01. BỐN CHẶNG ĐƯỜNG TỈNH THỨC
^
I. DẪN NHẬP
Hàng năm mỗi khi Đông tàn xuân
đến, Phật tử khắp nơi lại nhớ ngày thành đạo của đức Thích Tôn. Đối với
Phật tử Việt Nam chúng ta nhất là những người theo truyền thống đại thừa,
danh từ Phật hay “Bụt” đã trở thành một khái niệm vừa thiêng liêng vừa gần
gũi. Danh từ Bụt xuất hiện rất sớm trên đất nước ta (tức Giao Châu, khi
còn Bắc thuộc). Vào đầu thế kỷ Tây lịch, những nhà sư Ấn Độ theo tàu buôn
sang Trung Quốc truyền đạo, đã ghé lại đất Giao Châu. Trong thời gian chờ
gió yên biển lặng để tiếp tục hành trình, các nhà sư và các thương gia Ấn
Độ đã truyền cho dân chúng Việt nam nhiều khái niệm căn bản của đạo Phật
như nhân quả tội phúc, quy y, cúng dường, bố thí. Vào đầu Tây lịch, đã có
một trung tâm Phật học nổi tiếng là trung tâm Luy Lâu do những nhân sĩ từ
Trung Quốc đến lánh nạn tranh giành quyền lực ở chính quốc. Những người
thâm Nho, Lão này khi đến Giao Châu bắt đầu nghiên cứu đạo Phật. Chính để
thuyết phục những người này mà tác phẩm Lý Hoặc Luận của Mâu Bác (Mâu Tử)
đã ra đời vào khoảng cuối thế kỷ 2. Đó là tác phẩm Hán văn đầu tiên viết
về phật giáo tại Giao Châu. Trong sách có đoạn Mâu Tử phàn nàn: “Sa môn
ngày nay có kẻ lại thích uống rượu ngon, có khi có vợ con, biết cất giữ
vàng bạc của quý, lại chuyên môn lừa dối”. Như vậy chứng tỏ vào cuối thế
kỷ thứ 2, Giao châu đã có một tăng đoàn khá đông mới phát sinh những tệ
trạng như Mâu Tử nói.
Trong khi đó tại Trung Quốc mãi
đến năm 250, tức hậu bán thế kỷ 3, mới có Đàm Ma Ca La từ Trung Ấn qua làm
lễ truyền giới xuất gia – chứng tỏ Việt Nam đã thấm nhuần đạo Phật gần một
thế kỷ trước Trung Quốc. Vào thời đại nhà Đường có những nhà sư Việt nam
như Duy Giám đã được mời sang giảng đạo trong cung vua Đường:
Giảng kinh xuân điện lý
Hoa nhiễu ngự sàng phi
Nam Hải ký hồi hóa
Cựu sơn lâm lão quy
Nguyễn Lang dịch:
Giảng kinh nơi cung điện
Giường ngự hoa xuân bay
Bao lần qua Nam Hải
Núi cũ người về đây
Bài thơ cho thấy vị sư này đã
nhiều lần qua Trung Quốc thuyết pháp; và lúc ngài trở về Việt Nam, nhà vua
đã nhờ thi sĩ Giả Đảo làm thơ tiễn. Đề tựa của bài thơ là “Tống tăng quy
An nam”. Cũng may Giả Đảo là một thi sĩ nổi tiếng, nên thơ ông mới còn lưu
lại trong tập Đường thi để đến nay ta được biết vào thời ấy Phật giáo Việt
Nam đã có những vị sư lỗi lạc như thế. (Theo VNPG Sử Luận của Nguyễn Lang)
Một nhà thơ khác là Thẩm Thuyên
Kỳ một tiến sĩ đời Đường phạm chính trị, bị đày sang Hoan châu (nay thuộc
Nghệ Tỉnh) từ năm 701 đến 704. Khi mới sang Hoan châu, ông có những bài
thơ thảm thiết, vì đối với người Trung Quốc, Hoan châu là đất biên địa,
khô cằn. Ông có bài thơ “Sơ đáo Hoan châu” trong Đường thi, kể cảnh ngộ đi
đày và sự điêu tàn ở nơi biên địa. Ông rất đau khổ mong ngày ân xá để trở
về Trung Quốc. Một hôm nhân lúc ngao du ông đến một ngọn núi giáp giới
Việt Nam, và gặp một vị sư Việt Nam tu trong một am cốc trên triền đồi. Từ
đó cuộc đời ông được đổi mới, đến nỗi ông cho việc đày ải thế mà lại hay
cho ông vì nhờ thế mà ông ngộ đạo: “đày ải cũng duyên lành”. Ông tự thuật
mình đã biết đạo Phật 30 năm nhưng đến giờ mới ngộ, và tôn vị sư Việt Nam
là Phật Thích Ca tái thế:
Phật xưa sanh Thiên trúc
Nay hóa thân Nhật Nam
Vòng não phiền ra khỏi
Dưới núi dựng già lam
Chẳng những đạo Phật nước ta
ngày xưa có những vị sư uyên thâm như thế, mà tinh thần Phật giáo còn thấm
nhuần đại đa số quần chúng, qua những cổ tích, ca dao. Trong văn học bình
dân nước ta, những nguyên lý nhân quả tội phúc là nòng cốt, và Bụt luôn
luôn hiện đến với những con người bị thiệt thòi áp bức. Ví dụ truyện Tấm
cám, ăn khế trả vàng, Cây tre trăm đốt.... Với người Việt Nam, Bụt tượng
trưng cho một hình ảnh hết sức hiền hòa, luôn xuất hiện với những người
đau khổ. Mỗi người Việt Nam thuần túy đều là một Phật tử tiềm tàng cho dù
có đi chùa, quy y hay không. Khi một người nói “để đức cho con”, là họ đã
mặc nhiên công nhận mình là Phật tử dù có thể họ không biết gì về đức Phật
và đạo Phật.
II. THÁI TỬ TẤT ĐẠT ĐA
Thái tử Tất Đạt Đa đản sinh vào
năm 563 trước Tây lịch, con vua Tịnh Phạn cai trị một lãnh thổ nằm dưới
chân núi Hy mã lạp sơn, dọc biên giới Ấn và Népal ngày nay. Khi thái tử ra
đời có vị ẩn sĩ tên A Tư Đà xem tướng đoán Ngài sẽ làm hoàng đế thống lãnh
toàn cõi ấn sau này, hoặc nếu xuất gia sẽ thành Phật. Vua cha hoảng sợ
trước viễn ảnh con mình bỏ nhà đi tu, nên ra lệnh cho cận thần phải hết
sức chiều chuộng thái tử, không để cho Ngài phải thấy hay nghe một chuyện
gì đau lòng, trái ý. Thái tử hấp thụ một nền giáo dục văn võ song toàn,
nhất là về nghệ thuật bắn cung. Không những có tài nghệ và thông minh,
thái tử còn có tâm hồn mẫn cảm bén nhạy trước mọi nỗi khổ, dù là nỗi khổ
của các chúng sinh nhỏ bé. Khi còn bé thái tử đã chứng tỏ có tài biện bác.
Một hôm em họ Ngài là Devadatta bắn rơi một con chim, thái tử vội chạy đến
nhặt lên săn sóc cho đến khi nó bình phục. Devadatta đến đòi lại con chim,
lấy cớ mình đã bắn được nó. Thái tử hỏi lại: “Con chim thích ai hơn, thích
người cứu nó hay người giết nó?”
Một hôm vào dịp lễ hạ điền,
toàn dân ra đồng xem vua xuống ruộng cày những sá đầu tiên để cầu một năm
được mùa. Thái tử vừa lên ba bốn tuổi cũng được người hầu ẵm đi xem. Khi
thấy những con giun quằn quại dưới những luống cày, bầy chim sà xuống
tranh nhau mổ, lòng thái tử se thắt lại trước sự thật phũ phàng:
loài này phải làm thức ăn cho loài khác, và con người kiếm được bát cơm
hàng ngày một cách gian nan, không phải chỉ đổ mồ hôi và sức lao động mà
đôi khi phải đổ cả máu và nước mắt. Trước cảnh đau khổ ấy, thái tử ngồi
trầm tư dưới một gốc cây. Xong cuộc lễ người ta mới thấy thái tử đang nhập
định, mặt sáng ngời niềm hỉ lạc. Đến tuổi thành niên, thái tử kết hôn với
công chúa Yasodhara, em họ của Ngài, sau khi thắng tất cả các vương tôn
công tử trong những cuộc tranh tài về văn, võ. Vua cha còn gia tăng các
thú vui để làm cho thái tứ khỏi suy nghĩ vẩn vơ. Nhưng có cuộc vui nào
không tàn, có niềm hạnh phúc nào không biến đổi? Thái tứ thấy rõ hơn ai
hết cái phù du của mọi sự hào nhoáng xinh đẹp quanh mình. Càng đẹp càng
dường như không thật có, và càng thoáng qua mau. Quá chán chường trước
những cảnh:
Suốt ngày tháng tiệc hoa vui
mãi
Đêm xuân tàn, xuân lại còn
đêm. (Tản Đà)
và
Vẳng tiếng nhạc khắp nơi
nghe biết
Làn gió đưa cao tít Ly cung
(Tản Đà)
Thái tử xin vua cha cho ra
ngoài thành dạo chơi. Mặc dù vua đã chỉ thị những nơi xe thái tử đi qua
phải được trang hoàng đẹp đẽ, cũng không tránh khỏi sơ suất. Một lão ông
không rõ từ đâu chống gậy bước ra, lưng còng, tay chân run rẩy. Thái tử
hỏi:
- Này Chana, con gì thế kia?
- Bẩm thái tử, đó cũng là một
con người, nhưng nay đã già nên lưng còng, phải chống gậy.
- Thế thì công chúa Yasodhara
sẽ ra như vậy chăng?
- Vâng thưa thái tử, ngay cả
công chúa yasodhara đẹp như trăng rằm kia cũng sẽ da nhăn, tóc bạc lưng
còng như thế đấy.
- Thôi Chana, đủ rồi. Hãy đánh
xe cho ta về.
Ngày hôm sau Ngài lại ra dạo
chơi, lần này thái tử trông thấy một người bệnh, và lần thứ ba một xác
chết. Bức tranh đời thái tử đã trông rõ một cách trọn vẹn, đó không gì hơn
là già, bệnh, chết đến với tất cả mọi người, không phân giai cấp.
Thái tử càng u sầu áo não kể từ
ba cuộc dạo chơi. Vua cha lo ngại tuyển thêm mỹ nữ, nhạc công danh tiếng
vào cung để giải khuây thái tử. Ngày kia thái tử lại ra dạo ngoài cung
thành lần nữa, và lần này Ngài thấy một sa môn.
