| ...... ... |
. |
HỌC PHẬT QUẦN NGHI
(Giải thích những nghi vấn trong Phật
học)
Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học dịch
Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm
---o0o---
Phần F
[Câu hỏi 51 - 60]
|
[51] Cá
nhân tự tu và tập thể cùng tu có gì khác nhau ?
[52]
Những bậc đại tu hành có nhất thiết phải đóng cửa ?
[53]
Lựa chọn minh sư như thế nào ?
[54]
Làm thế nào để thâm nhập vào một môn ?
[55]
Thế nào là chuyên tu và tạp tu ?
[56] Như
thế nào là đạo dễ tu hành và đạo khó tu hành
[57] Im
hơi lặng tiếng có phải là tu hành nhẫn nhục ?
[58] Học
thiền suốt đời không 'ngộ' thì làm thế nào ?
[59]
Đời này không hiểu đạo thì lại phải 'đội lông, đeo sừng' có
thật như vậy không?
[60]
'Có nhiều vị Tăng trước cửa địa ngục' nói như vậy có đúng
không ?
|
Thường nghe nói "Thà ngủ trong
một miếu lớn, còn hơn là hành đạo trong một miếu nhỏ". Điều
đó cũng có nghĩa là cá nh6an tu hành khác với tập thể tu hành. Tu
hành dưới sự chỉ đạo của một ông thầy sáng suốt (minh sư) cùng
với tự tu không có thầy nào là hoàn toàn khác nhau.
Cá nhân tu hành cần phải tiến hành sau khi thông hiểu
phương pháp tu hành. Hơn nữa cần phải biết giải quyết như thế nào
những vấn đề nghi hoặc và khó khăn, phiền toái nảy sinh ở thân
tâm và kiến thức (tri kiến), nếu không thì không những không có
ích gì mà ngược lại còn có hại. Đặc biệt là tu thiền định,
tiến hành tinh tiến, dũng mãnh có thể xảy ra các loại bệnh thiền
định và ma chướng. Đó là những thay đổi bất thường về mặt
tâm sinh lý. Cho nên, người mới học không nên tu hành đơn độc.
Tu hành tập thể tuy không có thầy sáng suốt (minh sư)
chỉ đạo nhưng còn có những người cùng tu quan tâm săn sóc, giúp
đỡ sửa chữa cho nhau, chỉ cần hiểu biết một cách đúng đắn thì
không thể phát sinh những vấn đề quá lớn.
Hơn nữa, cá nhân tu hành rất dễ dàng trở thành
nóng lạnh không đều nhau. Khi thì dũng mãnh tinh tiến, khi thì lười
biếng, sa đà, đó là vì không có người kiếm chế, không có quy
chế đề ra cho cuộc sống của đại chúng. Dũng mãnh bốc đồng có
thể dẫn tới cả thân và tâm mệt mỏi rồi sinh ra thiền bệnh,
lười biếng, sa đà khiến cho bản thân bỏ việc tu hành, bỏ mất
tâm tu đạo. Nếu quá mấy lần nóng lạnh thì có thể mất lòng tin.
Nếu tu hành trong một đoàn thể, thì có sự ràng buộc của cuộc
sống chung với nhau, lại được những người cùng tu giúp đỡ,
khiến cho người ta tiến bộ, nên tương đối an toàn.
Xét về cái tâm con người thì cái tâm của cá nhân
hết sức có hạn, người mới tu hành, không có cách nào tạo ra
một không khí đạo trường để tu hành. Nếu có thể kết hợp với
nhiều người cùng tu hành, có cùng một phương thức như nhau, cùng
một tâm trạng như nhau, một mục tiêu như nhau có một thời gian làm
việc nghỉ ngơi như nhau để tu hành thì có thể gây nên một không
khí đạo tràng tu hành. Thậm chí chỉ cần một người tu hành thường
xuyên cũng có thể làm cho toàn thể vào đúng quỹ đạo. Nếu quá
nửa số người ở vào trạng thái bình thường cùng thông cảm
nhau, cùng hòa hợp nhau thì có thể mỗi cá nhân được lực
lượng toàn thể người tu hành ủng hộ. Nếu 10 người tham gia thì
mỗi cá nhân có thể được sự ủng hộ của 100 người. Do vậy,
Phật giáo tán thành việc tu hành tập thể là quy định thông
thường đối với người mới tu học.
Người đã tu hành lâu mà tham gia vào việc tu hành
tập thể cũng đều có ích. Vì vậy, khi Đức Phật Thích Ca còn tại
thế, thường có trên 1000 đệ tử tham gia vào cuộc sống tăng
đoàn. Trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, dù là tông phải nào
phần lớn những nhân tài lỗi lạc tham gia tu hành tập thể. Thí dụ
như tổ thứ 4 Thiền Tông là Đạo Tín, ông tổ thứ 5 là Hoằng
Nhẫn, tổ thứ 6 là Huệ Năng, cho đến các đại sư Mã Tổ Đại
Nhất, Bách Trương Hoài Hải. Môn đệ của các Ngài đều là những
nhân vật lỗi lạc xuất sắc, hợp thành những đoàn tăng lữ
đông đến 400, 500 người, trên 1000 người. Vì vậy mà các chùa,
viện của Thiền Tông được gọi là Đại Hải Tùng Lâm.
Căn khí của người tu hành tuy lớn, nhỏ, sắc, cũng
khác nhau, nếu bị thoái hóa, sa sút, không bình thường thì có thể
bị nước biển đẩy dạt ra ngoài. Cây trong rừng tuy có cây lớn,
cây bé khác nhau, cây thì thô, cây thì nhỏ nhắn khác nhau nhưng
không có cây nào lại không mọc vươn lên. Nếu không thì không
tiếp nhận được mưa móc, ánh sáng mặt trời và sẽ bị đào thải
một cách tự nhiên.
