Số 2
Tháng 12-2003
---o0o---
GIAO TỪ
^
Theo
dòng chảy của thời gian vô tận, tháng nối ngày, nối cả những buổi phân
ly, hội ngộ. Nên đã có một thời tóc xanh, gót hồng, hoa vàng, phấn trắng
– Và cũng đã bao lần ngồi dưới mái hiên để nhớ từng nét mặt thân quen.
“Chư pháp tùng
duyên sanh”. Nụ cười trên trang giấy đâu phải tình cờ, vô cớ. Hạt bụi
vàng mong manh bay giữa trời tròn là tôi, là ai cũng gồng mình qua những
cơn lốc xoáy để giữ một phương hướng thênh thang. Cánh buồm mỏng mảnh
giữa con nước mênh mông chảy xiết vẫn không ngơi nghỉ, ra sức chống chèo
lên cội nguồn thanh lương thuần tịnh...
Nhớ về
bạn, tôi vẽ lên trang giấy này nụ cười của mây trắng. Chỉ nụ cười mây
mới có thể gởi khắp mười phương. Ðể ở một nơi nào đó bên trời Tây, đất
Bắc, mây đi qua mang theo thông điệp yêu thương, đồng cảm và lời nguyện
cầu thành khẩn về sự bình an và thăng hoa kiếp người.
Không
chắc, nhưng có thể những dòng chữ quen trong tập sách nhỏ này sẽ là
những đóa hoa rất lạ để dâng tặng Thầy, Cô và bằng hữu dưới mái trường
xưa...
Cẩn bút
BAN BIÊN TẬP
LỜI ÐẦU NĂM
^
Kính đến quý Pháp lữ
Thế là chúng ta chia tay năm cũ và đón
năm mới – Xuân Giáp Thân.
Chắc chư Pháp lữ đều có nhiều niềm vui –
Vui trong mùa xuân mới, vui vì thêm một tuổi, vui vì trưởng thành hơn
trong Chánh pháp.
Năm Giáp Thân theo
tiếng Anh là A YEAR OF THE MONKEY. “Monkey” là con khỉ – vật được
đề cập trong nhiều bài pháp của Ðức Phật, nhằm chỉ cho tính phóng túng,
bất an từ tâm sanh mà các đệ tử Phật cần phòng hộ. Như vậy, mệnh danh là
đệ tử Phật “Monk” thì phải khéo phòng hộ tâm như lời Phật dạy, kẻo
“Monkey” làm quấy nhieãu.
“Key” được xem là
chìa khóa Bát Chánh đạo và Tam vô lậu học để mở đường chuyển hóa tâm
thức, thuần phục tâm thức – im lặng – suy nghiệm – biết lắng nghe và
hiểu.
Một năm Giáp Thân – năm của sự tinh tấn
không ngừng trên con đường tu tập. Xin gửi đến quý Pháp lữ lời cầu chúc
“Tinh tấn”.
Kính bút
Tỳ-kheo Chơn Phát
NHỚ MÃI TRONG TÔI ^
Qua bốn năm học tại trường Cao cấp Phật
học, sau khi tốt nghiệp, huynh đệ chia tay nhau từ đầu năm 1997 đến nay
thấm thoát cũng đã 6 năm. Thế nhưng, trong ký ức tôi, những kỷ niệm êm
đềm, từng cảnh vật, trường cũ, tình xưa vẫn chưa phai mờ, dù từ ngày ấy
đến nay, tôi bận rất nhiều công việc, bổn phận.
Tôi nghĩ đến nguyên nhân làm phát sinh
tình cảm cao thượng gắn bó các huynh đệ chúng tôi với nhau. Ðó là tấm
chân tình và lòng nhiệt thành của những con người biết trân trọng “Tình
người” đã giành cho nhau. Hai năm qua, tôi bị tai nạn, không đến họp mặt
ngày Truyền thống hằng năm, nhưng tôi vẫn nhận được ít nhất là một cánh
thiệp xuân và hôm nay là lời ngỏ viết bài cho Nội san. Dù bận rộn mấy,
dù văn thô ý vụng đến đâu, tôi cũng cố gắng đóng góp để vui cùng huynh
đệ.
Cho đến bây giờ, dù mái trường xưa đã
thay đổi hẳn: khang trang, đầy đủ tiện nghi và hiện đại hơn trước nhiều,
nhưng tôi vẫn nhớ và yêu lắm mái trường cũ kỹ, rêu phong nằm e ấp dưới
hàng phượng vĩ. Với cấu trúc đơn sơ, trường đã xuống cấp theo thời gian,
thế mà nó vẫn đủ sức chở che cho hơn hai trăm Tăng, Ni sinh khóa III
chúng tôi cho đến ngày ra trường.
Tôi không quên được từng khuôn mặt của
hơn một trăm huynh đệ lới Ni của chúng tôi qua những nụ cười duyên dáng
hiền từ. Những buổi sinh hoạt tươi vui, những tiếng hát trầm bổng réo
rắt, hồn nhiên của tuổi học trò. Hình ảnh và lời vàng ngọc của từng vị
Giáo thọ sư đã in sâu vào tâm trí chúng tôi, những ấn tượng sâu sắc
trong suốt chuỗi ngày học tập.
Tôi nhớ mãi những
buổi sinh hoạt dã ngoại tham quan, những ngày Lễ truyền thống của
trường, của lớp đã làm chúng tôi hiểu nhau hơn, dễ cảm thông nhau và
thương yêu gắn bó nhau hơn.
Giờ đây, tuy mỗi
người mỗi ngã, nhưng thời gian và không gian vẫn không làm nhòa đi bao
kỷ niệm êm đềm ấy trong tôi. Dù bao năm phải đối diện với cuộc sống thực
tại với bao vui buồn lẫn lộn, nhưng chỉ một phút hồi tưởng là cả một thế
giới thần tiên của tuổi học trò của chúng tôi hiện về đầy đủ. Nó là
những viên gạch lát tường, là nhịp cầu dẫn chúng tôi từ tuổi dại khờ,
từng bước trưởng thành để thẳng tiến và thế giới của những người thực sự
sống vì lý tưởng giải thoát cho chính mình và cho tha nhân. Dần dần quên
đi cái ta nhỏ bé để hòa nhập, san xẻ, xoa dịu bao thống khổ của những
người chưa đủ duyên lành để giác ngộ. Dưới mái ấm Trường Cao cấp Phật
học tại Thiền viện Vạn Hạnh, chúng tôi đã được rèn luyện, đào tạo thành
những đứa con yêu của Giáo hội.
Tôi tiếc lắm, bốn năm trôi qua nhanh quá,
để giờ này, chúng tôi mỗi đứa mỗi nơi, phải lo cho bổn phận của chính
mình, không còn được ấp ủ, yêu thương đùm bọc như lúc còn ngồi ghế nhà
trường. Giờ đây, theo nhu cầu, nguyện vọng, lý tưởng riêng, không biết
bao giờ tôi và các huynh đệ có được một lần họp mặt đông đủ như ngày xưa
nữa ! Tôi bồi hồi nuối tiếc thật sự.
Thôi thì, dù kỷ niệm
đẹp mấy, nhưng đã là con Phật, chúng tôi phải sống đúng Chánh pháp. Tôi
nhớ bài kinh “Nhất Dạ Hiền”:
“Quá khứ không truy tầm
Tương lai không ước vọng
Quá khứ đã đoạn tận
Tương lai lại chưa đến
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính là đây
Không động, không rung chuyển
Biết vậy nên tu tập.
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ðâu biết chết ngày mai
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi
Xứng gọi Nhất Dạ Hiền
Bậc yên tịnh trầm lặng”.
Ðời sống tâm linh thật diệu kỳ
“Vui thay chúng ta sống
Không rộn giữa rộn ràng
Giữa những người bận rộn
Ta sống không rộn ràng”.
Tôi muốn sống theo tinh thần bản kinh ấy.
Và như vậy, không có nghĩa là chúng tôi bỏ quên đi tình bạn cao quý mà
chính là vì thật sự muốn báo ân Phật, báo bốn ân lớn, trong đó có ân của
tất cả mọi người mà tôi đã thọ, dù chỉ là một ánh mắt, một nụ cười, cho
đến những lời giáo huấn cao sâu đầy ý nghĩa trong chiếc nôi tại Thiền
viện Vạn Hạnh ấy.
Quên đi dĩ vãng, cũng chính là góp phần
làm cho đời sống tâm linh của chúng ta ngày một thăng hoa. Có thế chúng
ta mới thật sự sống đời sống tu sĩ có ý nghĩa. Ðời sống tinh thần càng
phong phú sẽ nâng cao giá trị con người nổi bật giữa hội chúng. Vật chất
phù hoa giữa cuộc sống văn minh, những học hàm, địa vị không hẳn sẽ đưa
ta đến trạng thái an lạc, giải thoát hoàn toàn, mà chỉ là phương tiện.
Chính đời sống hằng tỉnh thức là suối nguồn làm phát sinh, phát triển
bao điều thiện và hạn chế những điều xấu ác. Ðó là nguyên nhân chính
hướng ta đến vô ngã, vị tha – giác ngộ, giải thoát. Làm được như vậy là
thật sự báo Tứ trọng ân và xứng đáng với các bậc Tôn túc – Giáo sư đã
dày công giáo dưỡng chúng ta suốt chặng đường dài bốn năm ấy.
Tỳ-kheo-ni Tắc Thiện
TẢN MẠN THỜI GIAN
^
Thời gian là diệu dược
Xóa dần bao khổ đau
Thời gian là dao nhọn
Xoáy vào hồn thương đau
Thời gian không biết nói
Nhưng quá đỗi nhiệm mầu
Thời gian không biết khóc
Sao rướm lệ... sầu mau !
Thời gian người con Phật
Những giây phút tâm bình
Thời gian đầy an lạc
Khi thực nghiệm tâm linh.
Thời gian... như bóng câu qua cửa sổ, vút
đến, thoắt đi. Thời gian... như gió ngàn bạt đỉnh, như mảnh trăng non
trơ vơ trên ngọn ngô đồng thưa lá. Ngày tháng trôi đi như con rắn trườn
đi, như con rắn đang chui vào lỗ, làm sao bắt nó lại ? nắm lấy đuôi ư ?
cũng bằng vô dụng !
“Nhất thốn quang âm, nhất thốn kim” mà
“Thốn kim nan mại thốn quang âm” (Một tấc thời gian một tấc vàng, tấc
vàng khó mua tấc thời gian). Từ đó, cho ta thấy rằng, giữa những mỏi mòn
tiêu tao của tuế nguyệt, cái hoài vọng về thời gian... xa xôi đó của con
người quả là bi ai và khắc nghiệt.
Cố nhân thích thiên lý
Lâm biệt thượng trì trì
Nhân hành do khả phục
Tuế hành nan khả truy.
Thời gian như mũi tên bắn thẳng ra phía
trước, mũi tên bắn đi không cách nào quay đầu trở lại;
Thời gian... đi... và đi mất. Bên này là
dòng chuyển lưu cuồn cuộn cứ mải trôi đi và bên kia là một chân trời
đồng vọng không có đến.
Thời gian – đến và đi như chưa từng có.
Nhân duyên kiếp người – có như chưa từng đến và đi. Trong một thuở của
nghìn năm, trong thoáng chốc, trong nháy mắt, trong một khảy móng tay,
... đã trở thành không trong vĩnh cửu. Dấu vết một thời sẽ không còn
thấy đâu đây nữa, nỗi cô đơn sẽ như cánh hạc gầy lẻ loi, cao vút, tung
cánh trong nắng quái cuộc đời. Cánh hạc sẽ bay bổng mù khơi, còn kể gì
đến những dấu chân trên cát.
Thời gian quý báu như vàng bạc, song cũng
đáng sợ như ma quỷ. Nó gắn liền với sự sống của con người ta, gặm nhấm
sự sống như con chuột đen ở đầu dây sinh tử...
Sáng mới SINH pha lê trong ướm ngực
Trưa đìu hiu LÃO khập khễnh xuôi về
Chiều lạnh lùng sóng sượt BỆNH đê mê
Ðêm đơn độc TỬ thần về trăn trối,
khiến người ta cảm thấy thời gian ngắn
ngủi, khiến người ta thức tỉnh, lòng dâng đầy nỗi sợ sệt, bi ai và phiền
muộn chừng như chẳng thể gỡ ra được. Nó khiến người ta không thể không
suy nghĩ về cái đoạn đường bên kia cuộc sống – Say sưa, mộng mị về sinh
tử, sao có thể gỡ ra được những lo âu, hồ nghi về sống chết nhỉ ?
Buổi sớm – bởi có màu đen của đêm ở bên
mà càng thêm chói sáng. Sự sống – bởi có sự uy hiếp của cái chết mà càng
thêm đáng quý.
Thời gian của người con Phật là sự tĩnh
lặng thực tại của tâm thái. “Tâm bình thế giới bình”. Sự an lạc thật sự
của nội tâm là khi chúng ta biết sống từng giờ, từng phút khi mà quá khứ
trở thành hiện tại và hiện tại chính là tương lai, hoàn toàn không bám
víu, ràng buộc hay vướng mắc vào đâu cả. Chính từ sự tĩnh lặng ấy, chúng
ta mới cảm nhận được sự rung cảm kỳ diệu từ mạch nguồn tâm linh đang
trôi chảy trong dòng tương tục của chánh niệm và tĩnh giác.
Thạch Lan
Thích Huệ Quang
(Trung An)
THIỀN SƯ VÀ HOA LAN
^
Có một vị Thiền sư rất thích hoa lan.
Ngài trồng rất nhiều loại lan quý. Ngoài thời gian niệm kinh, thuyết
pháp ra Ngài luôn chăm sóc lan, Ngài yêu nó như thân mạng của mình vậy.
Một ngày nọ, Thiền sư có công việc phải
đi ra ngoài. Ngài dặn dò các đệ tử ở nhà chăm sóc lan. Khi tưới lan, có
một đệ tử vì bất cẩn làm gẫy giá đỡ lan, tất cả những chậu lan quý đều
rơi xuống đất, hoa và cành đều bị gẫy hết. Vị đệ tử này nghĩ rằng: Chốc
nữa Sư phụ về thấy cảnh những chậu hoa quý bị như vậy, không biết Ngài
tức giận đến mức nào?!
Khi vị Thiền sư trở về, người đệ tử làm
đổ lan liền quỳ trước mặt Ngài, cầu xin Sư phụ tha thứ. Nhưng vị Thiền
sư hoàn toàn không tức giận mà còn an ủi đệ tử rằng: “Ta trồng lan là vì
muốn lấy hoa cúng Phật, đồng thời làm đẹp cảnh chùa, hoàn toàn không
phải tức giận mà trồng”.
Câu nói Thiền: “Không phải tức giận mà
trồng” thực kỳ diệu làm sao! Thử xem trong cuộc đời này còn có cái gì
đáng tức giận nữa? Khi vợ chồng sống với nhau, khó tránh khỏi lời qua
tiếng lại, tranh chấp với nhau. Giả như có thể bắt chước câu nói Thiền,
là vợ chồng thì phải luôn hết lòng yêu thương nhau, không phải vì tức
giận thì có thể biến những can qua thành ngọc lụa. Kết bạn cũng như vậy,
bạn bè thì phải giúp đỡ lẫn nhau, không phải kết bạn để hiểu lầm rồi tức
giận nhau, mà phải hòa hợp với nhau.
