Kinh
lời vàng
Tác giả: Dương tú Hạc
Dịch giả: HT Thích Trí Nghiêm
---o0o---
Chương IV
TAM BẢO
A. PHẬT BẢO
Ơn Tam Bảo là lợi lạc cho chúng sanh không thể nghĩ bàn, và
không khi nào ngừng nghỉ vậy. Thân các đức Phật là chơn thiện
vô lậu, vì trong thời gian vô số đại kiếp đã tu nhơn chứng quả.
Những nghiệp quả trong ba cõi, đã dứt hẳn không còn. Công đức
đồ sộ như quả núi vàng, tất cả chúng hữu tình làm sao biết
được. Phước đức thẩm sâu như biển cả, trí huệ thông suốt như
hư không; ánh sáng chiếu khắp mười phương ba đời. Tất cả chúng
sanh vì phiền não nghiệp chướng ngăn che, nên không hay biết, nên
chìm đắm biển khổ, sống chết không cùng. Ngôi Tam Bảo ra đời là
vị Đại Thuyền Sư, năng vượt qua dòng ái, thẳng lên bờ bên kia.
Những kẻ có trí thảy đều mến mộ vậy.
Kinh Tiểu Địa Quán
Hởi Thiện nam tử, Thiện nữ nhơn! Sau khi Ta vào Niết Bàn, có
nhiều chúng sanh mặc áo pháp phục, tham lam lợi dưỡng, giả phát
đạo tâm, làm tổn hại chánh pháp, không có tâm thanh tịnh. Những
kẻ như vậy, tuy ở trong chúng hội của Ta, mà cách Ta rất xa.
Nếu có trai lành gái thiện tu hạnh vô trước, tuy chưa lên địa
vị Bồ tát, nhưng lòng đã vững vàng, chẳng bỏ đạo tâm, tuy xa Ta
trăm ngàn vạn do tuần, mà rất gần nơi Ta vậy.
Kinh Bồ Tát Anh Lạc
Nầy Thiện nam tử! Trong ngôi Phật bảo có đầy đủ 6 món công
đức mầu nhiệm:
-
Có ruộng vô thượng đại công đức
-
Có ruộng vô thượng đại ân đức
-
Đối với trong các loại không có chân, hai chân, nhiều chân rất
là tôn quý
-
Rất nỗi khó gặp, như đóa hoa Ưu đàm
-
Độc nhứt xuất hiện ra giữa ngàn triệu cõi thế giới
-
Viên mãn công đức thế gian và xuất thế gian
Vì đủ 6 công đức nhiệm mầu như vậy, nên thường hay làm lợi
ích cho tất cả chúng sanh. Vì lợi ích tất cả chúng sanh, cho nên
ngôi Phật bảo có nghĩa là bất khả tư nghì.
Một hôm, có 500 ông Trưởng Giả hỏi đức Phật rằng: "Ngôi
Phật bảo thường lợi ích cho chúng sanh, cớ sao chúng sanh trong thế
gian phần nhiều chẳng thấy Phật, mà vẫn bị các khổ não."
Phật đáp: "Ví như mặt trời, tuy soi khắp thế giới mà những
kẻ mù nào có thấy ánh sáng. Cũng thế, còn nhiều chúng sanh
thường gây ác nghiệp mà chẳng tự giác, không biết hổ trẽn,
chẳng gần gũi Phật Pháp Tăng. Nếu có chúng sanh, biết tôn trọng
Tam bảo, người ấy nghiệp chướng tiêu trừ, phước huệ thêm
lớn, căn lành trọn nên, hẳn lìa sanh tử, thời được chứng quả
Bồ đề."
Kinh Tâm Địa Quán
Đệ nhất Bồ tát nói: "Phật là vô thượng pháp vương, Bồ
tát là tôi của Pháp bảo; duy đức Phật Thế Tôn là đấng sở
tôn sở trọng vậy. Cho nên thường phải nhớ Phật."
Đệ nhị có các Bồ tát tự nói: "Đức Thế Tôn! Chúng tôi,
từ nhiều kiếp đến nay, được nhờ nuôi lớn pháp thân, trí
thân, đại từ bi thân và thiền định, trí huệ, vô lượng hạnh
nguyện đều nhờ đức Phật tác thành. Vì muốn trả ơn, thường
nguyện gần Phật; cũng như bề tôi đại thần, nhờ ơn sủng nhà vua,
nên thường nhớ đến vua."