Do vậy, có thể thấy rõ tu hành một cách đơn độc
là điều không nên bắt đầu đối với người bắt đầu tu học.
[^]
Danh từ đóng cửa không có ở Ấn
Độ, ở Trung Quốc mãi đến sau đời nhà Nguyên, thậm chí đến
đời nhà Minh mới thấy có ghi phương thức tu hành đó. Do vậy có
thể thấy những bậc đại tu hành không nhất thiết phải đóng cửa.
Ngược lại, những người đóng cửa không nhất thiết là những
bậc đại tu hành.
Đóng cửa là có thể bắt nguồn từ việc tu luyện
lâu dài ở trong hang động của Phật giáo Tây Tạng. Rồi khi Lạt Ma
giáo từ triều vua Mông Cổ truyền vào nội địa Trung Quốc thì phương
thức đóng cửa mới dần dần được thịnh hành.
Về phương pháp tu hành thì có những khóa học có
thời gian nhất định, có phương pháp, có giai đoạn nhất định. Thí
dụ như 7 ngày, 21 ngày, 49 ngày, 100 ngày v.v
đúng kỳ hạn để
lấy chứng nhận. Chuyên tâm tu hành một pháp môn nào đó, nếu
hoàn cảnh cho phép, nếu cần thiết thì học kỳ có thể kéo dài một
năm, 3 năm, đến 6 năm, 9 năm, mười mấy năm, nhưng không nhất
định cá nhân phải đơn độc tu hành. Thí dụ như trong Kiết hạ an cư
ở thời đại Phật Thích Ca, thời kỳ tu thiền có 2 mùa là mùa
đông và mùa hạ. Trên lục địa Trung Quốc, có rất nhiều người tu
tập nhau lại để tu hành. Các tổ sư phái Thiên Thai đặt ra các
phương thức sám hối, nghi thức và tất cả đều cùng kết hợp
với 6 người, 7 người, mười mấy người để tu hành. Trong thời
kỳ kiết hạ an cư, lúc Đức Phật còn tại thế, người ta cũng
tiến hành tu hành trong khuôn khổ phạm vi nhất định hoặc ở dưới
cây hoặc ở trong hang động, hoặc trong những căn nhà trống không
của các cư sĩ nhưng tất cả đều không phải như phương thức tu
hành đóng cửa như hiện nay.
Ở Trung Quốc vào thời kỳ đầu cũng có một số
thiền sư sau khi đã "ngộ" được, các thiện tri thức căn
dặn đến bờ sông dưới cây, vào rừng núi, hang động để đơn
độc tu hành trong một số năm. Thí dụ nổi bật nhất là Chung Nam Sơn,
ở đấy đã có 72 nhà làm bằng cỏ tranh. Trước tiên đây là nơi
cá nhân tu hành, về sau dần dần dựng lên những chùa và viện,
nhưng nếp sống nhà ở tranh vẫn mãi mãi tồn tại. Ở nhà cỏ tranh
là tự trang bị lấy dụng cụ nấu ăn và các loại thức ăn rau cỏ,
vào núi chặt gai góc, bện cỏ tranh để làm nhà tránh gió mưa, xa
lánh người trong một thời gian dài. Song phương pháp tu hành như
vậy, tuy giống như phương pháp đóng cửa nhưng không phải là đóng
cửa. Gần đây có hai loại người tu hành theo phương pháp đóng
cửa :
1. Những người muốn tránh xa sự quấy nhiễu của công việc thế
tục.
2. Những người tu thiền muốn tinh tiến hoặc chuyên
tâm nghiên cứu kinh tạng. Loại người đầu, giống như kẻ tu hành
sống ẩn dật. Loại người thứ hai mới đúng là những người tu
hành chân chính. Nếu chỉ vì tu dưỡng thì cần có nhiều tiền hoặc
được ngoại duyên giúp đỡ trợ lực thì có thể được. Sau khi
đóng cửa mà không biết phương pháp tu hành, cũng không hiểu cách
thức nào, biện pháp nào để đi vào Kinh tạng thì tuy có đóng
cửa 3 năm, 5 năm cũng không đạt được thành tựu. Nếu vì để tu
thiền và đọc Kinh tạng, mà đã sẵn có cơ sở công phu tu thiền
và đã nắm được cách thức, biện pháp đi vào Kinh tạng thì cũng
có thể đạt được nếu không thì thành tựu không lớn lắm.
Nói về định nghĩa của những bậc đại tu hành thì
đó phải là những người toàn tâm, chuyên chú tu hành, ít nhất
là những người mà mắt và lòng đã được khai thông, nhưng
không lộ ra bên ngoài, nhẫn nhục, chịu đựng chịu khó, chịu nhẫn
nhục những điều mà người khác không vứt bỏ được, tâm của
họ tuy trong sáng như gương nhưng không biểu lộ ra ngoài, nói năng
hành động tuy ngốc nghếch, khờ dại, nhưng thật ra thì rất sáng
suốt, từ bi. Ngày nào đó mà nhân duyên thành thục thì có thể
trèo lên cao hô một tiếng là vạn nghìn hòn núi đều tương ứng,
độ cho chúng sinh thì không ai so sánh được mà không hề để lại
vết tích. Nếu nhân duyên chưa thành thục, tuy sống cả cuộc đời
mà không hề giảm bớt ánh sáng của sinh mạng mình. Như Hàn Sơn,
Thập Đắc, Phong Can đều là những bậc đại tu hành. Nếu những
người tốt sau này mà không sưu tầm những bài thơ, những câu kệ
của họ để lưu truyền cho hậu thế thì ai mà biết được rằng trong
lịch sử đã từng có những nhân vật như vậy. Tỉ dụ như Mạnh
Tử nói : "Thành công thì làm thiện cho thiên hạ, cùng quẫn thì
riêng mình sống thiện". Điều này rất giống như Phật giáo nói
là những bậc đại tu hành quan tâm săn sóc và đưa lại ánh sáng
cho người ta. Do vậy, bậc đại tu hành có thể đóng cửa và cũng
có thể không nhất thiết phải qua quá trình và hình thức đóng
cửa. Nếu nhân duyên cho phép, nếu cần thiết thì đóng cửa cũng
là một trong những phương thức tu hành tối ưu để loại bỏ những
sự việc phức tạp, đoạn tuyệt với ngoại duyên.
