Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Phật Học Cơ Bản


..... ... .


KIẾN THỨC
CĂN BẢN PHẬT GIÁO

TT.Thích Bảo Lạc
--- o0o ---

CHƯƠNG 4

SINH HOẠT

1- Cầu-an 
 2- Cầu-siêu 
 3- Dâng sớ điệp 
 4- Phóng sanh 
 5- Phóng đăng 
 6- Rước vong 
 7- Hộ niệm 
 8- Tín-chủ và tang-chủ 
 9- Thiện-nam tín-nữ 
10- Công-quả 
11- Niệm Phật 
12- Ăn chay 
13- Tràng hạt 
14- Đàn-gia và đàn-việt 
15- Chuông 
16- Nhương sao giải hạn 
17- An vị Phật 
18- Bình bát 
19- Chuông trống Bát-nhã 
20- Mõ 
21- Bổn đạo 
22- Cúng-dường 
23- Bố-thí 
24- Chẩn-tế 
25- Trí-tự
26- Trụ trì, tọa chủ, viện chủ 
27- Cúng ngọ 
28- Công-phu 
29- Mộc-dục 
30- Thí thực cô-hồn 
31- Lãnh chúng 
32- Vận-thủy 
33- Ban sài 
34- Trực nhật 
35- Tri viên 
36- Tri liêu 
37-  Hành-đường 
38- Tri khố 
39- Tri tạng 
40- Tri khách 
41- Thị-giả 
42- Hương-đăng 
43- Thư trạng 
44- Duy-na 
45- Duyệt-chúng 
46- Tọa cụ 
47- Kiết-già và bán-già 
48- Du tăng 
49- Tham-thiền 
50- Tự viện và chùa 

 

1.- Cầu An Có Phải Là Một Hình Thức Mê Tín ?  (^)

Sống trong đời không một ai trong chúng ta tự thỏa mãn cả, từ người giàu có cho đến kẻ nghèo khó đều mang tâm trạng hồi hợp lo sợ, bất an. 

Ngoài phạm vi hiểu biết của con người, nhưng chúng ta tin tưởng vào tha lực tức sự huyền bí nào đó và như vậy, khi gặp sự đau khổ, nguy nan ... mọi người đem lòng cầu cho tai qua nạn khỏi. Việc làm nầy phải chăng là một hình thức mê tín, dị đoan ? Cầu an theo một nghĩa bi quan tức là phó mặc mọi việc rủi may cho các đấng linh thiêng định đoạt, với người mang tâm địa như thế, việc cầu an hoàn toàn nằm trong khía cạnh mê tín, vì trông mong vào sự cứu rỗi hoàn toàn, trong khi đó vẫn làm việc bất chánh một cách mù quáng. Nếu chúng ta cầu an cho người đi xa đi đến nơi về đến chốn trong sự yên ổn, và cầu cho người bịnh chóng được lành, cầu cho cảnh gia đình sum họp, đoàn viên ... Tại chùa, chúng ta cầu cho dân tộc thái bình, nhân dân an cư lạc nghiệp ... đều là điều mong ước có hàm ý tích cực như lời trông mong và hiệp lực đẩy mạnh cho lời nguyện của ta thành sự thật. Cũng cần nói thêm trong việc cầu an, có người nghĩ rằng cầu cho mau giàu có, cầu để thắng kẻ thù ... những cách cầu an như thế chứng tỏ ra người cầu đã mang một tâm trạng bất an rồi. Cầu an ngoài việc tin tưởng vào tha lực ra, chúng ta cần phải nổ lực nhiều hơn mới mong hoàn thành được lời mong ước. 

Một người Phật tử khi đã hiểu được lý nhân quả rồi thì việc cầu an mới thật lợi ích và đúng nghĩa. 

2.- Ý Nghĩa Của Việc Cầu Siêu Trong Phật Giáo Ra Sao ?  (^)

Cầu siêu là do sự góp lời cầu nguyện của nhiều người để mhờ đó linh hồn của người chết được siêu thoát và sanh vào một cảnh giới lành. 

Cầu siêu có nghĩa là mong cho vượt lên và thoát khỏi. Vượt ở đây là lên được một nơi cao hơn, vì Phật giáo quan niệm có 6 cõi khác nhau để con người đi đầu thai. Đó là : Thiên, Nhân, A-tu-la, địa-ngục, ngạ-quỉ (quỉ đói), súc-sanh. Việc cầu siêu tốt nhất là vào lúc người chết sắp tắt hơi thở, vì giữa thân xác và thần thức lúc đó sắp tách rời nhau, nếu mọi người đọc kinh nhắc cho người ấy biết con đường thiện nên theo, thần thức theo đó mà thoát kiếp đi đầu thai trong kiếp khác dễ dàng. Thần thức chưa đi đầu thai ngay, do đó chúng ta hay tổ chức cúng tuần 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày, 35 ngày, 49 ngày, và 100 ngày để mong cho người qua đời được nhẹ nghiệp đi đầu thai. Ngoài ra, tại các chùa còn có tổ chức lễ cầu siêu tập thể vào ngày rằm tháng 7 của mỗi năm trong dịp lễ Vu-Lan hay cũng còn gọi là ngày xá tội vong nhân rất trọng thể. 

Mọi việc khóc kể, thương tiếc người vừa mới mất là một cách níu kéo thần thức người ấy trở lại với người thân thật hết sức tai hại, cho nên Phật giáo khuyên người Phật tử khi có người nhà chết không nên khóc than là như vậy. Đây không phải là một việc bất hiếu, bất nghĩa mà là có ảnh hưởng tới động lực tinh thần rất lớn. 

Cầu siêu còn là một hình thức trợ lực giữa hai thế giới sống - chết qua một mối dây vô hình, nhưng lại là việc làm thật thiết thực cho người Phật tử lúc lâm chung. 

3.- Việc Dâng Sớ Điệp Lúc Cầu Siêu Có Tác Dụng Gì ?  (^)

Lá sớ, tờ điệp ghi đầy đủ tên tuổi năm sinh, mất như là lời thưa thỉnh để bạch Phật cầu cho người đã chết được nhẹ nghiệp sớm đi thọ sinh ở kiếp khác. 

Tuy nhiên, sớ không phải để cầu siêu thuần túy, đôi khi sớ còn dùng cho việc cầu an nữa. Về hình thức của lá sớ được chia ra làm 7 phần : 

1.- Lời bạch Phật, 2.- Địa điểm tổ chức lễ, 3.- Tên, tuổi, năm sinh, năm mất, 4.- Danh hiệu đức Phật A-Di-Đà cầu tiếp độ hương linh vãng sanh về cảnh giới Cực-Lạc, 5.- Lời chí thành cầu nguyện của người cầu xin, 6.- Năm, tháng, ngày làm lễ, 7.- Ấn dấu chứng thực. 

Lúc dâng sớ thường là vị sư trụ trì của một ngôi chùa đọc, trong khi đó chủ nhà quỳ ở phía sau và đội bì sớ nhiếp tâm cầu nguyện, chờ cho đến khi nào thầy đọc xong mới hạ bì sớ xuống. Sớ bằng giấy màu vàng, xếp thành 6 mảnh tượng trưng cho lục đạo : Thiên, nhân, A-tu-la, địa-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh, có hàm ý rằng con người không thoát ra được khỏi 6 đường ấy. Còn điệp không đọc trước bàn thờ Phật mà chỉ đọc trước bàn vong. Trên là điệp cũng có ghi rõ tên tuổi của người chết và ngày giờ hẳn hoi. Sớ gồm cả cầu an và cầu siêu, trong khi đó điệp chỉ có trong dịp lễ cầu siêu mà thôi. Điệp thường thì màu trắng. Có người cho rằng việc cầu khẩn như thế là quá đáng, vì nó có tính chất mơ hồ. Thật ra, việc cầu siêu còn tùy thuộc vào quan niệm và ý hướng của người cầu xin, còn bản chất của sớ, điệp vốn không là gì cả để ta phê phán hết. 

