Xứ Phật vào Thu thời tiết vô cùng lý tưởng, mọi người đã hoàn toàn mất đi cảm giác khó chịu bởi cái nóng khắc nghiệt của mùa hè với nhiệt độ “bán phần độ nước sôi”, cũng chưa lạnh đến tê người bởi cái lạnh của mùa đông giá rét, những cơn lốc bụi mịt mù không còn bất chợt ập vào đường phố nữa. Chúng tôi cuõng không thấy ở đây những thảm “lá mơ phai dệt nắng vàng” như các bức tranh mùa thu ở Việt Nam. Mùa Thu trên đất Ấn vẫn xanh mướt những hàng cây, nắng thu thật hiền hòa với những làn gió thu thật dịu dàng khẽ rung rinh caønh lá... Ðây thật sự là ngày tháng thích hợp nhất cho các đoàn hành hương trở về nguồn cội, quê hương đấng Cha lành của muôn loài, trở về cội nguồn chân lý, hào quang của ánh sáng trí tuệ và sức sống tâm linh.
“Nước troâi nước có về nguồn
Mây đi mây có cùng non trở về?
Hỏi Người học Ðạo xa quê
Có nghe chăng tiếng vỗ về mùa Thu?”
Kỳ nghỉ thu năm nay được chúng tôi chờ đón với tất cả niềm hân hoan. Niềm mong ước chiêm bái Phật tích ấp ủ bấy lâu, giờ sắp trở thành hiện thực. Có lẽ đây là đoàn hành hương đầu tiên có số lượng Tăng, Ni đông nhất: 18 Tăng sinh, 8 Ni sinh và 2 cô Việt kiều Pháp. Hầu hết chúng tôi đều là pháp lữ đồng học chung khóa III dưới mái trường Cao cấp Phật học và hiện nay là các Sinh viên theo học khoa Phật học tại Ðại học Delhi.
Từ khi có chương trình chiêm bái Thánh tích, bên hành lang lớp học lúc nào cũng sôi nổi về việc chuẩn bị hành trang cho chuyến hành trình, nào là ba-lô, giày dép, mũ nón, đồ ấm, thuốc men và cả lương khô nữa... Chúng tôi cứ mơ ước đến lúc được kính viếng Bồ Ðề Ðạo Tràng để rồi có được một buổi chiều ngồi bên bờ sông Ni Liên, nhìn doøng nước lững lờ trôi mà nhớ lại thời hoàng kim của giáo pháp, được đến Lumbini dưới chân Hy Mã tuyết phủ quanh năm, nơi Ðấng Từ Phụ đã giáng sanh mà nghe lòng xúc cảm sâu xa... Ước mơ ấy giờ đang tiến đến thật gần làm taâm trạng ai cũng náo nức, bâng khuâng.
Trước khi lên đường, chúng tôi đã họp mặt vào ngày 26.9 để cùng chia nhau trách nhiệm, như ban kiểm soát, hành đường, hậu cần, y tế, quay phim, thư ký, thủ quỹ... Các thành viên trong chuyến đi này gồm: thầy Chơn Minh (người hướng dẫn), thầy Giác Tín, thầy Chơn Tâm, thầy Quảng Long, thầy Thiện Thái, thầy Thanh Chương, thầy Huệ Sanh, thầy Ðức Trường, thầy Thiện Huệ, thầy Nguyên Sỹ, thầy Thiện Nghiêm, thầy Thiện Quý, thầy Quang Thạnh, thầy Trung San, thầy Chơn Phát, thầy Thông Lý, thầy Pháp Tánh, thầy Phước Chí, cô Huệ Phúc, cô Huệ Nguyệt, cô Nguyên Hương, cô Liên Hiệp, cô Liên Ðạt, cô Liên Mẫn, cô Liên Chương, cô Hương Nhũ cùng 2 vị Phật tử: cô Diệu Vinh, cô Từ Nguyệt.
Chúng tôi cùng nhau chọn một tên cho đoàn và nhiều tên được đưa ra, nào là: “Mùa thu trên đất Phật”, “Theo gót Bụt”, “Theo dấu chân Phật”, “Hành hương Phật tích mùa thu”... nhớ nhất là Thầy Chơn Phát đã nghĩ ra một cái tên nghe thật dễ thương: “Ðường về quê Nội”. Nhưng cuối cùng chúng tôi đã đồng ý với “Thu về Nguồn”. Và có lẽ đây cũng là một mùa Thu để lại trong tâm tưởng chúng tôi những aán tượng sâu sắc không thể nào quên.
Từ 4 giờ sáng ngày 28.9, bốn chiếc Taxi đã lăn bánh đến các điểm để đón chúng tôi ở Mukhejee Nagar, Outramlines. Tập trung về ký túc xá P.G Men’s, sau khi chụp ảnh lưu niệm, chúng tôi leân đường đến sân ga. Tới nơi mới hay tàu hoãn lại 12 giờ đồng hồ. Không thể phàn nàn gì nữa, chúng tôi đồng ý quay về trú xứ và sẽ tập hợp tại ký túc xá P.G Men’s lúc 4 giờ chiều. Ðúng giờ qui định chúng tôi lại tập trung và xe ra ga lúc 4 giờ 25 phút. Sân ga rộng lớn và được tổ chức quy mô. Sau khi lên tàu, chúng tôi vui vẻ chuyện trò, quên đi bao mệt mỏi, dù đêm trước không ai ngủ quá 3 giờ đồng hồ nhưng giờ đây mọi người vẫn tỉnh táo ngắm màn đêm dần buông qua các ô cửa sổ toa tàu. Mãi đến gần 12 giờ đêm chúng tôi mới thiếp đi trong tiếng xình xịch đều đặn của đoàn tàu đang lướt nhanh trong đêm tối không trăng. Trên bầu trời, đây đó vài ánh sao lấp lánh...
Sáng 29.9 tàu gần đến ga Gaya. Quang cảnh hai bên đường tàu dần dần hiện rõ dưới ánh bình minh. Những cánh đồng xanh mướt gợi nhớ về đồng bằng Việt Nam. Nông thôn ở đâu cũng thế, hiền hòa bình dị mà đẹp như tranh. Xa xa, thấp thoáng những mái nhà tranh, những hàng cọ cao cao, thỉnh thoảng đó đây vài cụm cây xanh lâu năm rợp bóng. Tàu đến Gaya lúc 8 giờ 38 phút. Sân ga nhỏ nhưng người đông vì vùng này là một điểm du lịch quan troïng không chỉ với khách hành hương Phật tử mà còn là một trung tâm chiêm bái linh thiêng đối với người Ấn theo đạo Hindu. Chúng tôi đi về chùa Việt Nam bằng loại xe lam lớn trong cơn mưa lất phất.
Chùa Việt Nam cách sân ga Gaya khoảng 15km, từ ngoài con đường làng mọi người có thể nhìn thấy mái chùa với màu vôi vàng hơi cũ gợi trong mỗi chúng tôi nỗi nhớ về ngôi chùa cổ kính của mình ở quê hương. Chùa Việt nam Phật Quốc được Thầy Huyền Diệu xây cất từ năm 1986 nằm ở vị trí biệt lập giữa cánh đồng lúa xanh tươi. Chùa không lớn lắm và vẫn trong tình trạng đang tiếp tục xây cất, hình ảnh bản đồ Việt nam được khắc nổi nơi cổng chùa và ở hai bên cánh én cuûa mái chùa làm mọi người xúc động. Một ngôi chùa Việt nam được dựng lên giữa vùng đất thiêng, nơi mà cách đây hơn 2000 năm Ðấng Từ Phụ của muôn loài đã đã đạt đến trí tuệ vô thượng, là một nguồn an ủi tinh thần cho người dân Việt. Thượng tọa Upawara, người Miến Ðiện hiện đang phụ trách trông coi chùa, tiếp đón đoàn Tăng, Ni Việt Nam rất vui vẻ, tận tình. Bữa cơm trưa có canh chua và đậu hũ kho đậm đà hương vị quê hương:
“Về đây ấm áp tình nhà,
Anh em sum họp quê cha của mình”.
Lúc 3 giờ chiều, chúng tôi sửa soạn y hậu chỉnh tề đi vào tháp Ðại Giác. Không sao diễn tả được cảm xúc của chúng tôi khi trông thấy ngôi tháp cổ kính mà hùng vĩ dường ấy. Mọi người đều ngỡ ngàng trước vẻ hùng tráng, nguy nga của ngôi tháp tuyệt vời. Phải chăng ngôi tháp oai hùng tượng trưng cho tinh thần phát túc siêu phương của Ðấng Ðại Hùng? Tháp cao vút với những hoa văn nổi, sừng sững uy nghiêm, không cầu kỳ mà sao hoàn mỹ, không rực rỡ sắc màu, chỉ một màu đá xám giản đơn nhưng thể hiện cả một sức chịu đựng bền bỉ trước phong sương, mặc cho bao thế kỷ trôi qua vẫn hiên ngang trơ gan cùng tuế nguyệt, tháp có thể đứng vững chãi giữa bao biểu tượng của các đạo giáo khác. Trong ngôi tháp diệu kỳ, bức tượng Thích Ca Mâu Ni đẹp sống động với nét trí tuệ, từ bi của đấng Ðại Giác Ngộ. Nét đặc biệt của bức tượng này là bàn tay phải thả xuống khoan thai, nhẹ nhàng với ấn “Xúc địa”. Hình ảnh này đã thể hiện rằng khi Ðức Phật Thế Tôn chứng đắc Ðạo quả, với sức mạnh của sự nhẫn nhục Ngài đã hàng phục ma vương và đưa tay chạm đất để gọi quả đaát làm nhân chứng. Sau lưng ngôi đại tháp là tòa Kim cang do Vua A Dục xây dựng để ghi dấu nơi Ðức Phật chứng đạt quả Vô thượng Bồ-đề.