[^]
Hàn Dũ đã từng nói : "Nghề
học phải chuyên nhất." Do đó học tập pháp môn nào đều phải
lựa chọn các bậc minh sư có chuyên môn giỏi, độc đáo, tinh thông
về các mặt học vấn nghệ thuật và giáo lý Phật học. Mặc dù minh
sư không nhất thiết phải từ cửa minh sư mà trưởng thành ra, trong
số đệ tử của minh sư không nhất thiết xuất hiện những đệ tử
xuất chúng. Nhưng khi đi tìm minh sư thì tối thiểu họ cũng không
được nhầm phương hướng, dạy sai yếu lĩnh, phải đảm bảo an toàn,
chắc chắn chứ không thể như "người mù chỉ lối cho người
mù".
Vậy ai là minh sư ? Thường thường thì không có cách
nào mà biết được điều đó. Đặc biệt là theo kinh nghiệm của
tôn giáo và khi khổ công tu thiề, khi bản thân chưa nhập môn thì
không có cách nào phán đoán được ai là minh sư và ai không phải
là minh sư. Thế nhưng minh sư không nhất thiết phải nổi tiếng, nhưng
người minh sư được quần chúng công nhận thì đáng tin cậy hơn so
với người tự xưng là minh sư mà chưa được đông đảo quần
chúng công nhận. Hoặc các bậc thầy tuy chưa nổi tiếng nhưng được
các bậc thầy đã nổi tiếng giới thiệu là minh sư cho mình thì đó
là điều đáng tin cậy. Như kinh "Hoa Nghiêm" có nói :
"Phương thức thiện tài đồng tử tham gia về việc chất vấn 53
vị thiện tri thức thông qua một vị giới thiệu một vị đã hình
thành mối quan hệ liên tục đối với 53 vị sư. Vì vậy, các thiện
tài đồng tử tuyệt nhiên không phải công nhận các bậc thầy một
cách mù quáng".
Bất kỳ thời đại nào trên thế gian này đều có
những nhân vật tự xưng là tôn sư của thời đại. Họ dùng
những lời yêu quái để mê hoặc quần chúng, lẫn lộn trắng đen,
nghe thấy lung tung, thu nạp đông đảo các đệ tử phô trương thanh
thế. Nếu không phân biệt rõ thì rất có khả năng lấy tà sư khét
tiếng làm minh sư. Vì vậy, Mạnh Tử cũng nói : Tai họa lớn nhất
của con người là "thích làm thầy người ta". "Bởi vì
những tà sư này có tác hại hướng dẫn lệch lạc lương tâm xã
hội, khiến cho con người nẩy sinh nhiều sự quấy nhiễu không bình
thường, nghi hoặc bất an. Do vậy, mà theo họ, học tập những tà
pháp, tà thuyết và tà thuật thì chẳng những không mở mang được
cảnh giới nhân sinh mà ngược lại còn mang tác hại cho thân tâm
mình, gia đình mình bất hòa. Chỉ đáng tiếc là những người bình
thường rất khó mà phân biệt được cái thật, cái giả, cái tà,
cái chính của những người này.
Xét theo lập trường của Phật Pháp thì tiêu chuẩn
về cái tà, cái chính, cái tối, cái sáng đều phải được khảo
sát, thí nghiệm ở trung tâm cái tôi của mình. Nếu con người còn
mang nặng sân, si thì nhất định không phải là minh sư. Lại có
người tuy bề ngoài thì biểu hiện nhân từ, vẻ mặt phúc hậu,
tươi tắn, đạo mạo trịnh trọng nhưng lại là kiêu căng, ngạo mạn
thì cũng nhất định không phải là minh sư. Về việc tìm minh sư,
"Đại trí độ luận" cuốn 4 đã nêu lên 4 điều trọng yếu
gọi là tứ y pháp "4 chỗ nương tựa".
1) Dựa vào pháp không dựa vào người : Minh sư
không tự cho mình là trung tâm, cũng không lấy cá nhân nào đặc
biệt làm quyền lực mà lấy nguyên tắc, quy luật chung là tiêu
chuẩn Pháp của Phật giáo là pháp nhân duyên, pháp nhân quả. Nếu
đạo lý và những điều khêu gợi của vị thầy nào trái ngược
với phép tắc nhân quả và nhân duyên thì không phải là minhh sư.
Bởi vì, nhân quả đòi hỏi chúng ta phải chịu trách nhiệm về hành
vi của mình. Nhân duyên là dạy chúng ta không được khởi tâm
chấp trước tham, sân. Không thì tuy được đông đảo mọi người
tôn là Thánh cũng không khác gì tà sư.
2) Dựa vào nghĩa không dựa vào lời : Phàm là phép
tắc chân chính thì nhất định tung ra bốn biển đều đúng, từ xưa
tới nay đều giống như nhau, không phải vì bối cảnh dân tộc, khu
vực, văn hóa khác nhau mà sai biệt khác nhau. Nếu cho rằng do sự
cấm k?về tôn giáo hoặc có sự bí mật trên ngôn ngữ mà không
phải chính pháp là không đúng. Chính pháp nên chú trọng đến sự
cảm thông về nghĩa lý chứ không được câu nệ trên sự dị biệt
trên ngôn ngữ. Tỉ dụ, nếu nói người theo đạo Hồi chú trọng
đến chữ Ả rập, người Do Thái chú trọng đến chữ Hêbơrơ thì
xét về chuẩn tắc là khác nhau. Người theo đạo Phật chú trọng
đến chữ Phạn, Pàli là để nghiên cứu những kinh điển nguyên
thủy, để truy tìm nguyên nghĩa chứ không phải nói chữ Phạn và
chữ Pàli có thần lực và thần thánh gì đặc biệt. Tất nhiên Ấn
Độ giáo chú trọng đến tiếng Phạn, âm Phạn khác với Phật giáo.