Khi con cái không ngoan ngoãn, chúng ta cũng phải thay đổi suy nghĩ.
Sanh con là giáo dục chúng sau này lớn lên cống hiến đời mình cho xã
hội, quốc gia, chớ không phải vì tức giận mà sinh dưỡng. Có như thế, mới
có thể yêu thương mà dạy con cái.
Chúng ta đến thế giới này làm người là vì
vui vẻ mà đến, chớ không phải vì buồn phiền, tức giận mà đến, cho nên
chính mình phải tạo niềm vui để sống. Nếu niềm vui của chúng ta hoàn
toàn dựa vào người khác, chờ người khác đem niềm vui đến cho chúng ta,
như vậy là không được.
Cho nên nói, trong tâm có Phật, trong tâm
có niềm vui; cuộc sống có thiền, cuộc sống có niềm vui. Vì thế, những
hành vi, hành động hằng ngày của mỗi người chúng ta, dù cuộc sống có
khác nhau, khi gặp những điều bất như ý như: thất vọng, thất bại, khó
khăn... chỉ cần chúng ta nghĩ đến câu nói của Thiền sư: “Tôi không phải
vì tức giận (mà làm cái gì đó)!”. Như vậy, cuộc sống trong đời này không
phải rất vui đó sao?
THÍCH HẢI TÍN
GIÁ TRỊ NHÂN SANH
^
Nhân
loại vốn được mệnh danh là “vạn vật chí linh”. Trong các loài động vật,
con người quả thực là loài thông minh nhất. Nhưng có rất nhiều người
không biết tận dụng cái thông minh của mình nghiên cứu, tìm hiểu con
người sanh tồn trên thế gian này để làm gì? Nếu như mỗi người có thể tự
mình nhín chút thời gian, lợi dụng cái thông minh của mình nghiên cứu
Phật học, thì người đó sẽ tìm thấy đáp án như ý về vấn đề này trong Phật
học.
Trong cuộc sống, sau khi con
người sanh ra đã bắt đầu “bận rộn”, và cứ tất bật với ảo ảnh công danh,
cặm cụi cùng sương mai phú quý như vậy cho đến già, đến chết. Thân người
này từ đâu đến? Chết rồi đi về đâu? Tuyệt đại đa số con người đều không
có thời gian chú ý đến nó, Chỉ cứ quanh quẩn bận rộn, tất bật, cặm cụi
sống cho hết kiếp mà thôi. Có một triết học gia đối với kiếp người rối
động này đã đưa ra 1 ví dụ rất ly kỳ. Ông ta nói: Có 2 ngọn núi hùng vĩ
đối diện nhau. Chính giữa hai ngọn núi này có một dòng sông sâu thẳm,
nước chảy cuồn cuộn. Phía trên có 1 chiếc cầu vừa nhỏ vừa dài nối liền
hai ngọn núi. Con người muốn đi từ núi bên này sang ngọn núi bên kia,
nhất định phải đi qua chiếc cầu này. Vì đây là phương tiện giao thông
duy nhất giữa hai ngọn núi. Người đứng trên cầu dõi mắt nhìn ngọn núi
phía trước thì chỉ thấy mây mù dày đặc, hướng vọng về ngọn núi phía sau
thì cũng thấy dày đặc mây mù. Ngó xuống dưới thì sâu hun hút. Có một số
người vừa đi được vài bước liền bị té xuống vực sâu; có người đi được
đến giữa cầu thì bị rớt xuống dưới; có người rất thận trọng đến được bên
kia đầu cầu, nhưng vừa bước chân đến vách núi thì sức đã kiệt vì sự vất
vả mệt nhọc, cuối cùng cũng rơi lọt xuống vực sâu thăm thẳm. Như vậy
những người rớt xuống kia, họ đã rơi vào đâu? Ai ai cũng đều không biết.
Ví dụ linh động này thật sự đã miêu tả được cuộc sống bận rộn, mù mịt
của kiếp người .
Việc
nghiên cứu Phật học chính là tìm ra một nhận thức chính xác cho bài toán
nhân sinh điên đảo này. Giống như một chiếc thuyền ra khơi, nếu như nó
một mạch hướng về một phương buông mái chèo thì nó nhất định sẽ cập vào
bờ. Cũng là một chiếc thuyền nhưng nếu vô phương hướng, không mục tiêu,
cứ lênh đênh trôi dạt trên biển cả, cuối cùng việc nguy hiểm nhất định
sẽ đến với nó. Trong quá trình học Phật, Chúng ta như những thủy thủ
trên tàu phải dùng tri thức có được của mình điều khiển, lèo lái như thế
nào để con tàu nhân sinh này hướng về một phương, như vậy mới có thể an
toàn bước chân lên bến bờ bình yên.
Rất
nhiều người đối với giá trị hàng hóa trên thương trường cực kỳ tinh
thông Nhưng đối với giá trị nhân sinh tối quan trọng này thì lại mù tịt,
hoàn toàn không hiểu biết gì hết. Ðiều này có thể nói đây là kẻ “ bỏ gốc
tìm ngọn, bỏ gần tìm xa”.
Kiếp
sống con người này có giá trị như thế nào? Như chúng ta biết, nhân loại
trong vũ trụ luôn ở trong vị trí chủ động. Thế gian này rối loạn hay an
ninh, nhân sinh hạnh phúc hay đau khổ, đều do một tay con người tạo
thành cả. Do con người có quyền chủ động như thế cho nên mới đủ sức
quyết định hướng cuộc sống của mình vào đúng phương hướng đúng mục tiêu
giải thoát.
Như vậy, thế nào gọi là hướng
đúng đường, đi đúng mục tiêu? Ðầu tiên là hướng thượng; thứ hai là hướng
đến điều tốt lành. Hướng thượng là nhìn về phía trước cao thượng; Hướng
đến điều tốt lành nghĩa là học tập, noi theo gương hiền lành, lương
thiện. Người bình thường cho rằng điều tốt lành của nhân sanh là sức
khoẻ dồi dào, có quyền có thế, có cuộc sống gia đình sung túc, con cháu
đầy nhà. Bạc tiền đầy kho. Ðứng về mặt thế gian thì những điều này tất
nhiên là tốt, chúng ta không thể phủ nhận được. Nhưng các vị cần nên
biết, đây chỉ là một kết quả tốt, nó hoàn
toàn không phải là
nguyên nhân tốt. Chúng ta cần phải trồng nhân tốt mới có được kết quả
thiện lương. Muốn vậy chúng ta cần phải gieo trồng vào miếng ruộng phước
điền của mình những hạt giống bồ đề, đó chính là tu tập thập thiện, thọ
trì tam quy ngũ giới, làm nhiều việc thiện lành, bồi đắp nhân lương
thiện. Như vậy chúng ta mới có được cuộc sống an lành trong hiện tại,
mới bảo đảm nắm vững được xu hướng giải thoát ngay trong hiện tại của
mình.
Vậy làm sao để được hướng về
mục đích cao thượng? Trên thế giới này, từ khi bắt đầu trang
lịch sử đến nay, người
có kiến thức cao sâu, đạo hạnh cao thượng, sự lý dung thông không ai
vượt khỏi Ðức Phật Thích Ca. Ngài vì hạnh phúc của nhân loại đã hy sinh
địa vị, hoàng cung, vợ đẹp con xinh một thân một mình nửa đêm vượt thành
xuất gia. Sau khi tìm ra được chân lý giác ngộ cho nhân sanh vũ trụ,
Ngài đã vạch rõ thật tướng của nhân sanh, chỉ ra con đường giác ngộ để
nhân sanh tu hành, luận giải rõ ràng nguyên lý nhân loại từ đâu đến và
sau khi đi chết về đâu. Ngài vì thế giới này của chúng ta mà điểm sáng
lên hào quang muôn trượng. Phật là bậc đại giác ngộ “tự giác giác tha
giác hạnh viên mãn”. Ngài là bậc được sùng kính vĩ đại nhất trong cõi
nhân sinh này. Chúng ta cần phải noi theo Ngài hướng về Ngài mà tu trì,
Hướng về Ðức phật vĩ đại mà học tập. Như vậy mới
được gọi là hướng thượng.
Cũng có người cho rằng: Phật
quá vĩ đại, thánh cách quá cao quý, chúng ta là người phàm làm sao học
tập theo Phật được? Thưa quý vị, nếu như thật sự có người nghĩ như vậy,
nghĩa là họ tự coi thường bản thân mình, tự đánh giá thấp giá trị làm
người của mình. Vừa rồi tôi đã nói, con người trong vũ trụ này là động
lực chủ động, con người hạnh phúc hay đau khổ đều do con người làm chủ.
Chúng ta thấy, Ðức Phật cũng là một con người bình thường như bao con
người khác, Ngài chỉ dựa vào lực lượng chủ động của thân người này mà
không ngừng tịnh hoá bản thân, lắng trong vọng niệm, nỗ lực tu trì. Như
vậy, Phật là do người thành thôi. Trong kinh có câu: “Bỉ ký trượng phu,
ngã diệc nhĩ” thế thì tại sao chúng ta không hướng về Phật, noi theo
công hạnh Phật tu tập?
Tóm lại, việc tu học của
chúng ta cần phải có một mục tiêu lý tưởng. Cổ nhân có nói: “thủ pháp hồ
thượng, cận đắc kỳ trung; thủ pháp hồ trung, tắc đắc kỳ hạ” có nghĩa là:
học tập pháp cao thượng thì sẽ đắc được đạo bậc trung; nếu như học tập
pháp bậc trung thì sở đắc thuộc về bậc hạ. Thế nên, trong quá trình tu
học, chúng ta nhất định phải lựa chọn mục đích học tập cao thượng vĩ
đại.
LIÊN VIÊN
HẠNH PHÚC
^
Tỳ-kheo-ni Phục Liên
Hạnh phúc là một nhu cầu thiết yếu mà con
người ai cũng luôn tìm kiếm. Người ta có thể thiếu cơm ăn, áo mặc nhưng
không thể thiếu hạnh phúc. Vậy hạnh phúc là gì ? Tìm nó ở đâu ?
Tiền bạc là hạnh phúc ? Những người trong
túi trống rỗng có thể nghĩ như thế “Tiền là Tiên là Phật, là sức bật của
con người”, “Có tiền mua Tiên cũng được”. Không hoàn toàn như thế ! Sau
lần điều tra trên một ngàn cự phú ở Mỹ, người ta phát hiện rằng: đại đa
số những người giàu có trên đều ở và trạng thái phiền muộn, khổ sở. Cùng
lúc với việc mọi người cứ ngỡ họ đang “sống trong hạnh phúc” thì chính
là lúc họ đang cố gắng hết sức lao vào việc truy tìm, hưởng thụ để bù
đắp lại sự trống vắng về tinh thần.
Ðịa vị là hạnh phúc ư ? Những người chức
vụ thấp hèn có thể nghĩ như thế. Tổng thống, Quốc vương, Thủ tướng của
Tây phương tựa như là hóa thân của quyền lực và giàu sang, họ có thể tận
hưởng và làm bất cứ việc gì. Thế nhưng sự khổ não của những nhân vật
quyền lực tột đỉnh này lại ít có người biết đến. Bà Thủ tướng Gandhi Ấn
Ðộ hằng ngày tiếp xúc rất nhiều người, nhưng Bà vẫn thường than thở:
“Làm cái nghề chính trị này thường buồn tẻ và cô độc quá”.
Danh dự, sự quý trọng là hạnh phúc ư ?
Các minh tinh màn bạc nổi tiếng đều có chung một tâm trạng là họ chưa
bao giờ được đi dạo trên các đường phố một cách thoải mái. Bởi vì họ sợ
khán giả hâm mộ nhận ra, không chen lấn đến chết là may.
Sắc đẹp là hạnh phúc chăng ? Người xưa
thường nói “Hồng nhan bạc phận”. Trên thực tế cho ta thấy, từ xưa đến
nay bi kịch của các mỹ nhân cũng vô số. Cuộc sống đời thường của họ thật
trắc trở.
Ðến đây, có người sẽ
hỏi: Tiền bạc, địa vị, danh dự, sự quý trọng đã không chắc chắn mang đến
hạnh phúc. Thế thì, rốt cuộc cái gì là hạnh phúc ?
Hạnh phúc không thể tìm thấy từ bên
ngoài. Thật vậy, tiền bạc, địa vị, danh dự, sắc đẹp... nếu hạnh phúc tùy
thuộc vào những thứ ấy, nó sẽ chóng sụp đổ. Tiền bạc thì mau qua; thành
công thì không dễ gặp; danh vọng chỉ là quan điểm của người khác; vận
may có thể tan biến. Sự phản bội, bất trung và quên lãng thường gây thất
vọng đến những ai xây đắp hạnh phúc mình trên tình cảm của người khác.
Tục ngữ phương Ðông có câu: “Ðừng dựa vào bức tường, bức tường sẽ đổ.
Ðừng dựa vào cành cây, cành cây sẽ gãy. Ðừng dựa vào con người, con
người sẽ chết”.
Hạnh phúc là một trạng thái tâm linh, nên
nó nằm bên trong chúng ta, trong tâm hồn tĩnh lặng và trong sáng của
chúng ta.
Hạnh phúc không giống với những khoái lạc
ích kỷ riêng tư mà nó ẩn chứa trong sự hy sinh và cống hiến.
Ðiều đáng chú ý, một hạnh phúc thật hoàn
hảo không thể có trên thế gian này. Cuộc sống của nhân sinh luôn bị pha
trộn trong vui buồn, sướng khổ. Do đó, hạnh phúc thật sự chỉ có mặt
trong sự bằng lòng với hoàn cảnh của chính mình, với những thăng trầm
trong cuộc sống.
VUI CƯỜI
^
Thầy giáo: Ðiệu Minh, trò giải thích cho
Thầy câu này: “Có bạn từ phương xa đến, chẳng phải là vui sao ?”
Ðiệu Minh: Thưa Thầy, Khổng Tử nói câu
này sai rồi, đáng lẽ phải nói là: “Có bạn từ phương xa đến, chẳng phải
là thê thảm sao !”
Thầy giáo (tức giận): Trò giải thích ngay
câu đó cho tôi xem !
Ðiệu Minh: Dạ, tại vì khi bạn tới chơi,
ta tất phải tốn tiền mua đồ đãi bạn ạ. Chẳng phải là thê thảm sao ? !
Thầy giáo: Trời !!!
KẺ ÐÁNG
THƯƠNG
Sư phụ dẫn Tiểu Minh đi tham bái Phật
Tích Tòng Lâm. Tới một nơi phong cảnh hữu tình, non nước nên thơ, xa xa
có một họa sĩ đang ngồi bên bờ sông vẽ tranh.
