KIẾN THỨC
CĂN
BẢN PHẬT GIÁO
TT.Thích
Bảo Lạc
---
o0o
---
CHƯƠNG 1
KHÁI NIỆM
1.- KHỞI NGUYÊN PHẬT
GIÁO (^)
Xã hội Ấn-Độ
lúc bấy giờ (năm 624 trước kỷ nguyên Tây lịch) chia ra thành nhiều
giai cấp khác nhau. Mỗi giai cấp giữ một thế sinh hoạt riêng biệt.
Lịch sử còn chứng minh có ít nhất là bốn giai cấp, trong mỗi giai
cấp đều có sự bất bình đẳng không thể tưởng tượng được
trong kiếp người !
Giai cấp đứng
đầu là Bà-La-Môn (Blamon) hay giáo sĩ chuyên việc tế tự và có uy
tín tuyệt đối trong đám quần chúng. Thứ đến là giai cấp
Sát-Đế-Lợi (Ksatrya) hay dòng dõi vua chúa có uy quyền tối cao, chi
phối toàn thể dân tộc Ấn-Độ. Giai cấp thứ ba là Phệ-Xá (Vaisya)
hay giới bình dân và cuối cùng là giai cấp Thủ-Đà-La (Sudra) tức
là hạng người suốt đời làm nô lệ cho ba giai cấp trên, còn gọi
là bất xúc dân (untouchables). Họ sống một cuộc đời cơ cực lầm
than, không có quyền ăn nói và cũng không được đóng góp ngang
hàng với mọi người, như một giống dân mọi rợ sống bên lề
của xã hội.
Với một tình
trạng xã hội đầy bất công như thế, Đức Phật Thích-Ca thị hiện ra
đời tại thành Ca-Tỳ-La-Vệ, thuộc Trung Ấn-Độ vào ngày rằm tháng
tư âm lịch 624 năm trước kỷ nguyên (năm nay Phật lịch là 2541 - 1997
= 544 năm). Sau khi ra đời Đức Phật nhìn thấy cảnh khổ của chúng
sanh, Ngài quyết chí xuất gia tầm đạo để giải thoát cảnh khổ cho
con người trong xã hội. Ròng rã suốt sáu năm tu khổ hạnh trong
rừng sâu và 49 ngày nhập định dưới cây bồ-đề, Đức Phật đã
giác ngộ được đạo quả Vô-Thượng Chánh-Đẳng Chánh-Giác vào
ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch. Bánh xe pháp bắt đầu chuyển lần đầu
tiên tại vườn Lộc-Uyển để độ cho năm người bạn đồng tu với
Ngài lúc trước là các ông Kiền-Trần-Như bằng pháp Tứ-Đế và
chính năm vị tỳ kheo nầy liền sau đó đều chứng quả A-La-Hán.
Lịch trình và
khởi nguyên của Phật giáo qua nhiều chặng đường lịch sử do sự
chứng ngộ mà Phật đã đạt được để dẫn dắt người đời
đồng tu đồng chứng qua câu nói muôn đời bất diệt của Ngài :
"Ta là Phật
đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành".
2.-
PHẬT GIÁO THÀNH HÌNH TỪ LÚC NÀO ? (^)
Phật giáo chỉ
thật sự thành hình sau khi đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni ra đời, hành
đạo và chứng quả. Phật giáo, do chữ Phật (Buddha) ghép chung với
chữ Pháp (Dharma) tức là giáo pháp của Ngài mà thành một tôn
giáo hay một triết thuyết.
Sự xuất thế
của đức Phật Thích-Ca trải qua các giao đoạn thực hành phương
pháp tu tập, giác ngộ chân lý và thuyết pháp giáo hóa chúng sanh
suốt trong 49 năm tại thế là một bài học sống động, hùng hồn
nhất trong lịch sử xã hội loài người. Phật vì một đại sự nhân
duyên là "khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến" (chỉ bày
cho chúng-sanh giác-ngộ được trí-tuệ sáng-suốt Phật tánh) mà
hiện thân ra cỏi đời. Ngài không đến với loài người bằng uy
quyền, thế lực mà đến với một tâm đại từ-bi, đại hùng-lực
để dẫn dắt con người tu-tập pháp lành và cầu đạt được
chân-lý giải-thoát mọi sự khổ ở đời.
Lịch-sử
chứng-minh rõ-ràng, sau khi Phật nhập diệt, giáo pháp của Ngài
được các chúng đệ tử kiết tập lại thành giáo điển qua bốn
lần diễn ra tại những địa điểm và thời gian khác nhau. Điều nầy
còn chứng tỏ rằng Phật giáo đã thành hình ngay từ khi đức Phật
còn tại thế và suốt trong 25 thế kỷ trôi qua với biết bao nhiều
triều đại đã sụp đỗ mà giáo pháp của Phật và sự hiện diện
của Phật giáo trong xã hội loài người khắp nơi trên mặt trái
đất vẫn còn tồn tại mãi mãi với thời gian...
Đạo Phật là
đạo như thật, lấy từ bi, trí giác soi sáng lương tâm nhân loại qua
mọi thời đại để cải tạo con người và xã hội được công
bằng, hợp lý trong tinh thần lợi tha, vô ngã. Vì thế các dân tộc
Tây-phương ngày nay đang tìm về với triết học Đông-phương mà
Phật giáo là đề tài hấp dẫn qua môn Thiền-học hay Tư-duy
(meditation) để định tỉnh tâm tư mà họ đang quay cuồng trong xã hội
văn minh vật chất nên không tìm ra được một lối thoát thoải mái
cho đời sống nội tâm.
Sự có mặt của
Phật giáo trong cuộc đời cũng có nghĩa là còn ánh sáng của chân
lý soi thấu tận cùng trong tâm thức tối tăm của loài người đang
tới hồi kiệt lực vì sự cạnh tranh sanh tồn của cuộc sống phức
tạp, đa diện hiện nay.
3.-
PHẬT GIÁO QUAN NIỆM THẾ NÀO VỀ CUỘC ĐỜI VÀ CON NGƯỜI ? (NHÂN
SINH QUAN) (^)
Con người là
một hợp chất do 4 yếu tố : Đất, nước, gió, lửa hợp lại mà
thành hình và chỉ tồn tại trong khoảng thời gian hữu hạn chừng
trăm năm, rồi các yếu tố vật chất kia đều tan rã trở về nguyên
trạng thái cũ, còn phần thần thức đi đầu thai làm kiếp khác do
một nghiệp lực dẫn dắt đến cảnh giới an vui hay khổ sở.
Như vậy con
người theo quan niệm của Phật giáo có hai phần là tinh thần và
thân xác. Tinh thần không thể tồn tại ngoài thân xác, cũng như
thân xác không thể thiếu tinh thần là phần trí tuệ hiểu biết, sự
phán đoán đúng sai mọi sự mọi vật. Vì thế, sống ở đời con
người cố gắng tu sửa hành vi, ngôn ngữ, tư tưởng ... để khi
thân xác nầy tan rã được sanh về cảnh giới an lành.
Chư Phật xuất
thế, các vị Bồ-Tát hiện thân ra đời đều mang thân xác như
người, nhưng các Ngài giác ngộ được nhờ vận dụng tinh thần và
chuyên tâm tu tập mà thành tựu viên mãn. Cuộc đời nầy được
coi như là cỏi tạm và con người chỉ hiện diện được theo đúng chu
kỳ có giới hạn rồi thân xác lại trả về cho 4 trạng thái như
lúc ban đầu và tinh thần rời khỏi xác để nương vào một lớp
khác mà tồn tại. Do đó, câu nói "sống gởi thác về" để
chỉ cho cỏi thế gian lúc ta sống và sau khi chết sẽ về một cảnh
giới an lành khác là thế giới Cực-Lạc của đức Phật A-Di-Đà.
