cảnh
cáo của ngài Châu Hoằng là nhằm nhắc nhở Sa di không được nghe lén khi Tỳ
kheo tụng giới, vì nghe lén là hành vi bất chính. Bởi lẽ, Sa di chưa đủ tư
cách pháp nhân của một vị Tăng thực thụ nên không được phép tham dự vào
những sinh hoạt chính yếu của Đại Tăng như vác việc yết ma, bố tát, tự tứ
v.v... Nếu người chưa thọ Cụ túc mà khoác cà sa, len lỏi vào hàng ngũ Tỳ
kheo, tham dự các pháp yết ma, bố tát, tự tứ, thì phạm tội tặc trú (ở
trong Tăng chúng để trộm pháp), về sau không được thọ Đại giới, tức giới
Tỳ kheo. Do đó, khi Tăng tiến hành tiền phương tiện (thủ tục ban đầu) thì
thầy Yết ma phải hỏi Tăng chúng: “Người nào chưa thọ giới Cụ túc đã ra
chưa?, và khi được xác nhận trong Tăng không có người nào chưa thọ giới Cụ
túc, thì Tăng mới tiến hành các pháp yết ma. Như vậy, việc làm này rất
chính đáng và đâu có dụng ý gì ngăn cấm người chưa thọ giới Cụ túc xem
giới pháp của Tỳ kheo? Còn việc không cho Sa di, bạch y tham dự bố tát là
có nguyên do. Lúc Phật còn tại thế, một hôm chư Tăng bố tát, có một người
bạch y tham dự, sau đó, một Tỳ kheo phạm tội, người bạch y này liền hạch
tội Tỳ kheo. Các Tỳ kheo thấy thế liền bạch với Phật, Phật dạy: “Từ nay
trở đi không nên cho bạch y và Sa di tham dự bố tát” (Ngũ Phần Luật, Đ.22.
tr.123a).
Phát xuất từ lời
Phật dạy trên mà ngài Châu Hoằng nhắc nhở các Sa di không được nghe lén Tỳ
kheo tụng giới, nhưng nếu Sa di vì tha thiết cầu học, có thiện chí tiến
tu, thì Ngài cổ vũ: “Nhược nhạo quáng lâm, tự đương duyệt Luật tạng toàn
thư”. (Nếu muốn hiểu biết rộng thì nên xem toàn bộ Luật tạng).
Và một đoạn khác
trong Luật Sa di, Ngài khuyến khích: “Tuy Tỳ kheo sự, Sa di đương dự tri
chi” (Tuy là việc của Tỳ kheo, nhưng Sa di cũng nên tham dự để biết). Như
vậy, thiết nghĩ quan điểm của Luật sư Châu Hoằng đã quá rõ, thế nhưng vẫn
có người ngộ nhận như trường hợp của ngài Hoằng Tán. Rồi từ ý kiến của
ngài Hoằng Tán, có người đã luận giải, nêu ra ba lý do:
1. Nếu Sa di xem
trước giới luật Tỳ kheo rồi thấy giới pháp quá nhiều, khó khăn sẽ sanh tâm
thối thất, không dám thọ giới Cụ túc.
2. Nếu Sa di biết
giới luật Tỳ kheo, khi họ thấy các Tỳ kheo thọ giới rồi không giữ gìn
nghiêm túc, hủy phạm giới cấm, họ sẽ sanh tâm kiêu mạn, khinh rẻ các Tỳ
kheo, do đó sẽ tổn phước, mất lợi ích.
3. Khi đã biết
trước giới pháp thì lúc thọ giới thấy giới không còn thiêng liêng, tâm chí
sẽ sút giảm nên khó đắc giới thể.
Lý luận ấy mới
nghe qua có vẻ như hợp lý, nhưng xét kỹ thì hoàn toàn không ổn, vì các lẽ:
Thứ nhất, chẳng lẽ những người xuất gia toàn là những kẻ bạc nhược hết hay
sao mà thấy giới pháp nhiều sanh tâm thối thất?. Thứ hai, lẽ nào những
người xuất gia lại quá kém phẩm chất, chuyên bới lông tìm vết, “hễ thấy Tỳ
kheo phạm giới liền sanh tâm khinh rẻ?”. Thứ ba, vấn đề giữ tứ đắc giới
thể là do ba việc: “Giới sư thanh tịnh, Giới đàn trang nghiêm và Giới tử
chí thành”, chứ đâu phải nhờ giới tử không biết trước giới luật mà đắc
giới thế?”.
Quả thật lối lập
luận trên có nhiều chỗ đi xa tinh thần giáo pháp và giới luật. Ai cũng
biết ngài Quy Sơn (771-833) định nghĩa người xuất gia: “Phàm là người xuất
gia là mong cất bước đến chân trời cao rộng, hình dáng và tâm hồn khác với
thế tục, vì mục đích làm rạng rỡ dòng thánh, trấn áp quân ma, báo đáp bốn
ân và cứu vớt ba cõi”. Và các bậc cổ đức cũng đã nói: “Thế thượng phi
trượng phu đại giải thoát hán, hà năng kham thủ?” (Trên đời này nếu chẳng
phải là bậc trượng phu đại giải thoát, thì làm sao đảm đương nổi sứ mệnh
xuất trần”?
Vả lại, Luật dạy,
vị thầy khi nhận đệ tử xuất gia phải chọn những người: về hình dạng thì
sáu căn phải đầy đủ, không mắc một khuyết tật nào, về tâm hồn thì phải là
người háo tâm xuất gia, có dũng khí khiên cường bất thối, chứ không phải
ai cũng xuất gia được. Chả thế mà ca dao ta có câu: “Năm lừa mười lọc mới
trọc cái đầu”.
Đúng ra, vì nhờ
xem trước giới pháp nên Sa di biết được công dụng của giới là “phòng phi
chi ác”, là “thuyền bè đưa người qua bể khổ”, nên họ mới sanh tâm khát
ngưỡng, trông mong được lãnh thọ giới pháp. Khi đã hiểu giới luật, thấy
những điều khó làm mà các Tỳ kheo vẫn tuân thủ nghiêm túc, thì họ càng
tăng thêm thêm cung kính, chứ làm sao dám khinh thường? Mặt khác, các Tỳ
kheo khi đã hiểu rằng mọi người đều biết những giới luật mình đã thọ, thì
càng phải nổ lực hộ trì không dám buông lung, vì sợ thiên hạ phê bình.
Kinh nghiêm thực tế cho thấy các nước Nam phương như Campuchia, Thái Lan
v.v... mọi Phật tử đều biết giới luật của Tỳ kheo và họ rất tôn kính các
nhà sư, chứ không bao giờ dám coi thường hay chỉ trích. Chính nhờ biết
trước giới luật nên họ mới có thể tạo điều kiện và tìm cách yểm trợ các sư
giữ giới tốt hơn. Tình trạng hiện nay ở thành phố ta có những kẻ lợi dụng
chiếc y vàng để đi xin ăn làm tổn thương Phật pháp. Nếu Phật tử biết rõ
giới luật, ắt họ sẽ tẩy chay và tìm cách ngăn chận hành vi phi pháp của
những hạng người ấy, để giữ gìn sự trong sáng của đạo pháp.
Còn vấn đề này
nữa, tạng Luật phải chăng là bí tạng dành riêng cho các thầy Tỳ kheo, các
chúng khác không có quyền biết đến? Khẳng định như vậy thật là vô căn cứ,
không có cơ sở và trái hẳn thực tế, vì trong các giới điều dành cho Phật
tử cũng như Sa di, không có một giới nào ngăn cấm họ tìm hiểu giới bổn của
Tỳ kheo hết. Đành rằng chỉ có các Tỳ kheo thọ 250 giới, và các Tỳ kheo ni
thọ 348 giới mới có bổn phận tuân thủ giới pháp của mình, còn những người
khác không ai có quyền bắt họ phải tuân thủ. Đó là nói về trách nhiệm gìn
giữ, còn việc cầu thi, tìm hiểu với thiện chí hướng thượng thì ai cũng có
quyền nghiên cứu giới luật Tỳ kheo mà không vi phạm bất cứ điều khoản nào.
Giả sử một hội
đoàn nào đó kêu gọi chúng ta gia nhập, rồi mới cho biết nội quy và điều
lệ, thì liệu chúng ta có yên tâm gia nhập hay nghi ngờ hội đoàn đó có điều
gì mờ ám, bất chính? Theo lẽ thường, người có trí mỗi khi muốn tham dự một
tổ chức nào chắc chắn phải tìm hiểu tận tường điều lệ của tổ chức ấy rồi
mới tham gia. Đó là một việc làm hợp lý và có tinh thần khoa học.
Vả lại, Phật Giáo
là đạo công truyền chứ không phải bí truyền, là đạo trí tuệ chứ không phải
giáo điều, lại càng không chấp nhận sự cuồng tín. Chính đức Phật đã bác bỏ
quan điểm độc quyền của Bà la môn cho rằng chỉ có giáo sĩ Bà la môn mới có
quyền đọc Thánh Kinh Vệ Đà. Phật còn dạy: “Tin Ta mà không hiểu Ta, tức là
hủy báng Ta”, và một chỗ khác lại nói: “Chánh pháp được thuyết giảng giống
như bàn tay mở ra, chứ không phải bàn tay nắm lại”. Hoặc nói: “Phật Pháp
là thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, được người
trí chứng ngộ”. Chung quy cũng chỉ nhằm nói lên tinh thần cởi mở, phóng
khoáng, tự do tư tưởng và tôn trọng sự thật của đạo trí tuệ mà thôi.
Hơn nữa, bàng bạc
đó đây trong một số kinh điển đều có đề cập đến giới Tỳ kheo; như Kinh Di
Giáo, Phật dạy Tỳ kheo không được buôn bán đổi chác, không được mua ruộng
tạo nhà, không được đào đất, đốn cây, không được coi ngày, xem tướng
v.v... Như vậy toàn là giới cả, chứ có gì khác đâu. Vả lại, ngày nay, kinh
điển giới luật được in ấn, phát hành rộng rãi, ai cũng có thể tự do tìm
đọc, thì làm sao cấm người ta xem giới cho được.
Chẳng hạn, như ông
cha ta để lại lời di chúc cho chúng ta theo đó sống hợp với đạo lý làm
người, hầu trở thành một người hữu ích, có giá trị, rồi chúng ta đem cất
trên khám mà thờ, không biết trong đó nói gì, thì thử hoải hành vi ấy là
tôn kính hay bất kinh đối với tổ tiên?
Ai cũng biết rằng
tính chất của giới luật là “thanh lương”, nghĩa là mát mẻ, là “biệt biệt
giải thoát”, tức là giữ được điều nào thì giải thoát được điều ấy, thế mà
bảo rằng “người nào xem trước giới luật Tỳ kheo thì phạm tội ngang bằng
tội ngũ nghịch” thì thực không còn biết nói thế nào nữa! Như vậy chẳng hóa
ra quyển Luật Tứ Phần là một tác phẩm văn hóa độc hại hay sao? Nói kiểu ấy
thì chỉ nhìn vấn đề một cách rất phiến diện và lệch lạc. Thực sự, nếu
nhiều người hiểu rành giới luật thì có lẽ xã hội sẽ tốt đẹp hơn nhiều, và
những tội ác xảy ra hàng ngày làm cho chúng ta phải đau lòng chắc chắn sẽ
giảm đi không ít.
Đành rằng công đức
xiển dương Luật học của ngài Hoằng Tán là đáng trân trọng, chúng ta chẳng
dám xem thường; nhưng nếu bảo phải tin một cách tuyệt đối vào ý kiến của
Ngài, thì chúng ta không thể chấp nhận, vì nó trái hẳn với tinh thần học
Phật. Đức Phật dạy: “Khi nghe một điều gì, các ngươi chớ vội bác bỏ, cũng
chớ vội tin ngay, dù đó là Thánh điển”.
Thử hỏi từ khi Đức
Đạo Sư chế giới, trải qua Tổ Tổ tương truyền cho đến tổ Châu Hoằng
(1532-1612), giới luật vẫn thuần khiết, nhất vị, không có điều gì phải
thắc mắc, đến khi ngài Hoằng tán (1611-1685) xuất hiện sau tổ Châu Hoằng
gần cả thể kỷ, đưa ra một câu nói khiến cho nhiều người hoang mang, thì
làm sao chúng ta không bức xúc cho được?
Do vậy, chúng tôi
mạo muội nêu vấn đề này thương xác ở đây là nhằm hai mục đích: thứ nhất là
hy vọng trấn an được phần nào nỗi hoang mang của tầng lớp Tăng Ni trẻ,
nhất là những người mới xuất gia, chưa thọ Đại giới; thứ hai là để cho
những ai tha thiết tìm hiểu giới pháp có thể nhận thức đúng đắn tinh thần
giới luật mà đấng Đại giác đã từ bi truyền dạy, vì thế, tuyệt nhiên không
hề có ý phê bình Ngài Hoằng Tán ở đây. Tuy vậy, chúng tôi cũng rất mong
thỉnh thị các bậc tôn túc luật sư cao minh, và hy vọng nhận được sự quan
tâm chỉ giáo của các vị nếu có điều chi cần phải trao đổi.
NGÔI CHÙA ĐẦU TIÊN TẠI BỒ
ĐỀ ĐẠO TRÀNG
VIỆT NAM PHẬT QUỐC TỰ
Thượng tọa Thích
Huyền Diệu là một vị giảng sư nổi tiếng ở một số Trường đại học trên thế
giới. Nhân chuyến về thăm Việt Nam vào năm 2000, được sự thỉnh mời của Hòa
thượng viện trưởng, Thượng tọa hoan hỷ nói chuyện với Tăng Ni sinh về nhân
duyên hình thành nên Việt Nam Phật Quốc tự tại Bồ đề Đạo tràng, và những
khuynh hướng phát triển của ngôi chùa đại diện cho Phật Giáo Việt Nam tại
Thánh tích. Ban biên tập kỷ yếu xin trích đăng lại nội dung buổi nói
chuyện của Thượng tọa tại giảng đường Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại
Saigon.
Thượng tọa Thích Huyền Diệu
I. Nhân
Duyên Hình Thành Ngôi Chùa:
Cách đây 30 năm,
lần đầu tiên khi chúng tôi đặt chân đến nơi này, lòng dâng lên niềm xúc
cảm vô hạn khi nhìn thấy cái nôi Phật, nơi sản sinh ra bậc vĩ nhân mang
lại sự bình đẳng, ánh sáng trí tuệ cho người dân Ấn Độ nói riêng và nhân
loại nói chung đã trải dài hơn 10 thế kể và đến thế kỷ thứ 13, Phật Giáo
Ấn Độ bị biến cố cực đoan quan trọng đã làm mất đi gần hết những di sản
qúy báu đó. Cho đến ngày hôm nay, Phật Giáo Ấn Độ chỉ còn lại một số Phật
tử rất khiêm tốn so với các tôn giáo khác đang có mặt. Trong khi đó các
nước Đông Nam Á vẫn tiếp nối và phát triển mạnh nền tảng Từ bi, Vô ngã, Vị
tha và bình đẳng của Ngài như là một người bạn đồng hành trong đời sống
tinh thần cho mỗi con người qua nhiều thế hệ, trong đó có đất nước và dân
tộc Việt Nam.
Khi nhìn thấy các
nước đang góp phần để hồi sinh lại cái nôi Phật Giáo tại Thánh địa Bồ đề
đạo tràng (Bodhi-Gaya), như gìn giữ những di sản vô giá của nhân loại, thì
lẽ đâu Phật Giáo Việt Nam lại không góp phần thiết thực vào công việc
thiêng liêng đó, mà nguyện ước này chúng tôi đã ấp ủ khi còn ngồi trên ghế
các trường Đại học.
Mơ ước xây dựng
một ngôi chùa Việt Nam đầu tiên nơi Thánh địa để cho người con Phật khi
đến chiêm bái Thánh địa và dừng chân trú ngụ lại nơi trang nghiêm thanh
tịnh trong những ngày lưu lại trên xứ Phật, và mang ánh sáng của Người đến
với những ai chưa có duyên đến xứ Phật.
Thời gian cứ lặng
lẽ trôi đi suốt hơn 20 năm trải qua nhiều khó khăn và thử thách, nhưng
chúng tôi nhận được khá nhiều niềm khích lệ lớn lao, trong đó có các bậc
trưởng thượng, các pháp lữ và quý Phật tử khắp nơi hướng về đã góp thêm
sức mạnh.
Truyền thống Phật
Giáo Việt Nam không thua kém bất cứ một quốc gia nào trên thế giới, nâng
cao lòng tự hào và ý thức bảo tồn những di sản văn hóa mà các bậc tiền
nhân đã dày công tạo dựng. Đồng thời cũng muốn đem cái giá trị đích thực
đó giới thiệu đến các nước, cộng đồng Phật Giáo các nước. Niềm mơ ước đó
chính là động lực chính yếu để chúng tôi bền chí vượt qua.
Cuối cùng duyên
lành đã đến, chúng tôi đã mua được một miếng đất và lễ đặt viên đá đầu
tiên vào ngày 24-05-1987. Đó cũng chính là ngày đáng ghi nhớ để đưa Việt
Nam Phật Quốc tự đi vào hiện thực.
II. Địa lý
ngôi chùa:
Việt Nam Phật Quốc
tự tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 30 công giữa những khu ruộng đất
bao la cách Bồ đề đạo tràng và khu thị tứ khoảng 2 km về phía Tây Nam.
Với khu đất rộng
rãi đó, chúng tôi đã sưu tập nhiều loại cây để thêm phần yên tĩnh, nhiều
bóng mát, tiếng chim giúp ích cho việc tu tập và thiền định trong những
ngày quý vị đến chiêm bái thánh địa.
Về kinh phí, Việt
Nam Phật Quốc tự khác với những ngôi chùa lân cận được xây dựng bằng kinh
phí quốc gia, mà Việt Nam Phật Quốc tự được ủng hộ và đóng góp bằng nhiều
cách của đồng bào khắp nơi, nên những tiện nghi thật là khiêm tốn, song
cũng bù đắp lại bằng nhiều trái cây được trồng tại chùa mà phần lớn xuất
xứ từ Việt Nam và nhiều nơi mang đến. Cho nên quý vị sẽ cảm nhận được phần
nào về thiên nhiên Việt Nam trên mảnh đất trù phú của xứ Ấn Độ.
III. Cấu
trúc của ngôi chùa:
1.- Chánh điện: từ
cổng chính đi vào, các vĩ sẽ thấy ngôi chùa được xây dựng kiên cố bằng bê
tông cốt sắt hình vuông và hai mái cong vươn cao giữa những tàn cây như
thể hiện truyền thống của dân tộc.
Chùa có chu vi là
64m và chiều cao là 24m, gồm có tất cả là 3 tầng. Tầng trên là
pháp xá có thể dung chứa cho 30 vị khách Tăng mỗi khi đến chiêm bái Thánh
địa. Tầng thứ hai dùng để trưng bày những di tích, kinh sách, pháp khí
trong và ngoài nước, và tầng thứ ba là tôn thờ Tam thế Phật cùng chư vị Bồ
Tát. Phía sau chánh điện là hậu Tổ, tôn thờ các vị Thánh đệ tử và các vị
Thánh Tăng qua các triều đại. Đối diện với bàn thờ Tổ là bàn tưởng niệm
các vị anh linh Tổ quốc Việt Nam.
2.- Tháp vạn Phật:
được trang trí phía trước bên trái của Chánh điện với bán kính là 12m và
chiều cao là 22m, được chia đều cho 7 tầng. Bên trong tôn thờ Xá lợi Phật
và 10,000 vị Phật.
3.- Quan Âm đài:
Có thể nói đây là nét riêng của Việt Nam Phật Quốc tự, cấu trúc hơi giống
chùa Một Cột, nhằm để giới thiệu nét văn hóa của Phật Giáo Việt Nam cho
các nước Phật giáo bạn.
Tuy nhiên, Vạn
Phật và Quan Âm đài chỉ mới đặt nền móng để xây dựng trong tương lai gần
đây. Sau khi hoàn tất hai công trình này. Chúng tôi sẽ tiếp tục xây dựng
lầu chuông, lầu trống vì hiện nay chúng tôi đã có Đại Hồng Chung nặng hai
tấn rưỡi, đường kính 3m và chiều cao là 2,50m. Trống có đường kính là 2m
và chiều dài là 1.50m: tất cả đều được làm trong nước để mang nét văn hóa
đặc thù của dân tộc.
IV. Pháp xá:
Hiện nay chùa đã
đưa vào sử dụng hai dãy pháp xã, một cái được xây dựng dọc theo khu đất
với chiều dài là 47m, gồm có 3 tầng và 21 phòng, mỗi phòng có thể ở được 3
người. Tuy nhiên, trong thời gian qua chờ đợi chánh điện hoàn tất, chúng
tôi đã sử dụng hai phòng tạm thời làm chánh điện và thiền đường cho chư
Tôn đức Tăng Ni và quý Phật tử có nơi tụng niệm, lễ bái và tu tập thiền
định trong những ngày lưu lại.
Dãy pháp xá thứ
hai được xây dựng theo chiều ngang của khu đất với chiều dài là 49m, chiều
ngang 16m, gồm có tất cả 13 phòng, trong đó một nhà ăn 8x12m có thể để
được 3 dãy quá đường.
Dự kiến nếu dãy
pháp xá này thuận duyên thì sẽ được lên thêm hai tầng, và đồng thời trang
trí nội thất một tầng hầm dành cho những phái đoàn chiêm bái vào những
tháng Hè có nơi nghỉ ngơi, để tránh cái nóng khắc nghiệt thời tiết của xứ
Ấn Độ.
Chúng tôi đã cố
gắng tạo nên những vườn cây với nhiều loại cây trái tạo thêm cảnh thiên
nhiên cho ngôi chùa, đồng thời cũng muốn góp phần gìn giữ môi sinh để cân
bằng sinh thái.
1.- Cây ăn trái:
Dọc theo những con đường nhỏ quanh co uốn lượn trong khuôn viên của chùa,
chúng tôi có trồng nhiều cây ăn trái của vùng nhiệt đới và quen thuộc với
người Việt Nam như cây trái vải, mít, táo, cam, chanh, bưởi, xoài (gồm có
30 loại cây khác nhau), ổi xá lị (cũng có đến 12 loại) và nhiều loại cây
trái khác, đã và đang cho quả trong nhiều năm qua.
2.- Các loại hoa
kiểng: Phía trước chánh điện và hai dãy pháp xá, chúng tôi đã trồng nhiều
loại hoa kiểng được mang giống từ quê nhà sang: hoa Đào, Mai vàng, Mai
chiếu thủy, Lan, Sứ, Thiên lý v.v... và các loại cây kiểng: Tùng, Trắc bá
diệp, Sao, Thông, Tre, Tầm vông, Trúc cau, Phượng vĩ, Diệp tây ...
3.- Những cây có
sự liên quan đến đời sống đức Phật: Chúng tôi không chỉ mơ ước tạo cảnh
thiên nhiên thuần túy cho chùa và môi sinh, mà còn hướng đến sự duy trì
lịch sử Phật Giáo qua những cây cỏ có liên quan đến đời sống của đức Phật
ngày xưa.
Cây Sêsam mà đức
Phật đã hái nắm lá để chỉ cho hàng đệ tử về giáo pháp của Ngài ... “Ý thậm
thâm vi diệu của giáo pháp mà tôi đã chứng đắc nhiều như lá trong rừng và
những gì tôi đã giảng thuyết cho các thầy bằng như nắm lá trong tay của
tôi vậy ...”
Cây Long Hoa
(Nagarsana): đức Phật đã thọ ký cho Ngài Di Lặc sẽ ngồi dưới cây này thành
đạo Vô thượng Chánh đẳng chánh giác trong tương lai. Cây đó hiện nay tại
Ấn Độ dường như đã mất giống, nên chúng tôi đã sang tận Miến Điện để mang
về trồng.
Kế đến là một loại
cỏ mà ngày xưa đức Phật nhận sự cúng dường từ một đúa bé trai chăn bò,
dùng để trải dưới cội cây Bồ đề ngồi thiền định; đó là cỏ Cát tường, cây
Diêm phù đề, cây Vô ưu, cây Sala, cây Nimpa ... nhiều loại cây cỏ có liên
quan đến đời sống đức Phật. Ngoài ra, còn nhiều loại cây khác đã được
chúng tôi chăm sóc cẩn thận như gìn giữ một di sản vô giá của Phật Giáo.
Chúng tôi đã sống
xa quê hương trên 30 năm để bám trụ và thực hiện những nguyện ước bình dị
trở thành hiện thực như ngày hôm nay, chỉ để góp phần nho nhỏ cho quê
hương, cho dân tộc và Phật Giáo Việt Nam của chúng ta, với niềm tự hào, ý
thức bảo tồn những di sản quý giá và giới thiệu ra thế giới bên ngoài. Vì
vậy, chúng tôi luôn nguyện cầu Tam bảo gia hộ để trong tương lai có được
các vị chân tu thật tài đức đến đây gìn giữ và phát triển đúng với tầm vóc
một ngôi chùa đại diện cho dân tộc và Phật Giáo Việt Nam trên đất Phật;
đồng thời góp phần cho Thánh địa nở hoa Từ bi để mang lại nền hòa bình
chân chính cho nhân loại trong thế kỷ 21 này.
Đồng thời hình ảnh
của các vị sẽ là một trong những yếu tố làm hồi sinh lại các Thánh tích
Phật Giáo Ấn Độ, để nhân loại có một hướng đi trung đạo quân bình giữa vật
chất và tinh thần mà không thể mất cân đối như hiện nay.
QUAN NIỆM VỀ GIỚI LUẬT CỦA PHẬT
GIÁO (^)
(Trích trong CÁT ĐẰNG TẠP LỤC)
DUNG HY PHÁP SƯ
Thích Nữ Như Đức dịch
Tam thừa Quyền
giáo của Phật Giáo đều coi trọng giới Luật, Kinh Lăng Nghiêm viết: “Nghiêm
tịnh Tỳ ni, hoằng phạm tam giới” (nghiêm trì tịnh giới, làm khuôn phép cho
ba cõi).
Tỳ ni dịch là
Luật. Đệ tử Phật là bậc đạo sư của ba cõi, phải nghiêm tịnh hành trì giới
luật mới có thể độ thoát chúng sinh. Khi đức Phật sắp nhập Niết Bàn, ngài
Anan hỏi: “Bạch Đức Thế Tôn, khi Đức Thế Tôn còn tại thế, chúng con nương
theo Đức Thế Tôn làm Thầy, còn sau khi Thế Tôn nhập diệt, chúng con sẽ
nương ai làm Thầy? Đức Phật dạy: “Các ngươi phải nương theo giới luật làm
Thầy”, vì thế trong ba môn Vô lậu học, giới luật được kể trước tiên. Giới
có 3 tụ:
1.- Nhiếp luật
nghi giới: Thọ trì 5 giới, 8 giới, 250 giới Cụ túc ...
2.- Nhiếp thiện
pháp giới: Thực hành tất cả các pháp lành.
3.- Nhiếp chúng
sinh giới: Làm tất cả việc lợi ích cho chúng sinh.
Ba điều này gồm
hết tất cả thiện pháp nên gọi là ba tụ.
Trong các giới này
lại phân ra làm hai hệ Đại thừa và Tiểu thừa:
- 10 giới, 250
giới v.v... là giới của Tiểu thừa.
- 10 trọng giới,
48 giới khinh, Tam tụ giới là giới của Đại thừa.
Tất cả quả Thánh
đều do giới mà thành tựu, cho nên Tỳ kheo thà mất thân mạng, quyết không
hủy phạm giới pháp đã thọ.
Xưa kia, có một vị
Tỳ kheo đi khất thực, đến đứng ngoài cửa của người thợ xỏ ngọc. Lúc ấy,
người thợ đang xỏ ngọc ma ni cho Quốc vương thấy có vị Tỳ kheo đi hóa
duyên, ông bèn vào trong nhà lấy thức ăn ra dâng. Trong lúc đó, con ngỗng
của ông ngỡ là thức ăn nên nuốt mất của ông một viên ngọc; khi trở ra thấy
mất viên ngọc, ông nghi ngờ và trách cứ vị Tỳ kheo đã lấy mất viên ngọc
của mình, vị Tỳ kheo vì sợ ông giết con ngỗng đi, nên lặng yên chịu oan
không nói. Người thợ bèn trói vị tỳ kheo lại đánh đập tàn nhẫn, máu vãi ra
đầy đất. Thấy máu con ngỗng chạy đến hút lấy hút để. Đang con tức giận,
người thợ đánh con ngỗng chết ngay. Lúc bấy giờ vị Tỳ kheo nói bài kệ:
Khi
xưa đức Bồ Tát
Xả
mạng cứu bồ câu
Ta nay
cũng thế
Xả
thân muốn thay ngỗng
Do vì
ngươi giết ngỗng
Tâm
nguyện ta chẳng thành
Khi ấy ông thợ xỏ
ngọc mổ bụng con ngỗng ra, nhìn thấy viên ngọc, ông ta bật khóc to lên,
nói với vị Tỳ kheo rằng: “Ngài chẳng tiếc thân mạng mình bảo hộ mạng sống
con ngỗng, đã khiến cho tôi phạm điều sai lầm lớn”. (Rút ra từ Đại Trang
Nghiêm luận).
Đây là tấm gương
hộ trì giới sát.
Còn như các bậc cổ
đức trong Thiền tông: ngài Quy Tông cuốc con rắn, ngài Nam Tuyền chém con
mèo. Đó là “chánh lệnh đương hành, đại quyền đại dụng” (phương tiện đại
quyền biến để khai thị của Thiền tông). Điều này cần phải luận bàn riêng
thôi!
Các bậc thiện tri
thức ra đời để dìu dắt chúng sinh, như bậc Đại Y Vương tùy bệnh mà cho
thuốc. Chẳng hạn nói về giới uống rượu, Ngũ giới cũng phải hành trì. Đủ
biết tầm quan trọng của giới không uống rượu như thế nào!
Như ngài Quán Tông
sau khi đắc pháp, tự tại như như, vượt ra khỏi khuôn phép của giới luật,
thích uống rượu, không ngày nào không say. Thế mà người dân trong thôn lại
rất yêu kính Ngài, thường đem rượu ngon đến tặng cho, Ngài để thân thể lõa
lồ bước ra tiếp lấy rượu rồi đi. Ngài vẫn điềm nhiên chẳng hề xấu hổ.
Ngài thường cởi
trần đi xuống núi. Có người hỏi Ngài: “Thế nào là gia phong của đạo giả?”
Ngài đáp: “Áo cà
sa gói giày cỏ”. Có một hốm Trần Quán sắp đi thi, hỏi: “Quán chuyến này
muốn làm Trạng Nguyên có được không?” Ngài nhìn Trần Quán một lúc rồi đáp:
“Không thời chắc được". Đến khi yết bảng, Trần Quán đỗ hạng nhì, còn Thời
Ngạn được làm Trạng Nguyên. Thiền sư Đại Đạo Cốc Tuyền ở am Ba Tiêu tại
Nam Nhạc bác bỏ giới luật, đi đến chùa nào đều bị đuổi cả. Ngài được Phần
Dương truyền pháp ấn rồi đi về phía Nam rong chơi khắp miền sông Tương.
Một hôm, Ngài cùng Tử Minh đi chơi núi, trong núi có một cái đầm là chỗ ở
của con rồng độc, mỗi khi trẻ chăn trâu ném đá xuống đầm, tức khắc sấm sét
nổi lên và mưa tuôn xuống cả mấy ngày. Những người đi ngang đều không dám
ho hay thở mạnh. Lúc Ngài và Từ Minh trở về thì trời đã xế chiều, khí trời
nóng bức, Ngài kéo áo Từ Minh cùng với Ngài xuống đầm tắm. Từ Minh không
chịu, Ngài bèn cởi áo xuống tắm một mình, Ngài vừa nhảy xuống thì sấm sét
ầm ầm nổi lên, gió lạnh thổi, mưa tuôn, rừng cây chấn động, Từ Minh ngồi
xổm trên bãi cỏ định bụng chắc phen này Cốc Tuyền đi đứt. Chẳng mấy chốc
tạnh mưa, Ngài rướn cổ lên khỏi làn sóng, kêu kên “Khoái quá!”.
Ngài cũng đã từng
đi qua huyện Hành Sơn, thấy anh hàng thịt đang xẻ thịt, bèn đứng kế bên
làm ra vẻ rất đáng thương, chỉ tay vào miệng. Anh hàng thịt thấy vậy hỏi
“Ông câm à?” ngài gật dầu. Anh hàng thịt thấy tội nghiệp, bèn cắt một
miếng thịt to để vào bát của Ngài. Ngài hớn hở khác thường nói cảm ơn rồi
đi. Cả chợ cười rộ lên. Ngài thường dùng gậy quảy bầu rượu, qua lại trong
núi. Có người hỏi trong bầu rượu có vật gì? Ngài đáp, “Nước cốt của đại
đạo”. Rồi tự nói bài kệ:
Thong dong cùng mặt đất
Rong ruổi khắp cuối trời
Thân choàng manh khố rách
Ăn
xong lại ngủ vùi
Mặc
ngày qua trời rạng
Kệ
đêm đến trăng soi
Sá
gì câu vinh nhục
Can
chi chuyện đổi dời
Quảy bầu rượu nóng trên đầu gậy
Non
Nam núi Bắc mặc tình chơi!