Cây Bồ-đề bên Kim cang tòa cao độ 20 mét. Theo các nhà khảo cổ thì cây Bồ-đề này chỉ hơn trăm tuổi nhưng mọc chính xác nơi cây Bồ-đề nguyên thủy đã nhiều lần bị đốn chặt bởi sự tàn phá của những người tà giáo. Chúng tôi nhặt được vài lá Bồ-đề gần nơi tòa Kim cang và xem là bảo vật trong chuyến hành hương được nâng niu trân quý như một di sản tinh thần của Người Cha để lại:
“Giờ đây nhặt là Bồ-đề
Nghe trong tiếng sóng lời thề năm nao
Dẫu cho bão táp thét gào
Uy hùng Ðại định nhập vào Chân như”.
Trong khu vực Ðại tháp, chúng tôi có thể nhìn thấy những ngôi tháp nhỏ, một trụ đá do Vua A Dục dựng trước hồ Mucalinda. Ðặc biệt là 7 trụ đá kỷ niệm cho 7 tuần lễ nhập định sau khi chứng đắc quả vị Tối thượng.
1. Trụ đá thứ nhất: Kỷ niệm tuaàn lễ đầu tiên sau khi thành Ðạo, Ðức Phật đã ngồi thiền định dưới cây Bồ-đề để chứng nghiệm hạnh phúc giải thoát. Trong đêm cuối cùng Ngài đã suy nghiệm và thấu hiểu Lý duyên khởi.
2. Trụ đá thứ hai: Tuần lễ thứ nhì là thời gian Ðức Phật đứng cách một khoảng xa chăm chú nhìn cây Bồ-đề không nháy mắt để tỏ lòng tri ân với cây Bồ-đề đã che mưa đỡ nắng cho Ngài suốt thời gian thiền định để thành Ðạo quả.
3. Trụ đá thứ ba: Vì thấu rõ được tâm niệm của chư Thiên nghi ngờ Ngài chưa đắc quả, Ðức Phật đã dùng oai lực thần thông tạo ra một đường bằng ngọc và Ngài đã đi kinh hành trên con đường ấy trọn tuần lễ thứ ba.
4. Trụ đá thứ tư: Kỷ niệm nơi đây tâm và thân của Ðức Phật phát ra một vầng hào quang 6 màu khi Ngài suy nghiệm về giáo lý cao siêu của tạng Luận.
5. Trụ đá thứ năm: Tuần lễ thứ năm, Ðức phật thiền định dưới cội Ajapala chứng nghiệm hạnh phúc giải thoát. Nơi đây Ngài đã trả lời một vị Bà-la-môn về những điều kiện để trở thành Thánh nhân.
6. Trụ đá thứ sáu: Kỷ niệm mãng xà vương uốn mình che quanh Ðức Phật dưới cội Mucalinda để bảo vệ Ngài tránh khỏi mưa to gió lớn.
7. Trụ đá thứ bảy: vào tuần lễ cuối, Ðức Phật chứng nghiệm hạnh phúc giải thoát dưới cội Rajayatana. Sau đêm đắc quả Vô thượng, Ngài khẳng định sự chiến thắng tinh thần vẻ vang:
“Xuyên qua nhiều kiếp sống trọn vòng luân hồi. Như Lai thênh thang đi, đi mãi. Như Lai đi tìm mãi mà không gặp. Như Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này. Lập đi lập lại đời sống quả thật là phiền muộn. Này hỡi người thợ làm nhà. Như Lai đã tìm được Người. Từ đaây, ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa. Tất cả sườn nhà đều đã gãy, cây đòn dông của người dựng nên cũng bị phá tan. Như Lai đã chứng quả Vô sanh bất diệt và Như Lai đã tận diệt mọi ái dục”.
Nhưng ấn tượng sâu đậm vẫn là ngôi đại tháp tuyệt vời được tô điểm bằng những hoa văn lập thể rất đặc biệt, xung quanh vách tháp đều khắc nhiều hình Phật, Bồ tát và các vị Thánh. Chúng tôi đến làm lễ tại khu vực Kim cang tòa sau đó thiền hành, niệm Phật quanh tháp theo sự hướng dẫn của thầy Giác Tín. Ðoàn đã chụp một số ảnh lưu niệm vì chụp ảnh tháp Ðại Giác ở bất kỳ góc cạnh nào cũng có một vẻ đẹp riêng của nó. Chiêm bái Bồ-đề đạo tràng cả buổi chiều mà không ai cảm thấy là đủ. Không khí trang nghiêm thanh tịnh xung quanh ngôi tháp vĩ đại, hùng tráng đã khơi dậy trong chúng tôi tín tâm cao đẹp của ngày mới xuất gia mà thời gian đi qua đã làm phai lạt ít nhiều trong taâm trí những vị tu sĩ còn trẻ tuổi...
Sáng 30.9, chúng tôi lên đường đi Khổ Hạnh lâm. Qua khu làng nhỏ nhiều cây xanh, vượt qua một dốc núi không cao lắm, chúng tôi đến một ngôi chùa Tây Tạng trên triền núi. Sau lưng ngôi chùa là vách núi sừng sững, hùng vĩ. Chúng tôi lần lượt vào chiêm bái một hang đá tối, nơi Ðức Phật đã từng tu khổ hạnh những sáu năm trường. Trong hang đá giờ vẫn còn lưu lại hai bức tượng Phật lúc tu khổ hạnh. Những nét mỹ thuật tuyệt vời làm rõ nét khắc khổ của Ngài trong những tháng ngày tu tập dù phải đương đầu với những hành hạ của tự thân trong đói khát, côn trùng, thú dữ, bệnh hoạn và thời tiết khắc nghiệt vẫn không mất đi ý chí quyết tâm của một vị Bồ tát chuyên chú đến sự Giác ngộ tối thượng:
“Chim hót trên vai, sương phủ áo,
Hươu kề dưới gối, tuyết đơm hoa.
Suy cơ tạo hóa hồn minh mẫn
Thấu lẽ huyền vi trí sáng lòa”.
Rời Khổ Hạnh lâm chúng tôi lại băng qua khu làng để trở về chùa. Dân ở đây nghèo khổ quá, trẻ em không có đủ quần áo mặc, chúng nó bu quanh chúng tôi xin vài đồng Rupees lẻ. Ở đây toàn là nhà tranh vách lá. Cảnh nghèo của đất nước nào cũng có, chúng tôi ra về trong nỗi ngậm ngùi...
Chiều 30.9 chúng tôi đi viếng các ngôi chùa chung quanh Ðại tháp và đảnh lễ tượng Phật rất lớn ở kế bên chùa Nhật Bản. Tượng rất kỳ vĩ bằng đá tảng ráp lại, cao khoảng 15 mét. Hai bên tượng là 10 vị đại đệ tử của Ðức Phật cũng được tạc bằng đá xám. Ngôi chùa Nhật Bản khá nguy nga tráng lệ, đặc biệt là các tràng phan bảo cái bằng gỗ mạ vàng. Cạnh chùa Nhật bản là chùa Bhutan với nhiều màu sắc rực rỡ, do ảnh hưởng truyền thống Phật giáo Tây Tạng sâu đậm nên chùa cũng mang kiến trúc Kim Cang thừa. Kế đến là chùa Thái Lan được xây dựng theo truyền thống Thái Lan, thếp vàng lấp lánh với những mái cong vút như vương miện vua chúa. Chùa Nepal cũng mang đường nét Tây Tạng. Ở khu vực của Bồ Ðề Ðạo Tràng có đến hai ngôi chùa Tây Tạng thuộc hai trường phái khác nhau. Chùa Trung Quốc với vạn Phật được chạm khắc trên tươøng và trên trần rất điêu luyện công phu. Chùa Miến Ðiện cách Ðại Tháp khoảng 1km, vị sư Trụ trì niềm nở đón tiếp đoàn, Ngài cho chúng tôi bản đồ ngôi chánh điện đang được xây cất lại quy mô. Chúng tôi trông thấy nhiều người ngoại quốc đang tu thiền tại đây. Và như vậy, chùa Việt Nam không nằm trong quần thể những ngôi chùa này mà ở cách Ðại tháp non 2km. So với các chùa chung quanh Ðại tháp, chùa Việt nam nhỏ bé và đơn sơ với những caây xanh rợp bóng, những hàng tre, bụi chuối rất Việt Nam để rồi chúng tôi thầm nghĩ:
“Dẫu còn nằm ẩn xa quần hội
Vẫn mang dáng dấp của rồng bay”
Sau khi thăm viếng hết các ngôi chùa nơi đây, chúng tôi trở vào Ðại tháp. Giờ phút này, mọi người được tự do chiêm bái, thiền hành, đảnh lễ theo ý thích của mỗi người. Rất nhiều người ở tất cả các nước khác nhau tu tập, tọa thiền, nhiều nhất là các vị sư Tây Tạng lạy Phật liên tục trong nhiều giờ theo kiểu “Ngũ thể đầu địa”. Chúng tôi trở về chùa Việt Nam khi trời tối hẳn, trăng non đã bắt đầu ló dạng.
Sáng ngày 01.10, trời đổ mưa to. Sau bữa điểm tâm, chúng tôi nghỉ ngơi tại chùa Việt Nam. Trong câu chuyện hàn huyên, mọi người kể cho nhau nghe về những cảm xúc diệu kỳ khi viếng Bồ Ðề Ðạo Tràng. Chúng tôi nghĩ rằng Ðại tháp Chánh giác cực kỳ linh thiêng mới có thể tồn tại đến ngày nay. Hơn 2.000 năm qua, biết bao chùa thaùp lớn nhỏ bị Hồi giáo tàn phá, thiêu rụi, riêng ngôi Ðại tháp vẫn hùng vĩ uy nghiêm. Chắc hẳn nơi đây vô số chư Thiên thị hiện trong ánh hào quang của Ðấng Từ Phụ Thích Ca để hộ trì ngôi tháp cổ mà mắt trần của chúng ta không nhìn thấy được.