Đệ tam có các Bồ tát lại nói thế này: "Lúc ta tu nhơn gặp
ác tri thức bài báng Bát Nhã, bị đọa ác đạo, trải qua nhiều
kiếp, có tu các hạnh, nhưng chưa được ra khỏi; về sau một thuở
nhờ nương gần bên thiện tri thức dạy ta tu niệm Phật tam muội. Bấy
giờ mới được tiêu các nghiệp chướng liền được giải thoát.
Vì có được lợi ích lớn lao như thế, nên nguyện chẳng xa lìa
đức Phật."
Luận Trí Độ
Như Lai vô số kiếp, cần khổ vì chúng sanh; tại sao các thế gian,
chẳng trả ơn Đại sư.
Kinh Hoa Nghiêm
Tu đầy đủ 10 pháp, mới thật cúng dường Như Lai:
-
Lấy pháp cúng dường
-
Lấy các hạnh cúng dường
-
Lợi ích bình đẳng tất cả chúng sanh
-
Lấy lòng từ bi tùy thuận
-
Lấy Như Lai lực
-
Tất cả pháp lành siêng tu chẳng bỏ
-
Tất cả sự nghiệp của Bồ tát chẳng bỏ
-
Như nói mà tu, như tu mà nói
-
Tu thời gian lâu, tâm chẳng mỏi chán
-
Tâm đại bồ đề thường tu chẳng bỏ
Nếu tu đủ mười pháp trên đây mới gọi là cúng dường đức
Như Lai. Chớ như của báu, uống ăn, áo mặc ấy đều là chẳng phải
chơn cúng dường vậy.
Kinh Hoa Nghiêm
Hành giả an trụ 10 pháp thời các đức Phật vui mừng:
-
An trụ bất phóng dật
-
An trụ vô sanh nhẫn
-
An trụ đại từ
-
An trụ đại bi
-
An trụ các pháp rốt ráo
-
An trụ các hạnh
-
An trụ đại nguyện
-
An trụ phương tiện khéo léo
-
An trụ sức mạnh mẽ
-
An trụ trí huệ
Tại sao? Đức Như Lai tôn trọng Pháp như con thảo tôn trọng cha
mẹ, kính thuận dung nhan, tâm chẳng chút nới. Đức Như Lai tự tu
hành mà được thành Đạo; cho nên ai tu hành là cúng dường vậy.
Như Lai ra đời, vì lợi ích chúng sanh; kẻ nào không lòng từ bi,
chẳng được lợi ích; kẻ chẳng tùy thuận tất cả, chẳng đặng
lợi ích; kẻ chẳng tu pháp lành chẳng đặng lợi ích; kẻ chẳng như
nói mà tu, chẳng đặng lợi ích; kẻ sanh tâm mỏi chán, chẳng đặng
lợi ích; và kẻ nào bỏ tâm đại bồ đề, thời chẳng đặng lợi
ích.
Kinh Hoa Nghiêm
B. PHÁP BẢO
Này Thiện nam tử! Như trong tất cả Phật Bảo, có vô lượng
Đức Phật, Như Lai nói Pháp Bảo cũng vậy; trong tất cả Pháp Bảo
có vô lượng nghĩa.
Thiện nam tử! Pháp Bảo có 4 thứ: Giáo pháp, Lý pháp, Hành
pháp và Quả pháp. Pháp Bảo năng phá tất cả lao ngục sanh tử,
giống như kim cang năng phá muôn vật. Pháp Bảo năng soi chúng sanh
tối tăm, giống như ánh sáng mặt trời soi thế giới. Pháp Bảo
năng cho chúng sanh vui mừng, giống như nhạc trời làm vui các người
trời. Pháp Bảo năng khiến chúng sanh qua bờ bên kia, giống như con
thuyền to bền chắc. Pháp Bảo năng phá bốn món ma chướng được
Đạo Vô thượng Bồ đề, giống như mũ, áo giáp kim cang. Pháp Bảo
năng khiến cắt đứt giây sanh tử thoát khỏi ràng buộc, giống như
gươm bén trí huệ. Pháp Bảo năng vận tải chúng sanh ra khỏi nhà
lửa, giống như chiếc xe báu. Pháp Bảo năng soi phá tối tăm trong ba
đường, giống như đèn sáng. Pháp Bảo khẻo dẫn dụ chúng sanh đến
chỗ báu, giống như vị Đạo sư dẫn đường hiểm.
Gọi là ơn Pháp Bảo chẳng khá nghĩ bàn.
Kinh Tâm Địa Quán
Ta khi mới thành đạo, quan sát gì là đáng kính đáng khen, không
gì hơn bằng Pháp bảo, vì Pháp bảo năng thành lập tất cả phàm,
Thánh vậy.
