| ...... ... |
. |
HOW TO PRACTISE BUDDHA'S TEACHINGS
LÀM SAO THỰC HÀNH GIÁO LÝ CỦA ÐỨC PHẬT
Hòa thượng K. Sri
Dhammananda
Dịch giả: Tỳ kheo Thích Tâm Quang
---o0o---
|
HOW TO
PRACTISE BUDDHA'S TEACHINGS
Venerable K. Sri
Dhammananda Mahathera |
LÀM SAO THỰC
HÀNH GIÁO LÝ CỦA ÐỨC PHẬT
Hòa thượng K. Sri
Dhammananda
Dịch giả: Tỳ kheo Thích Tâm Quang |
|
B uddhism
as practised in many countries in Asia has taken in many forms
each depending on whether the adherents are descendants of the
original settlers who came from China, Thailand, Burma, Sri Lanka,
India etc. There are also many people who simply call themselves
'Buddhists' and practise some form of rituals which they learnt
from their forefathers in the name of this religion.
Today we have in our
midst Theravada, Mahayana, and Vajrayana Buddhists who follow
Chinese, Thai, Burmese, Sri Lankan, Tibetan, Japanese and Indian
traditions. There are even some who have adopted "Western
Buddhism". Some of their beliefs and practices have been mixed up
through the inclusion of various other beliefs and practices which
are quite alien to the spirit of the original Teachings but which
have nevertheless been accepted for the sake of tolerance. As a
result there has arisen some confusion among concerned Buddhists
as to which is the correct method to follow in the practice of
Buddhism. Some claim that what they alone preach is right and that
everyone else is wrong. It would appear that Buddhists are at the
crossroads today and are much in need of guidance to 'Walk the
Buddha Way'. Change is a natural phenomenon. The tolerance in
Buddhism has given rise to many traditional practices and we have
to accept that fact. The Buddha in fact did not introduce the
rituals and ceremonies which we are conducting today, nor did he
for that matter encourage people to follow some age-old Indian
traditions that were prevail in India during his time. He was
concerned only with preaching the Dharma - the righteous way of
life or the facts of life. After his passing away, his followers
in different countries and at different times adopted their own
local traditions and cultures into the religion as Buddhism grew
in popularity and developed in those countries. Naturally, we
should not take all these traditional practices as being the
Dharma originally taught by the Buddha. Through our sustained
effort to spread the true teachings, we will help eradicate or at
least reduce the misguided rituals that are being carried out now
in the name of Buddhism. To do this we must study the original
teachings and decide for ourselves as to what is right or wrong. |
P hật
Giáo thực hành tại nhiều nước Á Ðông dưới nhiều hình thức, mỗi
hình thức tùy thuộc vào những người gia nhập phải hay không phải
là những người nối dõi của những người lập nghiệp nguyên thủy đến
từ Trung Hoa, Thái Lan, Miến Ðiện, Sri Lanka, Ấn Ðộ, vân vân...
Một số người đơn giản tự gọi mình là "Phật Tử" thực hành hình thức
lễ nghi mà họ học được từ cha ông dưới danh nghĩa tôn giáo.
Ngày nay chúng ta có
Phật Tử Nguyên Thủy, Ðại Thừa, Kim Cang Thừa theo truyền thống
Trung Hoa, Thái Lan, Miến Ðiện, Sri Lanka, Tây Tạng, Nhật Bản và
Ấn Ðộ. Cũng có một số người áp dụng "Phật Giáo Tây Phương". Một số
niềm tin và thực hành của họ được pha trộn gồm cả nhiều niềm tin
và thực hành khác rất xa lạ với tinh thần của giáo lý nguyên thủy,
tuy thế mà vẫn được chấp thuận khoan dung. Kết quả đưa đến một số
bối rối cho những Phật Tử lo lắng vì họ muốn có phương pháp chính
đáng để áp dụng trong việc thực hành Phật Pháp. Một số cho rằng
chỉ có mình thuyết giảng là đúng còn những người khác đều sai.
Việc trên khiến cho người Phật Tử hiện nay hình như đứng trước ngã
ba đường mà họ rất cần thiết đến sự hướng dẫn để "bước vào Con
Ðường của Ðức Phật". Thay đổi là một hiện tượng tự nhiên. Sự khoan
dung trong Phật Giáo đã đưa tới nhiều việc thực hành theo truyền
thống mà chúng ta đã chấp nhận sự kiện. Thực ra Ðức Phật không
giới thiệu nghi thức và các lễ nghi mà chúng ta đang áp dụng hiện
nay, và Ngài cũng chẳng khuyến khích làm theo nghi lễ cổ truyền
đang thịnh hành thời đó tại Ấn. Ngài chỉ chú tâm vào việc thuyết
giảng Pháp - con đường chính đáng của đời sống hay những sự thật
của cuộc đời. Sau khi Ngài nhập diệt, những đệ tử của Ngài trên
nhiều xứ sở khác nhau, và vào các thời điểm khác nhau, đã áp dụng
các truyền thống địa phương của mình và mở mang tôn giáo. Do đó
Phật Giáo trở nên rất phổ thông và bành trướng tại một vài nước.
Ðương nhiên chúng ta không nên lấy tất cả những thực hành truyền
thống là giáo pháp nguyên thủy dạy bởi Ðức Phật. Cái mà chúng ta
chỉ cần biết là chân lý dạy bởi Ðức Phật. Qua sự cố gắng không
ngừng của chúng ta để hoằng dương chánh pháp, chúng ta sẽ giúp xóa
bỏ hay ít nhất cũng giảm thiểu các nghi thức lầm lạc mà chúng ta
vẫn thi hành duới danh nghĩa Phật Giáo. Muốn làm như vậy, chúng ta
phải nghiên cứu giáo lý nguyên thủy và tự quyết định điều gì là
phải điều gì là trái. |
|
SIGNIFICANCE OF THE
DHARMA
The Dharma is a very
significant word used by the Buddha in his religious discourses.
From the Buddhist point of view 'religion' is a very different
concept from that defined by other religious groups. The Dharma is
the path or method taught by the Buddha for us to follow in order
to maintain our human dignity and intelligence to lead a noble or
righteous way of life. We are free to interpret the Dharma
according to our own understanding; there are no obligatory
rituals which we must practise in order to call ourselves
Buddhists. Religion on the other hand implies dependence on an
external source for spiritual development, salvation through
prayer, strictly defined rituals and so on.
Buddhism teaches us
that there are four unfortunates states of existence which result
from the way living beings have conducted themselves in their past
lives. Those who violate the Dharma or universal law will be
reborn in one of those unfortunate states: namely, hell, the
animal kingdom, the spirit world and the ghost world. Such states
are not located in any particular geographical area but exist
anywhere in the universe which can be inhabited by living beings.
Those who uphold the Dharma will never be reborn in any of these
unfortunate states. When we live according to the principles of
the Dharma, we are in fact living as 'good Buddhists practising
Buddhism'. It is therefore of the utmost importance that we should
know our own circumstances and live in accordance with the Dharma
as taught by the Buddha. To be a Buddhist one must have full
confidence in the Buddha, Dharma and the Sangha (Triple Gem) and
we must also have an understanding of the significance of the
Triple gem. Only then could blessing, protection and guidance be
gained. Without such knowledge and understanding, whatever a
person does in the name of Buddhism will not bring him the desired
results.
We are subject to
being born over and over again according to the karma we create.
You may want to know what karma is. It can be explained in the
simplest language - do good and good will come to you now and
hereafter; do bad and bad will come to you now and hereafter,
within the cycle of birth and death. The condition of this world
is that we must constantly strive for our survival. Because we
believe in a false 'ego' or 'self', we tend to harbour within
ourselves negative qualities like anger, jealousy, greed and
enmity. We believe that our survival can only be assured if we
destroy everyone else whom we perceive as a source of danger to us
- thus we believe in the 'survival of the fittest'. We worry and
cry unnecessary for many desired but unattainable things. We also
tend to live to enjoy life by lying, swindling or cheating our
fellow human beings and by disturbing the peace of others. We thus
commit more evil than good deeds. Our belief in a permanent self
leads us to seek self protection at the expense of others. That is
why we are very prone to do evil deeds. This will result in our
continued existence in different forms determined by our
respective good of bad deeds. The Dharma as taught by the Buddha
guides us to avoid evil deeds and to maintain our fortunate human
existence with which we have been blessed. This means our rebirth
can take place in any one of the fortunate states such as the
realms of human beings of devas. By understanding Universal Law,
Natural Phenomena or Dharma, we have to cultivate human values and
to harmonise ourselves with other living beings. Living in this
way, we will become cultured and caring persons. We also can be
assured that after our deaths we will be able to avoid being
reborn into any of the unfortunate states.
In Buddhism the
ultimate aim is not merely to be born in a place to gain worldly
pleasure. As long as we continue to do good, we will be born in
happy planes of existence, but even these states are not
satisfactory. They are to be regarded as being only temporary; for
when the store of good karma we have built up becomes exhausted we
will die and be reborn according to whatever residual karma is
left. So good Buddhists are not merely satisfied with worldly
life; they strive to purify the mind and develop wisdom (panna).
Only in this way will we finally be able to attain Nirvana - where
there is no more rebirth, no more karma and no more
unsatisfactoriness. By cultivating a spiritual way of life we will
be able to see an end to all our physical and mental suffering.
This should be our ultimate aim or final goal in life. Today, we
are struggling to escape from our suffering. Since we are doing it
in a wrong way, very few can understand that it is a losing
battle. If we really want to get rid of our suffering forever,
then we will have to discover the correct method: the method which
the Buddha clearly defined in the Dharma. |
Ý NGHĨA CỦA PHÁP
(DHARMA, DHAMMA)
Pháp là một tiếng rất
có ý nghĩa dùng bởi Ðức Phật trong những bài thuyết giảng về tôn
giáo của Ngài. Từ quan điểm của người Phật Tử, quan niệm về "tôn
giáo" khác hẳn quan niệm định nghĩa bởi các tôn giáo khác. Pháp là
con đường hay phương pháp dạy bởi Ðức Phật cho chúng ta áp dụng để
giữ gìn nhân phẩm và trí tuệ để dẫn đến con đường cao thượng,
chính đáng của cuộc đời. Chúng ta hoàn toàn tự do để thuyết minh
Pháp theo sự hiểu biết của riêng chúng ta; không có nghi thức bắt
buộc phải thực hành để tự chúng ta được gọi là "Phật Tử". Tôn
giáo, mặt khác, bao hàm ý nghĩa tùy thuộc vào nguyên nhân bên
ngoài để mở mang tinh thần, cứu rỗi bằng cầu nguyện, những nghi
thức được định nghĩa nghiêm ngặt, vân vân...