- Kìa Channa, phải chăng đấy
cũng là một người chết?
- Bẩm không, đó là một người
đang tu thiền định, thân xác trông như chết, nhưng tâm ông ta vẫn tỉnh
thức.
Trở về lần này, Ngài đã thấy
được một lối thoát, dù rất mơ hồ. Một đêm kia sau khi mãn cuộc vui trong
cung điện, đi ngang qua đám vũ nữ phục sức diêm dúa, phấn son nhầy nhụa,
đang lăn ra ngủ một cách mệt nhọc sau hậu trường, thái tử bỗng cảm thấy
một ý muốn ra đi mãnh liệt, từ bỏ tất cả những cảnh tượng này, cả cung
điện, cả người vợ xinh đẹp, nhất là cả hài nhi mới sinh. Cùng với nỗi vui
được làm cha, Ngài thoáng thấy một mối lo âu ràng buộc: đứa con sẽ là một
dây trói vững chắc vào cuộc sống thế tục, tình yêu đối với người con ngày
càng mãnh liệt sẽ làm Ngài khó lòng dứt áo ra đi, do vậy Ngài đặt tên con
là Rahula (ngăn che), ám chỉ tình yêu vợ con là sợi dây trói chặt nhất.
Bởi thế thời gian thuận tiện nhất đã đến, đó là đêm khuya thanh vắng,
Yasodhara và hài nhi đang ngủ say. Sau khi nhìn vợ con lần cuối, Ngài cùng
Xa Nặc lẻn ra ngoài cung thành trên lưng con ngựa Kiền Trắc yêu quý Ngài
thường cưỡi. Đến sông Anoma, Ngài xuống ngựa, cởi bỏ tất cả phục sức vương
giả, cắt tóc và trao tất cả cho Xa Nặc, kể cả ngựa. Xa Nặc khóc lóc xin đi
theo, ngựa cũng ứa nước mắt muốn theo thái tử. Nhưng không, thái tử cương
quyết đi một mình. Ngựa Kiền Trắc về buồn sầu bỏ ăn mấy ngày rồi chết vì
nhớ chủ. Bên bìa rừng, thái tử nhặt một tấm vải vàng khoác cho những tội
nhân đã bị hành quyết để thay cho y phục trên mình. Cũng như những tội
nhân kia, mọi người sinh ra phải chăng đã lãnh một bản án tử hình, đang
chờ giờ hành quyết. Khi được khoác tấm vải vàng để dần ra pháp trường là
mọi hệ lụy trên thế gian này đã chấm dứt. Từ đấy màu vàng tượng trưng cho
tu sĩ Phật giáo.
Ngài đi sâu vào rừng, nơi đó
Ngài gặp nhiều ẩn sĩ, theo học nhiều vị thầy về các môn yoga, khổ hạnh.
Ngài nhanh chóng nắm được các bí quyết tu hành của những vị này và vượt xa
hơn họ về các phép tu, song chúng cũng không đem lại mục đích Ngài mong
muốn. Ngài bèn giã từ tất cả thầy dạy, ra đi một mình, và trong 6 năm ròng
rã, Ngài đã trải qua thời gian khổ hạnh khốc liệt, mỗi ngày chỉ ăn một hạt
ngũ cốc cho đến khi thân thể Ngài chỉ còn là một bộ xương. Năng lực khổ
hạnh của Ngài được 5 anh em Kiều Trần Như cùng tu với Ngài rất thán phục.
Nhưng thái tử thấy rằng, càng khổ hạnh, sức Ngài càng mòn mỏi, không thể
tập trung thiền quán, và Ngài bỗng nhớ lại một kinh nghiệm hỷ lạc lúc Ngài
còn thơ ấu ngồi thiền dưới gốc cây trong ngày lễ hạ điền. Lúc đó các giác
quan Ngài hoàn toàn vắng lặng, tỉnh thức, trong sáng. Bây giờ Ngài nhận ra
rằng sự khổ hạnh không phải là con đường dẫn đến sự vắng lặng của cảm giác
và sự minh mẫn của tâm trí. Con đường đúng là đường ngày xưa Ngài đã theo,
khi ngồi thiền định dưới gốc cây. Nhưng một người đã kiệt sức vì khổ hạnh
ép xác thì không thể làm được vậy. Trong khi Ngài đang suy nghĩ điều này,
một cô bé chăn bò tên là Sujata trông thấy Ngài vội đem dâng một bát sữa.
Ngài chậm rãi đón lấy và chấm dứt cuộc khổ hạnh lâu dài. Sau khi dùng sữa,
tinh thần lai tỉnh, Ngài đem cái bát thả xuống dòng sông Ni Liên với lời
ước nguyện, nếu tôi đắc đạo thì cái bát này sẽ trôi ngược dòng sông. Năm
anh em Kiều Trần Như kinh ngạc trông thấy cái bát từ từ trôi ngược dòng.
Nhưng họ vẫn từ giã vì thấy Ngài không còn tu khổ hạnh nữa.
Còn lại một mình Thái tử nhớ
lại ngày xưa lúc tâm Ngài tự nhiên đi vào thiền định, Ngài đã kể lại về
sau: “Này chư Hiền, khi nhà thiện xạ bắn chẻ được một sợi tóc, người ấy
quan sát cẩn thận thế đứng của mình, cách cầm cây cung, vị trí những ngón
tay, cách phóng mũi tên ra... để làm lại những động tác đã đưa mình đến
thành công. Ta cũng thế, này chư Hiền, ta khởi sự một cách có phương pháp
bằng cách lập lại những gì đã đưa tới thành công trong thiền định rất lâu
về trước”.
Gần thành Gaya, thái tử tìm
thấy một nơi thanh tịnh, Ngài trải cỏ dưới gốc cổ thụ, rồi khoanh chân
ngồi kiết già với lời thề, ta sẽ không đứng dậy khỏi nơi này, khi chưa tìm
được lối thoát ra ngoài sống chết. Với quyết định này thái tử khởi sự đóng
lại các cửa ngõ giác quan, tập trung vào tâm ý. Khi Ngài đi sâu vào thiền
định, những tầng lớp vô thức dần dần xuất hiện dưới hình thức những sứ giả
của ác ma: ma ái luyến hiện hình ra nàng Yasodhara xinh đẹp đang khóc lóc,
ma danh vọng hiện hình ra cung điện vàng son, ma hoài nghi, ma sợ hãi
v.v.. nhưng không gì làm cho Ngài nao núng. Cuối cùng đạo quân ác ma phải
rút lui, cửa ngõ vô thức, hầm sâu vô minh bây giờ tràn trề ánh sáng. Ngài
trở thành một Con người tỉnh thức, một đức Phật. Ngài đã đến lĩnh
vực mà già chết không thể nào chạm đến, đó là Niết bàn, Bất tử Đức Phật
Thích Ca, danh hiệu của Ngài kể từ giây phút tỉnh thức trọn vẹn, ngồi yên
dưới gốc cây mà từ đấy được vinh dự mang tên là cây Bồ đề, hay cây Giác
ngộ. Ngàỉ thưởng thức niềm hỷ lạc của Niết bàn trong nhiều tuần, rồi bỗng
tim Ngài se thắt lại khi nghĩ đến nỗi khổ của chúng sanh đang ngụp lặn
trong đau khổ vì vô minh, Ngài muốn tìm phương cứu độ.
Khi ấy ác ma lại xuất hiện lần
nữa: “Hỡi Gotama! Ngài đã đạt đến Niết bàn, đã thoát khỏi tầm tay của ta,
Ngài đã đi sâu vào những tầng tâm thức vi diệu mà ngay cả những loài chư
thiên cao nhất cũng chưa từng đạt đến, nhưng Ngài đã biết rồi đấy, thật
gian khổ biết bao, Ngài với con mắt sáng mà còn phải vô cùng khốn đốn mới
đạt đến Niết bàn, thì làm sao những kẻ đầy bụi trong con mắt có thể đạt
đến, nhất là chúng lại không mong cầu Niết bàn, chúng chỉ mong cầu những
thỏa mãn riêng tư. Dù chúng phải chịu trăm cay nghìn đắng trong đời, nhưng
mấy ai muốn từ bỏ thế gian với những thú vui giả tạm, mấy ai thực sự đi
tìm chân lý? Có phải phí công vô ích chăng, khi Ngài không nhập vô dư niết
bàn mà lại có ý định ra giáo hóa chúng sinh, chỉ bày cho chúng con đường?
Thôi đi, hởi Gotama, chẳng có mấy ai chịu nghe Ngài thuyết giảng đâu, mà
dù chúng có nghe, vị tất chúng đã làm theo. Nếu có làm theo, vị tất chúng
đã chịu khó nỗ lực đến cùng, như Ngài đã nỗ lực. Ít có kẻ nào
thực tình muốn lau hết bụi bặm trong con mắt, Ngài hãy nhập Niết bàn đi,
hỡi Gotama”.
Đức Phật ngồi im lặng giây lâu,
những lời của ác ma quả có làm cho Ngài dao động, vì nó chứa một phần sự
thật. Trong cái thế giới đang ngủ say với tham lam, bạo tàn và quyền lực
này, có mấy ai sẽ chịu khó lắng nghe thông điệp của “Người về từ cõi
Tâm linh” mà họ chưa từng biết đến. Thông điệp ấy dạy rằng, mọi sự vật
trên đời từ con người cho đến muông thú và cỏ cây, tất cả trên mặt đất và
trong lòng đất đều là một thân thể bao la, không phần nào bị hại mà không
tổn thương đến toàn thân thể. Hận thù không làm tiêu tan hận thù mà chỉ có
lòng bao dung thông cảm mới thắng được hận thù, bạo động. Quả thật vô cùng
khó khăn để mà tin nổi thông điệp của Ngài, trong khi chúng sinh đang chìm
ngập trong hận thù, vô minh, ngã chấp.