Vào niên hiệu Vĩnh
Hựu, đời Tống, Nam Tử Lãnh Thanh bị người sàm tấu mà vướng vào tội chết,
lúc quan binh vây bắt. Lãnh Thanh từ trong am Ba Tiêu chạy ra. Do đó, Cốc
Tuyền bị tội liên can, bị phạt trượng, đày đi làm quân lao (khổ sai) ở Bân
Châu, phải gánh đất dưới nắng gắt. Bỗng dưng Ngài bỏ gánh xuống nói bài
kệ:
Sáng nay ngày mùng Sáu
Cốc
Tuyền bị đi đày
Nếu
chẳng lên thiên đàng
Ắt
phải vào địa ngục.
Nói xong Ngài mỉm
cười thị tịch, thản nhiên như ve sầu thoát xác. Khi hỏa táng Ngài, xá lợi
nhiều không đếm xiết. Người Bân Châu xây tháp thờ Ngài, hiện nay tháp vẫn
còn.
Ngài Hồng Phạm tán
thán rằng: “Sống là cái đáng quý, chết cái đáng sợ, không tránh cái đáng
tránh. Việc làm của Ngài như thế không biết là thật hay giả. Điều này chỉ
có trời đất biết. Lúc bấy giờ trong Thiền môn sự nghiêm túc được kính
trọng, Sa môn tu hành thanh tịnh được đề cao, hể có tỳ vết thì càng chê
bai mắng nhiếc, phải chăng Cốc Tuyền đem việc này sửa sai chăng?”
Trên quan điểm
này, Thiền sư Cốc Tuyền chỉ là dùng thân mình để làm phương thuốc thôi.
Người xưa liễu ngộ đại sự rồi càng canh cánh bảo nhậm, hộ trì cấm giới như
giữ tròng con mắt của mình. Còn như Hòa thượng Long Sơn, ẩn dật nơi non
cao, rừng sâu cũng không ngoài việc điều phục những tập khí nhiễm trước từ
vô thỉ.
Một hôm Động Sơn
chùng Mật sư đi du phương hành cước, ngang qua Long Sơn thấy trong dòng
suối có lá rau, Động Sơn nói: Núi sâu không có người, sao lại có lá rau
trôi theo dòng suối, phải chăng là có đạo nhân trong núi sao”. Nói xong
hai Ngài cùng nhau lần theo dòng suối đi lên khoảng 5-7 dặm, chợt thấy có
một vị Tăng (Long Sơn) thân hình gầy ốm, diện mạo khác thường, bèn bỏ hành
lý xuống thăm hỏi.
Ngài Long Sơn hỏi:
Núi này không có đường vào, Xà lê làm sao đến đây được?
Động Sơn đáp: Việc
không có đường hãy gác lại, Hòa thượng làm sao vào núi được?
- Ta không từ mây
nước mà đến.
- Hòa thượng ở núi
này bao lâu rồi?
- Chẳng dính gì
đến năm tháng.
- Hòa thượng có
trước hay núi có trước?
- Chẳng biết.
- Vì sao chẳng
biết?
- Ta chẳng từ
trời, người đến.
- Ngài được đạo lý
gì mà đến ở núi này?
- Ta thấy hai con
trâu đất đấu nhau vào biển, mãi đến nay cũng chẳng có tin tức gì.
Động Sơn bèn đầy
đủ oai nghi bái Long Sơn hỏi:
- Thế nào là khách
trong chủ?
- Núi xanh che mây
trắng.
- Thế nào là chủ
trong khách?
- Lâu năm không
bước ra khỏi cửa.
- Khách chủ cách
nhau bao xa?
- Sóng trên nước
Trường Giang.
- Khách chủ gặp
nhau có lời gì?
- Gió mát đùn
trăng sáng.
Sau khi Động Sơn
cáo lui, Long Sơn nói bài kệ:
Lá
sen làm áo một ao đầy
An
sẵn hoa tùng khắp đó đây
Chỗ
ở từ nay người biết đến
Dời
am vào núi khỏi ai hay.
Long Sơn đốt am,
đi biệt vào trong rừng sâu, không ai biết dấu vết sư nữa.
Ngoài ra, những
bậc Đại đức lo đóng cửa tịnh tu ngừa lỗi ngăn quấy, 20-30 năm không xuống
núi, không thể kể hết. Nay đạo giả Quán Tông và Thiền sư Cốc Tuyền phóng
đãng đến như thế là để xả thân cứu người, thế thì đâu là cung bậc của các
Ngài? Bởi không biết ngộ có sâu cạn, sức mạnh có yếu, nguyện có thế này
thế khác. Kinh Lăng Nghiêm viết: “Trì phạm chỉ để thúc liễm thân, nếu
chẳng có thân thì thúc liễm cái gì?”
Bậc thiện tri thức
dứt bỏ tất cả, việc đến thì làm, sao mà biết được tung tích của họ!
Đạo giả Quán Tông
thấu suốt ba đời, Thiền sư Cốc Tuyền định lực rốt ráo. Hai bậc tông tượng
này há không biết nơi phải đến sao? Tuy nhiên, cần phải đạt đến một mức độ
nào đó thì mới nói chuyện, chứ còn muốn bắt chước các vị ấy phóng đãng
hình hài thì sẽ đọa vào địa ngục nhanh như tên bắn.
Ở đây, tôi xin đưa
ra một thí dụ, giới luật giống như “quy củ” (compa và thước). Khi vẽ vòng
tròn thì dùng “quy” (compa), khi vẽ hình vuông thì dùng”củ” (thước), nhưng
Ngộ Đạo Tứ đời Đường vẽ hào quang của chư Phật, chỉ huơ bút một cái là
xong ngay, dùng thước quy để đo lại thì không sai một mảy. Phải có năng
lực của Ngô Đạo Tứ mới vẽ được như thế, Nếu người khác bắt chước vẽ theo
chắc chắn sẽ giống như miệng của cái túi, làm sao có thể tròn được? Cho
nên, theo tôi nghĩ: Vấn đề giới luật Phật Giáo là một việc cực kỳ quan
trọng.
QUÁN SÁT
THÂN TÂM (^)
Thượng tọa Thích Đạt Đạo
Từ xưa đến nay hầu
hết ngộ nhận vật chất nhân sinh là quan điểm cốt yếu. Mù quáng xem vật
chất nhân sinh là thật vĩnh viễn, hiểu lầm những cai giả tướng cho là thật
tướng. Đó là những căn nhà được xây bằng gạch, trinh, cột, kèo, lợp ngói,
tráng xi măng. Những căn nhà này sẽ bị hủy hoại theo thời gian. Cho nên,
nó chỉ là căn nhà cho ta tạm ở nương thân xác để đạt đến căn nhà thật sự
của nội tâm.
Chúng ta lắng nghe
một cách cung kính bài thuyết pháp về ngôi nhà thật sự của vị giảng sư.
Chúng ta hãy chú ý từng lời như là chính đức Phật đang ở trước mắt chúng
ta. Xin hãy nhắm mắt lại và giữ thân thoải mái, nhiếp tâm lại để được
định. Hãy tỏ lòng tôn kính bậc giải thoát, để tâm tràn đầy ba điều: Trí
tuệ, chân lý và trạng thái thanh khiết.
Chúng ta nên biết
rằng ngay chính đức Thế Tôn với vô lượng công đức mà còn không tránh được
cái chết của thể xác, Ngài bỏ thân xác, bỏ gánh nặng. Bao nhiêu năm qua
chúng ta nhờ cậy thân xác để hiểu biết là quá dư! Nhưng thể xác của chúng
ta nó biến đổi ngay từ khi ta mới sinh ra. Khi còn bé, lúc mới lớn và cho
đến giờ đây khi tuổi đã già, ta phải chấp nhận điều đó.
Phật dạy các hành
giả, dù thuộc về thân hay tâm đều vô thường vô ngã. Hãy quán xét chân lý
này cho đến khi nào ta hiểu được rõ rằng nụ cười của sụ chết trên đôi mắt
của chúng ta.
Chính đống thịt hư
hoại đang nằm đây là Saccadhamma, chân lý - chân lý nằm trong thân xác và
lời dạy không di dịch của đức Phật. Phật dạy chúng ta phải nhìn vào thân
thể, quán niệm và thấu hiểu bản chất của nó.
Chúng ta phải sống
an lạc với nó dù nó ở trong bất cứ tình trạng nào. Phật dạy chúng ta phải
luôn nhớ, biết rằng chỉ có thân thể mới bị giam trong tù ngục, còn đừng để
tinh thần cũng bị giam hãm trong đó.
Đức Phật dạy: Sinh
ra, già cỗi, bệnh hoạn rồi chết. Đây là chân lý vĩnh cửu mà chúng ta đang
phải đối diện. Đó là bản chất tự nhiên của thể xác, không thể nào khác đi
được. Hãy nhìn lại thân xác với con mắt của trí tuệ và thấy ra chân lý. Dù
ngôi nhà chúng ta bị ngập lụt hoặc thiêu đốt trong tâm. Hãy để tâm rũ bỏ
mọi quán niệm. Chân lý này được áp dụng cho tất cả chúng ta ngay cả đức
Phật và các Thánh đệ tử của Ngài.
Cuộc đời lạ lùng,
mỗi cuộc đời là một sự mâu thuẫn, một chân lý mới, một phép lạ mới. Chúng
ta phải bỏ tất cả tư tưởng và lăn mình vào cuộc sống, cuộc đời mâu thuẫn.
Đây không phải là bi kịch, chỉ bi kịch là khi người ta sợ mâu thuẫn, chân
lý là sự bí mật!
Con người chúng ta
ngày trước, bây giờ không còn nữa, con người hồn nhiên ấy cũng chết theo
dòng đời. Đôi mắt chúng ta ngày nay không còn là đôi mắt của ngày xưa.
Chúng ta là một kẻ khác lạ, không phải là chúng ta nữa.
Có khi nào chúng
ta ra phố và giật mình nghe chúng ta cười tất cả những điều thảm thương ở
trần gian, sự ngộ nhận khắp nơi, sự xung đột đời đời, sự hung dữ tàn ác,
những điều làm con người trở nên một vật nham hiểm, chúng ta cười sự chết.
Chúng ta phải
thương yêu tất cả nhân loại, yêu cả những kẻ thù, yêu cả những điều chúng
ta ghét, yêu hết mọi vật ở trần gian này.
Chúng ta phải biết
rằng rồi đây chúng ta sẽ chết, bởi thế nên chết là một thực tại, sống cũng
là một thực tại, chết không thể nào tránh được cũng như sống không thể nào
tránh được. Chúng ta đã sống một thời gian dài. Mắt chúng ta đã thấy nhiều
hình thể, màu sắc. Chúng ta đã có đủ thứ kinh nghiệm, và tất cả chỉ là vậy
- những kinh nghiệm - chúng ta đã nếm nhiều đồ ăn ngon và vị ngon chỉ là
vị ngon, chẳng có gì hơn, vị dở cũng chỉ là vị dở, chỉ thế thôi.
Nếu mắt có thấy
hình sắc đẹp thì chỉ là hình sắc đẹp, vật xấu chỉ là vật xấu, tai nghe một
âm thanh du dương, lôi cuốn thì cũng chỉ có thế, chẳng có gì hơn. Một âm
thanh chói tai, khó nghe thì cũng chỉ vậy thôi.
Đức Thế Tôn đã dạy
dù nghèo hay giàu, già hay trẻ, người hay vật, không một ai trong thế giới
này có thể giữ tình trạng nguyên thủy. Mọi vật đều thay đỗi và thành khác
đi. Đây là một thực tế của cuộc đời mà ta không cách nào sửa đổi.
Tuy nhiên, đức Thế
Tôn dạy điều ta có thể làm là quán sát thân và tâm để thấy tính vô ngã của
nó, để thấy không có cái nào là “Tôi” hay “Của Tôi”. Chúng ta chỉ có tình
trạng tạm thời. Cũng giống như ngôi nhà này, chỉ là của chúng ta trên danh
nghĩa, nhưng ta không thể mang nó theo bất cứ nơi đâu. Cũng vậy, tài sản,
sự nghiệp, gia đình được ta, tất cả chỉ là của ta trên danh nghĩa, chúng
không thực sự thuộc về ta, chúng thuộc về lẽ tự nhiên.
Chân lý này không
thể chỉ áp dụng cho bản thân ta mà cho tất cả mọi người, ngay đức Thế Tôn
và các vị Thánh đệ tử của Ngài. Họ chỉ khác chúng ta ở một điểm là họ chấp
nhận bản chất mọi thứ là như vậy, không có cách nào khác hơn. Do đó, đức
Thế Tôn dạy chúng ta nên phân tích và quán sát thân thể này, từ gót chân
lên đến đỉnh đầu, rồi trở ngược xuống gót chân. Hãy thử nhìn ta thấy những
gì? Có cái gì thực sự sạch sẽ không? Ta thấy cái gì thường còn không? Cả
thân thể này chắc chắn đang tan hoại và đức Thế Tôn dạy ta thấy rằng nó
không thuộc về ta. Lẽ dĩ nhiên thân thể là như vậy. Bởi các hiện tượng hữu
vi đều biến đổi, ta làm sao muốn chúng khác hơn?
Thực ra, chẳng có
gì sai lầm khi thân thể là như vậy, không phải thân thể làm ta đau khổ, mà
chính là cách suy nghĩ sai lầm của ta. Khi ta thấy cái đúng thành sai thì
sẽ gặp phiền não. Nên ta phải sống trong những giây phút thiên thu bất
diệt. Giờ đây, ta thấy ta có thể làm bất cứ chuyện gì trên đời này. Ta
phải sống trọn vẹn với ta. Ta không còn đau khổ nữa. Ta chấp nhận đau khổ
“Không có sự đổ vỡ nào mà vô phương cứu chữa. Tất cả ý nghĩa cuộc đời nằm
trong chữ “đau khổ”. (H. Miller). Chính sự đau khổ đã làm cho cuộc đời trở
nên có ý nghĩa và đáng sống. Ta không còn than van oán trách nữa. Ta cười,
ta thường nghĩ đến sự đau đớn và sau cùng ta chỉ biết cười. Sống là thiêng
liêng. Đau khổ cũng thiêng liêng, không có sự đau khổ, ta không thể nào đi
vào được bên trong cuộc đời và không thể nào hiểu được những bí mật của
đời người. Không có sự đau khổ ta sẽ nằm triền miên trong giới hạn, chán
cuộc sống tẻ nhạt. Sự đau khổ làm phong phú tâm hồn ta. Biết đau khổ mà
không than mới là chân lý của đời.
Sự đau khổ là
phiền não. Cũng giống như nước sông chảy xuôi dòng một cách tự nhiên,
không bao giờ chảy ngược. Bản chất nó là như vậy.
Nếu một người đứng
trên bờ sông, thấy được nước đang chảy nhanh xuôi dòng, lại ngông cuồng
muốn nó chảy ngược lên thì anh sẽ đau khổ. Dù anh ta có đang làm bất cứ
điều gì thì cách suy nghĩ sai lầm của anh ta cũng sẽ làm cho anh ta không
có chút yên tĩnh tâm hồn. Anh ta sẽ đau khổ vì quan niệm và suy nghĩ sai
lầm, muốn đi ngược dòng. Nếu anh ta biết đúng, anh ta sẽ thấy là phải chảy
xuôi dòng; và bao lâu mà anh ta chưa thấy ra và chấp nhận điều đó, anh ta
sẽ xáo trộn và bất an.
Thân thể chúng ta
cũng vậy từ trẻ rồi già đến chết. Đừng mong nó khác hơn. Chúng ta không có
khả năng sửa đổi. Phật dạy chúng ta đừng có quyến luyến và chấp nhận bản
chất của nó. Chúng ta phải lấy tâm buông bỏ làm trú xứ. Tiếp tục hành
thiền, dù ta đang mệt mỏi, kiệt sức. Để tâm an trú vào hơi thở, niệm
“Buddho”. Tập cho thành thói quen. Càng đuốí sức càng tạp trung vi tế hơn,
như thế có thể chịu đựng những sự đau đớn về thể xác vừa sinh khởi. Khi ta
cảm thấy mệt mỏi ta đừng suy nghĩ lại và chỉ biết có hơi thở, chỉ giữ niệm
trong tâm: Buddho-Buddho. Ta rũ bỏ mọi thứ bên ngoài. Để tâm tập trung vào
một điểm duy nhất và dùng tâm đã an trú theo dõi hơi thở - chỉ để hơi thở
là đối tượng duy nhất của tâm. Tập trung đến khi nào tâm càng ngày càng
gạn sạch, mọi cảm xúc không cò mạnh mẽ nữa mà chi còn sự tinh khiết nội
tâm rộng lớn cùng sự tỉnh thức. Lúc đó, nếu cảm giác đau đớn có sanh khởi
thì nó cũng sẽ tự tan biến. Phương cách này, đừng đem bất cứ gì theo chúng
ta. Phải nhận biết và sau khi đã biết rồi, hãy buông bỏ.
Ngôi nhà thực sự
của chúng ta là sự an tĩnh nội tâm. Ngôi nhà vật chất bên ngoài có thể rất
đẹp đẽ, nhưng nó không mấy an tĩnh. Có những mối bận tâm này rồi mối bận
tâm kia, lo âu này rồi lo âu kia. Bởi thế nó không phải là ngôi nhà thật
sự của chúng ta. Nó ngoài ta và sớm muộn gì rồi ta cũng xa rời nó. Đó là
nơi ta không thể sống vĩnh viễn, bởi nó không thật sự thuộc về ta. Nó là
một phần của thế gian, thân thể ta cũng tương tự như vậy. Ta cho nó là
“Ngã”, là “Ta”, là “Của Ta”. Nhưng thực sự không phải như vậy, nó cũng là
một ngôi nhà khác của thế gian, vì thế cho nên đức Phật dạy:
Các
hành đều vô thường
Bản
chất thường sinh diệt
Có
sinh tất có diệt
Ngưng
nó được là chân hạnh phúc.
VÀI DÒNG LƯU BÚT
GỞI VỀ QUÝ VỊ TĂNG NI
SINH THÂN MẾN
Giáo sư Trần Phương Lan
Phụ trách Môn Anh văn Thuật
ngữ
Thấm thoát bốn năm
học tại Học Viện này sắp trôi qua. Tất cả sinh viên đã và đang chuẩn bị
đầy đủ hành trang bước vào cuộc đời rộng rãi hơn cuộc đời học trò trong
mái trường hiện tại. Sau nhiều năm dùi mài học tập, giờ đây tất cả quý vị
sẵn sàng tiến lên theo hướng đời mình đã chọn lựa bấy lâu.
Trong suốt thời
gian quý vị học với tôi, tôi đã nhận thấy quý vị khóa này cũng như quý vị
khóa trước đều nổ lực học tập môn “khó tiêu” này, và đa số đã đạt kết quả
tương đối tốt. Những khuôn mặt vui tươi chăm chỉ và ý thức cầu tiến của đa
số quý vị đã khích lệ tôi trong việc giảng dạy một môn học còn khá mới lạ
đối với số đông, nhưng tôi vẫn luôn hy vọng sau khi quý vị đã vượt qua
những khó khăn ban đầu, quý vị sẽ nhận thấy ích lợi lâu dài của việc
nghiên cứu kinh điển qua Tiếng Anh và dần dần quý vị sẽ cảm thấy thích thú
khi mình càng ngày càng tiến bộ để đáp ứng với nhu cầu học tập của các thế
hệ Tăng Ni trẻ trong tương lai.
Tôi vẫn luôn ghi
nhớ những tình cảm thân thiết quý báu mà cả hai lớp Tăng Ni khóa IV này
dành cho tôi trong những năm học qua những dịp lễ Nhà giáo, Lễ Quốc tế Phụ
nữ và ngay cả trong sinh hoạt bình thường ở trong và ngoài trường lớp.
Tôi hy vọng sau
khi rời Học Viện, tất cả quý vị vẫn luôn tinh tấn trau dồi phẩm cách đạo
đức và tiếp tục trang bị thêm kiến thức của một sứ giả Như Lai để hòa nhập
vào cộng đồng Phật Giáo thế giới sánh vai cùng các pháp hữu năm Châu và
làm rạng danh Phật Giáo Việt Nam trong thời đại toàn cầu hóa này.
Thân chúc tất cả
Quý vị được thành công như ý trên đường tu học và hoằng pháp sau này.
PÀLI
MỘT MÔN HỌC KHÓ “ƯA”?
Đại đức Thích Tâm Đức
“Sư phụ”, hai
tiếng thật thân thương làm sao! Đó là âm thanh mà tôi thường được nghe mỗi
lần gặp gỡ các Tăng Ni sinh của HVPGVN tại Saigon, và thú thật, tôi cũng
không ngờ mình lại có nghiệp duyên với nghề dạy học mà môn đầu tiên lại là
Pàli, một cổ ngữ Phật Giáo thật khó “ưa”.
Nhưng dù thế nào
đi nữa mình cũng phải bằng cách nào đó giúp Tăng Ni sinh chuyển “thành
kiến” với môn học này, và trước hết, sau khi “test” trình độ và tâm lý của
TNS tôi đã có những cách dạy và phong cách thích hợp.
Mỗi TNS được nhận
những “bửu bối” là những bảng tóm tắt ngữ pháp ngắn gọn và được khích lệ
lên bảng làm bài tập trong tinh thần “cả lớp cùng làm”, “sai càng tốt”,
“học vì thực chất chứ không phải vì điểm thi ...” Môn học được làm “kêu”
lên bởi có thêm chữ viết Devanagari và thầy trò cùng học với nhau trong
tinh thần “huynh đệ”.
Thế rồi, thời gian
trôi qua, số lượng TNS ngày càng tăng thêm trong việc hiểu và thích thú
môn học Pàli này, một môn học đã phổ biến từ lâu không những ở các nước
Phật Giáo Nguyên thủy như Thái Lan, Tích Lan ... mà còn phổ biến ở các
nước Phật Giáo Đại thừa như Nam Triều Tiên, Nhật Bản, Đài Loan; thậm chí
còn được khá phổ biến ở các nước phương Tây. Ngay ở Anh Quốc có hội Pàli
Text Society chuyên dịch Tam Tạm Pali ra tiếng Anh. Một môn học thật cần
thiết cho việc nghiên cứu tư tưởng Phật Giáo Nguyên thủy thẳng vào nguyên
bản, nhưng ở Việt Nam cho đến nay vẫn còn quá ít người hiểu biết.
Và thật khích lệ
biết bao khi càng ngày có thêm những âm thanh thân thương “Sư phụ ơi, sư
phụ mà dạy sớm hơn một tí nữa thì tụi con đỡ biết mấy!”, “Con đi Thái Lan
học mấy năm mà vẫn chưa biết được nguồn gốc của chữ Pàli và mãi đến nay
mới biết được", “Sư phụ ơi, tụi con học Pàli là vì sư phụ đó! ...”
Cuối cùng, tôi rất
mừng khi thấy có những TNS đã thật sự thích thú và nắm vững được căn bản
của môn học này, và hy vọng họ sẽ phát huy hơn nữa và truyền bá ra trong
tương lai sau khi ra trường và cũng qua đó mà thâm nhập vào tinh hoa tư
tưởng của Phật Giáo Nguyên thủy mà giá trị của nó như đã được một học giả
Nhật Bản nổi tiếng, Kimura Taiken, nhận xét: Ta sẽ không hiểu đúng tư
tưởng Phật Giáo Đại thừa nêu không hiểu được tư tưởng Phật Giáo nguyên
thủy”.
Mong sao môn Pàli
được phổ biến hơn nữa và đến tận mọi trường Phật học trên cả nước Việt Nam
thân thương của chúng ta.
Mắt Thiền nhìn Xuân
GS. Hoàng Thiệu Khang
Cố giáo sư Hoàng Thiệu Khang
đã đến với chúng ta với tất cả tầm lòng đầy nhiệt
huyết của một con người luôn hy sinh tất cả để rồi trở về
cõi hư vô. Trong cái cõi
vô thường ấy luôn luôn hiện hình ảnh của một bông hoa mỹ
miều và tươi đẹp.
Chính đóa hoa vô thường ấy đã tạo cho vườn hoa thẩm mỹ
Phật Giáo ngày càng
phong phú hơn. Để tưởng nhớ và trước ân những gì mà cố
Giáo sư đã cống hiến và
để lại trong ký ức của mỗi Tăng Ni chúng ta. Ban Biên Tập
Kỷ Yếu xin trích đăng
bài viết sau đây của cố Giáo sư.
Lịch trình tư
tưởng thiền học là sự khỏi cái Thường để thấy được cái Vô thường, khỏi cái
Ngã để tiến tới cái Vô ngã. Lịch trình Mỹ học của Thiền học là sự nhìn
nhận chân phạm trú cái Bi để tiến lên cái Đẹp nơi từng nhân cách. Hai lịch
trình đó là linh hồn của Thiền học.
Như vậy, Thiền là
tư tưởng triết học, cũng vừa là thái độ, cách thể sống của con người Giác
ngộ.
Con người Giác ngộ
ấy, trước hết bộc lộ mình nơi con mắt nhìn cõi tự nhiên và nhìn cuộc sống.
Đó là đôi mắt đạt đến độ Tuệ Nhân.
Bằng đôi mắt Tuệ
Nhân ấy, các vị Thiền sư đã nhìn cảnh mùa xuân. Đó là ý niệm thời gian của
bậc minh triết.
Mùa xuân được
Thiền su cảm nhận như là một tương đối của cái Vô thường tuyệt đối. Đó là
thời gian được hiện tượng hóa, vật thể hóa, biểu thị cho quy luật đang vận
hành ẩn tàng trong vũ trụ. Đó là dòng chảy mang tính chất tự nhiên, khách
quan.
Mãn Giác Thiền sư
đã nhìn Xuân:
Xuân trôi trăm hoa rụng
Xuân tới trăm hoa cười
(Xuân
khứ bách hoa lạc
Xuân
đáo bách hoa khai).
Vạn Hạnh Thiền sư
cũng đã nhìn mùa xuân:
Cây cối xuân tươi, thu não nùng (Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô)
Trung tâm nội dung
của những câu kệ và câu thơ trên được nằm trong ý nghĩa của hai chữ “Vô
tình”. Nó không mang nghĩa thông thường, nghĩa tâm lý, tình cảm (thờ ơ,
lạnh nhạt ...) đó chỉ là một thuật ngữ triết học. Nó chỉ định tính chất
khách quan của quy luật. Đã là quy luật thì không phụ thuộc vào bất cứ ý
chí ý muốn chủ quan nào cả, không thiên ái thiên vị. Như vậy “Vô tình” là
một khái niệm nằm trong phạm trù Vô thường. Dưới một thác nước từ trời cao
đổ xuống thì nhà sang hay nhà hèn ... đều bị cuốn trôi như nhau.
Tư tưởng này cũng
được Lão Tử đề cập tới trong trong chương V của Đạo Đức Kinh:
Trời đất không có Nhân
Coi
vạn vật như loài chó rơm
Thánh nhân không có Nhân
Coi
trăm họ như loài chó rơm.
(Thiên
địa bất Nhân
Dĩ vạn
vật vi sô cẩu
Thánh
nhân bất Nhân
Dĩ
bách tính vi sô cẩu).
Thoạt nghe thấy lạ
lùng! Nhưng nếu hiểu cái nghĩa đích thực của chữ “đạo” thì sẽ hết thắc
mắc. Đạo là cái luật lạnh lùng của trời đất, không tư vị ai cả nên gọi là
“bất nhân”. Bậc Thánh nhân đã là Đại giác lẽ Đạo nên cũng hành xử theo quy
luật. Về sau Lão Tử nói rõ cái nghĩa hai chư “bất nhân” này trong bài “Sô
Cẩu”.
Như vậy, cặp mắt
nhìn vũ trụ trong Vô thường là cặp mắt khám phá được luật biến động, vận
động, đổi thay ... của vũ trụ, dẫu chúng đã hiện hành nơi cõi tự nhiên hay
đang âm thầm tiềm ẩn.
Cặp mắt Đại giác
ấy đã nhìn vào cõi nhân sinh. Cõi ấy cũng Vô thường. Nó luôn luôn vận động
tuyệt đối, một thay đổi liên tục “Thế gian biến cải vũng nên đồi” (Nguyễn
Bỉnh Khiêm), hay “Sông xưa rày đã biến nên đồng”.
Trước cái lẽ biến
đổi bất tận ấy, con người phải cảm nhận và xử sự như thế nào? Đó là cái lẽ
thứ hai của Thiền.
Vạn Hạnh Thiền sư
đã nhìn vào thân để chiêm nghiệm:
Thân như bóng chớp có rồi không
(Thân
như điện ảnh hữu hoàn vô)
Như vậy, đừng bao
giờ nghĩ rằng cái thân của ta là vĩnh viễn có, là Thường. Tất cả tạo vật,
con người đang sống chỉ là ở “trọ” mà thôi.
“Con chim ở đậu cành tre
Con
cá ở trọ trong khe suối nguồn ...
Trăm năm ở trọ ngàn năm”
(Trịnh Công Sơn)
Lầm tưởng mình là
có cũng vì cái căn ngã của mình còn nặng. Thường và Ngã là hai biểu hiện
tập trung của ngộ nhận, của cái Bi thẩm mỹ. Tất cả đều là trong sự điều
hành vô hình của Vô thường. Cho nên đừng mải miết đi trong cõi phù du mờ
mịt của thân ta đòi hỏi:
“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi
đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên hai vai ta hai vầng nhật nguyệt
Rọi
suốt trăm năm một cõi đi về”.
Con người phải
tiến được đến cách thể Vô ngã. Có như thế thì con người mới được an nhiên
tự tại. Đã thức nhận được thân như là bóng chớp, thức nhận được “cây cối
xuân tươi, thu não nùng” thì không còn cảm giác sợ hãi:
“Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi”
(Nhậm
vận thịnh suy bô bổ uý)
Ta coi thịnh cũng
như suy đều chỉ là tạm thời. Chúng đều nhẹ như giọt sương đọng trên lá cỏ
(Thịnh suy như lộ thảo đầu phô). Vả chăng trong thịnh có suy và trong suy
có hàm chứa một tiềm năng, một khả thế của thịnh. Nhìn được thịnh suy như
vậy mới thanh thản tinh thần. Lão Tử cũng đã nói cái nghĩa ấy trong một
câu ở chương XIII của Đạo Đức Kinh: “Vinh trên thì nhục dưới” (Sủng vị
thượng, nhục vị hạ), đó chính là lẽ biện chứng nhân sinh.
Lại nữa thịnh suy
cũng chỉ là những cái diễn ra trong cõi hiện tượng, cõi “sự vật cho ta”
(E.Kant) mà thôi. Thật ra là cõi huyễn tượng.
Giác Hải Thiền sư
đã nhìn vào cái tươi tốt rộn rã của mùa xuân bắng cặp mắt Đại giác ấy:
Xuân sang hoa bướm khéo quen thì
Bướm liệng hoa cười vẫn đúng kỳ
Nên
biết bướm hoa đều huyễn ảo
Thấy hoa mặc bướm để lòng chi
(Xuân
lai hoa điệp thiên tri thì
Hoa
điệp ưng tu cộng ứng kỳ
Hoa
điệp bản lai giai thị uyển
Mặc tu
hoa điệp hướng tâm trì)
Tất cả thế giới
hiện hình chỉ là một cõi bát ngát của huyễn ảo. Cho nên cũng đừng bị huyễn
hoặc bởi nó. Không bị huyễn hoặc nữa thì lòng ta thanh thản. Lúc ấy nói
như Thiền sư Hiện Quang:
Mông mênh quăng đồng ruộng
Tùy
ý tự rong chơi
(Vô vi
cư khoáng dã
Tiêu
dao tự tại thân)
khỏi Thường và Ngã
con người trở thành lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống. Thiền sư Mãn Giác
đã phát biểu tư tưởng ấy:
Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng hết
Đêm
qua sân trước một cành mai
(Mặc
vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình
tiền tạc dạ nhất chi mai).
Không phải đến mùa
Xuân sau, ngay trong mùa Xuân tàn này vẫn đang chất chứa một tiềm năng của
sự sống sinh nở. Đó là cái nhìn biện chứng của Thiền.