Nơi đó vĩnh viễn không già, không chết mà mọi người được
sống đời an lạc tự tại. Đó là quan niệm theo pháp môn tu
Tịnh-Độ, còn người thực hành pháp tu Thiền-Định một khi tỏ ngộ
được chân tâm tức kiến tánh thành Phật. Nếu không tận lực tu
tập đạo hạnh, chúng ta khó mong giải thoát được các nghiệp
chướng ràng buộc mà muốn được như vậy con người sống ở
đời phải làm tròn bổn phận của mình để xây dựng xã hội nhân
gian tốt đẹp, đó là một cách cải thiện hay trang nghiêm cõi
Tịnh-Độ trong tương lai sau khi nhắm mắt lìa đời.
Việc làm đẹp
cá nhân và xây dựng tâm thể vững mạnh để tạo được một xã
hội có trật tự và hòa bình mà Phật giáo chủ trương, nếu không
gọi là sự tích cực lành mạnh hóa cỏi đời uế trược thành
cảnh Tịnh-Độ nhân gian là gì ?
4.-
PHẬT GIÁO QUAN NIỆM THẾ NÀO VIỆC HÌNH THÀNH THẾ GIỚI ? (VŨ TRỤ
QUAN) (^)
Một
Thái-dương-hệ gồm mặt trời, mặt trăng và trái đất gọi là vũ
trụ. Phật giáo quan niệm thế nào về thế giới hiện thực mà
chúng ta đang sống ?
Phật giáo không
cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất mà ngoài vũ trụ nầy còn
có vô số cảnh giới khác nhau, như 33 cõi trời thuộc về
Sắc-giới và Vô-sắc-giới, còn cõi thế gian nầy thuộc về
Dục-giới. Theo như kinh Hoa-Nghiêm luận rằng pháp giới trùng trùng
duyên khởi tức là các cảnh giới chồng chất nhau do nhân duyên
hình thành. Ngoài ra, Kinh Kim-Cang chủ trương phá ngã chấp, sắc thân
để chứng nhập chân tâm hay bản lai diện mục của con người, trong
khi kinh Bát-Nhã với vạn pháp đều vô tướng, vì tất cả đều
không tăng, không giảm, không sanh, không diệt, không dơ, không sạch
... để hướng dẫn con người đừng mê chấp vào đó mà bị kẹt
không thoát ra được ngoài quan niệm thường tình của thế gian về
sự vọng chấp qua tướng mạo, hình dung.
Vũ trụ nầy hình
thành là do các nhân duyên hợp lại và tồn tại đúng chu kỳ rồi
cũng bị hoại diệt như con người qua 4 thời kỳ : Thành, trụ, hoại,
không. Vì căn thân và thế giới có là do nơi mỗi niệm của chúng
sanh mà tồn tại, cũng như vũ trụ chỉ là một tập hợp các tinh
thể lại và đây chỉ là một trong những cõi khác nhau, không có gì
lớn lao, vĩ đại cả. Hơn nữa, vũ trụ không làm áp đảo được
con người mà chính loài người ngày nay đã chinh phục được cả
vũ trụ như việc thám hiểm cung trăng qua những cuộc bắn hỏa tiển
và đưa người vào không gian. Điều khoa học khám phá ra được
hiện giờ đủ chứng minh cho thấy rằng những lời dạy của đức
Phật cách đây 25 thế kỷ vẫn là chân lý và sẽ còn được nhân
loại triển khai ở các mức độ khác nhau do tầm hiểu biết của con
người.
Vũ trụ được
quan niệm một cách có khoa học như Phật giáo, điều nầy có nghĩa
là ngày nào khoa học kỹ thuật càng tiến bộ thì Phật giáo càng
đứng vững vàng trong phạm vi nghiêm cứu về thế giới hữu hình
và vô hình.
5.-
PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC (^)
Phật giáo là
một tôn giáo hay triết học ? Câu hỏi nầy được nêu ra và mãi cho
đến trong khoảng thời gian gần đây, khi khoa học tiến bộ, nhất là
về khoa nhân chủng học (khoa học nhân văn), khoa-học xã-hội,
tôn-giáo, xã-hội-học ... đã tìm ra được lời giải đáp cho vấn
đề trên một cách thỏa đáng.
Phật giáo với
kho tàng kinh điển phong phú gồm Kinh, Luật, Luận gọi là tam tạng mà
trong đó chỉ dẫn phương pháp tu tập rõ ràng rành mạch để giúp cho
con người vượt ra khỏi cảnh giới tối tăm đau khổ của thế gian
và đạt đến quả vị giải thoát an vui. Đối với muôn loài vạn
vật trong các cõi, nếu biết áp dụng đúng cách, chúng sinh cũng
đều được quả báo tốt đẹp trong kiếp tương lai. Như thế, chúng ta
có thể gọi Phật giáo là một tôn giáo. Nhưng nếu chỉ luận như
trên rồi dừng lại và cho rằng Phật giáo là tôn giáo như nhiều
tôn giáo khác hẳn không được đúng. Vì sao ? Ngoài sự hiện hữu
của muôn vật trong vũ trụ ra, Phật giáo còn chủ trương có các
cảnh giới khác nhau. Các cảnh giới đó ở trọng 3 cõi :
Dục-giới, Sắc-giới và Vô-sắc-giới. Mỗi một cảnh giới đều
có sự cấu tạo theo một chu kỳ qua 4 giai đoạn thành, trụ, hoại,
không (diệt) mà ngày nay khoa học đã khám phá ra được sự hình
thành của những tinh thể quả đúng như chân lý mà đức Phật đã
khám phá ra cách đây 25 thế kỷ. Điều nầy cho chúng ta kết luận
được rằng Phật giáo là triết học. Đứng về mặt tu chứng và
các quả vị để nhìn, người ta cho rằng Phật giáo là tôn giáo
cũng đúng, còn đứng trên lý luận thành lập vũ trụ và các
cảnh giới khác nhau để phân tích, chúng ta có thể kết luận Phật
giáo là triết học cũng không sai.
Riêng đối với
những ai ít có dịp nghiên cứu tới kinh điển của đạo Phật, có
thể ngộ nhận cho rằng lối lập luận như thế nào có tính cách co
dản quá, nhưng nếu đi sâu vào rừng giáo điển của Phật giáo và
phóng cái nhìn ngay thật, người ta sẽ không còn có điểm nghi ngờ
và hiểu thiên lệch sự vật được.
Tóm lại, Phật
giáo bao hàm cả triết học và tôn giáo. Tùy theo tầm nhìn của
chúng ta mà Phật giáo được quan niệm như một tôn giáo hay như môn
triết học cũng đều được cả.
6.-
ĐỨC GIÁO CHỦ THÍCH CA MÂU NI PHẬT (^)
Đức Phật
Thích-Ca Mâu-Ni (Sakya Muni) là thái tử Tất-Đạt-Đa (Shidartha), con vua
Tịnh-Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma-Da (Maya), nước Ca-Tỳ-La
(Kapilavastu) thuộc miền Trung Ấn-Độ.
Họ của Phật là
Kiều-Đáp-Ma hay còn gọi là Cù-Đàm. Còn chữ Thích-Ca (Sakya) có
nghĩa là "năng nhân", có ý nói người ưa làm việc lợi
lành trong tinh thần nhân đạo và là tên của một chủng tộc ; chữ
Mâu-Ni (Muni) là tịch mặc, chỉ cho sự yên tỉnh của tâm thức. Danh
từ Phật chỉ có sau khi Ngài chứng được đạo quả và đạt
được 3 yếu tính : Tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Sự
giác ngộ ấy do công trình tu tập tự thân mà đạt thành rồi đức
Phật đem điều đã giác ngộ chỉ dạy cho nhiều người tu tập để
đạt tới được sự thanh thảnh của tâm thức, cho đến khi trọn
được hạnh nguyện nên gọi Phật hay Thế-Tôn, là lời tôn sùng
tán dương đức Giáo-chủ Thích-Ca Mâu-Ni.