Nhưng đức Phật chỉ dao động vì
những lời của ác ma trong một chốc, rồi niềm tin trở lại với Ngài. Ngài
thấy chúng sinh có nhiều hạng, cũng như những cọng sen trong hồ, có cọng
đang còn ngập dưới bùn sâu, có cọng đã vươn lên ngang mặt nước, có cọng
sen đã vươn rất cao, tỏa hương khắp không gian. Chúng sinh có kẻ nhiều bụi
trong mắt đang chìm trong màn đen vô minh, song cũng có kẻ ít bụi trong
con mắt, có thể lãnh hội phần nào chân lý mà Ngài sẽ giảng nếu nó được
trình bày thứ tự và có phương pháp. Có ai lại không muốn thoát khổ, an lạc
dài lâu? Niềm tin ấy đã khiến đức Phật quyết định giảng pháp. Ngài tiếp
tục ngồi tại cội bồ đề trong nhiều tuần, thưởng thức mềm tịnh lạc đă
chứng, có lẽ trong thời gian ấy, Ngài cũng phác họa một chương trình giáo
hóa về sau. Cuối cùng khi thấy đã đến lúc, Ngài đứng lên khỏi tòa ngồi để
bắt đầu cuộc du hóa vĩ đại 45 năm không dừng nghỉ. Bấy giờ không những
Ngài là bậc thánh đã đạt đến niết bàn mà còn là bậc thánh đã an lập trong
niết bàn vô trú, một sự tỉnh thức và an lạc không chỉ có trong lúc
Ngài ngồi mà trong mọi thời mọi chỗ, dù khi Ngài đang đứng hay nằm, dù khi
Ngài nói hay im lặng, dù khi Ngài thức hay ngủ. Ta gọi đó là Như Lai thanh
tịnh thiền. Bấy giờ Ngài có thể giúp mọi người vượt qua, như Ngài đã vượt
qua, dòng sông sanh tử. Điều cốt yếu là họ có thực tình muốn vượt qua hay
không. Do đó Ngài có biểu tượng là người chèo con thuyền bát nhã, đưa
người từ bờ sinh tử đến bến niết bàn, luôn luôn kêu gọi, “Có ai muốn qua
sông không?”
III. BÁNH XE PHÁP
Đó là bài thuyết giáng đầu tiên
của đức Phật sau khi giác ngộ. Khi Ngài đứng lên khoan thai bước đi, trước
tiên Ngài đi quanh cây bồ đề, tỏ dấu cám ơn cái nơi Ngàỉ đã ngồi thiền và
đạt giác ngộ, rồi Ngài khởi sự ra khỏi rừng, đi về hướng có thể gặp những
con người. Sắc diện Ngài chắc phải tỏa ra một vầng hào quang của trí tuệ
và từ bi, nên một vài tiều phu thấy Ngài đã sụp lạy vì tưởng Ngài là thần
cây, những người khác tưởng Ngài là một thiên thần xuất hiện, nhiều người
cho Ngài là phi nhân, một loài biến hóa, với tất cả những người này Ngài
đều trả lời rằng họ đã lầm: “Ta không phải là người, nhưng với loài
người ta là một con người đã tỉnh thức, ta không phải là vị trời, nhưng
đối với chư thiên ta là một vị trời đã tỉnh thức, ta không phải là rồng
nhưng đối với loài rồng thì ta là một con rồng đã giác ngộ...” Những
lời này gợi cho ta biết, đức Phật khi ấy không còn là người dù
Ngài có thể mang thân xác một
con người, không thể là vị trời dù có thể Ngài có hình ảnh của chư thiên,
Ngài siêu việt tất cả tướng như hình sắc, hư không. Ngài đã đạt đến tuyệt
đối, đến bất nhị, vượt lên trên có và không, còn và mất, động và tĩnh,
Ngài vừa là chân không, vừa là diệu hữu.
Tại Vườn Nai gần thành Ba La
Nại, bên bờ sông Hằng, Ngài gặp năm anh em Kiều Trần Như, đệ tử tu khổ
hạnh của Ngài ngày xưa. Ngài đã giảng cho họ bài pháp đầu tiên còn nổi
tiếng đến ngày nay, gọi là “Chuyển bánh xe pháp Tứ đế”, hay tứ
thánh đế. Chữ “thánh” có nghĩa do bậc thánh tìm ra, và chỉ có bậc
thánh mới thấy một cách trọn vẹn.
Ngài dạy: “Này chư Hiền, diệu
đế thứ nhất là chân lý về khổ. Ai cũng muốn hạnh phúc, lạc thú, sum vầy,
ai cũng muốn điều tốt lành, lẽ phải, sự trường tồn, niềm thỏa mãn, vậy mà
ai cũng thấy cuộc đời chỉ đem đến cho ta đau khổ, buồn sầu, tan tác, điều
dữ, việc gai mắt, sự bấp bênh, điều ngang trái. Cuộc đời là biến chuyển,
mà biến chuyển không bao giờ đem lại sự thỏa lòng, mọi đổi thay đều đem
đến ít nhiều đau khổ.
Diệu đế thứ hai là nguyên nhân
của khổ. Không phải cuộc đời đem lại đau khổ mà chính những đòi hỏi của ta
từ cuộc đời đã đem lại đau khổ cho ta, chẳng hạn như đòi hỏi sự trẻ mãi
không già, sống hoài không chết. Bởi thế nguyên nhân của đau khổ là dục
vọng, nỗi khát khao điều mình mong muốn, sống theo ý riêng của mình. Vì
tưởng cuộc đời có thể làm cho họ hạnh phúc bằng cách đem lại cho họ những
gì mong muốn, con người theo đuổi sự thỏa mãn những ưóc mơ của mình. Nhưng
này chư Hiền, không có ngọn lửa nào mạnh bằng lửa dục, càng được thỏa mãn
lòng dục càng tăng, nó như một cái thùng lủng đáy. Lòng dục đòi hỏi một
điều không thể có, ấy là một thứ trường cửu không xen lẫn khổ đau, nhưng
đòi hỏi như thế chẳng khác nào mò trăng đáy nước.
Này chư Hiền, diệu đế thứ ba
là, mọi nỗi sầu đau khi được hiểu rõ đều có thể chữa lành. Khổ có nguyên
nhân nên sẽ có sự chấm dứt khi nguyên nhân của nó chấm dứt. Nguyên nhân
của khổ là dục vọng ích kỷ, khi dục được dập tắt thì tâm ở trong trạng
thái tỉnh thức. Sức khỏe tâm hồn, sự lành mạnh ấy gọi là ái diệt, hay niết
bàn.
Diệu đế thứ tư là lòng tham dục
vị kỷ, nguyên nhân của khổ ấy có thể được dập tắt bằng cách theo một con
đường tám chính: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính
mạng, chính tinh tiến, chính niệm, chính định. Nếu pháp là bánh xe thì 8
chính là 8 căm xe.
Chính kiến là
thấy cuộc đời đúng như thực chất của nó, giữa dòng thác đổi thay đang tuôn
chảy thì tìm đâu có một chỗ bám víu bên ngoài. Biết rõ rằng hạnh phúc
không đến từ bên ngoài, rằng mọi sự sinh ra phải bị hủy diệt. Chính kiến
tức thấy đúng, chính kiến là khởi điểm của trí tuệ. Từ chỗ thấy đúng phát
sinh ý chí, mong muốn, suy tư phù hợp với thực chất của cuộc đời. Cũng như
cơn nước lũ cuốn trôi một ngôi làng ngủ say, cái chết cuốn trôi những
người không chuẩn bị. Bởi thế hãy nhớ kỹ điều này, hãy biết sống trước khi
quá muộn, biết sống là chỉ suy nghĩ, dự tính không hại mình, không hại
người, không hại cả mình và người. Biết sống là chỉ suy tư những gì phù
hợp với chân lý vô thường, vô ngã. Biết sống là quá khứ không truy tìm,
tương lai không ước vọng, đó gọi là chính tư duy. Hai chính
này tức là thấy đúng và tư duy đúng, thuộc về Tuệ.
Chính ngữ hay nói
đúng, chính nghiệp hay làm đúng, chính mạng
hay sinh nhai chân chính, đó là 3 điều phát sinh từ chính tư duy, thuộc về
Giới. Ba điều này có nghĩa là sống thuận theo tính nhất thể của đời sống,
không chỉ nhắm đến hạnh phúc bản thân mà còn nhắm đến an lạc cho tất cả.
Chính mạng là không làm nghề
hại đến sinh mạng của người khác, loài khác. Tất cả đều ham sống, sợ đau
khổ, bởi thế hãy xem tất cả như chính thân mình. Chính nghiệp là tránh
những việc làm trái với lương tâm, tổn hại đến sự sống của muôn loài, của
môi trường.
Ba chính cuối cùng liên hệ đến
tâm, đó là chính tinh tiến, chính niệm, chính định. Mọi sự
tùy thuộc vào tâm, cuộc đời chúng ta do tâm của ta hình thành, chúng ta
trở thành những gì do tâm ta suy nghĩ, đau khổ sẽ tiếp theo một tư tường
xấu ác như bánh xe lăn theo con vật kéo xe, niềm vui sẽ tiếp theo một tư tường tốt
lành như hình với bóng. Chính tinh tiến là luôn đào luyện bản thân về 3
phương diện, thân, lời, ý. Như cần tập thể thao để rèn luyện thân thể,
người yêu mến niết bàn cũng phải rèn luyện tâm ý, chỉ nhờ nỗ lực tinh tiến
không ngừng mà ta có thể đạt đến niết bàn:
“Hăng hái giữa những người
biếng nhác, tỉnh thức giữa đám người ngủ mê. Hãy tiến lên như con tuấn mã
bỏ xa bầy ngựa yếu hèn”
(Pháp
cú)
Chính niệm là đặt hết sự tỉnh
thức vào một việc hiện tại trước mắt. Cái gì thiện, có lợi cho mình và
mọi người, đem lại an lạc dài lâu, hãy tập trung vào đó. Cái gì tiêu cực
chủ quan, làm cho tâm dao động, thoái hóa, thì đừng chú ý đến nó. Sự đào
luyện chính niệm, điều phục tâm để tập trung vào cái gì đáng tập trung, là
việc hết sức gian nan. Một cái tâm không điều phục thường phải đau khổ và
thường gây ra đau khổ. Nhưng một tâm khéo điều phục đem lại sức khỏe và
hạnh phúc.
Chính định là phương pháp đào
luyện tâm:
“Như mái nhà vụng lợp, mưa
sẽ nhỏ giọt vào, dục tham sẽ lẻn vào tâm không khéo tu tập”.
(Pháp cú)
Hãy đào luyện tâm bằng phương
pháp thiền định thì dục tham sẽ không lọt được vào, như mưa không lọt qua
mái nhà khéo lợp. Ba chính sau cùng này thuộc về Định.
Này chư Hiền đây là con đường
mà chính ta đã đi qua, không có con đường nào khác để thanh lọc tâm thức.
Hãy đi theo con đường ấy để chiến thắng ác ma, ở cuối con đường là sự chấm
dứt đau khổ. Nhưng các ngươi hãy tự mình nỗ lực tinh tiến khi Như Lai đã
chỉ rõ con đường.