Chiều 01.10, đoàn chúng tôi đi thăm làng Sujata, chính nơi đây Ðức Thế Tôn đã nhận bát sữa do nàng Sujata kính thành dâng cúng. Bởi qua những tháng năm khổ hạnh dưới mọi hình thức, Ngài vẫn không đạt đến kết quả cứu cánh mà cái chết đã gần kề. Giữa tình trạng nguy ngập ấy, bát sữa của nàng Sujata là thắng duyên góp phần cho vị Bồ tát quyết định từ bỏ lối tu cực đoan khổ hạnh, chọn con đường Trung đạo để sớm đạt đến quả vị Giác ngộ. Kể từ đó tên của nàng đã gắn liền với ngôi làng lịch sử.
Dòng sông Ni Liên Thiền (Niranjana), cách Ðại tháp không xa. Mùa thu, nước sông đang cạn dần nhưng vẫn lấp lánh ánh mặt trời lúc hoàng hôn. Chính dòng sông này Ðức Phật đã tắm trước khi Ngài đến cội Bồ-đề để tham thiền nhập định và cũng chính nơi đây Ngài đã phát nguyện:
“Ta nguyện chứng đạt trí huệ giác ngộ tối thượng, nếu lời nguyện thành tựu, hãy khiến bát này trôi ngược dòng sông”.
Sau lời nguyện, Ngài quăng bát xuống dòng nước đang xuôi chảy, bát liền trôi ngược dòng để chứng tỏ lời đại nguyện sẽ thành tựu viên mãn.
Bên kia dòng sông là nơi ngày xưa người nông phu dâng Ngài bó cỏ Ku-sa (kiết tường). Ngài đã trải cỏ ấy làm tòa ngồi trong bốn mươi chín ngày đêm Thiền định dưới cội Bồ-đề.
Chúng tôi đến thềm nhà xưa của anh em Ngài Ca Diếp, trước sân nhà vẫn còn cái giếng sâu. Cây Bồ-đề nơi đây có lẽ đã nhiều tuổi lắm rồi, với gốc cây to lớn bốn, năm người ôm không xuể. Dù đã già, nhưng lá Bồ-đề vẫn xanh tươi, bề mặt lá lấp lánh dưới ánh nắng chiều. Ðiều kiện khí hậu Bắc Ấn tương đối thích ứng nên thực vật có thể sống đến mấy ngàn năm. Biết đâu cây Bồ-đề này tuổi thọ cũng được nhiều thế kỷ...
Tất cả những nơi từng in dấu chân Ðấng Cha lành ở khu vực Bồ Ðề Ðạo Tràng, chúng tôi đều được chiêm bái, rồi cùng nhau nhớ về hành trình lịch sử nhiệm mầu của Ngài mà không ngăn được niềm xúc cảm.
Băng qua làng Sujata để ra xe trở về chùa Việt Nam. Trẻ em nghèo bu chung quanh chúng tôi để xin tiền. Nàng Sujata của đoàn chúng tôi là cô Nguyên Hương, không nỡ bỏ đi khi nhìn thấy cảnh nhếch nhác của đám trẻ làng này nên đã cho các em đến những đồng Rupees lẻ cuối cùng và hậu quả là chúng bao vây không cho cô có đường ra. Một số thầy phải đến can thiệp để cô thoát được đám trẻ. Thấy cô bắt đầu hoảng sợ, có vị liền “xuất khẩu thành thi”:
“Dứt áo ra đi chẳng đặng lòng
Tự mình mang lấy nghiệp long đong
Sujata hỡi xin bất thối
Tâm ý ban đầu, đẹp trắng trong!”
Rời khỏi làng Sujata, dừng lại bên dòng sông Ni Liên Thiền chúng tôi nhìn thấy đỉnh tháp Ðại Giác xa xa vượt lên những màu xanh của cây lá trong khi mặt trời hoàng hôn đang còn rớt lại những tia nắng cuối cùng. Chúng tôi vội vã ra về, mưa bay lất phất trên những cánh đồng rộng mênh mông...
Sáng ngày 02.10, đoàn tiếp tục cuộc hành trình đến Rajagaha – Vương Xá Thành, Ðức Phật đã ngụ tại đây trong sáu mùa An Cư Kiết Hạ. Vương Xá trải dài 101 km phía Tây bắc của thủ phủ Patna. Ðây chỉ là một thị trấn nằm trên một ngọn đồi nhỏ nhưng đã từng trải qua bao triềøu vua hùng mạnh. Ðặc biệt nhất là Bình Sa Vương (Bimbisara), một vị vua anh minh, uy dũng. Ông là vị vua Phật tử thuần thành có nhiều duyên lành với Ðức Thế Tôn. Ngay sau khi chứng đạo, Ðức Phật đã thân hành dời gót sen đến thành Vương Xá thuyết giảng Ðạo mầu giải thoát cho vua và quần thần. Bình Sa Vương suốt cuộc đời một lòng ủng hộ Ðạo pháp, đến giây phút cuối cùng cuộc đời mình, cũng còn thốt lên câu nói: “Ðức Phật và Giáo pháp”.
Từ thành Vương Xá lên Nhật Bản sơn chúng tôi đi bằng hệ thống xe cáp điện. Ai cũng cảm thấy thú vị với phương tiện này nhưng lo niệm Phật không ngớt khi cáp điện lên rất cao, vì bên dưới là núi đá lởm chởm. Chính nơi đây Ðức Phật từng thuyết Pháp Hoa, Lăng Nghiêm... để kỷ niệm những ngày tháng từng in dấu chân Ngài, người Nhật đaõ xây một ngọn tháp rất lớn hình bát úp màu trắng mang tên tháp Hòa Bình. Bốn phía tháp chạm khắc tượng Phật Ðản sanh, Thành đạo, Chuyển Pháp luân và Nhập Niết-bàn. Chúng tôi đi nhiễu quanh tháp mà tâm tư hướng về những pháp thoại năm xưa:
“Chim Lăng-già hót giọng thanh trong
Vầng mây chín sắc giữa tầng không
Cùng hàng tứ chúng đang mong đợi
Pháp nhũ thậm thâm thấm nơi lòng”.
Bên cạnh tháp là một Chánh điện của chùa Nhật, xây dựng từ năm 1976. Trong Chánh điện luôn vang tiếng niệm tụng kinh theo nhịp trống. Chúng tôi thích nhất là tảng đá đứng có dòng chữ: “NAM MÔ ÐẠI THỪA DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH” bằng chữ Hán rất đẹp với bút pháp rồng bay phượng múa. Chúng tôi đi bộ qua núi Linh Thứu để có thể nhìn thấy một số di tích quan trọng. Ði khỏi cầu trắng mang tên “Linh Sơn kiều” thì đến hang động của Ngài A Nan, gần đó là Hương thất của Ðức Phật. Lòng chúng tôi bồi hồi cảm động khi dừng chân trước hương thất của Ngài đang ngào ngạt trầm hương. Toàn đoàn y hậu chỉnh tề vào đảnh lễ. Qua một khúc quanh là hang động của Ngài Xá Lợi Phất. Theo con đường mòn mang tên “Bimbisara” giờ đây đã được laùt đá cầu thang, chúng tôi đi ngang qua một phiến đá lớn mang hình đầu chim. Có lẽ đó là lý do núi này mang tên “Linh Thứu”, nhiều tấm ảnh nghệ thuật đã được thực hiện bởi các nhà nhiếp ảnh nghiệp dư trong đoàn.
Xuống chaân núi Linh Thứu, chúng tôi nhìn thấy tảng đá Mardakushi. Tương truyền tảng đá này do Ðề Bà Ðạt Ða lăn từ trên núi cao xuống để hại Phật trong lúc Ðức Phật đi bên sườn núi Gijihakùta. May thay, tảng đá va nhằm một tảng khaùc, bể ra làm nhiều mảnh và chỉ có một mảnh vụn rơi nhẹ vào chân Ðức Phật làm chảy máu. Vị lương y lỗi lạc Kỳ Bà (Jivaka) liền đến săn sóc vết thương cho Ngài.
Xe rời chân núi một đoạn là khu vườn Amaravana do lương y Kỳ Bà đã cúng cho Ðức Phật và Tăng đoàn. Cách đó 1km là ngục thất của vua Tần Bà Sa La. Dù là một vị minh quân, có tâm đạo nhiệt thành, vua vẫn chịu quả báo xấu của tiền nghiệp, chết một cách thê lương và đau đớn bởi chính người con đầy tham vọng. Do bị Ðề Bà Ðạt Ða xúi giục, Hoàng tử A Xà Thế âm mưu sát hại vua cha để chiếm ngôi. Biết được điều đó, người cha đầy lòng bi mẫn không sử phạt con mà còn nhường ngôi cho Hoàng tử. Ðể trả ơn cha, vua A Xà thế vừa lên ngôi liền hạ ngục cha và ra lệnh bỏ đói cho chết dần. Mỗi khi Hoàng thái hậu vào thăm, bà thoa vào mình một thứ đồ ăn làm bằng mật ong và sữa, nhờ đó Bình Sa Vương sống qua ngày. Khi A Xà Thế biết được liền cấm hẳn mẹ không cho vào thăm cha nữa. Lúc ấy Bình Sa Vương cam chịu đói nhưng lòng không oán trách con. Do Ngài đã đắc quả Tu-đà-hoàn và hằng ngày vẫn thọ trì Bát quan trai giới nên đã vượt qua được mọi đau đớn thực tại. Thấy cha mình vẫn an lạc trong ngục thất, A Xà Thế hạ lệnh lấy dao bén gọt gót chân vua cha, xát dầu và muối vào rồi hơ nóng cho đến chết. Vua Bình Sa Vương băng hà, tức khắc tái sanh vào cảnh trời Tứ Ðại Thiên Vương. Ngục thất này giờ đây vẫn còn những tảng đá xanh vuông vắn và vững chắc như ghi dấu một kỷ niệm buồn của vua A Xà Thế. Về sau, ông vô cùng ăn năn hối cải, khi gặp được Ðức Phật, ông trở nên một thiện tín hộ đạo có công đức lớn trong công cuộc kiết tập kinh điển lần thứ nhất.