Đức Phật nhờ
công tu hành mà đạt được đạo. Ngài không như một vị thần
quyền thế lực, cũng như không do phép thần linh biến hiện ra đời.
Từ là một Thái-tử, Ngài vượt ra sự ràng buộc của những lạc
thú vật chất để quyết chí xuất gia tìm ra chân lý cứu độ chúng
sinh đang trầm luân trong biển khổ. Chính ý chí cương quyết, dứt
khoát ấy, đức Phật đã vượt qua các pháp tu khổ hạnh trong 6 năm
và chứng ngộ được đạo quả vào một buổi bình minh ngày mồng 8
tháng 12, sau khi đã trải qua 49 ngày tư duy dưới gốc cây Bồ-Đề
với lời thề nguyền sắt đá : "Nếu không thành đạo chứng
quả, dù thịt nát xương tan, ta quyết không rời khỏi chỗ ngồi
nầy".
Sau khi chứng
được đạo quả, đức Thế-Tôn đi chu du khắp xứ Ấn-Độ thuyết
pháp độ sanh trong 49 năm và cuối cùng Ngài vào Niết-Bàn tại
thành Câu-Thi-Na trong rừng cây Ta-La Song-Thọ. Ngài thọ được 80
tuổi. Phật nhập diệt rồi, giáo pháp của Ngài được các hàng
đệ tử kết tập thành 3 tạng : Kinh, Luật, Luận và truyền lại mãi
cho đến ngày nay.
Đức Phật
Thích-Ca đã đến với nhân loại và mang lại cho loài người một
bài học quí giá như phương thuốc chữa cơn bịnh trầm kha, nếu thực
hành đúng ta sẽ thấy sự ứng nghiệm hoàn toàn, tức đạt đến
chỗ giải thoát, giác ngộ như Phật.
7.-
GIÁO PHÁP (^)
Phật giáo gồm
một hệ thống triết lý đa diện, cống hiến cho xã hội loài người
mặt an sinh và tu chứng.
Mặt an sinh xã
hội, Phật giáo chủ trương thế giới đại đồng huynh đệ trong tình
tương thân tương ái ; còn về mặt tu chứng, với phương pháp tu
hành đạt đến giải thoát khỏi luân hồi, sanh tử để chứng nhập
vào cảnh Niết-Bàn (Nirvana) tịch tịnh an vui.
Phật giáo vì
thế được quan niệm như là một tôn giáo, một triết lý sống
thực, một siêu hình học hay là một mớ giáo điều mê tín dị đoan
như người duy vật nhận xét thì Phật giáo vẫn giữ được nguyên
cương vị của nó trên mọi bình diện khách quan. Vì chân lý không bao
giờ thay đổi trước bất cứ một thế lực hay khuynh hướng chánh
trị nào. Điều nầy đủ chứng tỏ cho thấy giáo pháp của Đức
Phật suốt trên 2500 năm lịch sử vẫn giữ được địa vị độc tôn
mà không bị sự chi phối bởi không gian và thời gian. Dù chúng ta
đứng ở khía cạnh nào để nhìn đi nữa, Phật giáo vẫn đúng theo
tầm nhận xét của con người trong mọi thời đại. Một ví dụ cụ
thể hơn, trong các nước thuộc Xã-hội Chủ-nghĩa ngày nay, người
Cộng-sản cho rằng tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ quần chúng, lừa
bịp một số người nhẹ dạ, dễ tin. Mục đích của họ là cố tách
rời số tín đồ đông đảo đang tinh theo tôn giáo bằng những lối
tuyên truyền độc đáo, nhưng âm mưu chánh trị nầy đã bị phơi bày
trước ánh sáng của chân lý. Chúng ta khẳng định một cách dứt
khoát rằng, không riêng ở Việt-Nam ngày nay mà ở bất cứ một
quốc gia nào đạo Phật đã thâm nhập vào trong lòng dân tộc đó
rồi thì cái tinh ba của Phật giáo như một chất keo gắn liền với con
người bản xứ vậy.
Phật giáo luôn
luôn tồn tại dưới bất cứ một chế độ chánh trị nào, nếu bị
tiêu diệt, đó cũng chỉ là một hình thức Phật giáo mà không ai
có thể tẩy xóa được đức tin sâu xa của người Phật tử !
8.-
TỨ ĐẾ LÀ GÌ ? HÌNH TƯỚNG VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG RA SAO ? (^)
Tứ-Đế hay còn
gọi là Tứ-Thánh-Đế là bốn pháp căn bản để làm trợ duyên
cho việc tu tập đạt đến chân lý, tức là thấu triệt được cái
chân tướng của vạn vật vậy.
Tứ-Đế không
có hình tướng, vì cái Khổ không thể hình dung ra được nó lớn,
nhỏ, dài, ngắn là thế nào cả nên gọi Khổ đế (đế là điều
chắc thật). Những hạt mầm kết tụ lại từ nhiều đời, tức là
sức chứa nhóm trong "Tập-Đế". Khi nào ta trừ được cái
khổ, không cho dây dưa những hạt mầm nẩy nở nữa, đó là
"Diệt-Đế". Cuối cùng đạt đến chân lý trong phần
"Đạo-Đế" là phần thứ tư trong pháp bốn đế.
Đức Phật
Thích-Ca đã thân chứng và giác ngộ được chân lý giải thoát
dưới cội Bồ-Đề sau 49 ngày đêm tư duy và lần đầu tiên Ngài
chuyển bánh xe pháp độ cho 5 anh em ông Kiều-Trần-Như tại vườn
Lộc-Giả bằng pháp bốn đế.
Con người do cái
khổ triền miên kết tập từ lâu đời nên phải chịu trong vòng
luân hồi, sanh tử. Quan sát cái khổ và nguyên nhân phát sinh ra khổ
để tận diệt thì những mầm mống khổ, những ý niệm sai lầm cũng
tiêu tan, tức là ta đã tìm cách diệt được nguyên nhân của khổ.
Một khi cái khổ không còn thì con đường đạo sẽ rộng mở thênh
thang, để chúng ta ung dung tự tại đi tới cứu cánh của đạo giải
thoát. Trong pháp bốn đế có thể chia ra hai phạm vi : thế tục và
xuất thế. Khổ và Tập thuộc về tục đế, còn Diệt và Đạo thuộc
về thánh đế. Sống ở đời con người biết là khổ nhưng không
làm sao tránh cho khỏi được khổ mà chỉ có những người tu hành
ngộ đạo mới lìa khổ được vui.
Người nào muốn
thực hành cái đạo chân thật phải quan sát kỹ bốn tướng trạng
của pháp Tứ-Đế nầy.
Pháp bốn đế
tóm lược như bảng dưới đây :
TỨ-ĐẾ
KHỒ ĐẾ TẬP
ĐẾ DIỆT ĐẾ ĐẠO ĐẾ
Thế gian xuất
thế gian
9.-
THẬP NHI NHÂN DUYÊN LÀ GÌ ? CÓ SỰ LIÊN HỆ MẬT THIẾT NÀO GIỬA
CÁC PHÁP ẤY ? (^)
Mười hai nhân
duyên là đầu mối của kiếp sống con người. Nó là hạt giống tạo
ra thế giới của muôn loài vạn vật có hình dạng sai khác ở thế
gian.