SỰ TIẾP NHẬN PHẬT GIÁO
CỦA GIỚI TRÍ THỨC
(Trích “Giáo dục Phật Giáo trong giai đoạn hiện đại”
tại buổi hội thảo về Giáo dục Phật Giáo do
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam tổ chức -1995)
Giáo sư Hoàng Như Mai
Theo sự nhận xét
và suy luận của tôi, Phật Giáo đến với giới trí thức gặp nhiều khó khăn
trở ngại. Tôi nói đây là nói về trí thức nói chung chứ không phải trí thức
này hay người trí thức khác cá biệt.
Giới trí thức Việt
Nam xưa, quen gọi là giới Nho sĩ, từ nhỏ, nếu không nói từ trong thai, đã
học đạo Khổng, Ý thức của họ được hình thành và phát triển theo quỹ đạo
của đạo Khổng.
Đạo Khổng là học
thuyết của giới cầm quyền, trị nước, đạo Khổng đào tạo ra những con người
sẽ lãnh trách nhiệm cầm quyền trị nước, vốn được mệnh danh là quân tử.
Quân tử nghĩa chữ là con của vua. Quân tử là những người cai tri, bọn
thường dân được gọi là tiểu nhân, nghĩa chữ là người nhỏ. Quân tử đức
phong tiểu nhân đức thảo thảo thượng phong phi.
Trái lại, đạo Phật
là đạo của chúng sinh, trong phạm vi nhân loại, là quần chúng đông đảo.
Như vậy, những
người được đạo Khổng đào tạo đứng ở vị trí đối lập với đạo Phật. Xin được
nhắc lại nói vậy là nói chung về nho sĩ, chứ cũng có những nho sĩ hiểu và
có cảm tình với đạo Phật như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du ... thì đó là
những người cá biệt.
Giới trí thức hiện
nay, nếu không được trực tiếp đào tạo bởi đạo Khổng thì thông qua gia
đình, sử sách, phong tục tập quán ... vẫn chịu ảnh hưởng nhất định của
Khổng giáo, và đó là một bức tường thành, hoặc ít nhất là một sự vật cản
ngăn cách họ với đạo Phật.
Nói về phương pháp
tư tưởng thì đạo Khổng chủ yếu là duy lý. Đã chịu ảnh hưởng duy lý của
Khổng giáo qua truyền thống, họ lại bị nhồi sọ bỏi chủ nghĩa duy lý và tư
tưởng khoa học phương Tây từ nhỏ đến lớn suốt cuộc đời. Các thế hệ từ đầu
thế kỷ XX chủ yếu là được đào tạo từ các trường học theo chương trình giáo
dục Pháp hoặc ở trong nước hoặc ở nước ngoài. Kiến thức, phương pháp, tư
tưởng của họ được đúc khuôn phương Tây. Rốt cuộc họ trở nên xa lạ với văn
hóa phương Đông mà họ không hiểu, vì thế không chấp nhận, có chấp nhận
kiểu nào chăng thì cũng là miễn cưỡng để khỏi mang tiếng là vong bản.
Trong những điều
kiện ấy, Phật Giáo không được họ đón nhận, nếu không đến được với họ thì
cũng rất khó khăn và không có gì đảm bảo chắc chắn là đã được hiểu rõ.
Tôi tự lấy mình
làm dẫn chứng.
Khi đọc trong sách
về những công án thì cách suy nghĩ duy lý trong tôi phản ứng ngay. Thí dụ
tiếng vỗ của một bàn tay. Tại sao lại một bàn tay mà làm được tiếng vỗ?
Muốn có tiếng vỗ thì phải hai bàn tay vỗ vào nhau chứ. Hoặc nói về sắc
không cũng vậy. Làm sao vừa có vừa là không. Lý luận duy lý không thể chấp
nhận dưới diện đó.
Khi nói về Nhân
quả, Luân hồi v.v... thì cái học vấn khoa học trong tôi phản đối quyết
liệt. Làm sao chứng minh những điều này một cách khoa học để được thuyết
phục.
Đúng như một
truyện Phật Giáo đã kể: tôi như một ly nưóc đã đầy đến tận miệng những trí
thức khoa học, những luận lý duy lý, rót thêm vào thì nước chỉ tràn ra
ngoài thôi. Hơn thế nữa, thứ nước cũ và thứ nước mới lại khác nhau, đối
kháng nhau không thể hòa với nhau.
Muốn được tiếp
nhận được nước mới, phải đổ hết nước cũ, không để một chút cặn. Nhưng làm
thế nào thực hiện được, dù có muốn đi nữa. Trong tôi không phải chỉ là
nước trong ly, những trí thức luận lý, khoa học ấy đã tạo thành nhân cách
tôi rồi.
Cái khó của người
trí thức hiện nay đến với đạo Phật là như vậy.
Đối với các thế hệ
trí thức trẻ tuổi còn khó hơn nữa. Các con, các cháu tôi sinh ra, lớn lên
trong thời đại khoa học kỹ thuật độc tôn, bá chủ này lại càng khó tiếp
nhận đạo Phật. Chỉ một chữ “từ bi”, một chữ “nhẫn” đã gây chúng một sự
phản đối kịch liệt. Chúng nhất quyết khẳng định - xin lỗi các vị - ấy là
một triết lý chủ bại, đưa đến tàn lụi, diệt vong. Chỉ khoa học kỹ thuật,
kinh tế mới cứu nhân độ thế được thôi. Quả thật, cái ý thức hệ của lớp trẻ
nói chung bây giờ là như vậy. Nói sao với họ?
Tôi thấy không
phải chỉ mới gần đây, mà đã từ nhiều năm qua, có những xu hướng hiện đại
hóa Phật Giáo, cả về nôi dung tư tưởng và phương pháp giáo dục.
Cập nhật hóa,
thích ứng, hòa nhập vốn là quy luật của tiến hóa. Đối tượng là những con
người cụ thể, những con người ngày nay, Phật Giáo cũng phải nói với họ
bằng ngôn ngữ ngày nay, không thể nào khác.
Nhưng tôi có sự
cảm nhận, chưa thật chính xác, về mấy vấn đề cần suy nghĩ.
Một là, tôi được
đọc, cũng ít thôi và chưa kỹ, một số sách của phương Tây, của phương Đông,
của Việt Nam, trong đó có cả Thiền Luận nổi tiếng của Suzuki, tôi thấy có
những điều cốt lõi, tinh túy của đạo Phật bị giản lược đi. Phải chăng vì
những điều ấy xa lạ, xa vời, khó cảm thụ đối với người đời nay. Nhưng, như
thế có đúng với chân diện mạo của đạo Phật không? Tôi không đủ tư cách và
trình độ để trả lời, xin đề đạt câu hỏi đến các vị.
Hai là như trên đã
nói, nói đạo là nói với từng con người cụ thể, trong những hoàn cảnh cụ
thể, ở vào những thời đại cụ thể, thuộc những vùng cụ thể, những nền văn
hóa cụ thể, những dân tộc cụ thể. Cho nên dường như có nhiều sự dị biệt,
thậm chí đi đến chỗ đối nghịch. Cái gốc thì là một, những cành nhánh thì
cành là cành bống, cành đông, cành tây, cành năm, cành bắc, càng lên cao
càng lên ngọn càng rậm rạp, đương nhiên như thế là phát triển và cây càng
cao bóng càng cả, nhưng liệu tất cả có phải từ gốc mà ra, hay có khi là
tầm gửi sống nhờ vào cây. Không phải cây, rồi lấn cành, có thể đến một lúc
nào đó trông cây thì xum xuê, nhưng phần lớn chỉ là tầm gửi, lúc ấy sẽ nói
thế nào. Tôi mạo muội suy luận như vậy, có gì thất thố mong quý vị lượng
thứ, chỉ là có sự băn khoăn muốn xin lời trấn an của các vị đó thôi.
Ba là, từ nhiều
thế kỷ qua, nói ngay ở Việt Nam thôi, đạo Phật đã bị các hệ triết học, các
hệ tư tưởng khác tấn công, phê phán (thí dụ các nho gia xưa và các nhà Tây
học sau này v.v...). Tất nhiên các nhà Phật học phải trả lời, phải tranh
luận. Theo lô gich học thì trả lời tức là đã chấp nhận cách đặt vấn đề của
người ta, tranh luận tức là phải dùng lý luận của người ta để phản bác
lại, và như thế là đạo Phật đã dời khỏi chỗ đứng của mình, từ bỏ phương
pháp đặc thù của mình (tôi nói rõ: trong những trường hợp trả lời, tranh
luận) và tự đặt vào thế chống đỡ, và nếu được phép, các vị không quở
trách, tôi xin nói đạo Phật đã xa vào kế dụ địch, như thế có bất lợi
chăng? Tôi nghĩ đến một câu tục ngữ của dân gian rất chất phác nhưng cũng
rất sâu sắc: “Phật ở trên tòa, khi nào gà dám mổ mắt”. Cho nên, theo ý
riêng của tôi, Phật Giáo không cần trả lời, tranh luận.
Bốn là thời đại
hiện nay, khoa học kỹ thuật được một thế lực áp đảo, lên ngôi bá chủ. Tự
nhiên tất cả những hoạt động ý thức khác tự thấy muốn tồn tại phải xin làm
chư hầu. Bất cứ lĩnh vực nào khoa học cũng xâm nhập, bất cứ cái gì cũng
phải được giải thích bằng khoa học thì mới có sự thuyết phục. Khoa học là
chân lý duy nhất, tuyệt đối. Đạo đức, Văn học, Nghệ thuật v.v... và cả tôn
giáo nữa cũng đều tự biện hộ bằng khoa học, tự phát huy bằng phương pháp
khoa học.
Như thế là sai.
Mỗi hoạt động tinh thần đều nhằm đáp ứng một trong nhiều nhu cầu của con
người, chúng có định vị rõ ràng của chúng trong bộ nào, chúng có phương
thức vận động đặc thù của chúng. Khoa học không phải là vạn năng, mà có
giới hạn của nó, chí ít thì hiện nay nó chưa đủ sức giải đáp được mọi vấn
đề cuộc sống của con người đặt ra.
Thế kỷ trước, nhà
triết học thực nghiệm Auguste Comte đã tuyên bố chủ quan và bồng bột:
triết học giải phóng nhân loại khỏi những sự khủng khiếp của tôn giáo,
khoa học xác thực, đề ra phương pháp thực nghiệm đã vượt qua sự hiểu biết
triết học. Chính do vượt từ thời đại này lên thời đại khác (tôn giáo, khoa
học, siêu hình) mà nhân loại tiến lên.
Chính các luận
điệu ấy, nổi tiếng chừng vài ba chục năm đã bị vượt. Khoa học hiện nay
phát triển cao hơn chính Auguste Comte nhiều, đã tỏ ra biết điều và khiêm
tốn hơn nhiều.
Các quan niệm tôn
giáo là di sản của thời kỳ mông muội càng sớm thanh toán càng tốt đã bị
bác bỏ. Kết luận được đông đảo các nhà khoa học tán thành là tôn giáo rất
cần, ít nhất cho sự định hướng phát triển văn hóa nhân loại và điều hòa
những sự quá khích. Lịch sử đã chứng minh điều đó và điều đó vẫn đúng
trong tương lai.
Tôi đã có lần nghe
giáo sư Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, một nhà khoa học kỹ thuật lớn, hơn nữa một
nhà khoa học quân sự nổi tiếng nói: Coi như khoa học kỹ thuật ngày nay có
một khả năng rất lớn, làm gì cũng được, nhưng nói Cách mạng Khoa học kỹ
thuật thì khoa học phải được hiểu là khoa học tự nhiên, khoa học xã hội,
khoa học nhân văn và trước hết là triết học và mỹ học. Người ta vẫn phải
biết ý nghĩa của việc làm và làm gì thì cũng nhằm mục đích cho nhân loại
sống đẹp. Cho nên khoa học kỹ thuật phải được hướng dẫn bởi triết học và
mỹ học.
Ý kiến thật sâu
sắc, và chúng ta có thể nói thêm: Và tôn giáo, vì nhân loại cần có niềm
tin vào cải thiện. Như thế cổ xe tam mã Chân-Thiện-Mỹ dẫn nhân loại đi
lên.
BẠCH CƯ DỊ HỌC THIỀN
(^)
Đề một bài thơ về “Kinh Viên Giác”
Biết rằng mọi tướng thảy đều hư
Nếu trụ vô dư vướng hữu dư
Lời nói quên lời liền liễu ngộ
Trong mơ kể mộng chất thêm mơ
Hoa không muốn quả sao thành quả
Ánh nắng đơm ngư há được ngư
Nhiếp động là Thiền Thiền lại động
Không Thiền chẳng động ấy như như.
Phật lịch 2543-1999 Kỷ Mão
Sa Môn Thích Thanh Kiểm dịch
GIÁO DỤC PHẬT
GIÁO ĐỐI DIỆN NHỮNG VẤN ĐỀ HIỆN ĐẠI
(^)
Giáo sư Minh Chi
Bất cứ người nào
có nghiên cứu Phật học, có kiến thức về giáo lý đạo Phật như được ghi
trong ba tạng kinh điển, đều thừa nhận đang có một khoảng cách lớn, phân
biệt đạo Phật trong kinh điển (mà tôi tạm gọi là đạo Phật lý thuyết) với
đạo Phật ở ngoài đời, trong cuộc sống thực tế.
Đạo Phật lý thuyết
là đạo Phật lý tưởng. Khoảng cách giữa lý tưởng và thực tế là chuyện tất
nhiên và tất yếu. Bởi lẽ nếu không có khoảng cách đó giữa đạo Phật lý
tưởng và đạo Phật thực tế thì mọi người chúng ta đều thành Phật cả rồi, và
cõi đất này là cõi Phật rồi.
Vì vậy, khi suy
nghĩ và nói tới khoảng cách đó qua các sự kiện thực tế, tôi không có mục
đích gì khác là tự nhắc nhủ mình và nhắc nhủ mọi người luôn luôn có ý thức
về khoảng cách đó và phấn đấu hết sức mình để thu hẹp khoảng cách đó.
Chính với tinh
thần và thái độ như vậy mà tôi xin có một vài suy nghĩ về một sự đổi mới
phương pháp, hình thức và nội dung của giáo dục Phật Giáo trong thời đại
hiện nay.
1. Đổi mới
về Hình Thức và Phương Pháp Giáo Dục Phật Giáo:
a. Trong giáo
dục Phật Giáo, thân giáo là quan trọng hàng đầu.
Điều này ai cũng
biết cho nên không cần nói nhiều. Cái khó là chúng ta không làm, không
muốn làm hay không làm được.
Tôi cho rằng, một
trong những nguyên nhân khiến cho đạo không được truyền bá được vào đời
một cách rộng rãi, khiến cho giáo dục Phật Giáo có hiệu quả hạn chế là vì
chúng ta coi nhẹ thân giáo, tức là những người làm chức năng giáo dục Phật
Giáo, phải thực hành từ đó gợi cho người khác thực hành hàng ngày, hàng
giây phút những giá trị cao cả của đạo Phật trong cuộc sống của mình.
b. Mở rộng đội
ngũ giáo dục.
Cho đến nay, chúng
ta thường hạn chế số người làm chức năng giáo dục trong Tăng sĩ, và giờ
giáo dục Phật Giáo trong các buổi thuyết pháp hay là lên lớp ở các trường
Phật học Trung cấp và Cao cấp. Một quan điểm như vậy làm giảm sút hiệu quả
của giáo dục Phật Giáo rất nhiều. Tất cả mọi người không kể là xuất gia
hay tại gia, một khi đã tin vào chân lý của những giá trị triết lý đạo đức
của đạo Phật và sống theo đúng những giá trị đó, đều mặc nhiên trở thành
những nhà giáo dục Phật Giáo, bằng thân giáo, bằng tư tưởng, hành vi và
lời nói của mình. Mọi người hãy có ý thức đầy đủ về điều này, và không nên
nghe những người nói rằng truyền giáo dục thì phải có văn bằng, học vị,
học hàm phải nói cho hùng hồn, điệu bộ cho oai vệ. Suy nghĩ như vậy sẽ lầm
to và rất có hại cho sự nghiệp truyền bá của đạo Phật.
Trần Thái Tông,
một ông vua Phật tử của đời Trần, đã viết trong Khóa Hư Lục rằng:
“Mặc vấn đại ẩn
tiểu ẩn, hưu biệt xuất gia tại gia, bất câu Tăng tục, chỉ yếu biện tâm,
bản vô nam nữ, hà tu trước tướng”. (Không
phân biệt là sống giữa đời hay sống ẩn dật trong rừng, không phân biệt tại
gia hay xuất gia. Tăng hay tục chỉ cốt biện tâm. Vốn không nam nữ, sao lại
còn chấp tướng?)
Có thể nói đạo ý
bình đẳng của Phật không có phân biệt đối đãi xuất gia và tại gia, nam và
nữ, già và trẻ. Tất cả mọi người đều có mầm giác ngộ sẵn có ở trong mình,
tức Phật tánh, cho nên đều có thể thành Phật. Đạo lý bình đẳng này thấy rõ
trong một số Kinh Đại Thừa như Kinh Duy Ma Cật, Kinh Thắng Man đã được
dịch ra tiếng Việt. Duy Ma Cật là một Trưởng lão có gia đình, nhưng trình
độ giác ngộ của ông ngang với Bồ Tát Văn Thù. Phu nhân Thắng Ma cũng có
một vị trí cao tương tự. Trong Kinh Pháp Hoa ở phẩm 26, một Long Nữ mới 8
tuổi, nhờ nghe Ngài Văn Thù thuyết pháp mà trở thành Đại Bồ Tát, và trong
nháy mắt dùng thần thông biến ngay thành nam giới rồi thành Phật. Những
truyện như vậy có thể không được Phật Giáo Nam tông chấp nhận, nhưng đứng
về tinh thần mà nói, chúng nói lên được truyền thống bình đẳng và phá chấp
của đạo Phật, và truyền thống này có ngay từ thời đức Phật còn tại thế.
Phật giáo Việt Nam
từng có Ni sư Diệu Nhân đời Lý là một Thiền sư nổi tiếng thuộc dòng Thiền
Tỳ Ny Đa Lưu Chi, có Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ đều là những cư
sĩ và là nhà Phật học xuất sắc đời Trần. Học trò của hai vị này gồm cả
Tăng sĩ và cư sĩ. Một học trò xuất sắc của Tuệ Trung chính là Trần Nhân
Tông, là Tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần. Một học trò thứ hai
của Tuệ Trung là Pháp Loa, là vị Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm và là
người đứng ra san định bản thảo Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, đã được cư sĩ
Trúc Thiên dịch ra Việt văn. Trong thời hiện đại, chúng ta có cư sĩ Tâm
Minh Lê Đình Thẩm, là một nhà Phật học lớn, nhiều Tăng sĩ vốn là học trò
của ông, nay giữ nhiều vị trí chủ chốt trong Giáo hội Phật Giáo Việt Nam.
Ở nước Phật Giáo
nào cũng vậy, cư sĩ bao giờ cũng chiếm số đông, họ lại là người có kiến
thức thế tục khá rộng, nếu họ có thêm kiến thức nội điển nữa thì họ sẽ trở
thành những nhà giáo dục Phật Giáo, những nhà truyền giáo rất tốt, rất có
hiệu quả. Tăng sĩ vốn số lượng ít hơn, tất nhiên cũng làm chức năng giáo
dục và truyền giáo, nhưng trước hết họ là những người duy trì kỷ cương
xuất thế của đạo, và điều này cũng rất quan trọng trong cuộc sống văn minh
vật chất của thế giới hiện nay. Nói tóm lại, phải thu hút rộng rãi tầng
lớp cư sĩ vào đội ngũ giáo dục và truyền giáo của đạo Phật. Đó là một
trong những biện pháp chủ chốt để rút ngắn lại khoảng cách giữa đạo Phật
lý thuyết và đạo Phật trong thực tế, trong đời sống.
c. Một vấn đề mang
tính cấp thời là dùng rộng rãi tiếng dân tộc, tức Tiếng Việt, trong công
tác giáo dục và truyền giáo, bớt dùng chữ Hán, nhất là đối với các kinh
Nhật Tụng. Các bản dịch của Đại Tạng kinh Việt Nam phải được nhuận văn thế
nào hoặc đông đảo Phật tử đọc và hiểu được, và áp dụng được nội dung và
đời sống hàng ngày, vấn đề này quá rõ cho nên tôi không nói nhiều.
II. Giáo dục
hướng nội và đặc biệt coi trọng môn Duy Thức học
Về nội dung giáo
dục, phải rất chú trọng môn Tâm lý học Phật Giáo, tức là môn Duy thức học.
Cho đến nay ở các nước phát triển của phương Tây, người ta chú trọng
nghiên cứu thế giới bên ngoài hơn là nội tâm con người. Nói thế giới bên
ngoài bao gồm cả xã hội và thiên nhiên. Do đó mà các ngành Khoa học tự
nhiên ở phương Tây rất phát triển, tạo ra nhiều thành tựu thần kỳ trong
lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, dẫn tới một sự tăng trưởng vũ bão
của lực lượng sản xuất. Thành công đó của khoa học kỹ thuật phương Tây
không thể phủ nhận được. Thế nhưng trong các ngành Khoa học xã hội thì chỉ
có ngành Xã hội học (Sociology) là phát triển tương đối. Ngay Mác, khi dẫn
chứng một điểm trong Luận cương của Phơ Bách cũng khẳng định con người là
tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Nhưng trên thực tế, theo quan điểm của
triết học và tôn giáo phương Đông, đặc biệt là Phật Giáo thì nội tâm con
người là cả một thế giới mênh mông sâu thẳm, mà mãi tới thế kỷ XX, Sigmund
Freud mới sơ bộ phát hiện ra, và trên cơ sở đó xây dựng môn Phân tâm học
nổi tiếng của ông.
Chúng ta biết là
để trình bày môn Phân tâm học, một môn học rất mới mẻ đối với người phương
Tây, Freud đả phải sáng tạo ra một pho ngữ vựng Phân tâm học với những
danh từ, động từ và hình dung từ rất lạ tai v.v... Thế nhưng môn Tâm lý
học Phật Giáo, cụ thể là môn Duy Thức học Phật Giáo, so với môn Phân tâm
học của Freud, đã phân tích nội tâm của con người sâu sắc và chi tiết hơn
nhiều, khiến cho những học trò danh tiếng của Freud như Formn, Carl Jung
đã theo nghiên cứu Phật học, và trở thành môn đệ của Thiền sư Nhật Bản
Suzuki. (Xem Thiền và Phân tâm học - các bản Anh và Việt văn).
Vì không chú trọng
đời sống nội tâm, cho nên ở các nước công nghiệp rất phát triển của phương
Tây, con người có thể rất nhiều tiền và đầy đủ mọi tiện nghi của đời sống
nhưng lại thiếu đi sự bình an của nội tâm và do đó cũng ít có hạnh phúc.
Một nhà báo người Mỹ nói: “Về vật lý học, chúng ta đang ở thời đại nguyên
tử; về mặt tâm lý học, chúng ta đang ở thời đại đồ đá”. Một hình ảnh khác
có sức gợi cảm mạnh hơn, là hình ảnh của một con người, một chân thì buộc
vào chiếc máy bay phản lực, còn chân kia thì buộc vào một chiếc xe bò kéo.
Sự mất thăng bằng
giữa Tâm lý học (hết sức lạc hậu) và các môn Khoa học tự nhiên, đặc biệt
là Vật lý học (hết sức phát triển), giữa nội tâm tán loạn hôn mê vì dục
vọng và ngoại cảnh đầy cám dỗ, kích thích và diễn biến cực kỳ nhanh chóng
(thời đại hiện nay là thời đại của tốc độ) là nguyên nhân của bao nhiêu
tai nạn khủng khiếp, bao nhiêu hiện tượng bạo lực, bạo hành khủng bố thật
không sao hiểu được, đang diễn ra hiện nay, có thể nói là hàng ngày. Những
chuyện giết người hàng loạt một cách dã man, không phải chỉ xảy ra ở những
nước lạc hậu, kém văn hóa như ở Campuchia thời Pôn Pốt, ở Rwanda và
Burundi tại Châu Phi hiện nay mà ngay ở trung tâm Châu Âu, ở các nước Nam
Tư cũ, ở Nga tại Tchesnia, ở Mỹ tại Okalahoma, và ở Nhật trong các vụ đầu
độc dưới tàu điện ngầm v.v...
Duy Thức và Trung
Quán là hai đỉnh cao của Phật Giáo Đại Thừa. Hai môn học này bổ sung cho
nhau thay vì mâu thuẫn chống đối với nhau như một vài người lầm tưởng. Nếu
môn học Trung Quán chú ý nhiều tới sự phân tích logic và tư duy biện
chứng, do đó rất thích hợp với các phương pháp khoa học hiện đại, thì môn
Duy Thức học lại chú trọng phân tích nội tâm, kết hợp với t tập Thiền
định. Không phải không có lý do mà Tông Duy Thức còn mang tên Du Già tông.
Du Già ha Yoga là một tên gọi khác của Thiền định, nhưng ý nghĩa của nó có
phần rộng hơn.
Giảng môn Duy Thức
mà không biết kết hợp với tu tập thiền định thì sẽ biến thành mnô học có
tính kinh viện và sách vở. Chính trong những giờ phút ngồi thiền và thực
hành thiền quán hay nội quán mà hành giả thấy mọi sự kiện ngoại cảnh và
nội tâm một cách minh bạch rõ ràng, đúng như chúng tồn tại.
III. Giáo
dục về tinh thần và phương pháp nghiên cứu khoa học, đề cao tính lý trí
trong giáo dục Phật Giáo, chống mọi hình thức giáo điều, cũng như mê tín,
cuồng tín.
Thời đại hiện nay
là thời đại của khoa học và dân chủ. Phương pháp giáo dục Phật Giáo, nếu
đi ngược lại tinh thần khoa học và dân chủ, nhất định sẽ kém hiệu quả,
thậm chí đem lại hậu quả ngược với ý muốn dự định của chúng ta. Nghĩa là
tuyên truyền đạo Phật mà trở lại phản tuyên truyền đạo Phật, biến đạo Phật
thành một trò cười cho số đông.
Gần đây có người
thường nhấn mạnh tính phi lý, tính trái thường của những ngữ Thiền. Đúng
là có một số câu nói nhà Thiền hay là có những hành vi của một số Thiền sư
là khó hiểu, thậm chí không thể hiểu được, đại loạì như câu của Thiền Phái
Lâm Tế: “Gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ” v.v... Tôi không dám phê bình
những câu, những lời Thiền như vậy, mà tôi tin là chỉ có giá trị giáo dục
nhất định, trong những trường hợp cá biệt nhất định giữa Thiền sư và Thiền
sinh, giữa thầy và trò. Tuy nhiên, những câu kiểu như vậy không có một giá
trị giáo dục phổ biến.
Đạo Phật khác với
các tôn giáo Thần khải, không bao giờ phủ định lý trí như là chuẩn mực
đáng tin cậy của Chân lý. Con người là một động vật có lý trí. Tất nhiên
con người còn có tình cảm và ý chí. Nhưng ở nơi con người tình cảm và ý
chí phải được soi sáng và hướng dẫn bởi lý trí. Với lý trí, con người phải
học lập luận một cách logic chặt chẽ, sử dụng thông thạo các thao tác như
suy lý diễn dịch và quy nạp. Do đó, môn Logic học Phật Giáo (Nhân Minh
học) phải được đưa vào dạy ở các trường Phật học Trung cấp và Cao cấp). Đó
là điều hiện nay chúng ta chưa làm, thậm chí ngay cả đối với trường Phật
học Cao cấp, chứ đừng nói gì ở các trường Trung cấp. Khi nói và viết, khi
suy tư, con người phải biết lập luận một cách logic, nghĩa là có lý có lẽ,
chứ không thể suy nghĩ lung tung, viết và nói lung tung, thậm chí cả trong
khi giảng dạy.
Nhà bác học
Einstein nói: “Tôn giáo mà không có khoa học sẽ là tôn giáo mù, khoa học
mà không có tôn giáo thì sẽ là khoa học què”.
Khi Einstein nói
tôn giáo mà không có khoa học là tôn giáo mù, theo tôi là Einstein muốn
nói tới tôn giáo không phải chỉ là lĩnh vực của đức tin thuần tuý, yêu cầu
không được bàn cãi, suy tư , hoài nghi. Tuyệt đối không phải như vậy.
Chính kiểu lập luận như vậy biến tín đồ thành một đám người mù, nhắm mắt
làm theo chỉ thị của những người tự xưng là Đạo sư, hay là Vô Thượng sư
của họ, nhưng trên thực tế đôi khi chỉ là những phần tử cơ hội, có thể
không từ một tội ác nào mà không làm, như Đạo sư của Giáo pháp Aum ở Nhật,
đã cho đầu độc hàng loạt người vô tội, hay là như một số giáo phái ở Mỹ,
tổ chức những vụ tập sát tập thể v.v...
Đạo Phật ngay từ
đầu đề cao vai trò của trí tuệ thay vì niềm tin mù quáng, Phật từng nói
tiếp thu giáo pháp của Phật mà không hiểu cũng không khác gì một cái thìa
đựng mật, nhưng không thể biết mùi vị của mật là gì, Phật lại nói “Chớ có
tiếp thu giáo pháp của ta chỉ vì kính nể Ta, trái lại hãy thử thách nó như
là lửa thử vàng vậy”.
Đạo Phật không bao
giờ tuyên bố vô lý như thế này: “Điều này có thể tin được, vì rằng quá ư
vô lý, điều này là đúng vì không có khả năng xảy ra”. Những điều đó logic
học Phật Giáo, tức Nhân minh học, gọi là thế gian tương vi. Đạo Phật
khuyến khích mọi người hãy lập luận một cách có logic, dựa trên những sự
kiện thực tế của cuộc sống hàng ngày. Một lần Phật nói với một người Bà la
môn: “Có những Bà la môn và Sa môn nói rằng ngày là đêm và đêm là ngày,
nhưng Ta, này Bà la môn, Ta nói đêm là đêm và ngày là ngày”.
Hiện nay có một số
ít người, kể cả một số trí thức, thích kể những chuyện lạ về cõi âm, và
cũng thích bàn về những quyền năng siêu nhiên như bay trên không, đi trên
nước, một thân biến thành nhiều thân, hô phong hoán vũ, sai khiến qủy
thần.
Trong phương pháp
giáo dục Phật Giáo, chúng ta xử lý những vấn đề đó như thế nào?
Trước hết đạo Phật
thừa nhận có nhiều cõi sống khác nhau với cõi người. Có những cõi sống cao
cấp hơn cõi người, mà sách Phật thường gọi chung là chư Thiên. Có những
cõi Trời ở xa, thậm chí rất xa cõi Người trên trái đất này, nhưng cũng có
những cõi Trời ở tương đối gần. Lại có những cõi sống thấp hơn cõi Người,
như cõi sống của loài vật, cõi Qủy đói và cõi Địa ngục. Đạo Phật cũng thừa
nhận con người sau khi chết, mang một cái thân tạm thời gọi là thân Trung
ấm, làm bằng loại vật chất tế nhị, cho nên mắt người không thấy được. Các
thân Trung ấm, sống tối đa 49 ngày, rồi theo nghiệp mà tái sanh hoặc trở
lại làm người hay là qua một cõi khác hoặc thấp hơn hoặc cao hơn cõi
Người. Đó là một mặt của vấn đề. Tức là đạo Phật thừa nhận có những chúng
sinh khác với con người, những cõi sống khác vói cõi Người. Còn gọi họ, và
cõi sống của họ bằng tên gọi gì thì chỉ là vấn đề quy ước mà thôi.
Nhưng một số vấn
đề khác mà đạo Phật rất nhấn mạnh, chúng sinh ở các cõi sống khác nhau, do
nghiệp khác nhau, giác quan khác nhau, cho nên cũng không có quan hệ trực
tiếp với nhau gì (trong các cõi sống khác, có lẽ chỉ có loài vật [animal]
là có quan hệ trực tiếp với cõi người hơn cả). Phúc hay họa đến cho con
người là do con người tạo nghiệp tương xứng, chứ không phải do quỷ thần.
Cho nên, điều người phải làm, không phải là cúng bái qủy thần để được ban
phước hay tránh họa. Họa hay phúc đều do người chứ không phải do qủy thần.
Nếu chúng ta hàng ngày làm điều thiện, nói thiện, nghĩ thiện, nghĩa là
thường xuyên làm việc thiện thì chính quỷ thần cũng kính nể ta, bảo vệ ta,
còn nếu chúng ta hàng ngày làm ác, nói ác, nghĩ ác, thì chúng ta sẽ mang
họa, không chóng thì chày, không có quỷ thần nào cứu vớt chúng ta được. Đó
là thuyết Nghiệp của đạo Phật, một thuyết rất khoa học và công bằng.
Theo tinh thần của
đạo Phật, thì không những quỷ thần không thể can thiệp vào quy luật nghiệp
báo, mà các con người đối đãi với nhau cũng vậy. Người thiện thật sự sống
thiện, nay cũng như xưa thì người ác muốn hại cũng không làm gì được.