Sư phụ và Tiểu Minh mới đến sau lưng
người đó đứng xem một hồi, chỉ thấy ông họa sĩ động tay nhất bút vẽ rất
ít mà thời gian trầm tư suy nghĩ lại nhiều;
Ðột nhiên, Tiểu Minh quay lại nói với Sư
phụ:
“Sư phụ thấy hông, người hổng có máy
chụp hình thiệt là tội nghiệp quá đi!”
Sư phụ: ??!!??
NHẪN NẠI
Trong giờ đạo đức,
thầy viết lên bảng đen hai chữ “Nhẫn nại”.
Thầy giáo: Hôm nay, chúng ta học ý nghĩa
của chữ “Nhẫn nại”. Nào, bây giờ các trò nghe đây. Một khi chúng ta cố
sức chịu đựng những sự đau khổ nhất. Ðó gọi là ý nghĩa của Nhẫn nại.
Ðiệu B: Thưa Thầy, con cũng có kinh
nghiệm về sự nhẫn nại ạ !
Thầy giáo: Tốt lắm, trò kể ra cho các bạn
cùng học hỏi xem !
Ðiệu B hớn hở: Da, hôm bữa đó, con bị
nhức răng dữ dội, mà con vẫn cố nhẫn nại chịu đựng để ăn cho hết gói
bánh ạ.
Thầy giáo: !!??!!
KHÔNG LỜI
Trong giờ học cứu thương.
Thầy giáo: Ðiệu A, con nói cho Thầy biết,
khi vào núi, lỡ gặp rắn mắt kính thì việc đầu tiên phải làm là như thế
nào ?
Ðiệu A (đang lơ mơ, bừng dậy) dõng dạc
nói: Dạ, việc đầu tiên cần làm là phải lập tức đập bể mắt kiếng của nó,
cho nó hết thấy đường đi. Sau đó, mình... co giò chạy ạ!
Cả lớp: Ha ha... Hi hi... hê hê hê...
Thạch Lan – Thích Huệ Quang
MỘT CÂU NÓI
^
Mỗi con người trong
quá trình trưởng thành, có khi chỉ do một câu nói của người thân, bạn
bè, thầy tổ, cha mẹ mà có thể làm thay đổi cả cuộc đời.
Nhan Thâm, một đệ tử của Khổng Tử, người
tuy thông minh nhưng không chịu lập chí. Về sau, chỉ vì một câu nói của
Khổng Từ: “Ông không chịu khổ học. Từ nay, ta cũng không hy vọng ông có
thể trở nên người có tài lớn”, Nhan Thâm vì câu nói này kích động, lập
tức đóng cửa từ khách, phát tâm khổ học. Rốt cuộc đạt được thành công
trong số ba ngàn đệ tử.
Vào đời Ðường, Thiền sư Ðơn Hà vốn là một
sĩ tử. Trên đường lên kinh đô ứng thí, gặp một vị xuất gia nói với Ngài
rằng: “Chọn quan, không bằng chọn Phật”. Ngay lúc đó, Ngài thay đổi chủ
ý, đến chùa xuất gia, tham thiền mà trở thành vị Cao tăng ngộ đạo một
thời.
Vì một câu nói, có người tích cực hướng
thượng, quyết vươn lên sự hùng cường; có người thì sa sút bạc nhược, cam
chịu thụt lùi. Cho nên, một câu nói có thể khiến người thành công, cũng
có thể khiến người thất bại.
Cha mẹ của một gia đình nọ, giới thiệu
con gái mình với khách tới chơi rằng: “Con nhỏ này không có tương lai,
không làm được việc gì cả”. Không ngờ, cô bé sau khi nghe được câu này,
liền nghĩ: “Ðược, mẹ đã nói mình không có tương lai, không làm được việc
gì. Mình là một con nhỏ hư, mình sẽ hư cho họ thấy”.
Có một Thầy giáo trong trường chỉ một em
học sinh bảo: “Em lười biếng như vậy, không giống người có học thức mà
lại giống kẻ lưu manh”. Em học sinh nghe rồi, nghĩ thầm: “Tốt thôi, Thầy
đã cho tôi là thằng lưu manh. Tôi sẽ làm thằng lưu manh cho Thầy thấy”.
Từ đó, em này đã sống những tháng ngày phóng túng, bỏ trôi thời gian.
Cũng đồng một câu nói, có người cho là
giáo dục, thì đây là sự khích lệ. Có người thì cảm thấy bị xúc phạm, từ
đó một là không làm, hai là làm không ngừng. Ví dụ: có người nói với
chúng ta “Sao bạn không nói những lời tốt đẹp?”. Có người nghe rồi, liền
tự nhắc nhở mình nói lời hay. Có người nghe lại nghĩ: “Tui sẽ nói lời
xấu cho ông nghe”. Thầy giáo mắng học sinh: “Các em thật ngu dốt !”. Có
em sẽ quyết tâm học thật giỏi, không muốn làm kẻ ngu. Nhưng có em lại
nghĩ: “Tui là đứa ngu, thì tui sẽ ngu cho Thầy xem”.
Cũng đồng một câu nói, âm điệu khác nhau
thì kết quả cũng khác nhau. Do đó, cha mẹ, thầy cô khi nói chuyện với
con em của mình, cần rất lưu tâm, chú ý đến hậu quả. Cửa chùa có rất
nhiều học sinh, chính là cũng nhờ một câu nói mà được khai ngộ. Nhà Nho
cũng có những câu nói khích lệ đệ tử mà thành tựu cả một đời học tập.
Có một người địa vị cao trong xã hội, bị
vợ ép quy y Phật pháp, muốn ông lễ bái. Ông vô cùng khó chịu, gần như
muốn trở thành kẻ phản đồ. Một vị Tăng đứng bên cạnh bảo: “Làm Phật là
tốt rồi, không nhất thiết phải lễ Phật”. Ông ta nghe câu này rất vui,
cho rằng làm Phật thì mình làm được. Do đó, về sau liền trở thành một vị
Ðại hộ pháp trong Phật giáo.
Lại có một vị Giáo sư, có người khuyên
ông ta tham gia cứu trợ thiên tai, ông ta tiếc tiền, không chịu bỏ ra
đồng nào, còn la to: “Người nào tôi cũng không giúp”. Một vị Tăng vừa
nghe, liền nói: “Chẳng lẽ muốn người bị thiên tai tới cứu ông à?”. Nghe
câu này, vị Giáo sư như bị một gậy vào đầu, như người trong mộng tỉnh
lại. Về sau trở thành một phần tử tri thức luôn hoan hỉ làm các việc từ
thiện.
Mọi người cần biết một câu nói của mình
có ảnh hưởng rất lớn đến người khác, thường khơi gợi trí tưởng tượng. Vì
thế, khi thốt ra lời nói cần nên suy nghĩ cẩn thận.
Như Ngọc, dịch từ Internet.
PHẬT GIÁO HỌC ÐƯỜNG
^
Ngày nay trái đất dường như được thu hẹp
bởi sự thông minh và tài năng của con người qua các thông tin nhanh,
những thành tựu khoa học, từ đó tạo ra cho con người nhân cách sống,
không còn nhiều tư thù, ích kỷ, thỏa mãn tham vọng cá nhân..., những thứ
đó được đổi lại bằng sự thông cảm và hiểu biết lẫn nhau hơn. Qua đó, xu
hướng xích lại gần nhau bằng lối đi chung cho cả thế giới là toàn cầu
hóa, mục đích cũng không ngoài việc đề cao nhân bản, không phân chia màu
da hay sắc tộc. Luận cứ đó cho thấy rằng từ ý tưởng cho đến quan niệm về
con người khá tương đồng với giáo lý của đạo Phật, con người là quan
trọng, chỉ cần “giáo dục” thì nhân tính đó sẽ được thăng hoa vì Phật
tính đã có sẵn.
I- GIÁO DỤC PHẬT GIÁO:
1- Giáo dục truyền thống.
Thời kỳ truyền giáo của Ðức Phật được các
nhà Nhân chủng, Lịch sử và Giáo dục học thông qua sự nhận định của
Kritnamoti: “Ngài đã dùng Ða nguyên luận, dựa trên căn bản chất tố của
con người mà khai triển ngũ uẩn, mười hai xứ và mười tám giới, giúp cho
con người nhận ra được giá trị tuyệt đối nhân tính hay thực tại như một
vị Ðại y vương tùy bệnh mà cho thuốc”. Vì thế, mãi đến mười hai năm sau,
Giới luật mới được đề cập và những quy định khác cũng được nêu ra... để
phục vụ cho sự nghiệp làm giáo dục.
Ðiều đó cho chúng ta thấy rằng: Ðức Phật
là một nhà Giáo dục vĩ đại của nhân loại. Thông qua Giáo lý của Ngài,
người ta nhận ra được điều lý thú là nhân tính của mỗi cá nhân giống như
“quặng mỏ” nếu được hướng dẫn và sống đúng thì nhân cách, ý tưởng và trí
tuệ được thay đổi mà con người ít khi nghĩ đến. Vì thấy được giá trị vô
song đó, nên các vị Thánh tăng đã tiếp nối ý tưởng “truyền đăng tục
diệm” cho đến ngày nay. Tuy nhiên, trên bước đường hội nhập thì Phật
giáo đã uyển chuyển theo hình thức vốn sẵn có của mỗi nơi như văn hóa,
phong tục tập quán của địa phương đó, nhưng nội dung vẫn được tuyệt đối
trân trọng. Phật giáo Việt Nam cũng không đứng ngoài nguyên tắc đó.
2- Giáo dục chuyển tiếp:
Hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ nhất
vào ngày 25-5-1950 đến 08-6-1950 có 26 nước tham dự. Phái đoàn Phật giáo Việt
Nam do Hòa thượng Tố Liên, Trụ trì chùa
Quán Sứ – Hà Nội làm đại biểu. Sau lần góp tiếng nói chung đó đã làm
tiền đề cho các vị danh Tăng Việt Nam thêm nhiều sáng tạo trong cuộc
cách tân Giáo đoàn ở 3 điểm chính yếu: Giáo lý, Giáo chế và Giáo sản. Tư
tưởng đó được hầu hết Tăng, Ni và quần chúng Phật tử trong nước hưởng
ứng, vì nó đã mang lại một luồng sinh khí mới cho nhận thức. Nhân nơi sự
cách tân đó mà bộ Giáo án Phật học Phổ thông đầu tiên của Phật giáo Việt
Nam ra đời đáp ứng cho nhu cầu thực tế. Từ đó, giáo lý được phổ cập rộng
rãi ở nhiều thành thị, qua sự chuyển tiếp ngôn ngữ từ âm Hán-Việt sang
tiếng Việt nên ý nghĩa của giáo lý trở nên khúc chiết, gãy gọn và rõ
ràng hơn. Tuy nhiên, 60 năm trôi qua ngôn ngữ đó giờ đây vẫn chưa thể
khẳng định ưu thế của mình trong công tác giảng dạy cho Tăng, Ni và Phật
tử mà đặc biệt là phong cách truyền đạt thiếu tính chuyên môn trong sư
phạm để đáp ứng cho nhu cầu tiếp thu kiến thức hiện đại.
II- GIÁO DỤC TỔNG THỂ:
Thiết nghĩ, ngày nay đất nước đang gia
tăng phát triển để hội nhập thế giới về mọi mặt thì trong giới Phật giáo
cũng phải bắt nhịp cùng chủ trương mới chứ không thể “thụ động” ứng dụng
những thành quả đã qua của các vị tiền nhân.
Tinh thần khế lý, khế cơ của Phật giáo có
thể nói “trên cả tuyệt vời”. Nó đáp ứng được mọi thời đại, như bản chất
của gạo là cung cấp nguồn dinh dưỡng cho sự sống, cho nên con người đã
khéo léo lấy tinh bột của nó làm ra nhiều hình thức khác nhau để đáp ứng
cho như cầu chứ không cục bộ chỉ biết nấu thành cơm mà thôi ! Vì thế,
trong tương lai gần, đất nước việt Nam sẽ đi vào công nghiệp hóa thì
chắc chắn cách ứng dụng giáo lý cũng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế,
như thay đổi giờ công phu, tụng niệm và những buổi lễ chính để Phật tử
dễ dàng tham dự, đồng thời không gây trở ngại về giờ giấc cho những khu
dân cư chung quanh. Những buổi thuyết giảng không chỉ ở giảng đường mà
còn được phát trên đài phát thanh hay đài truyền hình để đáp ứng cho
nhhững người không có điều kiện đi nghe giảng. Chuyển tải toàn bộ kinh
điển từ âm Hán-Việt sang thuần Việt, để trong những buổi lễ vẫn “tán,
tụng” theo nghi thức thiền môn, nhưng mọi tầng lớp đều có thể hiểu trọn
vẹn lời Phật dạy...và đặc biệt là thay đổi cách trình bày ở học đường
cho Tăng, Ni.
Thập niên 50, nhu cầu Phật sự là chừng ấy
đã cân đối giữa cung và cầu, nhưng nửa thế kỷ trôi qua, nhu cầu đó lại
một lần nữa cần phải thay đổi như một “chiếc áo” năm xưa không còn phù
hợp với thời trang và một cơ thể đang “trưởng thành”. Ðó là điều kiện ắt
có và đủ cho xã hội cùng con người đương đại ! Vì thế, chúng ta không
thể giữ cách học từ chương, chữ đâu nghĩa đó, học thuộc lòng, cách làm
đó không phù hợp với danh xưng và kiến thức của Tăng, Ni mà nó mang tính
Thầy truyền cho trò.
Hiện nay cả nước có 28 trường Cơ bản,
nhưng trên “mặt bằng” giáo khoa cho Phật giáo học đường thì không đồng
đều qua cách hướng dẫn. Trong đó có sự khách quan của thời kỳ quá độ và
chủ quan của Giảng viên đứng lớp không tự nâng cao cách truyền đạt tư
tưởng, đồng thời không mang tính khoa bảng nên phương pháp đào tạo chủ
yếu ở các trường Trung cấp trong nước vẫn chủ yếu phương pháp “độc
thoại” và “thụ động” (mà những người thuộc thế hệ của người viết bài này
hay trước nữa đã từng trải qua): Thầy giảng bài, trò chép bài. Tăng, Ni
sinh phải tuân theo sách vở một cách máy móc. Hậu quả của phương pháp
dạy học này làm cho học sinh trở nên thụ động, không phát triển được kỷ
năng thực hành, sáng tạo và tính chủ động, tự lập.
Ngoài ra, mối quan hệ tương tác giữa quý
Thầy và quý Sư cô đối với học sinh còn quá cổ kính. Tăng, Ni sinh không
được khuyến khích chất vấn Thầy, Cô mà phải tuân theo một cách gần như
tuyệt đối. Học sinh nào dám chất vấn Thầy, Cô liền bị mang nhãn hiệu là
“vô lễ” hay “hỗn hào” và có thể bị trù dập! Hậu quả của lối giáo dục thụ
động và một chiều này là nó tạo ra một thế hệ Tăng, Ni sinh học vẹt,
lười suy nghĩ, thiếu chủ động, kém tưởng tượng và tư duy thực tế để có
thể giảng dạy, truyền thụ kiến thức cho mọi người trong lúc còn đang học
và sau khi rời ghế nhà trường... Trong vấn đề này, dường như thiếu sự
quan tâm; nói cách khác là chưa đặt ra tầm quan trọng “sản phẩm” có chất
lượng hay không hoặc có thể “giới thiệu” sang các nước Phật giáo bạn
trong khu vực và thế giới.
