---o0o---
Thăm lại vườn xưa
---o0o---
YẾU TÍNH HIỆN THỰC Ở BÀI KỆ SỐ 38
TRONG KINH PHÁP CÚ
Thích Giác Khang
---o0o---
Thành tựu một vấn đề gì, điều quan trọng nhất, căn bản nhất đó chính là nội tâm. Khi nói đến nội tâm, tức nói đến cái gì hết sức tế nhị. Do đó, với sự lặng lẽ, nhẹ nhàng và sự chú tâm cao độ, ta mới thấy được sự biến chuyển của tâm hết sức mau lẹ; Với cái nhìn tinh tế, ta mới có thể phát hiện những gì ẩn chứa bên trong sự vật đơn thuần. Sự làm việc của các nhà văn, nhà nghệ thuật, nhà khoa học cũng thế. Những phát minh có được là do tập trung liên tục trong những tháng năm. Những suy tư, những tập trung như thế, dồn cái “thắc mắc” nóng bỏng vào sâu trong “miền” bí hiểm của tâm thức. Ngay các vị Thiền sư cũng phải có câu đeå khởi nghi tình. Chẳng hạn: “Sanh hà tùng lai, tử hà quy khứ?” Câu này, không thể dùng lý trí, ngôn ngữ để luận bàn, giải quyết, mà là phải toàn bộ thân tâm tập trung đến cao độ trong lúc khởi nghi. Ðến một lúc nào đó, chỉ một khoảnh khắc quan trọng, tâm thức sẽ bùng nổ, mà người ta thường gọi là “Ý THỨC BÙNG VỠ” thì đề án sẽ được giải quyết một cách toàn vẹn, vấn đề sẽ được định hình hết sức rõ nét. Ở đây, ta thấy đời sống “Chaùnh niệm tỉnh giác” hết sức quan trọng. Vì rằng, nó là mạch máu sống để đi vào nguồn đạo thực thể. Giờ đây, chúng ta hãy chú tâm theo dõi bài kệ Pháp Cú số 38 này để tìm ý hướng thâm nhập vào dòng đạo.
“Ai tâm không an trú,
Không biết Chân Diệu Pháp
Tịnh tín bị rúng động
Trí tuệ không viên thành”
Trên thực tế, muốn đi vào đạo, ta không thể dùng lý trí để luận bàn, mà phải thấy được dấu vết của tâm, còn không thì chỉ có lạc vào “mê hồn trận” của vọng tưởng mà thôi. Vì mục tiêu căn bản của người tu Phật là phải nhận chân được “sự thật”. Nếu không, dù chúng ta có được thế lực, tài sản, thông minh đi nữa cũng sẽ chỉ là cái vỏ trống rỗng. Một caùch cụ thể, muốn biết được rừng cây xanh mát mẻ, thanh tịnh như thế nào, chúng ta phải đi vào đó và “an trú” trong một thời gian, mới cảm nhận được sự mát mẻ kia. Vì thế, sự “an trú” rất quan trọng để thâm nhập “Diệu Pháp”, như hai câu kệ đầu đã nói:
“Ai tâm không an trú
Không biết Chân Diệu Pháp”.
Vấn đề an trú:
Trong đời sống xã hội, gia đình có quá nhiều bất ổn về tâm lý cũng như về ngoại cảnh. Bởi vì, sự biến động làm cho con ngươøi bị cuốn theo dòng thác của ngoại cảnh. Và như thế, chúng ta muốn tìm một sự trú ẩn nào đó, khả dĩ phục hồi lại chính con người của mình. “Con người” ở đây muốn nói là sự lành mạnh thân và tâm. Nói như thế là nói veà ý nghĩa “an trú”. An là yên hay bình an, nghĩa là một tâm lý, cơ thể hay một cảnh trí không bị xáo động quá mức; Còn trú là ở hay dừng lại. Cũng như một con thuyền ra cửa biển gặp bão tố, sóng to. Con thuyền quay lại “vịnh” để trú sóng, bão. Như vậy, “an trú” có nghĩa là ở nơi bình an, ở nơi an toàn thân tâm, không bị những ngọn sóng hay bão tố của cuộc đời vùi dập.
Phương pháp đưa đến an trú:
Muốn có được kết quả tốt phải cần đến phương pháp. Nếu không có phương pháp thì vấn đề mà chúng ta thực hiện sẽ bị thất bại. Chúng ta thường nghe nói: “Phương pháp làm việc”, “Phương pháp học tập”, “Phương pháp tu tập”... Như vậy, muốn “an trú” phải cần đến phương pháp.