Kinh Bàt Nhã
Các ngươi chính thân chính ý tréo chân mà ngồi, chuyên nghĩ Pháp
Bảo đừng tưởng gì khác. Vì Chánh pháp diệt trừ được các
dục ái và trần lao, tâm khát ái hẳn chẳng sanh khởi khiến dục
tâm không còn tham dục nữa, và xa lìa các trói buộc phiền não và
tật bệnh vậy. Tự mình niệm nhớ Chánh pháp và khiến người niệm
nhớ.
Kinh Tăng Nhứt A Hàm
Ta từ cây thọ vương đứng dậy đi đến vườn Lộc Giả trong
thành Ba La Nại, vì các ông A Nhã, Câu Lân năm người tất cả, khi
chuyển bánh xe Tứ đế cũng nói các pháp xưa nay vắng lặng, thay
đổi chẳng dừng sanh diệt từng mỗi niệm. Trong thời gian ở đây
và các nơi khác, vì các Tỳ kheo và các chúng Bồ tát biện bạch
diễn nói pháp mười hai nhân duyên và sáu món Ba la mật, cũng nói
các pháp xưa nay vắng lặng, thay đổi chẳng dừng, sanh diệt từng
mỗi niệm. Nay cũng trở lại nơi đây diễn nói kinh Đại thừa Vô
lượng nghĩa; cũng nói các pháp xưa nay vắng lặng, thay đổi chẳng
dừng, sanh diệt từng mỗi niệm.
Nầy Thiện nam tử! Vậy nên trước nói, giữa nói, nay nói văn
từ là một mà nghĩa có sai khác; vì nghĩa sai khác, nên chúng sanh
hiểu cũng khác; vì hiểu khác, nên đắc pháp, đắc quả và đắc
đạo cũng khác.
Kinh Vô Lượng Nghĩa
Nước, nước nào cũng đều rửa được; mà nước giếng chẳng
phải nước ao, nước ao chẳng phải nước sông, nước khe rãnh
chẳng phải nước biển. Như vậy đức Thế Hùng đồi với pháp tự
tại ra các pháp cũng như vậy. Nói trước, giữa, sau đều năng
rửa trừ phiền não cho chúng sanh. Mà trước chẳng phải giữa,
giữa chẳng phải sau; nói trước, giữa, sau văn từ tuy một mà
nghĩa có sai khác.
Kinh Vo Lượng Nghĩa
Chúng sanh mà điên cuồng mờ ám bởi ba món khát ái che khuất
chìm trong biển khổ; bị bốn món trái ngược nó làm cho điên đảo;
với trong pháp hữu lậu vọng tưởng thấy biết; không ta thấy có
ta, vô thường thấy thường, không vui thấy vui, chẳng sạch thấy
sạch, bị sanh, lão, bệnh, tử đổi dời, vo thường trong mỗi niệm.
Bị năm món che mười món trói che khuất luân hồi trong ba cõi chịu
đủ thứ sanh tử không có đầu đuôi giống như sợi giây xích.
Vậy nên giáo pháp đức Như Lai tùy theo cơ nghi có ba tạng chín bộ
cho đến 12 bộ kinh, chia giòng giáo hóa tùy lòng tin sâu cạn nên
nói các kinh điển.
Kinh Phật Thuyết Đại Phương Tiện Báo Ân
C. TĂNG BẢO
Người nào trọn nên các nghiệp lành, chất trực mà thuận nghĩa,
không có tà nghiệp; trọn nên giới pháp, trọn nên chánh định,
trọn nên trí huệ, trọn nên giải thoát và trọn nên tri kiến, tức
là ngôi Tăng Bảo vậy. Tăng là ruộng phước của đời, cho nên
tự mình chuyên lo cung kính lễ thuận v.v...
Kinh Tăng Nhất A Hàm
Kẻ tại gia, thấy vị Sa môn, liền mở cửa đợi sẵn, nghinh rước
và hỏi han, bày ghế, chiếu, tiếp hộ Kinh tạng và cúng vật thanh
khiết. Ấy là 5 việc của người tại gia vậy.
Dạy dỗ tác thành lòng tin, tác thành giới hạnh, tác thành đa
văn, tác thành bố thí, và tác thành cho họ trí huệ nữa, ấy là
năm việc của Sa môn vậy.
Tại gia và xuất gia đều làm trọn mấy điều trên đây, thời
thiện pháp chẳng đến nỗi suy đồi vậy.