Người Đông-phương chọn chữ hiếu đứng đầu trong muôn hạnh, cho nên cha mẹ hoặc người thân lúc chết được con cháu tổ chức cầu siêu là một việc cần được duy trì. 

4.- Ý Nghĩa Của Việc Phóng Sanh Và Vật Được Thả Là Gì ?  (^)

Phóng sanh là giải phóng những con vật bị nhốt và sắp bị đem giết chết để lấy thịt. 

Phóng sanh thường được tổ chức vào các dịp lễ vía quan trọng trong năm như ngày Phật-Đản, lễ Vu-Lan, ngày vía đức Quán-Thế-Âm v.v... Những loài vật thường được cứu sống như chim, cá, rùa, ba ba ... Vì loài động vật cũng biết ham sống sợ chết như loài người, không thể vô cớ làm cho chúng mất tự do, mất mạng sống. 

Do lòng từ bi thúc đẩy, ta có thể bỏ tiền mua những con vật sắp bị giết oan để thả cho chúng tự do, nhờ đó tạo được phước như thêm tuổi thọ, cũng như gặp nhiều may mắn ở đời. Người ưa phóng sanh thường được thiên thần ủng hộ trong mọi trường hợp. Muốn phóng sanh phải nhờ tăng sĩ chú nguyện cho những con vật được thả mới được nhiều lợi ích hơn là mình tự đem thả. Cũng có nhiều trường hợp việc thả loài động vật không do nghi thức Phật giáo mà diễn ra vào dịp lễ Quốc-Khánh, ngày Cách-Mạng ... 

Ý nghĩa của việc giải phóng loài vật cũng giống như việc phóng thích những tội phạm bị giam trong lao ngục lâu ngày và có cơ hội tốt để họm tìm thấy lại được sự tự do. Mặt khác, phóng sanh còn nói lên một khía cạnh tinh thần của lòng từ bi bao la không phân biệt giữa người và vật. 

Phóng sanh để làm tăng trưởng lòng thương muôn loài vạn vật, vì tự nghĩ chúng cũng khao khát sống đời tự tại như người. 

5.- Nói Qua Ý Nghĩa Của Việc Phóng Đăng Và Sự Lợi Ích ?  (^)

Phóng đăng là thả đèn cho trôi trên hồ hoặc trên sông để cầu nguyện cho những người chết oan trên sóng nước được siêu thoát. 

Việc thả đèn cần đòi hỏi cơ hội thuận tiện. Những cây đèn được thả trôi trên mặt nước phần nhiều cần bảo đảm nước khỏi lọt vô. Đèn dùng vào việc nầy thường hình hoa sen để khi gặp gió đèn không bị tắt, vì thế thả đèn ban đêm thì rất thích hợp. Đèn thả trước sau thứ tự theo dòng nước chảy, để người xem như có cảm tưởng rằng đó là những con thuyền nhỏ đang chở những linh hồn lạc lõng về bến an lạc. 

Vào năm 1979 khoảng hạ tuần tháng 7, tại Geneve, có một hội nghị thượng đỉnh của các nước để giải quyết vấn đề tỵ nạn của người Đông dương. Các đoàn thể tôn giáo các nước Việt - Miên - Lào đã tổ chức một cuộc tuyệt thực suốt trong ba ngày tại ngay cổng chính của trụ sở Liên-Hiệp-Quốc để đưa thỉnh nguyện thư nhờ can thiệp giúp đỡ các đồng bào tỵ nạn. Vào đêm cuối cùng cuộc tuyệt thực có một người đàn bà Nhật tổ chức lễ thả đèn trên hồ "Le Man" để cầu nguyện cho những người vượt biên thiếu may mắn bị chết đắm trong lòng đại dương. Việc làm nầy đã gây được tiếng vang rất lớn và tầm ảnh hưởng quốc tế rất có lợi cho người tỵ nạn. 

Xem một cuộc thả đèn trên sông hồ ta thường hay liên tưởng tới những oan hồn đã chết mà còn vất vưởng chưa đi đầu thai được nên phải cần có sự trợ niệm của chúng ta. 

6.- Nói Rõ Ý Nghĩa Của Việc Rước Vong, Vong Và Linh Theo Phật Giáo Khác Hay Giống Nhau ?  (^)

Theo Phật giáo, người chết được quan niệm như là một sự thay đổi, cũng như kép lớp trong vở tuồng trên sân khấu của trường đời. 

Chết không phải là chấm dứt mà chỉ tiếp tục đóng một vai trò khác của kiếp người. Do đó, sau khi tắt thở con người còn lại phần thần thức ; riêng phần thân xác bị tan rã và hoàn nguyên trở về bốn trạng thái cũ là đất, nước, gió, lửa của bốn đại tạo thành cơ thể. 

Rước vong là tiếp dẫn bằng lời kinh tiếng kệ để đưa vong của người chết trở lại nhà hay chùa để an trí. Sau khi chôn cất hay thiêu xác người chết xong, thân nhân của người ấy mời chư Tăng trở lại nhà với bài vị và di ảnh để thiết lập bàn thờ qua một nghi thức ngắn gọn. Chữ vong ( ) có nghĩa là quên hay mất như trong nghĩa của chữ vong hồn, linh hồn, oan hồn. Trong khi đó, chữ linh mang tính cách trừu tượng hơn để ám chỉ trường hợp người nào bị chết oan ức như bị ép ngặt, bị tra tấn cho đến chết hay tự tử đều gọi là linh cả. Chữ linh có hoàm ý là linh thiêng. Đối với người chết lớn tuổi gọi là hương linh, còn người chết nhỏ tuổi gọi là vong linh. Chữ vong linh theo nghĩa sau nầy gồm chung lại thành một nghĩa, có ý nói rằng thần thức của kẻ chết oan chưa được toại nguyện, vì còn đang nuối tiếc như vợ con, gia đình, bè bạn, của cải nên phải được cúng cấp để vong hoặc linh khỏi về phá phách con cháu. 

Việc thờ cúng do đó, theo Phật giáo rất quan trong để tưởng niệm người chết cũng như lúc còn sống, vì chết chưa phải là đoạn tuyệt mà còn kiếp tái sanh. 

7.- Hộ Niệm Là Gì ? Vai Trò Và Tổ Chức ?  (^)

Hộ niệm là góp sức, phụ lực cho việc niệm Phật của nhiều người để cầu nguyện cho người thân trong gia đình được nhẹ nhàng đi đầu thai đến một cảnh giới an lành lúc sắp trút hơi thở cuối cùng để lìa đời. 

Với ý nghĩa nầy, chúng ta thường thấy trong những gia đình khi có người sắp chết, được mọi người thân thuộc hợp nhau lại để đọc kinh và niệm Phật cho tinh thần người ấy được tỉnh táo, không bị mê muội. Do đó Phật giáo chủ trương người thân không được than khóc mỗi khi có người nhà mất là do ý nghĩ nầy, chứ không phải là điều bất hiếu như có một số người đã nghĩ. 