Phật xác định rõ vai trò của
Ngài: Ngài là vị lương y đã chẩn bịnh và tìm ra phương thuốc trừ bệnh,
nhưng uống hay không còn tùy thuộc ở con bệnh. Nếu con bệnh không muốn
nhận rằng mình có bệnh, hoặc biết mình bệnh mà không muốn chữa, thì đó
không là lỗi lương y. Ngài là vị hướng đạo chỉ rõ con đường tốt cho người
đi, nhưng nghe rồi bỏ qua không chịu đi thì không phải lỗi của người dẫn
đường.
Đối với Phật tử chúng ta, cuộc
đời cao cả của đức Thế Tôn là bài thuyết pháp, từ khi Ngài còn tại gia cho
đến khi thành đạo và giáo hóa độ sanh, mỗi giai đoạn trong lịch sử đời
Ngài đều là một chặng đường tỉnh thức để đưa đến sự giác ngộ hoàn toàn
trong phút giây thành đạo. Ta có thể đặt tên bốn chặng đường ấy là: chặng
đường thực nghiệm, chặng đường từ bỏ, chặng đường sáng tạo và chặng đường
chuyển hóa.
Chặng đường thực nghiệm
Khi còn tại gia, thọ hưởng dục
lạc, thái tứ vẫn luôn luôn sống tỉnh thức, có lối nhìn đầy trí tuệ và bi
mẫn. Mặc dù được vua cha thương yêu, mặc dù sống trong cung vàng điện
ngọc, mặc dù bị bủa vây giữa thế tục xa hoa phù phiếm, thái tử không bao
giờ quên chính niệm. Chính niệm ấy khiến
Ngài chú ý điều đáng chú ý, dù
nó rất thoáng qua, dù nó bị che khuất. Đó là hình ảnh con giun quằn quại
dưới luống cày, là hình ảnh già bệnh chết, hình ảnh những vũ nữ mệt nhoài
sau hậu trường.
Mặt trái của cuộc vui, mặt trái
của cuộc đời dù được che đậy rất kỹ, vẫn không thoát khỏi lối nhìn sắc bén
của một con người tỉnh thức. Nhờ vậy thái tử không bị đắm chìm trong đời
sống thế tục, dù đó là sự vàng son của ngôi vua, hạnh phúc của tình yêu
tuổi trẻ và sắc đẹp. Ta có thể gọi đấy là giải thoát bằng con đường thực
nghiệm, nhờ một cảm quan bén nhạy và lối nhìn tỉnh thức. Đó là cách tu
hành mà Phật dạy cho Bồ tát tại gia trong phẩm Tịnh Hạnh - kinh Hoa
Nghiêm. Muốn tu theo cách này, cần một lối dụng tâm chân chính trong khi
năm giác quan tiếp xúc 5 đối tượng bên ngoài. Tổ Huệ Năng cũng dạy:
“Tâm sẵn có trí tuệ thanh
tịnh,
chỉ cần vận dụng tâm ấy thì
sẽ thành Phật”,
(Tự tánh bồ đề, bản lai thanh
tịnh
Đản dụng thử tâm trực liễu
thành Phật)
Ta hãy đọc vài đoạn cách “dụng
tâm” của Bồ tát trong kinh Hoa Nghiêm, giải thoát bằng con đường thực
nghiệm, bằng ngay sự việc trước mắt chứ không cần phải cạo đầu đi tu hay
lên núi xuống hang gì cả. Điểm chính yếu trong cách dùng tâm này là tỉnh
thức trong công việc mình đang làm, sống ngay với phút giây hiện tại đồng
thời phát triển lòng bi mẫn và chính niệm.
“Bồ tát tu tại gia hãy làm
cho mọi người hiểu thấu nhà không thực, hết bị sự bức bách của nhà.
Khi hiếu dưỡng cha mẹ, hãy
nguyện cho mọi người khéo thờ phụng chư Phật, cứu giúp cả chúng sanh.
Khi sum họp gia đình, hãy
nguyện cho mọi người xem ghét thương bình đẳng, để xa lìa ái luyến.
Khi thọ hưởng 5 dục, hãy
nguyện cho mọi người nhổ tên độc tham dục, được hoàn toàn an vui.
Khi xem ca vũ nhạc, hãy
nguyện cho mọi người lấy chính pháp làm vui, rõ múa ca giả dối.
Khi ở trong phòng thất, hãy
nguyện cho mọi người được vào nơi thánh địa, xa dục lạc nhiễm ô.
Khi đeo chuỗi ngọc quý, hãy
nguyện cho mọi người bỏ trang sức giả dối, đạt đến chỗ chân thật.
Khi đi lên lầu cao, hãy
nguyện cho mọi người lên được lầu chính pháp, thấy bao quát mọi loài.
Khi gặp tai nạn nguy, hãy
nguyện cho mọi người được tự do tùy ý, đi đâu không chướng ngại.
Khi bỏ nhà ra đi, hãy nguyện
cho mọi người, xuất gia không chướng ngại, tâm thường được giải thoát.
Thấy đường lên dốc cao, hãy
nguyện cho mọi người được lìa cả 3 cõi, không có tâm khiếp nhược.
Khi đường đi xuống dốc, hãy
nguyện cho mọi người tâm tính thường khiêm hạ, thêm lớn mãi căn lành. .
Khi gặp đường quanh co, hãy
nguyện cho mọi người từ bỏ tâm bất chính, và các ác tà kiến.
Thấy người ham vui thú, hãy
nguyện cho mọi người lấy chính pháp làm vui, hoan hỉ trong chính pháp.
Thấy người không ham vui,
hãy nguyện cho mọi người, tâm không bị đắm mê, trong các pháp hữu lậu.
Thấy người tướng xinh đẹp,
hãy nguyện cho mọi người, đối trước Phật, Bồ tát, có lòng tin trong sạch.
Thấy người tướng xấu xí, hãy
nguyện cho mọi người, đối các việc ác tà, không khởi tâm ham thíchthích.
Thấy người biết đền ơn, hãy
nguyện cho mọi người đối chư Phật Bồ tát, thường biết nhớ ơn sâu.
Thấy người quên ơn nghĩa,
hãy nguyện cho mọi người, đối với kẻ ác độc không giữ tâm báo thù.”
Đấy là con đường thực nghiệm
của Bồ tát tại gia, những người tu ngay trong khi mắt thấy tai nghe hàng
ngày, trong những cảnh thuận ý hay nghịch ý bằng cách đào luyện chính niệm
và từ bi .
Giải thoát bằng con đường thực
nghiệm này còn có nghĩa là nhìn mọi sự vật dưới ánh sáng của tuệ giác, qua
đó tất cả đều là biểu hiện của pháp thân, dù đó là trúc tía, mai vàng, hay
bùn lầy, nước đọng, ánh sáng hay bóng tối, mùa xuân hay mùa đông. Chỉ cần
cái mỉm cười, cái gật đầu của ta thì mọi sự đều tốt lành theo kiểu ông già
họ Tái mất ngựa. Tín tâm minh nói: “Chỗ chí đạo không gì khó, chỉ kỵ
lọc lừa”. (Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch)
Ngôn ngữ thiền gọi điều này là
đoạt tâm không đoạt cảnh, bỏ sự rắc rối. Mọi rắc rối có ra là do tâm rắc
rối, bởi thế chỉ cần vô tâm hay vô niệm là giải quyết được tất cả.
Chặng đường từ bỏ
Khi từ bỏ đời sống tại gia vào
rừng tu khổ hạnh, là thái tử từ bỏ con đường thực nghiệm để dấn thân vào
vực thẳm, vào bóng tối, vào đau khổ tự nguyện nhưng đồng thời vẫn tỉnh
thức để thoát ra khỏi nó khi thấy nó không đưa đến giải thoát. Con đường
này mệnh danh là sự giải thoát nhờ từ bỏ, như người tu khổ hạnh nhờ
khổ hạnh mà lìa dục hoặc như nghệ sĩ bị ám bởi một thể tài nghệ thuật.
Chặng dường sáng tạo
Nhờ từ bỏ lối tu khổ hạnh, thái
tử tiến đến trung đạo, vượt trên khổ và lạc, tìm thấy ánh sáng giác ngộ.
Đấy gọi là giải thoát bằng con đường sáng tạo, như sự bừng dậy của mùa
xuân sau những tháng đông băng giá, như ánh sáng cuối đường hầm. Sự sáng
tạo nghệ thuật cũng vậy, chỉ xảy đến sau khi nghệ sĩ hoàn toàn quên mình,
rút vào bóng tối để cho nghệ thuật tự hiển bày.
Chặng đường chuyển hóa
Cuối cùng khi quyết định ra
thuyết pháp độ sanh là đức Phật đã bước lên chặng đường tỉnh thức thứ tư,
đem hoa trái của giác ngộ gieo rắc khắp mọi người không phân biệt. Đấy
cũng là con đường của những chính trị gia thánh thiện như Gandhi, Dalai
Lama thứ XIV, đấy là con đường của Moise khi xuống núi Sinai, của Jesus
khi đến với đám đông tụ họp bên bờ sông Jordan. Họ là những người đã giã
từ thế gian rồi trở lại thế gian, sau khi đã hoàn toàn chuyển hóa để phụng
sự con người.
V. KẾT LUẬN
Theo đại thừa giáo, cuộc đời
của đức Thích Tôn từ khi đản sanh cho đến khi nhập niết bàn đều là thị
hiện như những phương tiện độ sanh: thị hiện đản sanh, thị hiện thọ hưởng
dục lạc, thị hiện xuất gia tu khổ hạnh, thị hiện thành đạo và thị hiện
niết bàn. Thị hiện làm thái tử ở Ấn Độ cách đây 2535 năm là có không gian
và thời gian, nhưng kỳ thực Ngài là đấng bất sanh bất diệt vượt ngoài thời
không, Ngài là trung đạo, là bất nhị vì Ngài vượt trên tất cả qua bốn
chặng đường vừa nói. Ở trong dục lạc mà không đắm mê dục lạc, xuất gia tu
khổ hạnh nhưng không vướng mắc khổ hạnh, thành đạo đạt niết bàn nhưng
không vướng mắc niết bàn, để cuối cùng trở lại giáo hóa độ sanh. Niết bàn
của Ngài bấy giờ trở thành vô trú niết bàn, một niết bàn
không có biên giới ngăn chia với sanh tử. Bởi vậy thật là niềm vui lớn cho
những ai có đủ lòng tin theo đó Phật là đấng chân thường, như kinh Pháp
Hoa dạy,
chư hữu tu công đức
nhu hòa chấp trực giả
tất giai kiến ngã thân
tại thử nhi thuyết pháp
(Những ai dày công tu luyện,
tính tình nhu hòa chất trực, thì sẽ thấy pháp thân của ta đang còn thuyết
pháp)
Sau đây xin mạn phép trích dẫn
một lời của Thượng tọa Trí Quang để kết thúc bài này: “... Nhưng vô trú
niết bàn là gì? Là xả bỏ phiền não mà không xả bỏ chúng sanh. Nên Phật
thường trú, thị hiện đủ loại hình mà ích lợi chúng sanh. Không những thị
hiện thân Phật, thị hiện thành đạo thị hiện niết bàn, thậm chí đến cái
thân tôi tớ giúp việe Phật cũng thị hiện, và nói như kinh Địa Tạng, cao
nguyên bình nguyên ao hồ suối giếng, không có gì lợi ích có tác dụng hóa
độ cho chúng sanh mà Phật không thị hiện. Phật thị hiện đến như vậy mà ta không nhận
biết, vì ta là đồ bể không thể chứa nước, hoặc chứa mà nước đục nước xao
dộng, thì chẳng bao giờ thấy được hình bóng vầng trăng”.