Con người từ
khi thọ thai, cho tới khi ra chào đời, được nuôi dưỡng lớn lên,
rồi tồn tại cho tới khi chết là cả một trường kỳ phấn đầu
không ngừng nghỉ. Từ chỗ vô minh, con người thọ hình hài nhi do hai
giọt máu huyết kết tinh của cha mẹ tạo thành và lớn dần theo năm
tháng, cho đến ngày đứa bé ra chào đời là một chuổi xích liên
hệ chặc chẻ với nhiều yếu tố khác nhau hợp lại. Mười hai nhân
duyên gồm có : Vô-minh, Hành, Thức, Danh-sắc, Lục-nhập, Xúc, Thọ,
Ái, Thủ, Hữu, Sanh, Lão Tử ; tức là do từ chỗ không sáng suốt,
hành vi tạo tác, nhận thức hình sắc của vật thể dài ngắn, rộng
hẹp, xấu tốt .., sáu yếu tố tạo thành cơ thể : Mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ý đụng chạm với hoàn cảnh hay khi ra tiếp xúc với
đời, thọ nhận những thứ tình cảm như yêu, ghét, đau, buồn, khổ
sở, giữ chặc làm của riêng, sinh ra đời, già và chết. Do 12 nhân
duyên nầy dẫn dắt con người tới bất cứ một thế giới nào do
nghiệp lực đã tạo trong quá khứ cảm thọ nên. Động cơ chính
thúc đẩy là do vô minh mà có căn thân và thế giới hiện thực.
Cái vòng lẩn
quẩn nầy, tất cả chúng ta dù giàu nghèo, sang hèn đều không ai
tránh khỏi được. Kiếp người cứ theo đó tiếp tục trôi lăn
mãi không ngừng nghỉ như bánh xe lăn.
Muốn phá tan
được vô minh phải tu tập để không thọ thai trong kiếp sau nữa, vì
vô minh là đầu mối của dòng sanh tử vô tận.
10.-
NHÂN QUẢ TRONG PHẬT GIÁO CÓ PHẢI LÀ MỘT HÌNH THỨC PHẢN KHOA HỌC
TIẾN BỘ KHÔNG ? (^)
Phật giáo quan
niệm lý nhân quả một cách rộng rãi và khoa học. Vậy nhân quả
trong Phật giáo có phải là một hình thức phản khoa học tiến bộ
không ?
Nhân là hột
mầm, quả là sự hình thành do từ cái nhân tức hạt mầm mà ra.
Nhân xấu thì quả xấu và nhân tốt thì quả tốt. Đó là một quan
niệm rất thực tế, như người gieo hạt hay lúa mạ lúc làm mùa. Khi
gieo giống ta phải chờ một thời gian ba hoặc bốn tháng mới có kết
quả được. Nhưng có khi chúng ta gieo hạt giống tốt, nhưng gặp phải
khí hậu hay thời tiết xấu và sự thay đổi bất thường như hạn
hán, bão lụt, dĩ nhiên cái kết quả sẽ không có được như ý ta
mong muốn. Câu nói : "Nhân nào quả nấy" chỉ mới đúng
được 70%, còn câu "gieo gió, gặp bão" cũng chưa hoàn toàn
đúng 100% được. Cái nhân dù lớn hay nhỏ cũng là hạt giống,
còn cái quả ra sao lại còn tùy thuộc nơi hoàn cảnh nữa. Phật
giáo quan niệm lý nhân quả rất thực tế và chia ra làm ba thời kỳ
: Hiện báo, sanh báo và hậu báo. Hiện báo là nhân và quả đồng
thời xuất hiện cùng một lúc như đánh người ta sẽ bị đánh lại,
kẻ trộm cướp bị giam tù ... Sanh báo là nhân gây ra xong nhưng chưa
có kết quả liền mà phải chờ trong một thời gian 5 năm, 10 năm
hoặc 20 năm sau quả báo mới đến, còn hậu báo là nhân và quả
có khoảng cách rất xa như trong đời nầy ta gieo nhân nhưng mãi chờ
cho đến đời con cháu sau nầy mới hiện thành quả báo.
Nhân quả là
một chân lý đúng trong mọi trường hợp, nhưng khi nào chúng ta
biết cởi mở trong việc tìm hiểu thì mới thấy rõ được chân
giá trị của vấn đề rốt ráo.
11.-
LUÂN HỔI TRONG PHẬT GIÁO CÓ PHẢI LÀ THUYẾT ĐỂ RU NGỦ VÀ DỖ NẠT
QUẦN CHÚNG ? (^)
Khoa học mỗi
ngày càng tiến bộ thì thuyết luân hồi trong Phật giáo càng được
nghiên cứu một cách rộng rãi và cởi mở, không như người duy
vật vội vàng lên án thuyết luân hồi chỉ để ru ngủ và có tính
cách dọa nạt những người nhẹ dạ dễ tin.
Luân là xoay vần
và hồi là trở lại. Như vậy, chữ luân hồi là một cái vòng
tròng lẩn quẩn không có chỗ bắt đầu, cũng như không có nơi chấm
dứt. Có người đưa ra vấn nạn : nếu quan niệm luân hồi theo Phật
giáo như thế thì con gà và cái trứng gà, cái nào có trước ?
Nếu bảo cái trứng gà có trước con gà là một điều phi lý, vì
con gà chưa có thì con gì đẻ ra được trứng gà ? Còn như cho rằng
con gà có trước trứng gà lại càng phi lý hơn nữa, vì con gà
cũng do từ trong cái trứng gà mà ra !
Phật giáo chủ
trương chúng sanh vì còn ở trong vòng thất tình, lục dục (xem bài
riêng) nên cứ mãi đắp đổi lên xuống làm cha mẹ, anh em lẫn nhau
không ngừng nghỉ. Chỉ khi nào con người nói riêng và mọi loài nói
chung biết tu thiện để đạt đến được đạo quả giải thoát rồi
mới rảnh nghiệp đi đầu thai và thoát ra khỏi vòng luân hồi. Luân
hồi thường đi kèm theo với nghiệp chướng tức là những sự
ràng buộc, vướng víu. Vì thế, những nhà tu theo đạo Phật phần
đông không gia đình vợ con là muốn không còn dây dưa tái sanh
trở lại trong vòng lục đạo chúng sanh nữa.
Thuyết luân hồi
trong Phật giáo không phản lại khoa học, trái lại khoa học càng tiến
bộ bao nhiêu lại càng cần phải có lý luân hồi để bổ túc cho
những thiếu sót mà khoa học chưa đủ khả năng đạt được.
Quan niệm cho rằng
thuyết luân hồi là để làm mê hoặc quần chúng hay là một thứ
thuốc phiện làm ru ngủ nhiều người nên cần phải xa lánh. Đây là
một lối nhồi sọ phan giáo dục và bóp chết tự do của con người
mà chỉ có kẽ vô thần (vô tôn giáo, vô gia đình, vô tổ quốc)
mới chủ trương một cách độc đáo như thế !
Trong đời sống
hằng ngày, không nhiều thì ít chúng ta đều có nghe qua những việc
luân hồi có thật và chính những người sống đồng thời với
chúng ta trong cùng một nơi hay khác nhau về chủng tộc, quốc gia, nhưng
việc đầu thai, thoát kiếp không còn là điều xa lạ hay mới mẽ
nữa.
12.-
QUẢ PHÚC, BÁO ỨNG LÀ GÌ ? (^)
Quả phúc và
báo ứng là hai vấn đề nói lên khía cạnh nhân và quả thành hình
liên tục trong Phật giáo.
Quả phúc là
kết quả của việc làm phước. Kết quả có được là do nhờ
nhiều nhân tố hợp thành. Nhân tốt thì quả tốt, còn nhân xấu dĩ
nhiên kết quả sẽ xấu. Câu ca dao :
"Cây xanh thì
lá cũng xanh,
Cha mẹ hiền lành
để phúc cho con".
Có liên hệ
đến lý nhân quả liên tục kéo dài từ đời nầy qua đời khác.
Còn báo ứng là đền trả hay thù đáp lại cũng giống như quả
báo. Như vậy, quả phúc và báo ứng giống hay khác nhau ? Chữ quả
phúc bao hàm cái nghĩa thiện, còn báo ứng có sự trả vay vô hình
do luật nhân quả hỗ tương mà thành. Có nhiều trường hợp ta làm
thiện trong đời nầy liền được hưởng báo ứng ngay gọi là hiện
báo. Có người làm nhiều việc lành nhưng hiện tại chưa được
đền đáp xứng đáng mà phải chờ thời gian 5, 10, 20 hoặc 30 năm
sau mới có báo ứng gọi là sanh báo, nhưng đôi khi còn có những
trường hợp ta ra sức làm việc thiện và chờ mãi cho tới lúc
lìa đời vẫn không thấy được chút phước báo nào tới cả mà
phải đợi tới đời con cháu mới được hưởng phước gọi là
hậu báo. Chữ báo ứng hay quả báo vì thế có ba nghĩa : Hiện báo,
sanh báo và hậu báo như đã trình bày trên đây.