Phật Giáo dạy chúng
ta có bốn điều bất hạnh (đường dữ) do kết quả về lối sống của
chúng sanh đem lại ở đời quá khứ. Kẻ nào vi phạm giáo Pháp hay
định luật vũ trụ sẽ bị tái sanh trong bốn nơi đó là: địa ngục, súc
sanh, A-tu-la, và ngạ quỷ. Những nơi này không nằm trong một vùng
địa dư đặc biệt nào trong vũ trụ nhưng hiện hữu bất cứ ở đâu trong
vũ trụ cư ngụ bởi chúng sanh. Những ai duy trì gìn giữ Pháp không
bao giờ bị tái sanh và những nơi bất hạnh trên. Khi chúng ta sống
theo đúng nguyên tắc của Pháp, chúng ta sống thực sự là "những
Phật Tử tốt, thực hành giáo lý Phật Giáo". Cho nên cái quan trọng
tột bực mà chúng ta cần biết là hoàn cảnh riêng của chúng ta và
sống đúng theo Pháp dạy bởi Ðức Phật. Là Phật Tử, ta phải hết lòng
tin Ðức Phật, Pháp và Tăng Già (Tam Tạng Pháp Bảo) và chúng ta
cũng phải hiểu ý nghĩa của Tam Tạng Pháp Bảo. Chỉ như vậy, phước
lành, bảo vệ và điều hay mới đạt được. Nếu không có kiến thức và
hiểu biết, bất cứ ai hành động dưới danh nghĩa Phật Giáo cũng
không mang lại kết quả mong muốn cho mình.
Chúng ta phải chịu
sanh đi sanh lại theo nghiệp do chúng ta tạo. Có lẽ chúng ta muốn
hiểu nghiệp là gì. Nghiệp, trong ngôn ngữ đơn giản nhất, được giải
nghĩa là - làm tốt, tốt sẽ đến với chúng ta ngay bây giờ hay sau
này; làm xấu, xấu sẽ đến với chúng ta bây giờ hay sau này, trong
vòng sanh tử. Ðiều kiện của thế gian là chúng ta phải tranh đấu
không ngừng để được sống còn. Vì lẽ chúng ta tin tưởng vào cái
"ngã" giả hay cái "tôi", chúng ta có khuynh hướng nuôi dưỡng trong
chúng ta những tư cách tiêu cực như nóng giận, ghen ghét, tham lam
và sân hận. Chúng ta tin là sự sống còn của chúng ta chỉ được bảo
đảm nếu chúng ta tiêu diệt bất cứ ai mà chúng ta nhận định là
nguồn gốc nguy hiểm với chúng ta - như vậy chúng ta tin tưởng đó
là sự "sống còn thích đáng nhất". Chúng ta lo lắng và khóc lóc
đúng ra không cần thiết về những điều ham muốn không đạt được
Chúng ta cũng có khuynh hướng sống một cuộc sống vui bằng cách nói
dối, lừa đảo hay bịp bợm những chúng sanh đồng loại của chúng ta
và bằng cách quấy rối an lạc của người khác. Như vậy chúng ta phạm
nhiều tội lỗi hơn là làm những hành động lương thiện. Lòng tin
tưởng của chúng ta trong cái "tôi vĩnh cửu" dẫn chúng ta tìm sự
bảo vệ cho chính mình bám vào người khác. Cho nên tại sao chúng ta
hay thiên về làm những hành động tội lỗi. Việc trên sẽ đưa đến kết
quả trong cuộc sống tiếp diễn duới mọi dạng thực tạo nên bởi những
hành động tốt hay xấu của chúng ta. Pháp do Ðức Phật dạy hướng dẫn
chúng ta tránh các hành động tội lỗi và gìn giữ cuộc sống thuận
lợi làm người có phước lành. Như vậy có nghĩa là tái sanh của
chúng ta có thể là trong những nơi thuận lợi như địa hạt của con
người trần thế hay các chư thiên. Bởi hiểu biết Ðịnh Luật Vũ Trụ,
Hiện Tượng Thiên Nhiên hay Pháp, chúng ta phải đào luyện nhân phẩm
và tự hài hòa với chúng sanh khác. Sống theo con đường đó, chúng
ta trở nên những người có học thức và thận trọng. Chúng ta cũng có
thể chắc chắn rằng sau khi chúng ta chết chúng ta có thể tránh
việc tái sanh vào các nơi bất hạnh.
Trong Phật Giáo mục
đích tối thượng không phải chỉ để là được sanh vào các nơi chốn để
đạt được các thú vui trần tục. Chúng ta tiếp tục làm tốt lâu chừng
nào, chúng ta sẽ được sanh vào các nơi đạt hạnh phúc của cuộc sống
hiện hữu dù những nơi đó không được tốt đẹp. Những nơi này cũng
chỉ được coi là tạm bợ mà thôi; khi những nghiệp tốt mà chúng ta
đã tạo nên đã cạn hết chúng ta sẽ phải chết và tái sanh theo đúng
nghiệp dõ còn lại. Cho nên người Phật Tử chân chính không phải chỉ
thỏa mãn với cuộc sống trần thế; người Phật Tử phấn đấu để thanh
tịnh hóa tâm trí và mở mang trí tuệ (panna). Chỉ có con
đường đó chúng ta, cuối cùng, sẽ đạt được Niết Bàn - nơi đây không
còn tái sanh, không còn nghiệp, và không còn bất toại nguyện. Bằng
cách trau dồi con đường tinh thần của đời sống chúng ta có thể đi
đến chấm dứt tất cả khổ đau về thể chất và tinh thần. Ðó là mục
đích chủ yếu hay mục đích cuối cùng của cuộc sống. Ngày nay, chúng
ta phấn đấu để thoát khỏi khổ đau. Nếu chúng ta hành động trong
đường lối lầm lạc, rất ít người có thể hiểu được, đó là chúng ta
đã thất trận. Nếu thực tình chúng ta muốn thoát khỏi vĩnh viễn khổ
đau, chúng ta phải khám phá phương pháp chính xác: phương pháp mà
Ðức Phật định nghĩa rõ ràng trong Pháp. |
|
FOUNDATIONS OF
BUDDHISM
(Sila, Samadhi, Panna)
The Dharma taught by
the Buddha shows us the correct path. This path or method is
classified into three stages. They are Sila (Morality), Samadhi
(Mental culture and stillness) and Panna (Wisdom). They are the
three basic principles or three pillars of Buddhism, which can be
developed over many lifetimes with diligence, and which will lead
us to ultimate peace.
Let us first speak of
SILA or moral development through discipline. We must learn how to
live as harmless and gentle human beings. In simple language we
must know how to live without disturbing the peace and goodwill of
others. If we are able to do this it will indeed be a great
achievement. Discipline, good conduct, precepts and morals are all
synonymous with this word 'Sila'. This is the foundation on which
to start a religious way of life. If a house is built without
laying a proper foundation, it will be very unstable. Modern man
has learnt the hard way how important it is to live in this
'sila'. It means respecting the right of others to exist. If we
believe that the world was created solely for our own benefit,
then we will take from it whatever we want indiscriminately;
without caring about what happens to other living beings and the
environment like plants, rivers, the atmosphere and so on. In the
end, as a result of major ecological imbalances of nature created
by us in our modern way of life, we will be destroying ourselves.
A good Buddhist on the other hand has a deep respect and concern
for the well being of every other being. This is sila. But sila
alone is not enough as we also need to develop Samadhi and Panna
which will be explained in the paragraphs that follow. |
NỀN MÓNG CỦA PHẬT
GIÁO
(Giới, Ðịnh, Huệ)
Pháp dạy bởi Ðức Phật
chỉ cho chúng ta con đường chính xác. Con đường đó hay phương pháp
được phân thành ba bậc. Ðó là Giới (Luân Lý), Ðịnh (trau dồi tinh
thần hay bình tĩnh không giao động) và Huệ (Trí Tuệ). Ðó là ba
nguyên tắc căn bản hay là ba cột trụ của Phật Giáo. Ba nguyên tắc
này có thể phát triển qua nhiều kiếp sống cần mẫn, sẽ dẫn chúng ta
đến an lạc tối đa.
Hãy để chúng ta nói
đến GIỚI hay phát triển luân lý qua kỷ luật. Chúng ta phải học hỏi
làm sao để sống như những con người lương thiện, cao quí. Nói một
cách đơn giản, chúng ta phải biết sống làm sao không xâm phạm đến
an lạc và thiện chí của người khác. Nếu chúng ta có thể làm được
như vậy, đương nhiên việc đó là một thành đạt vĩ đại. Kỷ luật,
hạnh kiểm tốt, lời giáo huấn và luân lý tất cả đều đồng nghĩa với
tiếng "Giới" (Sila). Ðó là nền móng mà chúng ta bắt đầu con đường
tôn giáo của cuộc đời. Nếu một căn nhà không xây dựng bằng một nền
móng thích hợp, căn nhà đó sẽ không vững chắc. Con người hiện đại
đã thấy con đường khó khăn quan trọng như thế nào để sống đúng với
"Giới" có nghĩa là tôn trọng nhân quyền hiện hữu của người khác.
Nếu chúng ta tin thế giới được tạo nên vì lợi ích riêng cho chúng
ta, rồi chúng ta cứ tự tại bừa bãi lấy đi bất cứ gì mà chúng ta
muốn chẳng cần để ý gì việc xẩy ra cho các chúng sanh khác và môi
trường chung quanh như cây cối, sông ngòi, bầu khí quyển, vân
vân... Cuối cùng, kết quả là phần lớn sự thiếu phối hợp về sinh
thái học của thiên nhiên tạo nên bởi chúng ta trong đời sống hiện
đại, chúng ta sẽ tự tiêu diệt chúng ta. Một người Phật Tử chân
chính, mặt khác, tôn trọng sâu xa và quan tâm đến đời sống của tất
cả chúng sanh. Ðó là Giới. Nhưng giới không cũng chưa đủ để mở
mang Ðịnh và Huệ sẽ được giải nghĩa trong những đoạn sau. |
|
1. THE MIND
After having
cultivated our moral conduct, we have to concentrate on training
our mind. Humans are the only living beings in this universe
capable of cultivating their minds up to the maximum limit to
attain enlightenment or the ultimate wisdom. It is extremely
difficult for living beings other than human to develop their
minds up to that level. That is why a person who aspires to become
a Buddha must be a human being. Even the devas cannot become
Buddha without first becoming humans. The reason is that they can
only passively enjoy their past good Karma - only human beings can
actively CREATE new, fresh good Karma and make the effort to
totally purify the mind through meditation.
As human beings we
have great latent potential in our minds, but such potential is
eclipsed by our anger, delusion, ignorance, craving selfishness
and many other mental defilements. We must realise that with the
passing of every second we are wasting and misusing our mental
energy on unnecessary pursuits. We just do not know how to harness
our vast mental energy for a useful and good purpose. The Buddha
showed us how to harness that vast storehouse of mental energy and
use it for our liberation from misery. In his final birth
Sakyamuni sacrificed his life and kingdom and underwent severe
suffering until he finally liberated the mind and gained supreme
enlightenment. He has assured us that with mental development and
purity, we too can follow his footsteps and experience the
ultimate happiness.
Do you know the
amount of mental energy we are using through our five senses and
imagery? So much mental energy is needlessly wasted through our
six channels in useless imagination, temptations and frustration.