Người ác, muốn hại người thiện cũng như kẻ ngu ngửa mặt lên trời mà phun
nước bọt, hay là đi ngược gió mà tung bụi ... người thiện sống giữa đời ác
độc, cũng như một bàn tay không thương tích nhúng vào một bát thuốc độc,
không có quan hệ gì hết.
Còn về vấn đề thần
thông và quyền năng siêu nhiên, đạo Phật có thể đó là sản phẩm của công
phu thiền định, là một cái gì tự nhiên đến với người tu tập thiền định,
trong đạo Phật cũng như ở các đạo khác. Thế nhưng trong các loại thần
thông, thì loại thần thông mà Phật đề cao nhất là “Giáo hóa thần thông”,
hay là nếu nói theo từ ngữ thông thường là “giáo dục thần thông”. Phật nói
đó mới là thần thông thực sự, chuyển hóa con người ác thành con người
thiện, con người ngu thành con người có trí, người dữ thành người hiền ...
Còn các loại thần thông khác như bay trên không, đi trên nước, chui xuống
đất ... đức Phật đều xem như những trò ảo thuật mà đức Phật khuyên học trò
mình không nên làm.
Đạo Phật là đạo
của trí tuệ, của tình thương rộng lớn. Đạo Phật đem lại cho mọi người
nhiệt tình sống cuộc sống đạo đức, sống cuộc sống tâm linh cao cả, cuộc
sống trong sáng, thanh tịnh, đầy lòng bao dung ... Đạo Phật, cũng như bản
thân đức Phật, luôn khuyên mọi người hãy tin ở sức mình, hãy tin ở mình,
hãy tự thắp đuốc lên mà đi ... Chớ có vội tin vì đó là truyền thống do
nhiều thế hệ để lại, chớ tin vì đó là tin đồn, được nhiều người nói tới,
chớ có tin vì đó là điều đã viết thành sách bởi một nhà hiền triết cổ xưa,
chớ có tin vì đó là điều anh thích thú, cho là tân kỳ, và nghĩ rằng đó
phải là do thần hay một vật kỳ diệu nào truyền đạt lại. Chỉ sau khi quan
sát và phân tích, thấy rằng đó là điều hợp với lý trí, đem lại sự tốt
lành, có lợi cho bản thân anh và cho mọi người, thì hãy chấp nhận điều đó
và sống theo điều đó” (Tăng Chi I, Kinh Kalama - Các vị ở Kesaputta).
Đó quả là một lời
dạy đầy minh triết. Nếu tất cả mọi người đều vâng theo lời dạy minh triết
đó, sống tỉnh táo, luôn quan sát và phân tích, dựa vững vàng vào các dữ
kiện thực tế của đời sống, kể cả đời sống nội tâm, thì lịch sử nhân loại,
kể cả quá khứ và hiện tại, sẽ giảm bớt bao nhiêu tội ác, tang tóc và đau
thương, bao nhiêu máu bớt chảy, bao nhiêu nước mắt đỡ tuôn rơi, bao nhiêu
quả tim đỡ tan nát ...
Có người nói đạo
Phật là tôn giáo của niềm tin nhưng không phải là niêm tin ở Thượng đế mà
là niềm tin ở con người, ở lý trí của con người biết phán xét phải trái, ở
trái tim của con người biết yêu thương đồng loại, ở ý chí của con người
biết vương lên cái tốt cái thiện.
Đạo Phật là như
vậy, và toàn bộ giáo dục Phật Giáo trong thời hiện đại phải đổi mới như
vậy, nhằm mục đích như vậy, theo hướng như vậy. Đó sẽ là đạo Phật của
tương lai, của thế kể XXI.
HÒA (^)
TRONG GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO
Giáo sư Cao Huy Thuần
... Tôi vừa nói:
Hòa có mặt tích cực, có mặt tiêu cực.
Hòa có khi làm
nhũn cá tính, không phát huy được sáng kiến, trốn tránh trách nhiệm. lẫn
vào đám đông. Tôi ở Pháp cho nên biết rằng mục đích giáo dục ở Tây phương
là phát huy sáng kiến, đặc tính cá nhân, dám nói khác, làm khác. Tôi cũng
biết rằng quy luật cạnh tranh là đạp lên chân nhau mà bước. Thú thực, đồng
nghiệp của tôi bước lên chân tôi có khi nát cả chân. Đây quả là một vấn đề
xung khắc văn hóa Đông Tây. Chính tôi không biết phải dạy con tôi thế nào.
Trong một tạp chí
ăn khách ở Pháp (Express, 30-7/5-8-1998) tôi có đọc một bài phỏng vấn một
vị Tăng Tây Tạng có tiếng, trí thức, đồng thời cũng là một Giáo sư về văn
hóa Tây Tạng ở đại học Pháp: Dagpo Rinpoche. Câu hỏi mở đầu với chữ Khổ:
- Các tôn giáo Ki
tô gán cho sự khổ một giá trị cứu rỗi. Người ta giải thích rằng khổ giúp
ta đạt đến một tương lai tốt hơn.
Trả lời:
- Phật Giáo không
nghĩ như vậy. Đối với Phật Giáo, khổ không bao giờ được như hoặc được
trình bày như một giá tri. Khổ là phải diệt nó. Tất nhiên, phải thực tế:
ai cũng nằm dưới luật Khổ. Thế thì thay vì để cho khổ dẫm nát, ta hãy dùng
khổ để vươn lên; dùng khổ như là một khí cụ để học cách hiểu mình hơn và
hiểu người khác hơn. Sửa đổi bên trong của mình toàn vẹn, lìa ra khỏi khổ,
điều đó rất cần thiết để phát triển từ bi và có lẽ, sau đó, một thái độ vị
tha: lúc nào cũng nhường phần thắng cho người khác và hạ mình xuống hàng
thứ hai. Người khác đứng đầu, ưu tiên.
Vị Tăng này là
giáo sư, và tất nhiên phải lên trật, lên ngạch, nghĩa là phải dẫm lên chân
của người khác chứ!
Do đó mà có câu
hỏi tiếp theo:
- Đồng nghiệp của
ông muốn chiếm chỗ của ông. Ông nói với người ấy thế này chăng: “O.K, tôi
xuống hàng thứ hai? Có thể nào dung hòa từ bi với cạnh tranh?
Trả lời:
- Cạnh tranh là
cái mặt đối chọi lại với những gì tôi vừa nói, bởi vì dựa trên trên quyền
lợi cá nhân, nhưng không phải vì, về mặt tâm linh, tôi nhường chỗ thắng
cho người khác mà tôi nhất thiết phải biến mình thành Thánh tử đạo và để
cho kẻ khác dẫm chân! Hy sinh về mặt vật chất cho người khác, điều đó
chẳng đem lợi lộc gì đến cho người khác cả. Thật ra, điều mà ta cần thay
đổi là cách suy nghĩ của ta: trong trường hợp nghề nghiệp chẳng hạn, thay
vì trước đây chúng ta tranh giành nhau chỉ vì mục tiêu vị kỷ, bây giờ hãy
thử tập hành động vì lợi ích toàn thể và làm theo những quy tắc đạo đức.
Tôi nghĩ rằng vị
Tăng đó sống thực như vậy. Và tôi phục. Vì sao? Vì vị Tăng sống với tục mà
vẫn sống Đạo được như thường, là chuyện quá khó.
Giới luật Phật
Giáo là giới luật của Tăng và giữa Tăng với Tăng, nghĩa là cùng ở trong
một đoàn thể thuần nhất, cùng Đạo, cùng chia sẻ những giá trị giống nhau,
cùng tu, cùng nhằm mục đích như nhau. Trong một đoàn thể thần nhất như
vậy, chữ Hòa sẽ không còn mặt tiêu cực nữa, mà chỉ còn mặt tích cực. Nói
như hiến pháp của Vua Thánh Đức, trong một đoàn thể thuần nhất như vậy.
Hòa quả là có địa vị tối thượng. Không có Hòa thì không làm gì được hết.
Tôi đọc quyển
Cương Yếu Giới Luật của Hòa thượng Thiện Siêu trang 69 nói về Lục Hòa,
trang 84 và trước đó nói về phá Hòa hợp Tăng, trang 107 về Giới trường,
trang, 137, 138 về Kiết ma phi tướng. Hòa thượng nhấn mạnh: Hòa hợp triệt
để, chứ không phải chỉ là thiểu số phục tùng đa số.
Trang 132: Thuyết
giới tự tứ cốt là Hòa, nếu không Hòa thì làm sao mà thuyết! Và Tăng Hòa ở
đây là gì? Là tránh bốn việc: ngôn tránh, mích tránh, phạm tránh và sự
tránh.
Mỗi một việc ngôn
tránh là vĩ đại rồi. Miệng mồm người ta vốn là đầu mối của bất hòa.
Ở trang 138, cũng
vẫn nói về Kiết ma phi tướng, nói “hòa hợp triệt để”, cũng chưa đủ, Hòa
thượng còn thêm: “Hòa hợp triệt để 100% mới hợp lệ”. Cho nên, Hòa là một
trong bảy yếu tố để một chúng Tỳ kheo hưng thịnh. Thế nào là một chúng Tỳ
kheo hưng thịnh và một chúng Tỳ kheo thối đọa? Tôi đọc Tăng Chi Bộ Kinh do
Thượng tọa Chơn Thiện trích dẫn (trang 438- Phật học khái luận):
“Một chúng Tỳ kheo hưng thịnh khi nào thực hiện được 7 điều:
Điều 1: Chúng Tỳ
kheo thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo.
Điều 2: Tụ họp
trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc Tăng trong
niệm đoàn kết”.
Nói chữ hòa trong
Phật Giáo có lẽ nói mãi không cùng. Trung đạo là gì, nếu không phải là
hòa, không phải chỉ hòa với chung quanh mà còn hòa với chính chúng ta.
Trong Tăng Chi Bộ Kinh mà tôi vừa trích, Phật dạy một cư sĩ như thế này,
khi ông ấy hỏi làm thế nào để một cư sĩ tại gia sống hạnh phúc an lạc ngay
trong hiện tại và hạnh phúc an lạc trong tương lai: “Này cư sĩ, có bốn
pháp đưa đến hạnh phúc hiện tại, đó là: đầy đủ sự tháo vát, đầy đủ sự
phòng hộ, làm bạn với thiện, sống thăng băng điều hòa”.
Thế nào là sống
thăng bằng điều hòa? Không phung phí, không bủn xỉn.
Từ chuyện nhỏ nhặt
thường tình đến chuyện triết lý cao xa, ở đâu cũng thấy chữ Hòa. Cho nên
tôi phải nói dài.
Trích “Thượng đế, Thiên
nhiên, Người, Tôi và Ta” Giáo sư Cao Huy Thuần, Đại học Amiens, Pháp.
CẢM NHẬN
QUA QUÁ TRÌNH GIẢNG DẠY TĂNG NI SINH NĂM THỨ TƯ HỌC VIỆN PHẬT GIÁO
VIỆT NAM TẠI TC. HCM (^)
Giáo sư Trương Quang Dũng
Giảng viên môn Khoa Học Quản Lý
Khi được nhà
trường phân công giảng dạy môn Khoa học quản lý cho Tăng Ni sinh năm thứ
4-Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Saigon, tôi đã có nhiều lo lắng bởi các
học viên của lớp thật là đặc biệt và rất lạ lẫm đối với tôi. Tôi luôn suy
nghĩ và tự hỏi rằng, liệu giữa người đứng lớp và người học trò có tìm được
tiếng nói chung một số cách nhìn nhận, giải quyết những vấn đề cụ thể về
công tác quản lý hay không? Nhưng rồi với trách nhiệm của một giảng viên
và lòng tôn trọng đối với Ban Đại diện lớp học, với các học viên là các
nhà tu hành đã làm cho tôi mạnh dạn và tự tin khi đứng trên bục giảng.
Qua những giờ lên
lớp, trao đổi, tọa đàm, tiếp xúc với cá học viên cả trong và ngoài giờ
học, qua quá trình hướng dẫn một số luận văn, tôi đã khám phá ra nhiều
điều thú vị mới mẻ: Đó là những học viên thông minh, chăm chỉ, ham hiểu
biết, vừa nghiêm túc trong học tập, vừa rất chan hòa, mẫu mực trong lối
sống.
Điều làm tôi mừng
nhất là qua thời gian học tập, giữa tôi và các học viên đã tìm được sự
quan tâm chung: đó là kho tàng trí thức vô tận của nhân loại mà tôi và các
học viên đều mong muốn khám phá. Đồng thời tôi cũng nhận thấy rằng: những
gì tôi đã cố gắng đem lại cho các học viên của lớp học này có lẽ còn ít
ỏi so với những gì tôi thu nhận được, đó là sự tận tình chu đáo của Ban
Đại diện lớp học, của đội ngũ nhân viên Văn phòng Học Viện, đó là không
khí học tập nghiêm túc hào hứng, lòng say mê kiến thức của các học viên
... và lớn hơn tất cả, lớp học đã giúp tôi hiểu thêm những con người ở một
môi trường mà trước đây tôi chưa có điều kiện hiểu hết.
Xin chân thành cảm
ơn những thành viên Ban Đại diện lớp học và toàn thể các học viên, những
người thực sự đã đem đến cho tôi một niềm hạnh phúc mới trong sự nghiệp
giảng dạy của mình.
Saigon, tháng 05
năm 2001.
PHONG CÁCH
TÁN TỤNG TRONG LỄ NHẠC PHẬT GIÁO VIỆT NAM
(^)
Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê
Trên thế giới về
cách tán tụng có ba trường phái:
- Bắc Tông hay Đại
thừa gồm có Ấn Độ, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Kinh văn
bằng tiếng Phạn (Sanskrit) để nguyên tiếng Phạn, phiên âm ra bằng tiếng
Trung Quốc, đọc theo cách phát âm của người Trung Quốc, thì gần giống âm
tiếng Phạn, nhưng khi đọc chữ phiên âm theo cách đọc của mỗi nước Triều
Tiên, Nhật Bản hay Việt Nam thì rất xa âm tiếng Phạn, như bài chú Vãng
Sanh (Nam mô a di đà bà dạ v.v...) Có khi tiếng Phạn dịch ra tiếng Trung
Quốc, viết lại bằng chữ Hán như A Di Đà kinh, Tâm kinh Bát Nhã v.v...
- Nam Tông hay
Tiểu thừa gồm các nước Sri Lanka, (Tích Lan), Thái Lan, Cao Miên
(Campuchia), Lào, Kinh chép bằng chữ Pàli, đọc theo âm Pàli, không dịch ra
tiếng bổn xứ.
- Mật Tông (Tây
Tạng, Mông Cổ) kinh gồm những mật ngôn đọc theo một giọng thật trầm.
Sau khi nghe qua
ba cách tụng kinh, chúng ta thấy rằng cách tán tụng trong truyền thống
Việt Nam đứng trong truyền thống Bắc Tông.
Sau khi nghe qua
cách niệm “Nam mô A Di Đà Phật" trong các nước Đông Á, nghe qua vài bài
tụng như chú Lăng Nghiêm, kệ Khai kinh v.v... chúng tôi có những nhận xét
sơ bộ sau đây:
1.- Không có một
thể nhạc Phật Giáo chung cho các nước Đông Á, như cách hát “chant
grégorien” chung cho các nước Tây Âu, Pháp, Ý, Tây Ban Nha v.v... Lời kinh
giống nhau nhưng nét nhạc của cách tụng, tán tuỳ mỗi nước, mỗi vùng mà
thay đổi.
2.- Mặc dù đạo
Phật thành lập từ Ấn Độ, mặc dù một số kinh chuyển từ Trung Quốc sang các
nước Đông Á, nét nhạc trong các bài tụng, bài tán trong truyền thống Việt
Nam không chịu ảnh hưởng của Ấn Độ hay Trung Quốc.
3.- Trong nước
Việt Nam, nét nhạc của các bài tụng, tán thay đổi tùy theo miền, theo
vùng, mà thang âm, điệu thức dùng trong những bài tán, tụng rất gần
thang âm điệu thức của tiếng hát ru, những điệu dân ca đặc biệt của mỗi
vùng.
4.- Có hai điệu
chính thức được dùng: điệu Thiền (như hơi nhạc, hơi hạ trong nhạc
tài tử miền Nam) và điệu Ai. Điệu thay đổi tùy theo nội dung của
bài tán.
Như bài tán “Dương
chi tịnh thủy” ca ngợi Đức Quan Thế Âm không có chi buồn.
“Dương chi tịnh thủy
Biến sái tam thiên
Tánh không bát đức lợi nhân thiên
Pháp giới quảng tăng điên
Diệt tội tiêu khiên
Hỏa
diệm hỏa hồng liên”.
Khi nước cam lộ
được nhành dương liễu (từ Bồ Tát) rải xuống trần, một giọt biến thành ba
ngàn giọt rửa sạch tội lỗi oan khiên. Núi lửa hóa thành bông sen hồng. Bài
tán đó được tán theo điệu Thiền.
Nhưng khi tán bài
tán Nhất điện” có những câu:
“Thân hình bào
ảnh tợ ngân sương. Mạng tợ ngân sương ...” Thân hình chúng ta như hạt
sương trắng buổi sáng. Mạng chúng ta cũng mong manh như hạt sương buổi
sáng. Nhớ tới cái mong manh của cuộc đời nên bài tán được tán theo điệu
Ai.
Điệu thức này cũng
tùy theo hoàn cảnh mà thay đổi.
Như kệ Khai kinh
hay tụng kinh A Di Đà, trong chùa tụng khác, mà trong một đám tang tụng
khác. Từ thực tế trên, có thể kết luận: Cách tán, tụng trong truyền thống
Phật Giáo Việt Nam rất gần gới cách tán, tụng ở các nước trong phái Bắc
tông.
Nhạc Phật Giáo
Việt Nam bắt nguồn từ nhạc đầu tiên Việt Nam, mang hơi điệu nhạc dân gian,
nhạc thính phòng, nhạc sân khấu và nhạc lễ trong cung đình Việt Nam.
VÀI ĐẶC TÍNH CỦA
ÂM NHẠC PHẬT GIÁO VIỆT NAM:
1) Âm nhạc Phật
Giáo Việt Nam là một loại Lễ nhạc:
Nhạc đi đôi với
Lễ, chỉ được tấu trong khi hành lễ, chớ không phải chỉ để nghe cho vui
tai. Mỗi nét nhạc, mỗi bản nhạc đều có liên quan đến một bài kinh, hay một
buổi lễ, mục đích để tạo một bầu không khí trang nghiêm, dẫn con người đi
sâu vào cuộc sống tâm linh, để hiểu thấu nghĩa sâu xa của những câu kinh
và thấm nhuần giáo lý.
Trong đời sống
thường nhật tại các chùa, mỗi ngày thường có ba thời kinh: sáng từ 4 giờ
đến 5 giờ, trưa cúng ngọ 12 giờ, và tối 6,7 giờ.
Mỗi lần đều có
chuông báo chúng gọi Tăng Ni.
Mỗi thời đều có
những bài tụng hay tán riêng.
Như trong thời
sáng thì có kệ Dâng hương, chú Lăng Nghiêm, Thập chú, Bát Nhã, Tâm kinh,
niệm danh hiệu Phật Thích Ca 108 lần, rồi Phát nguyện, Hồi hướng.
Trong thời tối,
thiên về Tịnh độ, nên sau khi Dâng hương, tụng chú Vãng sanh, kinh Hồng
Danh sám hối, kinh A Di Đà, chú Biến thực biến thủy, Phát nguyện, Tam tự
quy y v.v...
Trong thời cúng
Khai kinh, có bài tán Dương chi tịnh thủy, tân Khể thủ, tụng bài tựa Lăng
Nghiêm, trì chú Phổ Âm, chú Đại Bi.
Ngoài các thời
cúng trong chùa, còn có những lễ khác như Phật Đản (ngày sanh của đức
Phật), Thành đạo (ngày đức Phật tìm được chân lý dưới gốc cây Bồ đề), Vu
Lan (mùa báo hiếu), Chẩn tế cô hồn v.v...
Trong dân gian còn
có những lễ Táng, Thinh linh, Tiến linh, Đề phan, Đề vị.
2) Nhạc Phật
Giáo là một loại thanh nhạc. Khi nhạc chỉ để phụ cho lời tán, tụng.
Người Nhật có danh
từ Shômyo, người Trung Quốc đọc ra Sheng ming, người Việt Nam đọc thành
“Thanh minh”. Thanh là tiếng, minh là sáng, sự trong sáng của tiếng nói.
Tiếng Phạn là Saddhavidya.
Trong các nước
Đông Á có tụng và tán. Người Việt ngoài hai lối tụng, tán cơ bản, còn có
niệm, đọc, hô, bạch, tụng, xướng, thinh, tán, niệm Phật niệm hương, đọc
sớ, hô kệ, tụng kinh, xướng danh hiệu Phật, thinh linh, tán những bài ca
ngợi công đức của chư Phật, Bồ Tát ...
Trong những lễ
lớn, khí nhạc mới được dùng đến.
Mở đầu bằng chông
trống Bát nhã. Thường thường người dự lễ tưởng rằng chuông trống đánh từng
hồi. Chính chuông trống đánh theo số chữ trong bài kệ.
Bát nhã hội
(3 lần: 3 tiếng trống, 1 tiếng chuông)
Thỉnh Phật
thượng đường (4 tiếng trống, 1 tiếng chuông)
Đại chúng đồng
văn (4 tiếng trống, 1 tiếng chuông)
Bát nhã âm
(3 tiếng trống, 1 tiếng chuông)
Phổ nguyện pháp
giới (4 tiếng trống, 1 tiếng chuông)
Đấng hữu tình
(3 tiếng trống, 1 tiếng chuông)
Nhập Bát nhã
(3 tiếng trống, 1 tiếng chuông)
Ba la mật môn
(4 tiếng trống, 1 tiếng chuông)
Hồi chuông và
trống luôn đến dứt.
Sau trống chuông
bát nhã, dàn nhạc tấu bài Đăng đàn.
Tiếu nhạc tấu bài
Long ngâm, hoặc Ngũ đối thượng.
Chuông gia trì, mõ
gia trì và tang mở đầu cho bài tán Dương chi tịnh thủy (trong lễ khai
kinh).
Trong lúc tán, nét
nhạc theo câu kinh, nhạc công phải thuộc bài tán. Có khi nhạc tấu bài Lưu
thủy thầy, tức là bản Lưu thủy đờn theo phong cách nhạc lễ.
NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA
HAI CÁCH TÁN, TỤNG TRONG TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
1) “Tụng” là đọc
lớn, lớn hơn “đọc và “niệm”.
“Tán” là ca ngợi,
khen tặng. Tiếng “tán” có thể to hơn tiếng “tụng”.
2) Thanh giọng
được hệ thống hóa trong khuôn khổ của một quãng tám, trong bài “tụng” cũng
như bài “tán”.
3) Thang âm của
bài tụng, có thể 3,4 hoặc 5 (tam, tứ, hoặc ngũ cung). Thang âm trong các
bài tán đều là ngũ cung.
4) Điệu thức
Thiền và Ai đều được dùng trong tụng hoặc tán và tùy nội dung
bài kinh, theo địa phương, theo bối cảnh.
5) Nét nhạc trong
các bài “tụng” tùy theo thanh giọng của những chữ trong câu kinh, và cũng
tùy theo người tụng.
Nét nhạc trong bài
tán thường cố định theo từng bài. Người tán không thể thay đổi nét nhạc.
6) Mỗi chữ trong
câu kinh chỉ được thể hiện theo một âm trong bài tụng (Style sylabique).
Trong bài tán, một
chữ có thể tán với nhiều âm (Style melismatique).
7) Âm vực thâu hẹp
trong bài tụng, và mở rộng trong bài tán.
8) Trong bài tụng
nhịp đều trường canh, mỗi chữ trùng với một tiếng mõ ...
Trong bài tán,
nhịp phức tạp hơn. Chữ quan trọng trong câu kinh, kệ, thường được xướng
theo nhịp ngoại. Tang, mõ đáng theo chu kỳ (rymth cyclique). Trống đánh
theo đối điểm (contre point).
Có ba loại: tán
rơi, tán xắp, tán trạo. Nhịp theo chu kỳ khác nhau.
Ngoài ra những
cách “luyến, lẫy” được quy định rất cẩn thận.
Vì thời gian có
hạn, nên chưa đề cập đến vấn đề nhạc cụ dùng trong các lễ. Bài bản của các
dàn nhạc phụ họa cũng chưa kể hết.
KẾT LUẬN
Âm nhạc Phật Giáo
Việt Nam là một phần của âm nhạc truyền thống Việt Nam, mang tính chất đặc
thù của âm nhạc dân gian, âm nhạc thính phòng, và âm nhạc lễ Việt Nam.
Nét nhạc, điệu
thức, tiết tấu trong âm nhạc Phật Giáo Việt Nam rất phong phú và tế nhị.
Nhạc mang tính
chất thanh thản, nghiêm trang, đôi khi buồn man mác, mà không bi lụy.
Nhạc gợi một bầu
không khí trang nghiêm trầm lặng, giúp cho người tụng kinh và người nghe
kinh có thể tập trung tư tưởng vào nghĩa của lời kinh.
Cách tụng, tán
trong Phật Giáo Việt Nam, ngày nay co xu hướng đi đến chỗ giản dị hóa.
Trong khi tại các nước Đông Á khác, như Nhật Bản, Triều Tiên, nhạc Phật
Giáo được truyền tụng trong các chùa, nghiên cứu để viết thành sách, đã
được trình bày rành mạch trong các cuộc hội thảo khoa học, trong nước Việt
Nam chưa có một công trình nghiên cứu rành mạch về nhạc Phật Giáo. Tôi rất
mong sẽ có những nhà nhạc học để tâm đến nhạc Phật Giáo Việt Nam để cho
những các tán, tụng rất độc đáo của Việt Nam được truyền lại cho thế hệ
mai sau, mà không bị lớp bụi thời gian che lấp và chôn vùi.
Trích nội dung bài nói chuyện
về Âm nhạc Phật Giáo tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Saigon.
HÀNH
TRANG VÀO THẾ KỶ 21
(^)
QUẢNG BẢO sưu tập
Nhân loại đang
bước những bước khởi đầu trên lộ trình vào thế kỷ 21. Dường như con người
càng lúc càng quan tâm nhiều hơn đến những biến chuyển của thời gian. Có
lẽ không phải vì con người đang ngày càng ý thức rõ hơn đến thể mệnh của
thời tính, mà vì con người đang quan ngại nhiều hơn đến các sự kiện xảy ra
theo vận hành của thời gian. Đó là những sự kiện có mối tương quan, tương
hệ sâu sắc đến cuộc sống của con người. Chiến tranh, hòa bình, khủng
hoảng, trật tự, thịnh vượng, nghèo khó, văn minh, lạc hâu, tự do, bất
công, sống, chết, v.v... thuộc đủ mọi bình diện từ cá nhân, gia đình, xã
hội, quốc gia đến quốc tế.
Trong thời đại văn
minh tin học tối tân hôm nay, mỗi sự kiện xảy ra ở tận một lãnh địa xa xôi
nào đó của đại lục Phi châu cũng tức khắc làm xôn xao dư luận tại một nước
nhỏ ở lãnh địa Á châu. Chỉ cần một biến chuyển bất lợi của thị trường kinh
tế tại một xứ nào đó của châu Mỹ La tinh cũng đủ làm xáo trộn tình hình
kinh tế của cả thế giới. Việc đắc thất của tình hình chính trị tại một
quốc gia Âu châu có ảnh hưởng không ít đến sự ổn định và chính sách bang
giao trong khu vực cũng như trên toàn cầu. Thế giới thật đã ngày càng có
mối tương duyên, tương tức gắn bó nhau hơn nhờ những phương tiện kỹ thuật
hiện đại thuộc đủ mọi địa hạt từ thông tin, thương mại, ngoại giao, đến y
khoa, giáo dục, giải trí v.v...
Từ ý nghĩa và bối
cảnh đó đã giúp con người nhận thức thâm tế hơn đến những vấn đề trọng đại
của nhân loại. Trước hết, con người dù với tư cách là cá nhân, cộng đồng
hay quốc gia dân tộc không còn và cũng không thể sinh hoạt biệt lập, cô
lập với những cá nhân, cộng đồng hay quốc gia dân tộc khác. Mối tương quan
liên hệ đó không phải chỉ là giải pháp nhất thời cho đối sách thuộc lãnh
vực bang giao, nó là phương thức trường kỳ để cộng sinh và cộng tiến cho
cả cá nhân lẫn cộng đồng quốc gia và quốc tế. Điều này được xác chứng rõ
nét qua những nhu cầu thiết yếu để sinh tồn của một cá nhân từ cơm ăn, áo
mặc, nhà ở, phương tiện di chuyển, tiện nghi trong mọi môi trường như học
đường, y tế v.v... Rộng hơn nữa trên bình diện quốc gia, những nhu cầu hỗ
tương nhau giữa các nước về mặt ngoại giao, chính trị, quân sự, kinh tế,
xã hội đang ngày càng trọng yếu. Đây chính là lý do tại sao thế giới đang
càng lúc càng xích lại gần nhau hơn qua các hình thái liên minh liên kết
thuộc phạm vi khu vực hay trên toàn cầu.
Khi con người nhận
thấy rằng nhu cầu tương quan tương duyên là cần thiết để cộng sinh và cộng
tiến thì họ cũng ý thức ra được yếu tố quan trọng của sự mở cửa nhận thức,
mở cửa tầm nhìn, của sự bao dung, cảm thông và hợp tác giữa mọi thành phần
xã hội, mọi chủng loại, mọi sắc thái văn hóa đa dạng. Đóng cửa nhận thức
chỉ là cách tự cô lập mình giữa cuộc đời muôn màu muôn vẻ, chỉ là cách
sống lầm lũi trong cái vỏ ốc khép kín và nhỏ hẹp của giáo điều, tín điều,
và thành kiến cố chấp. Mở cửa nhận thức mới có thể tiếp nhận được những
phong phú, những đa dạng, những dị biệt của cuộc sống để sinh phong hóa
đời sống của mình. Mở cửa nhận thức không, chưa đủ, cần phải mở cửa tâm
hồn. Đó là cuộc sống với tấm lòng độ lượng, bao dung, cảm thông để có thể
hợp tác, tương tác, trợ tác cùng nhau thăng tiến trên lộ trình hoàn thiện
đời sống cá nhân và xã hội.
Trong mối tương
quan tương duyên của cuộc sống cộng sinh cộng tiến, con người cũng đã tri
nhận ra được một trong những thành tố quan yếu khác để thành toàn tiêu
đích, đó là sự bình đẳng trong giá trị làm người. Sự tương quan tương
duyên chỉ có thể thực hiện được khi mọi thành tố đều có giá trị hiện hữu
như nhau, nghĩa là không có thành tố nào bị xem là đóng vai trò thứ yếu so
với thành tố khác, điều ấy cũng còn có nghĩa là mọi thành tố đều có chức
năng hỗ tương như nhau, cái này có cho nên cái kia có, và ngược lại, cái
kia cho nên cái này có, cái này không cho nên cái kia không, cái kia không
cho nên cái này không. Một người trong gia đình, trong cộng đồng, trong xã
hội, trong thế giới, cũng như tất cả mọi người, hết thảy đều có giá trị
hiện hữu như nhau. Không ai có thể nhân danh bất cứ lý do gì để chà đạp,
để tước đi quyền sống và quyền làm người của kẻ khác. Mọi phương tiện, mọi
tổ chức, mọi cơ cấu được thiết đặt ra bởi con người phải để phục vụ cho
ích lợi của con người chứ không phải để khống chế, để bách hại hay để gây
khổ đau cho đồng loại. Trong giá trị hiện hữu, con người không thể không
đặc biệt quan tâm đến giá trị hiện hữu của những sinh thể, những vật thể
khác trong hành tinh của chúng ta: thú vật, biển, sông, rừng núi, cây cỏ,
nguồn nước ngọt, không khí, các tài nguyên thiên nhiên v.v... Nổ lực bảo
vệ và trưởng dưỡng một môi trường sinh thái tốt, một nguồn tài nguyên và
thiên nhiên hoàn hảo, sự sống quý giá của muôn thú là bổn phận thiêng
liêng cao quý và cần thiết mà mọi người đều nên làm. Con người không thể
tồn tại được trên hành tinh này nếu không có môi trường sinh thái tốt,
không có nguồn tài nguyên và thiên nhiên hoàn hảo, không có sự hiện hữu
của muôn thú vật khác.