3) Dựa vào trí, không dựa vào thức : Trí là trí
tuệ của thánh nhân, là sản sinh ra đại trí của vô ngã, từ đại
bi đến đồng thể. Do đó, hể có tự ngã làm trung tâm, dù là vì
mình, vì người, thậm chí vì tất cả chúng sinh hoặc vì cầu cho Phật
Đạo vô thượng, dù là đại ngã, bồ-rát-man (phạm ngã) và thần
ngã, cái ngã cá biệt và cái ngã toàn thể đều không thể sản
sinh ra trí tuệ chân chính được. Vì vậy, điều đó vẫn thuộc vào
phạm vi trí thức và trí tuệ. Trí thức là từ trong kinh nghiệm học
tập của bản thân mình mà sản sinh ra tác dụng phân biệt, ghi nhớ
và suy lý. Còn trí tuệ chỉ có hiện tượng của khách quan không có
trung tâm chủ quan. Chỉ có công năng chuyển vận, không có trung tâm
chủ thế, nếu trái ngược như thế thì không phải minh sư.
4) Dựa vào ý nghĩa rốt ráo, không dựa vào ý nghĩa
không rốt ráo :
Nghĩa rốt ráo là không nói ra được, không có pháp
nào có thể chấp, không có pháp nào có thể tu, cũng không có
pháp nào có thể chứng được. Đúng như vô niệm vô tướng, vô
trụ, mà "Đàn kinh" nói : Không vì cái gì, cũng không có
cái gì, chỉ việc ăn cơm, mặc quần áo, sinh sống, lợi mình, lợi
người, tinh tiến không ngừng.
Căn cứ vào 4 điều chuẩn trên, chúng ta có thể
phân biệt dễ dàng ai là minh sư, ai không phải là minh sư, rồi dựa
vào 4 tiêu chuẩn đó mà quan sát thẩm tra minh sư mà mình mong gần
gũi thì nói chung không thể có sự nhầm lẫn, rồi ngày qua tháng
lại dù không gặp được minh sư thì bản thân anh cũng trở thành
minh sư.
[^]
Tiên sinh Hồ Thích - một nhà tư
tưởng hiện đại đã từng nói "Học thì phải như Kim Tự Tháp
vừa rộng lại vừa cao". Đọc nhiều học rộng là cơ sở của
học vấn, thâm nhập vào một môn là bước đầu của học vấn mà
chỉ có thể là thường thức thôi. Nếu không thể trong bất kỳ
phạm trù chuyên môn nào cũng tỏ ra xuất chúng nổi bật lên thì
không thể có thành tựu và có những nét độc đáo của mình. Như
vậy không phải là chuyên gia mà là người giỏi bình thường thôi.
Do vậy Đức Phật đề ra quy luật Tỳ kheo xuất gia thì
nên chuyên tu học về Kinh, Luật, Luận. Nếu tư chất xuất sắc thì có
thể để 1/5 thời gian để học thêm kinh sách ngoài Phật giáo bởi
vì thời gian của cuộc đời con người là có hạn. Kinh điển Tam
Tạng của Phật giáo là bao la như biển cả, dù cho có đọc hết kinh
sách nỗ lực cả cuộc đời cũng không có cách nào học được
cái tinh túy kỳ diệu của đạo Phật. Do đó, từ xưa đến nay
người học Phật nghiên cứu Kinh và Luật phải có sự lựa chọn.
Khi bắt đầu vào học có thể đọc những sách khái quát về lý
luận rồi những sách về lý luận thông thường, có tính chất
thông sử để biết những nét lớn. Sau đó nên lựa chọn, dựa
vào chí hướng, sở thích cá nhân để đọc bộ kinh nào đó hoặc
là một số kinh có liên quan, một bộ luận nào đó, hoặc một số
bộ luận có liên quan. Rồi có như vậy mà suốt cả cuộc đời nỗ
lực học tập tu trì, nghiên cứu, hoằng pháp thì có thể một bậc
đại sư.
Hiện nay đối với những Phật tử nói chung, cái gọi
là "thâm nhập vào một môn" bức thiết cần phải biết nhất
thiết không phải là vấn đề có liên quan đến kinh, luật, luận và
là kinh nghiệm tôn giáo, pháp môn tu trì và việc lựa chọn và theo
học các thiện tri thức. Bởi vì nói chung người ta không biết bản
thân mình thích hợp tu hành tôn phái nào hoặc pháp môn nào, dù
là tu khổ hạnh, tu theo kiểu hiển giáo, theo mật giáo đều không
biết mình bắt đầu học từ đầu và bắt đầu học như thế nào?
Về mặt hiển giáo, nếu theo tông Tịnh độ, theo thiền, luật Thiên
Thai, Hoa Nghiêm duy thức, thì mỗi tôn giáo đều có một vị, thậm chí
còn có nhiều vị Đại đức tăng và tục nổi tiếng, đều có thể
theo học.
Hiện nay lại có một số mật giáo mà không có thầy
truyền, những môn đệ tử của tín ngưỡng dân gian thường tự
xưng mình là bậc thầy tối thượng, tự cho mình là Phật sống. Họ
xuất hiện nhan nhản ở thế gian, tung ra một loạt luận điệu tuyên
truyền, nói rất hay, lý lẽ rất vững tạo ra các phép làm lóe mắt
mọi người. Nói chung, con người không có cơ sở Phật học, do yêu
cầu phải có phương pháp tu trì và phải tu hành có hiệu quả ngay,
nên không tránh khỏi lần mò khắp nơi, khắp chốn thấy được cái
gì thì học cái nấy, kết quả là tâm thần rối loạn, tâm lý không
ổn định, sinh hoạt không bình thường tách rời khỏi xã hội. Đó
là những việc đáng tiếc.