The Buddha has introduced one proven method for us to harness this
vast mental energy and it is called 'Meditation'. Meditation means
harnessing our mental energy through concentration and from there
we go on training and taming the mind. It is not possible to
cultivate the mind simply by faithfully praying and worshipping
any god, or by performing various rituals and ceremonies. We can
never hope to gain knowledge, wisdom, purity or enlightenment
through performing ritualistic practices or prayers. The Buddha
says in the 'Sati-Patthana Sutta' that meditation is the only path
or only method that we can use to gain purity and enlightenment.
Here we must not
confuse Buddhism and Meditation. Buddhism is the total practice of
the Teaching of the Buddha manifested through various popular
cultures; whilst Meditation is the specific method developed to
rid the mind of impurities. Once a person has practised discipline
through Sila and achieved control of the body, then the mind is
ready to be developed - through Meditation. It is the only way for
our FINAL release from this existence. Here the Buddha is talking
about concentration for mental training and purity for gaining
final salvation. Since our minds are polluted, this method helps
us to rid ourselves of our worries, miseries and mental
disturbances. You may go here and there worshipping various gods
and goddesses with the hope of getting rid of your worries and
problems. But unless and until you train your own mind to develop
a true understanding of the nature of existence, as well as
realising who you really are, you can never gain real relief from
such miseries and worries. Meditation is the way whereby we can
attain the four levels of sainthood namely, Sotapanna, Sakadagami,
Anagami and Arahat which lead one to experience Nibbanic bliss.
Only when we understand the Dharma taught by the Buddha and
realise what we are in fact doing in the name of Buddhism, can we
differentiate between actions which fail to lead us to real
happiness and those which we call 'skillful actions', which
positively help liberate us from misery and ignorance. |
1. TRÍ ÓC
Sau khi trau dồi hạnh
kiểm, chúng ta phải tập trung vào việc huấn luyện tâm trí. Chỉ có
con người mới là một sinh vật trong vũ trụ có đủ khả năng để đào
luyện trí óc đến giới hạn tối đa để đạt được giác ngộ hay trí tuệ
chủ yếu. Hết sức là khó khăn cho một sinh vật khác không phải là
loài người có thể mở mang trí tuệ đến mức độ đó. Cho nên tại sao
một người muốn trở nên một vị Phật phải thuộc giống người. Kể cả
các chư thiên muốn trở thành Phật phải truớc tiên được làm người
đã. Lý do là vì các chư thiên chỉ thô động hưởng niềm vui do các
nghiệp tốt trong quá khứ - Chỉ có con người mới có thể tích cực
TẠO NGHIỆP mới, tốt, trong sạch và cố gắng thanh tịnh hóa hoàn
toàn tâm trí qua thiền định.
Là con người chúng ta
có khả năng tiềm ẩn to lớn trong đầu óc của chúng ta, nhưng tiềm
lực ấy bị che mờ bởi nóng giận, ảo giác, ngu si, tham dục, vị kỷ
và nhiều các tật xấu khác nhơ bẩn của tâm thần. Chúng ta phải hiểu
rằng với mỗi giây trôi qua là ta đã phí phạm hay lạm dụng năng lực
tâm thần vào các cuộc theo đuổi không cần thiết. Chỉ tại chúng ta
không biết làm thế nào để khai thác năng lực tâm thần to lớn vào
mục đích hữu ích và lương thiện. Ðức Phật chỉ cho chúng ta thấy
làm thế nào để khai thác năng lực tâm thần to lớn tồn trữ trong
tâm khảm và dùng nó để giải thoát khỏi khổ đau. Trong lần tái sanh
cuối cùng, Ðức Thích Ca Mâu Ni hy sinh cả đời sống và vương quốc;
Ngài tu khổ hạnh cho đến khi cuối cùng giải thoát được tâm trí và
đạt được giác ngộ tối thượng. Ngài bảo đảm với chúng ta là mở mang
và thanh tịnh tâm trí, chúng ta có thể theo gót chân Ngài và sẽ
chứng nghiệm hạnh phúc tối hậu.
Bạn có biết số năng
lượng tâm thần qua năm giác quan và trí tưởng tượng không? Quá
nhiều năng lượng tâm thần đã phí phạm qua sáu nẻo trong tưởng
tượng vô ích, cám dỗ và khủng hoảng. Ðức Phật giới thiệu cho chúng
ta một phương pháp đã được chứng nghiệm để khai thác năng lượng
tâm thần rộng lớn và được gọi là "Thiền Ðịnh". Thiền định có nghĩa
là khai thác năng lượng tâm thần bằng tập trung tư tưởng và từ đó
chúng ta tiến đến việc huấn luyện và chế ngự tâm trí. Không thể
chỉ đơn phương trau dồi tâm trí bằng chí thành cầu nguyện và sùng
bái một thần linh nào đó hay thi triển nghi thức và các lễ nghi.
Chúng ta không bao giờ có thể hy vọng đạt được kiến thức, trí tuệ,
thanh tịnh hay giác ngộ qua cách thực hành các nghi thức và cầu
nguyện. Ðức Phật nói trong kinh Sati-Patthana (Niệm Xứ) là chỉ có
thiền định là con đường duy nhất hay là phương pháp duy nhất mà
chúng ta có thể đạt được thanh tịnh và giác ngộ.
Chỗ này chúng ta
không bao giờ nên lầm lẫn Phật Giáo và Thiền Ðịnh. Phật Giáo là
việc thực hành tất cả Giáo Lý của Ðức Phật trình bày qua những văn
hóa phổ thông, trong lúc Thiền Ðịnh là phương pháp đặc biệt phát
triển để quét sạch những nhơ bẩn trong đầu óc. Một khi một người
giữ kỷ luật bằng Giới và kiềm giữ được xác thân, tâm trí sẵn sòng
phát triển qua Thiền định. Ðó là con đường duy nhất cho cuộc giải
thoát cuối cùng của chúng ta từ cuộc sống hiện hữu này. Nơi đây
Ðức phật nói về việc tập trung việc huấn luyện tâm trí và thanh
tịnh hóa hầu đạt đến cứu rỗi cuối cùng. Khi tâm trí chúng ta bị ô
nhiễm, phương pháp này giúp chúng ta tự quét sạch các lo lắng, khổ
đau và những phiền não tâm thần. Chúng ta có thể đi đây đó, để
sùng bái các thần thánh, các nữ thần thánh với hy vọng thoát khỏi
các lo âu và khó khăn. Nhưng ít nhất và cho đến khi nào bạn đã
huấn luyện tâm trí, bạn tiến tới thấu hiểu được bản chất của sự
hiện hữu, cũng như hiểu rõ chính bạn là ai, nếu không chẳng bao
giờ bạn có thể thoát khỏi thực sự khổ đau và lo lắng. Thiền định
là con đường mà chúng ta có thể đạt được bốn quả vị thánh là
Tu-Ðà-Hoàn (Dự Lưu Quả), Tư-Ðà-Hàm (Nhứt Lai Quả), A Na Hàm (Bất
Lai Quả) và A-La-Hán. Những quả vị này dẫn chúng ta đến hạnh phúc
Niết Bàn. Chỉ khi nào chúng ta thông hiểu Pháp do Ðức Phật dạy và
thấy đúng là chúng ta hành động dưới danh nghĩa Phật Giáo, chúng
ta mới có thể phân biệt giữa những hành động không đem đến cho
chúng ta chân hạnh phúc và những hành động mà chúng ta gọi là
"khéo léo" chắc chắn giúp chúng ta giải thoát khỏi khổ đau và ngu
si. |
|
2. HUMAN BEHAVIOUR
Another important
thing to remember is the understanding of our own character. We
should know that the types of behaviour which we had developed
during our previous births do influence the moulding of our habits
within this lifetime. That is why we all have different individual
characteristics and attitudes. Even children from the same parents
each have different mentalities, characteristics, inclinations and
behaviour. These could be regarded as manifestations of their
particular mental habits developed over a series of different
lifetimes. Whilst one child may be criminal-minded, the second
could be very pious and religious, the third very intelligent, the
fourth stupid, the fifth very honest, the sixth very cunning and
so on. These are the manifestations of their own mental habits.
In our storehouse of
consciousness, we too maintain such maintain habits as we pass
from one life to another. Consciousness is a very dynamic mental
faculty. All the five senses (seeing, hearing, smelling, tasting
and touching) bring objects from the outside to influence the mind
and create mental objects. The other three mental faculties
relating to sensation, recollection and good or evil mental habits
also constitute consciousness. When we die, our consciousness
leaves the body and joins with four elements and cosmic energies,
to create another existence. These four elements and cosmic
energies create another existence. These four elements are:
solidity, fluidity, heat and motion.
This is how beings
appear and reappear again and again. Now, in order to ensure that
we have desirable mental attitudes in the future we must make an
earnest endeavour to develop good mental attitudes now, in our
present life. Once the process of mental purification is begun and
carefully nurtured it can be carried on into future lives for
further development. So the mental training for gaining mental
purity is the second stage necessary for leading a pure religious
way of life as a Buddhist. This is called SAMADHI. |
2. TƯ CÁCH CON
NGƯỜI
Một điều quan trọng
khác là phải nhớ việc hiểu rõ đặc tính của chúng ta. Chúng ta phải
biết những loại tư cách huân tập tại các tiền kiếp đã ảnh hưởng
đến việc hun đúc những thói quen của chúng ta trong đời sống hiện
tại. Cho nên tại sao tất cả chúng ta có những cá tính và thái độ
khác nhau. Cả đến những đứa con từ cùng một cha mẹ nhưng tâm tính,
đặc tính, khuynh hướng và tư cách khác nhau. Việc trên được coi
như những phát hiện thói quen tinh thần riêng biệt phát triển qua
nhiều đợt của các đời sống khác nhau. Trong khi đứa trẻ thứ nhất
có tư tưởng tạo tội, thì đứa thứ hai lại rất hiếu thảo và sùng
đạo, đứa thứ ba lại rất thông minh, đứa thứ tư lại ngu đần, đứa
thứ năm lại rất ngay thẳng thực thà, đứa thứ sáu lại rất xảo
quyệt, vân vân... Ðó là do những thói quen tinh thần riêng biệt
phát hiện.
Trong tiềm thức,
chúng ta lưu giữ những thói quen tâm thần qua đời sống này đến đời
sống khác. Thức là một khả năng tâm thần rất sung mãn. Tất cả năm
giác quan (sắc, thinh, hương, vị và xúc) mang những vật thể từ bên
ngoài ảnh hưởng trí óc và tạo thành vật thể tinh thần. Ba khả năng
tinh thần khác liên quan đến cảm xúc, ký ức, thói quen tâm thần
thiện hay ác cũng tạo thức. Khi chúng ta chết, thức lìa bỏ thân và
nhập vào bốn yếu tố và năng lượng của vũ trụ để tạo một cuộc sống
khác. Bốn yếu tố đó là: chất đặc (đất), chất lỏng (nước), lửa
(nhiệt) và gió (chuyển động).