Để trợ lực cho người chết được siêu thoát, trong Phật giáo thường thường ở mỗi chùa đều có lập thành một ban-hộ-niệm. Ban nầy có ý nghĩa như một hội-tương-tế. Ngoài việc tang ma ra, các ban viên còn có thể dự vào các việc hôn lễ và chung vui của nhau để chia xẻ nỗi vui buồn trong đời sống. Việc nầy được quan niệm như là sự liên đới chặc chẽ giữa những cá nhân với nhau trong đại gia đình Phật giáo. Một ban-hộ-niệm được nhiều Phật tử nhiệt tâm tham gia và tổ chức có qui tắc hẳn hoi là điều ưu tư số một của các vị lãnh đạo tinh thần Phật giáo. Nhờ sự trợ sức hộ niệm của nhiều người mà cứu thoát được các vong linh ra khỏi cảnh đọa lạc trầm luân sau khi chết. 

Mỗi một ngôi chùa cần có một ban-hộ-niệm và kết nạp cho được ít nhất là 10 người lập thành một tổ chức do vị sư trụ trì hướng dẫn trong việc tụng niệm là điều cần thiết và cấp bách không thể thiếu được. 

8.- Hãy Cho Biết Sự Khác Nhau Giữa Tín Chủ Và Tang Chủ ?  (^)

Tín chủ là người tin Phật, tin Pháp và chư Tăng, đem vật dụng cúng vào chùa để tạo phước lành trong đời nầy và mai sau. 

Người ra của có tạo được phước đức hay không còn tùy thuộc vào thái độ và tâm lý của người ấy nữa. Người Phật tử thường cúng dường chư Tăng như dịp lễ trai-tăng (mời chư Tăng tới dùng cơm chay rồi cúng đồ thường dùng như y phục, xà phòng, thuốc thang, đồ trãi ngồi thiền ...) các dịp lễ lớn trong năm như việc sắm sẵn thức ăn và cung đón chư Tăng về nhà hay tại chùa và lễ Trung-Nguyên, rằm tháng 7 chẳng hạn.

Còn tang chủ là người có thân nhân vừa mới qua đời. Tức là gia đình đang có tang và mọi người đều để tang hay mang tâm trạng buồn rầu. 

Tín chủ và tang chủ không hề liên hệ gì cả, mặc dù cả hay đều là tín đồ Phật giáo. Những danh từ Phật giáo phần nhiều đều nằm trong chữ Hán, người ít có dịp tiếp xúc với tiếng cổ rất khó phân biệt nổi. Việc hiểu lầm danh từ hay hiểu lờ mờ cần phải chấm dứt, nếu không, đó là một lỗi rất lớn mà các vị lãnh đạo tinh thần phải chịu trách nhiệm. Vì tăng sĩ phần nhiều đều có học qua kinh điển bằng Hán văn lúc mới nhập môn, không nên để tình trạng nầy kép dài nữa. 

Ngày nay, một số các thầy đang có mặt ở ngoại quốc phải chịu trách nhiệm trước lịch sử Phật giáo về việc truyền bá chánh pháp sâu rộng trong đời. 

9.- Thiện Nam, Tín Nữ Là Những Thành Phần Nào Trong Phật Giáo ?  (^)

Thiện nam, tín nữ là danh từ chỉ cho hai giới Phật tử tại gia, phái nam và phái nữ đã quy y Tam-Bảo và thọ năm giới cấm. 

Thiện nam gọi đủ là thiện-nam-tử, là người trai lành gần gũi Phật - Pháp - Tăng để học hỏi giáo lý giải thoát. Người nam được gọi là thiện-nam-tử phải hội đủ hai điều kiện : Đã thọ trì năm giới Phật tử tại gia, tuổi thích hợp và có khả năng gánh vác được công việc của Phật giáo. Thiện nam hay còn gọi là thiện tín, tức người tín đồ tu theo các pháp lành của Phật đã chỉ dạy. Còn người tín nữ hay thiện-nữ-nhơn là nữ giới Phật tử tốt gần gũi đạo Phật và cũng hội đủ các điều kiện như nam giới. 

Thiện nam, tín nữ là 2 thành phần Phật tử có khả năng phục vụ đắc lực cho Phật giáo phát triển về mặt chiều rộng, tức là họ chỉ có khả năng vận động quần chúng, đóng góp tích cực vào các công tác từ thiện xã hội như việc xây dựng chùa chiền, đúc chuông, tạo tượng, ấn tống kinh sách v.v... để cầu phước. Còn chư Tăng lo việc phát triển đạo Phật về chiều sâu như giảng dạy giáo lý cho hàng Phật tử, khuyến khích con em Phật tử sinh hoạt trong các đoàn thể hầu giúp chúng tạo một đời sống tinh thần lành mạnh, trẻ trung theo châm ngôn Bi - Trí - Dũng của đạo Phật. Tuy nhiên người Phật tử tại gia cũng có thể có đủ khả năng trong việc phát triển Phật giáo ở chiều sâu nữa. 

Ngoài ra, trong mỗi gia đình của người Phật tử, chúng ta nên thu xếp cho gọn gàng, ngoài thì giờ làm việc ra cũng nên để tâm tới việc học Phật và làm công việc tạo phước để khi nhắm mắt lìa đời mới thừa hưởng quả báo lành được. Đạo Phật phát triển mạnh được là nhờ các hàng Phật tử không phân biệt nam hay nữ, tùy theo hoàn cảnh và địa vị của mỗi người mà hiệu quả việc đóng góp nhiều hay ít. 

Một người Phật tử đã quy y rồi mà chưa có dịp đóng góp vào ngôi nhà Phật giáo nên cố gắng tinh tấn nhiều hơn nữa để thực hành, vì có công mới mong có quả vậy. 

10.- Thế Nào Gọi Là Công Quả ?  (^)

Công quả là những người Phật tử tự nguyện làm việc giúp cho chùa không nhận bất cứ một phần thù lao nào cả. 

Người hy sinh làm việc phước đức nầy gồm có 2 thành phần : Lực sanh công quả và phước điền phụ nhơn công quả. 

Thế nào gọi là lực sanh công quả ? Những người trai trẻ có đủ sức khỏe làm việc năng nhọc như xây tường, làm vườn, cày ruộng ... gọi là lực sanh công quả tức là do sức lực làm nên công việc. 

Còn nghĩa thứ hai là gì ? Phần nhiều những người đàn bà lớn tuổi và công việc gia đình đã có người sắp xếp, nên có thì giờ và họ phát tâm muốn vào chùa làm việc như lo cơm nước cho chư Tăng để cầu gieo trồng được phước đức, như kẻ làm ruộng bón phân tốt vào cho được mùa về sau. Trường hợp nầy, có người còn xin ở luôn tại chùa cho đến khi chết và chôn xác luôn tại chùa (nếu là người không con trai thờ cúng). 

Ngày nay, chúng ta ít thấy người nào phát tâm làm công quả cho chùa dài hạn, vì đời sống vất vả không đủ điều kiện, thì giờ. 

Do ý nghĩa nầy, ta thường nghe nói tới tiếng "chùa" như là một việc miễn phí hoàn toàn như : Cơm chùa, đồ chùa ... đã được dùng quen trong dân chúng. 