Do vậy chúng tôi chủ trương muốn thâm nhập vào một
môn thì không được đứng núi này trông núi nọ. Nếu Phật Pháp
chính thống Phật giáo chính tín mà anh công nhận không phát sinh ra
tác dụng phụ thì dù là niệm Phật, tham thiền, trì chú, anh cứ
không ngừng tu trì, dần dà thì nhất định sẽ thấy kết quả trông
thấy. Tuyệt đối chớ để sự hiếu kỳ lôi cuốn, không để các
giác quan kích thích và tư tưởng bị kích động, mà nên theo con
đường tu học Phật Pháp với cái tâm bình thường. Lại nhờ sự
tự lực giúp đỡ của Đức Phật để khi lâm chung được vãng
sinh lên cõi Tịnh độ nước Phật là đủ lắm rồi. Nếu không và
muốn trở thành một vị cao Tăng và Cư sĩ, Đại đức Phật giáo,
lại muốn thông hiểu các loại học vấn tri thức về văn chương,
triết học, lịch sử tôn giáo xưa nay cả trong nước và ngoài nước
thì lãng phí cả cuộc đời. Thế là vừa không lợi cho mình, cũng
không lợi cho người, vừa không thể tự tu một cách đầy đủ
lại không thể dùng cái sở trường của mình giúp đỡ người
khác.
[^]
Nói một cách khác nghiêm khắc,
người Trung Quốc là theo Phật giáo tạp tu. Tỉ dụ như để cầu xin
được sức khỏe, sống lâu, tránh tai nạn, họ trì tụng phẩm
"phổ môn", kinh "Dược Sư", chú Đại Bi hoặc niệm Bồ
Tát Quan Thế A? và Phật Dược Sư. Nếu cầu được lợi ích tương
lai ở Tây phương thì tụng kinh A-di-đà và niệm danh hiệu Phật
A-di-đà. Nếu để tiêu trừ bệnh tật, nghiệp chướng thì phần
nhiều tụng Chân ngôn, Linh cảm Quan Thế A?, thần chú Đại Sĩ áo
trắng hoặc lễ bái "Thủy Sám", "Lương Hoàng Sám".
Nếu siêu độ cho người chết người thân thì niệm "Kinh Địa
Tạng", chú "Vãng sinh"
Phương thức tu hành như vậy vừa là hiển giáo vừa
là hỗn hợp hình thức và mùi vị của Mật giáo nữa, vừa là tu
hành Tịnh độ Tây phương, vừa tu Tịnh độ Đông phương. Một cá
nhân cùng thời gian khác nhau, vì mục đích khác nhau thì có thể
dùng pháp môn khác nhau.
Thật ra Phật Pháp quý ở chỗ thâm nhập vào một
pháp môn, bất kể là dùng hiển giáo, hay Mật giáo, tụng kinh hay trì
chú, lễ sám, hoặc niệm danh hiệu của bất kể Đức Phật nào, Bồ
Tát nào, hễ tu một pháp môn mà kiên trì lâu dài thì sẽ có cảm
ứng tức là có thể đạt tới mục đích tu trì của mình. Điều
đó có nghĩa là niệm Phật A-di-đà có thể vãng sinh Tây phương,
niệm Bồ Tát Quan Thế Âm cũng có thể vãng sinh Tây phương, tai qua
nạn khỏi, niệm Phật A-di-đà cũng có thể tai nạn qua khỏi. Quán có
thể nhập định, mở mang trí tuệ, kiên trì niệm tên Phật và niệm
danh hiệu Bồ Tát cũng có thể nhập định và mở mang trí tuệ. Tiến
hành các phương thức khác nhau như tụng kinh Kim Cương cũng có thể
mở mang trí tuệ, tai bay nạn khỏi, vượt bỏ các chướng ngại, sinh
về Tây phương. Do đó Kinh Lăng Nghiêm có 25 pháp môn viên thông
giới thiệu 25 vị La Hán Đại Thừa và Bồ Tát, mỗi vị đều tu trì
một môn mà các pháp môn nhất định, kết quả là đều có thể
thâm nhập vào một môn mà các môn khác cũng đều thâm nhập
được. Như vậy Bồ Tát Quan Thế Âm là viên thông căn tai, tu pháp
môn âm thanh mà thông đạt các pháp môn.
Nếu người tu pháp môn Tịnh độ chuyên chú niệm
Phật, niệm danh hiệu sáu chữ "Nam Mô A Di Đà Phật" thì có
thể lợi trong cuộc đời hiện tại và có thể được Phật A-di-đà
đón dẫn khi lâm chung. Họ gặp tai nạn thì tránh được tai nạn, gặp
trở ngại thì vượt trở ngại, ngu dốt thì được tăng thêm trí
tuệ, có phiền não thì được giảm bớt phiền não. Nếu người
học thiền mà kiên trì một câu nói, một công án, một phương pháp
hiện hành thì hiện tại được lợi, tương lai cũng có lợi. Nếu
nguyện sinh ở cõi Tịnh độ thì nhất định có thể được.
Xướng tụng thì phần lớn dùng ở nơi tập thể tu
hành, được tiến hành sau một thời gian dài ngồi thiền. Cá nhân
tu hành hoặc tu hành định kỳ trong một thời gian tương đối dài thì
không nhất định phải xướng tụng. Trong những buổi khóa tụng sáng
chiều của cư sĩ tại gia, thì có thể xướng tụng, chuyển tụng niệm
một danh hiệu Phật nào đó, tất cả đều có thể gọi là chuyên tu,
cũng có thể đạt tới tất cả các nguyện vọng và mục đích. Nếu
mỗi ngày vào một thời gian nhất định mà trì tụng, lễ bái một
vài bộ kinh, chú và danh hiệu Phật, bài kệ thì cũng có thể gọi
là chuyên tu. Tất nhiên là so với chuyên tu nói ở trên thì việc
này có ý nghĩa tạp tu rồi.