Trên đây cho thấy
chúng sanh xuất hiện và tái xuất hiện nhiều lần như thế nào. Bây
giờ, để bảo đảm chúng ta có thái độ tinh thần mong muốn trong
tương lai chúng ta phải có một nỗ lực nghiêm chỉnh để mở mang thái
độ tinh thần hiện tại, ngay tại đời sống này. Một khi tiến trình
thanh lọc tâm thần khởi sự và chín mùi sẽ mang lại cho đời sống vị
lai việc phát triển sau này. Cho nên việc huấn luyện tinh thần để
đạt được thanh tịnh trong tâm trí là giai đoạn thứ hai cần thiết
dẫn đến con đường thanh tịnh cuộc sống của một Phật Tử. Ðó là
ÐỊNH. |
|
3. DIFFERENT
CHARACTERS
Buddhism makes us
understand our own character. Hence, if we can understand our own
mind and recognise our own weaknesses then we can easily train it.
This is the only way to gain peace and happiness. The Buddha
taught us how to analyse our mind so that we can understand where
our defilements lie and why disturbances arise to pollute the
mind.
The Buddha was such a
practical teacher that he just did not stop there. He went on to
the next stage and showed us how to change that mental attitude.
If our minds are conditioned to be hot-tempered, selfish, greedy,
jealous and cruel the Buddha taught us different methods to train
such minds. He said that 'mind is the forerunner of all mental
states'. Whatever we do, it all begins in the mind. This reminds
us of the well known principle embodied in the preamble to the
UNESCO Charter on Human Right which states: 'Since wars begin in
the minds of men, it is in the minds of men that the defenses of
peace can be constructed'. So if we stop evil thoughts from
arising in the mind we will be capable of only doing good. This is
the way to practise Buddhism.
But many people have
generally tended to ignore all the important aspects of the
Buddha's teaching and have instead concentrated more on the
ritualistic aspects, thereby looking for an easy way out of
suffering. In Buddhism we cannot gain salvation by simply pleasing
or praising the gods without training the mind.
The third and last
stage is PANNA which means Supreme Wisdom. Wisdom here is not
simply academic or scientific knowledge. We can gather vast book
knowledge through learning but that in itself does not bring
wisdom. Wisdom cannot appear in the mind as long as selfishness,
hatred and delusion predominate. It is only when these mental
hindrances were completely erased from the mind and replaced with
mental development that real wisdom will appear. Wisdom is like
brightness. When brightness appears darkness disappears; one
displaces the other. Occasionally, the evil forces which are
latent in our mind do flare up according to the intensity of our
temptation and irritation at any given moment. When anger flares
up, we show our ugly face. Hidden evil forces in the mind can thus
emerge to change and cloud our mental attitude. Even a man who has
lived a religious life for a long period can still get into that
horrible state of mind, if the mind has not been trained properly
and if the impure states have not been completely uprooted.
This what the Buddha
taught and this what we have to do in order to lead a Buddhist way
of life. First we have to cultivate our moral background, then try
to understand the nature of our mind and thereafter train it so
that we can try to discover a remedy to cleanse the mental
impurities. After eradicating our mental defilements we will be
able to cultivate proper understanding. In the end we gain Wisdom
and liberation from our physical and mental suffering - the
ultimate goal aspired by every good Buddhist. |
3. ÐẶC TÍNH KHÁC
BIỆT
Phật Giáo làm cho
chúng ta hiểu được được đặc tính riêng biệt của chúng ta. Do đó,
nếu chúng ta hiểu được tâm trí của chúng ta và thừa nhận các nhược
điểm thì chúng ta có thể dễ dàng huấn luyện tâm trí. Ðó là con
đường duy nhất để đạt được an lạc và hạnh phúc. Ðức Phật dạy chúng
ta phân tách tâm trí chúng ta như thế nào để chúng ta có thể hiểu
được nhơ bẩn nằm trong tâm trí của chúng ta và tại sao những nhiễu
loạn phát sanh để ô nhiễm tâm trí.
Ðức Phật là một vị
thầy rất thực tiễn còn tiếp tục chưa ngừng tại nơi đây. Ngài tiếp
đến giai đoạn kế tiếp và chỉ cho chúng ta thấy làm như thế nào để
thay đổi thái độ tâm thần. Nếu đầu óc chúng ta bị điều kiện hóa để
trở nên người hay nóng giận, ích kỷ, tham lam, ganh ghét và độc ác
Ðức Phật dạy cho ta các phương pháp để huấn luyện các tâm trí như
vậy. Ngài nói 'tâm trí là kẻ tiền phong trong tất cả các trạng
thái tinh thần'. Bất cứ chúng ta làm việc gì, việc đó bắt đầu nơi
trí óc của chúng ta. Việc trên đây nhắc nhỡ chúng ta nguyên tắc
nổi tiếng ghi trong lời tựa của Hiến Chương UNESCO (Cơ Quan Văn
Hóa Liên Hiệp Quốc) nói về Nhân Quyền như sau:'Khi chiến tranh
khởi đi nơi đầu óc của con người, thì cũng chính nơi trí óc của
con người việc bảo vệ hòa bình có thể kiến trúc được'. Cho nên khi
chúng ta ngưng các tư tưởng tội lỗi nổi lên trong đầu óc, thì
chúng ta cũng có đủ khả năng chỉ làm điều thiện. Ðó là con đường
thực hành Phật Pháp.
Nhưng nhiều người
thường có khuynh hướng không lưu tâm đến tất cả những khía cạnh
quan trọng của giáo lý Ðức Phật mà thay vào lại tập trung nhiều
đến mặt nghi thức, do đó coi nhẹ con đường thoát khỏi khổ đau.
Trong Phật Giáo chúng ta không thể đạt được sự cứu rỗi đơn giản
bằng cách làm vừa lòng hay tán dương các thần linh mà không huấn
luyện tâm trí.
Giai đoạn thứ ba là
HUỆ có nghĩa là Trí Tuệ Tối Thượng. Trí tuệ đây không phải là học
thuật hay kiến thức khoa học. Chúng ta có thể gồm thâu kiến thức
rộng rãi qua sách ví bằng cách học hỏi nhưng kiến thức đó không
mang lại trí tuệ. Trí tuệ không thể nẩy sinh trong tâm trí chừng
nào còn vị kỷ, thù hận và ảo giác muốn ưu thế. Chỉ khi nào những
chướng ngại tinh thần trên được hoàn toàn xóa bỏ và được thay thế
với một trí óc phát triển lúc đó trí tuệ thực sự mới phát sanh.
Trí tuệ như quang minh rạng rỡ. Khi quang minh chói sáng xuất
hiện, bóng tối biến mất; cái này thay thế cái kia. Thỉnh thoảng,
sức mạnh ma vương tiềm ẩn trong đầu óc chúng ta lóe ra trong tâm
trí theo cường độ của cám dỗ và kích thích vào một lúc nào đó. Khi
nóng giận bốc lên, chúng ta để lộ bé mặt xấu xa của chúng ta. Sức
mạnh ma vương ẩn nấp trong tâm trí có thể nổi lên thay đổi và làm
vẩn đục thái độ tâm thần của chúng ta. Cả đến một người sống một
thời gian dài trong đời sống tôn giáo cũng vẫn còn trạng thái tinh
thần đó, nếu tâm trí không được huấn luyện đúng cách và những
trạng thái bất tịnh chưa được hoàn toàn nhổ hết gốc rễ.
Ðó là cái mà Ðức Phật
dạy và đó là cái mà chúng ta phải thi hành để tiến đến con đường
của đời sống một Phật Tử. Trước tiên chúng ta phải trau dồi nền
đạo đức của chúng ta và sau đó rèn luyện tâm trí để chúng ta có
thể khám phá phương cách tẩy sạch tâm thần bất tịnh. Sau khi tiêu
diệt những nhơ bẩn tinh thần, chúng ta có thể trau dồi sự hiểu
biết chính xác. Cuối cùng chúng ta đạt được Trí Tuệ và giải thoát
khỏi khổ đau về vật chất lẫn tinh thần - mục đích tối hậu mong ước
của một người Phật Tử chân chính. |
|
RELIGIONS CAN BE
DIVIDED
INTO TWO GROUPS
We can classify all
existing religions into two groups: Religions which are based
entirely on faith, and religions based on mental purity rather than
faith, those who emphasise faith more than purity believe that they
can gain their final salvation through their ardent faith alone. To
them mental purity is not an important aspect. That is why they say
that no one can gain salvation by observing morals and precepts
without also development a strong faith in god. Buddhism in the
other hand teaches that faith is not the most important aspect but
purity of the mind is. When we have purity in the mind coupled with
wisdom, we can never hold wrong ideas as the real truth. Faith alone
cannot purify the mind to remove doubts so as to help us
understanding the truth.
People can uphold a
wrong belief without analysing it or without having any sense of
reasoning because they are afraid that if they do they might lose
their faith and thus also lose their chance to gain salvation. The
Buddha's advice on the other hand is, before accepting any belief as
the truth, it is for us to study, investigate, practise and see the
results for ourselves in the end. When we come to a conclusion after
having made a thorough analytical investigation, we gain confidence
in the truth, as we have satisfactorily verified it for ourselves.
By realising the truth ourselves, we naturally gain confidence. This
is neither mere faith nor belief but realisation. The Buddha's
advice is neither to believe nor to reject anything at first hand.
As we have human minds to enable us to think soberly, we must
therefore give a chance to our minds to think independently and
understand things in their correct perspective. We should not think
that we just cannot understand. Some people who are very lazy to
understand things as they really are and so seek the easy way out by
just surrendering themselves to what the others say, because they
have no self confidence in themselves. A true Buddhist on the other
hand has self-respect, knowing fully well that he is responsible for
himself, his actions and his salvation. 'No one saves us but
ourselves, the Buddha show us the correct way'. |
TÔN GIÁO CÓ THỂ CHIA
THÀNH
HAI NHÓM
Chúng ta có thể xếp
những tôn giáo hiện hữu thành hai nhóm: Những tôn giáo hoàn toàn căn
cứ theo niềm tin, và những tôn giáo căn cứ theo sự thanh tịnh của
tinh thần hơn là niềm tin. Những người nhấn mạnh niềm tin hơn là
thanh tịnh tin tưởng đạt được cứu rỗi tối hậu chỉ cần một niềm tin
mãnh liệt là đủ. Với những người này thanh tịnh tâm thần không phải
là một khía cạnh quan trọng. Cho nên họ nói rằng không ai có thể đạt
được cứu rỗi bằng tôn trọng luân lý và giới luật mà không phát triển
một niềm tin mạnh mẽ vào đấng thiêng liêng. Phật Giáo, mặt khác, lại
dạy niềm tin không phải là một khía cạnh quan trọng nhất nhưng thanh
tịnh của tâm thần mới là quan trọng nhất. Khi tâm trí thanh tịnh đi
đôi với trí tuệ, chúng ta không bao giờ nắm giữ ý tưởng sai lầm là
chân lý. Niềm tin không thôi không thể thanh tịnh hóa được tâm trí
để loại bỏ các mạn nghi cũng như để giúp đỡ chúng ta hiểu được sự
thật.