Để duy trì và
trách nhiệm đối với cuộc cộng sinh cộng tiến của nhân loại, con người cần
giữ gìn và phát huy toàn vẹn một xã hội dân chủ pháp trị và một cuộc sống
đạo đức tâm linh thanh khiết. Xã hội dân chủ là một xã hội thể hiện được
đầy đủ tinh thần bình đẳng và tương quan tương duyên giữa tất cả mọi
người. Người dân trong xã hội dân chủ có cơ hội thật sự để đóng góp tâm
nguyện và khả năng của mình vào việc xây dựng xã hội. Chính họ cũng là
người có trách nhiệm và quyền hạn tối hậu trực tiếp quyết định vận mệnh
sinh tử của xã hội họ. Nền pháp trị giúp ổn định đúng vị thế của con người
trong mối tương quan tương duyên với cộng đồng và do đó, kiến lập trật tự
và an sinh cho toàn xã hội. Song song với nền dân chủ pháp trị, xã hội
không thể thiếu cuộc sống đạo đức tâm linh. Vì chính cuộc sống đạo đức tâm
linh thanh khiết mới là nền tảng cơ bản nhất cho mọi xã hội dân chủ pháp
trị. Con người có đạo đức và tâm linh thanh khiết là con người thuần hòa,
hiếu kính, bình tâm, tự chế, trí tuệ, thương yêu, khoan dung, tha thứ, độ
lưọng, vị tha v.v... những đức tính không chỉ mang lại an định, hạnh phúc
mà còn làm cho xã hội phát triển và phú cường.
LỜI NHẮN GỬI
(^)
GS Minh Chi
Có hai cuốn sách
mà tốt nghiệp Đại học Phật Giáo rồi, Tăng Ni sinh phải tiếp tục đọc,
thường xuyên đọc.
Một cuốn chính là
thân tâm chúng ta,. Một cuốn nữa là bản thân cuộc đời, đời của mình và đời
mọi người diễn biến xung qunah chúng ta, trước mắt chúng ta. Hai cuốn sách
đồng thời là hai ông Thầy. Hai cuốn sách đó luôn mở rộng trước chúng ta,
nhưng chúng ta thường lơ là không đọc. Nếu không chịu đọc hai cuốn sách
đó, mà chỉ đọc sách nội điển, ngoại điển thi dù có đọc nghìn vạn cuốn,
hiệu quả không phải không có, nhưng rất hạn chế.
Hai cuốn sách đó
chính là ngọn đèn mà Phật đã từng nói đến trong Kinh Đại Bát Niết Bàn:
“Hãy lấy tự mình làm ngọn đèn ... hãy dùng chánh pháp làm ngọn đèn ...”
Tự mình là thân
tâm mình, cuộc đời là mình. Học chính Pháp cũng là để đối chiếu với thân
tâm mình, đời mình. Hãy suy ngẫm kỹ!
VÀI SUY NGHĨ VỀ ĐẶC TRƯNG CỦA GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
(^)
Giáo sư Trần Tuấn lộ
1. Giáo dục
Phật Giáo thời đức Phật còn sống
Nếu kể từ khi đức
Phật Thích Ca truyền bá Giáo pháp cho mấy người học trò đầu tiên của mình
là 5 vị đạo sĩ tại vườn Nai gần Benares (Ba la nại) trong đó có Kiều Trần
Như (Kondanna) thì giáo dục Phật Giáo đã có một lịch sử 2583 năm, trong đó
45 năm do chính đức Phật trực tiếp thực hiện.
Giai đoạn ngắn
ngủi 45 năm này trong lịch sử giáo dục Phật Giáo có những đặc điểm sau
đây:
Một là, nhà giáo
dục, vị thầy, vị sư phụ đầu tiên của giáo dục Phật giáo là đức Phật, người
đã tự mình tìm ra được chân lý, đã chứng ngộ giáo pháp và đã tự thành
Phật, đồng thời tự thành vị Phật có khả năng truyền bá giáo pháp đầy đủ và
có hiệu quả nhất nên được gọi là Samma Sambuddha (Chánh biến tri). Khi
chưa thành Phật, nghĩa là chưa tìm ra chân lý và chứng ngộ giáo pháp, Ngài
đã từ chối lời mời của hai vị đạo sĩ Alàra Kàmàla và Uddaka Ràmaputta mời
Ngài làm người dẫn dắt, giáo dục các môn đệ của họ, vì Ngài nghĩ rằng khi
Ngài chưa tìm được chân lý và chưa chứng ngộ Giáo pháp thì làm công việc
dẫn dắt như vậy có khác gì người mù dẫn dắt người mù. Một nhà giáo dục như
Ngài, một vị Phật, một đấng Chánh biến tri, một bậc Toàn giá, một vĩ nhân
có tình thương tinh khiết nhất, có trí huệ sáng suốt nhất và có cuộc đời
cao thượng nhất, là một nhà giáo dục vĩ đại nhất.
Hai là, sự giáo
dục của đức Phật là sự giáo dục bằng lời nói giản dị, dể hiểu mà có ý
nghĩa vô cùng sâu xa và đầy thuyết phục, bàng tấm gương đạo đức trong sáng
của Ngài và bàng sự chứng ngộ diệu kỳ của chính bản thân Ngài mà không cần
đến sách vở kinh điển nào cả.
Ba là, sự nghiệp
giáo dục của đức Phật chỉ trong 45 năm mà đạt được một kết quả kỷ lục:
Ngài đã giáo dục được biết bao nhiêu người đi theo Ngài để được giải thoát
từ đạo sĩ Kondanna là đệ tử đầu tiên đến đại đức Subhada là đệ tử cuối
cùng, trong đó có cả Vua cha, cả Công chúa Da Du Đà La, cả con trai La Hầu
La v.v... Tất cả họ đều đã đắc đạo quả cao để trở thành những bậc Tu đà
hoàn, A la hán v.v... trong đó có cả 500 vị đại đệ tử A la hán v.v... mà
đứng đầu là đức Ananda và đức Upali - những người đã cùng nhau ôn lại và
sắp xếp những lời Phật dạy thành ta Tam Tạng kinh mà chúng ta đang có hiện
nay.
Bốn là, có được
những đệ tử xuất sác như vậy, đức Phật đã thành lập được Giáo hội Tăng Già
với 60 vị A la hán làm thành viên đầu tiên với tư cách là đoàn thể tu sĩ
xuất gia và độc thân để hoằng dương giáo pháp trong thế gian, đồng thời
đức Phật cũng khẳng định rằng một người cư sĩ cũng có thể sống đời cao
đẹp, phù hợp với giáo pháp và đắc đạo quả. Như thế là giáo dục Phật giáo
trong thời đức Phật còn sống đã nhờ có đức Phật, có giáo pháp của đức Phật
và có Giáo hội đã trở nên hoàn chỉnh với đầy đủ Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng.
2. Giáo dục
Phật giáo từ sau khi Phật đã nhập diệt
Từ sau khi đức
Phật đã nhập diệt đến nay, giáo dục Phật giáo thuộc về một giai đoạn mới:
Đó là sự giáo dục không phải của chính đức Phật và của các đệ tử của Ngài
khi Ngài còn sống, mà là sự giáo dục của Giáo hội Phật giáo đối với các
Tăng Ni và đối với các cư sĩ, theo giáo pháp của đức Phật, đã được ghi lại
trong Tam Tạng kinh.
Tất nhiên là trong
giai đoạn này, trừ 500 vị đại đệ tử A la hán đã làm nên Tam Tạng kinh ghi
những lời Phật dạy mà các vị đã trực tiếp được nghe đã trực tiếp nhận được
giáo dục của chính đức Phật, tôi nghĩ rằng không có ai ngày nay có được
cái diễm phúc là học trò trực tiếp của đức Phật và do đó, cũng không có ai
có được cái trình độ như các vị A la hán đó. Nếu so với sự giáo dục của
đức Phật thì không ai sau đức Phật kể cả 500 vị A la hán nói trên, có được
trình độ và năng lực giáo dục như đức Phật. Dĩ nhiên là như vậy.
Nhưng điều đáng
mừng, để được an ủi, là đức Phật đã để lại cho đời sau một giáo pháp
nguyên vẹn và vô cùng phong phú qua bộ Tam Tạng kinh. Đức Phật cũng để lại
một Giáo hội do Ngài thành lập mà ngày nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam
chúng ta là một hình thức dân tộc mang tính lịch sử của di sản Giáo hội
Tăng già thời đức Phật. Và trên hết là biểu tượng đức Phật mà Phật tử
tưởng niệm, nhớ ơn, cầu nguyện và thờ cúng. Nói cách khác, cấu trúc hệ
thống Phật-Pháp-Tăng của giáo dục Phật giáo vẫn không hề thay đổi.
Chính vì thế, giáo
dục Phật giáo ngày nay cũng như trong lịch sử, vẫn có và vẫn giữ nguyên
những đặc trưng cơ bản của nó trong mục đích giáo dục, trong nội dung giáo
dục và trong phương pháp giáo dục.
3. Mục đích,
nội dung và phương pháp đặc trưng của giáo dục Phật giáo
Mục đích đặc trưng
của giáo dục Phật giáo là sự giải thoát khỏi mọi sự khổ đau, phiền não
muôn thuở vốn có của cuộc đời, của mọi kiếp sống của bất cứ ai. Đó là mục
đích cao nhất, khó nhất, phải trải qua nhiều kiếp sống mới đạt tới được,
nhưng đối với bất cứ ai cũng có thể đạt tới, không trong kiếp này thì
trong một kiếp sau nếu biết và cố gắng kiên trì đi theo giáo pháp của đức
Phật. Đó là Niết Bàn, là hạnh phúc tối cao và vĩnh viễn.
Sự giáo dục không
phải của Phật giáo, tôi muốn nói đến giáo dục của nhà nước và của các tổ
chức chính trị xã hội, cũng là sự giáo dục có mục đích giải thoát con
người khỏi cái khổ của ngu dốt, của đói nghèo, của lạc hậu, của nô lệ của
bất công, của bóc lột, của áp bức v.v... mà nhà nước và xã hội thường gọi
là sự giải phóng: giải phóng cá nhân, giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp, giải phóng phụ nữ, giải phóng nhân loại ... Nhưng có giải phóng được
hết các nỗi khổ mang tính lịch sử nói trên, có người vẫn khổ với cái khổ
muôn thuở, truyền kiếp của sự sống: sinh. lão, bệnh, tử v.v...
Vì thế tôi hiểu ra
tại sao bên cạnh sự giáo dục theo hệ thống của nhà nước và của xã hội, con
người vẫn cần có sự giáo dục của Phật giáo, chừng nào còn có cái khát vọng
giải thoát hiểu theo nghĩa của Phật giáo.
Nội dung đặc trưng
của giáo dục Phật giáo, nội dung giáo dục thuần túy của Phật giáo là Phật
Pháp, bao gồm Giới-Định-Tuệ, một hệ thống các quan niệm và quan điểm triết
học, tâm lý học, đạo đức học và giáo dục của Phật giáo mà hạt nhân là Tứ
diệu đế và Bát chánh đạo.
Tuy nhiên, trong
khi đi theo con đường mà đức Phật đã chỉ để tìm tới sự giải thoát, người
Phật tử, Tăng Ni cũng như cư sĩ còn phải sống với xã hội và trong xã hội
và còn phải làm nghĩa vụ của người công dân đối với Tổ quốc. Vì thế, người
Phật tử vẫn còn phải cần học văn hóa phổ thông và học nghề trong một
trường học nào đó thuộc một bậc đại học, ngành học nào đó thuộc một bậc
đại học, ngành học nào đó của hệ thống giáo dục quốc dân. Đó cũng là lý do
vì sao ngay trong một trường Phật học cũng có học một số môn học không
phải là môn Phật học.
Ngược lại, tôi
nghĩ rằng, nhà nước cũng nên tổ chức cho học sinh đến một lớp nào đó, ở
Phổ thông và ở Đại học, được học để biết một số kiến thức nhất định và
chính xác về Phật giáo và Công giáo hoặc một vài tôn giáo nữa hiện có ở
Việt Nam. Đó là vì con người Việt Nam chúng ta hiện nay và sau này phải là
con người biết biết tôn trọng tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng,
mà muốn thế thì phải biết nội dung cơ bản của từng loại tín ngưỡng, và đó
là vì mỗi tôn giáo không chỉ là sự tín ngưỡng mà còn là một nên văn hóa
(triết học, tâm lý, đạo đức học, giáo dục học, kiến trúc, điêu khắc, âm
nhạc, văn hóa, hội học v.v... của tôn giáo đó).
Phương pháp đặc
trưng của giáo dục Phật giáo là phương pháp tự giáo dục, tự rèn luyện, tự
thể nghiệm bằng thực hành những điều Phật dạy (thực hành Bát Chánh Đạo)
với sự giúp đỡ của Tam bảo. Con đường đi tới Chân lý - sự giải thoát -
Niết Bàn là ở trong tâm của mỗi con người, Phật đã dạy như vậy, mà đã là ở
trong tâm thì phương pháp giáo dục của Giáo hội Phật giáo phải chuyển hóa
thành phương pháp tự giáo dục của bản thân người được giáo dục. Sự giáo
dục nhận thức, giáo dục trí tuệ, giáo dục tài năng đã phải là như vậy, thì
sự giáo dục tình cảm, giáo dục ý chí, giáo dục đạo đức lại càng phải như
vậy.
Con đường đức Phật
đã đi để tìm đến được Chân lý, đến được Niết Bàn, đến được sự giải thoát
là con đường do đức Phật tự tìm ra và tự đi theo với trí tuệ, với tình cảm
và với ý chí của riêng mình, không có ai và không cần ai giúp đỡ cả.
Ngài đã nói: “Chỉ
có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm, chỉ có ta tránh điều
tội lỗi, chỉ có ta gột rửa cho ta. Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta.
Không ai có thể làm người khác trở nên trong sạch ” ... “Các con phải tự
mình nổ lực, các đấng Như Lai chỉ là đạo sư ...” “Hãy tự xem con là hải
đảo của con. Hãy tự xem con là nương tựa của con. Không nên tìm nương tựa
nơi ai khác”.
Nổ lực và kiên trì
của cá nhân là chính nếu không nói là duy nhất. Ngày nay, dù đã có Tam bảo
(Phật-Pháp-Tăng), nhưng sự nổ lực và sự kiên trì thực hành của bản thân
Phật tử theo Bát Chánh đạo mà Phật đã chỉ ra là nhân tố quyết định.
KINH BÁT NHÃ VÀ
ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO (^)
Giáo sư Phan Lạc Tuyên
Cao siêu vô cùng
và vẫn là một khám phá liên tục không ngừng nghỉ đối với con người mỗi sát
na biến chảy trong suốt cuộc đời phù du và hữu hạn thì Đại Bát nhã Ba la
mật Tâm kinh (Maha Prajna paramita Sutra) hiện lên như mặt trời tối
thượng, rực rỡ làm cho con người thấy rõ được cái “bản lai diện mục”
và thấy rõ Phật tâm.
Phải chăng hiện
thân của Bouddha chính là Bát nhã, và ánh sáng tối thượng của Bát nhã,
hình ảnh nhục thể của Bouddha và của ta nữa sẽ không còn tồn tại vì như
Bodhdharma đã nói với đệ tử: Phật là một tiếng Ấn Độ chứ không phải là tên
một người và có nghĩa là giác ngộ, linh giác”, mà mọi người đều có thể đạt
đến được”.
Cái tâm Phật chính
là cái tâm Bát nhã, cái tâm của con người đã không còn nữa. Đó là cái tâm
không có khái niệm (nondefinition mind) cái tâm mà không một khái niệm nào
có thể dung chứa được. Cái tâm Bát nhã đã phá vỡ cái tâm có khái niệm, do
con người đặt ra và nô lệ vào con người.
Con chim đại bàng
Bát nhã đã rời bỏ đỉnh núi hạn hẹp của cái tâm thế nhơn mà bay lên vũ trụ
vô cùng và vĩnh hằng, với ánh sáng kỳ diệu Bát nhã, đã nhìn rõ nỗi đau khổ
vì tham, sân, si của con người chồng chất hơn cả cát sông Hằng (Gange).
“Quán tự tại Bồ
Tát, hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không,
độ nhất thiết khổ ách”.
(Đức Quán tự tại
tức là đức Quán Thế Âm trong khi thi hành Bát nhã Ba la mật đa tức là nền
hạnh đức trí tuệ sâu xa và rốt ráo, đưa Bồ Tát đến quả vị Phật, thời thấy
năm uẩn đều không, sự soi thấy như vậy độ thoát khỏi các sự khổ não tai
ương).
Thiền sư Thần Tú
nhìn cái tâm còn giới hạn, trong việc thừa nhận cái tâm có khái niệm và
luôn được “lau chùi” cho trong sáng:
Thân thị Bồ đề thọ
Tâm
như minh cảnh đài
Thời thời cần phất thức
Vật
sự nhạ trần ai.
Thân là cây Bồ đề
Tâm như đài gương
sáng
Luôn luôn siêng
lau chùi
Chớ để bụi trần
bám
Nếu ví Thần Tú như
con đại bàng đậu trên đỉnh núi cao đạo hạnh thì Huệ Năng như con đại bàng
tiếp tục bay vào vũ trụ mênh mông vô cùng tận của Bát nhã, xóa bỏ cái tồn
tại hữu hạn của Ý-Thức-Tâm:
Bồ
đề bổn vô thọ
Minh cảnh diệc phi đài
Bổn
lai vô nhất vật
Hà
xứ nhạ trần ai
Bồ đề vốn không
cây
Gương sáng chẳng
phải đài
Xưa nay không một
vật
Chỗ nào bám bụi
trần.
Con đại bàng Huệ
Năng đã rời bỏ đỉnh núi cao của cái Tâm-Ý-Thức để bay vào cuộc hành trình
vô tận, vĩ đại bao la không cùng của Bát nhã. Ngọn núi Tâm-Ý-Thức của Thần
Tú đã bị xô ngã, không còn gì khác ngoài ánh sáng của giác ngộ mà Bouddha
là hiện thân. Giác ngộ phải chăng là sự chối bỏ khái niệm tồn tại của
tham, sân, si ngay trong khi nó chưa xuất hiện. Đây chính là bông sen vô
tâm mọc lên từ vũng bùn phiền não, được nuôi nấng bằng đất, nước, ánh sáng
của tâm Phật mà đã thành một khái niệm không phải là đất, nước, ánh sáng,
tự nó chối bỏ cái đã tạo ra nó để cái tâm Phật đã chuyển thành một bông
sen mà Bouddha đưa ra cho những đệ tử nghe người thuyết pháp và đã trao
cho Ca Diếp. Bông sen đó chẳng còn là bông sen và đã trở thành một thông
điệp của Bát nhã. Ánh sáng Bát nhã rửa sạch con người khỏi mặc cảm tội lỗi
vì đã xóa bỏ mọi mặc cảm vế ý thức này trong lòng người.
Bát nhã Ba la mật
đa Tâm kinh đã nói: “Vậy nên trong chân không, không có cái sắc, không có
cái thọ, cái tưởng, cái hành và cái thức ... cho đến không có cái già, cái
chết cũng không có pháp gì làm cho dứt cái già, cái chết. Không có Khổ,
Tập, Diệt, Đạo ... nhờ trong tâm không có điều gì ngăn trở nên Bồ Tát
không hề thấy mình lo sợ, bèn xa lìa mộng tưởng điên đảo, đắc Niết bàn
trọn vẹn”.
Cái tâm của Bát
nhã đã khiến cho con người được hoàn toàn giải thoát, hoàn toàn giác ngộ,
như một chân không cực lớn như Bodhidarma đã nói với đệ tử của mình “ ...
Đừng lẫn lộn Tâm với trái tim bằng thịt, chính pháp thân này mà ta phải
ngó nơi mình. Ta phải di động và hành động trong ánh sáng của tâm. Nó bao
trùm tất cả chúng sinh như sông Hằng giữ trong nước vô số nguyên tử của
đất màu mỡ. Ta không thể diễn tả nó được cũng không giải thích bằng những
lời nói”. Thiền sư Tuệ Trung đã nói lên tâm sự của mình: “Khi tâm sanh, ấy
tức Phật sanh. Bằng Phật diệt ấy tức Phật diệt”.
“Đi cũng thiền,
ngồi cũng thiền,
Giữa lò lửa rực
một cành sen”.
Ánh sáng Bát nhã
đã khiến con người không còn có sự đối kháng giữa tâm và vật, không hề có
khái niệm Thiện vì không có khái niệm Ác, gạt bỏ toàn thể cái gì không
phải là giác ngộ, là giải thoát. Phật tâm là hơi thở và ánh sáng, là chính
con người và sự hòa tuyệt đối đó là Pháp thân. Không ngôn từ nào có thể
diễn đạt được sự giác ngộ vô cùng đó. Bodhidharma cũng đã thốt lên tiếng
nói đó: “Mộng không thể học được, chết không học được. Lãnh hội Phật tánh
nơi mình càng không thể học được".
Bát nhã là ánh
sáng vi diệu đánh thức con người trong sự chìm đắm u mê của bao tham vọng,
có những tham vọng đã được thể hiện bằng tội ác, mà tội ác có cái được che
dấu, có cái bị phát hiện, nhưng còn những tội ác chưa được thực hiện thì
nào người đời, luật pháp đâu có biết. Ánh sáng Bát nhã một khi được tỏa
sáng trong Tâm thì tham vọng và tội ác không thể xuất hiện, dù trong tiềm
thức (Subconsciousness).
Bát nhã đã khiến
con người trần thế đi dần vào sự thức tỉnh, tự mình thức tỉnh như một đóa
sen bừng nở trong trong một ao bùn và đưa hương. Sự thức tỉnh tự tìm xem
khuôn mặt của chính mình tự trở về cái “bổn lai diện mục”, tìm về
cái vô cùng rực sáng của Phật tâm, mà gọi tham, sân, si đã bị đẩy lùi và
biến mất một cách vĩnh viễn thì làm gì còn có khái niệm Ác, mà Ác không
còn khái niệm thì lấy gì làm đối tượng cho khái niệm Thiện, con người
không còn phải đấu tranh với cái Ác, và con người Phật tâm sẽ làm cho
chính mình và xã hội là Phật tâm.
Bát nhã rực sáng
đốt cháy mọi điều vị kỷ riêng tư, hòn ngọc kim cương vô ngã bỗng tỏa sáng
dũng mãnh, như hư vô, hiền hậu như chân không, dịu dàng như vô lượng của
thiên hà một đêm vũ trụ tỏa sáng.
Bát nhã mang lại
vô ngã và vô ngã đã làm bừng sáng lên những sức mạnh của Vô úy và Vô chấp.
Một con thuyền vô hình đã đưa con người sang bên bờ của Đại giác. Dòng
sông của tham, sân, si, cuộc sống đã trở về phía sau với sự giác ngộ Phật
tâm.
Nếu chúng ta đi
dần vào ánh sáng của Bát nhã có nghĩa là Phật tâm đang lớn lên như nụ sen
đang từ vũng bùn trần tục ngoi lên mặt nước. Chúng ta đã hốt nhiên độ được
chính mình, hốt nhiên Phật tâm đã trở về vĩnh hằng trong chúng ta, và
Bouddha là bông sen và cũng chính Bouddha trao tặng cho ta như đã từng
trao cho Ca Diếp.
Nhìn về quá khứ để
hiểu rõ hơn (^)
TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC
PHẬT GIÁO TRONG THỜI HIỆN TẠI
Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần
Không ai phủ nhận
rằng, ngay từ buổi đầu của thời kỳ Bắc thuộc, cho dẫu Phật giáo đã có một
vị trí không nhỏ trong đời sống tinh thần của xã hội ta, các triều đại
phong kiến Trung Quốc thống trị vẫn tạo mọi điều kiện thuận lợi để Phật
giáo có thể tiếp tục truyền bá vào nước ta một cách mạnh mẽ, và cũng không
ai phủ nhận rằng, quá trình tạo mọi điều kiện thuận lợi này, cũng chính là
quá trình Trung Quốc tìm cách lợi dụng tất cả những gì có thể lợi dụng
được ở nhà Phật, nhằm không ngừng tăng cường và cũng cố sức mạnh của nền
đô hộ. Tuy nhiên, tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng, bao giờ cũng
có những quy luật vận hành mang tính đặc trưng của mình, không dễ gì phụ
thuộc hoàn toàn, càng không dễ gì bị sa lầy trong vòng cương tỏa nghiệt
ngã của chính quyền Bắc thuộc. Phật giáo đã tìm được con đường thích hợp
để đến với xã hội, và xã hội đương thời đã tiếp nhận Phật giáo với một quy
mô ngày càng rộng lớn hơn. Thư tịch cổ và đặc biệt là kho tàng phong phú
của truyền thuyết dân gian đã xác nhận điều này.
Muốn tồn tại và
phát triển, tôn giáo nào cũng đều phải nhập thế. Vấn đề còn lại chỉ là
những phương cách và kết quả khác nhau của quá trình nhập thế rất tích cực
của nhà Phật chính là việc nhận lãnh địa hạt giáo dục mà bấy giờ vẫn còn
như là bỏ ngỏ. Nói khác hơn, nhà Phật vừa truyền đạo vừa mở mang trí tuệ
cho xã hội. Hai hoạt động này luôn luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Có một
thời rất lâu dài trong lịch sử nước ta, nhà chùa là nhà trường và nhà sư
là nhà giáo. Ngàn xưa dân gian vẫn thân mật gọi các nhà sư là Thầy chùa.
Dầu muốn hiểu theo bất cứ nghĩa nào thì hai tiếng Thầy chùa cũng đều hàm ý
tốt đẹp cả, và có lẽ cũng không phải là ngẫu nhiên, khi trong Hán tự, chữ
sư vừa có nghĩa là thầy giáo, lại vừa có nghĩa là nhà sư.
Đông Tây kim cổ
đều cho hay, dạy học là một nghệ thuật. Với loại hình nghệ thuật đặc biệt
này, vốn hiểu biết của người thầy là cực kỳ quan trọng, bởi vì suy cho
cùng, bài giảng hay nhất bao giờ cũng chính là những bài giảng chứa đựng
lượng thông tin phong phú và có hệ thống nhất của môn học, nhưng yếu tố
quyết định thành công trong nghề nghiệp, quyết định vị trí cao thấp của
người thầy, lại không hề gói trọn trong phạm vi chật hẹp của vốn hiểu
biết. Lịch sử nền giáo dục nói chung và giáo dục nhà Phật ở Việt Nam đã
cho thấy rõ điều này.
Thoạt đầu, xã hội
cảm nhận Phật giáo thông qua hình ảnh cụ thể của các nhà sư, cảm nhận sự
cần thiết phải học hỏi thông qua những biểu hiện dễ thấy về tư chất của
người tu hành. Trong số rất nhiều biểu hiện tốt đẹp của các bậc xuất gia,
có bốn điều mà bất cứ ai cũng đều có thể dễ dàng thấy được. Một là đạm bạc
trong ăn uống, hai là giản dị trong sinh hoạt, ba là đứng đắn trong giao
tiếp và bốn là tận tụy với thế tục. Gồm đủ bốn điều rất dễ thấy ấy, người
tu hành được dân tin, và niềm tin bao giờ cũng là tài sản vô giá của mọi
thời. Nhà Phật tổ, hàng loạt những khái niệm và cách giải thích khái niệm
rất riêng của mình, vì sở thích, lại cũng vì lý do nghề nghiệp, tôi đọc
chí ít hàng chục cuốn sách của nhà Phật, trong đó, có cuốn đọc đi đọc lại
không biết bao nhiêu lần, nhưng thú thực, phần hiểu được chẳng đáng là
bao. Chắc rằng tuyệt đại đa số những người sống trong thời Bắc thuộc cũng
khó có thể hiểu được, Bấy giờ, xã hội thành kính cho nhà chùa tất cả đều
tôn nghiêm, trước hết, có lẽ chưa phải là vì sự hiểu biết mà là vì sự tin
cậy. Nhà Phật đến với địa hạt giáo dục bắt đầu từ sự tin cậy đặc biệt này.
Thời Bắc thuộc, có
cuôc song hành giữa hai loại hình giáo dục trong phần lớn các nhà chùa.
Một là truyền bá kiến thức thông thường cho thế tục. Loại hình này bao hàm
những hoạt động đại thể như: dạy chữ nghĩa, dạy đạo lý ở đời, dạy phép đối
nhân xử thế và dạy cả cách làm ăn sinh sống nữa. Tôi rất thích lời truyền
tụng của nhân gian về câu nói của nhà sư Già La Đồ Lê rằng: “Hãy chỉ vẽ
cho chúng sinh những gì chúng sinh đang cần mà chưa vội rao giảng cho
chúng sinh những gì ta biết”.
Loại hình thứ hai,
mang đậm đà đặc trưng của nhà chùa là giảng đạo. Loại hình này sẵn cần cả
bá tính, nhưng xem ra, chỉ những ai giàu lòng mộ đạo và có duyên số, những
người theo được lâu bền đều trở thành các bậc xuất gia.
Như vậy, nói theo
cách nói ngày nay thì trên đây là hai loại hình giáo dục, thích ứng với
hai loại đối tượng khác nhau. Sự thích ứng này đã tạo hiệu quả tốt đẹp.
Thời Bắc thuộc, hễ nói đến giáo dục thì cũng có nghĩa là trước hết và chủ
yếu là nói tới giáo dục nhà Phật. Bấy giờ nhà sư là lực lượng trí thức
quan trọng của xã hội. Có cái gì đó rất đáng kính, không có trong giáo lý
nhà Phật, nhưng lại gắn bó mật thiết với nhà chùa và nhà sư đương thời.
Trong chỗ tự nhiên
của quá trình tìm tòi và so sánh, hậu thế thường rất dễ đắc tội với cổ
nhân, nhưng chối bỏ việc tìm tòi và so sánh, thật khó mà làm nổi bật được
những điều cần làm nổi bật. Muốn hiểu rõ hơn về giáo dục nhà Phật trong
thời Bắc thuộc, hản nhiên là phải so sánh với giáo dục của nhà Nho đương
thời. Cũng là giáo dục, nhưng hai hệ thống này có rất nhiều điểm hoàn toàn
khác biệt nhau.
Bấy giờ đến với
nhà Nho cũng có nghĩa là chấp nhận guồng máy đô hộ của quân xâm lăng, chấp
nhận tư tưởng ngoại lai được quân xâm lăng áp đặt trên toàn cõi. Cảm giác
nẩy nở từ thực tế chua xót này không có khi đến với nhà Phật.
Thời Bắc thuộc,
cho dầu là ở bất cứ nơi đâu thì nhà quan vẫn là nhà quan, xa trông đã thấy
có cái gì có vẻ đầy vẻ quyền uy và cách biệt với thế gian, không phải là
nơi lui tới của những người thân phận thấp hèn. Ngược lại, các bậc xuất
gia tu hành thì ở chùa, nhưng nhà chùa không phải là của riêng nhà sư. Bất
cứ ai cũng có thể tới chùa, bởi vì cửa chùa lúc nào cũng mở rộng với chúng
sanh khắp thiên hạ. Trong Tiếng Việt, chùa không chỉ có nghĩa là chùa
chiền mà còn có nghĩa là sự thoải mái, là miễn phí và nhiều nghĩa tương tự
nữa.
Thảng hoặc đó đây,
cũng có ý kiến cho rằng, hệ thống giáo dục của nhà Phật bộc lộ khá rõ sự
thiếu vắng những bài bản chặt chẽ, những quy chế rạch ròi, những bằng cấp
cao thấp cụ thể ... Hẳn nhiên, ý kiến này không phải là hoàn toàn sai,
song cũng khó nói là đúng. Về mặt phương pháp luận, lấy hệ thống giáo dục
này làm chuẩn mực để xét đoán hệ thống giáo dục khác là điều không nên,
cũng là điều không thể, vả chăng, nếu lấy hiệu quả thiết thực làm cơ sở để
nhìn nhận, thì rõ ràng giáo dục nhà Phật đã làm được tất cả những gì có
thể làm trong điều kiện đối với khó khăn của thời Bắc thuộc. Từ hiệu quả
rất thiết thực này, nhà Phật đã khẳng định được vị trí quan trọng nhất so
với tất cả các hệ tư tưởng và tín ngưỡng vốn có ở ta đương thời. Không thể
nói là ngẫu nhiên, khi mà tất cả các triều đại nối nhau cai trị trong buổi
đầu của kỷ nguyên độc lập, tự chủ và thống nhất, đều đề cao nhà Phật, đều
đặt hẳn một hệ thống quan lại dành riêng cho các bậc đại sư, gọi là tăng
quan, đều coi Phật giáo như là quốc giáo của nước nhà.
Cùng với quá trình
truyền bá và phát triển của Phật giáo ở nước ta là quá trình hội nhập tự
nhiên và ngày càng sâu sắc của đạo đức nhà Phật với đạo lý cổ truyền của
nhân dân. Đây vừa là, lại cũng vừa là nguyên nhân, khiến cho giáo dục nhà
Phật có thể thấm sâu vào xã hội. Từ nhà chùa đi vào nhà dân, cả dung mạo
lẫn hàng trạng của Phật đều có những biến thái, nhưng đây là sự biến thái
rất đáng yêu. Phàm là người Việt, có lẽ không một thế hệ nào không biết
tới Bụt.