Sau khi viếng thăm xong các địa điểm này, chúng tôi đến Trúc Lâm tinh xá. Ðó là khu đất bằng phẳng với những khóm trúc xanh tươi do vua Tần Bà Sa La đã dâng cúng cho Ðức Phật và Tăng đoàn làm nơi An cư Kiết hạ. Ðoàn chúng tôi nghỉ trưa trên những thảm cỏ dưới hàng trúc xanh rợp bóng, cảnh trí hoa lá nơi đây thật êm ả, nên thơ và thanh tịnh.
Rời Trúc Lâm tinh xá lúc 3 giờ chiều, chúng tôi dạo chơi Vương Xá thành, một thời huy hoàng của các triều đại vua chúa, nay có còn chi ngoài những sinh hoạt bình thường của người dân tại thị trấn bé nhỏ này. Ðêm 02.10, đoàn nghỉ tại chùa Miến Ðiện để sáng mai có thể tiếp tục lên đường đến hang Thất Diệp.
Sáng ngày 03.10, chúng tôi dùng điểm tâm rất sớm để có đủ thời gian thực hiện một khóa lễ tại chùa Miến Ðiện. Hòa thượng Trụ trì cho chúng tôi chiêm bái Xá-lợi Phật, một bảo vật quý giá mà hiện giờ chùa đang gìn giữ. Chúng tôi đã đi kinh hành, niệm Phật quanh Xá-lợi. Ðược biết Hòa thượng đang có nguyện vọng xây lại ngôi Chánh điện để Tăng chúng tu niệm và thờ cúng Xaù-lợi. Ðoàn đã cúng dường một ít tịnh tài và chụp hình lưu niệm.
Lúc 8h30 sáng, sương tan dần dưới ánh bình minh rực rỡ. Ðoàn tiếp tục lên đường thăm hang Thất Diệp. Ðó là một động đá mang tên “Saptapani” trên đỉnh núi Baibhara. Chính nơi đây đã diễn ra kỳ kiết tập kinh điển lần đầu tiên sau khi Ðức Phật nhập Niết-bàn ba tháng. Tôn giả Ananda, được đề cử tường thuật lại những lời dạy của Ðức Phật (Sutta), Tôn giả Upàli tường thuật những vaán đề liên quan đến Giới luật (Vinaya). Nhờ vậy, những Phật ngôn quí báu được trùng tuyên một cách đầy đủ, trọn vẹn và hoàn toàn tinh túy.
Chúng tôi cũng được viếng thăm núi Kê Túc, nơi Ngài Ca Diếp đã nhập định trong hang đá sâu. Tương truyền Ngài sẽ xuất định khi Phật Di Lặc ra đời để truyền trao y bát của Ðức Phật Bổn Sư Thích Ca. Những Thánh tích này qua hơn 2000 vẫn còn nguyên vẹn với những hang đá đầy rêu phong. Ðiều may mắn cho chúng tôi là những ngày này tiết trời thật vô cùng lý tưởng, không khí trong lành, dịu mát của buổi sáng mùa thu đã giúp chúng tôi bớt đi những nhọc nhằn khi, phải đi qua những dốc núi cheo leo trong cuộc chiêm bái này.
Không xa Vương Xá thành là một Thánh tích nổi tiếng. Viện Ðại học Na Lan Ðà được xây dựng vào thế kỷ thứ II, nơi sản sinh những nhà tư tưởng Phật giáo Ấn Ðộ vĩ đại như Ngài Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân... các nhà học giả Trung Quốc uyên thâm như Ngài Huyền Trang, Nghĩa Tịnh. Na Lan Ðà là viện Ðại học đầu tiên và vĩ đại nhất trên thế giới nhưng giờ đây chỉ còn vết tích của những nền tháp, tường chùa bằng gạch nung đỏ bị nám đen do quân Hồi giáo thiêu đốt và tàn phá vào thế kỷ XII. Trong viện bảo tàng, biết bao hình tượng Chư Phật và Bồ tát bị đốt cháy từng phần được triển lãm tại đây. Ðó chính là vết tích của cả một trường phái nghệ thuật Nalanda còn sót lại sau những lần khai quật từ những nền xưa sụp đổ. Ánh nắng chiều làm cho ngôi tháp cao hoang tàn chuyển sang màu nâu đỏ, một thời huy hoàng rực rỡ nay còn đâu? Tôi bỗng nhớ câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan:
“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”.
Rời Ðại học Nalanda cũ, chúng tôi đi đến viện Ðại học Nalanda mới vào buổi chiều thứ bảy. Trường học vắng ngắt, buồn tẻ vô cùng. Trường rất nhỏ và ở một khu đất riêng biệt. Tuy vậy, nơi đây đã đào tạo được những vị Tăng tài Việt Nam như Hòa thượng Minh Châu, Hòa thượng Thiện Châu... Hình ảnh của một viện Nalanda vĩ đại trong quá khứ giờ chỉ còn cái tên để nhớ, để trân trọng và tiếc thương...
Ðoàn tiếp tục đến Huyền Trang Kỷ Niệm Ðường, một tòa nhà to lớn tọa lạc ở một khu đất rộng, cách kiến trúc theo kiểu Trung Quốc. Tiếc thay, khi vào đến nơi, nhà kỷ niệm chỉ còn là một đại sảnh đường trống rỗng! Chúng tôi ra về trong nỗi buồn man mác. Trên đường trở về chùa Việt Nam, mọi người nhìn ra cửa xe ngắm Vương Xá thành lần cuối:
Trải qua bao cuộc bể dâu
Thành xưa tráng lệ giờ đâu còn gì”.
Ngày 4.10, chúng tôi nghỉ ngơi vài ngaøy tại chùa Việt Nam. Hôm nay, chúng tôi hợp đồng một chiếc xe ca du lịch mới với người tài xế lái xe rất vững vàng và thông thạo đường xá đã đưa chúng tôi đến tất cả các Thánh tích còn lại cho đến ngày về Delhi. Ðây là một điều rất may mắn cho đoàn, vì trong một cuộc hành trình xa xôi và dài ngày, người tài xế là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công.
Sáng ngày 05.10, trong cơn mưa phùn lành lạnh, chúng tôi chụp aûnh lưu niệm với Thượng tọa Upawara, Thầy Giác Tín thay mặt đoàn nói lời tri ân và cúng dường một ít tịnh tài, nhưng Thượng tọa không nhận. Ngài nói rằng đối với Phật tử hành hương, đặc biệt với người Việt Nam, sự tiếp đoùn, quan tâm là niềm vui của Thượng tọa.
Ðoàn đến Ba-la-nại (Benares), nay là Varanasi vào lúc 2 giờ chiều. Ðây là một trong những thành phố lớn của Tiểu bang Uttar Pradesh thuộc miền Bắc Trung Ấn. Ðối với người Ấn, Varanasi là một thành phố nổi tiếng linh thiêng bởi những đền thờ Ấn giáo nguy nga và sông Hằng lâu đời mang dòng nước Thánh. Chính nơi đây Ðức Phật chuyển bánh xe Pháp đầu tiên tại Lộc Uyển, Isipatana (Chư Thiên Ðọa Xứ). Trong những ngày ở thành phố này, chúng tôi lưu trú tại chùa Trung Quốc. Ðây là một ngôi chùa khá lớn trong một công viên thoáng mát, có nhiều dãy phòng dùng làm nơi nghỉ chân cho khách hành hương.
Sáng ngày 6.10 đoàn đi chiêm bái tháp Chaukhandi. Tháp được xây dựng trong triều đại Gupta (thế kỷ V AD) để kỷ niệm nơi Ðức Phật gặp lại năm anh em Ngài Kiều Trần Như. Tháp không tránh khỏi số phận bị quân đội Hồi giáo tàn phá, thiêu hủy, chẳng còn gì ngoài một nền tháp tròn khổng lồ. Phần bát giác của ngọn tháp mới được xây dựng cách đây bốn trăm năm. Không xa ngôi tháp này là Lộc Uyển. Tại đây, chúng tôi nhìn thấy tháp Dhamekh to lớn, cao hơn 30 m nằm giữa khuôn viên này. Tháp này được xây dựng vào khoảng năm 300 BC. đánh dấu nơi Ðức Phật thuyết giảng bài pháp đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như. Chúng tôi cũng đến chiêm bái trụ đá do Vua A Dục xây dựng để kỷ niệm nơi đaây, Ðức Phật đã phái chư vị đệ tử A-la-hán đi tuyên dương giáo pháp. Trụ đá xây năm 250 BC. nhưng đã bị gãy ngang. Phần trên của trụ đá tạc tượng bốn đầu sư tử được tìm thấy trong các cuộc khai quật đang trưng bày trong bảo tàng viện khảo cổ tại Lộc Uyển. Chúng tôi thú vị dừng lại hàng giờ bên vườn Nai ngắm nhưng chú nai sao tuyệt đẹp mà tưởng như dư âm những lời vàng mầu nhiệm của Ðức Thế Tôn cách đây hơn hai thiên kỷ còn đang vang vọng lại:
“Pháp luân được chuyển tại nơi đây
Rồi sau truyền bá khắp Ðông Tây
Con đang lắng lại lời âm vọng
Nghe tiếng nai vàng dưới khóm cây”
Chiều ngày 06.10, đoàn đến sông Hằng bằng xe riskshaw. Xe đi qua phố xá tấp nập của thành phố Ba-la-nại. Sự sinh hoạt của dân chúng ở đây đông đúc và khá phồn thịnh, tuy nhiên đến đâu cũng ngợp khói xe và bụi bặm. Các nhà hàng cửa hiệu buôn san sát kiến trúc không theo kiểu nào nhất định. Xe cộ lưu thông tùy tiện, thỉnh thoảng lại mắc vào nhau như khung cửi. Sau gần nửa giờ xuyên lách qua các đường phố, cảnh tượng sông Hằng hiện ra trước mắt chúng tôi. Một dòng sông rộng mênh mông lấp lánh ánh bạc trong buổi hoàng hôn. Dòng sông bắt nguồn từ dãy Hy Mã Lạp Sơn, dài 5.575 km. Nhìn con nước trôi êm đềm, tôi nhớ lại trong những bài Kinh Phật thuyết giảng thường hay so sánh những số lượng không thể tính được với số cát sông Hằng...