Người ta có thể duy trì
một niềm tin sai lầm chẳng phân tách hay cũng chẳng có lấy một ý
thức lý luận nào vì họ sợ rằng làm như vậy họ có thể mất niềm tin và
như vậy họ mất cơ duyên đạt được cứu rỗi. Lời khuyên của Ðức Phật,
mặt khác là trước khi chấp nhận bất cứ niềm tin nào là chân lý,
chúng ta phải nghiên cứu, điều tra, thực hành và nhìn thấy kết quả
cho chính mình lúc cuối cùng. Bằng cách hiểu được chân lý do chính
mình, đương nhiên chúng ta đạt được lòng tin tưởng. Ðó chẳng phải là
niềm tin và tín ngưỡng mà là sự hiểu biết rõ ràng. Lời khuyên của
Ðức Phật là chẳng tin ngay hay bác bỏ ngay bất cứ điều gì lúc ban
đầu. Vì chúng ta có trí óc của con người giúp cho chúng ta điềm tĩnh
suy nghĩ, cho nên chúng chúng ta phải để tâm trí của chúng ta có cơ
hội suy gẫm độc lập (không bị ảnh hưởng) và hiểu những điều theo
đúng viễn cảnh của nó. Chúng ta đừng nên nghĩ là chỉ vì chúng ta
không thể hiểu nổi. Một số người lười biếng không chịu suy gẫm sâu
xa vấn đề, không cố gắng tìm hiểu những điều đó thực sự như thế nào,
tìm cách dễ dàng cho qua vấn đề bằng cách tự đầu hàng cái gì mà
người khác nói vì họ không có lòng tự tin nơi chính họ. Một Phật Tử
chân chính, mặt khác, tự trọng, hiểu biết tường tận cái mà mình chịu
trách nhiệm cho chính bản thân, hành động và sự cứu rỗi của chính
mình. 'Không ai có thể cứu chúng ta nhưng chính chúng ta tự cứu
chúng ta, Ðức Phật chỉ cho ta con đường chính xác'. |
|
THREE OTHER SIMPLE
METHODS
(Dana, Sila and Bhavana)
So far we have learned
from the preceding paragraphs that to lead a practical Buddhist way
of life we must essentially develop Moral Discipline (Sila),
Concentration (Samadhi) and Wisdom (Panna).
There are three other
simple methods to practise Buddhism. They are: Dana, Sila and
Bhavana. Dana (Generosity) means contributing or sacrificing
something for the benefit of others. But this must be done without
any ulterior or selfish motive. Then what is the purpose of giving?
The real Buddhist attitude of Dana is not the act of giving in the
hope of gaining some reward in return, but to reduce selfishness. We
commit enormous mistakes and disturb others owing to our own
selfishness. So when we contribute something for the benefit of
others we actually reduce our own selfish desires and in its place
we develop love, kindness and understanding. That is the way to
start a Buddhist way of life for our spiritual development. |
BA PHƯƠNG PHÁP ÐƠN
GIẢN KHÁC
(Bố Thí, Trì Giới và Thiền Ðịnh)
Cho đến nay chúng ta đã
học từ những chương trước đây để dẫn đến thực hành con đường của
người Phật Tử, chúng ta cần thiết phát triển Luân Lý Kỷ Luật (Giới),
Tập Trung Tư Tưởng (Ðịnh) và Trí Tuệ (Huệ).
Có ba phương pháp đơn
giản hơn để thực hành Phật Pháp. Ðó là: Bố Thí, Trì Giới và Thiền
Ðịnh. Bố Thí (Dana) có nghĩa là đóng góp hay hy sinh cái gì
đó để làm lợi ích cho người khác. Bố thí phải được thi hành không ẩn
ý hay do động lực ích kỷ. Mục đích chính của bố thí là gì? Thái độ
chân chính của người Phật Tử về bố thí là việc bố thí không hy vọng
để được đền ơn, nhưng là để giảm bớt lòng ích kỷ. Chúng ta phạm
nhiều lầm lỗi và làm phiền hà người khác vì lòng ích kỷ của chính
chúng ta. Cho nên khi chúng ta góp phần cho lợi ích người khác chính
là ngay bây giờ chúng ta giảm thiểu lòng ham muốn vị kỷ của chúng ta
và thế vào tính xấu ấy chúng ta phát triển tình thương, hảo tâm và
hiểu biết. Ðó là cách thức khởi đầu con đường đời sống của người
Phật Tử để mở mang tinh thần. |
|
1. SILA
The second stage is
Sila. As we all know Sila means development of moral conduct which
we have discussed earlier. There are however five important precepts
for lay Buddhists to observe with regard to Sila. They are
abstaining from killing, stealing, sexual misconduct, telling lies
and taking intoxicating drinks and drugs. When we observe these
noble principles, we not only cultivate our religious way of life
but also render a better service to others by allowing them to live
peacefully. By leading a pure life according to the Noble Eightfold
Path, we become noble ourselves and life becomes more meaningful.
Those who are spiritually advanced see no meaning at all in material
possessions and worldly powers, so they renounce the mundane world
and observe more precepts in order to gain more peace and happiness.
Many people observe
their religious commandments or laws in the firm belief that if they
violate any such any commandments, a god will punish them. Fear of
god or fear of punishment therefore acts as a deterrent and is the
main reason which makes them observe religious laws. Thus they 'do
good' not because they are themselves intrinsically good, acting
from a pure mind, but because they suppress evil thoughts out of
fear of punishment.
The evil thought is
merely suppressed without understanding its source; not entirely
eradicated, it lies dormant in the mind. It can therefore manifest
itself at any time when the mind is not guarded. If anyone says that
he does not like to kill just because of fear of punishment from
god, then that will only indicate that he has not cultivated his
mind to reduce cruelty and hatred and hence has not developed mercy
towards others. Such humane qualities would not have existed had it
not been for the perpetual fear of punishment from god. He only
maintains fear for his own personal safety with a selfish motive.
When Buddhists observe the precept' not to kill' they are not
concerned with any fear of punishment but they consider the danger
of cruelty and suffering which they create towards others. By
considering the danger of the act of killing they will, in this way,
refrain from killing. They then give a chance to their minds to
cultivate virtues such as kindness, compassion, sympathy and
understanding. They also observe all the other Buddhist principles
in the same manner. With regard to this act of killing, the Buddha
says: 'If you cannot understanding why killing others is bad, then
consider it in this way: When another person comes and tries to kill
you, think of how you would feel at this very moment. How you would
try to escape and what sort of physical and mental suffering or
anguish you would have to experience? This more than enough for you
to understand why it is bad. If you cannot understand why stealing
is bad then think of how you would feel should others come and take
away your belongings'. This concept is summarised in the Dharmapada
like this:
All tremble at the rod
All fear death
Considering this
One should neither strike
Nor cause to kill
This is a practical
approach to daily living and should not be regarded as a theory nor
even as a commandment coming from an authority or a supreme being
who is both executioner and rewarder. By using our human knowledge
we should understand the bad effects of evil deeds. Some people
might say that they are forbidden to do certain things just because
their religion says no. But that is not the way for a mature person
to follow as to what to do and not what to do. When we uphold all
our precepts, we should not think that we are observing them only
for our own benefit. When you stop killing and disturbing people,
they can expect to live peacefully because you do not create fear in
their minds. What a wonderful contribution that would be to others.
If you do not rob, lie and swindle others they can have security,
happiness and so live peacefully. If everyone in this country could
follow these noble principles of moral conduct, how happy will all
be! |
1. GIỚI
Bậc thứ hai là Giới
(Sila). Như chúng ta đã biết Giới có nghĩa là phát triển hạnh
kiểm mà chúng ta đã nói trên đây. Tuy nhiên có năm giới quan trọng
cho người cư sĩ phải gìn giữ. Người cư sĩ cấm không được giết, trộm
cắp, tà dâm, nói dối và dùng các chất rượu hay ma túy. Khi chúng ta
giữ những nguyên tắc cao quí đó, chúng ta không chỉ trau dồi đường
lối tôn giáo trong cuộc đời mà cũng giúp ích nhiều cho người khác,
để người khác sống an lạc. Sống một cuộc đời thanh tịnh theo đúng
bát chánh đạo cao quí, chúng ta trở nên cao thượng và cuộc sống trí
thành nhiều ý nghĩa. Những ai tinh thần tiến bộ không màng đến của
cải vật chất và quyền thế trần tục, từ bỏ thế tục và giữ thêm nhiều
giới nữa, sẽ đạt được an lạc và hạnh phúc nhiều hơn nữa.
Nhiều người tuân theo
những lời răn trong tôn giáo hay những luật lệ với một niềm tin kiên
quyết là nếu họ vi phạm bất cứ điều răn nào ấy, đấng thiêng liêng sẽ
phạt họ. Cho nên việc sợ đấng thiêng liêng hay sợ bị trừng phạt hành
động như ngăn cản và là lý do chính làm cho họ phải tuân theo luật
lệ tôn giáo. Do vậy họ làm "tốt" không phải vì bản chất của họ tốt,
hành động từ một tâm trí thanh tịnh, mà vì lẽ họ muốn diệt tư tưởng
tội lỗi khỏi sợ bị trừng phạt.
Tư tưởng tội lỗi bị
diệt chẳng hiểu nguyên nhân; không hoàn toàn bị nhổ hết gốc rễ vẫn
nằm trong đầu óc. Cho nên các tư tưởng này bất cứ lúc nào cũng có
thể xuất hiện nếu như tâm trí không được gìn giữ canh chừng. Nếu một
người nào đó nói là không thích giết chỉ vì sợ đấng thiêng liêng
trừng phạt, cho thấy người đó không được trau dồi để giảm thiểu độc
ác, sân hận và do đó không phát triển lòng thương xót người khác,
những đức tính của con người không hiện hữu mà là sự sợ hãi triền
miên sự trừng phạt của đấng thiêng liêng. Người đó sợ hãi cho an
ninh của chính mình do động lúc của vị kỷ. Khi người Phật Tử giữ
giới "không giết hại", họ không bận tâm đến một hình phạt nào nhưng
họ quan tâm đến cái nguy hiểm của độc ác và khổ đau tạo ra cho người
khác. Bởi quan tâm đến cái nguy hiểm của hành động giết hại, người
Phật Tử, vì lẽ ấy, gìn gió không giết hại. Họ còn có dịp để cho trí
óc được trau dồi đức hạnh như hảo tâm, từ bi, cảm tình và hiểu biết.
Họ cũng giữ tất cả những nguyên tắc của người Phật Tử khác trong
đường lối như vậy. Về hành động giết hại Ðức Phật nói: "Nếu bạn
không hiểu rằng giết hại người khác thì xấu xa, bạn hãy nghĩ như thế
này: Khi một người nào đó đến và cố gắng giết bạn, bạn nghĩ như thế
nào và cảm thấy như thế nào lúc đó. Làm thế nào để thoát được, thể
xác và tinh thần đau đớn như thế nào hay nỗi thống khổ mà bạn phải
chịu đựng ra sao?" Chừng đó quá đủ để bạn bạn hiểu hành động giết
hại là xấu xa. Nếu bạn không hiểu tại sao trộm cắp là xấu hãy nghĩ
đến bạn cảm nghĩ như thế nào khi có người đến lấy của cải của bạn?