Kinh Thiện Sanh Tử
Phải dùng 5 việc phụng sự Sa Môn Đạo sĩ:
-
Đem thiện tâm mà xu hướng
-
Lựa lời đẹp cùng hầu chuyện
-
Đem thân nghiệp cung kính
-
Thường phải mến mộ
-
Thường phải cung kính thừa sự và hỏi thăm việc độ thế của
các Ngài
Sa Môn Đạo sĩ cũng phải lấy 6 điều chú ý đối lại nhơn dân:
-
Dạy họ bố thí chẳng đặng xan tham
-
Dạy họ trì giới chẳng đặng hủy phạm
-
Dạy họ nhẫn nhục chẳng đặng giận dữ
-
Dạy họ siêng năng chẳng đặng lười biếng
-
Dạy họ nhứt tâm chẳng đặng buông ý
-
Dạy họ trí huệ chẳng đặng ngu si
Sa Môn Đạo sĩ dạy người bỏ ác làm lành, khai mở chỉ vẽ
chánh đạo, ơn ấy lớn hơn ơn cha mẹ.
Kinh Lục Phương Lễ
Bồ tát có thể khiến hột giống Tam Bảo chẳng dứt mất. Tại sao?
Vì giáo hóa chúng sanh khiến phát tâm Bồ Đề, là khiến nối luôn
giống Phật Bảo; vì chúng sanh mở rộng pháp tạng, là khiến nối
luôn giống Pháp bảo; vì hộ trì giáo pháp mà chẳng trái lỗi, và
khiến cho nối luôn hột giống Tăng bảo vậy.
Lại nữa: ngợi khen đại nguyện, là nối luôn giống Phật bảo;
phân biệt diễn nói pháp nhơn duyên là nối luôn giống Pháp bảo:
siêng tu sáu pháp hòa kính là nối luôn hột giống Tăng bảo.
Lại nữa: gieo trong đám ruộng chúng sanh hột giống Phật, là nối
luôn giống Phật; chẳng tiếc thân mạng để hộ trì Chánh pháp là
nối luôn giống Pháp; quản lý đại chúng không biết mỏi mệt là
nối luôn hột giống Tăng Bảo vậy.
Kinh Hoa Nghiêm
Nếu người nào một lòng thành khẩn quy y Phật Đà, người ấy
chắc đặng vui sướng to, vì Phật tâm không ngày cũng không đêm
thường nhớ nghĩ chúng sanh vậy. Nếu người nào một lòng thành
khẩn quy y Pháp bảo, người ấy chắc đặng vui sướng lớn, vì sức
Pháp Bảo không ngày cũng không đêm thường gia trì chúng sanh vậy.
Nếu người nào một lòng thành khẩn quy y Tăng Bảo người ấy
được yên ổn lớn, vì oai đức Tăng già không ngày cũng không
đêm thường bảo hộ chúng sanh vậy.
Kinh Đế Thích Sở Vấn
Bấy giờ trong hội có một vị đồng tử mới bảy tuổi tên Tuyển
Trạch, từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay bạch Phật rằng: "Thưa
Đức Thế Tôn! Tôi đã phát tâm Bồ Tát nguyện thành ngôi Pháp
vương. Thưa Thế Tôn! Nhưng nay tôi lại muốn làm thân Tỳ kheo tu hành
chánh đạo; vì Tỳ kheo tinh tiến tu thiền định và trí huệ, nên mau
được chánh giác. Tôi từ nay tinh tiến cầu xin mau cho tôi làm Tỳ
kheo tu Đạo an lạc, đến Niết Bàn trừ các mê ám, đem ánh sáng
Chánh pháp soi khắp thế gian."
Đức Phật liền cho ngay đồng tử được làm Tỳ kheo và ngài
nói pháp: "Tuyển Trạch! Tuy chẳng mặc áo nhuộm, mà tâm không
đắm nhiễm là chơn thật Tỳ kheo vậy. Tuy chẳng cởi đồ sức hảo
mà hay dứt các trói buộc là chơn Tỳ kheo vậy. Tuy chẳng thọ giới
cấm, mà tâm bỏ các ác, mở cửa công đức định huệ, thật là
chơn Tỳ kheo vậy.
Tự Quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ đại đạo nối thịnh
giống Phật.
Tự Quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, sâu vào Kinh tạng trí huệ như
biển.
Tự Quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết
thảy không ngại.
Kinh Hoa Thủ
D. CỨU KHỔ
CHO VUI
Các đệ tử! Thường vui tu trì pháp thập thiện với các sanh
vật, thường sanh khởi bi tâm, cứu vớt đau khổ; thường sanh khởi
từ tâm cho điều vui sướng.