III- CẦN CẢI CÁCH VƯỜN ƯƠM TRÍ TUỆ:
Khi nói đến học đường là người ta nghĩ
ngay đến tính sư phạm: cách cầm viên phấn như thế nào, trình bày bảng ra
sao ? Bố cục của tiết giảng có “cháy” giáo án hay không ? Có ra tạo được
sự hấp dẫn trong mỗi tiết bởi kiến thức được cập nhật hay vẫn nói chuyện
của 20 năm về trước? Ðể Tăng, Ni không phải nghĩ rằng chuyện chẳng đặng
đừng nên phải ngồi đây nghe mấy năm nay không có gì mới thêm nữa, kiến
thức đó không giúp ích gì từ tư duy đến nhu cầu giảng dạy cho mình trong
tương lai sau khi rời mái trường.
Giáo dục đã, đang và sẽ là một chỉ tiêu
quyết định sự khác biệt giữa các quốc gia và giữa cá nhân. Giáo dục Phật
giáo không thể đứng ngoài 3 chức năng chính là nâng cao trình độ, kiến
thức cho Tăng, Ni; đào tạo nhân sự có trình độ chuyên môn cao và nuôi
dưỡng nhân tài. Hiện nay, Phật giáo học đường ở Việt
Nam chỉ mới làm được chức năng số một, còn lại 2 chức năng sau thì còn rất
hạn chế. Phật giáo Việt Nam ngày
nay đã có một thế hệ tương đối trẻ hơn 50 % so với thập niên 60. Tăng,
Ni trong cả nước là dưới 40 tuổi. Phật giáo học đường phải làm sao trang
bị cho lực lượng trí thức trẻ này những kiến thức chuyên môn cần thiết
để họ “có Chánh kiến” và nhận thấy trách nhiệm học tập để họ tự hoàn
thiện theo phương châm “Duy tuệ thị nghiệp”, nhằm đáp ứng cho mọi tầng
lớp và đặc biệt là nơi vùng sâu, vùng xa đang thiếu “Dòng suối từ” của
Phật giáo chảy đến những “mảnh đất khô cằn” trí tuệ và nhận thức. Nếu
Phật giáo không huy động được nguồn nội lực trí tuệ thì Giáo hội sẽ lạc
hậu và Tăng, Ni, Phật tử sẽ bị nô lệ tri thức ở các tôn giáo khác. Vì
thế, những chuyện cần làm ngay:
1- Hiện tại:
- Hệ thống hành chánh của trường như Ban
Giám Hiệu, Ban Giảng Huấn và Văn phòng hành chánh cần phải đúng quy
cách.
- Thi cử phải nghiêm túc.
- Nội dung học của từng môn phải được cân
nhắc, chứ không nên nhồi nhét.
- Mỗi cơ sở phải có một thư viện nội và
ngoại điển cho Tăng, Ni sinh tham khảo để mở rộng kiến thức.
- Quy định về Luận văn tốt nghiệp phải
đạt yêu cầu, nếu không chỉ cấp chứng chỉ.
- Không chạy theo thành tích, làm cho nền
Phật giáo học đường nước nhà suy kém.
- Mỗi năm cần có sự giao lưu các trường
khác và Học giả bên ngoài, ít nhất là một lần.
2- Tương lai:
- Thống nhất bộ giáo án.
- Các tỉnh thành trong khu vực, nên chọn
ra một địa điểm để làm trường, chứ không nên mỗi Tỉnh một trường, không
có đủ học viên và kinh phí hoạt động.
- Mỗi năm phải có kỳ tuyển sinh.
- Tăng, Ni sinh không đạt số điểm chuẩn
thì phải học lại.
- Ngoài tiếng Hán cổ, cần tăng thêm Anh
ngữ và Hán hiện đại.
- Ba tháng An cư, chỉ để Tăng, Ni tu tập
nhằm tiêu hóa những gì đã tiếp thu.
- Chỉ mời những Giảng viên có sư phạm để
truyền đạt kiến thức. Tuy nhiên những vị “tu giỏi” thì vẫn mời giảng
ngoại khóa.
- Khen thưởng và xử phạt phân minh.
- Giành nhiều thời gian cho Tăng, Ni tiếp
xúc với thư viện.
- Mỗi tuần, lớp học phải có buổi thảo
luận vào ngày thứ bảy.
IV- NHỮNG YÊU CẦU CẦN THIẾT CỦA MỘT
GIẢNG VIÊN:
1- Mô phạm và thân giáo:
Thân giáo có thể được xem như bài học
giáo dục thâm thúy nhất và thiết thực nhất. Sự phạm hạnh và thanh tịnh
của người thầy có sức tác động mạnh vào tâm thức Tăng, Ni sinh, khiến họ
phát khởi chánh tín, làm trỗi dậy hạt Bồ-đề, làm động lực cho sự tu
tập... Tất cả hành vi thân giáo của người thầy như cách đi, đứng, nằm,
ngồi, cho đến mặc áo, ăn cơm, rửa mặt, v.v... là những giáo huấn sinh
động, không thể tìm thấy qua ngôn ngữ văn tự trong trường lớp. Do đó có
thể nói sự mô phạm hay thân giáo của người thầy Phật học được đánh giá
rất cao và đóng vai trò quan trọng trong sự tu học của Tăng, Ni sinh.
2- Sư phạm:
Sư phạm là quá trình khoa học của giáo
dục được thể hiện và đánh giá qua sự vận dụng quy luật trong quá trình
dạy học và còn là yếu tố không thể thiếu trong việc thành tựu khế lý và
khế cơ.
Ðối tượng của thầy giáo là con người và
do đó đối tượng của người thầy Phật học là Tăng, Ni sinh. Muốn giáo dục
con người thì người thầy phải biết thuyết phục, nêu gương đồng thời tổ
chức các hoạt động thực tiễn để cho các học viên có dịp rèn luyện. Tính
khoa học trong giáo dục sư phạm Phật học được thể hiện một cách chính
xác, hợp lý khi nó xác hợp với các quy luật phát triển của lứa tuổi và
đặc điểm của đối tượng.
Sư phạm trong giảng dạy Phật học thực
chất là một nghệ thuật truyền trao Chánh pháp và huấn luyện trí tuệ, đạo
đức một cách hữu hiệu. Ðây là nghệ thuật đòi hỏi nhiều ở sự nỗ lực tự
trau giồi của người thầy nhiều hơn bất cứ nghề nào khác.
Phật giáo học đường phải là nền giáo dục
hoàn mỹ, mới cung cấp được cho Tăng đoàn và xã hội những con người vững
về chuyên môn (Chánh kiến và kiến thức phổ thông uyên bác) và mạnh mẽ về
đạo đức. Nói cách khác, giáo dục phải mang lại cho người một kỹ năng học
và cái tâm an lạc khi phục vụ. Nhưng lâu nay vấn đề này ít được đề cao
mà chỉ xoay quanh một vấn đề duy nhất là đạt được “chất lượng kiến thức”
mà không quan tâm đến “chất lượng đạo đức”!
Chẳng những chất lượng đạo đức không chỉ
được xem là quan trọng ngày hôm nay mà còn là sự quan tâm hàng đầu của
Ðức Phật từ ngàn xưa. Nên “vườn ươm” Tăng tài của Phật giáo Việt Nam
phải vào cuộc cải cách để mang lại hiệu quả thiết thực trong công cuộc
“trồng người”. Nếu không, chúng ta chỉ có những sản phẩm “kém chất
lượng”, những con người “què cụt nhân cách” với những bước chân khập
khiễng đi vào cuộc đời.
Vì vậy, bên cạnh những giải pháp để nâng
cao chất lượng dạy và học, chúng ta cũng cần phải đặc biệt chú trọng đào
tạo về phẩm chất cho một “Thiên nhân chi đạo sư” trong tương lai và hiện
tại là công dân hữu dụng, có một trình độ nhất định ở nhiều lĩnh vực để
đóng góp cho đất nước trong công cuộc tiến đến công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, chứ đừng để cho Tăng, Ni cứ mải ngủ vùi trong vầng hào
quang của Thầy tổ.
Tóm lại, điều kiện kinh tế hiện nay còn
khó khăn, không cho phép chúng ta làm nhiều việc cùng một lúc. Nhưng
cũng không thể chờ đợi đến lúc có đầy đủ hết rồi mới làm. Giảng viên là
người hơn ai hết, biết rõ từng vấn đề trong giao thức để đổi mới nội
dung của môn học, trong phương pháp giảng dạy và xu thế phát triển của
Phật giáo. Muốn được thế, cần phải tiếp xúc với xã hội qua nhiều lĩnh
vực: tin tức qua báo đài, giao lưu nhiều tầng lớp từ trí thức cho đến
bình dân, để hiểu được mình đang đứng ở đâu, mạnh về mặt gì, yếu về mặt
gì ?
Nội dung và phương pháp giảng dạy ảnh
hưởng quyết định đến chất lượng học đường. Vì thế, Giảng viên phải soạn
lại giáo trình và giáo án nghiêm túc trước khi lên lớp. Ðừng bắt “con
em” chúng ta ê a học bài như chính chúng ta đã làm cách đây mấy mươi
năm. Hãy tìm cách rút ngắn bài học nhưng đầy đủ ý nghĩa và súc tích, để
giành thời gian còn lại cho họ thư giãn và tu tập những gì đã học, đó
mới là biện pháp có hiệu quả trong giáo dục Phật giáo.
Với trách nhiệm “truyền đăng tục diệm”
buộc Giảng viên không được tụt hậu về nhân cách và sư phạm mà phải nỗ
lực thật nhiều trong công cuộc truyền đạt kiến thức cho thế hệ hiện tại
và mai sau một lối đi hiệu quả cho xu thế phát triển của xã hội và Phật
giáo ngày nay, để làm giàu thêm phong cách của một Giảng viên trong sự
nghiệp trồng người.
TỲ KHEO THÍCH LỆ THỌ
VIỆT NAM PHẬT QUỐC TỰ
^
Bodhgaya
Việt Nam Phật Quốc tự tôi yêu
Tổ quốc hồn thiêng vọng nhớ nhiều
Chuông chùa văng vẳng ba ngàn cõi
Bát-nhã phá tan mười cửa siêu.
Siêu độ vong linh tại đất Thiền
Mái chùa Nam Việt đứng ngang nhiên
Rồng vàng uốn lượn phun châu ngọc
Phụng chầu nghinh rước bậc uy nghiêm.
Nghiêm trang thanh nhã cổng tam quan
Việt-Pà-Ấn ngữ rõ hàng hàng
Nghệ thuật hiển bày văn hóa cổ
Nghệ nhân tinh xảo tuyệt nhân gian.
Gian nan chi quản tấm lòng son
Ðông, Tây, Nam, Bắc vượt non mòn
Ban phát cho đời hoa trí huệ
Ươm mầm giải thoát quả thơm ngon.
Ngon ngọt rồi đây sẽ lại đầy
Ðắp bù giông tố thuở đoanh vây
Bốn biển con chung cùng góp sức
Mỗi một bàn tay đắp đắp xây.
Xây cất chùa xong Lễ Lạc thành
Người người nô nức hiệp vây quanh
Chim từ muôn hướng bay về tổ
Hưởng chút tình thiêng của Ðạo lành.
Lành thay Phật Quốc Tự hôm nay !
Rợp bóng tre xanh, sáng trăng đầy
Lối mòn in bóng hình Tăng sĩ
Mảnh áo nâu sồng thanh thoát thay!
Thay đổi thăng trầm rõ thịnh suy
Hai ngàn năm lẻ, pháp Vô-vi
Mùi Thiền giác ngộ hoa đào nở
Việt Nam Phật Quốc Tự sử ghi.
Delhi, 22/10/03
LIÊN ÐẠT
THIỀN
^
J.KRINAMURTI
Minh
Tâm dịch
Tâm
thiền là vắng lặng nhưng không phải là sự yên lặng mà tư tưởng có thể
nhận thức được. Thiền không phải là cái vắng lặng của một buổi tối. Nó
thật sự vắng lặng khi tất cả những tư tưởng, lời nói và nhận thức hoàn
toàn ngừng bặt. Tâm thiền này là tâm tôn giáo mà không bị quản thúc bởi
một tôn giáo hay bất cứ một hình thức lễ nghi nào.
Tâm
tôn giáo là sự bột phát của tình yêu. Một thứ tình yêu hoàn toàn không
có sự phân biệt. Ðối với nó xa là gần. Nó không phải là một mà cũng
chẳng phải là nhiều, hay nói đúng hơn là một thứ tình yêu mà tất cả sự
phân biệt đã dứt bặt. Giống như cái “đẹp” không thể diễn tả bằng lời
nói. Từ sự yên lặng này tâm Thiền phát khởi.
Thiền
là một trong những nghệ thuật tuyệït vời trong cuộc sống. Có lẽ là tuyệt
vời nhất và không ai có thể dạy cho bất cứ ai. Ðó là cái đẹp của Thiền.
Tự nó không có kỹ thuật cho nên không có người thiện xảo. Khi bạn tìm
hiểu về chính mình, nhìn vào chính mình, nhìn vào những bước đi của bạn,
bạn ăn như thế nào, nói cái gì, ghét hay thương... Nếu như bạn biết được
tất cả những cái đó trong bạn mà không có sự phân biệt thì đó chính là
một phần của Thiền.
Do đó
Thiền có thể xảy ra
trong lúc bạn đang ngồi trên xe buýt hay đang đi trong cánh rừng rợp
bóng mát, hoặc đang lắng nghe chim hót hay đang nhìn vào gương mặt của
vợ con bạn.
Thật sự bạn muốn biết tại sao
Thiền trở nên quan trọng như thế! Nó không có sự khởi đầu cũng không có
sự chấm dứt. Nó giống như giọt mưa, trong nó hàm chứa tất cả những sông
hồ và biển cả. Hạt mưa ấy nuôi dưỡng trái đất và con người. Không có nó,
trái đất sẽ trở nên sa mạc. Không có Thiền thì tâm sẽ trở thành khô cằn,
một vùng đất hoang tàn.
Thiền
sẽ tìm thấy trong tâm với tất cả những hoạt động hay những kinh nghiệm
của nó có thể hoàn toàn vắng lặng. Không nỗ lực nhưng hiện tại bạn nỗ
lực, đó là nhị nguyên. Bạn có thể nói rằng: “Tôi thích có một kinh
nghiệm phi phường, cho nên tôi phải bắt tâm tôi vắng lặng. Bạn sẽ chẳng
bao giờ làm được điều đó cả. Nhưng nếu như bạn bắt đầu tìm kiếm quan
sát, lắng nghe tất cả những hoạt động của tư tưởng, tình trạng của nó,
mục đích của nó, những sợ hãi và những cảm giác của nó, hãy theo dõi tâm
của bạn hoạt động như thế nào rồi bạn sẽ thấy tâm của mình trở nên vắng
lặng một cách phi thường. Sự vắng lặng đó không phải là sự ngủ yên mà là
một cách hoạt động tích cực và do đó nó yên lặng. Một máy phát điện lớn
chạy tốt hầu như không hề có tiếng động, chỉ khi nào có sự va chạm thì
khi đó có tiếng động.