Quan niệm đó được tóm tắt trong kinh Pháp Cú như sau:
Ai cũng run sợ trước
gậy gộc
Ai cũng sợ chết
Nhận thức như vậy (Suy lòng ta ra lòng người)
Ta chẳng nên vũ phu
Và cũng chẳng gây nên giết chóc.
Ðó là hướng đi thực
hành cho đời sống hàng ngày và không nên coi như một lý thuyết hay
cả đến là một lời răn từ một chức quyền hay một nhân vật tối thượng
vừa là người hành pháp vừa là người ban thưởng. Bằng cách sử dụng
kiến thức nhân loại, chúng ta nên hiểu những quả xấu từ những hành
động tội lỗi. Một số người có thể nói rằng họ bị cấm không thi hành
một số điều chỉ vì tôn giáo nói như vậy. Nhưng đó không phải là
đường lối cho một người chín chắn biết theo cái gì phải làm và cái
gì không nên làm. Khi chúng ta giữ tất cả những giới luật, chúng ta
không nên nghĩ rằng chúng ta giữ giới vì lợi ích của riêng chúng ta.
Khi bạn ngưng giết hại và phiền hà người khác, những người này được
sống yên ổn vi lẽ bạn không tạo niềm sợ hãi trong tâm trí họ. Bạn đã
đóng góp đẹp đẽ đến nhường nào cho người khác. Khi bạn không trộm
cắp, không nói dối và lừa đảo người khác, những người này có thể
sống an toàn, hạnh phúc và an lạc hơn. Nếu mọi người trong nước gắng
sức áp dụng các nguyên tắc cao quí về hạnh kiểm này, chúng ta sẽ
hạnh phúc đến nhường nào! |
|
2. WHY RELIGION IS
NEEDED
Human being by nature
are sometimes not reliable and so they do violate principles. That
is why a religion is needed to train them. In the past we were
scared of natural phenomena like lightning and thunder, wild
animals, ghosts and devils. Later we realised that many of our past
beliefs in ghosts and devils were unfounded and were merely
imaginary. Today we can ignore them. What we need to fear however
are ruthless human beings who are out to destroy our peace and
happiness. It is difficult to reform humans to make them reliable
persons. In a way animals could be regarded as more admirable than
people. Although animals have no religion, they follow nature. They
are only guided by the instinct for survival and never attack others
except in self defense or for food. They have no deceit.
It is the human mind
that must have a religion to think and understand. Man needs moral
standards to reduce selfishness and deceit. Man can turn and twist
his mind for his own ends and to his personal advantage. To
straighten the crookedness of the human mind, religion is necessary.
Albert Einstein once said: "Atomic energy has shaken and changed the
whole world; but even that powerful atomic energy cannot change
man's nature". It is still crooked, unreliable and dangerous as it
has been from earliest times. But religion can change this mind for
a better purpose if people really uphold the religious principles.
Here we must define
what is meant by religion. For Buddhists, 'Religion' means something
very different from the normally accepted meaning of the word.
Buddhism as a religion envisages the human being as a devout person
working in accord with the Teachings of the Buddha towards achieving
his own salvation by doing good and purifying the mind. The teaching
of the Buddha does not place any reliance on prayer, supplication
and ritual. That is why the Buddha had repeatedly advised us to
study the nature of the mind. We can thus understand where our
weaknesses lie and only then can we find the suitable solution to
get rid of our weaknesses to save ourselves. Buddhism teaches
Self-Reliance. |
2. TẠI SAO TÔN GIÁO
LẠI CẦN THIẾT?
Con người theo thiên
nhiên đôi khi không tin tưởng được nên đã vi phạm các nguyên tắc.
Cho nên tại sao tôn giáo lại cần thiết để dạy dỗ con người? Trong
quá khứ chúng ta sợ hãi những hiện tượng thiên nhiên như sấm chớp,
dã thú, ma và quỷ. Sau này chúng ta hiểu được những niềm tin quá khứ
vào ma quỷ là vô căn cứ và chỉ do tưởng tượng mà thôi. Ngày nay
chúng ta có thể không cần để ý đến nữa. Cái mà chúng ta cần sợ hãi
là cái nhẫn tâm của con người đang gắng sức phá hoại hòa bình và
hạnh phúc của chúng ta. Thật là khó khăn để cải tạo con người thành
những người tin cậy. Trong một chiều hướng nào đó con vật có thể coi
như được đáng khâm phục hơn con người. Mặc dù con vật không tôn
giáo, chúng theo thiên nhiên. Chúng chỉ được hướng dẫn theo bản năng
tự nhiên để sống còn và không bao giờ tấn công (vật hay người) khác
ngoại trừ trường hợp tự bảo vệ hay vì miếng ăn. Chúng không gian
dối.
Trí óc của con người
phải có một tôn giáo để suy gẫm và hiểu biết. Con người cần phải có
trình độ luân lý để giảm bớt vị kỷ và gian dối. Con người có thể
quay lại và uốn quanh trí óc của mình đến kết thực riêng của mình và
cho lợi lạc cho cá nhân mình. Ðể làm cho thẳng cái tính quanh co của
trí óc con người, tôn giáo rất cần thiết. Albert Einstein có lần
nói: "Năng lực nguyên tử đã làm rung động và thay đổi tất cả thế
giới; nhưng dù năng lực nguyên tử mạnh như vậy cũng không thay đổi
được bản tính tự nhiên của con người". Vẫn còn quanh co lừa đảo,
không tin cậy được, và nguy hiểm như hồi xưa từ thuở ban đầu. Nhưng
tôn giáo có thể thay đổi trí óc ấy vào mục đích tốt đẹp hơn nếu
người ta giữ vùng các nguyên tắc tôn giáo.
Nơi đây chúng ta phải
định nghĩa tôn giáo là gì. Với người Phật Tử, "tôn giáo" có nghĩa
điều gì khác hơn điều được chấp nhận thông thường trên thế giới.Phật
Giáo là một tôn giáo vạch ra chúng sanh là một người nhiệt tình hành
động hòa hợp với Giáo Lý của Ðức Phật để đi đến tối hậu tự cứu rỗi
lấy mình bằng cách làm việc thiện và thanh tịnh tâm trí. Giáo Lý của
Ðức Phật không để sự tin tưởng nào vào cầu nguyện, van xin và nghi
lễ. Cho nên Ðức Phật nhắc đi nhắc lại lời khuyên của Ngài về nghiên
cứu bản chất của trí óc. Như vậy chúng ta có thể hiểu nhược điểm của
chúng ta nằm chỗ nào để chúng ta có thể tìm được giải đáp thích nghi
thoát khỏi các yếu điểm và tự cứu lấy mình. Phật Giáo dạy chúng ta
lòng Tự Tin. |
|
3. MEDITATION
The last stage or third
stage is Bhavana or meditation for the development of the mind.
Without Bhavana we cannot achieve the aim or the purpose of our
life. The purpose of life is to see an end to our suffering. Then,
what is meditation? When we develop the mind by eradicating mental
impurities we gain purity. We strive with great effort to reach the
peak of perfection. The only way to achieve this final goal is for
us to practise meditation as taught by the Buddha. Although we have
achieved some progress in modern society and have changed from
striving for mere survival to some measure of physical pleasure and
comfort, there is however, no real corresponding development in
man's mind. People have used their wider knowledge of the physical
world only to create more temptation and excitement and they regard
such 'discoveries' as development. They organise various activities
to cater to our physical needs and advertise them to create
temptation.
In the past, people did
not resort to crass commercialism to influence the mind and to
create desire. Now, through the media of television, cinemas, erotic
dances, lewd magazines and many other such entertainments,
excitement is created. Human passions are aroused to such a degree
that immoral practices have become rampant. These do not in any way
calm the mind and give peace. But this does not mean that we should
condemn everything that please the senses. We cannot deny that art
and culture do please the senses. They do so in such a way that
raises the human spirit and encourages reflection and repose. The
purpose of cultural activities such as Folk dancing, Singing,
Theatre and many other kinds of arts are to make man more aware of
his existence; they relax and calm the mind without arousing the
base passions. It is accepted that human beings do have emotions.
They should be catered for by providing suitable and wholesome
entertainment without arousing the wild nature latent in the human
mind.
In fact if there is
nothing to occupy the mind, then that mind can become very violent
and intolerant. The saying 'An idle mind is the devil's workshop' is
indeed very true. Therefore decent cultural practices should be
introduced to calm the mind and provide an understanding of the
nature of our existence. It is regrettable to note how the modern
consumer society has polluted cultural activities and abused the
splendour of our ancient cultural practices. |
3. THIỀN ÐỊNH
Bậc cuối cùng là
Bhavana hay Thiền Ðịnh để mở mang tâm trí. Không có thiền định
chúng ta không hoàn thành được mục tiêu hay mục đích của đời chúng
ta. Mục đích của đời chúng ta là nhìn thấy sự chấm dứt khổ đau của
chúng ta. Rồi, cái gì là Thiền Ðịnh? Khi chúng ta phát triển tâm trí
bằng cách nhổ tận gốc rễ những bất tịnh của tâm thần, chúng ta đạt
được thanh tịnh. Chúng ta phấn đấu tận tình cố gắng để tiến tới tột
đỉnh của hoàn mỹ. Con đường duy nhất để hoàn thành mục tiêu cuối
cùng cho chúng ta là thực hành thiền định do Ðức Phật dạy. Mặc dù
chúng ta đã hoàn tất được một vài tiến bộ trong xã hội hiện đại và
có thay đổi từ phấn đấu để sống còn thành một vài biện pháp về lạc
thú vật chất và tiện nghi; tuy nhiên việc trên không đúng hẳn về
việc mở mang tâm trí của con người. Người ta đã dùng sự hiểu biết
rộng rãi về thế giới vật lý chỉ để tạo thêm nhiều cám dỗ và kích
thích, người ta coi những sự "khám phá" đó là phát triển. Người ta
tổ chức nhiều hoạt động để phục vô cho như cầu vật chất và quảng cáo
các việc này để tạo cám dỗ.