Kinh Bát Nhã
Đem của bố thí làm cho chúng sanh mến, đem pháp bố thí thường
được thế gian kính trọng. Thí của được kẻ ngu mến, thí pháp
được người trí trọng, thí của phá trừ cái nghèo cùng về của,
thí pháp phá trừ cái nghèo cùng về công đức. Hai món thí này ai
chẳng kính trọng. Cho của là cho vui hiện tại; cho pháp là cho vui Niết
Bàn tương lai. Người có lòng bi hay thương tất cả chúng sanh, mà
thương chúng sanh tức là thương mình vậy.
Luận Đại Trượng Phu
Kẻ thuyết pháp cần tu 4 hạnh:
-
Học rộng nghe nhiều, năng giữ tất cả ngôn từ chương cú
-
Quyết định khéo biết hành tướng sanh diệt của các pháp thế gian
và xuất thế gian
-
Phải được thiền định và trí huệ, tùy thuận các kinh pháp mà
không tranh luận
-
Chẳng thêm chẳng bớt, cứ đúng như Pháp mà nói
Luận Thập Trụ Tỳ Bà Ta
Thân tâm mình đã được giáo huấn rồi, lại đem dạy người,
thời chẳng khó; nếu muốn dạy người trước phải dạy mình đã.
Kinh Phật Trị Thân
Trước trừ ác mình, sau dạy người trừ; nếu mình chẳng trừ,
mà dạy người trừ, đâu có lý vậy. Vậy nên Bồ Tát trước
phải tự bố thí, trì giới, tri túc, cần hành, tinh tấn, nhiên hậu
mới giáo hóa người.
Kinh Ưu Bà Tắc Giới
Như vị Đại Thuyền Sư thường đem con thuyền vĩ đại, hạ giữa
dòng chảy, chẳng đụng bên này, chẳng chạm bên kia, chẳng trụ
giữa dòng, cứ thẳng tiến tới, không chút ngừng nghỉ.
Cũng thế, Bồ Tát lấy thuyền Ba la mật, ở trong dòng sanh tử, mà
chẳng chán sanh tử, chẳng thủ Niết Bàn, mà cũng chẳng ở giữa
dòng, là vì muốn khiến chúng sanh đạt đến bờ bên kia, nên không
ngừng tay. Trong khoảng vô lượng kiếp, thường tu tinh tiến giáo hóa
chúng sanh.
Kinh Hoa Nghiêm
Nếu có Tỳ kheo vì người thuyết pháp mà tự suy nghĩ: "Ta vì
kẻ kia thuyết pháp, khiến họ tin kính ta, sẽ cho ta rất nhiều vật
uống ăn, áo mặc, nên ta thuyết pháp", ấy là bất tịnh thuyết
pháp. Trái lại Tỳ kheo vì người thuyết pháp, mục đích muốn
người nghe chứng giải Phật Pháp, lìa các phiền não, trừ khổ
hiện tại. Và có thể khiến kẻ nghe, nghe mình thuyết pháp, như thuyết
tu hành, vì khiến người nghe lãnh hội được pháp, được nghĩa,
được lợi, và được yên vui. Thuyết pháp như thế gọi là thanh
tịnh từ bi thuyết pháp.
Kinh Trường A Hàm
Ngài Phú Lâu Na thưa Phật rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Tôi
đã được nhờ Thế Tôn giáo hóa; nay tôi muốn qua bên xứ Du Lô
Na phía tây để hóa độ người bên ấy."
Đức Phật hỏi: "Người dân xứ kia tính tình hung ác, dữ
tợn, tệ bạo mà hay mắng chửi. Nếu ngươi bị họ làm dữ và mắng
chửi, hủy nhục thì ngươi làm sao?"
Thưa: "Nếu đối trước mặt tôi mà họ tệ bạo như thế thì
tôi tự nghĩ: họ còn hiền lành và có trí khôn, tuy làm dữ như
thế mà chẳng cầm đá đánh đập."
Phật hỏi: "Họ làm thế ngươi còn nhẫn được, chớ phỏng
họ dùng đá đánh đập thì ngươi nghĩ sao?"
Thưa: "Nếu họ làm vậy tôi lại nghĩ rằng họ còn chút hiền
lành và có trí khôn, nên chẳng dùng dao gậy."
Phật hỏi: "Nếu họ dùng tới dao gậy ngươi làm cách
nào?"
Thưa: "Nếu họ làm vậy tôi tự nghĩ họ vẫn còn hiền lành
và có trí khôn, tuy là đánh chém, mà chẳng giết chết."