Khi biết qua ý
nghĩa nầy rồi, chúng ta không còn thắc mắc hay trông chờ cũng như
không chán nản, thối chí đạo tâm trong bất cứ một công việc làm
thiện nào, dù nhỏ đến đâu cũng phải cố gắng làm cho đến cùng
và cái kết quả tốt hay xấu đưa lại đều phải vui vẽ chấp nhận,
thì mới tỏ ra xứng đáng là người thực hành và hiểu lý nhân
quả của đạo Phật một cách đúng mức, không thiên lệch.
Thái độ chán
nản, than trách số phận, chờ mong việc tốt đến ... là những việc
không phải của người Phật tử chân chánh đã hiểu sâu về ý
nghĩa của nhân và quả liên tục kéo dài.
13.-
NGHIỆP, NGHIỆP LỰC, NGHIỆP CHƯỚNG KHÁC HAY GIỐNG NHAU ? (^)
Nghiệp đóng một
vai trò quan trọng trong kiếp người, cho nên người Phật tử phải
cẩn thận tìm hiểu vấn đề cho thật chính xác để biết được việc
của chính mình làm.
Nghiệp là hành
động, tức hành vi tạo tác do thân miệng và ý tạo thành. Nghiệp
gồm có nghiệp lành và nghiệp ác. Phần lớn nghiệp của chúng ta
tạo đều do ý chí quyết định cả. Nếu tư tưởng không nghĩ sai,
hành động sẽ đúng. Nghiệp hay nghiệp lực chỉ cho hành động của ta
có một sức mạnh phi thường không gì sánh nổi. Còn nghiệp
chướng là hậu quả của hành động sai quấy đưa lại. Nghiệp gồm
có hai loại là cộng nghiệp và biệt nghiệp, nói một cách khác là
nghiệp chung và nghiệp riêng. Nghiệp chung do nhiều người tạo ra ở
trong cùng một hoàn cảnh như trường hợp của một quốc gia lâm
cảnh chiến tranh ; còn nghiệp riêng do chính mỗi người tạo. Cũng
trong cùng cảnh binh lửa của chiến trường, chưa hẳn ai nấy đều
chết theo lằn tên mũi đạn. Còn nếu phân chia theo kinh "nhân
quả" dựa vào yếu tố thời gian thì nghiệp có bốn loại :
- Hiện nghiệp :
Hành động nghĩ ra đều có kết quả.
- Sinh nghiệp :
Phải chịu quả báo ở đời sau.
- Hậu nghiệp :
Đời nầy tạo và phải chờ sang mấy đời sau mới chịu quả báo.
- Bất định
nghiệp : Là hậu quả do hành động chúng ta không rõ sẽ xẩy ra lúc
nào. Cũng có một lối phân chia khác : Nghiệp do nhiều đời còn
lại, nghiệp do thói quen tạo ra, nghiệp cực trọng gồm cả thiện và
ác, nghiệp lực lúc gần trút hơi thở lìa đời.
Những hành
động của ta chưa hẳn đã mất đi khi chưa đủ yếu tố để hiện ra
kết quả đó thôi. Người Phật tử biết được điều đó nên
tránh gây nghiệp ác bằng cách tạo cho tư tưởng ngay chính trong
đời sống để tránh quả báo chẳng lành về sau.
14.-
KINH ĐIỂN TRONG PHẬT GIÁO CÓ HỆ THỐNG, THỨ LOẠI NÀO KHÔNG ? (^)
Kinh điển của
Phật giáo nhiều vô số như rừng, biển bao la mà trong thời gian 49
năm tại thế, đức Phật Thích-Ca đã giảng thuyết và được hình
thành trong ba tạng Thánh giáo.
Ba tạng là Kinh,
Luật và Luận. Kinh điển để cho người thọ trì, đọc tụng, học
hỏi ; Luật là những điều răn cấm không cho môn đệ Ngài làm
điều lầm lỗi ; còn Luận là bàn rộng các vấn đề vũ trụ, nhân
sinh mà đức Thích-Ca, chư Tổ, đã tu hành đạt đạo nói ra để dạy
cho chúng ta con đường tu chứng giải thoát.
Sau khi đức Phật
nhập Niết-Bàn, các môn đệ của Ngài tuần tự nhóm họp tăng
chúng lại biên chép những lời của Phật nói thành hệ thống,
thứ loại. Trải qua bốn thời kỳ kiết tập kinh điển :
Lần thứ nhất,
sau khi Phật nhập diệt, tại thành Vương-Xá, núi Kỳ-Xà-Quật, thuộc
nước Ma-Kiệt-Đà, có 500 Đại-Đức, Tỳ-kheo họp lại, do ngài
Ca-Diếp làm chủ tịch và ngài A-Nan trình bày mọi diễn tiến, thời
gian, nơi chốn Phật nói pháp.
Kỳ kiết tập
lần thứ hai sau đức Thế-Tôn diệt độ khoảng 100 năm, chúng
Tỳ-kheo nhóm họp lại được 700 người tại thành Tỳ-Xá-Ly và để
giải quyết các nghi vấn trong giới luật, chứ chưa biên chép kinh
điển bằng văn tự.
Lần kiết tập
kinh điển thứ ba, cách Phật diệt độ 200 năm do vua A-Dục triệu tập
được 1000 tăng sĩ tại thành Hoa-Thị và ngài Mục-Kiền-Liên được
bầu làm chủ tịch, có tổ chức biên chép kinh điển hẳn hoi.
Lần kiếp tập
kinh điển thứ tư, sau Phật nhập diệt khoảng 500 năm, do vua Ca-Nị
Sắc-Tra triệu tập được 1500 người gồm cả tăng, tín đồ Phật
giáo tới thành Ca-Thấp-Di-La kiết tập lời dạy của Phật. Lần nầy
do ngài Hiếp tôn-giả và ngài Thế-Hữu chủ tọa và kinh điển cũng
được biên chép cẩn thận.
Đó là những
giai đoạn hình thành kho tàng kinh điển của Phật giáo còn được
truyền bá sâu rộng đến các nước trên khắp thế giới ngày nay.
15.-
KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC NÓI VỀ NHỮNG GÌ ? (^)
Bát-Đại-Nhân-Giác
là 8 điều giác ngộ của bậc đại nhân, tức chỉ cho hạng Bồ-Tát
vì phát nguyện rộng lớn vào đời cứu độ chúng sanh, lấy đây
làm kim chỉ nam cho việc tu tập hàng ngày.
Tám điều giác
ngộ là :
- Điều thứ
nhất, giác ngộ được cuộc đời là vô thường. Tất cả mọi vật
đều bị thay đổi, cho đến các yếu tố cấu tạo nên cơ thể đều
không bền chắc và còn có tác dụng gây ra đau khổ nữa. Con
người do một tập hợp các yếu tố vật chất, tinh thần mà thành,
không có thực ngã, sự sanh và diệt thay đổi không ngừng, giả
dối và không có chủ thể.
- Điều thứ hai,
giác ngộ rằng càng nhiều ham muốn thì càng nhiều đau khổ, bởi mọi
sự cực nhọc ở đời đều do lòng ham muốn mà ra. Trái lại,
người ít ham muốn thì không bị hoàn cảnh chi phối. Thân và tâm
đều được thư thái, nhẹ nhàng.