Về nguồn gốc Bụt
cũng chính là Phật, nhưng trong tâm tưởng của dân, Bụt có nhiều nết không
giống Phật. Nói khác hơn, chúng sanh tiếp nhận Phật giáo theo cách của
chúng sanh. Chẳng hiểu vì sao, tôi cứ tin rằng, nếu quả có Phật hiện hữu
lúc này, thế nào Phật cũng vui vẻ nhận lời hóa thân làm bụt, bởi vì suy
cho cùng, việc này chẳng hề phương hại gì đến tâm nguyện của đấng Vô
thượng cao cả.
Sau thời Bắc
thuộc, Phật giáo còn tiếp tục quản lãnh địa hạt giáo dục thêm một thời
gian khá dài nữa. Ngay cả khi giáo dục Nho học đã trở nên cực thịnh, Phật
giáo vẫn không hề coi nhẹ trách nhiệm hợp tác đầy thiện chí của mình.
Đã có không ít ý
kiến đề cao vai trò giáo dục Nho học đối với toàn bộ tiến trình phát triển
chung của lịch sử giáo dục ở Việt Nam. Đây là điều không thể phủ nhận
được, nhưng có lẽ cũng cần phải nhấn mạnh rằng, một trong những cơ sở
thành công của giáo dục Nho học chính là nhờ ở sự nghiêm cẩn kế thừa và
phát huy những kinh nghiệm của giáo dục Phật giáo thời Bắc thuộc.
PHẬT HỌC VÀ
VẤN ĐỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ
Giáo sư Hoàng Thiệu Khang
Cảm hứng lý thuyết
của tác giả bài tham luận nhỏ này là sự tiếp cận những tính chất thẩm mỹ
của Phật giáo để phát biểu những nội dung giáo dục thẩm mỹ. Do vậy,
bản tham luận vừa mang tính lý thuyết và vừa mang tính phương pháp, tính
thực tế Phật học là một hệ thống lý thuyết uyên áo, nhưng hệ thống ấy
không thoát ly cõi đời, nó soi mình vào đời để mong giải thoát cho con
người trần thế.
1. Giáo dục, theo
tinh thần Phật học, là một thiết kế tự nguyện, tự giác. Tự nó, tính
tự giác đã bộc lộ một trình độ của người học, dầu chỉ là trình độ khởi
đầu. Giáo dục theo tinh thần Phật học là một quá trình do người thầy thiết
kế đẻ người học tự tìm ra bản thể của mình, trở về chính mình. Đó là một
hành trình vì sống trong những điều kiện hiện thực, con người rất dễ bị
rơi vào tha hóa (aliénation). Tìm ra chính mình để trở về với chính mình
là một quá trình nhận ra cái bi để đi đến cái đẹp.
Lại nữa, hành
trình về Niết bàn là một quá trình “quên” - được hiểu theo nghĩa triết
học. Trên con đường muôn dặm có những con sông cắt ngang. Để có thể qua
sông, con người phải nhờ người lái đò ngang (tirthankara). Nhưng muốn đi
tiếp thì khi đã sang được bờ, con người phải “quên” người lái đò, “quên”
cả con đò. “Quên” ở đây không mang nghĩa đạo đức. Nó là một khái niệm chỉ
định tính chất đồng hóa những giáo lý, lời giảng của thầy. “Quên” là sự
chuyển hóa thành máu những gì đã được ăn.
2. Công việc đầu
tiên của việc giáo dục thẩm mỹ theo tinh thần Phật học là việc chỉ ra
được phạm trù cái Bi. Bi chứ không phải là buồn. Có rất nhiều cái buồn
mà không hề mang thẩm mỹ cái Bi. Buồn là một trạng thái tâm lý, tình cảm.
Bi là một khái niệm triết lý, nhưng với Phật học, đây là triết lý hiện
thực trong cõi đời. Nó thể nghiệm đời con người.
Con người tự
giới hạn mình trong sinh, lão, bệnh, tử là Bi chứ không phải tự nó,
“sinh, lão, bệnh, tử” là Bi. Bi diễn ra nơi quy luật tất yếu, không diễn
tiến theo cái tất yếu. Quy luật tất yếu là sự sống. Phản quy luật là sự
tàn lụi, sự chết. Sự sống rơi vào tàn lụi, sự chết, nơi đó là cái Bi. Vậy
thì vấn đề là một cách nhìn, một thái độ. Quy luật là “xuân đi muôn hoa
rụng, xuân đến muôn hoa khai”. Đối với quy luật tiêu trưởng ấy như thế
nào là cả một linh hồn Phật học.
Bị buộc mình vào
nỗi sợ hãi bởi “sinh, lão, bệnh, tử” vì con người cảm nhận cuộc sống là
thường, cảm nhận mình là ngã. Thoát khỏi cảm nhận ấy, con người tiến
đến sự giải thoát. Sống trong cảm nhận ấy, con người bị tha hóa trong ham
muốn, trong si mê, đố kỵ, giận hờn ...
Đó là vòng luẩn
quẩn. Đó là cái nghĩa đích thực của “luân hồi" (samsara). Luân hồi không
phải là một khái niệm siêu hình mang tính chất mê tín. Đó là một khái niệm
siêu hình học (métaphisique). Nó chỉ định một bế tắc, một giới hạn
của ngộ nhận. Cho con người nhận ra mình là một thực thể còn bị trói buộc
trong cái Bi của luân hồi là việc đầu tiên của việc giáo dục thẩm mỹ theo
tinh thần Phật học.
3. Để thoát khỏi
cái vòng bi kịch luẩn quản ấy, con người phải tựa vào con đường mà đi? Đó
là vấn đề tiếp theo của Phật học.
Không thể nào theo
con đường của Bà la môn - con đường nhuốm màu không thể có thực. Theo Bà
la môn, để có thể có Mok’sa (giải thoát), con người phải đứng ở nơi xuất
phát nơi kinh nghiệm thuần túy (pure espérience). Con người phải tự vứt bỏ
ý thức, con người bấy giờ chỉ là một thực thể giác quan thuần túy. Từ đó,
con người đi vào một trạng thái giấc mơ (état de rêve). Rồi con người đi
vào một giấc thụy miên ... Con người nhập vào chân lý trong thụy miên. Đó
là một con đường mà con người trở về với cái vô thức. Nhưng con người là
một thực thể có ý thức. Con người phân biệt mình với động vật ở cái chất ý
thức. Không thể có một giác quan nào của con người lại không là giác quan
mang tính ý thức. C. Mác đã chỉ định đúng rằng: “Mắt chỉ có trở thành mắt
con người khi đối tượng của mắt đã trở thành đối tượng xã hội (objét
social) của con người, một đối tượng từ con người và trở về với con người
...”
Phật học là một hệ
thống đòi hỏi con người giác ngộ bằng trí tuệ, có nghĩa là bằng yếu tính
tỉnh thức. Đó là linh hồn của chữ “Giác”. Giác là “Tuệ giác”, là trí huệ.
Như vậy, để tiến đến một thực thể lý tưởng, một thực thể đẹp, theo tinh
thần Phật học không phải là sự từ bỏ ý thức mà ngược lại, phải đem ý thức
đến tận cùng, đến độ viên mãn. Chỉ có thể thoát khỏi cái Bi nơi vòng luân
hồi luẩn quẩn khi con người có đôi mắt đại giác huệ nhãn.
4. Đôi mắt đại
giác thể hiện như thế nào?
Đôi mắt là đôi mắt
biết nhìn vào “vô thường, vô ngã”. Đây là cả một phép biện chứng vô
cùng tinh khiết và uyên áo. Nó thực thi một sự thống nhất sâu xa giữa cuộc
đời thật với cõi Đạo lý tưởng. Nó nâng cái đời có thật của mỗi con người
lên cõi Đạo cao đẹp. Con người không siêu thoát đi đâu cả, con người vẫn
sống trong cõi hiện thực của đời mình, nhưng con người cũng đồng thời đang
được sống ỡ cõi Niết bàn. Con người thực thi một tinh thần siêu thoát nơi
cuộc sống của mình.
“Vô thường” là một
cách thể nhận ra chân quy luật cuộc sống. Nó không nhìn cuộc sống là ảo
ảnh. Nó thấy cuộc sống là vận động, biến động. Có thể dẫn ra hàng
trăm câu kệ của các vị Thiền sư đời Lý, Trần để minh họa cho ý nghĩa trên;
những câu kệ của Vạn Hạnh, Không Lộ, Mãn Giác, Giác Hải ... Như vậy, “vô
thường” là một cặp mắt nhìn vào hiện thực để phát hiện ra những quy luật
vào hiện thực đang rì rào chảy dưới nơi địa tầng sâu thẳm của cuộc đời.
Quy luật nằm ở nơi đáy sâu tiềm tàng, tiềm ẩn. Cho nên việc thấy được luật
cũng là một sức mạnh của nhận thức. Đó là huệ nhãn.
“Vô ngã” là một
kết quả, một kết luận của ý niệm “vô thường. Có nhận biết được
cuộc sống là vô thường thì mới có thể có một cách thể vô ngã. Tiến đến vô
ngã, con người sẽ thoát khỏi phạm trù cái bi kịch, một phạm trù vốn trói
buộc con người từ muôn thuở muôn nơi ... Con người sẽ thực thi được một
thăng hoa từ mặt đất cuộc sống. Niết bàn là vô ngã. Nơi ấy, con người vẫn
ăn cơm với đời, vẫn ở với người khác, nhưng con người không ở bằng cái
thân của mình, một cái thân cạn cợt. Tinh thần siêu thoát bộc lộ tập trung
ở nơi đây. Lại một lần nữa, xin lưu ý, tinh thần siêu thoát không phải là
một thái độ thoát ly cuộc sống, mà ngược lại, là một thái độ nhập thế tích
cực, một thái độ nhập cuộc (engagé).
Có nhập thế, nhập
cuộc mới đến được cái Đẹp, vì cái Đẹp là cuộc sống. Hiển nhiên, đó
là cuộc sống lý tưởng. Hệ thống mỹ học Phật giáo chính là nơi đặt ra tư
tưởng của cái Đẹp lý tưởng tồn tại nơi trần thế, trần ai. Tư tưởng này về
sau cũng đã được thể hiện trong hệ thống Mác xít.
5. Cái đẹp, theo
tinh thần Phật học là an nhiên, tự tại, lạc quan. Đức Phật tự hái
đóa hoa đẹp từ cõi đời này, chứ không từ vườn địa đàng Thượng đế mơ hồ. An
lạc là một nội dung, một cách thế trong đời, ở với đời. Chữ “Vô” không
đồng nghĩa với “hư vô” (Méhilisme). “Vô” là sự thống nhất giữa hữu và vô.
An lạc là một sức
mạnh tinh thần của bản lĩnh tự tại. Bấy giờ, nghịch cảnh nằm ở
ngoài con người, không chi phối nổi con người. Trong nghèo hèn cũng như
trong giàu sang, trong yên bình cũng như trong uy vũ huy hiếp ... vẫn một
bản lĩnh tự tại ấy; đó là an lạc. Đó là cái đẹp theo tinh thần Phật học.
6. Trong tinh thần
Phật học, đẹp là một vị tha, là hạnh phúc của vị tha. Vị tha không
phải là một ban phát, bố thí. Nó là sự vong thân, một xả thân mà không hề
đòi hỏi sự đền bù. Đó là cái đẹp đến độ viên mãn. Chủ thể thẩm mỹ cảm nhận
chính mình nơi thái độ hy sinh này. Hiện thực cuộc sống của cá nhân được
nâng lên tầm lý tưởng, nhưng đó là lý tưởng từ hiện thực, của hiện thực.
Lại một lần nữa, chúng ta hiểu tư tưởng nhập thế của Phật học. Liên tưởng
tới một ca từ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Sống trong đời cần có một
tấm lòng, để làm gì em có biết không? Để gió cuốn đi ...” Làm ra thành
tích mà không ở lại thụ hưởng. Đó là cái nghĩa đích thực của cái đẹp vong
thân.
VỊ THẦY Ở ĐỜI CỦA
CHÚNG TA (^)
Đại đức Thích Phước Đạt
Không phải ngẫu
nhiên dân tộc chúng ta tôn vinh ngày 20 tháng 11 hàng năm là ngày Hiến
Chương Nhà Giáo Việt Nam. Thực tế từ trong tâm khảm của mỗi người ai cũng
nghĩ rằng được sinh ra và lớn lên từ vòng tay yêu thương của cha mẹ, được
giáo dưỡng trưởng thành từ sự chỉ dạy của người Thầy. Cho nên, vai trò, vị
trí người Thầy được xã hội tôn vinh lên hơn bao giờ hết từ xưa cho đến nay
bằng những danh hiệu cao quý: “Thầy giáo là kỹ sư của tâm hồn”, “Người
Thầy dạy dỗ một đời không biết mỏi mệt (giáo nhơn bất quyện)”. Từ nếp sống
tôn sư trọng đạo đã đi vào đời sống dân tộc Việt Nam đúng như lời nhận
định: “Tôn sư trọng đạo” vốn là truyền thống vô cùng tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam ta. Một dân tộc có bốn nghìn năm văn hiến, nổi tiếng có học, biết
trọng chữ nghĩa, đã hun đúc tự nghìn đời.
Trong ý niệm đó,
tất cả những người con Phật đang hiện hữu trên cõi đời đều tôn vinh đức
Phật Thích Ca là người Thầy căn bản nhất, cao quý nhất - đức “Bổn Sư” khai
mở tâm thức huệ mạng trong cuộc hành trình về miền đất giải thoát đầy an
lạc. Hoặc ở góc độ này, hoặc ở lĩnh vực khác, Thế Tôn cũng được tôn vinh
lên là vị Giáo Chủ, hoặc là nhà tư tưởng, một triết gia, một nhà giáo dục
vĩ đại, nhưng trên hết vẫn là người Thầy khả kính gần gũi chỉ dạy cho mọi
người sống theo nếp sống hướng thượng, vượt ra ngoài sự cám dỗ, vây hãm mà
đời sống thế tục thường hay trói buộc khổ đau hệ lụy đang diễn biến từng
ngày ở mọi lúc mọi nơi.
Chính đức Phật là
vị Thầy không biết mỏi mệt trong sự nghiệp giáo dục trồng người vì lợi ích
trăm năm và hơn thế nữa. Trong suốt 45 năm thuyết pháp độ sanh, ngài đã đi
khắp nơi đến muôn vàn miền đất để khai thị giáo hóa tất cả chúng sanh
không phân biệt tâm tính dị biệt, sắc tộc, địa vị, quyền uy. Với trách
nhiệm là người Thầy, Thế Tôn thường luôn thẩm sát về đối tượng giảng dạy,
nội dung giáo huấn, phương pháp truyền trao như thế để phù hợp với căn cơ
nguyện vọng của từng đối tượng trong từng trường hợp không gian, thời gian
thích hợp để đạt hiệu quả cao nhất mà người học trò có thể lĩnh hội tất cả
các yếu chỉ cần truyền. Mục tiêu giáo dục mà vị Thầy của chúng ta - Thế
Tôn hướng đến là đào tạo ra con người xã hội đáp ứng được nhu cầu của đất
nước, hướng đến bằng sự an lành thịnh vượng, bên cạnh đó là con người đúng
với sự thật chính nó đáp ứng sự bình an nội tại giữa tâm sinh lý, giữa ý
chí và trí tuệ, tình cảm trong mỗi cá thể con người.
Xem ra, đức Phật
là vị Thầy để lại dấu ấn muôn đời với không biết bao nhiêu thế hệ học trò,
không biên giới lãnh thổ, tâm thức con người. Thật là không có giá trị hữu
hiệu giáo dục nào cả khi người Thầy không nắm rõ về đối tượng giáo dục mà
mình đang giảng dạy là ai để đề ra nội dung tương ứng, thích hợp với kỹ
năng truyền đạt. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, mỗi thành viên được học
tập, được giảng dạy thường có các điều kiện sinh hoạt, sống và làm việc
khác nhau về mặt tâm sinh lý, tình cảm nhận thức khác nhau. Cho nên người
Thầy giáo thành công nhất là người biết tìm ra đối sách thích hợp để trao
truyền mà người học trò có thể tiếp nhận yếu chỉ của người Thầy truyền đạt
với những điều kiện và phương thức giáo dục tối ưu riêng biệt. Thế Tôn là
bực Thầy kỳ tài trong lĩnh vực này. Ngay từ buổi Thành đạo, Ngài đã thẩm
sát quán chiếu thấy rõ năm anh em Kiều Trần Như là đối tựong thích hợp
nhất để lĩnh hội bài pháp đầu tiên “Sự Thật về Tứ Đế” có giá trị làm cho
bánh xe Pháp vận hành trên cõi đời này. Nguyên tắc giáo dục theo căn cơ,
theo điều kiện hoàn cảnh của từng đối tượng này đã làm cho đức Bổn Sư của
chúng ta trở thành vị Thầy vừa tôn kính vừa gần gũi biết chừng nào ngay
trong đời sống bình nhật. Cũng như hình ảnh hồ sen được miêu tả trong kho
tàng văn học Kinh tạng Pàli, có những cánh sen chưa nhô mầm ra khỏi mặt
nước để tiếp cận ánh sáng mặt trời, có những cánh sen đã vươn mình ra
trước gió. Có những cánh sen thẳng đứng để tỏa hương thơm ngát trời. Hẳn
nhiên con người căn trí bất đồng, có người độn căn và hạ liệt, có người
độn căn thông minh vừa phải, có người xuất chúng lại cao sang v.v... tất
cả đều được vị Thày chúng ta hướng dẫn khai thị với những bài pháp thích
hợp đúng thời đúng chỗ. Khi cần giảng dạy cho bậc lãnh đạo vua chúa thời
âm vang lời nói của Thế Tôn mang tính chỉ đạo, quốc sách, chiến lược để
đất nước thạnh trị. Kinh Tăng Chi, chương Bảy Pháp đã đề cập đến bảy điều
kiện phát triển quốc gia, chương Mười Pháp đề cập đến mười điều gọi là
“Thập Vương Tử Pháp” thiết lập bộ máy lãnh đạo đầy đủ phẩm chất trị vì đất
nước. Cụ thể hóa như sau:
1. Độ lượng, bố
thí, bác ái.
2. Không tham ái,
không tham tiền của và tài sản.
3. Không sát sanh,
không bóc lột, không trộm cắp, không tà dâm, không say sưa.
4. Hy sinh tất cả
vì lợi ích của dân chúng, sẵn sàng từ bỏ mọi tiện nghi cá nhân.
5. Hiền từ và hòa
ái.
6. Tri túc (biết
đủ) trong đời sống.
7. Không được sân
hận, không được tư thù.
8. Nhẫn nhục trước
mọi khó khăn, trước mọi chỉ trích mà không mất bình tĩnh.
9. Không hại
người, đề cao hòa bình, ngăn chận chiến tranh, bạo động, phá hoại sự sống.
10. Không chống
lại ý muốn của dân mà thuận ý dân.
Khi tiếp cận quần
chúng lao động, ngôn ngữ diễn giảng của Thế Tôn cũng rất giản dị, dể hiểu,
đáp ứng nhu cầu đời sống tâm thức chính họ trông chờ. Như người Thầy mở
hướng chỉ dẫn cho học trò với tấm lòng bao dung tận tụy, lo toan đời sống
hạnh phúc từng cá thể được thiết lập khi thực thi:
1. Giỏi tay nghề,
siêng năng, biết điều hành công việc.
2. Biết quân bình
thu chi và tạo số thu lớn.
3. Biết làm ra của
cải hợp pháp theo khả năng lao động của mình.
4. Biết đầu tư cho
công ăn việc làm.
5. Biết làm bạn
với người hiền.
6. Biết quân bình
thân tâm, giữ gìn sức khỏe.
7. Biết cho cho
đời sau, có tín, thí, giới, tuệ.
Trong đời sống
hướng dẫn Tăng Ni tu tập, Ngài đã khéo léo giảng dạy, độ trì cho Tỳ kheo
Cullapanthaka ám độn, bốn tháng chưa học thuộc bài kệ bốn câu. Với một tâm
lý tuyệt vọng, muốn hoàn tục để tu phước. Sau khi được Thế Tôn trao cho
một tấm vải sạch và bảo vừa lau bụi vừa nói “đồ lau bụi”, Tỳ kheo đã tinh
tấn thực hành theo lời dạy không biết mệt mỏi. Khi miếng vải tinh sạch bị
đen sì bởi bụi trần dính vào là lúc Tỳ kheo Cullapanthaka bỗng nhiên hốt
ngộ tính vô thường của các hành, tâm an trú trên đoạn diệt, đi vào Thiền
quán, tẩy rửa tất cả các phiền não còn chất chứa trong tâm thức. Khi nguồn
tuệ có sẵn bên trong rực sáng lên, Thế Tôn đã nêu ý nghĩa đó bằng bài kệ,
Tỳ kheo Cullapanthaka liền đắc quả A la hán, chứng Vô ngại giải, thông
suốt ba tạng Kinh điển.
Rõ ràng thẩm sát
đối tượng giáo dục theo căn cơ trình độ học trò là điều cần thiết cho tiếp
nhận. Nó có tác dụng khai mở trí tuệ và phát triển nhân cách đi đến sự tột
cùng của sự hoàn thiện. Suy cho cùng mục tiêu giáo dục duy nhất từ xưa đến
nay là thăng chứng quá trình chuyển hóa nhân tính. Hau nói cách khác, theo
Phật giáo quá trình đó chính là quá trình chuyển hóa nghiệp quả, và người
Thầy chính là người có tác động, gợi mở hướng đi chuyển hóa nghiệp cũ đã
làm của tự thân mỗi người sang nghiệp mới với một ý thức tác ý rõ ràng, cụ
thể theo mục tiêu nhất định. Thế Tôn là người Thày từng khiến các học trò
của mình thường xuyên tẩy rửa, đoạn trừ các hành động có kết quả xấu về
thân, khẩu, ý ngay trong hiện tại. Nội dung giảng dạy phải thiết thực hiện
tại mang tính thực tiễn hữu hiệu. Con người phải biết an trú nếp sống hiện
tại. Chỉ có sống với hiện tại, con người mới chuyển hóa và thăng tiến trí
tuệ. Than thở tiếc nuối quá khứ chỉ là con đường đi đến sự tuyệt vọng dẫn
vào ngõ cụt cuộc đời đầy khổ đau. Mơ màng đến tương lai chỉ tạo ra sự ảo
giác hạnh phúc cuộc đời, trong khi hiện tại chẳng khởi động thiện tâm thì
sẽ rơi vào đời sống phi thực. Tuổi trẻ sẽ đi qua, già nua ắt phải đến
trong khi dòng sống vẫn tiếp hiện vô cùng sống động và thật có ý nghĩa.
Sống thực với hiện tại mở ra chân trời mới đầy tự do khi khát vọng trông
chờ hạnh phúc hóa hiện. Bài học của vị Thầy chúng ta giảng dạy hôm nào vẫn
còn âm vang khắp nơi:
“Không than việc đã qua
Không mong việc sắp tới
Sống ngay với hiện tại
Do
vậy sắc thù diệu
Do
mong việc sắp tới
Do
than việc đã qua
Nên
kẻ ngu héo mòn
Như
lau xanh lìa cành
Hay:
“Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng
Qúa
khứ đã đoạn tận
Tương lai lại chưa đến
Chỉ
có pháp hiện tại
Tuệ
quán chính nơi đây”.
Chính Thế Tôn, vị
Thầy cao cả của chúng ta đã khéo léo từ chối các vấn đề siêu hình do người
học trò Màlunkyaputta đạt ra như là Thế giới là thường, vô thường, tồn tại
hay không tồn tại sau khi Như Lai nhập diệt. Thế Tôn đã ôn tồn diễn giải
các vấn đề siêu hình đó chẳng có giá trị gì trong sự đánh thức trí tuệ
bừng khởi và làm cho các hạt giống thiện nhân trong tâm thức đâm chồi hay
nảy lộc bằng sự hóa hiện các hạnh lành được thực hiện bởi các hành động,
lời nói, ý nghĩ. Như câu chuyện người bị trúng mũi tên độc, vấn đề cấp
thiết là phải rút mũi tên ra khỏi bệnh nhân, chứ đừng vội vã đặt ra các
câu hỏi như mũi tên từ đâu đến, sao lại bị nhiễm độc, ai khởi tâm bắn?
Cũng thế vấn đề cấp thiết nhất của người học trò cần tiếp nhận là nội dung
giáo dục có tính thiết thực hiện tại, giải thoát khổ đau được soi rọi bằng
trí tuệ bừng khởi mà người Thầy dày công hướng dẫn.
Tất nhiên, sự
thành tựu mà người học trò đạt được đó là kết quả hai chiều của người trao
và người nhận. Thế Tôn từng khuyến cáo Ngài chỉ là người Thầy hướng dẫn để
học trò thực thi đúng nội dung những gì đã tiếp nhận. Vị Thầy của chúng ta
thường dạy “Hãy trở về nương tựa hòn đảo chính mình, nương tựa Pháp” bằng
cách thực thi con đường Bát Thánh đạo, nền tảng của Giới-Định-Tuệ. Mỗi
bước đi ra ngoài vùng tâm lý tham, sân, si, giải trừ nô lệ, xây dựng tinh
thần độc lập tự chủ cho mỗi cá thể. Một vị Thầy như thế sẽ đào tạo ra biết
bao nhiêu thế hệ học trò làm chủ xã hội vì hạnh phúc của nhân dân, trong
đó có hạnh phúc của chính mình.
Cần nói thêm rằng
sở dĩ người học trò lãnh hội và liễu đạt trọn vẹn nội dung giảng dạy mà
người Thầy đã truyền đạt là nhờ có phương pháp, kỹ thuật trao truyền đạt
hiệu quả cao. Thế Tôn là người Thầy biết xây dựng lòng tự tin của người
học trò và khai thác khả năng tiềm ẩn sẵn có của người học trò đó. Trong
những trường hợp cần thiết, Thế Tôn đã tự thân khích lệ hay xác chứng
thành quả đạt được mà người học trò đã thực hiện. Tài năng chỉ hóa hiện
khi lòng tự tin được xác lập cộng chung pháp học đi đôi với pháp hành. Con
người trong chừng mực nào đó có thể thiếu lòng tin với người khác nhưng
vắng lòng tin của chính mình thì sẽ đi đến sự hủy diệt tất cả. Ngài chính
là vị Thầy khuyến cáo Tăng chuíng không nên xem thường các vị Tỳ kheo trẻ
tuổi, chính các vị là người rống tiếng rống con sư tử chúa tể sơn lâm
trong cuộc hành trình giải thoát tự thân, chứng đắc các quả vị Thánh để
khích lệ những người chưa chứng ngộ.
Chính áp dụng kỹ
thuật truyền đạt này đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm khảm người
học trò. Thiết lập lòng tự tin, khai mở khả năng tiềm ẩn, khích lệ người
học trò đã được diễn dịch bằng những pháp thoại sống động dễ hiểu mà người
Thầy vận dụng. Thế Tôn từng huấn thị “Ta là vị Phật đã thành, các người là
Phật sẽ thành”. Điều đó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với người học trò
như là thông điệp nhắn gởi: “Tự thân tu tập tự thân hành trì, tự thân
chứng ngộ sự thật chân lý sẽ là nhân tố quyết định”:
“Ai sống ở đời này
Ái dục được hàng
phục
Sầu rơi khỏi người
ấy
Như nước rơi lá
sen”. (Pháp Cú 336)
Rất thi vị, rất
gợi cảm, giàu tính biểu cảm tuyệt vời. Chỉ có thế thôi cũng đủ sức thuyết
phục cao cho người học trò thực thi tôn ý người Thầy truyền đạt. Chính Thế
Tôn là vị Thầy dùng ví dụ trực quan sinh động giảng dạy cho các Tỳ kheo
khi bộ hành trên bờ sông Hằng đã làm người chăn bò Nan Đà gần đó thấy rõ
sự thật cuộc đời qua hình ảnh khúc gỗ đang trôi bồng bềnh trên sông. Được
nghe Thế Tôn diễn giảng: “Nếu khúc gỗ không hư mục, không tấp vào vài bãi
bể, không bị vướng mắc vào nước xoáy, không bị người hay phi nhân nhặt thì
nhất định khúc gỗ sẽ trôi lăn thẳng ra biển. Cũng vậy, nếu người tu sĩ,
không rơi vào tà kiến, không đắm vào các căn trần, không ngã mạn kiêu
căng, không cầu sinh thiên thì nhất định đi đến Niết Bàn”. Từ đó Nan Đà
xin phát tâm xuất gia, về sau đắc quả A la hán.
Đến đây chúng ta
thấm thía đạo lý cha ông ta từng đúc kết:
“Muốn sang sông
thì bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ
phải yêu lấy Thầy”.
Xem ra vai trò
người Thầy có quyết định sinh mạng vận hành từng cá thể trong đời sống
hiện thực với những mong chờ thực thi khát vọng hạnh phúc tự do phía
trước. Hẳn nhiên Thế Tôn là vị Thầy khả kính, rất gần gũi của mỗi chúng ta
trong cuộc hành trình hướng về giải thoát khổ đau ràng buộc. Có thể khẳng
định tôn vinh người Thầy đáng kính nhất của một đời người là tôn vinh tất
cả việc làm, lời nói, ý nghĩ, khát vọng mà người Thầy trông chờ người học
trò đạt được. Sự báo ân trả nghĩa cho Thầy thiết thực nhất là làm hóa hiện
sự kỳ nguyện cao cả đẹp đẽ nhất mà người Thầy từng ấp ủ bằng những thành
quả cụ thể của người học trò thực thi. Có như vậy ngày Hiến chương Nhà
giáo không chỉ đến với chúng ta có ngày 20 tháng 11 hằng năm mà sẽ có mặt
trong từng ngày từng giờ từng phút để dâng tặng Thầy trong truyền thống
“Tôn Sư Trọng Đạo”.
Vạn Hạnh, 10.11.2000
LỄ NHẠC PHẬT GIÁO
(^)
Huệ Định
Lễ nhạc là phần
phát hiện bên ngoài của một nền văn hóa, mà văn hóa Phật giáo là một nền
văn hóa siêu việt, thì cố nhiên lễ nhạc của Phật giáo, phản ảnh của một
nền văn hóa siêu việt ấy, cũng phải có những bản sắc siêu việt.
Nghiên cứu lễ nhạc
Phật giáo, ta thấy văn hóa Phật giáo có một trình độ khó diễn tả bằng lời.
Thật vậy, chúng ta đã say mê những nét sáng sủa huy hoàng, những nét trầm
hùng uy nghiêm, những nét nhẹ nhàng uyển chuyển, những nét giải thoát
nhiệm mầu khi bước chân vào ngôi nhà lễ nhạc Phật giáo. Từ một nghi thức
tụng niệm, một khóa lễ hàng ngày cho đến một nét nhạc xưng dương Tam Bảo,
tất cả đều diễn tả một trình độ tu chứng thanh thoát, một tâm niệm giải
thoát vô tư.
Ta hãy lắng nghe
tiếng xướng uy nghiêm của vị chủ lễ, tiếng xưng tán Tam Bảo trang trọng mà
quy kính như ánh nến lung linh trang nghiêm. Tiếng chuông mõ khoan thai mở
đầu cho một khóa lễ. Phải có một tâm hồn điềm đạm và trang nghiêm lắm mới
điểm được những tiếng chuông tiếng mõ trang trọng như thế kia. Một tiếng
ngân trong sáng vọng ra êm ái mà thuần dịu. Hay tiếng tang mõ cùng điểm
trong một sự nhịp nhàng tuyệt đối của một bài tán hương được cử lên. Bài
tán là một bài thơ phổ nhạc Thiền. Ta hãy lắng mà nghe. Nếu mang nặng một
tâm hồn trần tục, ta sẽ không cảm nhận được những nét nhạc siêu tuyệt ấy,
mà phải có một tâm hồn thanh tịnh mới cảm nhận được cái hay cái đẹp của
tín ngưỡng, của giải thoát nghay trong cách tụng niệm. Mỗi bài một lối
tụng, tùy theo nội dung và ý nghĩa: “Nhất điện” với nhạc điệu siêu
tuyệt diễn tả cảnh vô thường, “thân hình bào ảnh tợ ngân sương”;
bài “Ái hà thiên xích lăng” diẽn tả tâm niệm tinh tấn và cảnh thăng
trầm của “khổ hải vạn trùng ba” bài “Tọa bồ đề tọa” với
những nét cao vút như đỉnh Tuyết Sơn và đẹp như ánh sao băng diễn tả giờ
thành đạo “nhất đỗ minh tinh, đạo thành giáng pháp lâm”; bài
“Hương tài nhiệt” diễn tả nét lung linh của khói hương, tràng phan nét
uyển chuyển của “chư Phật Bồ Tát hạ thiên cung” trong lúc “hương
yên liên nhiễu liên hoa động” ... Bao nhiêu là màu sắc, là âm điệu, là
hình bóng, là nghĩa lý thâm uyên.