Sự yên
lặng và không gian đi cùng với nhau. Sự bao la của yên lặng là sự bao la
của tâm thức mà trong đó không có điểm trung tâm.
Thiền
là việc làm khó khăn. Nó đòi hỏi hình thức cao nhất của giới luật mà
không phải là sự tuân thủ, cũng không phải là sự bắt chước. Thiền chỉ là
giới luật mà chỉ đến hoàn toàn bằng sự tỉnh thức không những những vấn
đề bên ngoài và còn cả những vấn đề bên trong của bạn. Do đó, Thiền
không phải là hành động xa vời mà ngay chính trong cuộc sống hằng ngày,
nó đòi hỏi sự cộng tác, sự nhạy cảm và sự thông minh. Không có nền tảng
của một đời sống chân chánh thì Thiền sẽ không có giá trị đối bất cứ ai,
một đời sống chân chánh là không tuân theo những đạo đức xã hội mà là
thoát khỏi sư ghen tỵ, ham muốn và tìm kiếm quyền lực. Thoát ly khỏi
những thứ này sẽ không phải bằng ý muốn mà là sự tỉnh thức. Không biết
những hoạt động của tự ngã Thiền sẽ trở nên sự ham thích cảm giác và nó
trở nên vô nghĩa.
Luôn
luôn tìm kiếm rộng, sâu, những kinh nghiệm hảo huyền là một lý do cách
xa chân lý “cái gì”, mình là gì, và tình trạng của tâm là sao. Một cái
tâm tỉnh thức, thông minh, giải thoát tại sao không nên có? Tại sao
không nên cần? Ánh sáng là ánh sáng. Nó không đòi hỏi gì hơn là ánh
sáng.
Thiền
là một trong những
điều phi thường, và nếu bạn không biết nó là gì bạn sẽ giống như một
người mù đang di chuyển trong một thế giới đầy màu sắc và ánh sáng. Nó
không phải là một vấn đề của tri thức, mà là khi tâm hồn thể nhập vào
tâm thức thì tâm thức sẽ có một khả năng khác, nó là chân lý, vô hạn
không những trong khả năng tư duy, hành động một cách hiệu quả mà còn
trong ý thức về cuộc sống trong không gian bao la nơi mà bạn là một phần
của nó.
Thiền
là một thứ tình yêu. Nó không phải là tình yêu của một người cũng không
phải của nhiều người. Nó giống như nước mà người ta uống trong bất kỳ
loại chai nào cho dù là nó được làm bằng vàng hay bằng đất nung: Nó là
vô tận. Và một điều quan trọng xảy ra là nó không phải là ma túy cũng
không phải là sự thôi miên nhưng nó đã xảy ra và một điều quan trọng xảy
ra khi tâm thể nhập vào chính nó, bắt đầu từ khởi đầu và thể nhập sâu
dần cho đến khi ý niệm về sâu – cao mất đi ý nghĩa của nó và mọi hình
thức của sự đo lường hoàn toàn đoạn diệt. Ðó là trạng thái hoàn toàn an
tịnh- không thỏa mãn những gì xãy ra bằng sự hài lòng, chỉ là sự an tĩnh
một cách quy củ, đẹp và mãnh liệt. Tất cả có thể bị hủy diệt như bạn hủy
một bông hoa và chính sự tổn thương này nó bất diệt. Bạn không thể học
phương pháp Thiền này từ người khác. Bạn phải bắt đầu từ số không và bắt
đầu loại bỏ dần dần vô minh.
Mảnh
đất mà tâm Thiền có thể phát khởi đó là cuộc sống hàng ngày, sự xung
đột, nỗi đau khổ và mang đến quy củ và cũng từ đó đi đến sự vĩnh cửu.
Nhưng nếu bạn chỉ liên hệ bằng sự thứ tự và chính cái thứ tự ấy sẽ mang
đến sự giới hạn và chính tâm sẽ trở thành tù nhân của nó. Trong tất cả
những hoạt động này bạn không biết phải bắt đầu hay chấm dứt từ đâu. Bờ
bên này chẳng có liên hệ gì với bờ bên kia và không biết làm sao để vượt
qua dòng sông. Bạn lao xuống nước nhưng không biết phải bơi như thế nào.
Và cái đẹp của Thiền là bạn chẳng bao giờ biết bạn đang ở đâu, bạn đang
đi đâu, và cuối cùng là gì.
Thiền
không phải là cái gì khác cuộc sống hàng ngày. Ðừng đi ra khỏi phòng để
hành thiền chừng 10 phút rồi dừng thì chỉ là một kẻ đồ tể của ảo ảnh và
thực tiễn.
Thiền
là một trong những điều nghiêm túc nhất. Bạn có thể thực hành suốt
ngày, trong văn phòng, với gia đình, khi bạn nói với ai đó là “Tôi yêu
bạn” khi bạn quan tâm đến con cái. Bạn giáo dục chúng trở nên những
chiến binh, hy sinh để bảo vệ độc lập, tôn trọng màu cờ tổ quốc, giáo
dục chúng hiểu rõ những cạm bẫy của thế giới hiện đại.
Quan
sát tất cả những thứ này, thấy rằng bạn là mộ phần trong đó, tất cả
những thứ ấy là một phần của Thiền. Và khi bạn Thiền như vậy bạn sẽ thấy
ở Thiền một cái đẹp phi thường. Bạn thực hành ngay trong trong hiện tại
và nếu bạn không thực hành ngay trong lúc ấy thì cũng chẳng có vấn đề gì
bạn sẽ thực hành trở lại. Bạn sẽ không thấy hối tiếc. Thiền là một phần
của cuộc sống nó không xa rời cuộc sống.
Nếu
bạn chuẩn bị thiền, thì đó không phải là thiền. Nếu như bạn muốn bày tỏ
sự lương thiện thì cái thiện đó chẳng bao giờ nở rộ. Nếu bạn cố tình
trau giồi đức tính khiêm cung, thì đức tính ấy sẽ hoại diệt. Thiền là
một cơn gió thoảng đến khi bạn mở cánh cửa sổ ra, nhưng nếu như bạn chủ
tâm mở cửa, chủ ý muốn chờ đợi một cơn gió thì nó chẳng bao giờ xuất
hiện.
Thiền không phải là phương
tiện. Nó là cả hai: phương tiện và cứu cánh.
Thiền
là một điều phi thường. Nếu có bất cứ một sự bắt buộc, cố gắng bắt tư
tưởng phải tuân thủ, bắt chước, thì Thiền sẽ là một gánh nặng. Sự yên
lặng trong khao khát những chấm dứt đang được làm sáng tỏ. Nếu như nó sự
tìm cầu những ảo ảnh và những kinh nghiệm thì nó sẽ dẫn đến những ham
muốn và ích kỷ. Chỉ trong sự thăng hoa của tư duy và sự chấm dứt tư duy
như thế sẽ làm cho Thiền trở nên nổi bật. Tư duy chỉ có thể nở hoa trong
tự do, chẳng bao giờ ở trong phạm trù của tri thức. Kiến thức có lẽ
chẳng bao giờ có những kinh nghiệm của một cảm giác tuyệt vời chỉ có tâm
đang tìm kiếm những kinh nghiệm những thứ ấy thì thật là non nớt. Sự
trưởng thành thoát khỏi những kinh nghiệm. Nó không chịu ảnh hưởng bởi
hiện hữu hay không hiện hữu.
Sự
trưởng thành trong Thiền là thoát khỏi tâm của kiến thức, bởi vì nó hình
thành và kiểm soát những kinh nghiệm. Một cái tâm như ánh sáng thực sự
cần thiết chứ không phải là kinh nghiệm. Không trưởng thành là sự ham
muốn những kinh nghiệm tuyệt vời hơn và lớn hơn. Thiền là sự rong ruỗi
trong thế giới của kiến thức và sự tự do bước vào những lãnh vực chưa
biết.
Tự
mình phải tìm thấy chính mình mà không qua bất kỳ ai cả. Chúng ta có
những bậc thầy, những vị cứu rỗi, và những đạo sư. Nếu thật sự bạn muốn
biết Thiền là gì thì bạn phải gạt bỏ hoàn toàn những thế lực đó.
Hạnh
phúc và hỷ lạc bạn có thể mua ở bất cứ đâu nhưng giải thoát thì bạn
không thể mua cho cá nhân bạn hoặc cho bất cứ ai. Hạnh phúc và hỷ lạc là
sự trói buộc của thời gian. Chỉ khi nào một trạng thái hoàn toàn tự do
thì giải thoát mới thật sự xuất hiện. Hỷ lạc cũng như hạnh phúc bạn có
thể tìm kiếm bằng nhiều cách nhưng nó đến rồi đi, giải thoát thì không.
Bạn không thể kiếm tìm nó. Khi nó có mặt, lệ thuộc hoàn toàn vào tâm của
bạn, nó nó tồn tại một cách không điều kiện và vô tận và không thể đo
bằng thời gian. Thiền là sự theo đuổi của hỷ lạc hoặc là sự tìm kiếm
hạnh phúc. Hay nói một cách khác Thiền là trạng thái của Tâm mà trong đó
không có khái niệm hay một công thức và do đó nó hoàn toàn tự do. Chỉ có
một cái tâm như thế thì giải thoát đến không phải tìm kiếm, không mời
mọc. Khi thiền có mặt dù là bạn đang sống trong một thế giới đầy náo
động thích thú và thù hận, thì những thứ này cũng không ảnh hưởng đến
tâm bạn. Khi thiền có mặt thì những xung đột chấm dứt. Nhưng sự chấm dứt
những xung đột này không hoàn toàn tự do. Thiền là sự vận động của tâm
trong giải thoát. Trong sự giải thoát này cái nhìn được thực hiện một
cách innocent và tình yêu là benediction.
Tôi
không biết bạn đã từng để ý hay không là khi bạn hoàn toàn tập trung có
một sự yên lặng hoàn toàn. Và trong sự tập trung đó không có biên giới
không có trung tâm cũng không có cái “tôi” được biết hay chú ý. Sự tập
trung đó là một trạng thái của thiền.
Chúng
ta hầu như chưa từng nghe tiếng chó sủa, hay tiếng của một đứa bé hoặc
tiếng cười của một người đàn ông khi ông ta đi ngang qua. Chúng ta tách
rời chúng ta ra khỏi mọi thứ và từ sự tách biệt này nhìn và lắng nghe
tất cả mọi thứ. Chính sự tách biệt này quá tiêu cực, bởi vì trong đó hàm
chứa tất cả những xung đột và nhầm lẫn. Nếu bạn lắng nghe âm thanh của
tiếng chuông một cách im lặng hoàn toàn thì bạn sẽ cỡi trên nó hơn nữa
nó sẽ mang bạn qua những thung lũng và những ngọn đồi. Cái đẹp của nó là
chỉ khi nào bạn và âm thanh là một bạn là một phần của nó. Thiền là sự
chấm dứt sự phân biệt không bị lệ thuộc bởi những hoạt động của ý chí
hay ham muốn.
Thiền
không phải là một cái gì đó cách biệt khỏi cuộc sống mà chính ngay trong
cuộc sống hằng ngày. Lắng nghe âm thanh của tiếng chuông, nghe tiếng
cười của người nông phu khi ông ấy đi ngang qua cùng với vợ ông ta, lắng
nghe tiếng chuông của chiếc xe đạp cô một bé gái vừa mới ngang qua. Ðó
là toàn bộ cuộc sống và thiền bắt đầu.
Thiền
là nhìn thấy nó là gì và đang là gì.
Nhận
thức, không có ngôn ngữ, không tư tưởng, là một trong những hiện tượng
lạ nhất. Ðó là sự nhận thức rất tinh xảo, không những bằng não bộ và còn
bằng những ý thức. Sự nhận thức như thế không phải là một phần của trí
tuệ cũng không phải là vấn đề của sự cảm xúc. Nó có thể gọi là một sự
nhận thức hoàn toàn và nó là một phần của Thiền. Trong Thiền nhận thức
mà không có người nhận thức là sự tư duy về cao sâu của không gian. Sự
nhận thức này hoàn toàn khác với cái thấy một đối tượng mà không có chủ
thể nhận thức. Bởi vì trong sự nhận thức của Thiền không có đối tượng và
vì vậy cho nên không có sự cảm nhận. Tuy nhiên thiền thể xảy ra khi mắt
đang mở và khi tiếp xúc với những đối tượng chung quanh. Nhưng những đối
tượng này không có quan trọng. Khi mắt thấy sắc nhưng không có sự nhận
thức điền này có nghĩa là không có sự cảm nhận. Vậy Thiền là gì ? Nó
không có nghĩa, không có tiêu chuẩn. Nhưng trong Thiền có một trạng thái
hỷ lạc mà không phải là những cảm giác bình thường. Ðó là cảm giác từ
mắt truyền đến não và đưa đến tâm một cách tự nhiên. Nếu không thấy được
cuộc sống như là một cái gì đó mới mẻ thì cuộc sống sẽ trở nên một cái
vòng lẩn quẩn, buồn tẻ và vô nghĩa. Do đó Thiền là một trong những điều
quan trọng nhất. Nó mở ra cánh cửa của bất khả tư nghì.
Thiền
không lệ thuộc thời gian, thời gian không đưa đến sự thay đổi, nó có thể
mang đến những thay đổi cần phải thay đổi như những cải tổ. Thiền thoát
ra khỏi sự ràng buộc của thời gian, nó hoàn toàn tự do và nếu như không
có tự do thì nó chỉ là một sự chọn lựa và sự xung đột.
Chúng
ta phải cải tạo xã hội, những bất công, sự suy đồi về đạo đức và sự chia
rẽ. Những điều này đã tạo nên những khoảng cách giữa người và người,
những cuộc chiến tranh và sự hụt hẫng tình thương đã đưa đến sự hủy diệt
thế giới. Nếu bạn thiền vì mục đích cá nhân, chỉ vì niềm vui của cá nhân
thì đó không phải là thiền. Thiền là một sự thay đổi cơ bản của khối óc
và con tim. Ðiều này chỉ có thể có khi ý thức bên trong hoàn toàn vắng
lặng và sự vắng lặng này dẫn đến ý thức tôn giáo. Tâm đó biết được những
gì thiêng liêng.
Ðẹp có
nghĩa là sự nhạy cảm. Một thân thể đẹp có nghĩa là có một cuộc sống quân
bình và tâm trở nên yên tịnh một cách tự nhiên. Bạn không thể bắt buộc
tâm yên tĩnh bởi vì bạn là một kẻ tinh nghịch, bối rối và lo âu. Làm thế
nào bạn có thể làm cho tâm mình an tịnh? Chỉ có khi nào bạn hiểu được
yên lặng là gì khi nào bạn hiểu được sự bối rối là gì, buồn là gì và có
phải nỗi buồn là vô tận hay không và khi nào bạn thật sự hiểu được hạnh
phúc sau đó ra khỏi những thứ ấy thì một tâm yên tịnh phi thường sẽ đến;
bạn không cần phải tìm kiếm nó. Bạn phải bắt đầu từ đầu và bước đi đầu
tiên sẽ là bước đi cuối cùng và đây chính là Thiền.