Xưa kia có người chuyên tụng mấy ngàn bộ kinh
"Kim Cương" hoặc kinh "Pháp Hoa", chuyên lễ bái Phật
trăm vạn lần, trì chú mấy trăm vạn lượt, như thiền sư Vĩnh Minh
Diên Thọ hằng ngày chuyên niệm danh hiệu Phật A Di Đà, thậm chí khi
nghĩ ngơi, ăn uống, đại tiểu tiện, ngủ đều không ngừng niệm
Phật, đó mới gọi là chuyên tu tinh tiến. Còn người bình thường
không thể đạt tới bước như vậy. Nếu dạy học chỉ trì tụng một
kinh chú nhất định, chỉ niệm một danh hiệu Phật nhất định thì họ
cảm thấy đơn điệu, thậm chí còn thấy buồn chán. Do vậy, mỗi ngày
nên trì tụng vài danh hiệu Phật, vài kinh, chú và bài kệ khác nhau
cho thỏa đáng hơn. Nhưng tuyệt đối không được hôm nay học hiển
giáo, ngày mai lại học Mật giáo, buổi sáng cầu vãng sinh phương
Đông, buổi tối lại cầu vãng sinh ở phương Tây.
[^]
"Đạo dễ tu hành" và
"Đạo khó tu hành" đều là đạo Bồ Tát tu hành học Phật,
xuất hiện đầu tiên ở "Phẩm Dị hành", quyển 5, "Thập
trụ tỳ bà sa luận". Phẩm này giới thiệu đạo tu hành của Bồ
Tát có hai loại, loại dễ và loại khó. Như trên thế gian này đi
bộ tương đối vất vả, khó khăn, còn ngồi thuyền đi đường thủy
thì đỡ mệt hơn, dễ dàng hơn. Đạo Bồ Tát khó tu hành là chỉ
sự chăm chỉ tu hành, tinh tiến. Đạo Bồ Tát dễ tu hành là chỉ
việc lấy lòng tin làm phương tiện mà tiến lên, không lùi bước,
không lùi vị trí.
Phương pháp tu hành của đạo dễ tu hành mà Long Thọ
nói tới là tụng niệm chư Phật 10 phương như Thiện Đức, 107 vị
Phật như Phật A Di Đà, và cả 143 danh hiệu Bồ Tát như Thiện Ý.
Còn quyển thượng "Vãng sinh luận chú" của Đại sư Đàm
Loan, Trung Quốc thì lại chủ trương chuyên tụng niệm riêng một danh
hiệu Phật A Di Đà, gọi đó là đạo dễ tu hành, đề cao lời
nguyền của Di Đà, dựa vào lời thề nguyền của Phật thì có thể
vãng sinh ở cõi Tịnh độ, rồi nhờ Phật gia trì mà vào chính định
Đại Thừa. An lạc "Tập" của Đại sư Đạo Xước thì lại
gọi đạo khó tu hành là môn "Thánh đạo", đạo dễ tu hành
là môn Tịnh độ. Cho tới Đại sư Pháp Nhiên của Nhật Bản thì nêu
ra "Tự lực thánh đạo" để phân biệt rõ sự khác nhau
của đạo khó tu hành và đạo dễ tu hành. Đủ thấy đạo dễ tu
hành mà Bồ Tát Long Thọ nói là lấy việc tụng niệm danh hiệu của
chư Phật và Bồ Tát để cầu sinh nơi cõi Tịnh độ mười phương.
Nhưng những người tu hành theo pháp môn Tịnh độ Phật A Di Đà là
đạo dễ thực hiện dựa vào lời nguyện của Phật để sinh sang Tịnh
độ Cực Lạc. Sau khi đến cõi Tịnh độ của Phật, tất cả những
điều mắt thấy tai nghe đều do Phật A Di Đà giáo hóa, thuyết pháp,
ở đấy không ai là không niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, nên
tương đối dễ dàng chứng được Bồ đề, lại còn có thể tiến
tới trình độ bất thoái. Nhưng nếu chỉ dựa vào sức mạnh lời
nguyền của Phật, muốn đạt đến trình độ bất thoái thì phải trải
qua một thời gian rất dài, bởi vì trên cõi Tịnh độ, không có
duyên tu phúc, nhưng có thể tu tuệ, tu tuệ có thể xa rời phiền
não, nếu không tu đức thì không thể đạt tới công đức Bồ
đề. Cho nên tuy dễ dàng nhưng lại phải quanh co, phải đợi sau khi
đạt tới trình độ bất thoái, lại quay trở lại ở cõi thế gian
tế độ chúng sinh để tu hành đầy đủ phúc đức của Bồ Tát,
phúc tuệ viên mãn mới có thể thành Phật. Điều đặc biệt thuận
lợi của "đạo dễ tu hành" là đối với những chúng sinh
nhu nhược, lòng tin không đủ, tội nghiệp sâu nặng, thì hy vọng
đắc độ và khuyến khích họ học Phật, niệm Phật.
Cái gọi là "đạo khó tu hành" là lấy thời
gian của 3 đại a tăng kỳ kiếp để tu đạo Bồ Tát, khó tu hành mà
có thể tu hành, khó chịu đựng mà có thể chịu đựng ; đó là con
đường chung để tu hành Phật Pháp. Các chư Phật trong ba đời đều
do phát tâm đại Bồ đề vô thượng chính đẳng mà thành Phật.
Điều đó cũng có nghĩa là người đã phát lời nguyền thành
Phật, thông thường là phải xây dựng được niềm tin trước đã.