- Điều thứ ba,
giác ngộ rằng, vì tâm ta đuổi theo danh lợi không nhàm chán, tội
lỗi theo đó càng ngày càng tăng lên. Riêng đối với các bậc
Bồ-Tát lại khác. Các Ngài luôn tưởng nghĩ tới điều tri túc
(biết đủ), biết an vui để sống trong đạm bạc, lấy việc hành đạo
và trí tuệ làm sự nghiệp lâu dài.
- Điều thứ tư,
giác ngộ rằng tánh lười biếng đưa tới chỗ buông tha, vì vậy ta
phải chuyên cần tu tập, phá giặc phiền não để khắc phục mọi
ràng buộc, vướng mắc trong cỏi trời, người.
- Điều thứ
năm, giác ngộ rằng do vô minh che lấp trí sáng suốt nên con người
phải bị giam hảm trong sanh tử. Các vị Bồ-Tát nhờ học rộng, biết
nhiều, phát triển trí tuệ và có tài biện luận thông suốt, nên
giáo hóa chúng sanh cùng đạt tới niềm vui trọn vẹn.
- Điều thứ
sáu, giác ngộ được sự nghèo khó khiến người ta dễ sinh ra oán
hận và nuôi lòng căm thù, do đó càng ngày càng tạo thêm những
nhân xấu. Các vị Bồ-Tát biết thế nên thực hiện phép tu bố thí.
Đối với kẻ ghét, người thương đều coi bình đẳng như nhau, cũng
như các Ngài bỏ qua điều ác mà người khác đã gây ra, không
để tâm ghét bỏ kẻ làm điều ác đối với mình.
- Điều thứ
bảy, giác ngộ được rằng năm thứ dục vọng (1) gây nên tội lỗi
và tai họa. Người xuất gia tuy ở trong thế tục, nhưng không nhiễm
theo cái vui của phàm tục, biết quan niệm được rằng tài sản của
mình chỉ có 3 chiếc áo cà-sa và một bình bát. Vì chí nguyện của
người xuất gia là sống thanh bần để tu hành và giữ hạnh thanh cao,
cũng như đem lòng từ bi tiếp xử với tất cả mọi người không
phân biệt giai cấp.
- Điều thứ
tám, giác ngộ rằng vì lửa sanh tử cháy bùng cho nên mọi loài
đang phải chịu biết bao niềm thống khổ. Do ý thức được điều
đó, ta phải phát tâm Đại-thừa, nguyện cứu độ cho tất cả mọi
người và nguyện thay thế cho mọi người chịu khổ. Một lòng cầu
mong cho tất cả chúng sanh đều đạt tới niềm vui cứu cánh, giải
thoát (2).
Với những
nguyện lực cao cả như thế, người có tâm hạnh Bồ-Tát mới làm
nổi việc khó làm nầy nên gọi là Đại Nhân vậy.
16.-
THẬP THIỆN VÀ THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO GIỐNG HAY KHÁC NHAU ? (^)
Thập Thiện là 10
điều lành mà người hành trì Phật giáo phải thực hành để nuôi
lớn ý chí, nghị lực trong việc tu tập hầu đạt đến giải thoát
khỏi mọi nghiệp lực chi phối nên còn gọi là Nghiệp đạo.
Do từ nơi thân
thể, miệng và ý chúng ta phát ra mỗi hành vi, tư tưởng và cũng
từ đó mà hình thành thế giới, vạn sự vạn vật trên thế gian
nầy. Nếu người nào biết cải đổi 10 điều ác sẽ thành 10 điều
lành như dưới đây :
- Thân có 3 là
không sát sanh, không trộm cắp và không tà dâm.
(1) năm thứ dục
vọng là : Của cải, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ (tài,
sắc, danh, thực, thùy).
(2) theo kinh Tám
điều giác ngộ của bậc Đại Nhân do Nhất-Hạnh dịch và chú giải,
xuất bản Lá Bối, Paris - 1979.
- Miệng có 4 là
không nói dối, không nói lưỡi đòn xóc nhọn hai đầu, không nói
lời chải chuốt êm tai và không sử dụng lời nói độc địa để
chửi mắng kẻ khác.
- Ý có 3 là
không tham lam, không sân hận và không si mê. Nếu mỗi người trong
chúng ta đều hoàn thành được 10 điều lành như thế sẽ có
được một giá trị đạo đức cao và xứng đáng là người tốt
trong cộng đồng xã hội.
Trong ba nghiệp
thân, miệng và ý đều có những hành động hỗ tương với nhau, tuy
nhiên ý chí mới là phần quyết định quan trọng. Do động cơ của
lòng tham xúi cho thân phạm vào tội sát sanh và trộm cắp. Do mê
mờ nên phạm việc tà dâm, rồi do từ nóng giận và ngu si nên
buông ra những lời nói thiếu cân nhắc kỹ lưỡng.
Ngăn chặn 10
điều ác do ý thức thiếu sáng suốt tạo nên và thực hành 10
việc lành lợi ích cho mình và người là ta sống đúng nhân cách
của một người Phật tử chân chánh.
17.-
KINH HOA NGHIÊM HÀM CHỨA NHỮNG GÌ ? VỀ BỘ LOẠI VÀ VIỆC PHIÊN DỊCH
RA SAO ? (^)
Kinh Hoa-Nghiêm
nói cho đủ là Đại-Phương-Quảng-Phật Hoa-Nghiêm Kinh, tức là pháp
bao hàm cả vũ trụ, theo thứ lớp khó tính đếm được. Chính đức
Phật Thích-Ca là người đã chứng được lý mầu của pháp rốt
ráo nầy và nói ra kinh vậy.
Hai chữ
Hoa-Nghiêm là ví cho Phật, vì chư Phật mới có đủ được vạn hạnh
như đóa hoa muôn sắc và lấy cái hoa nầy trang nghiêm quả vị tu đắc
nên gọi là Hoa-Nghiêm. Nói một cách khác, Phật có đủ muôn đức
tướng sáng rỡ như hoa tươi đua nở, lấy hương sắc mỹ miều của
hoa để trang nghiêm cho pháp thân, huệ nghiệp gọi là Hoa-Nghiêm. Chữ
"đại" có nghĩa là bao hàm cái thể tánh, còn chữ
"Phương Quảng" gồm cả nghiệp và dụng. "Phật" là
quả vị viên giác (tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn).
"Hoa" là phần tinh túy của cây, vì thế bộ kinh nầy đức
Phật chỉ nói ra trong vòng 21 ngày cho các hàng Bồ-Tát thiện căn,
lần đầu tiên tại Long-Cung, sau khi Ngài đắc đạo. Kinh Hoa-Nghiêm có
3 nhà dịch thuật : vào đời Đông-Tấn ngài Phật-Đà Bạt-Đà-La
dịch 60 quyển gọi là lục thập Hoa-Nghiêm. Sau có ngài Trí-Nghiễm làm
bộ sớ 5 quyển là "Sưu Huyền Ký" và ngài Hiền-Thủ tạo ra
bộ "Thám Huyền Ký" gồm 20 quyển đều căn cứ vào lý kinh
Hoa-Nghiêm. Người dịch thứ hai là ngài Thật-Xoa Nan-Đà, gồm 80
quyển vào đời Đường nên còn gọi là Đường kinh hay Tân kinh,
để đối lại với Cựu kinh của ngài Phật-Đà Bạt-Đà-La. Theo
đó, ngài Huệ-Uyển tạo tập "San Định Ký" 60 quyển, ngài
Thanh-Lương làm ra các bộ sớ 20 quyển và "Diễn Nghĩa Sao" 40
quyển. Người dịch thứ ba là ngài Bác-Nhã cũng đời Đường,
gồm 40 quyển gọi là tứ thập Hoa-Nghiêm.