Trong mỗi bài
tụng, tán, ta sẽ khám phá ra một quan niệm nhân sinh, một nếp sống an
lành, hiếu nghĩa, từ bi xem trọng sự lợi sinh và giải thoát của muôn loài.
Ở đây, lý trí và tình cảm điều hòa trong một nếp sống vị tha đạo hạnh và
đượm hương giải thoát. Chúng ta hãy đọc lên một vài đoạn “Mộng Sơn” để
thấy lòng từ bi lan đến thập loại chúng sanh. Mỗi câu xướng, mỗi cử động
trong nghi thức chứa đựng một ý nghĩa, mà suốt từ đầu đến cuối, mỗi sự xắp
đặt hoàn mỹ ăn nhịp theo với mục đích của khóa lễ. Sám hối bao giờ cũng
trước phát nguyện, phát nguyện bao giờ cũng trước hồi hướng và bao giờ
cũng chấm dứt bằng Tam Tự Quy Y để hành giả quay về với sơ niệm tốt đẹp
của đời đạo hạnh.
Nói tóm lại, lễ
nhạc trong Phật giáo, nếu nghiên cứu kỹ, chúng ta sẽ thấy cả một nếp sống
tâm linh cao đẹp phong phú, một nền văn minh tinh thần siêu việt, một
khuynh hướng giải thoát an lạc hoàn toàn khác với âm nhạc bên ngoài, mang
những âm thanh của một tâm hồn còn vướng bận, còn rộn ràng với kiếp sống
xao động của cuộc đời.
PHÁT BIỂU CỦA
TRƯỞNG BAN BẢO TRỢ (^)
HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI SAIGON
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
- Kính bạch chư
Tôn giáo phẩm, chư Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni,
- Kính thưa chư vị
Khách quý, Đại diện Chính quyền, Đoàn thể, Ban Ngành.
- Kính thưa Hội
đồng Điều hành Học viện,
Thưa toàn thể Tăng
Ni sinh khóa I, II, III, IV và quý Phật tử thân hữu xa gần.
Hôm nay trong bầu
không khí hân hoan, với niềm hỷ lạc vô biên, Học Viện Phật giáo Việt Nam
tại Saigon long trọng tổ chức Lễ Khánh Thành Cơ Sở Mới của Học Viện, trước
sự hiện diện quý báu của chư Tôn Thiền đức, chư vị Khách quý cùng chư Tăng
Ni sinh, chúng con xin thay mặt ban bảo trợ kính cẩn bày tỏ niềm phúc lạc
và lòng kính trọng đến chư liệt vị.
Kính thưa toàn thể
Quý liệt vị,
Kể từ ngày thành
lập đến nay HVPGVN tại Saigon đã đào tạo bốn khóa cho Tăng Ni sinh tốt
nghiệp Cử nhân Phật học. Như vậy 16 năm qua chúng con được duyên lành cùng
với Hội đồng Điều hành Học Viện, đóng góp một phần công đức trong Phật sự
vô cùng trọng đại là đào tạo Tăng Ni tài đức cho giai đoạn phát triển mới
của GHPGVN. Ban bảo trợ (BBT) nhận thức được tầm quan trọng, sự cao cả của
Phật sụ này nên ngày đêm tâm nguyện tự đáy lòng: Tinh tấn hộ trì chư Tăng
Ni trẻ an tâm tu học dưới mái trường HVPGVN tại Saigon để tăng trưởng Giới
đức, Tâm đức, Tuệ đức, hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần sanh. Đây cũng
là việc làm thiết thực nhất của BBT chúng con trong đời sống tu tập hướng
thượng: Pháp học đi đôi với pháp hành. Thế nên từ việc hộ trì cho 60 Tăng
Ni sinh khóa I; 120 Tăng Ni khóa II; 234 Tăng Ni sinh khóa III; đến nay
khóa IV đã lên đến 300 Tăng Ni sinh. Số lượng Tăng Ni sinh mỗi khóa ngày
càng tăng, chương trình đào tạo của Học Viện ngày càng phong phú, đa dạng.
BBT ngày mỗi hoan hỷ để chung sức chung lòng đóng góp, tạo nguồn kinh phí
cung ứng đảm bảo sự điều hành, xây dựng cơ sở mới đáp ứng nhu cầu phát
triển giáo dục đào tạo của Học Viện.
Trong xu thế đi
lên tất yếu đó, Hội Phật giáo Đồng Tu Đài Bắc (Đài Loan), đứng đầu là
Thượng tọa Hội trưởng Thích Quảng Tâm đã chia sẻ niềm khát vọng cao cả này
từ trong mỗi trái tim chúng con đã được ôm ấp từ lâu. Việc xây dựng thành
tựu cơ sở mới của HVPGVN tại Saigon ngày nay đã khích lệ tinh thần hộ trì
chánh pháp, cụ thể là hộ trì sự nghiệp giáo dục đào tạo Tăng Ni tài đức mà
Hội Đồng Điều Hành Học Viện chỉ giáo cho chúng con. Đây cũng là niềm tin,
niềm hỷ lạc để mọi thành viên BBT dõng mãnh tu đạo, hành đạo thêm phần
tăng tiến.
Kính thưa Quý liệt
vị,
Trong những năm
tháng gần đây, trước sự thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, cũng như
thành tựu nền công nghệ thông tin toàn cầu, đã giúp cho nhân loại hiểu
nhau nhiều hơn qua nguồn tri thức không biên giới này. Vì thế mà người ta
nhận ra rằng, việc đầu tư trí tuệ đã trở thành việc cấp thiết cho mọi con
người đang hiện hữu trên cõi đời này. Trong khi đó, đạo Phật với tôn chỉ
“Duy Tuệ Thị Nghiệp”, lấy trí tuệ làm sự nghiệp đã được đức Phật xiển
dương cách đây hơn 25 thế kỷ. HVPGVN tại Saigon cũng không ngoài tôn ý đó
trong việc đào tạo Tăng Ni tài đức tiếp nối sứ mệnh hoằng dương chánh
pháp, đem lại lợi ích thiết thực cho xã hội, cho mọi người. Việc hộ trì
cho chư Tăng Ni tu học tại Học Viện cũng như sự đóng góp công đức điều
hành hoạt động Học Viện là Phật sự vô cùng quan trọng: “Đầu tư trí tuệ" mà
xã hội loài người đang trông chờ chúng ta. Bao năm gần gũi chư Tôn đức Hội
đồng Điều hành Học Viện, bao năm ra sức phục vụ dưới mái trường HVPGVN, là
bấy nhiêu năm mỗi thành viên BBT cảm thấy như mình được sống trong ánh
sáng tuệ giác Vô thượng Bồ đề của đức Từ Phụ và đức Từ bi của chư Tôn đức
cao quý trong Giáo hội, Hội đồng Điều hành Học Viện. Nhờ vậy đời sống tu
tập chúng con ngày một thăng tiến về Giới đức, Tâm đức, Tuệ đức. Thật đúng
như trong kinh Tăng Chi, đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, gần làng, hay
thị trấn nào có trú xứ của các bậc xuất gia có giới hạnh, thì tại nơi ấy,
nhân dân nhờ ba sự kiện đạt nhiều công đức".
Trong ý nghĩa này
với 16 năm hộ trì chánh pháp, an trú trong nguồn mạch tuệ giác do chư Tôn
đức chỉ dạy, nếu có thành tựu nào BBT xin hồi hướng đến Tam Bảo để ngưỡng
cầu chư Phật và chư Đại Bồ Tát hộ trì cho Hội đồng Điều hành Học Viện Phật
giáo Việt Nam tại Saigon thành tựu sự nghiệp giáo dục đào tạo Tăng Ni tài
đức vẹn toàn.
Kính xin chư Tôn
Thiền đức, chư vị Khách quý, chư Tăng Ni sinh và quý đạo hữu phát triển
chứng minh lòng thành kính, niềm tin sâu đậm vào BBT của chúng con.
Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma ha tát.
TRANG CƯỜI
(^)
MỘT NỤ CƯỜI BẰNG MƯỜI LY CHANH MUỐI
Đức Chánh sưu tầm
Tri túc!
Điệu A: Tội nghiệp Sư Huynh mình
quá hén, mấy bữa nay bị mổ ruột thừa, hổng đi tới đi lui được mà lại bị ăn
cháo hoài - Ngán chết!
Điệu B: Ừa, thấy thương Sư Huynh
quá đi, nhưng mà cũng tại Sư Huynh hết á!
Điệu A: Ủa, ủa, tại cái gì? Sao
lại tại Sư Huynh?
Điệu B: Chứ hổng phải sao! Tại Sư
Huynh bổng biết tri túc. Người ta có ruột già ruột non là đủ rồi, Sư Huynh
còn thêm ruột thừa chi nữa!
Điệu A: (lăn đùng)!
Trụ Trì
Giờ Hán Văn - Giáo sư đang say sưa
giảng bài. Dưới góc lớp, Điệu A cũng đang gật gù tán thưởng lia lịa.
Giáo sư: Chú ngồi kế cây cột đó,
lên đây giải thích chữ TRỤ TRÌ nghe coi!
Điệu A (bừng tỉnh đi lên, dõng dạc
đáp): Dạ, TRỤ là nắm, giữ. TRÌ là lôi kéo, TRỤ TRì là nắm giữ, lôi kéo lại
ạ!
Giáo sư: Giỏi! Vậy thì Chú lại cây
cột đằng kia TRỤ lại và TRÌ ở đó cho đến hết giờ mới được buông ra nghe
hông!
Cả lớp: (cười ngả nghiêng)!
NỞ MẶT NỞ MÀY!!!
Năm cuối Trung học, trên bãi cỏ
sân trường - một nhóm nam sinh đang trò chuyện về tương lai sắp tới.
Dũng: Tao chừng này tuổi rồi mà
vẫn chưa làm được gì cho nở mặt nở mày, rỡ rang dòng họ. Đúng là “mình
nghèo tay trắng tương lai cũng úa tàn”!
Tiến: Tưởng chuyện gì, mày muốn nở
mặt nở mày hả, dễ ợt hà!
Dũng: Cách nào, mày mau chỉ cho ta
biết với!
Tiến: Khó khăn gì! Hè này mày theo
tao về quê, nhà tao có nuôi ong lấy mật, mày chỉ việc phụ tao đi lấy mật
ong vài lần là sẽ được nở mặt nở mày ngay!
Dũng: Hả??? (té ngửa)!!!
ĐÔI DÒNG LƯU NIỆM
(^)
THÍCH VIÊN ANH
Nguyễn Đăng Hải
Tự cảm
Nhân loại đang bước vào kỷ nguyên
mới, kỷ nguyên của thông tin. Điều này cho chúng ta thấy rằng người tu sĩ
trẻ Phật giáo đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc hoằng dương
chánh pháp, đem đạo vào đời. Trước một thách thức như vậy, đòi hỏi chúng
ta phải nhập thế bằng những gì đời cần, chứ không phải những gì chúng ta
có. Cho nên mỗi tu sĩ trẻ Phật giáo cần tự trang bị, tự hoàn thiện đầy đủ
những gì mà cuộc đời cần và phải biết vận dụng tốt thế học để làm phương
tiện nhập thế.
THÍCH PHÁP ẤN
Lê Văn Sơn
Hôm tôi đảnh lễ chào ân sư để vào
Nam tiếp tục học tại Học Viện, trường tôi vừa thi đỗ. Thầy khuyên dạy,
nhắc nhở tôi thật nhiều, đoạn nói: “Khổng Tử bất sỉ hạ vấn”. Tôi nhớ mãi
lời ấy. Phải chăng đó là đức tánh cao thượng của người học thuở xưa. Phải
chăng đó là những kinh nghiệm sống mà Thầy đã đúc kết được trong những
tháng ngày còn là du học Tăng như tôi và các pháp hữu. Phải chăng đó là
khuôn vàng thước ngọc mà bao thế hệ học trò hôm nay và mai sau phải nâng
niu gìn giữ. Thiết nghĩ, trong lộ trình học vấn, cái “tự ngã” là vật cản
to lớn ngăn chận sự tiến bước của tri thức. “Bất sỉ hạ vấn” là tinh thần
cầu học theo giáo lý vô ngã của đức Phật vậy. Ngày xưa, những bậc Thánh
nhân, bác học đa văn không thấy xấu hổ khi học hỏi người dưới mình, huống
chi, bây giờ tôi và các pháp hữu chỉ là “Cậu Cử” mới ra lò thì không những
tiếp tục “thượng vấn” mà cần phải “hạ vấn” nhiều hơn nữa, phải không?
THÍCH HẠNH BẢO
Trịnh Quang Dũng
Cảm nhận trong Hiện tại
Trên tiến trình tu tập, Bồ đề tâm
rất quan trọng và căn bản cho mọi hành giả. Nó cũng giống như tấm gương,
siêng lau chuì thì nó trong sáng. Đối với người sơ cơ, người thầy hoặc
người đi trước có ảnh hưởng rất lớn trong việc phát triển Bồ đề tâm của
họ. Vậy, chúng ta nên làm gì giúp họ để trong tương lai không còn phải bận
tâm như tình trạng hiện nay.
THÍCH MINH CHÁNH
Đoàn Minh An
Tạ từ
Ngày đã hết thôi tạ từ nhé
Trường xưa ơi và bạn cũ mến yêu ơi
Phút chia tay không nói được nên
lời
Để ký ức dạt dào trong nỗi nhớ
Phấn trắng bảng đen khép mình bỡ
ngỡ
Bàn ghế gục đầu xin gọi cố nhân.
THÍCH ĐỒNG BỔN
Lê Gia Phán
Cảm niệm
Thấm thoát đã bốn năm
Tình huynh đệ đầm ấm
Ơn giáo dưỡng cao dày
Chan chứa không hề phai.
THÍCH TRUNG BỬU
Lưu Văn Lộc
Bốn năm chung học bản trường,
Giờ đây đôi ngã, đoạn trường nhớ
thương
Ô hay! Học Viện vấn vương
Phật giáo hưng thịnh, vĩnh sương
đạo mầu
Thiện pháp nhuần thấm năm Châu
Tứ phương bốn bể tâm đầu kết duyên
Từ đây trên khắp mọi miền
Cùng chung rộng mở cửa Thiền từ bi
Vạn hạnh lục độ khắc ghi
Tiến về tuệ giác vô vi Niết Bàn.
THÍCH NHUẬN CHÂU
Lê Quý Trúc Bảo
CẢM NIỆM HT. THÍCH THANH KIỂM
(GS. HVPGVN tại Saigon)
Vĩnh Nghiêm phong cảnh thật huy
hoàng
Phật tượng nguy nga hiện sắc vàng
Thanh Kiểm Tôn sư nay viên tịch
Danh dồn thơm ngát khắp thế gian
Chân tu thực học đời nay hiếm
Giới đức kiêm ưu rất khả quan
Phiền não dứt trừ tâm thanh tịnh
Niết bàn chứng đắc tại trần gian.
THÍCH QUẢNG BẢO
Nguyễn Văn Cảnh
LỜI CUỐI
Các bạn thân mến!
Tôi biết vào những ngày này, những
ngày cuối khóa, tâm trạng của các các bạn, của tất cả chúng ta, đều nôn
nao, xao xuyến, phải không? Một cái gì đó rất khó nói, khó diễn tả, nó cứ
len lỏi vào trong tim, trong tâm hồn, khiến ta cảm thấy buồn buồn, nhớ
nhớ. Hình như có một cái gì đó sắp vụt mất khỏi tầm tay, có một cái gì đó
sắp ra đi và không bao giờ quay lại. Và ta quyến luyến, ta không nỡ xa, ta
cố níu lại, ta muốn ôm tất cả vào lòng. Đó là tâm trạng ngày ra trường, đó
là tâm trạng của tuổi học trò, đó là những ngày tháng sống bên nhau cả
tuổi thơ, cả mộng mơ và một trời tím biếc ...
Nhưng bạn ơi! Với tôi, tôi xin
được chia sẻ với các bạn, rằng chúng ta chẳng bao giờ chia xa, bởi tất cả
đều đang hiện hữu mầu nhiệm, hoặc ở chỗ này, hoặc ở chỗ kia, (xuất thử một
bí) mà chúng ta không nhận ra đó thôi!
Với tôi, các bạn luôn hiện hữu và
không bao giờ xa cách, dù hôm nay, mai sau, mười năm, hai mươi năm hay lâu
hơn nữa, các bạn vẫn bên tôi, mầu nhiệm và tôi luôn cảm thấy hạnh phúc.
Bởi cuộc sống chưa bao giờ dừng nghỉ, luôn trôi chảy, thì bạn và tôi luôn
gặp nhau, hiện nhữu bên nhau trong chu trình tiếp nối miên viễn đó. Và để
nhận ra nhau, chỉ có một cách duy nhất, an trú trong hiện tại. Vâng, hạnh
phúc chỉ có thể có mặt trong giây phút hiện tại và được làm bằng sự thương
yêu và hiểu biết. Hạnh phúc không phải tìm kiếm đâu xa. Chỉ có thể có mặt
trong giây phút và được và được làm bằng sự thương yêu và hiểu biết. Chỉ
cần ngồi bên nhau 10 phút, 20 phút, nói cười với nhau, nhìn nhau hiểu
biết, thấy được rằng chúng ta đang được sống bên nhau với khung cảnh mầu
nhiệm này là ta đã có được hạnh phúc. Và chính hạnh phúc này mà ta trở nên
một vị Bồ Tát, có thể đem an lạc, hạnh phúc mà chia sẻ với mọi người, mọi
loài. Cuối cùng thân chúc tất cả được thành đạt sở nguyện và lý tưởng của
mình.
THÍCH GIÁC CHANH
Phạm Ngọc Thanh
(Thơ chữ Hán)
...
THÍCH PHÁP CHÂU
Trần Hạ Nam
Tặng nhau
Tặng nhau về mấy câu thơ
Đọc lên cho khói bên bờ dựng sương
Đọc theo cách điệu hồn nhiên
Như đi lững thững giữa miền cỏ hoa
Tặng về nhau mấy câu ca
Đọc theo bông bưởi nụ cà ngoài sân
Đọc lên cánh mỏng chuồn chuồn
Trần gian bay lượn đâu buồn đâu
vui
Tặng về nhau một nụ cười
Nhành hoa buổi ấy diệu lời vô ngôn
Ngàn năm xa chợt về gần
Mang theo hơi thở một dòng lênh
đênh
Gởi lòng nhau mấy câu kinh
Đường xưa mây trắng thanh bình
hiện ra.
THÍCH TÂM CHƠN
Lê Hữu Chính
Đôi lời tâm sự
Chỉ còn vài tuần trăng nữa là khóa
học kết thúc, mỗi chúng ta phải chia tay, xa thầy, xa bạn, xa tất cả những
gì dí dỏm đáng nhớ và thân thương nhất của lứa tuổi học trò. Hình ảnh “Tục
Diệm Truyền Đăng” của quý Ôn, quý Thượng tọa và Chư Giáo sư vẫn hằng in
đậm trong tâm trí của tất cả Tăng Ni sinh. Mai đây, mỗi chúng ta là những
cánh chim bay về phương trời xa xăm để tuỳ duyên “Tác Như Lai Sứ, Hành Như
Lai sự”. Nay người viết kính ghi lại mấy dòng để tỏ lòng tri ân Quý ngài
và chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn cùng chư huynh đệ trong suốt bốn năm
học.
THÍCH QUẢNG DUY
Văn Trung Quốc
Bước chân đi qua để lại dấu. Sóng
xoá đi để lại thời gian. Người thầy, người bạn đi qua đời ta để lại ký ức.
Ký ức khó phôi phai. Những mái phố phơi màu, ngói xô nghiêng như muốn hỏi
điều gì? Hay tôi đang tự hỏi mình đang nghĩ gì? Ồ thật bâng quơ. Tôi chợt
hiểu, “khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Phải
rồi, bốn năm qua nơi Học Viện này, không dài, nhưng có lẽ cũng đủ để “hóa
quê hương”. Không phải chăng?.
THÍCH TÂM ĐẠT
Võ Thanh Tùng
Một thời để nhớ
“Nếu cuộc sống được ví như cung
đàn diễm tuyệt
Thì giai thoại của tình người là
cung bậc của âm thanh”.
Quả thế, dòng thời gian cứ trôi
dần theo năm tháng, làm mờ phai mọi ý nghĩ của cuộc đời, lúc thăng, lúc
trầm, khi vinh khi nhục theo từng cung bậc của nó, khiến cho lòng người cứ
mãi thay trắng đổi đen. Chợt nhìn lại chúng ta chỉ thấy mình:
“Sống trong cái chết bao lần khóc
Ngẫm lại cơn mê mấy trận cười”.
Tuy nhiên, trong mỗi con người, ai
ai cũng còn ẩn chứa trong tâm hồn sự hồn nhiên và thơ ngây. Chính chúng là
những thứ chất liệu cần thiết giúp cho con người cảm thấy đời mình tươi
vui và yêu đời hơn. Do đó, ta cần phải trân trọng và bảo bọc. Bởi cái gì
cũng từng trải, cũng kinh nghiệm, nên chúng ta đánh mất đi tính hồn nhiên,
cũng như những gì lý thú nhất mà cuộc sống đã ban trao. Nói như vậy không
có nghĩa là phủ nhận sự trưởng thành và kinh nghiệm của con người mà lúc
nào chúng ta cũng đưa lên ngang tầm. Vì sự trưởng thành và kinh nghiệm bao
giờ cũng giúp cho con người tránh những vấp váp sai lầm trong cuộc sống.
Miễn sao khi nhìn lại, dù đứng ở một góc độ nào, ta cũng có thể cảm nhận
được quy trình sống và vận hành của một con người.
THÍCH TUỆ ĐĂNG
Nguyễn Quốc Việt
Lời dạy ân sư:
“... Đi trong cuộc đời này, khẳng
định cho mình một hướng đi chân chánh” đã là khó, thế nhưng, một đời sống
tốt đẹp chưa đủ để nói chuyện với kiếp luân hồi khổ đau hiểm nạn. Hãy cẩn
thận, hãy chọn cho mình một thế đứng, hãy hát làm sao để người ta có thể
hình dung được “Đường vào im lặng”.
THÍCH PHƯỚC ĐIỀN
Nguyễn Lương Dinh
Tôi, Tăng sinh khóa IV, Học Viện
Phật giáo Việt Nam tại Saigon. Học Viện là nơi đào luyện tu sĩ có hệ
thống. Chính nơi đây đã giúp tu sĩ chúng tôi có được nền móng kiến thức về
Phật giáo. Tôi rất hãnh diện được vào nơi đây để học. Suốt khóa học bốn
năm, đây không phải là thời gian dài nhưng cũng đủ cho tôi học hỏi những
gì cần học hỏi. Chư huynh đệ cố gắng vào đây học nhé.
THÍCH GIỚI ĐỨC
Trần Ngọc Anh
Truyện ngắn:
CÚI LẠY BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM
Vào những ngày cuối thu tại chiến
trường Campuchia, tôi cùng đơn vị làm nhiệm vụ trinh sát biên giới Thái
Lan.
Ngày đó, tôi đã bị thương nặng.
Trong cơn mê man, tôi gặp con quỉ ba sừng nắm tay tôi bay về đất Việt.
Tỉnh lại, tôi biết rằng đó chỉ là mơ. Hoàn thành nghĩa vụ, tôi trở về quê
hương và theo mẹ lên chùa lễ Phật. Bước vào chùa, tôi ngỡ ngàng nhìn thấy
bức tượng con quỉ trong giấc mộng ngày xưa ... Tôi chợt hiểu rằng, Bồ Tát
Quán Thế Âm đã cứu tôi thoát chết năm nào. Tôi liền đảnh lễ Ngài trong
thành kính.
THÍCH ĐỒNG ĐỨC
Nguyễn Vĩnh Phúc
Lưu niệm
“Thuở còn thơ ngây hai buổi ở chùa
Hiểu đạo nghĩa qua từng trang kinh mở”
Bốn năm học dưới mái Học Viện sắp
sửa trôi qua. Một chặng đường chưa dài, song không thể gọi là ngắn. Ngẫm
nghĩ lại, ta đã học được những gì? Đã đạt được những gì? Thôi thì đành mạo
muội mượn những lời cảm hứng của Hòa thượng Phước Huệ:
“Kinh điển lưu truyền tám vạn
tư
Học hành không thiếu cũng không
dư
Đến nay nhớ lại chửng quên hết
Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như”.
Để làm tâm sự trong lúc tạm chia
tay.
THÍCH QUẢNG KHƯƠNG
Nguyễn Văn Ninh
Quá khứ gieo nhân được quả này
Thân người pháp Phật có trong tay
Sẵn phương tiện tốt đi cho tới
Bỏ lỡ trôi qua uổng tháng ngày.
THÍCH HỒNG ĐỨC
Trần Đình Chiến
Bốn năm học đã đi qua, gặp gỡ rồi
lại chia tay với biết bao nhiêu cảm giác lạ lùng, với chu kỳ lặp lại của
thời gian, cái cảm giác ấy tuy có khác nhau, nhưng tồn đọng trong tôi vẫn
là cái giá trị ban đầu và cuối cùng không thể mất.
Thời gian đến đi không dừng nghỉ,
không biết sau này tôi có còn gặp lại “cảm giác” ấy hay không? Và kỷ niệm
dưới mái trường, dấu ấn của thời sinh viên là đẹp nhất! Tôi sẽ giữ mãi
những gì đã có hôm nay.
THÍCH MINH ĐỨC
Nguyễn Đình Minh Đức
(Thơ chữ Hán)
...
THÍCH TOẠI ĐỨC
Đinh Hữu Hảo
Sương vĩnh cửu
Mãi đến giờ, nguyện ước của tôi
được tắm đẫm trong nguồn giáo lý vi diệu tại Học Viện Phật giáo vẫn còn
bẳng lẳng. Trong lời giảng của các giáo sư, thoáng hiện đâu đó vài hạt
sương lung linh, chiếu diệu nét tinh tuý của mười phương bản thể. Cúi lạy
những hạt sương rực rỡ, con nguyện kết thành chuỗi ngọt điểm tô cho con
đường hướng thượng. Cúi đầu tri ân các bậc ân sư dày công tích góp hơi
hướm của sa mù để tạo nên những hạt sương vĩnh cửu.
THÍCH MINH HẢI
Nguyễn Huỳnh Quang Sơn
Viên đá lót đường
Thời gian thấm thoát thoi đưa, bốn
năm học đã bước vào những giờ phhút cuối cùng. Biết bao tiết học đã trôi
qua, biết bao lời giảng của thầy đã đi vào ký ức, tất cả chỉ còn đọng lại
trong tôi:
“Thầy dạy cho con làm viên đá nhỏ
Ngày tháng quên mình giữa đám rêu
xanh
Rồi một mai con người cầm đến
Xin nguyện lót đường đưa khách
vãng lai”.
Vâng, tôi nguyện khi có bất kỳ ai
cần đến, sẽ xin làm một viên đá nhỏ lót đường đưa người đến bến Chân như.
THÍCH MINH GIỚI
Lê Bé Năm
Học Viện Phật giáo Việt Nam là môi
trường giáo dục và đào tạo có phương pháp và nội dung phù hợp với Phật
giáo hiện đại, trong nước và ngoài nước. Bốn năm qua, chúng con được tiếp
thu nhiều tinh hoa Phật pháp. những tư tưởng đa dạng của các Bộ phái. Mỗi
bộ kinh chủ trương triết lý khác nhau nhưng lại nhất quán trên lãnh vực
giác ngộ và giải thoát. Chúng con cũng được học tập rất nhiều kiến thức
văn hóa xã hội. Tất cả những thành quả ấy đều nhờ vào Quý Hòa thượng,
Thượng tọa trong Hội đồng Điều hành Học Viện và Chư vị Giáo sư đã tận tâm
truyền trao, giáo dục. Ước mong sao, sau khi tốt nghiệp, Học Viện chúng
ta đào tạo tiếp Hậu Đại học, để chúng con có điều kiện được đi xa hơn.
THÍCH NGUYÊN HẠNH
Tôn Thất Sang
Tâm tình ngày ra trường
Thời gian trôi qua nhanh thật! Mới
hôm nào đây, không khí sân trường Vạn Hạnh thật tưng bừng náo nhiệt trong
lễ khai giảng khóa học 1997-2001, thế mà giờ đây đã sắp ngày mãn khóa rồi.
Bây giờ ít ai có thể tìm thấy được
những khuôn mặt ngây ngô ngày mới nhập trường. Tất cả Tăng Ni sinh dường
như đã trưởng thành hẳn lên sau bốn năm cùng học, cùng tu dưới ngôi Học
Viện thân yêu này.
Từ trong sâu thẳm tâm tư của mỗi
Tăng Ni sinh Học Viện như đang định hình những hoài bão lớn, những bước
tiến mới trên lộ trình tu học lâu dài. Cũng từ trong sâu thẳm tâm hồn của
quí Thầy, quí Cô Tăng Ni sinh Học Viện, sau bốn năm tu học, đã ấm lên biết
bao tình cảm tha thiết: tình Thầy trò, tình đạo bạn mênh mông, vô bờ ...
Cho con mượn đôi dòng của trang kỷ
yếu này, kính dâng lên Hòa thượng Viện trưởng, chư Tôn Đức, chư vị Giáo sư
lòng thành kính tri ân sâu sắc của toàn thể Tăng Ni sinh chúng con, Chư vị
đã hết lòng vì đàn hậu học chúng con mà truyền trao ánh sáng trí tuệ,
truyền trao kiến thức, kinh nghiệm và truyền trao những phẩm chất đạo đức
cao vời. Cũng xin gởi nơi đây lòng thành tri ân của toàn thể Tăng Ni sinh
đối với chư Phật tử Ban Bảo Trợ. Không có sự giúp đỡ của quí vị Phật tử
Ban Bảo Trợ thì toàn thể Tăng Ni sinh cũng khó thành tựu viên mãn khóa học
này.
Thời gian ơi xin hãy dừng lại để
cho được bộc bạch đôi lời cùng quý huynh đệ. Quý hunh đệ ơi, dù không muốn
nói ra, nhưng trong thâm tâm của mỗi chúng ta đều chất chứa nhiều tình cảm
huynh đệ chân thành và tha thiết trong những tháng năm cùng học cùng tu
tại ngôi Học Viện thân yêu này. Sắp đến ngày ra trường rồi, những tình cảm
ấy lại dâng trào mãnh liệt khiến lòng tôi cảm thấy nghẹn ngào, bồi hồi khó
tả. Mai đây, dù mỗi người mỗi phương, mong rằng mỗi huynh đệ chúng ta vẫn
giữ mãi trong tim tình đạo bạn chân thành mà chúng ta đã tạo dựng được
trong những năm tháng cùng nhau tu học; giữ vững lý tưởng cao cả, những
hoài bão lớn lao mà chúng ta đang theo đuổi.
Quí huynh đệ ơi! Chúng mình đã
biết “Đến và đi vẫn như vậy”, nhưng lòng người làm sao tránh khỏi nghẹn
ngào xúc động khi phải cùng nhau chia xa mỗi người mỗi phương!
Quí huynh đệ ơi! Chính thời gian
đã tạo cho chúng ta tất cả nhưng chính thời gian cũng buộc chúng ta phải
chia xa. Giờ đây chúng ta càng thâm hiểu được ý nghĩa của vô thường, càng
biết quí trọng thời gian, quí trọng và nâng nui tất cả những tình cảm chân
thành, những giá trị chân chất của cuộc sống.
Xa nhau rồi, biết đến bao giờ mới
gặp lại! Chỉ hy vọng một điều: Hãy sống và nâng nui tất cả.
THÍCH MINH HẠNH
Tô Thành Hiếu
Sau bốn năm tu học dưới mái trường
Vạn Hạnh, tôi đã được nhà trường đào luyện, truyền trao kiến thức, nhất là
một nền Phật học vững chãi đã đưa tôi ra khỏi bóng tối vô minh. Tôi như
con chim và nhà trường đã cho tôi đôi cánh. Đôi cánh ấy, một là kiến thức
thế học, một là tri thức Phật học. Tôi nguyện bay vào cuộc đời mang theo
thông điệp tự do, hạnh phúc và hòa bình cho nhân loại.
THÍCH THƯỜNG HẠNH
Nguyễn Văn Hiếu
Khóa học bốn năm là khoảng thời
gian ý nghĩa và quý báu nhất đã hiện hữu trong tâm tư tình cảm Tăng Ni
sinh. Trong thời gian này, chư vị Tôn sư, Giáo sư bằng kinh nghiệm xương
máu và với trái tim nhân ái của mình đã trao tặng cho chúng ta chiếc chìa
khóa tri thức, có thể mở toang cánh cửa của cuộc đời trong thiên niên kỷ
mới.