Thiền
không phải là một sự trốn tránh cuộc đời, nó không phải là một sự cách
biệt mà là những sinh hoạt rất gần gũi với mình đúng hơn là sự hiểu biết
về cuộc đời và những phương diện của nó. Cuộc đời có quá ít cơ hội để
dâng hiến ngoài những thứ như thức ăn, áo quần, nhà cửa và những khoái
lạc với đầy rẫy những khổ đau.
Thiền
là đi ra khỏi thế giới khổ đau này để trở thành một người hoàn toàn tự
do. Cuộc đời sẽ có ý nghĩa hơn và vẻ đẹp của thiên đàng và trái đất là
vĩnh hằng. Tình yêu không phải là sự khoái lạc. Từ điều này tất cả hoạt
động bắt đầu, nó không phải là kết quả của sự căng thẳng, của mâu thuẫn,
sự tìm kiếm những khát vọng hay là chán nản quyền lực.
Nếu
bạn thận trọng chọn một tư thế, một vị trí để mà hành thiền thì thiền sẽ
trở thành một trò chơi, một thứ đồ chơi của tâm. Nếu bạn thật sự giải
thoát khỏi những lo lắng và những khổ đau của cuộc đời rồi nó sẽ trở
thành một điều mà bạn không thể hình dung được và đây không phải là
thiền.
Tâm
sáng suốt hay không sáng suốt đều không vai trò gì trong đó cả, thậm chí
cũng không biết được lãnh vực và cái đẹp của thiền. Nếu như biết được
thì bạn chỉ cần đi mua một cuốn tiểu thuyết.
Khi
hoàn toàn tập trung vào thiền, bạn sẽ không có cái biết, không có nhận
thức cũng không nhớ một sự việc đã xảy ra. Thời gian và tư duy sẽ chấm
dứt bởi vì chúng bị giới hạn bởi tầm nhìn của chính nó.
CHÂM NGÔN
^
- Người nhìn xa hiểu rộng – nhìn tương lai,
không nhìn trước mắt.
- Người có hoài bão lớn – Tích đức nghiệp,
không tích tiếng tăm.
- Người có sự thành tựu – Tranh nghìn năm,
không tranh nhất thời.
- Người có chí nguyện lớn – Vì Ðại chúng,
không vì chính mình.
+ Wise people look to the future, not to
day.
+ Right-aspring people prefer virtue to
status.
+ Able people prefer great deeds to a
moment’s fame.
+ People who embrace a great vow work for
everybody, not just themselve.
- Con người quý ở lập chí – người có chí,
việc đều thành
- Con người quý ở chân thành – người tinh
thành, đá vàng mở
- Con người quý ở thông lý lẽ – người đạt
lý, đường đi thông
- Con người quý ở hành thiện – người lòng
lành, quý nhân đến.
+ To succeed, be determined
+ To persuade your opponents be honest.
+ To advance your career, be intelligent
+ To gain patronage, do good
- Thấy chỗ sai của người, nên nhìn lại, tự
tỉnh
- Nói phải quấy của người, nên xét lại
chính mình.
+ Look at yourself when pointing out flaws
in others.
+ Think twice before you condemn.
- Nghe không đủ, cần suy nghĩ thêm.
- Suy nghĩ không đủ, cần thực hành thêm.
+ If we have not learned, we should think
more
+ If we have not thought, we should
practice more.
- Người tham hư danh, dễ gặp tổn hại
- Người không đức mà cầu phước, dễ gặp khó
khăn
- Người không công mà cầu lộc, dễ mang lấy
nhục
- Người tranh danh đoạt lợi dễ bị mắc bẫy.
+ Unmerited wealth is enfeebling
+ Unmerited reward is depressing
+ Unmerited fame is a trap.
- Thất nghiệp, chớ xấu hổ – Không chí, mới
đáng buồn.
- Thất học, không đáng thương – Không học,
mới đáng rầu
- Thất tài, không nên lo – Thiếu đức, mới
đáng hãi
- Thất bại, không đáng sợ – Tuyệt vọng, mới
đáng than.
+ The pity is not to be unemployed, but to
lack will.
+ The pity is not to be uneducated, but not
to try to learn.
+ The pity is not to lack talent, but to be
immoral
+ The pity is not to fail, but to lack
hope.
- Không cầu tự nhiên không tranh
- Không tranh tự nhiên không giận
- Không giận tự nhiên ít oán
- Ít oán tự nhiên phước nhiều.
+ Without a demand there is no dispute.
+ Without a dispute there is no hate.
+ Without hate there is no grievance.
+ Without grievance there is a better
conclusion.
Như Ngọc dịch từ
Internet
(nguyên bản Hán ngữ)
TÂM SỰ NGƯỜI VIỄN XỨ
^
Hôm nay, bầu trời không trăng sao, một buổi
chiều mùa xuân, vầng thái dương đã lịm tắt tự bao giờ. Những ngọn gió đêm
lành lạnh thoáng qua, mang theo một mùi hương ngào ngạt. Tôi cảm thấy tâm
hồn trong sáng nhẹ nhàng và thư thản hơn bao giờ hết. Ngồi trên chiếc ghế
bên hiên chùa, tôi tự hỏi:... mới đây mà đã gần hai năm rồi, trong thời
gian ấy, tôi đã làm được những gì ?
Nhớ câu tục ngữ: “Ði một ngày đàng, học một
sàng khôn”, thế mà từ ngày đặt chân đến Australia này, cái nghiệp bịnh nó
cứ theo đuổi tôi mãi ! Ở Việt Nam nó đã chẳng buông tha, giờ qua đến xứ
người, nó vẫn còn bám sát.
Ðúng là:
“Cây khô, xuống nước cũng khô
Hữu thân, hữu bịnh, xứ mô cũng đồng”
... Nhớ lúc nằm viện Western Hospital, tôi
thật phiền não trong thời gian chờ các bác sĩ tìm ra bịnh. Ở đây, tôi cảm
thấy chơi vơi lạc lỏng quá. Vẫn biết anh em, thân bằng quyến thuộc nơi này
không ít, thế nhưng tôi đã xa cách một tình thương vừa cao thượng, vừa
thiêng liêng, đó là mái ấm đại gia đình có Thầy tổ, có huynh đệ. Từ lúc
xuất gia đến giờ, tôi đã sống chung trong ngôi chùa có nhiều huynh đệ, có
đến hàng trăm vị, đâu cảm giác được sự đơn độc, lẻ loi.
Nằm trên giường bịnh, tôi suy nghĩ mông
lung, nhìn những cụ già chung phòng với tôi càng thấy tội nghiệp hơn. Suốt
cả tuần trôi qua mà họ chẳng có con cái nào đến thăm, trừ những Bác sĩ và
Y tá chăm sóc cho họ !
Tôi nghĩ: sống ở phương Tây, buồn tẻ và cô
đơn quá. Cha mẹ thì bị gởi vào nhà dưỡng lão, đến cuối tuần, con cháu rỗi
rảnh mới vào thăm. Mặc dù vật chất họ đầy đủ, nhưng tinh thần họ nghèo nàn
quá, không như người Á đông chúng ta. Hèn chi ở đây họ có rất ít con cái.
Mỗi gia đình vỏn vẹn chỉ có một hoặc hai đứa thôi. Tôi muốn tâm sự với họ
cho vui, nhưng nhìn lại thì có rất nhiều chủng tộc như: Indonesia,
Japanish, Italian, Australia,v.v... không thấy ai là người Việt Nam cả. Vì
ngôn ngữ bất đồng, nên dù có nằm sát cạnh nhau, cũng chỉ có thể nhìn nhau
mà thôi.
Thời gian trôi qua,
tuần lễ thứ hai lại đến. Mỗi ngày, Y tá đều đến lấy máu để thử. Có khi,
một ngày họ check đến ba lần, đến nỗi tôi như muốn kiệt sức. Tôi nhớ,
trước khi Bác sĩ chuyên khoa giới thiệu tôi nhập viện, ông đã khẳng định:
chính cái bướu cổ này nó hành sốt lạnh và lost weight. Nhưng Bác sĩ ở đây
kiểm tra rất kỹ, đến nay họ vẫn tìm chưa ra bịnh ! Cuối cùng, họ quyết
định cắt chút thịt nơi bướu và lấy nước tủy để thử nghiệm. Tôi hồi hộp, lo
sợ khi nghe Thông dịch viên trình bày những trường hợp có thể xảy ra. Do
những nguy hiểm như vậy, nếu bịnh nhân đồng ý ký vào thì họ mới dám làm.
Tôi không dám nói là không đồng ý, bởi vì khi đã đến đây thì sinh mạng này
đã tùy vào sự quyết định của Bác sĩ. Giờ phút này, tôi chỉ biết niệm Phật
để đựơc bình thản, an nhiên. Ðã là đệ tử Phật thì không lẽ nào không tin
luật nhơn quả, không tin nghiệp báo, thế thì đâu thể than trời trách đất.
Chính nhà văn Nguyễn Du cung đã nói:
“Ðã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa”
Vậy thì cái gì đến cứ để nó đến, nên sáng
hôm sau, Y tá đưa tôi xuống phòng để thử nghiệm. Trong phòng kín, ngoài
tôi ra, còn có một Bác sĩ và hai người phụ tá. Giữa khoảng không gian chật
hẹp, bầu không khí im lặng như tờ. Cố bình tĩnh, nhưng tôi vẫn nghe tim
mình thình thịch đập liên hồi. Nhớ lại chiều qua, người thông dịch bảo
tôi, nếu thấy sợ thì nên gây mê. Tôi lắc đầu nói không cần, chỉ gây tê là
được rồi. Nên bây giờ, mỗi động tác Bác sĩ đi đến đâu tôi đều hay biết.
Mỗi mũi kim đi từ từ nhè nhẹ vào, không thấy gì. Nhưng khi đâm sâu hơn,
tôi thấy đau nhói tận tim gan. Cắn chặt môi, tôi tự nhủ: Có lẽ kiếp trước,
mình đã sát sanh nhiều quá, đã châm chích làm đau đớn những chúng sanh,
nên bây giờ phải tự thọ thôi”. Tôi thầm đọc bài kệ sám hối:
“Con xưa đã tạo bao nghiệp ác
Ðều vì vô thỉ tham, sân, si
Từ thân, miệng, ý phát sinh ra
Ðệ tử hôm nay xin sám hối”
Khoảng nửa tiếng trôi qua, tôi không thấy
động tĩnh gì. Thỉnh thoảng có tiếng va chạm của dụng cụ, rồi mọi thứ lại
trở về bầu không khí yên tịnh. Lúc này, tôi cảm thấy thời gian dài vô tận.
Không chịu nổi với sự im lặng, tôi hỏi với giọng mệt mỏi: “Are you finish
?”
- We are nearly finish. Don’t worry, please
!
Tôi thở ra nhẹ nhỏm và không hỏi gì thêm.
Lúc này, nhịp tim tôi cũng lơi dần, không đánh thình thịch như trước nữa.
Bao nhiêu sự lo âu, hồi hộp cũng đã tan biến, cảm nhận được giờ phút an
bình để:
“Thở vào tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười
An trú trong hiện tại
Giờ phút đẹp tuyệt vời”
Bây giờ, tôi đã được xuất viện mặc dù căn
bịnh chưa lành hẳn, vẫn thường phải đến bịnh viện để check lại. Tuy nhiên,
tôi vẫn cảm thấy vui. Dù sao, trong thời gian nằm viện tôi cũng học được
nhiều cái hay, cái đẹp, nhất là ở những Bác sĩ và Y tá. Họ như những vị Bồ
tát thị hiện. Họ chăm sóc bịnh nhân, rất tận tâm, tận lực, với cử chỉ ôn
hòa, nhã nhặn, dịu dàng, vui vẻ. Họ không có tâm phân biệt hoặc thiên vị
người giàu, kẻ nghèo, người ngu, kẻ trí cho đến màu da, chủng tộc. Ðây mới
thật sự đúng là “Lương y như từ mẫu”
Ðêm càng khuya, gió càng lạnh, ngoài đường
vắng tanh không một chiếc xe qua lại, đàn chim đã ngủ tự bao giờ, cảnh vật
vô cùng yên tĩnh. Không còn suy nghĩ gì thêm, tôi vội đứng dậy bước vào
chùa và nhớ đến bài thơ của Tô Ðông Pha:
“Lô Sơn yên tỏa Triết Giang triều
Vị đáo sanh bình hận bất tiêu
Ðáo liễu hoàn lai vô biệt sự
Lô Sơn yên tỏa Triết Giang triều”
Tỳ-kheo-ni Như Tuyết
Những cánh thư xuân
^
duhanh2001@yahoo.com.hk
A DI DA PHAT.
Kinh goi quy Thay Co, BÐD Hoi Cưu Tang Ni sinh Khoa 3.
Phong Nha rat vui mung da nhan duoc thiep chuc tet cua chu Vi , va cung
thanh tam tri an cung nhu kinh chuc quy Thay Co mot nam moi an lac , van
su thang duyen .
Hien PN dang o Thuy Dien, nen doi khi co nhung sinh hoat cua Hoi khong the
tham du duoc, cho PN kinh loi van an den tat ca .
Tran trong kinh thu .
Phong Nha.
nghiemquang@yahoo.com
Nam mo A Di Da Phat,
Truoc them xuan moi nghiem quang thanh tam cau chuc BÐD va quy Thay, Co
Cưu Tang Ni sinh Khoa 3, phap the khuong an, chung sanh di do.
Kinh, nghiem quang
thichphohoa@yahoo.com
Nam Mo Nu cuoi xuan Di Lac Ton Phat,
Ngay dau xuan nhan duoc nhung loi chuc tot dep cua cac huynh de rat han
hoan trong long, xin gui loi than chuc den huynh de trong Hoi Cuu Tang Ni
sinh minh mot nam tron day hy lac va phat su thanh cong hon. Nam Mo Phat.
Kinh
Pho Hoa
hanhphuct@yahoo.com
May your new year be filled with peace and happiness of the season.
Hue Phuc Bat Nha day ma.
quangthanh2000@yahoo.com
A DI DA PHAT
Than chao chu Phap lu!
Loi dau tien, QT rat cam dong va cam on cac vi da danh thoi gian goi thiep
chuc Tet cho QT.
Nhan dip nam moi, QT kinh chuc quy Huynh de luon an lac, khoe manh va hoan
thanh tot Phat su trong nam 2004.
Huynh de o An Do deu khoe manh va dang tap trung rao riet cho viec bao ve
luan an sap toi. Ban than QT se co gang bao ve vao thang 4.2004. Vua roi,
buoi hop mat khoa 3 the nao? co tien trien tot dep khong?
vai hang hoi am va loi chuc vui, khoe den quy Huynh de, cau chuc moi nguoi
luon an lac trong anh tu quang cua chu Phat.
Than chao!