Tâm của chúng ta thường là “Thất tán – phân tán – tán loạn”. Trong kinh Pháp Cú cho biết: “Cái tâm đi rong chơi thật xa, lang thang cô độc, không hình hài, nằm ẩn ngụ trong hang sâu. Kẻ nào điều phục tâm ấy thì khỏi bị ma trói buộc”. Ở đây, chỉ nói tới rộn ràng, giao động, chưa nói tới loạn tâm.
Chúng ta phải hiểu rằng: tất cả những bi đát, tai nạn, sầu khổ trên cõi thế đều do không định tâm, hay tâm không an trú vững chắc. Hãy nghe nỗi đau đớn không cùng của thi sĩ Hàn Mặc Tử:
“Cứ để ta ngất ngư trên vũng huyết,
Trải niềm đau trên mảnh đất mong manh,
Ðừng nắm lại nguồn thơ ta đang viết,
Cả lòng ta trong mớ chữ rung rinh”
“Lòng” chính là tâm, trong chữ “rung rinh”. Tức là tâm đã rung rinh, ý tưởng đã rung rinh (vì chữ để biểu hiện cho ý tưởng). Cho nên, sẽ gánh chịu nghiệt ngã nhất của trần đời “trên vũng huyết”.
Khi hiểu được như thế, chúng ta mới có thể áp dụng pháp tu đươïc vận hành trong yếu tính của chúng ta và yếu tính của cuộc đời. Có nghĩa là “Pháp” mà chúng ta tu được đặt trong mức độ Chánh kiến, Chánh tư duy để thâm nhập, để dừng lại vọng tưởng. Từ đó, tâm được an trú trên pháp là do vận dụng được phương pháp Thiền hay niệm Phật vậy. Do đó, tâm không còn rong chơi nẻo xa, mà chính là tâm có mặt toàn vẹn trên sự sống hiện tại, có thể gọi là được “thắp sáng hiện hữu”. Khi hiện hữu, chúng ta thaép sáng bằng “Pháp”, thì chúng ta sẽ thoát khỏi những tai nạn, những bất trắc trên cuộc đời.
Từ an trú – Diệu Pháp được hiển lộ:
Nếu tâm an trú trên văn học thì sẽ thành tựu về văn học; Nếu tâm an trú trên khoa học thì sẽ thành tựu về khoa học; Nếu tâm an trú trên Pháp thì sẽ thành tựu về Pháp... Nói như thế để thấy rằng tâm là một cái gì đó diệu dụng không cùng. Tuy nhiên, sự an trú nói trên còn nằm trên mặt tướng của các pháp, mặc dù có đi vào ít nhiều chiều sâu. Hơn nữa, những gì mà con người đạt được trong các bộ môn, đều nằm trên ý nghĩa an trú. Ý nghĩa an trú hết sức vĩ đại. An trú ở vần kệ Pháp Cú muốn nói là an trú trên Diệu Pháp là tổng thể của các pháp có một sự liên hệ ngầm trong cảnh giới mầu nhiệm của nó. Khi an trú trên pháp, lúc ấy Tâm – Diệu Pháp là nhất thể. Tuy một nhưng là tất cả, tuy tất cả nhưng là một. Thấu rõ được một pháp là thaáu rõ tất cả pháp, hay ngược lại.
Chúng ta cần phải có sự siêng năng tinh thần để làm cho sự an trú trên pháp trở thành hiện thực trong mỗi khắc thời gian, linh động trong tự thể thâm sâu, miên viễn trong dòng sống bất tuyệt. Có như thế, chúng ta mới phát hiện được Diệu Pháp ngay nơi chúng ta cũng như ở ngoại giới để liên tục chuyển y, thanh lọc mọi xung động ô nhiễm của ý thức phân biệt, nhằm xóa đi những giới hạn do tâm tạo. Và, sưï an trú này là một niềm bình an chắc thật hơn tất cả những quân bình về kinh tế – xã hội – bảo vệ... Mục đích của an trú là để cho Diệu Pháp xuất hiện vậy.