02
.HỒNG DANH ^
Hồng danh là nghi thức Mật
tông. Trong Mật tông vai trò bậc Thầy còn quan trọng hơn cả Tam bảo, vì
nhờ Thầy mà ta biết được Ba ngôi báu, nên trước khi đảnh lễ Tam bảo ta
phải đảnh lễ bậc Thầy đã đưa mình vào đạo lộ Kim cang thừa:
“Nam
mô quy y Kim cang thượng sư”.
Kim cang thừa là cỗ xe Phật
đạo, cỗ xe cao nhất, trực chỉ, “tức thân thành Phật”, không qua các giai
đoạn. Ngay trong thân và tâm hiện tại, ta phải trực nhận Phật tính đầy đủ
vô lượng công đức vô lượng trí tuệ, và đồng thời trực nhận Phật tính ấy
nơi tất cả mọi người, bỏ qua những hiện tượng bất toàn của thế gian. Giây
phút nào mà ta trực nhận được Phật tính nơi tự thân và nơi tha nhân, là
giây phút đó bản thân và hoàn cảnh ta được chuyển hóa: cõi chúng sinh
thành cõi Phật, vì trong đó chúng sinh đang thành Phật. Cho nên tiếp
dến, có câu: “Con nay phát tâm không để tìm hạnh phúc trong cõi người, cõi
trời, hay để làm các bậc thánh thanh văn, độc giác, hay trải qua 53 địa vị
Bồ tát là những giai đoạn tạm thời. Mà con phát tâm là chỉ nhắm đến một
cảnh giới duy nhất, đó là cảnh giới mà trong đó mọi người đều là Phật. Xin
cho tất cả chúng sinh cùng được chứng quả vị Vô thượng bồ đề, thành Phật”.
Sau khi đã nguyện như thế rồi,
hành giả phải quán tưởng tất cả vũ trụ đều là cõi Phật, tất cả chúng sinh
trong đó đều là Phật, và đảnh lễ: “Con xin quay về nương tựa vô lượng chư
Phật trong mười phương, cùng khắp không gian”.
Đã thấy được tất cả chúng sinh
là Phật, thì cũng thấy được tất cả hiện tượng trước mắt đều là Pháp, nghĩa
là chân lý giúp ta giải thoát. Cho nên hành giả đảnh lễ: “Con xin quay về
nương tựa tất cả chính lý ở nơi mọi sự trong khắp không gian vô cùng tận”.
Tất cả mọi sự, mọi hiện tượng trên thế gian đều là Pháp, bởi vì trong cái
giả ta tìm được sự thật, nhờ cái sai ta biết được cái đúng, trong vô
thường ta thấy được chân thường, trong khổ ta thấy được đâu là hạnh phúc
chân thực. Đã thấy được tất cả chúng sinh là Phật, hay đúng hơn, thấy được
cốt lõi Phật tính nơi tất cả chúng sinh, thì đồng thời cũng thấy được tính
thanh tịnh vốn có nơi chính mình và mọi người.
Tính thanh tịnh đó làm nên hiền
thánh, nên ta đảnh lễ tất cả hiền thánh tăng ở cùng khắp mười phương không
gian vô tận: “Con xin quay về nương tựa tất cả các bậc hiền thánh trong
không gian vô cùng tận”. Phải “quay về” là vì nếu chỉ chấp tướng bề ngoài
thì ta không thể thấy tính tịnh nơi mọi người được. Khi thấy một người
đang hiện tướng giận dữ tham lam, nhưng nếu ta bình tâm “quay về” cái nơi
xuất phát cơn giận dữ tham lam ấy, thì ta vẫn thấy được nó vốn tịch mịch,
đồng nhất với tâm Phật và tâm của tất cả mọi người. Như thế là ta “quay về
nương tựa tất cả thánh hiền”.
Kế tiếp, hành giả đảnh lễ đức
Phật đầy đủ mười hiệu.
1. “Như lai”
“Như” ám chỉ khía cạnh bất biến
của pháp thân bất sinh diệt, “lai” ám chỉ khía cạnh tùy duyên của ứng thân
có sinh diệt. Phật “đến” với chúng ta khắp mọi nơi trên cõi đời đau khổ,
nhưng đồng thời Ngài vẫn “như”, vẫn luôn luôn thanh tịnh, niết bàn. “Như”
là vừng trăng trên trời, “lai” là bóng trăng dưới nước, ngàn giếng nước
thì có ngàn bóng trăng xuất hiện, nhưng gốc chỉ là một vừng trăng. Tâm ta
như hồ nước, khi trong lắng sẽ có bóng trăng Phật xuất hiện trong đó. Như
Lai là trung đạo nơi Phật: ở trong sinh tử mà không nhiễm sinh tử, ở trong
Niết bàn nhưng không bỏ quên chúng sinh mà vẫn “đến” với chúng sinh, miễn
rằng chúng sinh có đủ điều kiện, sẵn sàng để đón tiếp Ngài: như giếng nước
phải trong lặng, vào đêm rằm không có gió thì vừng trăng mới xuất hiện
tròn vẹn và trong sáng.
Trong kinh Kim Cương có ba câu
giải thích danh hiệu Như Lai: Câu thứ nhất: Như lai thị chân ngữ giả,
thật ngữ giả, như ngữ giả, bất cuống ngữ giả, bất dị ngữ giả (đoạn
17–theo cách phân 32 đoạn của Chiêu minh thái tứ.). Câu thứ hai: Như
lai giả, tức chư pháp như nghĩa (đoạn 17). Câu thứ ba: Như lai giả,
vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như lai (đoạn 29).
Câu thứ nhất ám chỉ ngữ hành
của Phật: Như Lai là đấng nói lời chân, lời thật, lời như, lời không dối,
lời không khác. Lời chân là lời đúng sự thật không phải bày đặt để nói,
lời thật là không dối trá, lời như là trước sau như một không mâu thuẫn.
Câu thứ hai: Như lai là nghĩa như của các pháp. Đây không còn nói về người
như câu trên mà nói về pháp; khía cạnh như như bất biến nơi các pháp. Mọi
sự vật thiên hình vạn trạng đều bao hàm trong chữ pháp và có một đặc tính
chung giống nhau là vô ngã, như câu Pháp cú
Chư hành vô thường, chư pháp vô
ngã. Vô ngã nghĩa là
không có tính cố định bất biến, chỉ do kết hợp, phân biệt đối đãi mà thành
có ra một cái tên nên vô ngã cũng còn gọi là giả danh. Như cùng một chất
bột nắn ra nhiều thứ bánh rồi đặt tên khác nhau. Thấy được tính duyên
sinh, vô ngã nơi các pháp (cả pháp phàm như 5 uẩn 4 đại, lẫn pháp thánh
như vô thượng bồ đề) cũng chính là thấy Phật vì Phật và Pháp (trong nghĩa
niết bàn hay chân lý Phật chứng) cũng vô ngã. Đoạn 17 của Kinh còn dạy
tiếp để ta thấy rõ tính vô ngã của thánh pháp như sau: Không có cái phương
pháp cố định nào tên là pháp (cách đạt đến) vô thượng bồ đề, tất cả pháp
đều là Phật pháp. Cũng không có một pháp cố định nào Như Lai có
thể nói. (Vô hữu định pháp danh a nậu đa la tam niệu tam bồ đề, diệc vô
hữu định pháp Như lai khả thuyết). Người đưa đò sang sông nhờ chuyên
tâm nghiền ngẫm về dòng sông mà giác ngộ nên dòng sông đối với ông ta
chính là cái pháp để thành Phật. Trong khi đó không hiếm gì người nghiên
cứu kinh điển rồi vì lợi danh mà bóp méo lời Phật, hoặc trích dẫn lời Phật
nhưng không đúng chỗ đúng lúc đúng người thì Pháp lại thành phi pháp; chỉ
là một phương tiện sinh nhai của người nói và đánh lạc hướng những người
nghe thiếu suy nghĩ.
Câu thứ ba: Như lai là không từ
đâu lại và cũng không đi về đâu (Như lai giả, vô sở tùng lai, diệc vô sở
khứ cố danh Như lai); đến đồng nghĩa với sinh ra, đi đồng nghĩa với diệt
mất, Phật không đến không đi tức là bất sinh bất diệt. Thấy được bất sinh
bất diệt cũng là thấy Phật vậy. Bất sinh bất diệt chính là cái Tâm bất
sinh mà chiếu sáng kỳ diệu trong pháp thiền của tổ sư Bàng Khuê (Bankei).
2. “Ứng cúng”
Phật là nơi đáng cúng dường
nhất, bằng những phẩm vật tối thượng trong ba cõi. Nghi lễ mật tông thường
cúng tất cả vũ trụ, sơn hà đại địa, núi Tu di và biển cả cho Phật. Vì sao
lại đem cúng Phật những cái không phải của mình? Vũ trụ, núi, biển, gió,
trăng... tuy không phải của mình, song cũng không phải của bất cứ ai, nó
do cọng nghiệp của tất cả chúng sinh (trong đó có mình) tạo nên. Do vậy
vẫn có thể cúng được như thường. Lý do vì công đức của Phật quá lớn lao
không thể nào nói cho xiết, dù ta có bỏ cả vô số kiếp mà nói đi nữa. Công
đức ấy không có phẩm vật gì thích hợp để cúng dường, ngoài ra là cúng
dường cho Ngài tất cả vũ trụ với sơn hà đại địa, núi tu di và biển cả và
tất cả mọi thứ bao gồm trong đó, kể cả thân tâm ta. Cũng như những người
yêu nhau tha thiết không biết cho người mình yêu cái gì cho xứng với tấm
lòng ngưỡng mộ, bèn đem tặng cả mùa xuân, cả lộc non, hoa lá, đường lao
xao phố chiều, đất mẹ với chim chóc bốn mùa.