Việc làm công quả còn tùy theo thói quen của mỗi dân tộc. Ở Nhật không bao giờ có việc làm thí công cho chùa cả, vì chùa lúc nào cũng giàu có hơn người đời. 

11.- Muốn Niệm Phật Phải Cần Những Điều Kiện Gì Và Niệm Danh Hiệu Đức Phật Nào ?  (^)

Niệm Phật là một phương pháp tu hành dể thực hành nhất cho tất cả mọi người thuộc bất cứ ở hạng tuổi nào cũng có thể làm được. 

Người niệm Phật cần phải hội đủ hai điều kiện sau đây : 

- Tâm thanh tịnh tức tư tưởng phải an định, không thể dùng tâm tán loạn để niệm Phật được. 

- Khoảng thời giờ thích hợp, tức là đòi hỏi giờ giấc phải thuận tiện như vào ban tối, trước khi đi ngủ, buổi sáng trước khi mọi người trong gia đình thức dậy. 

Việc niệm Phật có thể xảy ra bất cứ ở đâu và bất cứ nơi nào cũng đều được cả, miễn sao người niệm có chú tâm mới đạt được lợi ích. Cách niệm Phật dễ hơn cả là lần tràng hạt. Cứ mỗi một tiếng niệm Phật lần qua một hạt và cứ như thế tiếp tục mãi trong khoảng nữa tiếng hoặc một giờ do ta phát nguyện. Niệm Phật có hai cách ngồi : bán già (để bàn chân trái lên đùi bên phải) và kiết già (bàn chân trái lên đùi bên phải và bàn chân phải trên đùi bên trái). Chúng ta thường niệm đức Phật A-Di-Đà và đức Quán-Thế-Âm Bồ-Tát. Vì các Ngài phát lời thệ nguyện cứu độ chúng sanh nào niệm đến danh hiệu sẽ hiện ngay tới đó để cứu giúp. Ngài Quán-Thế-Âm thường hiện đủ hình tướng và lăn xã vào xã hội loài người để cứu độ, mỗi khi nghe tiếng kêu cầu là Ngài hiện thân ngay trước người đó để ban vui, cứu khổ, nhờ đó tai qua nạn khỏi. 

Danh hiệu đức Phật nào cũng niệm được cả, nhưng do thói quen và theo hạnh nguyện ta kêu cầu đúng thì việc cảm ứng mới có hiệu quả. 

12.- Ăn Chay Và Cách Thức Ăn Chay Ra Sao ?  (^)

Phật giáo lấy Bi - Trí - Dũng làm phương châm hoạt động, vì lòng từ bi là một yếu tố quan trọng nhất trong các hạnh lành. 

Ăn chay là ăn các loại rau cải, hay nói một cách khác những vật nào không có máu huyết, để nuôi dưỡng lòng thương đối với các loài động vật khác. Ăn chay có 2 trường hợp : Ăn chay kỳ và ăn chay trường hay trường trai. Ăn chay kỳ là chỉ ăn chay mỗi tháng đúng kỳ vào 2 ngày rằm và mồng một gọi là nhị trai, 4 ngày như : 14, 15, 30, và mùng 1 gọi là tứ trai, 6 ngày gọi lục trai là : Mùng 1, 8, 14, 15, 23, và 30 ; có khi ăn chay kỳ theo tháng như trọn tháng giêng, tháng 7 và tháng 10, tùy theo tâm thành của người phát nguyện. Còn ăn chay trường là phát tâm ăn chay suốt đời. Có nhiều động cơ khiến phải ăn chay để cầu nguyện cho cha mẹ, thân bằng quyến thuộc an lành do một sự khủng hoảng tinh thần nào đó. Vì thế, việc ăn chay không phải để khoe khoang với mọi người như là niềm hãnh diện rằng mình đã làm được một việc ít có trong đời. Nếu mang lòng tự cao như thế thì việc ăn chay chẳng đem lại được một lợi ích nào cả. 

Có nhiều cách biến chế thức ăn chay như xào, chiên, kho, luộc, nướng ... để thức ăn luôn luôn được thay đổi. Đừng nên có quan niệm cho rằng ăn chay là phải kham khổ, chịu đựng. Mỗi bửa ăn chỉ cần muối, dưa, tương, chao đơn sơ là đủ. Điều nầy không thích hợp cho sức khỏe của ta. 

Việc ăn chay rất quý, nhưng ta thể hiện được tâm thanh tịnh trong việc ăn uống lại càng cao khiết hơn, vì : "Ăn mặn nói ngay, hơn ăn chay nói dối" là như vậy. 

13.- Tràng Hạt Ý Nghĩa Và Hình Thức Ra Sao ?  (^)

Tràng hạt khác với chuỗi cườm đeo cổ mà những người giàu có thường dùng để trang sức. Tràng hạt trong Phật giáo dùng để niệm Phật. 

Tràng hạt có nhiều tên gọi khác nhau như chuỗi tràng, lần tràng là những hạt rời rạc được xâu lại thành vòng đeo cổ hoặc đeo tay. Trong lúc miệng niệm danh hiệu Phật một lần, tay lần sang một hột và cứ thế tiếp tục mãi cho đến khi nào muốn nghỉ mới thôi. Khi ta phát nguyện niệm Phật vào mỗi đêm là bao nhiêu lần thì phải niệm và lần chuổi cho đủ số, còn như niệm Phật tính theo điểm thời gian như đếm hơi thở thì niệm cho tới khoảng thời gian đã ấn định. Chuỗi tràng có 4 loại : 

1.- Chuỗi 12 hột dùng để đeo tay 

2.- Chuỗi 18 hột 

3.- Chuỗi 54 hột dùng để đeo cổ 

4.- chuỗi 108 hột 

Về chất lượng, tràng hạt có thể bằng hột bồ-đề, hột huyền, bằng đá mài, gỗ, chất kim khí v.v... Người nào chuyên lần tràng, tự nhiên xâu chuỗi và hạt tràng càng ngày càng thêm bóng láng thấy rõ. Mỗi ngày chúng ta nên cố gắng dành thì giời để lần chuỗi cho được sáng suốt. Niệm danh hiệu đức Phật A-Di-Đà hay đức Quán-Thế-Âm đều được cả. Lúc niệm phải cho thật chú tâm vào việc niệm được chuyên nhất, đừng để những tạp niệm xen vào, tức là những ý nghĩ trong sinh hoạt hằng ngày. Nếu niệm đến chỗ nhất tâm, trí huệ sẽ sáng suốt và lòng nhẹ nhàng an vui. 

Việc lần tràng không dành riêng cho một người nào cả, tất cả mọi người Phật tử đều thực hành được cả. 

Ở chùa, các nhà sư mới chuyên xử dụng tới chuỗi tràng, thường chuỗi 18 hột là được thông dụng, vì gọn và tiện lợi. 

Chúng ta lần tràng mỗi ngày nhiều lần được càng tốt, suốt quanh năm xâu chuỗi luôn luôn ở bên mình là dấu hiệu chứng tỏ người tinh tấn thực hành việc niệm Phật. 

14.- Đàn Gia VÀ Đàn Việt Có Nghĩa Là Gì ?  (^)

Đàn-gia hay đàn-na hoặc đàn-việt đều chỉ cho người tín đồ của Phật giáo đem đồ vật cúng vào chùa để cầu phước. Như thế giữa danh từ đàn-na, đàn-gia và đàn-việt khác nhau ra sao ? 