Phật hỏi nữa: "Phỏng như họ giết chết ngươi, bấy giờ
ngươi sẽ tính cách nào?"
Ngài Phú Lâu Na lại thưa Đức Phật rằng: "Bạch Đức Thế
Tôn! Quả thật họ giết chết tôi, tôi lại nghĩ rằng họ cũng còn
hiền lành và có trí khôn với tấm thân hủ bại này, họ làm
chút phương tiện khiến cho tôi liền được giải thoát."
Đức Phật khen ngợi: "Hay thay! Phú Lâu Na ngươi đã học
được pháp nhẫn nhục; ngươi nay đủ sức qua ở bên xứ Du Lô Na
mà giáo hóa nhơn gian. Ngươi nên đi ngay, qua bên ấy ngươi sẽ độ
những kẻ chưa được độ, an ẩn những kẻ chưa được an ẩn, và
những kẻ chưa được Niết Bàn độ cho họ được Niết Bàn."
Kinh Tạp A Hàm
Sau khi Ta nhập diệt các đệ tử phải truyền nhau mà tu hành pháp
lợi mình lợi người, thời pháp thân Như Lai thường còn chẳng
mất vậy.
Kinh Di Giáo
Kẻ nói pháp, xem căn cơ của người nghe mà nói, họ nhất tâm
nghe hiểu thấu vào trong nghĩa của lời nói, như khát được uống;
và thấy kẻ nghe pháp buồn vui hỗn độn mới nên vì nói pháp.
Luận Trí Độ
Bồ Tát biết chỗ sở tác của chúng sanh, biết nhơn duyên, biết
tâm hành, và biết ưa thích của chúng mà nói pháp. Với kẻ tham
dục nhiều, nên nói pháp bất tịnh; với kẻ giận dữ nhiều, nên
nói pháp đại từ; với kẻ ngu si nhiều, nên nói pháp siêng năng,
quan sát các pháp; với kẻ ba món độc đều nhiều, nên dạy khiến
thành tựu pháp môn trí huệ; với kẻ ưa vui sanh tử, nói pháp ba
món khổ; với kẻ đắm chấp các thứ "có" nói pháp
"không tịch"; với kẻ lười nhác, nói pháp đại tinh tấn;
với kẻ ôm lòng ngạo mạn nói pháp bình đẳng; với kẻ nhiều dua
dọc, nói pháp Bồ Tát tâm; với kẻ tâm tánh chất trực mà ưa
vắng lặng, nên rộng vì nói các pháp khiến họ thành tựu Đạo
quả.
Kinh Hoa Nghiêm
Đức Phật bảo các đệ tử rằng: Cũng như thợ vàng lấy
các thứ vàng, tùy ý muốn tạo thành các thứ trang điểm: như
chuỗi anh lạc, vòng, thoa, kiềng mão v.v...hình tướng tuy khác nhau
nhưng chẳng ngoài vàng mà có.
Đức Như Lai cũng thế, chỉ lấy một Phật Đạo tùy thuận chúng
sanh, mà phân biệt nói ra nhiều pháp. Như một thức phân biệt nói
có sáu; một sắc phân biệt nói thành sáu; vì muốn giáo hóa chúng
sanh nên phải phân biệt vậy.
Kinh Niết Bàn
Tại thành Tỳ Da Ly, có ông cư sĩ tên Duy Ma Cật. Ông giỏi biện
tài, có thần thông trí huệ đầy đủ, phương tiện thông suốt, trọn
thành đại nguyện.
Vì hiểu rõ tâm xu hướng của chúng sanh, nên có thể phân biệt
căn cơ lanh chậm. Ông vì mục đích muốn độ người nên mới dùng
phương tiện ăn ở trong thành, giàu có của cải vô lượng,
thường giúp các dân nghèo. Ông phụng trì giới cấm mà chẳng hủy
phạm; thủ chí nhẫn nhục mà chẳng giận dữ, tinh tiến mà chẳng
biếng nhác; nhứt tâm thiền định mà chẳng loạn ý; dùng quyết
định trí huệ mà nhiếp phục kẻ vô trí.
Tuy là người tại gia mà tu luật hạnh Sa Môn thanh tịnh. Đọc các
kinh sách ngoại Đạo mà lòng chánh tín chẳng sờn; học các sách
thế gian mà ưa vui Phật pháp.
Hay dạo đi bốn cửa thành để lợi ích cho chúng sanh. Vào trong
giảng đường, giảng dạy Đạo pháp; vào trong học hiệu, dạy dỗ
trẻ em; vào trong dâm xá, chỉ rõ tội lỗi dâm dục; vào trong quán
rượu, dạy dùng phải lẽ.