Theo truyền
thuyết, kinh Hoa-Nghiêm do ngài Văn-Thù và ngài A-Nan kết tập tại
Long-Cung. Sau có ngài Long-Thọ vào Long-Cung thấy kinh nầy có phân làm
3 bổn : Thượng, trung và hạ. Quyển hạ gồm có 38 phẩm và 10 vạn
bài kệ, quyển trung có 1.200 phẩm và 49.800 bài kệ, quyển thượng
chứa tới 14.000 cõi số vi trần và vô số bài kệ nói về cõi 3000
đại thiên thế giới. Ngài Long-Thọ bèn lấy quyển hạ có 10 vạn
bài kệ đem về truyền cho cõi thế gian nầy. Do đó, Phật giáo
Trung-Quốc gọi là tam bổn Hoa-Nghiêm kinh là dựa vào lý do vừa
dẫn.
Ngoài ra Phật
giáo Trung-Quốc còn lập ra tông Hoa-Nghiêm đều căn cứ vào lý kinh
nầy làm tông chỉ thành lập. Tông Hoa-Nghiêm được thành lập vào
đời nhà Đường do ngài Đỗ-Thuận Hòa-Thượng khai sáng và kế
thừa Tổ đạo như sau : Đỗ-Thuận tổ thứ nhất, Trí-Nghiễm Đại-sư
tổ thứ hai, Pháp-Tạng Pháp-sư, tổ thứ ba, Thanh-Lương Trừng-Quán
Pháp-sư, tổ thứ tư. Ngài Quế-Phong Tông-Mật Thiền-sư, tổ thứ
năm. Đời Tống ngài Mã-Minh kế thừa làm tổ thứ sáu và ngài
Long-Thọ là tổ thứ bảy.
Kinh Hoa-Nghiêm là
vua của các kinh, ngài Long-Thọ đã vận dụng sức thần thông để
mang về truyền bá trong dân gian. Ngài Đỗ-Thuận là Hóa thân của
Bồ-Tát Phổ-Hiền và là tổ thứ nhất của tông Hoa- Nghiêm vậy.
18.-
KINH A HÀM, THỜI GIAN NÓI KINH, BỘ SỐ VÀ NÉT ĐẶC THÙ GỔM CÓ
NHỮNG GÌ ? (^)
Kinh A-Hàm là
một bộ kinh thuộc về Tiểu-thừa Phật giáo, có nghĩa là "pháp
quy", tức là có ý muốn nói vạn pháp đều nằm trong lý của
kinh nầy.
A-Hàm còn có
một nghĩa là "Vô Tỷ Pháp : Tức muốn nói không có pháp nào
sánh kịp hay là "Thủ Vô", nghĩa là không thể nói hết
được ý thú cứu cánh của kinh vậy. Trong năm thời nói pháp của
đức Phật, bộ kinh A-Hàm được đem giảng lần thứ hai sau kinh
Hoa-Nghiêm tại vườn Lộc-Uyển cho các thầy Tỳ-kheo và gồm có 4 bộ
:
1.-
Tăng-Nhất-A-Hàm 51 quyển
2.- Trường-A-Hàm
22 quyển
3.- Trung-A-Hàm 60
quyển
4.- Tạp-A-Hàm 50
quyển.
Tổng cộng là 183
quyển. Về ý thú của kinh : Bộ thứ nhất bàn về pháp số của các
pháp, như là phần sưu tập. Bộ thứ hai là phần luận về mọi sự
vật ở thế gian qua các đề mục có tính cách lý thú, gây được
hứng khởi sôi nổi người đọc, vì văn mạch dài và bàn rất
sâu rộng mọi vấn đề. Bộ thứ ba gồm các kinh không phân biệt
ngắn hay dài, với các chủ đề đủ loại nói về nhân duyên, duyên
khởi của vạn vật. Bộ thứ tư là phần tổng hợp các phần trên
lại.
A-Hàm là một
bộ kinh thật lý thú có lập luận rõ ràng cho người mới bắt
đầu tu qua các pháp như bốn đế, 12 nhân duyên, 6 độ, 37 phẩm trợ
đạo bồ-đề ... cùng các quả Thánh-đế tu chứng. Ở các nước
thấm nhuần tư tưởng Phật giáo như Nhật-Bản, Tích-Lan, Ấn-Độ,
Thái-Lan, Việt-Nam ... các đại học Phật giáo năm chứng chỉ cử
nhân I, các sinh viên phải chọn kinh A-Hàm là môn học tất tu vậy.
Ngoài lẽ sanh
tử của kiếp người ra, kinh A-Hàm còn nêu rõ những gương tu
chứng của các bậc A-La-Hán, những câu chuyện thần bí ẩn hiện mà
chỉ có bậc tu hành đắc đạo có đủ thiện căn mới thâm nhập
được trí tuệ tuyệt vời ấy.
Tóm lại, A-Hàm
tuy là bộ kinh thuộc hàng Tiểu-thừa, nhưng hành giả muốn thực
hành được hạnh Bồ-Tát phải nghiên cứu kỹ toàn bộ lý kinh nầy
để nhận chân ra được chỗ thâm áo của vạn pháp.
19.-
KINH PHƯƠNG ĐẲNG HÀM CHỨA NHỮNG GÌ ? (^)
Chữ
Phương-Đẳng có 3 lối phỏng dịch theo lý như sau : Phương, là vuông
vức ngay thẳng, Đẳng, là bình đẳng để chỉ cho lý trung đạo.
Kinh Phương-Đẳng
thuộc Đại-thừa Phật giáo. Phương-Đẳng hay còn gọi là
Phương-Quảng để chỉ cho các hàng Bồ-Tát thực hành tu chứng, đắc
đạo đều dựa theo lý của kinh nầy. Nếu căn cứ theo "sự"
để dịch, chữ Phương có nghĩa là rộng, còn Đẳng là đều đặn,
quân bình. Đức Phật Thích-Ca nói kinh nầy vào thời điểm thứ ba
trong năm thời thuyết giáo để hướng dẫn hàng Bồ-Tát theo 4 tiêu
chuẩn : Tạng-giáo, Thông-giáo, Biệt-giáo, và Viên-giáo (chứa
nhóm, tánh chung, tánh riêng, tròn đầy rốt ráo) để đưa kẻ đại
căn trí đạt ngộ chân lý giải thoát. Nói một cách khác hơn :
Phương là phương
pháp và chia ra làm 4 như sau : Hữu-môn, Không-môn, Song-diệc-môn và
Song-phi-môn (phàm, thánh, cả phàm và thánh đều nương vào nhau,
phàm thánh đều không còn trên danh nghĩa nữa mới đạt được
chân lý).
Đẳng, là đều
nhau, chan hòa đến tất cả muôn loài vạn vật như nhau là căn cứ
vào sự, còn lý theo như pháp tứ môn hợp với lý tánh bình
đẳng nên có tên "Phương-Đẳng". Bộ kinh Phương-Đẳng Phật
đã thuyết trong 8 năm, sau thời kinh A-Hàm.
Trong 5 thời kỳ
nói pháp của Phật chia ra như sau :
1.- Thời thứ
nhất : Kinh Hoa-Nghiêm trong 21 ngày.
2.- Thời thứ hai
: Kinh A-Hàm, 12 năm.
3.- Thời thứ ba
: Kinh Phương-Đẳng 8 năm.
4.- Thời thứ tư
: Kinh Bát-Nhã 22 năm.
5.- Thời thứ
năm : Kinh Pháp-Hoa 8 năm và kinh Niết-Bàn trong 1 ngày 1 đêm.
Có bài tụng bao
hàm ý nầy như sau :
Hoa-Nghiêm tối sơ
tam thất nhựt.
A-Hàm thập nhị.
Phương-Đẳng bát
Nhị thập nhị
niên Bát-Nhã đàm
Pháp-Hoa
Niết-Bàn cộng bát niên.
Đó là cách
phân biệt theo tông Thiên-Thai, chọn kinh Hoa-Nghiêm làm tông chỉ cho
việc thành lập tông. Còn tông Niết-Bàn lại chia 5 thời thuyết
pháp của Phật có khác.
1.- Thời thứ
nhất : Kinh Hoa-Nghiêm.
2.- Thời thứ hai
: Kinh A-Hàm.
3.- Thời thứ ba
: Kinh Phương-Đẳng.