Trên bờ sông, những người Ấn đang thiêu xác. Xác chết bọc trong lớp vải thô sơ và đặt trên một đống củi lớn. Ðám khói xanh đen bốc lên mịt mù từ xác chết, mùi thịt cháy khét tanh lan rộng cả một vùng. Nếu đến gần sẽ thấy rất rõ khúc ruột nở to ra, nổ lốp bốp như bong bóng bể, các đường gân căng ra dưới sức nóng rồi đứt ra từng đoạn làm xác người co giật trên đám lửa. Dân Ấn tin tưởng nước sông Hằng vi diệu như nước Thánh có thể rửa saïch tội lỗi cho người chết lẫn người sống. Tro tàn khi thiêu xác được rải xuống dòng sông là một điều ân phước vô biên.
Sáng sớm hôm sau, chúng tôi trở lại nơi đây ngắm “Bình minh trên sông Hằng”. Một vùng trời đỏ rực rỡ trong buổi sớm tinh sương khi mặt trời từ từ ló dạng. Ở bên này sông, chúng tôi có cảm tưởng như cái khối tròn đỏ kia mọc lên từ dòng sông Hằng lấp lánh. Trên bờ sông, quang cảnh vô cùng náo nhiệt, vô số người AÁn đang tụ tập nơi đây để tắm và cầu nguyện. Nhiều người đang lấy nước Thánh vào những chiếc bình vàng, bình bạc với tâm thành kính vô biên. Bỗng nhiên trên thuyền chúng tôi, tiếng cười nói im bặt. Một xác chết đang troâi nổi lềnh bềnh trên sông nước. Có lẽ đã nhiều ngày nên xác trương phình trong nhiều lớp vải. Khi xác chết dạt lại gần thuyền, chúng tôi nhận ra đó là xác chết của một phụ nữ với nguyên đùm ruột, gan, phèo, phổi sình lên lòi hết ra ngoài. Một làn gió nhẹ thoảng qua, làm chúng tôi cảm thấy khó chịu. Nhưng vấn đề đáng nói hơn là những người cầu nguyện trên sông vẫn thành tâm múc nước uống và tưới lên khắp cả thân. Tiếng cầu kinh thì thầm hòa theo gió sớm. Xác chết trôi và sự ô nhiễm của dòng sông không hề làm nao núng sự thành kính khẩn thiết của những người Ấn giáo. Thuyền từ từ cập vào bờ, đoàn người lặng lẽ ra về, mỗi người đang miên man với một ý tưởng riêng. Thật không thể nào dễ dàng quên được những cảnh tượng của buổi sáng hôm nay.
Trưa ngày 07.10, đoàn đi mua sắm tại Varanasi. Vùng này có lụa kasi nổi tiếng. Lụa đẹp thật nhưng 1.000 Rupees/1m tiền đâu mà mua? Chúng tôi đi ngắm là chủ yếu. Trong bữa cơm trưa muộn màng lúc 3 giờ chiều, không một ai nhắc lại chuyện sông Hằng nữa. Có những điều không cần diễn đạt bằng lời mà vẫn để lại trong mỗi người những ấn tượng khó phai.
Sáng ngày 08.10, đoàn lên đường đi Kushinagar từ lúc sương sớm chưa tan. Do lụt lội, một chiếc cầu đi Gorakhpur bị gãy, chúng tôi phải đi đường vòng. Nhờ đó, đoàn được chiêm bái Vaishali (Tỳ-xá-ly), nơi đã diễn ra kỳ kiết tập kinh điển lần thứ hai, một trăm năm sau khi Phật Niết-bàn. Trên đường đi, xe chúng tôi lại phải “nằm đường” bốn tiếng đồng hồ vì nạn kẹt xe. Trong nỗi lo âu phải ngủ đêm trên xe hoặc quay về Ba-la-nại thì cả khoái xe khổng lồ bắt đầu chuyển động. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm, khi cảnh sát giao thông cho phép xe chúng tôi có thể vượt lên trước đoàn xe tải dài lê thê. Vậy là đêm nay chúng tôi sẽ nghỉ lại Patna – Thủ phủ của tieåu bang Bihar. Khi đoàn đến đây, thành phố đã lên đèn. Chúng tôi dùng tối tại nhà hàng của khách sạn. Hơn 10 giờ đêm, toàn đoàn đều ngủ thiếp đi sau một ngày đường mệt mỏi.
Sáng ngày 09.10, chúng tôi đến Tỳ-xá-ly. Vào thời Ðức Phật, Tỳ-xá-ly là nước vô cùng thịnh vượng. Người dân giàu có và sung túc. Thời kỳ đó, hàng vạn dân chúng đã phát tâm quy y Tam bảo tại thành phố này. Chính nơi đây, Ðức Phật chấp nhận cho nữ giới xuất gia vaø ban cho họ Bát Kỉnh Pháp để có thể trưởng dưỡng tâm đức. Nàng Ambapali – kỷ nữ xinh đẹp và giàu có, sau khi được nghe về các thiện pháp thù thắng và bất tịnh của dục lạc, tâm ý của nàng trở nên thuần thục và đắc đươïc pháp nhãn thanh tịnh, xa lìa trần cấu. Sau một thời gian tu tập tinh tấn nàng đắc được quả vị A-la-hán.
Trong những ngày gần cuối đời, tuy tuổi đã già, sức đã yếu, Ðức Phật vẫn đi bộ trên một đoạn đường rất dài từ thành Vương Xá đến Tỳ-xá-ly và nhập hạ tại Beluva, đó là mùa Hạ cuối cùng của cuộc đời. Sau khi Ngài nhập diệt, người dân Lichavi cũng được nhận được một phần Xá-lợi rất lớn và tôn thờ tại đây. Khi đến đây, đoàn chúng tôi cũng được chiêm bái tháp thờ Xá-lợi này. Sử liệu cho biết, ba trăm năm, sau khi Phật Niết-bàn, vua A Dục đã cho lấy từ 7 trong 8 ngôi tháp thờ Xá-lợi Phật và chia cho 84.000 tháp khác ở khắp nơi trên đất Ấn. Phần Xaù-lợi trong ngôi tháp sau cùng cũng mới được khai quật và cất giữ tại Viện Bảo Tàng Patna. Vừa qua, Chính phủ Ấn Ðộ đã triển lãm Xá-lợi này tại Bồ Ðề Ðạo Tràng nhân Ðại hội Phật giáo đầu tháng 11, tổ chức tại Bodhagaya.
Tại Vaishali chúng tôi cũng được viếng thăm tháp thờ trụ đá có tượng sư tử do vua A Dục xây dựng để kỷ niệm thời gian từng lưu bóng của Ðức Thế Tôn và để đánh dấu nơi diễn ra kỳ kiết tập Kinh điển lần II. Ðây là trụ đá duy nhất còn nguyên vẹn trong tất cả các trụ đá mà vị vua Asoka, người con yêu mến của chư Thiên đã xây dựng. Hướng nam của trụ đá là hồ nước. Tương truyền hồ này do một đàn khỉ đào lên để cúng dường Ðức Phật. Xa xa, chúng tôi có thể nhìn thấy ngọn tháp đánh dấu ngôi nhà của Ngài Duy Ma Cật. Trong khi đoàn đang chiêm bái khu Thánh tích này thì đoàn hành hương của Thầy Nguyên Hạnh từ Mỹ quốc cũng đến nơi đây. Thầy cùng chư vị Ðại đức Tăng, Ni và Phật tử gặp đoàn chúng tôi, Thầy có đôi lời thăm hỏi, nhắn nhủ Tăng, Ni sinh tu học tại Delhi và gửi tặng một số tịnh tài. Trong dịp này, chúng tôi cũng gặp lại nhà văn Huỳnh Trung Chánh. Hai anh chị có hứa sẽ gởi cho Tăng, Ni sinh lưu học tại Delhi một số tác phẩm viết về quê hương.
“Bây giờ mới gặp nhau đây
Mà lòng cứ tưởng quen từ lâu xa
Chung đường về lại quê Cha
Tim cùng nhịp đập, thiết tha thân tình”.
Tại Vaishali, Nhật Bản cũng xây tháp Hòa Bình tương tự như ở Linh Thứu sơn. Chúng tôi đã đến viếng và chụp ảnh lưu niệm tại đây.