Khi tiếp các Trưởng giả, vì nói thắng pháp; tiếp cư sĩ khiến
dứt tham đắm; nghinh tiếp vua chúa, giáo hóa nhẫn nhục, tiếp Bà La
Môn, khiến trừ ngã mạn; tiếp quan Đại Thần giáo hóa chánh pháp;
tiếp các Vương Tử dạy điều trung hiếu; tiếp các nội quan, diễn
nói chánh pháp; tiếp xúc với thứ dân dạy nên tu phước
lực...làm lợi ích chúng sanh rất nhiều.
Bấy giờ cư sĩ mới thị hiện bằng cách dùng phương tiện đau ốm;
thế là quốc vương, đại thần, trưởng giả, cư sĩ...đều đến thăm
bệnh. Nhơn đấy cư sĩ rộng vì thuyết Đại pháp cho các kẻ kia.
Bấy giờ Đức Phật hay tin Duy Ma Cật lâm bệnh, mới đòi Xá
Lợi Phất đến bảo: "Người qua thăm bệnh cư sĩ?" Xá Lợi
Phất thưa: "Tôi không dám đi, vì có một hôm nọ, lúc tôi đang
ngồi thuyền định dưới cội đại thọ trong rừng, chợt cư sĩ đến
bên tôi thình lình bảo: "Xá Lợi Phất! Hà tất phải ngồi thiền
định nơi đây; lẽ phải ngồi thiền định cả Tam giới mà chẳng hiện
thân ý; chẳng khởi diệt tận định mà hiện các oai nghi; chẳng bỏ
Đạo pháp mà hiện sự việc phàm phu; đối với các kiến chấp
chẳng bị lay động mà tu 37 phẩm trợ Đạo; chẳng dứt phiền não mà
vào Niết Bàn. Làm được các việc như trên mới chính là ngồi
yên trên Tòa mà thiền định." Thưa Thế Tôn! Sau khi nghe Ông nói
tôi không thể đáp được một câu, cho nên nay tôi không dám qua
thăm bệnh."
Đức Phật cho đòi các Ông: Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Tu Bồ Đề,
Phú Lâu Na, Ca Chiên Diên, A Na Luật, Ưu Bà Ly, La Hầu La và A Nan là
10 vị đại đệ tử cũng đều từ thác: "bất kham" vì đều
đã bị những trường hợp tương tợ như Xá Lợi Phất.
Đức Phật lại cho mời Ngài Di Lặc đến, thì Di Lặc vẫn từ
rằng: "Tôi cũng bất kham. Vì ngày trước, lúc tôi mới nói ba
bậc bất thối chuyển thì cư sĩ Duy Ma Cật đến bảo: "Di Lặc! Tôi
vừa nghe Ngài được Đức Phật thọ ký cho sẽ làm Phật. Vậy Ngài
sẽ làm Phật vào đời nào? Quá khứ, vị lai hay hiện tại chăng?
Xét ra quá khứ qua rồi, vị lai chưa đến, mà hiện tại thì chẳng
trụ; như vậy ba đời đều tìm chẳng được. Hoặc là thọ cho vô
sanh chăng? Nhưng vô sanh là chính vị, mà đã chính vị là trung ương
thì đâu còn có thọ ký gì nữa? Hay là như tánh mà thọ ký
chăng? Lại cũng không được, vì tất cả chúng sanh đều như tánh,
cho nên khi Ngài được thọ ký thì tất cả chúng sanh cũng được
thọ ký; tại sao? Vì tất cả chúng sanh là tướng Bồ Đề vậy. Nếu
Ngài được Niết bàn, thì tất cả chúng sanh cũng được Niết bàn;
tại sao? Vì tất cả chúng sanh rốt ráo vắng lặng là tướng Niết
bàn, mà tướng ấy là bất sanh bất diệt rồi vậy." Sau khi nghe
ông thuyết một hồi, tôi cũng chẳng đối đáp gì được ráo, cho
nên tôi cũng bất kham."
Bấy giờ đức Phật cho đòi Ngài Văn Thù Sư Lợi đến và bảo
thay Ngài đi qua thăm bệnh cư sĩ. Thì cả Đại chúng đều nghĩ rằng:
Nay Văn Thù Sư Lợi cùng Duy Ma Cật gặp nhau chắc hai Đại sĩ sẽ
đàm luận Đạo pháp nhiệm mầu. Thế là cả Đại chúng tùy tòng
với Văn Thù mà vào Thành Tỳ Da Ly.