Trong quá khứ, người ta
không cần đến thương mại thô bỉ để tạo ảnh hưởng tinh thần và gây
ham muốn. Hiện nay, qua trung gian của truyền hình, chiếu bóng, vó
điệu khêu gợi, tạp chí khiêu dâm, và nhiều loại giải trí khác như
vậy, kích thích được tạo nên. Dục vọng của con người tăng lên đến
múc độ mà những thực hành vô luân trở nên lan tràn. Những loại trên
đây không chút nào làm tâm thần bình thản và an lạc. Nhưng cũng
không có nghĩa là chúng ta phải kết án mọi điều làm vừa lòng các
giác quan. Chúng ta không thể chối bỏ nghệ thuật và văn hóa cũng làm
vừa lòng các giác quan. Nghệ thuật và văn hóa làm như vậy để nâng
cao tinh thần con người và khuyến khích phê phán và phối hợp hài
hòa. Mục đích của các hoạt động văn hóa như vũ điệu bình dân, ca
hát, sân khấu và nhiều loại nghệ thuật khác là để làm cho con người
nhận thức được có sự hiện hữu của các loại này. Những hoạt động này
giúp tâm thần thoải mái và bình thản không gây nên những dục vọng cố
hữu. Con người được chấp nhận có những xúc cảm nhưng những hoạt động
này phải là để phục vô bằng cách cung cấp loại giải trí thích hợp và
lành mạnh không làm cho bản chất man rợ tiềm ẩn trong đầu óc con
người trỗi lên.
Thật ra nếu không có gì
trong đầu óc, tâm trí có thể trở nên hung bạo và tàn nhẫn. Câu châm
ngôn 'Một đầu óc bệnh hoạn là xưởng làm việc của ma quỷ' đương nhiên
thật đúng. Cho nên việc thực hành văn hóa nghiêm chỉnh nên được khai
thị để trấn tĩnh tâm trí và đem đến một sự hiểu thấu bản chất cuộc
sống của chúng ta. Thật là đáng tiếc nhận thấy xã hội tiêu thụ hiện
đại đã ô nhiễm hoạt động văn hóa và lạm dụng cái đẹp huy hoàng của
sự thực hành văn hóa cổ xưa như thế nào. |
|
THE CONSEQUENCES OF
MODERN FORMS OF ENTERTAINMENTS
How many kinds of
immoral practices are there in our so-called modern entertaiments?
When you enter a place where they perform such entertainments, you
can see for yourself how the organisers of such entertainments try
to influence your mind. Their main purpose of course is to make easy
money. They are not in the least worried about the adverse effects
such shows would have on human values, religions and culture. That
is why some people say it is difficult to practise Buddhism in the
midst of our modern society because Buddhism does not condone nor
encourage any kind of entertainment.
As pointed out earlier,
this is not true at all. Buddhism encourages culture and art, but it
does discourage any activity which debases human dignity. In the
distant past, when we were living as primitive men we had only a few
problems. Such problems concerned our obtaining of food and shelter
and the survival of the community. Even clothing was worn primarily
for protection and not to adorn the body. Today we tend to regard
those early people as being unfortunate or uncivilised when we
compare their standard of living to that of ours. But in our modern
society how many millions of problems are there? Most of them have
in fact been created by us. Because of the problems of our own
making we have no peace, no sleep, no appetite and have difficulty
managing our lives amidst global disturbances everywhere. This is
the nature of modern society, but in those early days people led a
tranquil life. They have to relax and enough time to take their
food. There was no rat race then.
It might be argued that
it is simplistic to say that primitive man was happy why we are not.
But the point we are making is that modern civilisation is
unnecessary complicated, creating problems which need not exist at
all if we could only learn to reduce our wants and live like our
ancestors with few basic needs. Many great men like Gandhi and
Albert Schweitzer have proven that even in modern times, the
happiest people are those with the fewest needs. According to the
Buddha the highest wealth of a man is contentment. Although
primitive man had to go out and hunt animals for food, he was
however quite contented and satisfied with that way of life,
primitive though it might have been. Today we build large and tall
buildings to live comfortably but there is no security within. How
many iron gates and doors are there all secured and fitted with
electronic burglar alarm systems? Why do we need all these extra
gadgets? Is this modern development? Those who live in such lofty
houses live in perpetual fear because of insecurity. In the past,
however people could sleep peacefully even under trees, in caves or
anywhere without having such fear and worry. Sure they had problems
too - all human existence for that matter is problematic but modern
man has increased and complicated those problems a thousand fold,
all unnecessary, and of his own making. |
HẬU QUẢ CỦA HÌNH THỨC
GIẢI TRÍ HIỆN ÐẠI
Có bao nhiều loại thực
hành vô luân trong cái gọi là giải trí hiện đại? Khi bạn vào một nơi
trình diễn những loại giải trí như vậy, bạn có thể nhận thấy cho
chính bạn những người tổ chức cố gắng muốn ảnh hưởng tinh thần bạn
như thế nào. Mục đích chính của họ, đương nhiên, là để dễ kiếm tiền.
Họ chẳng cần lo lắng đến những hậu quả phản ứng ngược có hại, những
màn trình diễn ấy phải có giá trị nhân bản, tôn giáo và văn hóa. Cho
nên tại sao một số người nói là thật khó khăn để thực hành Phật pháp
giữa xã hội hiện đại vì lẽ Phật Giáo không tha thứ và cũng không
khuyến khích loại giải trí nào cả.
Như đã vạch rõ trên
đây, việc này không có gì là đúng cả. Phật Giáo khuyến khích văn hóa
và nghệ thuật, và can ngăn bất cứ hoạt động nào làm mất phẩm giá của
con người. Trong khoảng cách xa xưa, khi chúng ta sống như người
tiền cổ, chúng ta có rất ít khó khăn. Những khó khăn đó chỉ là tìm
thực phẩm, nơi ẩn trú và sự sống còn cho cộng đồng. Ngay cả đến quần
áo ở thời cổ chỉ là để che thân, không phải là tô điểm xác thân.
Ngày nay chúng ta quan niệm những người cổ xưa như không may mắn và
không văn minh khi chúng ta so sánh với lối sống của chúng ta hiện
đại. Nhưng trong xã hội hiện đại, tại sao lại có cả triệu triệu vấn
đề? Hầu hết tất cả những vấn đề này đúng ra do chính chúng ta tạo
nên. Vì lẽ những vấn đề do chính chúng ta tạo nên, chúng ta không có
an lạc, không ngủ được, không ăn ngon và gặp những khó khăn chế ngự
đời sống của chúng ta giữa những sự xáo trộn toàn bé tại khắp nơi.
Ðó là bản chất của xã hội hiện đại, nhưng ở thời cổ xưa con người có
một cuộc sống thanh bình. Họ có thì giờ nghỉ ngơi và đủ thì giờ để
ăn uống. Không có thi đua.
Có thể lý luận đơn giản
mà nói rằng người cổ xưa có hạnh phúc trong khi chúng ta thì không
hạnh phúc. Nhưng cái điểm chúng ta đang làm là cái văn minh hiện đại
không cần thiết mà phức tạp tạo những vấn đề không cần thiết phải có
chút nào cả nếu chúng ta chỉ học hỏi làm giảm thiểu những ham muốn
của chúng ta và sống như tổ tiên của chúng ta với ít như cầu căn bản
mà thôi. Những vĩ nhân như (Thánh) Gandhi và Albert Schweitzer đã
chứng minh cả đến trong thời hiện đại, người hạnh phúc nhất là những
người ít như cầu nhất. Theo Ðức Phật của cải nhiều nhất của một
người là mãn nguyện. Mặc dù người cổ xưa phải đi ra ngoài săn thú để
có thực phẩm, người đó rất mãn nguyện và thoả mãn với lối sống của
mình theo như tư tưởng cổ xưa. Ngày nay chúng ta xây những tòa nhà
cao lớn để sống tiện nghi nhưng không có an ninh. Bao nhiêu cổng sắt
và cửa tại các tòa nhà này để bảo đảm an ninh với hệ thống điện tử
báo động? Tại sao chúng ta phải cần có những máy móc thêm như vậy?
Ðó có phải là phát triển văn minh hiện đại không? Những người sống
trong những nhà cao kỳ đó triền miên sợ hãi vì không có an ninh.
Trong quá khứ, dù dưới gốc cây hay trong hang đá hay bất cứ chỗ nào
người ta vẫn ngủ an lành không sợ hãi và lo lắng. Chắc chắn họ cũng
có các khó khăn chứ - tất cả đời sống của con người đều có khó khăn
nhưng con người hiện đại đã làm tăng và phức tạp thêm những khó khăn
ấy gấp lên cả ngàn lần, tất cả đều không cần thiết và chính do mình
tự tạo. |
|
THE BUDDHA PREACHED
ACCORDING TO HIS OWN EXPERIENCE
The Buddha introduced a
righteous way of life for us to follow after having himself
experienced the weaknesses and strengths of human mentality. During
the early part of his life as a young man he experienced worldly
pleasures just like any other human being. He was a prince, a
husband, a father and the son of the ruler of a kingdom. He had a
beautiful wife and a loving son. He loved them but he had more
compassion towards suffering humanity. His kindness was not limited
only to his family but extended to every living being. He had the
courage to free himself from his emotional attachment towards them
in order to discover the solution for human suffering. He had to
renounce the worldly life to gain enlightenment. After gaining his
supreme wisdom he returned home and revealed to all what he had
realised. He told them that if they too would like to share this
belief, liberation or salvation, he would teach them the method. He
also advised people not to believe what he preached just because he
was a great men. He further said that, simply by worshipping and
praying to him one would not gain salvation. |
ÐỨC PHẬT THUYẾT GIẢNG
THEO KINH NGHIỆM CỦA CHÍNH NGÀI
Ðức Phật trình bày con
đường chính đáng của đời sống cho chúng ta theo sau khi Ðức Phật đã
tự thực chúng những điểm yếu, điểm mạnh về tinh thần của con người.
Trong đời sống, lúc thiếu thời là một thanh niên trẻ Ngài chứng
nghiệm niềm vui trần tục giống như mọi người. Ngài là một hoàng tử,
một người chồng, một người cha và là con của vị trị vì vương quốc.
Ngài có một người vợ đẹp và một con ngoan. Ngài thương vợ con nhưng
Ngài nhiều lòng từ bi hơn với cái khổ đau của nhân loại. Lòng hảo
tâm của Ngài không chỉ hạn hẹp trong gia đình nhưng trải rộng đến cả
mỗi chúng sanh. Ngài đủ can đảm thoát khỏi luyến ái cảm xúc với gia
đình để khám phá giải pháp về cái khổ đau của con người. Ngài đã từ
bỏ cuộc sống trần tục và đạt được giác ngộ. Sau khi đạt được trí tuệ
tối thượng, Ngài trở về nhà và bày tỏ cho mọi người biết cái gì Ngài
đã thực hiện được. Ngài nói cho mọi người biết nếu họ muốn chia sẻ
niềm tin tưởng, giải thoát và cứu rỗi ấy, Ngài sẽ dạy cho các phương
pháp. Ngài cũng khuyên mọi người không nên tin tưởng vào những gì
Ngài thuyết giảng chỉ vì Ngài là một vĩ nhân. Ngài nói xa hơn nữa,
những người chỉ đơn giản lễ bái và cầu nguyện Ngài không thôi, không
thể đạt được sự cứu rỗi. |
|
HOW TO FOLLOW THE
BUDDHA
The Buddha advised
mankind to follow his teachings and to practise diligently what he
preached in order to gain salvation. In fact, we cannot call
ourselves followers of the Buddha if we merely follow him blindly by
just regarding him as a powerful master. What the Buddha expected of
us is to live in accordance with the Dharma. Only then can we truly
say to all that we do follow the Buddha. The Buddha one said: 'There
may be many disciples who stay with me, following me by holding my
hand or clinging to my robes thereby thinking that they are close to
me. On the other hand there may be some other disciples who are far
away from me and who have not even seen me, but if their minds are
pure, even though they are staying far away, they are indeed very
close to me. Those who stay with me but exist only with polluted
minds, are in fact not at all close to me'. This was the Buddha's
attitude.