Ngày 10.10, đoàn từ Vaishali đi Kushinagar (Câu-thi-na). Vào thời Phật còn tại thế, Câu-thi-na là một thị traán nhỏ bé, ít dân cư sinh sống. Người dân ở đây hiền lành và mộ đạo. Trong các triều đại Gupta, Câu-thi-na là một trung tâm phồn thịnh, nổi tiếng về nghệ thuật kiến trúc và mỹ thuật Phật giáo. Khi Ðức Phật 80 tuổi, Ngài quyết định chọn nơi đây làm nơi dừng nghỉ bước chân hoằng hóa. Mặc dù bệnh tình trầm trọng và người rất yếu, Ðức Phật vẫn quyết định đi bộ từ Pàvà đến Câu-thi-na. Ngài phải ngồi nghỉ 25 nơi vì sức quá yếu. Ðến nơi, Ngài dạy Ðức A Nan chuẩn bị chỗ để Ngài yên nghỉ giữa hai cây Sa-la. Sau những di huấn tối hậu, Ngài nhập Niết-bàn. Chẳng bao lâu, vùng đất này xáp nhập vào Vương quốc Ma-kiệt-đà, đến thế kỷ XIII thì thật sự bị rơi vào quên lãng. Các di tích ở vùng này mới được minh định và phục hồi vào đầu thế kỷ XX.
Cũng như các đoàn hành hương khác khi đến Kushinagar; chúng tôi được Sư cô Trí Thuận, Trụ trì chùa Linh Sơn đón tiếp niềm nở và thân tình. Chúng tôi nghỉ trong khu nhà 2 tầng đầy đủ tiện nghi. Sau bữa cơm đầm ấm tại chùa, chúng tôi lắng nghe cái yên tĩnh về đêm tại vùng Câu-thi-na. Ðêm khuya, trăng hạ tuần chênh chếch sau những rặng cây. Một không khí trầm lắng vaø tĩnh mịch bao phủ không gian. Một nỗi buồn lặng lẽ, thấm sâu tận đáy lòng khi chúng tôi chợt nhìn thấy một cánh hoa rơi mà hình dung hoa Sa-la rơi rụng rải khắp thân Ðức Phật khi Ngài chuẩn bị nhập Niết-bàn. Trong tiếng khoùc của A Nan, Ðức Phật đã dạy rằng:
“Này A Nan, con đừng buồn và sầu khóc nữa. Như Lai đã từng dạy rằng tất cả chúng ta đều phải phân ly, cách biệt và xa lìa những gì chúng ta quý mến và ưa thích nhất. Này A Nan, con đã taïo nhiều phước báu, con sẽ sớm thanh lọc mọi ô nhiễm”.
Sáng sớm ngày 11.10, khi sương còn đọng trên từng kẽ lá, ông mặt trời vẫn còn ngủ quên trong khí trời hây hây lạnh thì chúng tôi đã y áo chỉnh tề lên đường chiêm baùi các Thánh tích tại Câu-thi-na. Quan trọng nhất là Ðại tháp Niết-bàn, nơi đánh dấu giờ phút Ðức Phật đi vào tịch mặc-Chân như. Tháp tọa lạc ngay sau Niết-bàn đường, sau một thời gian dài nằm trong tình trạng hoang tàn giơø đang được kiến thiết và xây dựng lại. Trong Niết-bàn đường, hình ảnh Ðức Từ Phụ nằm lặng yên trong tấm y vàng khiến chúng tôi khôn ngăn được dòng lệ cảm. Niềm xúc động cứ dâng trào như đang hòa nhập vào tâm trạng cuûa Ngài Huyền Trang:
“Phật tại thế thời ngã trầm luân
Kim đắc nhân thân Phật diệt độ
Áo não thử thân đa nghiệp chướng
Bất kiến Như Lai Kim sắc thân”.
Qua màn lệ, bỗng nghe tâm tư bồi hồi nhớ lại những nỗi đau của trần gian ngay giờ phút Ðức Như Lai xả báo thân:
“Lúc bấy giờ, đất đai chấn động khủng khiếp. Sấm trời vang động ở mười phương. Tất cả biển lớn đều dậy sóng lên cuồn cuộn đục ngầu. Giếng, ao, sông, rạch, suối, mương thảy đều nghiêng ngửa khô cạn. Khắp cả tam giới đều vắng lặng tối tăm. Cõi này lúc ấy đất trời mờ tối, giông bão khởi lên. Gió thổi, cát bay và cây cối ngã đầy trên mặt đất”
(Kinh Ðại Bát Niết Bàn)
Tượng Phật Niết-bàn là một kiệt tác của nghệ thuật gia Haribhadra thuộc triều đại Kumar Gupta (413-455). Bức tượng dài 6m với tất cả những tướng tốt và vẻ đẹp tuyệt vời. Sau đó, Kushinagar phải chịu đựng cảnh chiến tranh vào thế kỷ XIII. Tất cả chùa tháp và cả tượng Phật Niết-bàn đều bị phá tan và vùi lấp dưới đống gạch vụn. Mãi đến thế kỷ XIV nhà khảo cổ học Cuningham đã tìm thấy nền chùa xưa và pho tượng Phật Niết-bàn bể nát. Pho tượng được phục hồi và đaët tại vị trí nguyên thủy của nó. Chung quanh Ðại tháp Niết-bàn là một khu vực khảo cổ rộng lớn gồm rất nhiều nền móng của tự viện và đền tháp khi xưa.
Tháp trà-tỳ nhục thân Ðức Phật ngày xưa chắc hẳn là một ngôi tháp vô cùng vĩ đại nhưng hơn hai thiên kỷ trôi qua, tháp giờ đây chỉ còn là một mô gạch khổng lồ bởi sức tàn phá của thời gian và chiến tranh. Khi bước vào cổng tháp, ai cũng nghe tim mình se thắt lại, chúng tôi thành kính kinh hành. Tiếng niệm: “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” vang lên trong buổi sớm nghe như tiếng tha thiết gọi cha mang trọn niềm thương nhớ. Những hàng liễu xanh quanh tháp rũ mình buồn thổn thức.
Trên đường trở về chùa Linh Sơn, chúng tôi đi ngang đền thờ “Thái tử mất” do Hoàng tộc giòng họ Thích xây dựng để tưởng nhớ Thái tử Sĩ Ðạt Ta. Lòng chúng tôi bồi hồi xúc cảm khi ghé vào viếng thăm ngôi chùa nhỏ, nơi kỷ niệm Ngài A Nan dâng nước cho Phật uống lần cuối cùng. Chúng tôi cũng vào thăm chùa Nhật Bản được xây dựng theo hình bát úp giống như Ðại tháp Niết-bàn. Chùa Thái Lan rất thoáng và nghệ thuật với những mái ngói xanh truyền thống.
Trở về chùa Linh Sơn lúc mặt trời đứng bóng, chúng tôi dùng bữa cơm trưa thắm tình đạo vị trước khi rời Câu-thi-na. Sư cô Trí Thuận đã kể cho chúng tôi nghe lịch sử chùa Linh Sơn: Ðây là một ngôi chùa Trung Hoa được hiến cúng cho Giáo hội Linh Sơn từ năm 1956. Trong hoàn cảnh vất vả và thiếu thốn, Sư cô Trí Thuận đã phát tâm ở lại đây từ năm 1989. Sau hai năm ròng rã, Linh Sơn tự được sửa sang toàn bộ với một khu lưu xá hai tầng đầy đủ tiện nghi. Giờ đây, Sư cô đang trùng tu lại Chánh điện và có kế hoạch xây dựng trường cho học sinh nghèo. Khu đất sau chùa được thiết kế theo mô hình Tứ Ðộng Tâm, có chùa Một Cột ở giữa để khắc ghi hình ảnh Phật giáo Việt Nam giữa vùng đất Câu-thi-na.
Thầy Giác Tín thay mặt đoàn nói lời tri ân Sư cô Trụ trì đã hết lòng giúp đỡ đoàn trong hai ngày qua. Chúng tôi không thể nào quên những Phật tử người Ấn, đệ tử của Sư cô Trí Thuận. Mỗi người được mang moät cái tên Việt Nam như Minh Ấn, Minh Ðộ... Họ đã có mặt tại chùa từ khi Sư cô Trí Thuận đặt chân đến vùng đất Thánh này.
Chiều ngày 11.10, chúng tôi lên đường hướng về Lumbini. Ðến 3 giờ chiều thì tới biên giới Nepal. Xe đưa chúng tôi về chùa Việt Nam Phật quốc lúc 8 giờ 30 tối. Sau khi ổn định phòng ốc để nghỉ ngơi, ban hậu cần đã lo xong bữa ăn tối trong nửa giờ. Nhà bếp và phòng ăn tại chùa Việt Nam rộng rãi và đầy đủ tiện nghi. Lại một lần nữa, chúng tôi cảm thấy ấm áp và dễ chịu khi được về chùa Việt Nam sau một ngày đường mệt mỏi. Chương trình ngày mai là kinh thành Ca-tỳ-la-vệ và vườn ngự uyển Lâm-tỳ-ni. Những nơi này không biết bây giờ ra sao mà thuở xa xưa đã có một thời vàng son nâng bước chân Maya Hoàng hậu, để rồi bậc Thầy của Trời, người đã giáng trần nơi đây. Chúng tôi thiếp đi trong nỗi niềm nao nức:
“Ðêm nay nằm đếm sao xa,
Lòng nao nao nhớ Maya mẫu hoaøng
Sáu ngà voi nhập, thai mang
Sanh ra Thái tử vẻ vang đất trời”.
Sáng 12.10, từ trên tầng cao của Chánh điện đang xây cất, chúng tôi có thể thấy mặt trời đang lên từ dãy Hy Mã Lạp Sơn. Màn sương sớm đã làm cho vẻ rực rơõ của bình minh mang dáng dấp của cô thiếu nữ dịu dàng. Vẻ đẹp khiêm cung đó chỉ hiện hữu trong khoảnh khắc thôi, ánh mặt trời đã làm biến mất các giọt sương long lanh, cả vùng trời Lumbini ngập tràn trong ánh nắng ban mai.