Cả 3 danh từ đều mở đầu bằng chữ Đàn, có nghĩa là mùi thơm của một thức gỗ trầm rất quý để chỉ cho sự phát tâm thơm sạch mà người đem của cúng muốn cầu được an lạc như là bổn phận. Đàn-gia là nhà người tín đồ Phật giáo, tu tại gia và thường lui tới chùa lễ bái, học hỏi ; còn đàn-na để nói lên sự hòa hợp, dung thứ, thuận theo. Đàn-việt là một cách nói khác hơn cũng để chỉ người Phật tử tu tại gia. Chữ Việt có nghĩa là vượt qua, để chỉ cho người có lòng cao thượng biết ra ơn giúp đỡ cho kẻ khác mà chẳng cần ai biết đến mình, đó là hạnh nguyện của Bồ-Tát trong đời nầy vậy. Ở mỗi ngôi chùa đều có một số đàn gia trung tín giúp đỡ khi cần thiết, gọi là những kẻ hộ trì Phật Pháp. Người cúng dường theo Phật giáo phái Tiểu-thừa là những kẻ hộ vệ chư Tăng trong bốn thứ cúng dường như : Áo quần, đồ ăn thức uống, thuốc thang, đồ trãi ngồi thiền (tọa cụ) để giúp nhà tu thực hiện việc tu được trọn vẹn. 

Học hỏi giáo lý, tu hành và làm việc phước là 3 công đức lớn hàng đầu mà hàng Phật tử không thể bỏ qua. 

Bổn phận của người Phật tử là hộ đạo mà việc giúp cho chùa được phát triển là công đức không thể nghĩ bàn. 

15.- Chuông Có Khác Với Đại Hồng Chung Không Và Có Công Dụng Gì ?  (^)

Chuông là vật dùng làm hiệu khi tụng kinh ở chùa hay ở nhà, nhờ tiếng chuông để phân biệt được đoạn mạch, văn kinh. 

Khi tụng kinh có phần khai chuông mõ rất dơn giản như nhập chuông - cốc - cốc - cốc - cốc. 

Sau đó tiếp tục : cốc - boong - cốc - boong - cốc - boong - cốc - cốc - cốc - cốc - nhập chuông và bắt đầu tụng kinh. 

Chuông hay còn gọi là chuông gia trì, vì nhờ tiếng chuông có thể khiến cho người nghe được thanh thoát, nhẹ nhàng và lòng buồn phiền vơi bớt. Tiếng chuông còn dùng cho việc hòa âm theo với lời tụng kinh quyện vào trong không trung như một duyên lành gần gũi với chư Phật. Ngoài ra, chuông còn có công dụng làm chấm dứt ý của mỗi đoạn kinh để báo cho người đọc biết tới đâu phải dứt. Chuông khác xa với đại hồng chung về hình thức và ý nghĩa. Chuông thường nhỏ, hình bầu dục, nhẹ dễ di chuyển, thường để nơi bàn kinh trước điện Phật, trong khi đó Đại-hồng-chung lớn, hình quả bí đao, nặng khó di chuyển, thường để nơi gác chuông trước hiên chùa. 

Người đứng điều khiển bên chuông gọi là "duy-na". Duy-na nghĩa là ra hiệu cho việc đọc tụng nên tiếp tục hay ngừng. Tiếng chuông như một hiệu lệnh nên ít gõ có ai để làm trò đùa, chỉ khi nào có lễ bái hay đọc kinh chúng ta mới được nghe tiếng chuông mà thôi. 

Chuông phần nhiều đều bằng đồng để có được tiếng vang ấm và thanh. 

Chuông gõ lên để hòa với nhịp tụng kinh, đồng thời là âm thanh cầu nguyện cho kẻ còn người mất được lợi ích an vui. 

16.- Nhương Sao Giải Hạn Là Một Hình Thức Mê Tín Dị Đoan ?  (^)

Trong Phật giáo có nhiều sự tướng mà khi mới nhìn vô ta thấy rườm rà như việc nhương sao giải hạn, đoán xăm, coi tướng v.v... 

Do đâu có sự việc hình như quá phức tạp nầy ? Phật giáo khi đi tới đâu dân chúng ở đó tôn sùng và những lúc bị bài xích, người Phật tử vẫn tin tưởng nơi đạo giáo một cách tín thành, chí kính. Để đức tin ấy không bị giảm sút, một số các hình thức pha trộn tạp nhạp giữa các đạo khác như phù thủy, tướng số ... được xen vào trong Phật giáo. Từ đó trở đi mới thành thói quen, nên trong giới chùa chiền nảy sinh ra một hiện tượng mới, là cầu xin cứu rỗi. Điều nầy cũng hết sức dễ hiểu, mỗi khi con người bất lực trước cuộc sống đa diện khó khăn, nhất là cảnh vũ trụ bao la, thiên nhiên hùng vĩ, và những đau ốm bất thường do trái thời đổi tiết gây ra. từ nhận xét đó, chúng ta đi vào sự tướng trong việc cúng cấp của Phật giáo để tìm ra một lối giải thích thỏa đáng, bằng một cái nhìn khách quan, khoa học. Nếu chỉ căn cứ vào lý mà bỏ sự thì các hình thức như cầu an cầu siêu, nhương sao giải hạn, xem quẻ, đoán tướng v.v... trong Phật giáo đều nhuốm mầu mê tín dị đoan, vì thái độ cầu xin là một việc làm lệ thuộc hoàn toàn vào tha lực mà không có phần tự lực. Điều nầy có nghĩa là ở trong đời ta chưa một lần làm được việc phước thiện, thì việc cầu an làm sao cho an được ! Theo quan niệm của Phật giáo, con người hiện hữu hôm nay là do nghiệp lực dẫn dắt, chi phối để kết quả là thọ nhận quả khổ hoặc vui. Tuy nhiên, Phật giáo còn có việc ứng lý, hợp cơ tức là thích hợp chân lý, cũng như trình độ của người tin mà pháp tu có thay đổi. Đối với người căn trí còn thấp kém, cạn cợt có thể nhờ những sự tướng như vừa nêu trên để làm chỗ nương tựa cho đến khi thấu suốt được chân lý giải thoát. Do đó, việc cúng bái, cầu an, nhương sao... không trái với giáo lý của đạo Phật mà còn là một việc làm cần thiết ở buổi đầu đáng khuyến khích, duy trì. Phật giáo không chấp vào sự mà bỏ lý, cũng như tùy thuận theo chúng sanh để đem ánh sáng đạo gần với quần chúng. Ngược lại, chúng ta chỉ chấp lý mà bỏ sự thì đạo Phật phải đi xa rời dần với quần chúng. Nhận xét nầy có được chỉ có người Phật tử chân chánh mới hiểu được lý đạo nhiệm mầu mà thôi. Người duy vật chỉ dựa theo sự tướng trong Phật giáo để đưa ra kết luận cho rằng tôn giáo, trong đó có ám chỉ Phật giáo, là thuốc phiện làm mê hoặc lòng người thì thật là điều nhận xét phiến diện, mơ hồ. 

Việc làm của người tín đồ đạo Phật theo mọi hình thức cúng bái có là mê tín, dị đoan hay không đều do thái độ của mỗi cá nhân, còn ý nghĩa và kết quả của hành động mới là điều quan trọng. 

17.- An Vị Phật Xảy Ra Lúc Nào ?  (^)

Một ngôi chùa mới, niệm Phật đường, thiền thất mới đều có một pho tượng được thỉnh về thờ. Ngay cả người Phật tử tại gia muốn thờ Phật cũng đều phải tổ chức lễ an vị.