Theo kinh "An Lạc", tu hành thì phải có lòng tin trải qua ba
kiếp, kiếp 1, kiếp 2, kiếp 3 mới được lòng tin "bất thoái"
mà nhập vào ngôi thứ nhất. "Khởi Tín Luận" thì nói : Tu
hành phải có lòng tin, phải trải qua một vạn kiếp, rồi sau mới
nhập vào ngôi thứ nhất, đó mới là bắt đầu của A tăng kỳ
kiếp thứ nhất. Đến ngôi thứ nhất là khởi điểm của A tăng kỳ
kiếp thứ hai. Qua được ngôi thứ bảy là bắt đầu vào A tăng kỳ
kiếp thứ ba, trở thành Bồ Tát đẳng giác. Ví dụ như Quan A?, Thế
Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Địa Tạng v.v
phải trải qua trăm kiếp
nữa thì lên được Phật địa đó chính là đạo khó tu hành.
Trong suốt thời kỳ này, bỏ thân này, thọ thân
khác, bố thí vô lượng gần gũi với các vô lượng Phật, trong
giữa đám chúng sinh mãi mãi là "không cầu mong an lạc cho
mình", nhưng nguyện làm chúng sinh xa lìa đau khổ, rồi ngày qua
tháng lại dần dần trừ được chấp ngã, phúc đức được tăng
trưởng. Khi đại bi vô ngã đã viên mãn cứu cánh thì thành Phật.
Trước khi tu xong kiếp A tăng kỳ thứ nhất thì phàm
phu. Theo sự giải thích của Tông Thiên Thai trước khi có được
lòng tin, là "ngoại phàm". Từ ngôi thứ nhất đến ngôi
hồi hướng thứ mười là "nội phàm". Những Bồ Tát trong
ngôi phàm phu là còn có cái tôi, là có những chúng sinh có thể
độ được, có những phiền não có thể đoạn trừ được và
cũng có thể thành Phật được. Các vị đó có lòng tin kiên định
đối với Tam Bảo, do tin tưởng vững chắc nơi mình, dũng mãnh tiến
lên phía trước tu hành theo Phật Pháp.
Trong mười ngôi tín trước thứ nhất, nếu gặp phải
ma chướng, nghiệp chướng, phiền não chướng, các loại báo
chướng v.v
nên còn có nguy cơ mất lòng tin nên còn gọi là
"còn có thoái". Thường thường khi tiến thoái, có lúc tin
vào Phật mà tu hành, có lúc lại xa rời Phật pháp. Nhưng một khi
đã phát được tâm Bồ đề thì đã gieo được nhân thành Phật
cho dù sức của cái nhân ấy mạnh hay yếu nhưng vẫn còn cơ hội
để được độ thoát, được độ một lần, lại được độ lần
nữa, rồi lại được độ lần thứ ba, lần thứ tư để được
thể hiện trong thức thứ 8 nhờ đó mà tiếp tục tu học Phật Pháp.
Sau khi lòng tin đạt được "bất thoái" thì xét về thời gian
thành Phật là coi như đã được xác định. Xét về mức độ chịu
khó, chịu khổ thì sóng gió ngày càng to, càng mạnh, con đường
trước mặt ngày càng khó khăn, đó chính là đạo khó tu hành của
Bồ Tát. Các Bồ Tát chịu khổ nạn là xuất phát từ lời nguyền
của họ, không phải là nghiệp báo. Đạo khó tu hành đó đối với
Bồ Tát mà nói là một quá trình tu hành bình thường.
Nhưng những người có lòng tin không vững chắc,
không tu được pháp môn Tịnh độ của Phật A Di Đà. Theo Kinh
"Quán vô lượng thọ" thì điều kiện vãng sinh tới tòa sen
cửu phẩm vãng sinh tới thượng phẩm là phải tu hành Bồ Tát tam
phúc nghiệp và phải có tâm Bồ đề, vì vậy không phải hoàn toàn
dựa vào sức mạnh lời nguyền của A Di Đà.
[^]
Nhẫn nhục là độ thứ ba trong
"sáu độ". Độ nghĩa là vượt qua biển khổ phiền não, mà
độ nhẫn nhục rõ ràng cũng có nghĩa là im hơi lặng tiếng. Ví dụ
kinh "Di giáo" nói "Người thực hành đạo đức nhẫn
nhục mới là bậc đại nhân có sức mạnh. Nếu không thể tiếp
nhận cái "độc" bị nhục mạ một cách hoan hỷ như uống
nước cam lồ, kẻ ấy không thể được ca tụng là người nhập
đạo có trí tuệ". "Du già sự địa luận" quyển 57 cũng
nói "Như thế nào gọi là nhẫn nhục ?". Đó là :
1 - Không tức giận
2 - Không oán trách
3 - Không chứa chấp điều ác
"Đại Trí Độ Luận" quyển 6 cũng nói
"Chúng sinh làm điều ác tâm không tức giận, chúng sinh cung kính
cúng dường, tâm không hoan hỉ. Đó là "trung nhẫn" vì chúng
sinh. Quyển 15 trong sách trên cũng nói : "Nhẫn đối với chúng
sinh cung kính cúng dường mình, đối với những kẻ gây tức giận,
gây phiền não, gây tham muốn đối với mình, đó gọi là "sinh
nhẫn". Chịu nhẫn nhục tôn kính cúng dường, cách gây tức
giận, gây phiền não, gây tham muốn đó là "pháp nhẫn".
"Ưu-bà-tắc giới kinh" quyển 7 cũng chỉ rõ : "Nhẫn có hai
loại : một là nhẫn xuất thế gian là chịu được đói khát, lạnh
nóng, khổ vui. Thứ hai là nhẫn thế gian, là nhẫn tín, giới, thí,
nghe, trí tuệ, chính kiến không lầm, nhẫn Phật, Pháp, Tăng, nhẫn
được chửi mắng, đánh đập, ác khẩu, việc ác, tham, sân, si,
nhẫn được đều khó nhẫn, thí những điều khó thí".