Sau bữa điểm tâm, đoàn quay quần quanh Thượng tọa Huyền Diệu. Câu chuyện của Thầy bắt đầu với cái tên “Người Việt Nam và Lâm Tỳ Ni”. Bằng một cách nói chuyện bình dị nhưng đầy sức lôi cuốn, Thầy đã kể cho chúng tôi nghe về Lâm Tỳ Ni, một Thánh địa Phật giáo quan trọng nhưng nhiều năm tháng qua đã rơi vào quên lãng, nằm dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nay thuộc vương quốc Nepal. Mãi đến năm 1979 tại Ðại hội Phật giáo thế giới tại Nhật Bản, vaán đề Lâm Tỳ Ni thật sự là vấn đề chung của Phật giáo thế giới.
Gần 20 năm trôi qua, chùa chiền của nhiều nước lần lượt được xây dựng quanh khu Thánh tích mà Thượng tọa là một trong những vị có nhiều công lao trong việc bảo vệ và phát triển vùng Thánh địa này. Sau khi xây dựng xong ngôi chùa Việt Nam tại Bồ Ðề Ðạo Tràng, Thầy đã đến đây chiêm bái và đảnh lễ. Thấy cảnh hoang tàn nơi Thánh địa; Thầy phát tâm ở lại nơi đây khôi phục vaø xây dựng Thánh địa, đặc biệt là xây cất chùa Việt Nam Phật Quốc. Chánh điện chùa này có một tầm cao mà đứng ở vị trí này có thể quan sát toàn khu vực Lumbini. Thầy giải thích rằng: những mái chùa Việt Nam thường thấp và nằm ẩn mình sau những tàng cây, nhưng sau bao năm phải sống với kiếp người nô lệ, người Việt Nam ngày nay cần thể hiện tinh thần vươn lên mạnh mẽ và tự tin vào chính mình. Do vậy, mái chùa vươn đến tầm cao đó như thế đưùng hiên ngang của dân tộc Việt Nam trong cộng đồng nhân loại.
Dù rất bận rộn, Thầy vẫn giành thời gian chăm sóc cây cỏ, chim muông. Thầy cho biết trong khu vực chùa đã có 135 loại cây trái khác nhau, ngoài các loại cây lấy giống từ Việt Nam còn có các loại cây liên quan đến đời sống Ðức Phật như cây: Sesamta, amaltas, nimpa... Ðây là những loại cây vừa tốt cho môi sinh vừa có giá trị kinh tế cao. Bên cạnh đó, Thầy còn để tâm nghiên cứu các loài chim trong khu Thánh địa này. Thầy nói: “Lâm Tỳ Ni đất lành chim đậu với 140 loài chim khác nhau. Tôi biết rõ tiếng kêu và cách sống của từng loài. Ðặc biệt là đối với giống Hồng hạc không chỉ vì chúng là loài chim quý hiếm mà cách sống của loài chim này có rất nhiều điều cho chúng ta học theo: rất quý phái nhưng vẫn siêng năng, chăm chỉ, rất tận tụy, ân cần và chung thủy với nhau, rất thông minh và kỹ lưỡng từ cách làm tổ, aáp trứng và phân công đời sống trong gia đình loài Hồng hạc này”.
Là một người yêu Ðạo pháp, yêu dân tộc, Thầy đã làm cho chúng tôi cảm động vô ngần khi được biết nơi nghỉ ngơi và làm việc của Thầy chỉ là một mái nhà tranh ở góc vườn giữa hoa lá, cây cỏ, chim muông... Sau bao năm bôn ba xứ người, bài học quý giá của Thầy là: tiếp thu những tinh hoa nơi xứ người, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa cũng như phẩm chất cao đẹp của người Việt Nam. Với cả một trái tim nhiệt huyết hướng về Tổ quốc, Thầy nói: “Là người Việt Nam hãy làm một cái gì đó cho người Việt Nam, điều đó tôi rất biết ơn”.
Sau buổi nói chuyện với Thầy, chúng tôi xin phép đi thăm viếng kinh thành Ca Tỳ La Vệ. Từ Lâm Tỳ Ni đến Ca Tỳ La Vệ khoảng 20 km nhưng xe chạy hơn một giờ đồng hồ vì đoạn đường quá xấu. Trong đám bụi mịt mù dưới ánh nắng chói chang, mọi người vẫn nhận thấy hai bên đường trở về quê hương của Ðức Phật là những cánh đồng lúa xanh nối tiếp đến tận chân trời xen lẫn màu vàng rực rỡ của bông cải trải dài như tấm thảm mượt mà. Thành Ca Tỳ La Vệ thuở xa xưa từng là vương quốc thịnh vượng. Thái tử Sĩ Ðạt Ta đã sống nơi đây một thời gian dài suốt hai mươi chín năm trường. Trong thời gian ấy, dòng họ Sakya đã đem đến cho Thái tử những ngày tháng hoàn toàn vương giả. Những vị Thầy bậc nhất đã giúp Thái tử đạt đến sự laøu thông văn học và võ nghệ để xứng đáng một vị vua trị vì thiên hạ trong tương lai. Kinh thành Ca Tỳ La Vệ đầy phước báo nhơn thiên nhưng không tránh khỏi thảm họa bị tiêu diệt bởi Thái tử Tỳ Lưu Ly, con trai vua Ba Tư Nặc. Máu giòng họ Thích đã nhuộm đỏ thành Ca Tỳ La Vệ và từ đó kinh thành trở nên hoang phế.
Ngày nay, đến với Ca Tỳ La Vệ chúng tôi còn nhìn thấy vết tích bốn cửa thành, nơi ngày xưa Thái tử đã ra ngoài để thấy cảnh khổ trần gian. Ðặc biệt là cửa thành phía Ðông còn tấm bảng ghi rõ dòng chữ: “Cửa Ðông, nơi Thái tử ra khỏi kinh thành tìm đường xuất gia”. Trong cảnh hoang tàn của khu Thánh tích, chúng tôi ngồi lại bên nhau trên những nền gạch cũ, hình dung lại một thời hoàng kim của ngày xưa:
“Còn đâu thành quách năm nào,
Nhìn nền gạch đỏ, lòng nao nao buồn...”
Trên đường về, chúng tôi đến viếng trụ đá Niglihawa do A Dục vương xây dựng để kỷ niệm nơi Ðản sanh cuûa Ðức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni. Như Ðức Phật Thích Ca đã thuyết giảng trong Kinh A Hàm: Ấn Ðộ chính là nơi Ðản sanh, Tu tập, Thành đạo và Chuyển Pháp luân của bảy đời Chư Phật.
Không xa lắm từ kinh thành Ca Tỳ La Vệ, chúng tôi lại được nhìn thấy một khu rừng nhỏ, giữa khu rừng là một hồ nước mang tên Lambu Sagar. Chính nơi đây Thái tử Tỳ Lưu Ly, vua của nước Kosala đã tàn sát giòng họ Thích. Buổi chiều nay chúng tôi được đến Lâm Tỳ Ni, một trong những Thánh tích Phật giáo bị bỏ hoang trong nhiều năm tháng. Thời vua Tịnh phạn, vườn Lâm Tỳ Ni là một khu vườn đầy hoa thơm cỏ lạ. Hoàng hậu Maya trên đường về quê mẹ để chuẩn bị lâm bồn đã ghé lại nơi đây nghỉ chân. Dưới tàng cây Vô ưu gió đưa hương hoa ngào ngạt, bà đã hạ sanh Thái tử. Những búp sen hé nở đón bước chân Ngài, bậc Thầy của Nhân thiên, một sự kiện chưa từng có trên đời. Bao nhiêu điều nhiệm mầu kỳ diệu đã xuất hiện trong giờ phút ấy. Trên cao chư thiên trỗi nhạc trời, trần gian ngàn hoa đua nở với bao hương thơm tỏa ngát... Hồ nước Hoàng hậu tắm trước khi sanh Thái tử giờ vẫn còn đó. Nước hồ vào mùa thu trong mát in bóng trời xanh. Vua A Dục đã từng đến viếng nơi đây, vua cho dựng bốn ngọn tháp và một trụ đá để kỷ niệm Ðức Phật đản sanh. Nhưng tiếc thay trụ đá cũng bị gãy ngang, trên trụ đá vẫn còn nguyên hàng chữ:
“Sau hai mươi năm lên ngôi, vua Priyadarsi (hiệu của vua A Dục) người con yêu mến của chư Thiên đã thân hành viếng thăm và cúng dường cũng như lễ bái nơi đây, vì Ðức Phật, Thánh nhân của giòng họ Thích đã được sanh ra nơi đây. Nhân dân được miễn thuế moät phần tám”.
Chúng tôi y hậu chỉnh tề đến đảnh lễ trụ đá kỷ niệm sự kiện mầu nhiệm thiêng liêng. Nhiều Thầy, Cô thỉnh đất Lâm Tỳ Ni để đem về Việt Nam với tất cả lòng thành kính. Cây Bồ-đề ở đây cũng đã nhiều tuổi, tàng cây tỏa bóng mát cả một vùng rộng lớn, buông mình soi bóng xuống mặt hồ lấp lánh nắng chiều. Sau đó, chúng tôi đến viếng đền thờ Ma Gia Hoàng hậu. Trong đền là bức phù điêu tả cảnh Hoàng hậu hạ sanh Thái tử vơùi những nét khắc nổi. Chúng tôi trở về chùa Việt Nam khi ráng chiều vẫn còn vương từng vạt nắng trên những hàng cây.