4.- Thời thứ tư
: Kinh Pháp-Hoa
5.- Thời thứ
năm : Kinh Niết-Bàn.
Theo như cách
phân 5 thời trên, ta thấy không có kinh Bát-Nhã, vì chỗ rốt ráo
đạt đến chân lý của mỗi tông đều chủ trương khác nhau. Cách
chia ra 5 thời nói kinh dù khác nhau nhưng lý kinh đều không khác mà
tất cả đều nhắm tới lý thâm sâu để cho hàng Bồ-Tát tu tập
đạt đến giải thoát, rốt ráo.
20.-
KINH BÁT NHÃ : TRỌNG TÂM PHẬT MUỐN GIẢNG THUYẾT LÀ GÌ VÀ THỜI
ĐIỂM NÀO TRONG CÁC THỜI NÓI PHÁP ? (^)
Kinh Bát-Nhã có
hai tên gọi khác nhau là Bát-Nhã Ba-La-Mật kinh (gọi theo cổ) và Ma-Ha
Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm kinh (theo danh từ ngày nay). Tất cả gồm có
10 bộ, do ngài Huyền-Trang (thế kỷ thứ 7 T.L.) dịch từ chữ Sanskrit
sang tiếng Trung-Hoa gọi là Đại Bát-Nhã Ba-La-Mật kinh và 600 quyển.
Ngài La-Thập
trước đó cũng có dịch kinh nầy và chia thành 5 bộ là : Ma-Ha
Bát-Nhã Ba-La-Mật kinh, Kim-Cương Bát-Nhã, Thiên-Vương Vấn Bát-Nhã,
Năng-Đoạn Kim-Cương Bát-Nhã và Quy-Tán Bát-Nhã. Riêng bộ sau nầy
còn nằm trong văn tiếng Phạn chưa được phiên dịch.
Trong suốt 49 năm
tại thế đức Phật nói kinh chia ra làm 5 thời kỳ mà bộ kinh
Bát-Nhã ở vào thời điểm thứ tư theo thứ tự. Kinh nầy trình
bày lý tánh tuyệt đối của sự vật, do đó thời gian giảng thuyết
kéo dài trong 22 năm, Phật muốn các hàng đệ tử thấy tỏ được
chân lý rốt ráo. Điểm căn bản của kinh luận rằng : Sắc tức thị
không, không tức thị sắc, thọ-tưởng-hành-thức diệc phục như
thị. Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất
tịnh, bất tăng, bất giảm, nãi chí nhãn, nhỉ, tỹ, thiệt, thân, ý,
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp diệc phục như thị (sắc tức là
không, không ấy là sắc cho đến việc thọ nhận - tưởng nghĩ hành
động - sự phân biệt đúng sai cũng đều không. Đó là cái không
tướng của các pháp như không sanh, không diệt, không dơ, không
sạch, không tăng, không giảm, cho đến cả mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý để tiếp xúc với sáu cảnh sắc bên ngoài như : Màu sắc,
âm thanh, mùi vị, đụng chạm với sự vật cũng đều không có hình
tướng như vậy).
Bộ kinh nầy
được tóm lược trong bài kinh Bát-Nhã ngắn gọn chỉ có 272 chữ
mà các chùa thường tụng, đủ để nói lên thật tướng các pháp
trong vũ trụ.
21.-
KINH PHÁP HOA : BỘ SỐ, DỊCH GIẢ VÀ VIỆC TRUYỀN THỪA RA SAO ? (^)
Kinh Pháp-Hoa nói
cho đủ là kinh Diệu-Pháp Liên-Hoa. Luận về lý viên dung (tròn
đầy), phân biệt rõ ràng sự ứng hóa thân của chư Phật, Bồ-Tát
thị hiện ra đời độ thoát chúng sanh khỏi sanh tử luân hồi.
Bộ kinh Pháp-Hoa
gồm có 7 quyển và 27 phẩm, trong đó phẩm thứ 25, tức kinh Phổ-Môn
mà các hàng Phật tử thường hay tụng niệm để cầu an.
Phật giáo
Nhật-Bản thuộc các tông như Tào-Động, Lâm-Tế, Chân-Ngôn,
Nhựt-Liên, Sáng-Giá Học-Hội, Lập-Chánh-Giảo Thành-Hội ... đều
lấy phẩm Phổ-Môn trong kinh Pháp-Hoa hay toàn bộ làm kinh tụng chính
thức trong các khóa lễ. Sáng giá học hội dùng đề kinh 7 chữ :
"Nam-mô Diệu-Pháp Liên-Hoa Kinh" (NAMYO HO RENGEI KYO) Tượng trưng
cho tôn chỉ trong việc tu hành. Tại Việt-Nam, kinh Pháp-Hoa cũng được
chọn như là bộ kinh cốt yếu trong các khóa lễ cầu an. Trong khi đó,
Trung-Quốc cũng có một tông Pháp-Hoa cũng lấy từ lý kinh nầy làm
kim chỉ nam.
Kinh Pháp-Hoa hiện
đang lưu hành do ngài Cưu-Ma-La-Thập dịch từ chữ Phạn (Sanskrit) sang
chữ Hán vào đời Diêu-Tần (đầu thế kỷ thứ 5 T.L). Bộ kinh
Pháp-Hoa bằng chữ Hán đã được dịch sang tiếng Việt do
Hòa-Thượng Thích-Trí-Tịnh, vào khoảng năm 1950. Vào những năm sau,
còn có Thượng-Tọa Tuệ-Hải cũng dịch kinh nầy, đã ấn hành vào
năm 1963.
Kinh Pháp-Hoa chỉ
rõ 3 yếu tố cấu tạo nên sự vật là thể - tướng - dụng để
độc giả quan sát được chân tướng của vạn sự vạn vật một
cách có phương pháp như khoa học, để thấu đạt được tới chân
lý rốt ráo. Trong phẩm "Phương Tiện" thứ hai có trình bày
"thập như thị", tức là mười chân tướng của các pháp
như là : Như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như
thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như
thị bổn mạt cứu cánh đẳng (thật tướng của các pháp là
tướng, tánh, thể, lực, tạo tác, gây nhân, các yếu tố, hòa
hợp, kết quả, từ gốc gác ngọn ngành đều như vậy cả) để chỉ
chung cho sự hình thành muôn loài vạn vật trong vũ trụ đều có sự
cấu tạo giống nhau từ vật nhỏ đến vật lớn.
Kinh Pháp-Hoa do
Phật Thích-Ca nói sau cùng, đồng thời với kinh Niết-Bàn, trước khi
vào Niết-Bàn. Việc nghiên cứu, đọc tụng để hiểu được tinh
thần của bộ kinh Pháp-Hoa là ý hướng căn bản mà phần đông
Phật tử chúng ta đều mong đạt thành.
22.-
ĐỨC PHẬT NÓI KINH NIẾT-BÀN LÚC NÀO, TẠI ĐÂU, VỚI MỤC ĐÍCH GÌ
? (^)
Kinh Niết-Bàn
gồm chung cả Tiểu-thừa và Đại-thừa do đức Phật giảng thuyết cho
các hàng đệ tử tại thành Câu-Thi-La trước khi vào Niết-Bàn và
sau thời nói kinh Pháp-Hoa.
Kinh Niết-Bàn có
nhiều người dịch thuật. Đời Tây-Tấn, ngài Bạch-Pháp dịch là
Phật-Bát-Nê-Hoàn kinh gồm 2 quyển. Đời Đông-Tấn ngài Pháp-Hiển
dịch là Đại-Bát Niết-Bàn kinh gồm 6 quyển. Kinh Niết-Bàn nói về
việc tu hành, chứng quả và hóa thân của đức Phật Thích-Ca. Trong
kinh Trung A-Hàm cũng có đề cập tới kinh Niết-Bàn. Đời Tây-Tấn
còn có ngài Trúc-Pháp-Hộ dịch là Phật Thuyết Phương-Đ&