There was a monk who
always admired the serenity of the Buddha. One day the Buddha asked
the monk what he was looking at. The monk replied that it gave him
immense happiness whenever he admired the complexion and the
features of the Buddha. Then the Buddha asked: 'What do you hope to
gain by watching this dirty physical body? The Buddha is not in the
physical body. Only one who understands the Dharma taught by me see
the Buddha. The Buddha can be only seen through the Dharma!'. Many
people sit before a Buddha image and pray to it, thinking that the
Buddha somehow 'lives' in the statue. But the Buddha images that you
normally see are merely the outward artistic expression of great
qualities of a holy man. Man being intensely religious, made a
tangible symbol to worship to express the devotion to his great
Master. This gave rise to the development of Art which brought forth
the concept of the Buddha and his teaching of the Cosmic Law from
the realm of abstraction to gave it material form resulting in the
contemplative Buddha image. By looking at such a Buddha image we
could only imagine that the Buddha himself might have looked like
this.
The Buddha personifies
Wisdom, Perfection, Sacredness, Compassion and Serenity. The Buddha
image is primarily a symbol, something that fills a place with
serenity just as the presence of a holy person spiritually illumines
a house. There is no doubt that the serene appearance of the Buddha
image calms our mind. But the Buddha that you 'see' through
knowledge of the Dharma is in fact the real Vision of the Buddha.
When you think of how he preached and what he preaches, how he
breathed tolerance, dignity, gentleness, compassion of kindness
towards every living being; and also think of the nature of his
enlightenment or supreme wisdom, only then, can you see the Buddha
as an embodiment of all such great virtues and wisdom. So without
knowledge and practice of the Dharma you cannot really 'see' the
Buddha. |
LÀM SAO THEO ÐỨC
PHẬT?
Ðức Phật khuyên nhân
loại theo giáo lý của Ngài và thực hành cần mẫn những gì Ngài thuyết
giảng để đạt được cứu rỗi. Trên thực tế, chúng ta không thể tự gọi
chúng ta là những đệ tử của Ðức Phật nếu chúng ta theo Ngài mù
quáng, xem Ngài như một giáo chủ quyền uy. Cái mà Ðức Phật mong muốn
nơi chúng ta là sống đúng với Pháp. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể
nói với mọi người là ta theo Ðức Phật. Ðức Phật có lần nói: "Có thể
có nhiều đệ tử ở với ta, theo ta, nắm tay ta, níu áo ta nghĩ rằng
làm như thế là gần gủi ta. Mặt khác có thể có nhiều đệ tử khác rất
xa ta và chưa bao giờ thấy ta, nhưng tâm trí thanh tịnh, dù ở xa ta
nhưng những người này vẫn gần ta. Những người gần ta nhưng đầu óc ô
nhiễm, thực ra chẳng gần ta chút nào cả". Trên đây là thái độ của
Ðức Phật.
Có một thầy tu lúc nào
cũng chiêm ngưỡng vẻ thanh thoát của Ðức Phật. Một hôm, Ðức Phật hỏi
vị thầy tu này là thầy nhìn cái gì vậy. Vị thầy tu trả lời là thầy
cảm thấy hạnh phúc bao la mỗi khi ngắm làn da và những nét đẹp của
Ðức Phật. Ðức Phật liền hỏi: "Thầy hy vọng đạt được gì khi ngắm
nghía cái xác thân vật chất bẩn thỉu này? Ðức Phật không phải là một
xác thân vật chất. Ai hiểu được Pháp của ta nhìn thấy Ðức Phật. Chỉ
có thể nhìn thấy Ðức Phật qua Pháp". Nhiều người ngồi trước hình ảnh
của Ðức Phật và cầu nguyện, nghĩ rằng dù sao Ðức Phật cũng "sống"
trong bức tượng. Nhưng hình ảnh mà các bạn thường nhìn thấy chỉ là ý
nghĩa mỹ thuật bề ngoài các đức tính vĩ đại của một bậc thánh. Con
người rất sùng đạo, làm một biểu tượng hữu hình để tôn sùng bày tỏ
lòng ngưỡng mộ với vị Giáo Chủ vĩ đại. Việc này đưa đến phát triển
Mỹ Thuật đem quan niệm và giáo lý của Ðức Phật về Ðịnh Luật Vũ Trụ
từ lãnh vực trừu tượng sang hình thể vật chất kết quả trong khi
chiêm ngưỡng hình ảnh Ngài. Nhìn hình ảnh Ðức Phật chúng ta chỉ có
thể tưởng tượng Chính Ðức Phật giống như vậy.
Ðức Phật tượng trưng
cho Trí Tuệ, Tuyệt Hảo, Thánh Tính, Từ Bi và Thanh Thoát. Hình ảnh
của Ðức Phật đầu tiên chỉ là một biểu tượng, một vật gì thế vào chỗ
với thanh thoát giống như sự có mặt của một bậc thánh với tinh thần
làm chói sáng căn nhà. Chắc chắn sự có mặt hình ảnh thanh thoát của
Ðức Phật làm tâm trí chúng ta bình thản. Nhưng Ðức Phật mà bạn
"nhìn" thấy qua kiến thức của Pháp mới thật đúng là Hình Bóng thực
sự của Ðức Phật. Khi bạn nghĩ đến Ngài thuyết giảng như thế nào,
Ngài thuyết giảng cái gì, Ngài biểu lộ khoan dung, phẩm giá, lịch
sự, từ bi và hảo tâm như thế nào đối với mọi chúng sanh; và bạn cũng
nghĩ đến bản chất sự giác ngộ của Ngài hay trí tuệ tối thượng của
Ngài, rồi bạn mới có thể nhìn thấy Ðức Phật là một hiện thân của
những đức hạnh và trị tuệ vĩ đại như thế. Cho nên không có kiến thức
và thực hành Phật Pháp, bạn không thể thực sự "nhìn" thấy Ðức Phật. |
|
GRADUAL DEVELOPMENT
OF THE BUDDHIST WAY OF LIFE
(Traditional, cultural, devotional, intellectual, and spiritual)
There are five methods
in the practice of Buddhism. These methods have been introduced and
practised by people in different parts of the world, according to
their own way of life, needs and education. They can be categorised
into the above mentioned five groups. |
MỞ
MANG TỪNG BƯỚC LỐI SỐNG CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ
(Truyền thống, văn hóa, thành tâm, trí thức và tinh thần mộ đạo )
Có năm phương pháp để
thực hành Phật Pháp. Những phương pháp đã được giới thiệu và thực
hành bởi dân chúng trên nhiều phần đất khác nhau trên thế giới theo
đường lối sống, như cầu và giáo dục của riêng họ. Dân chúng này có
thể sắp xếp thành năm nhóm nói trên. |
|
1. TRADITIONS
The traditional aspect
of religion was introduced by our ancestors according to their
beliefs. Because of ignorance many of their beliefs were based on
fear, imagination and suspicion; and verily, had been practised for
their own protection and physical well being. However, we should not
dismiss all traditions and customs as simply based on superstitious
beliefs. Some traditions and customs are indeed meaningful. they
have developed to help members of the community to dispel fear and
insecurity, at the same time, to perform activities in an organised
manner to maintain humanism. From time immemorial some of these
practices have become incorporated with religious practices. Those
who are not familiar with the real teachings of the Buddha might get
the wrong impression that the traditional practices are in fact the
real Buddhist way of life. Traditions and customs differ from
country to country and from time to time among different ethnic
groups. Therefore we should not think that our own traditions are
far superior to those of others. We must understand that Buddhism is
not a static or ready made religious concept with dogma handed down
by religious authorities. It is a way of life which had evolved
according to prevailing times and circumstances. But the absolute
Dharma or truth as taught by the Buddha can never change. We must
also learn to differentiate between the Absolute Truth as taught by
the Buddha and the Relative Truth which is changeable according to
circumstances.
The Buddha's attitude
towards traditions and customs is such that one should neither
accept or reject them offhand without first having given them due
thought and consideration. His advice is not to follow them if they
are found to be useless and harmful to any being even though they
might be ancient. On the hand if they are indeed significant and
beneficial to all, then by all means follow them. Some of those
traditions are important to generate inspiration and devotion to
those performing religious ceremonies especially in a community.
Without certain traditional practices, religious itself will be in
isolation and personal devotion will weaken. Some people even uphold
traditional religious practices and preserve them as their
'heritage' for inspiration to rally round their religion. |
1. TRUYỀN THỐNG
Khía cạnh truyền thống
trong tôn giáo được dẫn nhập bởi tổ tiên của chúng ta theo niềm tin.
Vì ngu si, những niềm tin này căn cứ trên sợ hãi, ảo tưởng và nghi
ngờ; và quả thực, được thi hành để tự bảo vệ và hạnh phúc vật chất.
Tuy nhiên, chúng ta không nên chối bỏ tất cả những phong tục và tập
quán chỉ đơn thuần căn cứ trên những niềm tin dị đoan. Nhiều phong
tục và tập quán vẫn có ý nghĩa. Những tập tục này giúp những thành
viên trong cộng đồng xua đuổi sợ hãi và bất an, đồng thời thi triển
các hoạt động trong đường lối có tổ chức để duy trì nhân loại. Từ
thời xa xưa một vài thực hành đã hội nhập với việc thực hành đạo lý.
Những ai không quen thuộc với giáo lý chính xác của Ðức Phật, có thể
có một ý niệm nhầm lẫn là những thực hành truyền thống đúng là đường
lối sống của người Phật Tử. Truyền thống và tập quán khác nhau từ xứ
này đến xứ khác và từ thời điểm này đến thời điểm khác giữa những
nhóm thiểu số khác nhau. Cho nên chúng ta không nên nghĩ rằng truyền
thống riêng của chúng ta cao nhiều hơn của người khác. Chúng ta phải
hiểu là Phật Giáo không phải là một phép tính hay một quan niệm tôn
giáo được làm sẵn với các giáo điều truyền xuống của các giới chức
tôn giáo. Ðường lối sống tiến hóa theo thời điểm và hoàn cảnh thịnh
hành. Nhưng Chánh Pháp hay chân lý dạy bởi Ðức Phật chẳng bao giờ
thay đổi. Chúng ta cũng phải học hỏi để phân biệt giữa Chân Lý Tuyệt
đối dạy bởi Ðức Phật và Chân Lý Tương Ðối thay đổi theo hoàn cảnh.
Thái độ của Ðức Phật
với truyền thống và tập quán là ta không bao giờ chấp nhận hay loại
bỏ ngay mà không suy gẫm và nghiên cứu các điều đó. Lời | |