An vị Phật có nghĩa là tôn trí đức Phật vào một nơi cố định để ngày ngày chúng ta đến trước đốt nhang đọc kinh kỳ nguyện. Lễ an vị lớn nhỏ tùy theo khả năng của mình. Trong các lễ an vị tốt nhất nên thỉnh được chư Tăng đến chú nguyện, tụng kinh để được thêm công đức lành. Về hình thức lễ an vị gồm có : Sau khi lễ Phật, khai chuông mõ, khai kinh, tới lúc tụng chú đại bi, người chủ lễ (Tăng) cầm một cành hoa và ly nước đi chung quanh tượng Phật vừa đọc chú, vừa rảy nước. Việc làm nầy có nghĩa là tẩy rửa, tiêu trừ mọi phiền não, nghiệp chướng để cầu an lạc cho tất cả mọi người. Người Phật tử tin tưởng rằng, từ khi có tôn tượng đức Phật, như là một biểu tượng gần gũi với các sinh hoạt hằng ngày của chúng ta lúc vui buồn, khi mừng giận, chán nản, khổ tâm ... ta cũng mong đức Phật chứng minh cho với nụ cười hỹ xã, đức tánh từ bi mà tha thứ cho việc làm do vô minh của mình gây ra. Do sự tin ấy, có một số người đi tới chỗ mù quáng như việc thần thánh hóa tượng Phật và kiêng cử những việc vô ích như không cho đàn bà, trẻ con đi qua trước tượng Phật, hoặc dùng vải che khuất mặt bức tượng lại. 

Thờ Phật là do lòng thành kính. Người Phật tử tin Phật không đặt ở sự cứu rỗi tuyệt đối thì ý nghĩa của việc làm mới hợp tình hợp lý. 

18.- Bình Bát Xử Dụng Vào Việc Gì ?  (^)

Bình bát tiếng Phạn là Bát-đa-la, tàu dịch là Ứng-lượng-khí, là cái bát để đựng vừa lượng. Thức ăn của chư Tăng và ngay chính đức Phật Thích-Ca cũng đã dùng bình bát mỗi khi đi khất thực. 

Cái bát ăn cơm của nhà sư hình tròn có nắp đậy hẳn hoi, lớn bằng cái tô đựng canh đủ chứa chừng 2 - 3 lon sữa bò gạo. Về phẩm chất, bình bát có thể bằng đất sét nung, bằng gỗ, thau, chì, và có thể bằng đồng. Tuy nhiên, chất đồng thau, nhôm, thiếc dễ nóng khi cho cơm vào thành khó bưng lên tay lâu được, nhất là trước khi ăn cơm chư Tăng phải bưng bát cơm lên ngang tới chân lông mày trước trán để cúng dường. Loại bình bát phổ thông hơn cả là thứ bằng đất sét nung. 

Giới tăng sĩ khất thực thường dùng cái bình bát có kích thước lớn hơn để thu nhận đồ cúng nhiều chỗ đều dồn vào đó. Sau khi thức ăn đã đầy bình các vị ấy trở về chùa, chia ra cho các bạn đồng liêu cùng nhau thọ dụng của cúng dường để cầu cho người cúng được phước đức, kẻ nhận vì muốn làm nên được việc đạo. 

Bình bát có thể được lưu truyền lại đời đời cho các thế hệ kế tiếp để nối dòng Phật Pháp gọi là truyền y bát. Người đệ tử nào được Bổn-Sư truyền cho y bát thay thầy duy trì tông phái là mang cả sứ mạng lớn lao trong công cuộc truyền pháp độ sanh. Người nhận y bát phải có đủ nhân duyên, đã được thầy tín cẩn mới giao phó cho trọng trách. Tổ Huệ-Năng nhận lãnh y bát từ tổ Hoằng-Nhẫn (tổ thứ 5) để truyền bá phái thiền Lâm-Tế tại Trung-Quốc. Ngài Ca-Diếp mĩm cười khi thấy Phật đưa hoa sen lên giữa đại chúng tại hội Linh-Sơn, do đó được đắc truyền tâm pháp. Y bát hay tâm pháp hẳn cũng chỉ là một, nhưng vì căn cơ và trình độ ngộ đạo có khác, cho nên chúng ta phân biệt như thế cho người căn trí thấp thấu hiểu rõ chỗ rốt ráo của Phật Pháp. 

Ngày nay, chư Tăng ít dùng tới bình bát để ăn cơm, chỉ còn một vài nơi giữ được hình thức cổ truyền nầy vào mùa an-cư kiết-hạ. Việc duy trì và bảo vệ cái cổ là điều cần thiết, các vị tăng sĩ trẻ không thể không nghĩ tới điều nầy. 

19.- Chuông Trống Bát Nhã Có Công Dụng Gì Trong Chùa ?  (^)

Tại mỗi chùa khi cử hành lễ, trước giờ khởi sự và sau khi chấm dứt cuộc lễ đều có thỉnh chuông trống bát nhã. 

Chuông trống bát nhã dùng để thỉnh Phật tổ và thỉnh chư Tăng cùng nhau hướng về điện Phật để chứng minh cho buổi lễ sắp diễn ra được thanh tịnh trang nghiêm. 

Bài kệ thỉnh chuông trống bát nhã như sau : 

Thỉnh Phật thượng đường 

Đại chúng đồng văn 

Bát nhã âm 

Nhập bát nhã ba la mật đa (đọc 3 lần) 

Nghĩa là : 

Thỉnh chư Phật vào chánh điện, 

Xin tất cả quý vị hiện diện lưu ý 

Âm vang của chuông trống bát nhã sẽ hòa nhập theo cùng với trí tuệ sáng suốt của chư Phật thành một thể tánh duy nhất. 

Thường thường chuông trống bát nhã được cử lên ba hồi lúc bắt đầu cuộc lễ, nhưng khi chấm dứt có thể chỉ thỉnh một hồi và cũng đọc bài kệ như trên. Ngoài việc đón rước và đưa chư Tăng, chư Phật, Hộ Pháp.., việc đánh chuông trống bát nhã còn tượng trưng cho ý nghĩa tinh thần rất lớn là nhân tiếng chuông trống để mọi người có mặt trong giờ sắp hành lễ đều chú tâm vào việc nhiếp tâm cầu nguyện. 

Thật vậy, khi nghe tiếng chuông trống bát nhã gióng lên ai nấy trong chánh điện đều đứng dậy chấp tay cầu nguyện, đồng thời tâm hồn người nghe cũng cảm thấy như lắng lặng thanh thoát. Về lịch sử, chuông trống bát nhã không do ai bày ra, nhưng Phật giáo các nước thuộc vùng Đông-Nam-Á châu đều xử dụng trống cùng một mục đích và với một ý nghĩa về tinh thần rất lớn lao vậy. 

Muốn cho cuộc lễ được tươn tất và thành kính, chuông trống bát nhã không thể thiếu được lúc bắt đầu và khi chấm dứt lễ. 

20.-  Mõ Hình Thức Và Ý Nghĩa Như Thế Nào ?  (^)

Mõ là Phật cụ dùng trong việc tụng kinh để dẫn tiếng tụng đọc của nhiều người hòa âm lên xuống cho được nhịp nhàng. 