“Ứng cúng” còn chỉ bậc thánh đã
chứng A la hán quả. Vì chỉ có vị ấy mới xứng đáng với sự cúng dường, gọi
là dùng bốn thứ cúng dường về ăn, mặc, ở, bệnh, với tư cách như chủ nhân
sử dụng vật sở hữu của mình, “dùng như chủ”. Từ quả Dự lưu cho đến
Bất hoàn sử dụng bốn thứ cúng dường thì gọi là “dùng như thừa tự”: những
vị này giống như con thừa hưởng gia tài của cha (là Phật), khi sử dụng bốn
thứ cần dùng mà thí chủ vì lòng tin Phật đã đem cúng dường. Còn lại toàn
là “dùng như mang nợ” (những người tu chưa đắc quả, không chính niệm) và
“dùng như ăn cướp” (những người phá giới).
3. “Chính biến tri”
Biết một cách chân chính, đúng
sự thật (chính), và biết tất cả các pháp trên thế gian (biến). Nghĩa là
Ngài dung thông cả tục đế lẫn chân đế. Biết tục đế là để độ chúng sinh tùy
theo trình độ của họ (khế cơ). Biết chân đế là an trú trong Tính không,
không thấy có ta đây là người độ và chúng sinh là kẻ được ta độ (khế lý).
4. “Minh hành túc”
Là đầy đủ trí tuệ (minh) và
giới đức hay công hạnh độ sinh (hạnh).
5. “Thiện thệ”
Là vượt qua (các nhiễm ô hữu
lậu) một cách khéo léo dứt khoát, một đi không trở lại.
6. “Thế gian giải”
Là hiểu rõ thế gian (cuộc đời
này) một cách tường tận, nhờ hiểu rõ nên giải thoát. Có ba loại thế gian,
Phật đều biết rõ: “hữu tình thế gian”, là tất cả những loài có tình thức
trong pháp giới và tâm lý của chúng; “khí thế gian”, là tất cả chỗ ở của
các hữu tình ấy (vũ trụ quan Phật giáo); và “chính giác thế gian” là cái
thấy của Phật về vũ trụ, với con mắt bậc Giác ngộ.
7. “Vô thượng sĩ điều ngự
trượng phu”
Là đấng không ai sánh bằng hay
hơn được (vô thượng sĩ), vì Ngài có năng lực chế phục được những con người
thông minh cang cường thuộc nam giới, hay những người có căn tính linh lợi
vượt bực bất kể nam nữ.
8. “Thiên nhân sư”
Là bậc Thầy của cả chư thiên và
nhân loại.
9. “Phật”
Là đấng giác ngộ, đầy đủ ba
khía cạnh là tự giác giác tha và giác hành viên mãn. Hành vi khai hóa cho
người khác của Phật viên mãn ở chỗ tất cả chúng sinh quay về nương tựa
Phật thì đều được mong ân giáo hóa, không hạn cuộc không gian thời gian.
Như ngày nay đạo Phật đã lan tràn khắp thế giới. Ở đại học Harvard nổi
tiếng của Hoa kỳ có một trung tâm nghiên cứu thiền học. Tại trung tâm nước
Pháp có Dordogne với những hang động tu thiền dành cho tất cả mọi người
khắp thế giới đến tu, cùng với nhiều trung tâm giảng dạy Phật học và hướng
dẫn tu thiền, do chính những thiền sư người Pháp đảm trách.
10. “Thế tôn”
Là đấng tôn quý nhất trên đời,
không ai sánh kịp.
Đảnh lễ Tam bảo và mười danh
hiệu Phật xong, hành giả kế tiếp đảnh lễ hồng danh chư Phật, từ đức Phật
Phổ Quang cho đến đức Phật A Di Đà, vị Phật có thân ẩn tàng trong khắp vũ
trụ, đâu đâu cũng có: “Nam mô Pháp giới tàng thân A Di Đà Phật”. Mỗi vị
Phật ít nhiều đều biểu trưng cho một đức tính nơi tự thân tâm ta, cho
những khả năng tiềm tàng trong chính ta. Lạy Phật là khơi dậy những khả
năng tốt lành ấy đang bị che mờ vì vô minh phiền não. Bất cứ một đức Phật
nào cũng đầy đủ vô lượng trí tuệ, vô lượng phước đức cho nên lạy một vị
Phật cũng là lạy tất cả chư Phật, và cũng là lạy những tiềm năng quý báu
đang ngủ quên trong tâm ta. Ta phủ phục mà mời chúng trỗi dậy, đừng mê ngủ
nữa. Bởi chính vì ta để cho Phật tính ngủ quên mà đời ta đã trở thành một
mớ hỗn mang đau khổ. Lạy đức Phật Phổ Quang, Phổ Minh cũng là lạy ánh sáng
trí tuệ trong tự tâm ta. Lạy đức Phật Chiên đàn hương, ta khơi dậy trong
ta hương Giới có thể bay ngược gió cùng xuôi gió. Lạy Phật Hoan hỉ tạng là
ta nguyện cho tâm ta có đầy đủ đức tính quý báu như châu ngọc tích tụ, và
nhờ vậy trở thành một kho tàng của sự hoan hỉ, đời ta không còn u sầu ảm
đạm vì ngã chấp, não phiền.
Như vậy, lạy một vị Phật là
đánh thức một đức tính đang ngủ quên trong tâm. Ta cũng có thể tha thiết
thầm niệm trong lòng mỗi khi phủ phục, như sau: “Xin cho con khơi dậy được
đức tính siêng năng hành thiện, làm cho tất cả mọi người thấy con đều vui
vẻ” trong khi ta xướng danh hiệu: Nam mô Nhất thiết thế gian nhạo kiến
thượng đại tinh tấn Phật. Hoặc “Xin cho con có sức dũng mãnh tinh tấn
để diệt trừ các thói xấu khi xướng: Nam mô Đại cường tinh tấn dũng mãnh
Phật. Khi niệm danh hiệu Nam mô Từ tạng Phật cũng có nghĩa là
“Xin cho tâm con trở thành kho tàng thương yêu với tình yêu bình đẳng”.
Khi niệm Nam mô Đại
bi quang Phật là
“Xin cho tâm con tỏa sáng lòng thương xót bao la đối với những người đau
khổ”. Nam mô Kim cương bất hoại Phật cũng có nghĩa là , “Xin cho
lòng tin Phật trong con được kiên cố không ai lay chuyển nổi, như kim
cương không thể hư hoại” vân vân. Như thế là cách phối hợp tự lực và tha
lực, hành trì pháp sám hối bằng cách thanh lọc thân tâm, vận chuyển tất cả
tế bào trong cơ thể thành một năng lực lành mạnh, tinh khiết, để từ đấy
phát triển vô lượng khả năng tất đẹp nơi chính mình.
03. LUẬN VÃNG SINH
^
I. MỤC ĐÍCH LUẬN VÃNG SINH
Bardo Thodol là cuốn sách của
người Tây Tạng đọc bên tử sàng để hướng dẫn thần thức người sắp chết.
Nhưng không nên hiểu nó chỉ dành cho người chết mà thôi. Quả thế, khi ta
hiểu quá trình chết đang diễn ra liên tục trong đời sống, thì Bardo Thodol
đích thực là một hướng dẫn về cách sống; vì biết sống cũng có nghĩa là
biết chết. Chúng ta chỉ thực sự sống trọn vẹn, khi ta không bị ám bởi
những bóng ma của quá khứ, của những ngày hôm qua; chính những bóng ma dĩ
vãng đã làm cho đời sống hiện tại trở thành u ám.
II. Ý NGHĨA DANH TỪ BARDO
Là trạng thái trung gian giữa
ngủ và thức, mê và ngộ, sống và chết. Rất cần hiểu rõ khoảng trống này,
khe hở này, vì sự hiểu rõ nó sẽ đem lại giải thoát. Sự mờ mịt về nó là
nguồn gốc của đủ loại ảo tưởng tạo ra sáu nẻo luân hồi. Vĩnh gia Huyền
Giác đại sư dạy:
“Trong mộng rõ ràng bày sáu
nẻo,
Tỉnh ra lồng lộng cõi không
thiên”.
(Mộng lý minh minh hữu lục thú,
Giác hậu không không vô đại
thiên).
Trong mộng ta thấy đủ thứ,
nhưng khi tỉnh thì chẳng có gì ngoài bầu trời xanh bát ngát. Sự chìm đắm
trong luân hồi sinh tử không chỉ diễn ra sau khi chết mà ngay lúc đang
sống. Đó là những trạng thái tâm hồn mất định hướng, hụt hẫng không biết
phải làm gì. Đó là những lúc ta cảm thấy bồn chồn bất an, bị tham sân chi
phối... Bardo Thodol là sách nói về sự chết nhưng cũng có thể là sách nói
về khoảng trống nội tâm ấy.
1. Người sắp chết thường có cảm
giác mình từ giã một thế giới “thực” để đi vào một thế giới mờ mịt bất
định (bardo). Thế giới “thực” có đặc điểm là những phân biệt giữa thánh
phàm, thiện ác, vinh nhục, được thua, sướng khổ, v.v.. rất rõ ràng phân
minh; đấy là thế giới của nhị nguyên đối đãi. Nhưng nếu ta thấy được rằng,
trong thiện có ác, trong vinh có nhục, trong sống có chết và ngược lại thì
thế là ta đang tiếp cận với sự thật, với chân lý bất nhị, “nhất chân
pháp giới”; khi ấy không còn mâu thuẫn nhị nguyên, hay đúng ra, thấy
được thực chất của nhị nguyên ấy là hư ảo thì sống trong bất nhị. Người
nào sống trong chân lý ấy thì không rơi vào trạng thái mờ mịt bardo khi
chết, vì có chính kiến. Thấy được bất nhị cũng như là thấy được mặt mũi
chúa Xuân, hay thấy bản lai diện mục của mình, và không còn nao núng trước
cảnh xuân tàn hoa rụng (hay chết chóc): “Thiền tọa an nhiên ngắm rụng
hồng” như Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông, sơ tổ thiền phái Trúc
Lâm.
Khoảng “Không” mà thần thức
thấy được khi rũ bỏ thân xác sẽ không làm cho bậc giác ngộ sợ hãi tránh né
vì đã thể nghiệm được “không chẳng khác sắc” nói trong Bát nhã tâm kinh.
Khi đã thường xuyên thấy được mọi được thua, còn mất, vinh nhục ở đời đều
không thực, thì cũng dễ đón nhận Chân-không vào lúc chết, với tâm trạng vô
úy và thế là đạt đến Pháp thân thường trú.