Phap lu
Quang Thanh
TỔNG KẾT
HOẠT ÐỘNG CỦA HỘI CỰU TĂNG NI SINH K.3-CCPHVN NĂM 2003
^
Kính thưa Quý Pháp lữ,
Một năm nữa lại trôi
qua và một mùa xuân nữa lại về, Ban Ðại diện Hội cựu Tăng Ni sinh K.3 thân
chúc Quý Pháp lữ một mùa xuân tràn đầy niềm hỷ lạc, sự nghiệp hoằng pháp
lợi sinh ngày càng được thăng hoa.
Trong những năm qua,
nhờ tinh thần thần đoàn kết, gắn bó của toàn thể Tăng Ni sinh K.3 mà những
hoạt động của khóa chúng ta vẫn được duy trì, tuy có những hạn chế về
nhiều mặt, nhưng thiết nghĩ cũng là những cố gắng vượt bậc của toàn thể
Tăng, Ni sinh. Ban Ðại diện Hội Cựu Tăng Ni sinh khóa 3 vẫn luôn hy vọng
chúng ta sẽ ngày càng gắn bó mật thiết với nhau hơn, có nhiều chương trình
hoạt động cụ thể hơn mà biểu hiện thiết thực nhất là Quý Pháp lữ có mặt
ngày càng đông trong ngày truyền thống 21/01 hàng năm tại Học viện.
Kính thưa Quý Pháp lữ,
Trong năm 2002 và
2003, tình hình sinh hoạt của khóa chúng ta vẫn tiến triển đều đặn. Tuy
chưa được sinh động, nhưng nhìn chung vẫn liên tục. Hàng năm nhân ngày Lễ
Phật đản và Tết, Ban Ðại Diện đã gởi thiệp mừng và thư mời họp ngày truyền
thống đến tận tay Tăng, Ni sinh trong khóa, ngoại trừ những vị không có
địa chỉ do đã rất lâu các vị không liên hệ với hội cựu Tăng Ni sinh.
Trong những năm qua,
các vị khóa chúng ta đã có những biểu hiện mới mẻ. Các thành viên Cựu
Tăng, Ni sinh khóa 3-CCPHVN tại TP.HCM đã có đóng góp tích cực vào công
tác giảng dạy và các Phật sự tại địa phương cũng như đang công tác tại các
cơ quan của Giáo hội. Ngoài ra, chúng ta cũng hân hạnh được đón tiếp những
Tiến sĩ Phật học khóa 3 đã tốt nghiệp về nước và hiện đang công tác trong
Viện nghiên cứu Phật học. Hy vọng sau này khóa chúng ta sẽ có những bước
phát triển vượt bậc trong sinh hoạt của khóa cũng như những hoạt động
trong Giáo hội.
Trong năm qua, Ban Ðại
diện hội cựu Tăng Ni sinh đã cố gắng làm việc để duy trì những hoạt động
của khóa được liên tục và chúng tôi sẽ trình bày sơ lược những hoạt động
của Hội trong hai năm qua:
1- HOẠT ÐỘNG TRONG NĂM:
1.1) Nội san: Là
phương tiện để chúng ta học hỏi trao đổi những kinh nghiệm trong học tập
cũng như trong công tác Phật sự. Theo dự kiến ban đầu, mỗi năm khóa 3 sẽ
thực hiện một tập nội san. Thế nhưng, vì tình trạng khách quan cũng như
chủ quan, khóa chúng ta chỉ mới thực hiện được một Nội san với chủ đề
“Thăm lại vườn xưa” và đây là quyển Nội san thứ hai mà Ban Ðại Diện đã
thực hiện được. Vì bài vở của Quý Pháp lữ gởi về còn hạn chế nên phần nội
dung của Nội san cũng chưa được phong phú và đa đạng. Ban Ðại Diện rất
mong sự hợp tác của Quý Pháp lữ để tập Nội san của chúng ta được phát hành
đều đặn hàng năm và nội dung ngày càng khởi sắc hơn.
Trong những buổi họp
lần trước, có nhiều ý kiến cho rằng quyển Nội san của chúng ta quá nghèo
về nội dung và hy vọng sẽ ngày càng được nâng cao về nhiều mặt. Các bài
viết không hạn chế về chủ đề, quý huynh đệ có thể viết những vấn đề thiết
thực nhất trong cuộc sống. Bên cạnh những kinh nghiệm sống, những kinh
nghiệm trong công tác Phật sự, những niềm vui, những nỗi buồn còn có những
câu chuyện cười về Ðạo. Nếu Ban Biên tập nhận được từ các huynh đệ những
bài viết có nội dung đa dạng như trên thì quyển Nội san của chúng ta sẽ
rất sinh động và súc tích.
Ngoài phần nội dung và
hình thức của Nội san, chúng ta còn trao đổi về chuyện phát hành. Vì bởi,
quyển Nội san của chúng ta không chỉ để lưu hành nội bộ mà chúng ta còn có
thể phát hành rộng rãi trong mọi ngành, mọi giới. Qua đó, chúng ta sẽ nhận
được nhiều ý kiến đóng góp cũng như những khích lệ động viên của bạn đọc,
như vậy quyển Nội san của chúng ta sẽ ngày càng được nhiều bạn đọc đón
nhận. Và muốn được như thế Ban Biên tập cần có sự đóng góp ý kiến của quý
Pháp lữ về giấùy phép xuất bản của Nội san.
1.2) Thăm viếng :
- Mỗi năm sau ngày
Truyền thống, Ðại diện Hội cựu Tăng Ni sinh đều đến Học viện ngày hôm sau
(22-01-Âl) để dự lễ kỵ Tổ và vấn an sức khỏe Hòa thượng Viện trưởng.
- Ngày 11-01-2002,
Thành hội Phật giáo TP. HCM đã trao quyết định bổ nhiệm Trụ trì cho Ðại
đức Thích Trí Chơn, hội Cựu Tăng sinh khóa 3 và Ban Ðại Diện cũng đã đến
chúc mừng cho Ðại đức Thích Trí Chơn.
- Ngày19-7-2002, Ðại
đức Quang Thạnh, du học Tăng Ấn Ðộ đã về nước làm lễ chúc thọ cho Mẹ tại
chùa Kỳ Quang, Q.Gò Vấp. Ðại diện Hội đã đến thăm và tặng quà chúc mừng.
- Ngày 08-8-2002, Ðại
diện cựu Tăng, Ni sinh đã đến dự lễ tang bà Tống Hồ Cầm và chia buồn cùng
Bác Phó Viện trưởng HVPGVN.
Bên cạnh những tin vui
cũng có những tin buồn. Tháng 4-2003 khóa chúng ta đau lòng tiễn đưa một
pháp lữ của chúng ta ra đi sau cơn bệnh kéo dài. Ðó là Ni sinh Diệu Pháp.
Ban Ðại Diện cựu Tăng, Ni sinh cùng một số huynh đệ trong khóa đã đến
viếng và chia buồn cùng gia quyến của SC.Diệu Pháp.
- Ðến tháng 5/2003,
chúng ta lại đến TP. Biên Hòa dự lễ tang của thân mẫu cô Liên Ðạt-Du học
sinh Ấn Ðộ. Ðại diện của Hội đã chia buồn cùng cô Liên Ðạt tang môn và
hiếu quyến.
- Ngày
23-11-2003 đại diện Hội cựu Tăng, Ni sinh đã đến nhà cô Huệ Thành-Du học sinh Ðài
Loan để điếu viếng và chia buồn khi hay tin thân mẫu của cô vừa qua đời.
- Tháng 12-2003 vừa
qua, Tăng-Ni, Phật tử chúng ta vô cùng kính tiếc khi hay tin Ni sư Thích
Trí Hải, Phó viện trưởng viện nghiên cứu Phật học, Giáo sư Học viện Phật
giáo Việt Nam tại TP.HCM vừa viên tịch và Ban Ðại Diện cùng một số Tăng Ni
sinh Khóa 3 đã đem vòng hoa cũng như fax chia buồn của Tăng Ni sinh khóa 3
đang du học tại Mỹ, Trung Quốc, Ấn Ðộ... đến kính viếng Giác linh Ni sư.
- Hàng năm Ban Ðại
Diện đều gởi thiệp chúc xuân đến toàn thể tăng Ni sinh hiện đang có mặt
tại thành phố và các tỉnh. Ngoài ra, Hội còn gởi lời chúc đầu năm đến các
Tăng, Ni sinh K.3 hiện đang du học tại nước ngoài như Mỹ, Úc, Ấn Ðộ, Ðài
Loan, Trung Quốc... bang E.card, hy vọng làm ấm lòng tình Pháp lữ cho
người ở phương xa. Bên cạnh đó, Ban Ðại diện vẫn không quên nhắc nhở chư
huynh đệ ngày họp mặt truyền thống 21/1 của chúng ta hàng năm. Vì từ khi
chúng ta mỗi người một phương trời, chúng ta ít khi có dịp tiếp xúc, cùng
nhau trao đổi những kinh nghiệm cũng như ôn lại những kỷ niệm khi còn ngồi
dưới mái trường Cao cấp Phật học. Cho nên, ngày truyền thống đối với Tăng
Ni sinh khóa 3 chúng ta vô cùng quan trọng và đầy ý nghĩa.
II- BÁO CÁO THU CHI:
* Năm 2001 :
- Tồn năm 2000 2.400.000đ
- Thu niên liễm 3.430.000đ và 50USD
- Tổng chi 3.364.000đ
- Thầy Nguyên Tạng ủng hộ Nội san
1.200.000đ
- Chi Nội san 3.600.000đ
- Tồn 66.000đ + 50 USD
* Năm 2002 :
- Thu niên liễm 3.100.000đ và 50USD
- Tồn 2001: 66.000đ và 50USD
- Tổng thu 3.166.000đ và 100USD
- Chi 1.584.000đ
- Tổng tồn năm 2002 : 1.582.000đ
và 100 USD
* Năm 2003 :
- Thu niên liễm 2.720.000đ
- Tồn 2002 :1.582.000đ và 100USD
- Tổng thu :4.302.000đ và 100USD
- Chi :1.750.000đ
- Tổng tồn năm 2003 :2.552.000đ và 100
USD
Phần Tổng tồn này sẽ được chi vào việc in
ấn Nội san thứ hai.
Trong những năm qua, Ban Ðại Diện hội cựu
Tăng Ni sinh K.3 nhận được rất nhiều sự đóng góp ý kiến cũng như niên liễm
và bài viết để thực hiện Nội san thứ hai của một số chư huynh đệ trong
khóa. Ðiều này cũng là một sự động viên khích lệ về mặt tinh thần hầu giúp
Ban Ðại Diện hoàn thành tốt trách nhiệm của mình. Mặc dù là việc đóng góp
chung, nhưng Ban Ðại Diện cũng xin chân thành cảm ơn các huynh đệ đã hợp
tác và mong những vị còn đang bận rộn, sẽ giành một ít thời gian đóng góp
thêm và các hoạt động của huynh đệ chúng ta.
Ngoài ra, trong những lúc hữu sự như các
huynh đệ cùng khóa mời tham dự lễ hoặc hiếu sự hay huynh đệ đau ốm... các
huynh đệ đã vì tình Pháp lữ, bạn đồng học đã đến chung vui hoặc chia buồn,
thăm viếng ... Ðiều này đã làm Ban Ðại Diện thật vô cùng xúc động, vì tuy
chúng ta đã “xa mặt” nhưng lại không “cách lòng”. Chứng tỏ, Hội Cựu tăng,
Ni sinh khóa chúng ta vẫn luôn trong tinh thần đoàn kết, tương thân tương
trợ lẫn nhau trong tình huynh nghĩa đệ như khi còn trong thời sinh viên.
Mong quý Thầy, Cô chúng ta luôn giữ mãi truyền thống tốt đẹp này.
Một lần nữa xin cầu chúc quý Thầy, Cô luôn
an lành, mạnh khỏe và gặp nhiều thắng duyên trên bước đường tu học và
phụng sự Phật pháp.
Như Ngọc
PHẦN PHỤ LỤC
^
BIÊN BẢN HỌP
NGÀY TRUYỀN THỐNG
21-01-NHÂM NGỌ
THÀNH PHẦN THAM DỰ:
- Thượng tọa
Thích Ðạt Ðạo – Chánh Văn phòng HVPG tại TP.HCM
- Ðại đức
Thích Phước Ðạt – Phó Văn phòng HVPG tại TP.HCM
Cùng các vị cựu Tăng-Ni sinh:
- Khóa I: Sư Minh Thành
- Khóa II: ÐÐ.Thích Ðạt Ðức, SC.Tịnh Vân, SC.Như Trí
- Khóa III: Trên 30 Tăng, Ni sinh
- Khóa IV: Trên 30 Tăng, Ni sinh.
NỘI DUNG BUỔI HỌP:
- Phần 1:
Vào lúc 8h30, Thượng tọa Chánh Văn phòng chính thức khai mạc
buổi họp mặt Truyền thống qua lời chúc mừng năm mới đến tất cả cựu Tăng,
Ni sinh 4 khóa. Ðồng thời, ôn lại đặc điểm riêng của từng khóa, cũng như
khuyên nhắc các cựu Tăng, Ni sinh dù đi đến bất cứ đâu cũng không quên mái
trường xưa, cùng góp sức chung lo các Phật sự của Trường. Thượng tọa cũng
dẫn lời khuyên nhắc của cố Hòa thượng Phó viện trưởng HVPGVN nhằm khuyến
tấn toàn thể Tăng, Ni sinh tự nỗ lực mở ra con đường tương lai bằng khả
năng của tự thân để dựng lập sự nghiệp, phụng sự Ðạo pháp làm lợi ích cho
mình và cho mọi người.
Nhân buổi họp mặt Truyền thống năm nay có đại diện cựu Tăng,
Ni sinh của cả 4 khóa, Thượng tọa Chánh văn phòng cũng như Ðại đức Phước
Ðạt đều đề xướng việc thành lập liên khóa, tạo thành truyền thống chung
của HVPGVN tại TP.HCM.
* Ý kiến của Ðại diện mỗi khóa:
Khóa I – Sư Minh Thành: Vì khóa I không lập ngày Truyền
thống, nhân sự tản mát, Sư Minh Thành tạm đại diện cựu Tăng, Ni sinh khóa
I tán thành ý kiến thành lập Liên khóa và lãnh trách nhiệm tập họp nhân sự
tiến hành bàn kế hoạch cụ thể.
Khóa II – Thầy Ðạt Ðức: Trong vai trò Chủ tịch Hội
cựu Tăng, Ni sinh Khóa II, thầy Ðạt Ðức
đề nghị chọn ngày Truyền thống khác. Vì trong tháng Giêng, mọi người rất
bận việc chùa, không thể đến dự họp đông đủ. Ngoài ra, Thầy cũng báo tin
vui: 20 cựu Tăng, Ni sinh miền Bắc của khóa II cũng đã thành lập Hội cựu
sinh viên, sinh hoạt đều đặn và thường giữ liên lạc với Hội trong TP. Hồ
Chí Minh. Thầy tán thành việc thành lập Liên khóa và đề nghị mọi người bàn
phương hướng tích cực, tránh cảnh “Hết xôi, rồi việc”.