Sáng 13.10, Thầy Huyền Diệu hướng dẫn đoàn đi xem Hồng hạc, thăm viếng các chùa quanh khu vực thuộc Thánh địa Lâm Tỳ Ni. Một thư viện hiện đại và quy mô do người Nhật đầu tư xây cất nay đã hoàn thành. Có thể nói Lâm Tỳ Ni ngày nay trên đà phát triển tốt đẹp, xứng đáng là một Thánh địa quan trọng của Phật giáo.
Sáng 14.10, đoàn lên đường đi Kathmandu. Xe ra khỏi Thánh địa, chúng tôi nhìn những hàng cây lá nhỏ giăng đầy sương trắng, xa xa là dãy Hy-mã-lạp sơn quanh năm tuyết phủ. Phong cảnh hữu tình đã đón nhận sự đản sanh của Bồ tát Hộ Minh trong kiếp sau cùng trước khi đắc chứng quả vị Phật:
“Hy hữu ngàn năm nở Ưu Ðàm
Là bậc Thánh nhân giáng cõi phàm
Từ bi thị hiện bày phương tiện
Sáng soi tam giới độ mê tân”.
Trên đường đi Kathmandu, sự có mặt của Thầy Huyền Diệu với những câu chuyện đạo ý nghĩa thật vui, khiến chúng tôi quên đi mệt nhọc. Cảnh hai bên đường rất đẹp với một bên là đồi núi, một bên là dòng suối trong vắt uốn mình vài mươi kilometter. Chúng tôi đến Kathmandu, thủ đô của Nepal vào lúc 4 giờ chiều. Ðây là một thành phố nhỏ nhưng đã để lại cho chúng tôi nhiều ấn tượng tốt về môi trường, khí hậu, con người. Những ngày ở đây, đoàn dạo chơi thành phố, ăn cơm ở các nhà haøng, đi mua sắm linh tinh, nhất là ba-lô Nepal đẹp, rẻ và đủ màu sắc...
Sau ba ngày ở Kathman- du, đoàn tiếp tục lên đường đi Pokhra, một thành phố núi xinh đẹp. Từ thành phố này chúng tôi có thể nhìn thấy những đỉnh núi tuyết lấp lánh ánh bạc của dãy Hy-mã-lạp sơn. Tất cả mọi người đã leo lên đỉnh cao nhất thị trấn này. Ðoàn xuống núi lúc 12 giờ trưa, sau đó thuê thuyền dạo chơi trên hồ Pokhra. 2 giờ chiều xe bắt đầu lăn bánh, đưa chúng toâi trở về Lumbini Việt Nam Phật Quốc tự. Bữa cơm tối muộn màng lúc 10 giờ đêm vẫn rộn lên tiếng cười hồn nhiên, vui vẻ của Ban hậu cần và Ban hành đường.
Sáng 18.10, sau bữa điểm tâm, đoàn lên đường thẳng hướng Sravatthi (Xá Vệ quốc). Ðây cũng là một trong những nơi từng lưu bóng Ðấng Từ Tôn trong một thời gian rất dài. Như các kinh thành mà chúng tôi đã đi qua, thành Xá Vệ chẳng còn chi để chứng tỏ một thời vàng son oanh liệt ngoài một số di tích Phật giáo còn sót lại. Chúng tôi đến thăm Kỳ Viên tinh xá (Jetavana) hay là vườn của ông Cấp Cô Ðộc. Ðây vốn là khu hoa viên của Thái tử Kỳ Ðà được ông Cấp Cô Ðộc mua lại bằng số vàng lát đầy cả khu hoa viên. Ðức phật biết rằng Xá Vệ là nơi có nhiều nhơn duyên hy hữu trong những năm hoằng pháp độ sanh nên Ngài đã chấp nhận sự thỉnh cầu xin được cúng dường Tinh xá của ông Cấp Cô Ðộc. Nơi đây, Ðức Phật đã thuyết giảng và giáo hóa vua Ba Tư Nặc, một vị vua anh minh và nhân đức. Ngài trải qua 24 mùa An cư Kiết hạ tại Kỳ Viên tinh xá và độ vô số hàng trời người. Phần lớn Kinh điển Ðại thừa được Ngài thuyết giảng nơi đây như: Kinh A Di Ðà, Kinh Kim Cang, Kinh Di Lặc... và thuyết giảng rất nhiều kinh trong bộ A Hàm. Trong Kỳ Viên tinh xá còn rất nhiều nền tháp, chùa chiền, đặc biệt là Hương thất của Phật (Gandaruti-Vihara) nhưng giờ đây cũng chỉ còn một nền gạch trơ trọi rêu phong. Ðặc biệt là cây Bồ-đề do chính tay Ngài A Nan trồng trong khuôn viên Tinh xá để chư Tăng chiêm bái mỗi khi nhớ Ðức Phật.
Cách Kỳ Viên tinh xá khoảng 2 km, là tháp kỷ niệm Ngài Angulimala (Vô Não) được Ðức Phật cảm hóa ngay khi ông vừa rút gươm ra khỏi vỏ để hại Phật, một cơ hội cuối cùng để kết nên vòng hoa bằng một ngàn ngón tay. Sau thời gian tu tập tinh tấn, Ngài đắc quả A-la-hán. Về sau, mỗi khi nhắc đến Ðức Phật, Ðại đức Angulimala thường nói:
“Có những sanh vật bị khuất phục bằng vũ lực, bằng cù móc hay bằng roi vọt. Nhưng ta đây được thuần hóa do một nhân vật không cần đến gậy gộc, cũng không dùng gươm đao”. (Psalms of the Brethren, p.323)
Gần bên tháp kỷ niệm Vô Não là tháp đánh dấu nền nhà xưa của Trưởng giả Cấp Cô Ðộc. Chúng tôi còn đến một ngọn đồi nhỏ, nơi Ðức Phật thị hiện thần thông với nhóm Lục sư ngoại đạo.
Ngày 19.10, sau khi thăm Xaù Vệ Quốc, chúng tôi đến địa điểm hành hương cuối cùng là Samkasya, thuộc tiểu bang Uttar Pradesh. Chúng tôi đi qua thành phố Lucnow, thủ phủ của tiểu bang này. Sau bao ngày hành hương, chúng tôi nhận thấy Lucknow là một thành phố đẹp nhất với những cây xanh rợp bóng suốt hai bên đường dài hàng trăm kilomette. Ðoàn đến Samkasya, một thánh tích lưu dấu nơi Ðức Phật trở lại trần gian từ cung trời Ðao Lợi sau khi đã giảng pháp cho chư Thiên và Hoàng Hậu Ma Gia. Nơi đây, Vua A Dục cho xây trụ đá để tưởng nhớ sự kiện lịch sử mầu nhiệm nầy. Ðức Phật đã về lại Samkasya chấm dứt hành trình thăm Mẹ từ thiên cung, thì chuyến hành hương “Thu về nguồn” của chúng tôi cũng keát thúc.
Chỉ trong một thời gian ngắn chúng tôi không thể lần lại hết những dấu tích mà Ðức Phật đã đi qua trong 80 năm thị hiện ở đời. Với lòng từ bi thương tưởng chúng sanh, với hạnh lợi tha không mệt mỏi vì hạnh phúc cho số đông, bước chân Ngài vân du không ngừng nghỉ xuyên qua nhiều thành phố, thị trấn, làng mạc... trải dài khắp lưu vực sông Hằng. Ðến với Ngài, chúng ta càng hiểu về Ngài nhiều hơn và tự đáy lòng dâng lên một niềm kính phục vô biên. Mỗi vách đá, mỗi nền gạch, mỗi nhánh cây hay mỗi dòng nước chảy... tất cả như đồng vọng lên thanh âm xưng tán Như Lai. Mỗi dấu tích là một điểm son chói lọi trong lịch sử Phật giáo đã khẳng định rằng: Ðưùc Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, Cha lành chung bốn loài hoàn toàn không phải là một bậc Thánh xuất hiện do mặc khải thần linh hay do sự tưởng tượng vẽ vời trong hư cấu của con người mà Ngài thật sự là một đấng Ðại Giác được lịch sử công nhận. Diễm phúc thay! Chúng ta là những người được mặc áo Như Lai, được sống theo hạnh lành để hướng đến giải thoát như Ngài.
Những ngày chiêm bái Thánh tích đã kết thúc, “Thu về nguồn” để lại cho chúng tôi bao kỷ niệm khó phai. Chúng tôi đã trải qua những giây phút tuyệt vời trong tình huynh đệ, cùng san xẻ bao nỗi vui, buồn hay khó khăn, vất vả trong những ngày về lại quê xưa. Tùy theo cơ duyên, tầng bậc rung cảm nơi moãi người khác nhau nhưng khi dừng chân nơi Thánh tích trong chúng tôi ai cũng thấm nhuần niềm hỷ lạc vô biên khi đã thực hiện niềm mơ ước hằng mong mỏi bấy lâu.
Trở về Delhi với những bảo vật lưu niệm: tượng Phật, lá Bồ đeà hay nắm đất khô đều gợi lên trong chúng tôi hình ảnh và lời giáo huấn của ngài:
“Nầy các Tỳ-kheo đừng nghĩ rằng sau khi ta nhập diệt các ngươi không còn biết nương tựa vào ai. Chính Giới Pháp ta đã chỉ dạy cho các ngươi sẽ là nơi nương tựa, các pháp Hữu vi đều vô thường. Hãy tinh tấn lên để giải thoát”.
Hồi ký này không thể ghi hết được hành trình dài đầy ý nghĩa, chỉ mong sao nó sẽ giúp chúng ta gợi nhớ về một chuyến hành hương trên đaát Phật. Gấp trang hồi ký lại nhưng dòng tâm thức của chúng ta vẫn mãi mãi xuôi chảy về nguồn, về với thể tánh Chơn như:
“Từ Tôn in vết thần chân lý
Sáng rọi thanh xuân vạn cõi lòng”.