Trong lúc tụng kinh có người phụ trách việc gõ mõ gọi là duyệt chúng. Duyệt chúng có nghĩa là làm cho mọi người có mặt đều được vui vẽ. Về hình thức, mõ hình tròn đục phổng trong ruột, chỉ chừa một đường kẻ hở độ 1 - 2 cm, làm bằng gỗ, mít, dâu ... phía trên mặt có chạm nổi hình con cá mở to đôi mắt, khi gõ mõ, dùi mõ chạm ngay vào hình con cá ấy. Tại sao lại chạm hình con cá vào trong mõ ? Loài cá lúc ngũ cũng như khi thức đều mở mắt cả, tức là lúc nào cũng như vậy, cũng như người tu hành phải luôn luôn tỉnh táo, không mê muội, u ám để chú tâm vào việc nhiếp tâm an định trong tinh thần tỉnh thức. 

Tiếng mõ lúc đánh lên còn làm lấn át mọi sự xen tạp ngoài đời vào tâm trí người đọc kinh trong giờ phút yên tỉnh trang nghiêm trước bàn thờ Phật. Ngoài ra, người phụ trách thủ mõ còn phải rành để đưa được âm điệu lên xuống điều hòa theo nhịp đọc kinh làm cho mọi người thơ thới tâm tư nên gọi là "duyệt chúng" vậy. 

Mõ có hình thức lớn nhỏ tùy theo vị trí của mỗi chùa. Tại tư gia cũng sử dụng mõ vào việc tụng kinh, bái sám. Tiếng vang của mõ phải thanh thản, nhẹ nhàng. Ở các ngôi chùa lớn phải chọn cái mõ cho cân xứng với chuông để vừa với tầm nhìn cho được đẹp mắt. 

Chùa không thể thiếu mõ được, vì đó là một vật cần thiết trong các buổi lễ trong Phật giáo. Ngoài công dụng dẫn tiếng tụng kinh ra, mõ còn để nhắc nhở người tu hành luôn luôn phải định tỉnh tâm thức. 

21.- Người Phật Tử Nào Được Gọi Là Bổn Đạo Trong Phật Giáo ?  (^)

Bổn đạo khác với đạo hữu, vì chỉ dùng giới hạn trong phạm vi của một ngôi chùa nào đó, như bổn đạo chùa A, chùa B chẳng hạn, là người tin Phật - Pháp - Tăng và hướng về với ánh sáng Phật-đà. 

Nghĩa nguyên thỉ của danh từ thì không có gì để người khác ganh ghét, đố kỵ cả, nhưng trong thực tế đã có một số Phật tử do thành kiến, cố chấp, lòng nhỏ mọn đã đưa tới một vấn đề tranh chấp trầm trọng với nhau giữa chùa nầy với chùa kia hay giữa thầy nầy với các thầy khác. Tất cả đều do óc địa phương, bè phái và sự kỳ thị vô ích là nguyên nhân chính làm cho đôi bên không phân biệt được phải trái, chánh tà, do đó mới nảy sinh ra nhiều cuộc xung đột trầm trọng đáng tiếc. Ở Việt-Nam năm 1964, có 2 Viện-Hóa-Đạo Ấn- Quang và Việt-Nam Quốc-Tự cũng do mối bất bình vì sự hẹp hòi gây nên. Việc chia rẽ trên không do người Phật tử bổn đạo thuần túy mà do chư Tăng tạo ra. Trên danh nghĩa thì người bổn đạo nên lấy lòng từ bi đối xử với tất cả mọi người, nhưng trong thực tế, những việc quá đáng gây ra ngoài ý muốn như sự kình chống của người đệ tử 2 chùa và 2 thầy khác nhau, đều khó mong tránh được. 

Chỉ khi nào chúng ta biết cố gắng khắc phục mọi khó khăn để cùng ngồi lại với nhau chung lo công việc Phật sự và mỗi người đều tâm niệm rằng đó là việc chung thì mới tạo được niềm hòa khí, để vui vẻ bắt tay thực hiện trong tinh thần hoan hỷ hầu xây dựng ngôi nhà Phật giáo. 

Trong nội bộ có sự chia rẽ cũng chứng tỏ rằng tác phong đạo đức và tư cách của người học đạo từ bi và con đường giải thoát khó mong đạt tới đích. 

22.- Cúng Dường Để Cầu Nguyện Việc Gì ?  (^)

Cúng dường là dâng lễ vật cúng để tỏ lòng biết ơn chư Phật, chư Tăng, do lòng thành của mình, mong rằng sự chí thành nầy sẽ đạt được như lời cầu nguyện. 

Cúng dường gồm có vật chất, cộng với thái độ của ta, tức là yếu tố tinh thần. Đồ dâng cúng không cao quý bằng lòng thành thực hiến dâng. Những người phát tâm cúng dường là hàng Phật tử có đạo tâm muốn gieo trồng phước đức cho đời hiện tại và trong tương lai. Người nhận của cúng là hàng tăng chúng đã sống trong tăng đoàn với tinh thần hòa hợp. Việc cúng nầy thường được tổ chức vào dịp lễ Vu-Lan, rằm tháng 7. Vì chư Tăng sau 3 tháng tịnh tu giới đức tinh nghiêm, nhờ đó khiến cho người phát tâm cúng dường tăng thêm phước đức và lợi ích. Thể thức cúng dường gồm 4 món đồ thường dùng gọi là tứ sự cúng dường như : Y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược (quần áo, thức ăn, đồ ngủ, thuốc men) để hồi hướng công đức lành về cho cha mẹ hiện tiền được sống lâu và mạnh khỏe, cha mẹ trong nhiều đời được siêu sanh vào cảnh giới an lành. 

Tăng sĩ nhận vật cúng phải nhiếp tâm cầu nguyện và người đem của cúng tới dâng không cầu mong gì hơn là mong cho cả đôi bên đều được phước lành, lợi lạc. 

23.- Nói Qua Hình Tướng Của Việc Bố Thí Như Thế Nào ?  (^)

Bố thí là ban phát cho những gì mà ta nghĩ là có lợi cho kẻ khác. Trong nghĩa của chữ cho nầy theo Phật giáo có hai khía cạnh : cho pháp và đồ vật. 

Bố thí là một páp tu thuộc hạnh Bồ-Tát trong 6 độ như : Bố-thí, Trì-giới, Nhẫn-nhục, Tinh-tấn, Thiền-định, và Trí-tuệ. Đem pháp lành hay đồ vật ban cho kẻ khác để trừ được lòng tham. Một khi lòng tham đã dứt thì mọi tánh tốt đều thể hiện. Việc bố thí có rất nhiều hình thức khác nhau : Bố thí vật chất như tiền bạc, thuốc men, cơm áo cho người nghèo khổ ; còn bố thí tinh thần là dùng lời êm nhẹ đẹp đẽ khuyên răn mọi người tu theo pháp lành để giúp họ cùng nhau thực hành pháp giải thoát sự khổ để được an vui. Ví như nhà tu là kẻ đem pháp giải thoát ra bố thí cho mọi người, còn người Phật tử là người bố thí vật như áo quần, thức ăn, thức uống ... Bố thí có hai ý nghĩa : Bố thí bất vụ lợi và bố thí vụ lợi. Bố thí mà không mong kẻ nhận đền ơn trả nghĩa, nhưng tự nghĩ rằng đó là bổn phận phải làm ; còn bố thí mà chỉ mong có lợi cho mình và muốn được đền ơn xứng đáng, nhưng một khi sự mong mỏi không thành lại đâm ra chán nản, kém vui, như thế gọi là việc đem cho có hàm ý còn vụ lợi. 