2. Các giai đoạn của sự chết
là: đầu tiên cảm giác nặng nề của địa đại thắng lướt; kế đến là sự tuần
hoàn ngưng, máu huyết hết lưu thông, thủy đại ngưng hoạt động; rồi đến hỏa
đại cũng chấm dứt khi tất cả hơi nóng đều thoát ra, thân thể lạnh toát;
hỏa đại cuối cùng tan vào phong đại.
Tâm thức cũng trải qua những
giai đoạn tương ứng. Người chết rơi vào một tâm trạng hoang mang cùng cực,
như một người tu hành đi đến giai đoạn không rõ mình sắp đạt giác ngộ hay
là sắp điên; cảm thấy hụt hẫng, mất đất đứng, vì thấy mọi sự dường như đảo
ngược. Đó là trạng thái lúc địa đại phân tán. Tâm thức chỉ còn biết bám
vào thủy đại để tự xác nhận sự hiện hữu của mình, thủy đại đây về mặt tâm
lý là dòng Thức đang tuôn chảy. Nhưng dòng này cũng kiệt quệ, người sắp
chết không còn suy nghĩ một ý tưởng nào được nữa, mất khả năng suy luận,
và giai đoạn này tương đương với sự tuần hoàn máu chấm dứt: thủy đại tiêu
tan. Người chết khi ấy cố bám víu vào sự sống, cố tìm cách xác quyết sự
hiện hữu mình qua cảm xúc mạnh, như thương hoặc ghét một người nào đó: đấy
là tự nhận diện qua hỏa đại trong thân xác hay qua cảm xúc trong tâm hồn.
Nhưng rồi hỏa đại cũng biến mất vào phong đại hay không đại, lửa tan theo
gió. Cảm xúc phai dần cường độ để đi vào hư không, giai doạn cuối cùng này
tương đương với thể xác lạnh toát, thần thức chỉ còn là một điểm nóng cuối
cùng đang lịm tắt. Đấy là tử tâm khởi lên để diệt và biến thành dòng kiết
sinh đi tìm một đời sống mới mà thông thường gọi là đi đầu thai. Kỳ thực
thần thức này cũng như một dòng nước luôn luôn mới mẻ nên thực sự nói đầu
thai cũng không đúng, vì nó ám chỉ có một thực thể không thay đổi đang di
chuyển từ đời này đến đời sau. Còn nói “dòng tâm thức” thì ta phải hiểu nó
cũng như dòng nước chảy qua làng mạc, ruộng đồng cho đến khi ra biển không
phải là một dòng duy nhất ấy, mà nó luôn luôn đổi khác, có cho và có nhận
luôn luôn trên đường tuôn chảy để cuối cùng thể nhập vào đại dương bát
ngát. Bởi vậy, một tâm thức bình thường sân si ác độc có thể do nghe những
lời khai thị của vị thầy trong lúc hấp hối mà trở thành hiền thiện, ăn năn
sám hối và nhờ vậy có được một cái chết thanh thản và đi vào một tái sinh
tốt đẹp. Đời sống của thần thức đó trong thân xác mới không thể nói là một
hay là khác với con người tiền kiếp của y; cũng như một con người lúc sơ
sinh so với lúc về già sắp chết, hoàn toàn khác nhau, chỉ vì vô minh mà ta
bảo cả hai chỉ là một. Khi người chết bám vào cảm xúc thương ghét như
một nỗ lực cuối cùng dể tự tìm lại bản thân, nghĩa là khi hỏa đại gom lại
một lần cuối thành một chỗ ấm trên cơ thể, và cuối cùng nó cũng thoát ra,
thì người chết rơi vào một khoảng trống kinh khủng: lửa biến mất trong
Không. Ở giai đoạn này có hai khả năng: với người suốt đời chuyên tu tập,
quen độc cư thiền định, thì đấy là cơ hội ngàn năm một thuở để thể nhập
Pháp thân, đạt giải thoát. Còn với người không tu tập hoặc chưa tu tập
đúng mức, thì khoảng Không này biến hóa đủ cách tùy theo nghiệp lực mỗi
người, nghĩa là tùy thói quen nói, làm, nghĩ, của đương sự. Nó sẽ mang
hình thức của một trong sáu cảnh chính như sau, gọi là sáu nẻo luân hồi
hay lục đạo, nhưng trong mỗi cõi cũng có muôn ngàn cấp bực vì nghiệp lực
không ai giống ai.
III. SÁU NẺO LUÂN HỒI
1. Địa ngục:
Đấy là cảnh giới có hình thức
chấp ngã nhiều nhất, nơi có nhiều thù hận, căm ghét, trả đũa. Thức căm thù
muốn làm hại một người nào đó, nhưng rốt cuộc hóa ra là làm hại chính
mình. Lòng giận dữ muốn hủy hoại một cái gì cho hả tức, nhưng cuối cùng
trở thành tự hủy. Như mẩu chuyện vì thiền sinh bị ám bởi hình ảnh một con
nhện khổng lồ mỗi khi tọa thiền. Quá căm tức, ông ta trình lên vị thầy, từ
nay lúc tọa thiền con sẽ thủ một con dao phay để giết con nhện khi nó xuất
hiện. Vị thầy bảo, ông hãy làm dấu bằng phấn trắng chỗ nào ông định thọc
con dao, rồi thời tọa thiền kế tiếp hãy ra tay. Thiền sinh vâng lời. Đến
thời tọa thiền kế tiếp, vị thầy bảo ông hãy vén bụng ra xem. Trên bụng
ông, rõ ràng một dấu chữ thập bằng phấn trắng do chính ông đã vạch. Thiền
sinh lúc ấy tỉnh ngộ. Hóa ra con nhện chỉ do tâm ông biến hóa mà thôi.
Kinh điển thường mô tả hai dạng
địa ngục: cực nóng, trong đó tội nhân ăn huờn sắt nóng, uống nước đồng
sôi, nằm trên giường sắt nung đỏ, bị áo sắt nóng quấn thân... và một dạng
địa ngục cực lạnh, toàn là băng giá, trong đó tội nhân quá rét lạnh run
lên cầm cập không thốt được lời nào ngoài mấy tiếng A ba ba, a tra tra, a
la la. Hai dạng địa ngục đó xảy ra hàng ngày trong tâm thức người đang
sống. Địa ngục nóng là tâm sân giận cực độ đưa đến chém giết và tự hủy
hoại bằng dao búa, độc dược, lửa đốt. Địa ngục cực lạnh hay địa ngục hàn
băng là cái tâm thù hằn ngấm ngầm, tâm ganh tị, tâm kiêu căng ngã mạn tự
cho mình cao vượt, không thể hòa đồng với một ai. Người sống tâm trạng ấy
thì hoàn toàn vắng bóng yêu thương lân mẫn với đồng loại, tâm hồn như một
hoang đảo băng giá.
2. Quỉ đói:
Đấy là cảnh giới của sự thèm
khát những gì ở ngoài tầm tay, hoặc của sự quá thừa thãi không còn chỗ để
chứa thêm được nữa, trong khi đó lòng vẫn mong muốn có thêm. Trong đời
sống thường ngày, đấy là trạng thái một con người bụng đã quá no mà miệng
vẫn còn thèm, con người thèm khát được cảm thấy đói, được ăn một cách ngon
miệng như người khác, trong khi mình có đầy đủ mọi thứ, muốn ăn mà không
tài nào nuốt nổi. Tâm trạng của những người mà đồ ăn khi đưa đến miệng thì
biến mất không ăn được, hoặc khi nuốt xuống liền hóa thành lừa đốt cháy
ruột gan. Kinh điển mô tả dạng quỉ đói này bằng hình ảnh một con quỷ bụng
thật lớn như cái trống nhưng cổ họng lại nhỏ chỉ bằng cây kim, để nói lên
lòng tham không đáy khiến người ta không thưởng thức được vị ngọt của cuộc
đời (cổ quá nhỏ không nuốt được) vốn nằm trong sự san sẻ hạnh phúc chứ
không phải trong sự giữ chặt cho mình. Càng giữ chặt càng dễ mất.
3. Súc sinh:
Cảnh giới súc sinh (cảnh giới
của ngu si) có đặc điểm nổi bật là vắng bóng niềm hỉ lạc, năng khiếu hài
hước. Loài vật cũng biết cảm thụ hạnh phúc và đau khổ, nhưng không hề biết
cười. Năng khiếu hài hước là một đặc tính chỉ riêng có nơi loài người, do
vậy, biết cười quả là dấu hiệu của trí tuệ.
Đặc tính thứ hai là, loài vật
có thói nhắm mắt đi theo một đường lối khuôn khổ nhất định, và rất sợ thay
đổi, rất sợ những yếu tố bất ngờ. Một con người kém phát triển về trí tuệ
cũng thế, thường có tâm lý an phận trong những đường mòn lối cũ, sợ phiêu
lưu thí nghiệm, như một nông phu chỉ quen với cuốc cày và những kỹ thuật
canh tác cổ điển. Trong thế giới loài vật, một sự lạ, một điều bất ngờ đối
với chúng là một tai họa. (Thú vật ở trong một chuồng mà mau chết là do
thường bị cảm giác bất an với tình trạng thỉnh thoảng lại bị dời chỗ).
Tính này cũng có nơi con người ở một mức độ nào đó, ấy là thói “cầu an”.
Bởi thế, quả thực nên “cầu siêư” hơn cầu an, vì khi tâm siêu được giải
thoát được tham lam cố chấp, thì tự nhiên được an lạc dù ở hoàn cảnh nào
bất cứ. Còn nếu không giải thoát tham lam cố chấp thì dù đang ở trong
những chốn thong dong, tâm vẫn đầy những bất an lo sự, như cụ Nguyễn Du
nói trong truyện Kiều:
“Vậy nên những chốn thong
dong,
Ở không yên ổn, ngồi không
vững vàng”.
4. Cõi người:
Khác với súc sinh, con người có
óc khám phá tìm tòi, ưa mới lạ, nên dễ tiến hóa bằng cách làm giàu có thêm
tri thức và kinh nghiệm. Cõi người vừa có dấu vết của quỷ đói do bởi lòng
ham muốn “có thêm” này, vừa có dấu vết của súc sinh do bởi ý hướng cầu an,
muốn ổn đính. Nhưng còn có một yếu tố thứ ba mà hai cõi kia không có, đó
là sự tự thức tự tri. Yếu tố này làm cho hạnh phúc và đau khổ nơi cõi
người trở thành nồng nàn mãnh liệt hơn ở ba cõi dưới. Nó vừa là một ơn ích
mà cũng vừa là một tai họa. Chính yếu tố này làm nên nghiệp lành dữ khác
nhau. Trong khi ở cõi địa ngục quỷ đói súc sinh, chúng sinh chỉ thọ báo,
thì ở cõi người, chúng sinh vừa thọ báo cũ vừa gây thêm nghiệp mới hoặc
lành hoặc dữ. Bởi vậy cõi người là cơ hội duy nhất để giải thoát sinh tử
luân hồi, và được sinh làm người là một cơ may hiếm có không nên để lỡ.