Ðây là con đường của người học đạo – Con đường đi của người tìm sự bình an tuyệt đối. Con đường thông thường của thế nhân đi, chỉ an trú trên tướng trạng của các pháp. Thêm vào đó, do có sự chia xẻ, do ý thức khủng hoảng điều động, nên tâm lý cũng như sự sống rơi vào nơi bị động, rơi vào bế tắc không lối thoát. Vì rằng, chúng ta không có được an trú, không có Chân Diệu Pháp. Tiếp theo hai câu kệ nữa cho biết:
“Tịnh tín bị rúng động
Trí huệ không viên thành”.
Tịnh tín ở đây là niềm tin thanh tịnh. Tức là niềm tin có Chánh kiến, tin vào con đường giải thoát, tin vào ánh sáng trí tuệ, nên có hành động trong nhận thức tu tập, đẩy sự vật ra trước ánh sáng nhằm biểu thị nguồn gốc sự vật, biểu lộ các pháp “Như”, biểu thị “thực tại như là thực tại”.
Ở đây, nói lên tác động của niềm tin Chánh kiến. Nếu không hiểu được như thế, niềm tin con người sẽ bị chôn sâu dưới lớp mê mờ. Vì rằng có rất nhiều loại niềm tin không đưa đến đâu. Ðó là chưa nói đến niềm tin đặt sai sẽ rơi vào tà kiến, Hơn nữa, khi sống với niềm tin không có Chánh kiến, tâm trí con người ta càng lúc càng sa lầy vào bóng tối, vì do không được hướng dẫn đúng mức trên nẻo Ðạo của chân trời rộng mở. Từ sự sai lầm này sẽ kéo với nhau trong chuỗi dài lạc lối vô vọng. Tâm trí sẽ vô dụng trên đường an lạc – giải thoát. Vì đặc tính của bóng tối là căn bản của tất cả khổ đau truyền kiếp.
Trình tự giữa hành động và tịnh tín:
Niềm tin thanh tịnh càng ngày càng lớn rộng là do hành động trên trình tự của pháp học và pháp hành. Sự hiện hữu của con người, của niềm tin là ở chỗ đó. Cuộc sống đạo có được vận mạng diên trường luaân lưu trong thế giới này là để phổ cập an lạc đến nhiều góc độ xã hội và tâm lý con người.
Chúng ta thường nghe nói có những dạng hành động như thế này: “Hành động thông minh – Hành động theo lẽ phải – Hành động dũng cảm – Hành động cao cả...” Nói chung là hành động để đi đến mục đích của nó. Cũng như thế, hành động của chúng ta đã tiêu hóa được pháp học và pháp hành, là hành động nuôi dưỡng niềm tin Chánh kiến, nuôi dưỡng niềm tin trong sáng cho cuộc đời, là hành động vì ích lợi cho tất cả sự sống chung, nuôi dưỡng mầm giải thoát trong ta và trong mọi người, nuôi dưỡng và làm phát khởi dòng mạch trí tuệ từ thế hệ này sang thế hệ khác, không phải là hành động đưa đến máu và nước mắt, phân ly hay phá hủy văn hóa nhân loại.
Khi hành động là để cho niềm tin được hiện hành, thì ngược lại, niềm tin lại huân dưỡng cho hành động. Vì, niềm tin này đã được đặt trên pháp hành như đã nói. Trình tự giữa hành động và tịnh tín là một trình tự hỗ tác cho nhau, đưa đến sự nhất quán cho ý thức, cũng như con đường đi tới. Trong ý nghĩa này, con người mới có thể đối diện với những chướng ngại ở cảnh cũng như ở tâm có thể xảy ra trên đường đi mà vượt qua dễ dàng.
Nói tóm lại, mấu chốt bài kệ này nằm ở chỗ: An trú – Diệu Pháp – Tịnh tín – Trí tuệ. Nhưng, thực hiện được trong đời sống thực tại là do chính chúng ta – do con người. Vì chúng ta đang sống, đang hiện thực nên mới có thể thực hiện. Vì thực hiện là hiện thực ngay nơi thân – tâm – suy tư – tư tưởng. Con người có đủ tất cả những yếu tính này. Cho nên, thái độ chúng ta là thaùi độ dứt khoát để lên đường trong buổi bình minh tinh khôi của vũ trụ, lên đường cùng với ánh triêu dương của chân lý. Ðây là sứ mạng của con người đang tạm trú trên cuộc đời này phải thực hiện cho xong.
---o0o---
Mục lục |
Xem bài: Mái trường dấu yêu – Như Tâm (thơ)
---o0o---