Phần nhiều ở đời mọi người muốn giúp ai một việc từ nhỏ tới lớn đều có ý tưởng mong cho họ giúp trở lại, đó là người làm việc chỉ mới thực hiện trong sự tướng của việc bố thí mà thôi. 

Khi nào ta thực hành theo hạnh Bồ-Tát thì việc ban cho kẻ khác mới không còn trụ vào hình thức, là đã thể hiện cách cho đúng theo pháp không vụ lợi. 

24.- Trong Phật Giáo Có Chẩn Tế Cô Hồn Và Thí Thực Cô Hồn Sự Khác Biệt Nhau Như Thế Nào ?  (^)

Chẩn tế cô hồn là lập đàn cúng chay thật trọng thể để cầu nguyện những vong hồn chết oan được siêu độ. Thời gian lập đàn chay một tuần hoặc 3 ngày, thường thường vào dịp rằm tháng 7, lễ Vu Lan, nên cũng gọi mùa chay hội. 

Lễ chẩn tế có ít nhất ba tăng sĩ giới đức ngồi đàn. Người chủ đàn phải lớn tuổi, có tu hành đạo hạnh nghiêm chỉnh mới lãnh trọng trách được. Cô hồn thường hay hung dữ, phá phách, nếu người thiếu đạo đức đứng vai chủ lễ, chẳng những không thuyết phục được những hồn bị sa đọa, trái lại còn bị cô hồn làm hại nữa là khác. Ở trong thôn xóm có những bóng ma hay quỉ dữ thường hiện về ban đêm để khuấy phá dân làng, do đó dân chúng hay lập đàn cúng cầu siêu độ. Tại Việt-Nam có tục lệ chẩn tế cô hồn vào tiết Trung-Nguyên, mà Phật giáo gọi là ngày xá tội vong nhân. Địa điểm thường ở những nơi có nhiều người bị chết oan như tai nạn, do tự tử hoặc tại các nhà thương. Lễ chẩn tế vì thế rất tốn kém, trong khi đó thì thí thực cô hồn không cần tổ chức linh đình. Chẩn tế xảy ra bất thường và thí thực cô hồn là việc làm hàng ngày của mỗi chùa, chỉ cần cháo lỏng và nước trong là đủ. 

Tuy cả hai việc làm đều cùng chung mục đích để cầu siêu thoát các oan hồn, nhưng chẩn tế có hàm ý nói rằng nhiều người chết tập thể, linh hồn có tầm hoạt động mãnh liệt hơn, khiến cho dân chúng phải lo sợ. 

Trong bài : Chiêu hồn thập loại chúng sinh của Nguyễn-Du có đoạn tả như sau : 

"Trong trường dạ tối tăm trời đất, 

Có khôn thiêng phảng phất u minh. 

Thương thay thập loại chúng sinh, 

Hồn đơn, phách chiếc lênh đênh quê người. 

Hương khói đã không nơi nương tựa, 

Hồn mồ côi lần lửa đêm đen. 

Còn đâu ai khá, ai hèn, 

Còn chi mà nói ai hiền, ai ngu..." 

Vào dịp các lễ chẩn tế cô hồn tổ chức lớn lao, thường có lễ rước vong hồn. Hình thức nầy có lẽ đã pha trộn với đạo phù thủy, và trở thành tập tục trong Phật giáo. Cuộc rước diễn ra như : Có một hai hay ba chiếc ghe và một thiền sư đứng tụng các bài thần chú, tay bắt ấn để phá 10 cửa ngục cho các oan hồn ra khỏi. 

Việc làm có đạt được kết quả hay không chưa ai chứng minh được cả, và nó chỉ có trong thời buổi chiến tranh, dân chúng lầm than, khổ sở. 

25.- Trí Tự Là Gì ?  (^)

Phần nhiều ở những ngôi chùa lớn đều có tài sản như đất ruộng, nhà cửa, trường trại ... Những của cải vật chất ấy một phần đều do của trí tự mà ra.  Trí tự nghĩa là gì ? 

Trí tự là để (cúng hiến) vào cho chùa những tài vật, cầu phước đức cho con cháu mai sau. Người giàu có thường phát nguyện cúng cho chùa những bất động sản để chùa thu lợi chi cấp vào việc nuôi dưỡng tăng chúng. Có những trường hợp người sắp chết nhóm họp con cháu lại dặn dò lời cuối cùng như để mẫu đất A hay ngôi vườn B cúng cho chùa mà lúc còn sanh tiền người ấy thường lui tới. Tài sản đã cúng vào chùa rồi, con cháu không có quyền lấy lại, dù dưới bất cứ hình thức nào. Việc trí tự trước đây rất được nhiều tín đồ Phật giáo áp dụng tại Việt-Nam, nhưng ngày nay đã trở thành xa lại đối với lớp người trẻ, có lẽ chúng ta đang sống trong xã hội đầy đủ văn minh vật chất, ai cũng phải ra sức làm việc mới có sống, hình như ít người nghĩ tới việc tạo phước đức nầy. Ngoài ra, ở những ngôi chùa mới hiện tại, việc lui tới lễ bái của hàng Phật tử cũng không đông đảo lắm, vì một phần bị ảnh hưởng bởi cuộc sống vật lộn bon chen ở ngoài xã hội gây nên. Người Phật tử khi đã biết việc phước thiện là thế nào rồi thì nên chú tâm làm phước và tu huệ. 

Ở những ngôi chùa tại Việt-Nam xưa như Quán-Sứ (Hà-Nội), chùa Linh-Mụ (Huế), Non-Nước (Đà-Nẵng), Chúc-Thánh (Hội-An), Thập-Tháp (Bình-Định), Hải-Đức (Nha-Trang), Giác-Lâm (Gia-Định), Vĩnh-Tràng (Mỹ-Tho) v.v... đều là những nơi có đất ruộng để cho người canh tác. Khi đến mùa thu hoạch chùa thu về được một số lợi tức khá lớn. Số ruộng đất đó một phần lớn đều do của trí tự và một phần do chùa bỏ tiền ra mua làm kinh tế tự túc. 

Trí tự là một hình thức tu phước đối với người Phật tử biết đầu tư của cải cho các thế hệ con cháu mai sau, bằng cách hy sinh một phần tài sản hiện tại đem hiến vào chùa, và của ấy khó lấy ra nhưng rất chắc chắn, an toàn. 

26.- Trụ Trì, Tọa Chủ, Viện Chủ Khác Nhau Thế Nào ?  (^)

Một số các danh từ trong Phật giáo có nghĩa gần giống nhau như dưới đây : 

Trụ-trì là một tăng sĩ coi sóc, điều hành một ngôi chùa với một số tín đồ để duy trì và phát triển Phật giáo. Tọa-chủ là người là chủ chốt của một ngôi chùa. Viện-chủ là vị trông coi tổng quát một cơ sở Phật giáo. Nói chung cả 3 cách gọi đều chỉ chung cho vị lãnh đạo tinh thần nắm quyền đầu não của một trung tâm Phật giáo. Tuy nhiên chữ Trụ-trì và Tọa-chủ đã được sử dụng lâu và thành thói quen để chỉ các vị sư lớn tuổi chủ của ngôi tự viện, còn trường hợp chữ Viện-chủ mới có sau nầ