Trong kinh thường dạy, “một phen mất thân người, muôn kiếp khó được lại”.
5. A tu la:
Cao hơn cõi người, đấy là cảnh
giới những tâm hồn thông minh chính trực ưa thưởng thiện phạt ác, nhiều
nóng giận thuộc loại “nghĩa khí chi nộ” giữa đường dễ thấy bất bằng mà
tha.
6. Cõi trời:
Sau khi tiếp cận luồng ánh sáng
của Pháp giới chân thật, thần thức hiền thiện cảm thấy hỉ lạc muốn an trú
trong đó. Nhưng đồng thời một cảm giác Vô ngã bao la, choáng ngợp đến rợn
người vồ chụp lấy thần thức. Do còn ngã chấp, thần thức muốn tìm trú ẩn
trong một bản ngã, và cảm thấy ánh sáng dịu của cõi trời dễ chịu hơn, thế
là có sự tái sinh làm loài chư thiên.
Sáu nẻo luân hồi trên đây cũng
là sáu cửa ngõ để trở về Chân tâm bất hoại.
IV. NGŨ TRÍ NHƯ LAI
Một đàn tràng mật tông hay
mandala đơn giản nhất gồm năm vị Phật ở bốn phương đông tây nam bắc và
trung ương. Như Lai là đấng đã thể nhập bản chất “chân như” của vạn pháp
cho nên không còn đến đi sinh diệt. Kim cương kinh nói, “Như lai
giả, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ, cố danh Như lai”: Như lai có nghĩa
là không từ đâu mà đến (sinh) và cũng không đi về đâu cả (diệt). Là đấng
chiến thắng, bậc giác ngộ, tỉnh thức. Năm vị Phật như vậy chính là năm
hình thái năng lượng của Phật tính, nghĩa là của tâm thức đã giác ngộ.
Những tính chất bao hàm trong năm đức Phật này là trí tuệ, nhưng đứng về
mặt sinh tử (mê), hay về mặt tâm lý thông thường, thì năm đức tính này lại
xuất hiện dưới hình thức năm độc tố tác hại, năm cảm xúc mê muội. Mọi sự
vật trên thế gian, sinh vật, cây cối, biến cố... đều có một đặc tính nổi
bật liên hệ đến một trong năm độc tố này; do thế, nó còn có tên là ngũ bộ
Như lai hay năm “gia đình” (kula) theo Phạn ngữ. Năm Phật là năm uẩn được
chuyển hóa, hay THỨC CHUYỂN THỂ TÁNH TRÍ: Sắc uẩn thành Pháp giới thể tính
trí, Thọ uẩn thành Bình đẳng tính trí, Tưởng uẩn thành Diệu quan sát trí,
Hành uẩn thành Thành sở tác trí và Thức uẩn thành Đại viên cảnh trí.
Đức Phật đầu tiên có vị trí ở
trung ương, gọi là Đại Nhật (Tỳ lô giá na), ở khía cạnh sinh tử đấy là độc
tố si mê, vô minh căn bản từ đó xuất phát mọi độc tố khác. Nhưng Ngài cũng
là trí tuệ thấy bao quát pháp giới gọi là PHÁP GIỚI THỂ TÁNH TRÍ, nhìn rõ
mọi sự vật đúng như thực chất của nó. Đấy là điều ngược lại với vô minh si
ám. Bộ tộc hay gia đình vị Phật này gọi là Như Lai bộ (Tathàgatakula),
biểu trưng cái ngược lại với ngu si.
Vị Phật thứ hai là Bất Động (A
Súc), ở phương Đông của đồ hình, làm chủ Kim cương bộ. Độc tố là sân hận,
thù ghét ở phương diện sinh tử và khi được chuyển hóa, trở thành ĐẠI VIÊN
CẢNH TRÍ, tấm gương sáng tròn đầy phản chiếu mọi hiện tượng một cách bình
thản.
Ở phương Nam của đồ hình, là
đức Phật Bảo Sinh, làm chủ Bảo bộ, tượng trưng bằng viên bảo châu Như ý.
Độc tố ở đây là kiêu mạn ở trong sinh tử do sở hữu được mọi thứ xinh đẹp
giàu sang, và ở bình diện giác ngộ nó được chuyển hóa thành BÌNH ĐẲNG TÁNH
TRÍ, thương tất cả mọi loài như nhau không phân biệt.
Phương Tây là Phật A Di Đà,
thuộc Liên hoa bộ. Ngài biểu trưng cho độc tố tham dục, chấp thủ ở khía
cạnh sinh tử đã được chuyển hóa thành DIỆU QUÁN SÁT TRÍ, để chuyển lòng ác
nhiễm thành đức từ bi.
Phương Bắc ngự trị Phật Thành
Tựu hay Bất Không Thành Tựu Như lai, thuộc Nghiệp bộ. Nghiệp ở đây là hành
động, độc tố của nó là tham vọng không biết chán đã thúc đẩy con người làm
lụng không biết mệt mỏi trong đường sinh tử, tạo các nghiệp sinh tử. Ở
khía cạnh giác ngộ, đấy là THÀNH SỞ TÁC TRÍ, trí tuệ đưa đến sự thành tựu
mọi việc ích.
Năm vị Phật biểu trưng cho năm
đức tính siêu việt ở ngoài dòng sinh tử, bởi thế, đấy là khía cạnh TRÍ để
soi sáng hành động mà biểu trưng là hai Bồ tát ở hai bên mỗi vị, kể như
những hóa thân để cứu độ mọi loài. Hình thức nữ tính tiêu biểu năng lực
thương yêu, nuôi nấng của những bậc mẹ hiền. Đấy là hình thức linh hoạt
của năm trí đã nói.
Mỗi phương Phật trong đồ hình
mandala mật tông còn được biểu trưng bằng một màu sắc, chẳng hạn trung
ương sắc xanh, đông phương trắng (hai màu này thay đổi nhau tùy trường
phái mật tông; chẳng hạn Trung hoa ảnh hưởng Dịch lý nên cho đông phương
thuộc hành mộc sắc xanh), nam phương vàng, tây phương đỏ, bắc phương đen
hay lục.
Theo cuốn Luận Vãng sinh Tây
Tạng (Bardo Thodol), ba ngày rưỡi sau khi chết, thần thức người chết có
một thoáng minh mẫn trở lại như vừa trải qua một cơn ngất lịm, và ý thức
được rằng mình đã chết. Khi ấy vào ngày đầu tiên, yếu tố Hư Không xuất
hiện, thần thức chạm mặt với ánh sáng chói chan từ cõi Phật Đại Nhật chiếu
đến, Phật có một cái đầu với bốn mặt xoay ra bốn phương hướng, biểu trưng
lý Vô ngã, không còn một trung tâm chấp thủ. Ngài tượng trưng cho Không
gian và Thời gian, tay cầm bánh xe có tám căm. Biểu tượng của vị Phật này
là tính chất mênh mông linh hoạt của Thức uẩn khi đã chuyển hóa. Cõi này
đồng thời cũng chứa đựng những yếu tố của thiên giới: trong màu xanh thẳm
bao la còn có một luồng ánh sáng trắng dịu. Thần thức người chết còn chấp
ngã, và nếu có đời sống hiền thiện, sẽ cảm thấy ưa mến ánh sáng trắng này
và muốn tránh né màu xanh mênh mông của pháp giới; thế là tái sinh vào cõi
này. Cõi phật Đại nhật là do Thức uẩn biến ra.
Vào ngày thứ hai, yếu tố Nước
xuất hiện, hào quang màu trắng của cõi Phật Bất Động chiếu đến, đức Phật
ngồi trên voi trắng, tay cầm chày Kim cương biểu trưng cho sự bất hoại.
Cõi này do Sắc uẩn biến ra. Đồng thời lại có ánh sáng xám đục từ cõi địa
ngục chiếu đến, mà do nghiệp lực, thần thức sẽ thấy gần gũi với nó hơn là
với ánh sáng chói chan cõi Phật A Súc. Nếu tâm hiền thiện, giữ vững chính
kiến thì có thể lưu trú trong cõi Phật này.
Ngày thứ ba, yếu tố Đất xuất
hiện, đó là hào quang sắc vàng biểu trưng địa đại trong thể tính chân như,
với Phật Bảo Sinh tay cầm ngọc báu. Cõi này do Thọ uẩn biến ra. Yếu tố
sinh tử ở đây là cõi người, với ánh sáng xanh nhạt xuất hiện đồng lúc với
hào quang của Phật. Do nghiệp lực, thần thức sẽ tránh né hào quang Phật và
ưa thích ánh sáng cõi người, do vậy tái sinh vào đấy.
Ngày thứ tư yếu tố Lửa xuất
hiện ở phương tây dưới dạng thuần tịnh là Phật A Di Đà tay cầm hoa sen.
Cõi này do Tưởng uẩn biến ra. Ánh sáng lục đạo tương đương với cõi này là
ánh sáng vàng nhạt của loài quỷ đói chiếu đến đồng thời với hào quang của
Phật.
Ngày thứ năm, yếu tố Gió xuất
hiện, với Phật Thành Tựu ở phương Bắc ngự trên lưng thần điểu Garuda bay
đến, tay cầm chày Kim cương. Thế giới này tràn ngập màu xanh lục bao la.
Đồng thời lại có ánh sáng cõi a tu la màu đỏ nhạt chiếu đến.
Từ ngày thứ sáu một loạt 42
thiện thần, bốn thiên tướng, năm vị Phật và tất cả lục đạo đồng thời xuất
hiện như một mẻ lưới cuối cùng để cứu vớt thần thức trong trạng thái mờ
mịt trung ấm. Tất cả những hình ảnh kể từ ngày đầu cho đến ngày thứ sáu
đều xuất phát từ trái tim của thần thức. Từ ngày thứ bảy trở đi, những
biến hiện bắt đầu hỗn loạn không rõ nét, biểu hiện sự vô minh. Và kế đến,
nếu thần thức không đi theo ánh sáng cứu vớt của các thiện thần mà tiếp
tục lảng vảng trong cõi trung gian, thì từ đấy tr