THÍCH CHIẾU HIỀN
Nguyễn Quang Hậu
Thong dong
Đập nát bụi trần mở lối đi
Thong dong ngàn cõi buộc ràng chi
Tâm từ là đất nâng gót nhỏ
Tuệ giác nuôi thân mỗi phút giây.
THÍCH QUANG HẠNH
Trần Văn Ba
Một chút để nhớ
Thế rồi, chúng ta lại phải chia
tay mang theo mình biết bao kỷ niệm buồn vui. Tình thầy còn đây, nghĩa bạn
vẫn còn đây, nhưng trong tôi cảm thấy bâng khuâng một nỗi nhớ! Tôi nhớ
thầy, nhớ bạn, nhớ những buổi bên nhau trên giảng đường. Huynh đệ ơi! Hãy
giữ lấy những gì tốt đẹp thân thương nhất để làm hành trang trên bước
đường hoằng hóa độ sanh. Rồi mai đây trên vạn nẻo đường đất nước, chúng ta
gặp lại nhau, và cùng nhau ôn lại những kỷ niệm của thời xưa ấy.
THÍCH QUẢNG HẠNH
Nguyễn Phương Khanh
Tiếng lòng
Màn đêm buông xuống, không gian
lắng đọng, vạn vật như ngừng trôi, thời gian như đứng lại, dần dân tất cả
như chìm sâu vào giấc ngủ say sưa, tan bao thổn thức, muộn phiền, lo toan,
vất vả đời thường, Nhưng “nguồn tâm” bất tận vẫn đang âm ỉ sống, đang tìm
mảnh đất hồi sinh, tái hiện những bước chân rong ruổi thăng trầm, tủi hận,
đớn đau trên cát bụi đường trường, trong tịch vắng cô liêu. Một thoáng suy
tư, dòng ý niệm dứt bặt. Ô kìa! Mặt trời “chân lý trí tuệ” lóe sáng. Đức
Phật của lòng ta.
THÍCH CHÚC HIỀN
Văn Công Bé
(Thơ chữ Hán)
...
THÍCH MINH HIỂN
Nguyễn Ngọc Vinh
Nhìn tới là tương lai, quay lại là
quá khứ, hiện tại là tương lai. Quá khứ, hiện tại, tương lai phải chăng đó
chỉ là chuỗi thời gian tiếp nối mà con người luôn mơ ước cái sau đẹo hơn
cái trước, để xã hội được hoàn thiện và loài người được hạnh phúc? Cũng
vói ước nguyện đó mà đã bốn năm qua, ba trăm Tăng Ni sinh được ươm mầm nơi
Học Viện này. Giờ đây, cây đã nở hoa, ba trăm đóa hoa Cử nhân, với biết
bao kỷ niệm dưới mái trường, rộn ràng với hành trang Phật học, sẵn sàng
chắp cánh cho hương hoa tỏa đi muôn phương, mong tô đẹp cho đời và hạnh
phúc cho người.
THÍCH MINH HOÀNG
Lâm Quốc Cường
Thời gian thấm thoát qua mau, nhớ
ngày đầu bước đến ngưỡng cửa Học Viện, tâm trạng mừng lo lẫn lộn, thầy bạn
còn nhiều bỡ ngỡ. Thế rồi khóa học đã đến ngày kết thúc, ngày chia tay bao
nỗi lưu luyến khó phai. Nau xin gởi lại tất cả những kỷ niệm vui buồn của
ngày đèn sách trên trang kỷ yếu này để lưu lại những kỷ niệm một thời bên
thầy bạn.
Dù xa cách mấy muôn nơi
Đọc trang kỷ yếu một thời chẳng
phai.
THÍCH MINH HOA
Trần Văn Hòa
Tại Học Viện này, Minh Hoa được
diện kiến những bậc Thầy khả kính, được sống trong tình thương và sự bảo
bọc của chư Tôn đức, nhất là sự quan tâm của quý bác trong Ban Bảo Trợ của
Học Viện. Con xin nguyện khắc cốt ghi tâm những ân đức đó.
Suốt bốn năm học dưới mái trường
Học Viện thân yêu, giờ phải chia tay bạn bè, mỗi người đi một phương,
không biết bao giờ gặp lại, Minh Hoa cảm thấy xúc động ...
Các bạn thân mến! Giờ sắp chia tay
rồi, biết nói gì đây cho thỏa dạ, cho vơi đi nỗi niềm. Kỷ niệm ngày nào
còn đọng nơi đây. Mũi Né Đồi Hồng, Nha Trang Biển Nhớ, Đà Lạt Xuân Về, Hà
Nội Hoàng Hôn ... Ôi, những ngày đi cứu trợ chiều hôm, mưa giá lạnh mà nụ
cười vẫn nở. Bạn thân ơi! Phương trời nào đó nhớ về nhau, nhớ mãi phút
giây này.
THÍCH PHƯỚC HOÀNG
Huỳnh Minh Toàn
Chúng ta như những cánh chim từ
vạn nẻo cùng nhau hội ngộ dưới mái trường Học Viện PGVN, được sự chở che
nâng đỡ bởi tàn cây đại thọ Hòa thượng Viện trưởng, và chư tôn đức trong
Hội đồng Điều hành, được mớm mồi bởi những lời pháp nhũ của chư Tôn đức và
những kiến thức của chư vị Giáo sư. Nhờ vậy mà chúng ta được trưởng thành
theo năm tháng.
Nếu những cánh chim én kia cho
người ấn tượng phấn khởi về mùa xuân tươi thắm, thì chúng ta, những Tăng
Ni sinh của HPGVN, phải làm thế nào để tạo cho đời cảnh xuân bất diệt và
là những đóa hoa giác ngộ rộ nở giữa vườn đời, làm tươi lại những mảnh đời
héo hon, giá buốt.
Cuối cùng, xin mượn câu nói của
nhà văn Võ Đình Cường để gói ghém tâm tư tôi muốn gởi đến cho bạn: “Chỉ có
sự luôn luôn đổi thay mới không bao giờ thay đổi”. Và, chỉ mong rằng, sau
lần chia tay ra trường này, chúng ta vẫn còn mãi mãi bên nhau. Tôi tin
điều đó. Bởi vì, tôi biết rằng trong bạn luôn có tôi và trong tôi luôn
hằng có bạn.
THÍCH THIỆN HUỆ
Nguyễn Văn Huệ
Tương lai Phật giáo Việt Nam
Trong xu thế đổi mới liên tục của
đất nước, những nhà lãnh đạo Phật giáo cần nên xem xét lại những vấn đề
còn đang tồn đọng trong hàng ngũ xuất gia, nhất là về mặt nhân cách của
một hành giả Phật giáo. Hiện tại, do thiếu trách nhiệm giáo dục và quá dễ
dãi trong việc thu nhận đệ tử của các bậc Bổn sư, cộng với số lượng Tăng
Ni ngày một đông đúc, nếu không kịp thời chấn chỉnh, tôi cho rằng, trong
tương lai, Phật giáo Việt Nam chỉ còn tồn lại nét đẹp của một Phật giáo
quá khứ mà thôi.
THÍCH QUẢNG KIÊN
Thái Ngọc Cường
ĐÔI DÒNG TÂM SỰ
Cứ mỗi lần vô tình nghe ai đó nhắc
đến hai từ “Ra trường” tôi cảm thấy lòng mình gợi lên một nỗi buồn man
mác. Thật vậy, làm sao khỏi buồn cho được khi phải rời xa ngôi trường, xa
thầy, xa bè bạn dấu yêu hằng gắn bó với mình trong suốt bốn năm học qua.
Mai này, dẫu có đi nơi đâu, trong tôi vẫn đọng lại những kỷ niệm đẹp nơi
giảng đường Học Viện, vì chính nó đã giúp tôi thành người hơn trong cuộc
sống.
THÍCH NGUYÊN HÙNG
Phan Văn Việt
TỪ GIÃ
Mai thôi học
Tôi xin về chốn cũ
Xin giã từ phố thị phồn hoa
Chẳng phải tôi yêu chốn cũ quê nhà
Mà phố thị tôi không hề dung nổi.
Mai thôi học
Tôi xin về chốn cũ
Tìm trăng xưa nơi hội cũ hoang
hồng
Bên mái tranh vui cỏ cây
Hoa cải, gió ngàn
Tắm nắng sớm, đắp mây chiều
Đốt lò hương bầu bạn.
Từ giã nhé
Mấy năm không hẹn trước
Người đông tây nam bắc mù khơi
Tôi và bạn trong chu trình duyên
khởi
Còn luân hồi
Chắc còn hội ngộ.
THÍCH NHƯ LONG
Nguyễn Ngọc Bé
Cây bút này cũng như bao cây khác
cùng theo tôi bên cạnh mái trường mà hôm nay sao lại lạ thế nhỉ! Có lúc
nhẹ bỗng, có lúc nặng trĩu, hình như nó có chút tâm sự trước khi tạm biệt.
Tạm biệt là khép lại phía trước
bao kỷ niệm vui buồn hồn nhiên của tuổi học trò thời tăng sinh, để rồi
tiếp tục một sự việc khác, cuộc đời khác, trang sử khác nên có mang chút
buồn ly biệt, chút quyến luyến.
Nhưng nó cũng cảm thấy hãnh diện
và hài lòng những gì còn theo đuổi bốn năm qua. Đứng trước sự việc đó thật
vui mừng phấn khởi biết bao, làm sao không thoát ra những lời thật lòng
thành kính tri ân Hòa thượng Viện trường, Hội đồng Điều hành Học Viện cùng
Văn phòng các ban và chư vị Thiện Thần, ân nhân gia hộ.
THÍCH ĐỒNG LƯU
Nguyễn Văn Quang
Thời gian như một tia chớp, chợt
sáng; như ngôi sao băng, vụt bay. Đã bốn năm rồi bạn nhỉ! Bạn có bao giờ
tiếc nuối một điều chi? Một triết gia đã từng nói: “Bạn không nên bỏ lỡ
một cơ hội nào, vì cơ hội ấy sẽ không bao giờ trở lại”. Bốn năm trường Vạn
Hạnh, không ngắn cũng chẳng dài, chỉ đủ cho ta bỏ lỡ hoặc nắm bắt bao điều
hữu ích. Thật vậy, thời gian không bao giờ quay lại, để cho tôi, tiếc mãi,
một thời trốn học.
THÍCH TRÍ MINH
Nguyễn Đắc Sỹ
Tri ngộ
Bốn năm một thoáng chiêm bao
Giật mình ta bỗng xôn xao trong
lòng
Ngày nào chung mái trường đông
Lam, đà, khất sĩ ... chia đồng khổ
vui
Hợp lại rồi phải chia phôi
Mai này đôi nẻo ... thôi rồi, cách
xa
Đường trần nhiều nỗi phong ba
Mong tình tri ngộ mãi là của nhau.
THÍCH TÍN MẪN
Lê Kim Phúc
Ngỡ ngàng, vui sướng buổi tựu
trường in đậm sự náo nức xen lẫn chút lo âu. Bài đầu, ... bài cuối; năm
đầu, ... năm cuối; lời thầy chuyển tải ý nhiệm mầu, đàn hậu học một lòng
hướng tâm theo Tứ-Trí.
Thời gian cứ trôi đi, ký ức thì
đọng lại, tình thầy trò, tình bằng hữu, nỗi buồn, niềm vui ... bao nhiêu
kỷ niệm đong đầy. Bốn năm học sắp kết thúc, ngày tốt nghiệp đã gần kề,
lòng khởi lại hòa tan trong nỗi niềm luyến tiếc.
THÍCH VẠN NĂNG
Đỗ Văn Cường
Kính tri ân công đức sâu dầy của
chư Tôn đức, chư vị Giáo sư, Hội đồng Điều hành Học Viện cùng chư thiện
hữu Phật tử bảo trợ đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con tu học bổn
trường. Con xin cố gắng cho đến khi một ngày nào đó sẽ tiếp nối truyền
thống giáo dục đạo pháp của chư Tôn đức, thực hiện hoài bão cao xa:
“Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh".
THÍCH PHƯỚC NGUYÊN
Lâm Việt Hải
CÒN LẠI CHỮ TÂM
“Có còn để lại gì không
Kìa non đá lỡ nọ sông cát bồi”
Thấm thoát 4 năm đã trôi qua dưới
mái trường Phật học, Học Viện PGVN.
Những hình ảnh cao cả, những lời
dạy quí báu của Hòa thượng Viện trưởng, của quý Thầy Cô, và chư vị Giáo
thọ khả kính sẽ mãi mãi in đậm trong tâm hồn của Tăng Ni sinh chúng con.
Nhưng có lẽ tuyệt vời nhất của
người học trò là sau thời gian miệt mài học tập đó, người học trò sẽ trả
hết chữ nghĩa cho thầy, chỉ giữ lại một điều duy nhất, đó là cái “Tâm” của
người con Phật và nếp sống “Văn hóa” của người tu sĩ Việt Nam; biết nghĩ
đến chúng sanh, biết nghĩ đến đồng đạo, biết nghĩ đến cha mẹ và Thầy Tổ,
biết nghĩ đến quê hương và Tổ quốc ... và ... biết nghĩ đến vận mệnh của
đạo pháp!
- Đó mới thật sự là “Cái Tâm” được
nung nấu bằng chữ nghĩa và lời dạy của thầy, nó kết tinh bằng tâm huyết
cho sự nghiệp giáo dục của Phật giáo!
- Đó mới thật sự là “Cái Tâm” của
người học đạo đem đến cho xã hội, cho con người trong cuộc đời giả tạm
này!
- Đó mới thật sự là tri ân và báo
ân duy nhất của người con Phật!
THÍCH QUẢNG NGUYÊN
Lê Văn Châu
Thời gian thất thắt trôi qua, đã
bốn mùa hoa mai rụng rồi trổ lộc đâm chồi. Ngôi trường thân yêu mà ngày
nào tôi cũng đến rồi đi như đã trở thành thân quen, tâm tư tôi không hề
xao xuyến suy tư. Tôi không biết mình đã đạt được những gì ở ngôi trường
này trong bốn năm qua, nhưng có một điều tôi biết rõ ràng nhất là sự theo
học của tôi nơi trường này ít nhiều đã mang lại cho Bổn sư tôi một sự vững
lòng, chen lẫn niềm vui, thế là đủ rồi.
Giờ đây, đi qua những bực thang cứ
tiếp nối trải mình với chiều cao của cơ sở giáo dục Học Viện Vạn Hạnh, tôi
lững thững bước lên như bước vào chính cuộc đời của mình, vì tôi nghĩ, hôm
nay, hiện gìờ và ở đây, tôi không còn là một sinh viên thơ ngây thuở nào,
mà là một sinh viên sắp tốt nghiệp Cử nhân. Hai tiếng nói đó dường như quá
to lớn đối với tôi. Bởi vì nó là hiện thân của sự trưởng thành, của bao
suy tư, ray rức. Tôi suy tư vì tôi biết Hòa thượng Viện trưởng, quí Thân
Giáo sư đã vì tiền đồ đạo pháp mà vun bồi lo lắng cho chúng tôi từ tinh
thần đến vật chất, tôi ray rức vì đạo pháp còn mang lắm nỗi ưu tư vì tiền
đồ, vì dân tộc. Do đó, sự hiện hữu của tôi trong hiện tại có nghĩa là phải
đóng góp trong tương lai.
Lạy Phật con khẩn cầu Ngài gia hộ
cho toàn thể chúng con đầy đủ trí lực, bi lực và nguyện lực để thực hiện
sứ mạng của Ngài giao phó, là nối tiếp thế hệ của các bậc tiền nhân trên
con đường hoằng dương chánh pháp và xoa dịu đau thương của con người.
THÍCH NHUẬN PHÁP
Trần Hữu Thịnh
Hoài niệm!
Bốn năm đèn sách đã qua rồi
Sống mãi trong tôi nét tinh khôi
Bao nỗi buồn vui cùng năm tháng
Lưu luyến bồi hồi mãi không thôi!
THÍCH TẮC NGUYÊN
Nguyễn Phi Long
Thương em
Thương em lắm! đầu xanh tuổi trẻ
Vượt đời thường chí khí cao xa
Bỏ sau lưng ảo ảnh phù hoa
Tìm hạnh phúc tự thân, nhân loại
Thương em quá! Mày thanh mắt ngọc
Dứt nhi tình khổ lụy tơ hồng
Bước thênh thang nhẹ gót phiêu
bồng
Tình yêu lớn vòng tay rộng mở
Em ơi hãy gắng lên em nhé!
Vững vàng khi đối diện chính mình
Trong vô thường kiến ngộ bất sinh
Về bến cũ gió trăng vô ngại.
THÍCH ĐẠO NHÂN
Nguyễn Văn Hiểu
ĐẾN RỒI ĐI TRONG MỘT THỰC TẠI SINH ĐỘNG
“Tình yêu đến lại đi khiến lòng ta
đau khổ ...” Do đâu có cảm giác (sensations) đau khổ (suffering)? Do vì
tham ái (craving) và chấp thủ (grasping) nên con người mới có sự đau khổ
đó. Dẫu biết rằng chính tham ái và chấp thủ làm cho con người đau khổ
(dukkha) nhưng vưọt thoát khỏi chúng lại là một vấn đề hết sức khó khăn.
Cũng như, anh chị em sinh viên
chúng ta, ai cũng mong trong mình một tình yêu khi đến ngôi trường Phật
giáo này, không ngoài mục đích hấp thụ nền giáo lý giải thoát khổ đau.
Nhưng tất cả chúng ta chỉ là những sĩ tử đang trên đường thực hành đạo
giải thoát, chưa phải là người giải thoát, nên các tâm lý vui buồn, đến
đi, được mất, yêu ghét ... luôn luôn ngủ ngầm trong con tim bé nhỏ của kẻ
sĩ này. Có đôi lần kẻ sĩ này thề quyết vượt thoát khỏi những tâm lý ấy, cố
làm chủ được chúng mới có thể tự tại đến đi, nhưng không sao thắng chúng
so với công phu tu tập nhỏ bé của ta. Giờ đây, lại một lần nữa tâm lý ấy
đến với ta, ấy là sự ra trường. Đến và đi luôn làm cho con tim ta bùi ngùi
xúc động trong tình thương yêu thầy trò, bè bạn và trường lớp. Tất cả
những yếu tố phù trợ để cấu thành nên “Ông cử”, “Bà cử” Phật học. Đến và
đi là hai mặt đối nghịch nhưng hỗ tương cho nhau, cùng nhau vận động, phát
triển đi lên. Mới ngày nào đây ta còn ngơ ngác như con nai tơ giữa đồng
nội mà giờ đây ta phải chắp cánh bay vào đời.
Thời gian trôi đi mãi, dù có tiếc
nuối lưu luyến đi nữa thì sự đến và sự đi vẫn không ngừng vận động. Vì
chúng luôn đổi thay nên không có cái gì của ta, là ta, là tự ngã của ta,
mà tất cả đều là duyên sinh. Do duyên sinh, vô ngã chúng ta hãy tích cực,
hoàn thành những gì cảm thấy có ích cho mình, có lợi cho đời, và làm đẹp
cho đạo sau khi rời ghế Học Viện. Đồng thời nên rãi tình thương cho nhau
nhiều hơn, cho anh chị em chúng ta có xa cách nhưng tình vẫn không cách
xa.
THÍCH TRÍ NHIÊN
Nguyễn Đức Hải
Hiểu và Biết
Hiểu và biết, hai từ này thông
thường và quen thuộc nhưng mấy ai biết đến nó như là chiếc chìa khóa của
hạnh phúc.
Hiểu là dùng tâm từ bi, trí não mà
hiểu. Biết là kết hợp Hiểu và kinh nghiệm thực hành.
Trong cuộc sống có rất nhiều điều
cần biết hiểu biết nhưng điều khó nhất và cần nhất là hiểu biết con người.
Chịu khó hiểu biết mình, hiểu biết
người, mình và người hiểu biết nhau. Khi hiểu biết ròi sẽ không còn oán
ghét thù nghịch và mưu hại, tham sân, si, dần dần muội lược. Dữ như cọp,
nếu hiểu biết cũng có thể thuần hóa làm xiếc, huống chi con người.
Trên cuộc đời này, người thiệt
thòi nhất là người thiếu hiểu biết. Người bực bội nhất là người sống với
người thiếu hiểu biết, như câu ca dao: “Rồng vàng tắm nước ao tù, người
khôn ở với người ngu bực mình”. Hiểu biết ít là người ngu, nhiều là người
trí, đến cùng tột là Phật. Cho nên trong giáo pháp Phật nói: “Duy Tuệ Thị
Nghiệp”.
THÍCH VẠN NHƠN
Mai Chức Năng
Từ mọi miền đất nước, các bạn về
học chung ở mái trường Học Viện, mỗi người mỗi phong cách riêng, cũng
chính nhờ những thuận duyên ấy mà Vạn Nhơn không chỉ cảm nhận những kiến
thức ở quý giáo sư truyền trao tận tình, mà còn học được ở các bạn rất
nhiều điều bổ ích. Giờ ra trường thân gởi đến tất cả lời tri ân và lời cầu
chúc Phật sự viên thành.
Phương trời cách biệt đôi nơi
Biệt ly, tao ngộ sao lời vấn vương
Bốn năm chung học mái trường
Giờ xa kỷ niệm thân thương thuở
nào
Pháp âm vi diệu truyền trao
Xin lần gặp gỡ đón chào xuân vui.
THÍCH QUẢNG PHÁT
Trần Duy Tấn
Với mọi hình thức nào thì mục đích
lý tưởng cuối cùng của đạo Phật vẫn là “khai thị chúng sanh, ngộ nhập Phật
tri kiến”. Thế nhưng giống như hoa sen trong hồ có nhiều loại thứ lớp,
không khác gì căn cơ trình độ của chúng sanh. Do đó, đã là “Sứ giả Như
Lai” phải quán triệt thực hành cho thông thạo phương thức “bất biến tùy
duyên” mới mong hoàn thành sứ mạng cao cả này.
THÍCH MINH PHÚ
Huỳnh Thanh Liêm
HOÀI NIỆM
Sắp đến ngày ra trường, bốn năm
học trôi qua đã lưu lại trong tôi biết bao nhiêu kỷ niệm. Các bậc Giáo sư
đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức hữu ích, các huynh đệ đã giúp đỡ tôi
những khó khăn trong học tập.
Đến đây, tôi không biết phải viết
sao cho hết nỗi lòng tâm sự. Thôi thì, tôi xin có đôi dòng kính chúc các
bậc Giáo sư, quý huynh để có sức khỏe dồi dào, nghị lực phi thường, trí
tuệ tuyệt vời để vượt qua mọi khó khăn trong đời sống để ngõ hầu phục vụ
nhân sinh ngày một tốt đẹp hơn.
THÍCH HẠNH PHƯỚC
Lê Bảo Tịnh
Bốn năm trước đây, tôi hết sức bối
rối khi bước chân vào giảng đường của Học Viện. Lòng băn khoăn tự hỏi
không biết rồi đây sau khi học xong, mình sẽ trở thành người thế nào.
Những tháng ngày đèn sách theo nghiệp bút nghiên, những kỳ thi học kỳ đầy
lo âu căng thẳng rồi cũng qua mau. Giờ đây ra trường với áo mão cân đai,
sánh vai cùng bạn bè. Và nếu có ai hỏi bây giờ anh là ai, tôi xin trả lời
rằng: “Tôi cũng chỉ là Thích Hạnh Phước mà thôi”.
THÍCH MINH PHƯỚC
Nguyễn Chí Sanh
Giã từ thành phố cao nguyên sương
mù đầy kỷ niệm, tôi khăn gói lên đường đến Saigon. Mới đó đã bốn năm trôi
qua. Bốn năm chúng ta từ mọi miền đất nước về đây cùng nhau tu học dưới
mái Học Viện Phật giáo thân thương này. Thời gian trôi nhanh quá. Ngày ra
trường sắp đến. Rồi đây mỗi người chúng ta sẽ tự chọn cho mình một hướng
đi mới. Hy vọng rằng mọi hướng đi của mỗi chúng ta đều thành công tốt đẹp.
Nói lời tạm biệt, thân chúc các
bạn thành tựu chí nguyện trên bước đường tu học.
THÍCH TRỪNG SỸ
Đỗ Văn Quý
Gắng lên
Thời gian Học Viện sắp hết rồi
Chớp nhoáng bốn năm tợ nước trôi
Nếu ai bỏ lở cơ hội ấy
Thì sau hối tiếc cũng vậy thôi.
Nhớ
Mái trường Học Viện của chúng ta
Thấm thắt giờ đây bốn năm qua
Nhớ Thầy nhớ lớp nhớ bạn cũ
Giờ đây đành phải lại cách xa.
THÍCH NHUẬN TÀI
Phạm Văn Khớ
Nhịp sống thời gian
Bước vào thiên niên kỷ thứ ba, con
người hiện đang sống trong nền văn minh phát triển cao về khoa học kỹ
thuật. Cùng với nhịp sống đó, tất cả Tăng Ni sinh khóa IV đang chuẩn bị
cho ngày tốt nghiệp, kết thúc 4 năm ngồi ghế Học Viện và bắt đầu mở ra một
tương lai mới.
Thưa chư huynh đệ! Có sự tụ hội
nào mà chẳng phân ly, có cuộc vui nào mà chẳng lụi tàn. Chúng ta đến với
Học Viện này là do duyên và do duyên nên mỗi người trong chúng ta lại phải
mang trên vai một hành trang đi vào đời khác nhau và đem đến cho đời những
hương vị ngọt ngào, đầy đạo pháp trên tinh thần vô ngã - vị tha. Ở đây,
thời gian gặp lại cũng không nhiều, chỉ có mấy lời tâm sự với chư huynh đệ
và mong rằng chúng ta sẽ gặp lại nhau trên bước đường truyền bá chánh pháp
của đức Như Lai.
THÍCH MINH TÁNH
Phạm Nguyễn Hoàng Minh
Tác dụng thiết thực hiện tại
Hồi tôi mới vào chùa, cách
đây cũng đã mười mấy năm, các Thầy trao cho tôi tập “Tỳ ni nhật dụng thiết
yếu” của Thiền sư Độc Thể, ở núi Bảo Hoa và bảo tôi học thuộc lòng. Đây là
một tập sách mỏng chừng vài chục trang, trong đó ghi chép những ý tưởng mà
Ngài Độc Thể đã dùng để thắp sáng tâm ý trong mọi cử chỉ, hành động. Ví
dụ: khi vừa thức dậy lúc ban mai. Ngài cho khởi dậy ý tưởng này trong trí:
“Ngủ nghỉ mới dậy, nên nguyện chúng sanh, tất cả trí giác, nhìn khắp mười
phương”, khi múc nước rửa tay, Ngài sử dụng ý tưởng này để tự đưa mình về
trạng thái ý thức: “Lấy nước rửa tay, nên nguyện chúng sanh được tay thanh
tịnh, nhận giữ Phật pháp ...”
Toàn tập “Tỳ ni nhật dụng thiết
yếu” chỉ có những câu những câu như thế. Mục đích là giúp những người hành
giả mới vào đạo nắm bắt được tâm ý của mình. Mỗi khi mặc áo, rửa chân,
thiền tọa, súc miệng ... hành giả đều có thể mượn một ý tưởng trong Tỳ ni
nhật dụng để nắm bắt tâm ý. Kinh Quán Niệm dạy: “Khi đi vị Tỳ kheo ý thức
rằng mình đang đi, khi đứng ý thức rằng mình đang đứng, khi ngồi ý thức
rằng mình đang ngồi, khi nắm ý thức rằng mình đang nằm, bất cứ thân thể
mình đang được sử dụng trong tư thế nào, vị Tỳ kheo ý thức được tư thế của
thân thể. Cứ như thế, vị Tỳ kheo sống trong sự thường trực quán niệm thân
thể ...” Tuy vậy vẫn chưa đủ. Kinh Quán Niệm nói ta phải ý thức về mọi hơi
thở, mọi động tác, mọi hiện tượng sinh lý, vật lý, cảm giác và tư duy liên
hệ tới bản thân nữa. Nhưng quán niệm để làm gì? Thì giờ đâu mà quán niệm?
Một học tăng bếu bỏ cả ngày để làm việc quán niệm thì còn thì giờ đâu nữa
để học Kinh-Luật-Luận, tụng kinh, bái sám và ứng phú đạo tràng? Tất cả các
công việc ấy, nếu được thực hiện trong chánh niệm, đều là thời khóa quán
niệm hết vậy!
(Trích Luận văn tốt nghiệp)
THÍCH QUẢNG TÁNH
Nguyễn Văn Tâm
MÀU THỜI GIAN
Ngỡ ngàng thời xa vắng
Trên đường về chiều nay
Áo em mang màu trắng
Cũng dịu dàng tung bay.
Dẫu mang màu áo trắng
Không mơ màng cùng ai
Cũng một thời áo trắng
Tháng ngày dễ phôi
phai
Tóc khăn phủ bờ vai
Bàn tay trần sạm nắng
Mặc người tay chung tay
Em về trong thầm lặng
Tà áo trắng bay bay
Trải bao mùa mưa nắng
Màu lam theo năm tháng
Bạc dần em có hay.
THÍCH VIÊN TÁNH
Nguyễn Văn Bình
Lỗ Tấn có nói rằng: “Trên mặt đất
vốn không có đường, do chúng ta đi lại nhiều lần thành ra con đường”. Đạo
Phật cũng vậy không có con đường nào cả, vì chúng sanh tạo nghiệp khổ quá
nặng nên đức Phật vạch ra con đường để dẫn dắt mọi người sống một cuộc đời
đạt đến chỗ Chân-Thiện-Mỹ. Đến khi nào chúng sanh hết khổ thì đạo Phật
cũng không còn.
THÍCH NIỆM TÂM
Võ Nhật Kỳ
QUÊ TÔI
Quê tôi Thủ Đức ngoại ô
Vùng cao đất đỏ lại gần ánh dương
Khí trời bảng lảng khói sương
Đong đưa phảng phất trầm hương
quyện hòa.
Nơi đây không ít Tăng già
Đức cao đạo trọng rạng ngời thế
gian
Già lam quang cảnh trang nghiêm
Xứng danh Thủ Đức lưu truyền ngàn
xưa.
Đến đây chiêm bái cảnh chùa
Khấn hương lễ Phật gieo duyên
Thánh hiền
Mai kia ai đến rồi về
Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ chùa chao
ôi!
THÍCH TÍN TÂM
Lê Tuế
NHỚ
Nhớ hôm nao mơ ước
Được cắp sách đến trường
Cùng huynh đệ bốn phương
Dưới học đường Phật giáo
Nhớ hôm nao ngơ ngác
Miệt từ Huế xa xôi
Cùng huynh đệ mừng vui
Vô niềm Nam ứng thi
Nhớ hôm nao tựu trường
Giờ đây sắp mãn khóa
Thời gian trôi nhanh quá
Cứ ngỡ mới ngày qua
Mai này rồi cách xa
Xa Thầy hiền, bạn mến
Xa mái trường học viện
Xa lẫn tuổi học trò
Bao vui sướng âu lo
Tuổi học trò khép lại
Mai xa rồi nhớ mãi
Nhớ Thầy hiền, bạn mến, mái trường
yêu.
THÍCH CHƠN TÂM
Nguyễn Kiến Trúc
Chào các bạn!
Khóa học sắp kết thúc, giây phút
chia tay đã gần kề, nhưng mình vẫn chưa biết hết tất cả các bạn. Thật là
một sự nuối tiếc! Một nỗi buồn mênh mang! Chắc các bạn cũng có tâm trạng
như thế? Mong rằng qua tập kỷ yếu này chúng ta sẽ hiểu và gần gũi nhau
hơn. Ngày mai, khi rời xa mái trường, mỗi người chúng ta mỗi ngã, mình hy
vọng sẽ được chào đón các bạn với quê hương mình. Chào tạm biệt.
THÍCH NGUYÊN TẤN
Phan Đào
Phật giáo đã du nhập vào nước ta
khoảng 20 thế kỷ, nhưng đến nay, nhìn chung, giáo lý của đức Phật vẫn chưa
được phổ cập và đi sâu vào lòng dân chúng. Do vậy, thế hệ chúng ta cần
phải năng nổ trong công tác truyền giáo để đem lại an lạc hạnh phúc cho
mọi người. Mong rằng, trong thiên niên kỷ mới này, mỗi chúng ta phải là
mỗi nhà truyền giáo xuất sắc và thắt chặt hơn nữa trong công tác Phật sự.
THÍCH THI TẤN
Tô Văn Đạo
Tìm hiểu:
A. Con người là con vật có lý trí.
B. Vậy người điên không phải là
con người à?
A. Thế thì, con người là con vật
có tôn giáo.
B. Người chết đâu có tôn giáo, họ
là gì? Theo tôi con người là vật thể mà ai nhìn vào công nhận đó là con
người thì mới gọi là con người.
A. Sao tớ nghe trong Phật giáo nói
rằng con người là con vật tối linh?