Khóa III – Thầy Nhuận Quang: Tán thành việc thành lập Liên
khóa sinh hoạt chung trong ngày Truyền thống của Học viện, đề nghị lấy ý
kiến các Thành viên của Hội để hoạch định phương hướng cụ thể. Tuy nhiên
mỗi khóa vẫn có tổ chức sinh hoạt riêng. Trong dịp này, Hội cựu Tăng, Ni
sinh Khóa III vừa ra mắt quyển Nội san, gửi tặng các vị cựu Tăng, Ni sinh
có mặt trong ngày họp năm nay.
Khóa IV – Thầy Phước Nguyên: đồng tán thành việc thành lập
Liên khóa và sẵn sàng đóng góp cho các hoạt động của Hội ngày càng khởi
sắc.
* Tóm kết nội dung buổi họp, Thượng tọa Chánh văn phòng đề
nghị:
- Hội cựu sinh viên mỗi khóa tự bàn bạc, đưa ý kiến chung
trong việc thành lập Liên khóa, cũng như đề ra thời gian và phương hướng
sinh hoạt. Ðợi đến kỳ họp mặt Truyền thống lần tới, cũng là lúc Khóa I có
các thành viên tham dự sẽ bắt đầu thành lập Truyền thống Liên khóa.
- Trong ngày Húy kỵ đức Ðệ nhất Tăng thống (22-01-Âl) mỗi
khóa nên đóng góp chung và Khóa IV chịu trách nhiệm sắm mâm lễ kỵ Tổ chung
của Hội cựu Tăng, Ni sinh HVPGVN.
Buổi họp mặt Truyền thống tại Học viện kết thúc vào lúc 11h
trưa trong bầu không khí hoan hỷ và hòa hợp. Toàn thể cựu Tăng, Ni sinh
khóa III hiện diện đã chụp ảnh lưu niệm và cùng các vị Văn phòng Học viện
về chùa Vạn Phật của Thầy Truyền Cường dùng bữa cơm thân mật.
- Phần 2:
Tại chùa Vạn Phật, Hội cựu Tăng, Ni sinh Khóa III đã sinh hoạt riêng với
nội dung như sau:
* Ý kiến đóng góp của một số Thành viên cho phần sinh hoạt
và phát triển của hội:
- Thầy Giác Tử: đề xuất việc tìm một nơi tu học tập trung
cho một số vị đã tốt nghệp nhưng chưa có chỗ cư trú ổn định. Ðồng thời,
mời những vị do điều kiện chủ quan và khách quan, phải ra trường sớm hoặc
không đủ duyên học hết khóa, cùng về sinh hoạt chung với Hội cựu Tăng, Ni
sinh khóa III.
- Sư cô Huệ Hướng: Nêu ý định mời các
vị cựu Tăng, Ni sinh của khóa có khả năng Hán ngữ họp bàn kế hoạch mở lớp
bồi dưỡng đào tạo phiên dịch của Hội.
Về phần phát triển quỹ của Hội, SC Huệ Hướng đề xuất phương
án kêu gọi các Thành viên của Hội soạn bài Giáo lý cơ bản hoặc in sách
phát hành để gây quỹ.
Ngoài ra, Thầy Quảng Thiện, hiện đang là Giám thị khóa V tại
Học viện, do bị hư xe dọc đường, không thể đến dự họp phần 2, cũng gửi ý
kiến đề nghị củng cố phần liên lạc nhân sự để giúp sinh hoạt của Hội được
chặt chẽ hơn.
Tiếp theo là phần bầu cử Ban Ðại Diện của Hội bằng hình thức
biểu quyết và Ban Ðại Diện mới được thành lập với thành phần nhân sự như
sau:
- Trưởng ban : ÐÐ. Thích Nhuận Quang
- Phó ban : ÐÐ. Thích Truyền Cường
- Phó ban : ÐÐ. Thích Trung Ðạo
- Thư ký: SC. Phục Liên
- Thủ quỹ : SC. Như Ngọc
Buổi họp kết thúc vào lúc 12h30
cùng ngày. Mọi người cùng dự bữa cơm thân mật và chia tay trong niềm hoan
hỷ, hòa hợp.
Thư ký - Phục Liên
BIÊN BẢN HỌP
NGÀY TRUYỀN THỐNG
21-01-QUÝ MÙI
* Phần 1: Tại
Văn phòng HVPGVN tại TP.HCM
Buổi họp bắt đầu vào lúc 8h30.
* Thành phần tham dự:
- TT. Thích Ðạt Ðạo – Chánh VP
HVPGVN
- ÐÐ. Thích Phước Ðạt – Phó VP HVPGVN
- GS. Trần Tuấn Mẫn – Chánh Thư ký VPHV
Cùng hơn 20 cựu Tăng-Ni sinh
Khóa III, và 3 Tăng-Ni sinh Khóa IV.
Thượng tọa Chánh Văn phòng đã mở
đầu buổi họp với lời chúc mừng năm mới và lời tán thán những thành tựu
Phật sự đã đạt được của các cựu Tăng-Ni sinh sau khi tốt nghiệp. Thượng
tọa có lời khen ngợi ÐÐ. Thích Thiện Thống – Ủy viên VPII TW GHPGVN, ÐÐ.
Thích Quang Hạnh – Giám đốc Trung tâm học tập cộng đồng thanh thiếu niên
khuyết tật Kỳ Quang II, ÐÐ. Thích Phước Thắng, ÐÐ. Thích Thiện Minh, ÐÐ.
Thích Hải Ðịnh, Sư cô Như Minh – Trụ trì chùa Bửu Tích (BR-VT)... đã hoàn
thành xuất sắc một số công tác Phật sự đáng kể.
Một số Tăng, Ni sinh du học tại
các nước Ấn Ðộ, Ðài Loan, Trung Quốc về nước nhân dịp xuân Quý Mùi cũng
đến dự buổi họp mặt Truyền thống như ÐÐ. Quang Thạnh, ÐÐ. Trung San, ÐÐ.
Phong Nhã, SC. Như Ngọc, SC. Liên Ðạt...
Thượng tọa Chánh văn phòng đã có
lời nhắn nhủ: Cựu Tăng, Ni sinh Học viện dù đi đâu, ở đâu, mỗi khi trở về
TP. HCM ghé vào thăm Học viện, quý Thầy trong Ban Giám Hiệu và Văn phòng
rất vui mừng đón tiếp.
Trong ngày Truyền thống năm 2002
vừa qua, Hội cựu Tăng, Ni sinh các khóa đã nhất trí đến năm 2003 sẽ thành
lập ngày Truyền thống liên khóa, trước mắt là cho Cựu Tăng, Ni sinh 4 khóa
đã tốt nghiệp. Nhưng năm nay, các khóa về họp mặt không đủ, nên việc thành
lập liên khóa tạm gác lại.
Sau phần thăm hỏi của Văn phòng
và báo cáo sơ bộ hoạt động của các thành viên Hội cựu sinh viên, Thượng
tọa Chánh Văn phòng đã kết thúc buổi họp với lời nhận xét:
- Ngày Truyền thống là ngày mang
ý nghĩa tốt đẹp trong sự họp mặt của các Cựu Tăng, Ni sinh của Học viện,
cho nên cần tổ chức chặt chẽ và cần vạch ra phương hướng hoạt động thiết
thực để Tăng, Ni sinh thấy được ý nghĩa và lợi ích của ngày họp mặt này.
- Tăng, Ni sinh khóa III là khóa
gương mẫu và có tinh thần nhất trong việc họp mặt sinh hoạt truyền thống,
mong các khóa khác cũng tích cực phát huy năng lực của khóa mình, để ngày
Truyền thống của Trường sẽ mang nhiều ý nghĩa và có nhiều kết quả tốt đẹp
hơn trong các công tác Phật sự về sau.
Theo ý kiến chung, Tăng, Ni sinh
các khóa nên thành lập Ban liên lạc để huynh đệ thường xuyên liên lạc với
nhau, khi có khó khăn thì kịp thời giúp đỡ.
Buổi họp mặt Truyền thống tại
trường kết thúc lúc 10h30. Sau đó là buổi họp mặt Truyền thống Nội bộ của
Tăng-Ni sinh Khóa III.
Ngày Truyền thống năm 2003 này
được đánh giá là sôi động và có nhiều ý kiến đóng góp, được thể hiện trong
phần họp thứ hai.
* Phần 2: Tại Trang trại của Thầy Quang Hạnh, Quận 12.
* Ðúc kết các ý kiến đóng góp
của quý Thầy, Cô:
- Thầy Thiện Thống: Ðề nghị mỗi
năm nên cố gắng ra một tập văn và phát hành rộng rãi để làm ngân quỹ cho
hoạt động của Hội và cử thêm Ban liên lạc cho từng khu vực.
- Thầy Quang Hạnh: Huynh đệ nào
ở quá xa, điều kiện không thuận tiện thì có thể châm chế, chứ huynh đệ ở
trong Thành phố hoặc các tỉnh gần mà không về họp Truyền thống thì thật
đáng buồn. Cần có sự phát tâm, không đặt nặng việc đóng tiền niên liễm,
khiến có một số huynh đệ ngại về họp. Gặp nhau bằng tình nghĩa huynh đệ,
thì tình Pháp lữ ngày càng thắt chặt hơn.
- Thầy Quang Thạnh: Ðề nghị cố
gắng liên lạc với anh em nhiều hơn nữa. Nên cử thêm Ban liên lạc cả ở nước
ngoài, để mỗi năm buổi họp có hiệu quả hơn, mà không phải là những buổi
nói chuyện suông. Mỗi năm nên có thiệp chúc Tết đến từng người, dù ở xa
cũng vậy. Không nên gửi qua Internet, vì như thế không thể hiện hết tình
nghĩa.
Sau sinh hoạt Truyền thống ở
Trường, chúng ta cần có sinh hoạt của Ban Ðại diện Hội cùng huynh đệ của
khóa. Nên mời từng vị phát biểu, chúng ta sẽ nắm được tình hình tu học và
hoạt động của anh em trong nước và nước ngoài.
- Thầy Phước Thắng: Ðề nghị tìm
cách thúc đẩy Tăng, Ni sinh họp mặt đông đủ. Cần đọc báo cáo trong buổi
họp. Nên duy trì Ban Ðại diện mỗi nhiệm kỳ là 2 năm. Biểu dương những vị
có hoạt động tốt. Ban Ðại Diện mới cần kế thừa hoạt động của Ban Ðại Diện
cũ. Kêu gọi đóng góp bài cho Tập san để tạo thêm ngân quỹ cho Hội. Hoạt
động về lâu về dài, không chỉ tập trung cho khóa III mà có thể giúp đỡ cho
các khóa sau.
- Sư Thiện Minh: Góp ý việc ra
tập văn. Ban Ðại Diện nên có kế hoạch cụ thể, muốn ra Tập văn cần liên hệ
giấy phép, mời các cây bút tầm cỡ tham gia và đặt tên cho Tập văn như vậy
mới có thể hoạt động mạnh.
- Thầy Hải Ðịnh: Ðồng tình với
các huynh đệ về ý kiến ra tập văn.
- Thầy Quang Thạnh: Ra Tập văn
cần nhiều cố gắng: Phải có Ban Biên Tập, có người viết bài, có người sửa
duyệt. Do đó, đề nghị vẫn tiếp tục ra Tập san của Khóa III trước. Qua một
thời gian, mới mở rộng ảnh hưởng. Cần sự chuẩn bị chu đáo thì Tập san về
sau mới có giá trị.
Thầy Quang Thạnh cũng báo cáo
thêm tình hình Tăng, Ni sinh du học Ấn Ðộ: Cuối năm 2002 có ba vị khóa III
trình luận án Tiến sĩ là: Thầy Giác hiệp, Sư Tường Quang và cô Liên Dung.
Trong số đó, luận văn của Thầy Giác Hiệp được đánh giá rất cao.
- Thầy Quang Hạnh đề xuất thêm ý
kiến mời huynh đệ văn hay, chữ tốt, nhất là về mặt thơ văn và thư pháp
viết hoặc vẽ vào các món hàng thủ công nghiệp của các em ở trang trại. Như
vậy, ngoài việc các vị có món thù lao nhỏ, còn góp phần trợ duyên cho các
em có công ăn việc làm ổn định.
* Theo sự nhất trí chung của các
Thầy, Cô có mặt trong buổi họp Ban Ðại Diện mới và Ban Liên lạc được thành
lập với nhân sự như sau:
BAN ÐẠI DIỆN:
Trưởng ban : ÐÐ. Thích Thiện Thống
Phó ban : ÐÐ. Thích Quang Hạnh
Phó ban : SC. Phục Liên
Thư ký: SC. Liên Ðăng
Thủ quỹ : SC. Như Ngọc.
BAN LIÊN LẠC:
- TP.HCM: Thầy Thiện Thống, Sư
Thiện Minh, SC. Phục Liên.
- Miền Tây Nam bộ: Thầy Phước Thắng: Ðồng Tháp, An Giang,
Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, Cần Thơ.
Thầy Hải Tín: Trà Vinh, Vĩnh
Long, Cửu Long, Tiền Giang.
- Miền Trung: Thầy Hải Ðịnh:
Buôn Mê Thuột, DakLak, Gia Lai, KomTum.
- Miền Ðông: SC. Huệ Hòa: Biên
Hòa, Ðồng Nai, BR-VT.
Sư cô Hiền Liên: Lâm Ðồng, Ðà
Lạt.
SC. Thuần Nhã: Nha Trang, Phan
Rang.
* Buổi họp kết thúc lúc 14h30,
trong bầu không khí hòa hợp và hoan hỷ.
Ngày 22-01- Âm lịch hôm sau, vào
lúc 8h sáng, Ban Ðại Diện cùng huynh đệ cựu Tăng, Ni sinh Khóa III, đã đến
đảnh lễ Hòa thượng Viện trưởng, vấn an sức khỏe và dâng lễ cúng dường.
Hòa thượng dạy: “Tăng, Ni sinh
nên cố gắng tạo niềm vui trong học tập và nghiên cứu”. Hòa thượng cầu chúc
mọi người luôn mạnh khỏe và tinh tấn tu học.
Ðến 9h, huynh đệ cùng chư Thượng
tọa, Ðại đức trong Văn phòng lên Chánh điện dâng hương, lễ Phật, dâng lễ
cúng dường ngày Húy kỵ Ðức Tăng thống.
Thư ký - Liên Ðăng
Ðịa chỉ E.mail:
(phụ lục)
* HVPGVN tại TP.HCM :
hvpgvntphcm@hcm.vnn.vn
* Bác Tống Hồ Cầm:
8.453544
* TT. Chánh Văn
phòng: batnha@hcm.vnn.vn; batnha327@yahoo.com
DÐ: 0913.966971
* Thầy Phước Ðạt: 8.444078
* Chị Trang (NVVP): thutructran@hotmail.com
(ÐT: 8.030989)
* Chị Lệ (NVVP): 8.401603
Nội dung và hình thức của Nội san, cũng như phần
địa chỉ liên hệ, dù đã cố gắng nhưng cũng không tránh khỏi thiếu sót. Kính
mong quý Thầy, Cô hoan hỷ sửa chữa và bổ sung.
Xin chân thành tri ân.
BAN BIÊN TẬP
---o0o---