Thì cư sĩ đã biết trước ngài Văn Thù Sư Lợi thừa lệnh
đức Phật sẽ đến thăm mình, nên ông cho những người nhà và
thị giả đều lui hết; trong nhà trống trơn chẳng còn một vật gì cả,
chỉ còn một chiếc giường đủ ông nằm thôi.
Cư sĩ vừa thấy ngài Văn Thù liền nói: "Văn Thù Sư Lợi!
Là tướng chẳng đến mà đến, tướng chẳng thấy mà thấy!"
Ngài Văn Thù nói: "Cư sĩ! Đến rồi thì chẳng đến, đi rồi
lại chẳng đi." Rồi nhập đề: "Cư sĩ! Bị bệnh chi, có dễ
chịu không? Đã có thuốc chi hay để trị không? Bệnh tăng hay giảm?
Đó là lời ân cần của đức Thế Tôn gởi thăm Cư sĩ." Và
hỏi tiếp: "vậy chớ bệnh của Cư sĩ do đâu mà sanh?"
Đáp: "Bệnh tôi do ái mà sanh, vì tất cả chúng sanh bệnh nên
tôi mới bệnh; nếu tất cả chúng sanh không bệnh thì bệnh tôi cũng
lành. Xin mời Ngài xem: Bồ tát đâu chẳng phải vì chúng sanh mà
vào sanh tử? Mà hễ ai vào sanh tử là phải bị tật bệnh. Nhưng,
nếu chúng sanh không bệnh, Bồ tát cũng không tật bệnh gì. Ví như
trưởng giả có một chút con trai, mà cậu con bị bệnh, thời ông bà
trưởng giả kia cũng bệnh theo. Bệnh của Bồ tát là bởi lòng từ
bi mà sanh.
Kinh Duy Ma Cật
Bồ Tát thường hay tu phương tiện thắng trí mà biết được tâm
của chúng sanh ưa muốn những gì, rồi tùy theo bệnh mà cho thuốc
diệt trừ hết các bệnh, nghĩa là khiến chúng sanh thông suốt Phật
pháp, gọi là Phương tiện ba la mật. Vì muốn khiến chúng sanh được
lợi ích nên chẳng tiếc thân mạng, gọi là Thân cận ba la mật. Vì
các chúng sanh nên đối với kẻ oan người thân bình đẳng nói
pháp mầu nhiệm, khiến vào Phật trí, gọi là Chơn thật ba la mật ai
trọn nên ba món sau đây, thì mới gọi là thành tựu Thiện xảo ba
la mật (ba la mật là nghĩa: rốt ráo).
Dùng sức chánh trí có thể hiểu rõ tâm hành thiện, ác của
chúng sanh mà vì nói pháp tương ưng khiến vào nghĩa sâu xa mầu
nhiệm. An trụ Niết bàn rốt ráo, gọi là lực Ba la mật. Dầu hy sinh
thân sống vì mục đích lợi lạc chúng sanh, gọi là thân cận Ba la
mật. Đem sức Diệu trí mà giáo hóa chúng sanh tà kiến, khiến dứt
ác nghiệp, chứng quả Niết bàn "thường, lạc", gọi là chơn
thiệt Ba la mật. Thành tựu 3 món này, mới là thành tựu trí lực
Ba la mật.
Kinh Bát Nhã
Bồ tát, hoặc khi làm vị Đế vương, lâm ngự đại quốc, oai đức
trùm khắp, danh lừng cả thiên hạ, những kẻ oán địch thảy qui
thuận. Mỗi khi ra mệnh lệnh, căn cứ nơi chánh pháp. Lấy một chiếc
lọng che khắp muôn phương, ai thấy chẳng phục; chẳng dùng hình phạt,
lấy đức cảm hóa. Nhà vua, hoặc vì cầu chánh pháp mà thuở nay
chưa từng có, nên phải gieo mình dưới hầm lửa dữ; hoặc vì muốn
hộ trì Như lai chánh pháp, nên đem thân chịu khổ sở mà vẫn đành
lòng. Hoặc lắm khi vì cầu pháp cho đến một chữ một câu mà đã
hay xả thí sự giàu sang khắp cả bốn biển chẳng chút lẫn tiếc.
Kinh Hoa Nghiêm
--- o0o
---
Mục Lục |
1 | 2-1|
2-2 | 2-3 |
2-4 | 3-1 |
3-2 | 3-3 |
4
--- o0o
---
Trình bày : Nhị Tường
Cập
nhật ngày: 1-9-2002