Từ nội dung kinh luận đã dẫn trên đây có thể
thấy hàm nghĩa của hai chữ nhẫn nhục rất rộng, cự tuyệt mọi
niềm vui, chịu được và tiếp nhận các nỗi khổ. Bị nhục mạ một
cách vô lý là điều mà con người bình thường không thể chịu
nỗi. Từ chối không để gái đẹp ngã vào lòng mình là điều mà
con người bình thường không thể làm được. Tin và tiếp thu các
loại pháp môn trong Phật Pháp càng không phải là điều mà con
người bình thường có thể làm được. Nói chung, nếu những việc
có liên quan đến danh dự thiết thân, đến những người thân
thuộc, nam nữ thì khó mà chịu đựng. Phật Pháp không chỉ nhẫn vì
cá nhân mà cả vì chúng sinh nữa. Khi đã đạt tới trình độ
không tranh cãi nữa thì tám ngọn gió thổi không đổ được nữa.
Đó là tám hiện tượng lợi ích, sa sút, hủy diệt, khen, ca ngợi,
nói xấu, khổ, lạc không có cảnh giới nào mà không nhẫn nhục
được. Vì vậy những Bồ Tát đã giải thoát được gọi là đã
chứng được "vô sinh pháp nhẫn". Đối với mắt, mũi, tai,
lưỡi, thân, ý của lục tình thì không chấp trước, đối với
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp của lục trần bên ngoài thì không
chịu ảnh hưởng, đó gọi là pháp nhẫn. Nếu bị bức hại mà không
giận, được cúng dường mà không mừng, đã không có cái ngã
năng thọ, lại không khiến cái ngã tiếp thu cái khác. Đạt tới
như vậy thì gọi là sinh nhẫn, đó không những là cảnh giới của
Bồ Tát mà cũng là mục đích của việc tu hành Phật Pháp.
Chịu nhẫn nhục là có thể yên mình, yên người, hòa
đồng với chúng sinh, cho nên nhẫn nhục là tiêu chuẩn tốt nhất
để xây dựng hòa bình an vui giữa con người với nhau.
Căn cứ vào tiêu chuẩn như vậy thì hình như nhẫn
nhục chính là im hơi lặng tiếng. Tất cả những việc oan uổng, lăng
nhục, phỉ báng, đả kích, đều phải hoàn toàn như vậy. Chúng ta cần
phải chú ý là nếu sự nhẫn nhục không xuất phát từ trí tuệ
thì rất có khả năng gây nên tai họa lớn hơn, do đó thông qua sự
soi chiếu của trí tuệ là điều vô cùng quan trọng. Ví dụ nói : sự
tập kích bất ngờ của gió, mưa, nước, lửa là điều không thể
chống nỗi, nhưng vẫn có thể tìm cách phòng tránh để giảm bớt
thiệt hại. Nghiệp báo là phải tiếp nhận một cách thẳng thắn,
nhưng vẫn có thể qua cố gắng thay đổi mức độ và phương thức
của nghiệp báo.
Cho nên, đối với sự vật mà hai bên đều không có
hại lại có ích thì phải tiếp thu. Nếu có ích cho người khác,
không có ích cho mình thì phải suy nghĩ để tiếp thu. Nếu đối với
hai bên đều có hại mà không có ích thì phải tìm cách tránh hoặc
thay đổi nói. Ví dụ biết rõ ràng đối phương là voi say, chó dại,
người điên, trông thấy người cắn, gặp người là giết, thì
đương nhiên phải tìm cách ngăn chặn, vì đối phương đã bất hạnh
nhất thiết đừng để cho họ gây nhiều bất hạnh hơn nữa. Nhưng
cũng không được có tâm báo thù "lấy máu trả máu", nên
dựa vào nguyên tắc từ bi, bản thân mình luôn luôn phải tự kiểm
và biết hổ thẹn, sám hối. Đối với những người mất lý tính
thì phải thông qua phương thức và phương pháp như kiềm chế, giáo
hóa, làm cho họ có thể trở lại bình thường. Điều đó có công
đức lớn đối với bản thân họ và toàn thể xã hội, cho đến
tất cả chúng sinh.
[^]
"Ngộ" mà Thiền tông nói là
vứt bỏ vạn duyên, tâm không chấp trước, đã không có gì đáng
cầu lại không có gì đáng xã. Niệm một niệm là có thể vứt bỏ
vạn duyên, cái niệm đó là trong lúc "ngộ". Đốn chứng,
đốn ngộ là không có lần lượt, không có thang bậc, nên không
cần thiết phải quan tâm đến vấn đề lúc lâm chung "ngộ" hay
không "ngộ".
Khi tu trì thiền, tuyệt đối không được lấy tâm cầu
ngộ, lấy tâm chờ ngộ. Cầu ngộ không được "ngộ", chờ
"ngộ" tức là mê bởi vì cầu mong và chờ đợi đều là
vọng niệm, chấp trước, phan duyên. Cho nên người tu thiền chân
chính biết rằng có cái "ngộ" làm mục tiêu tu hành của
mình. Cảnh giới chứng ngộ là một loại quan niệm trước khi tu
hành. Trong quá trình tu hành cần phải vứt bỏ quan niệm đó mới
có thể có kết quả. Vì vậy người tu thiền coi trọng quá trình,
không coi trọng mục đích. Trong quá trình tu hành tuân theo sự chỉ
đạo của minh sư, dùng phương pháp chính xác, tinh tiến, không trễ
nãi, dũng mãnh tiến lên. Phải xoắn chặt lại từng niệm một,
không được nhìn tới nhìn lại, phải niệm nghiêm túc, không dứt
đoạn thì công sức mới đạt kết quả. Đã đạt kết quả rồi thì
mới biết "ngộ", sống chết và Niết bàn không có liên quan
đến việc tu hành.
Nhưng những người bắt đầu học Phật tuy đã biết
rằng sống chết là biển khổ. Niết bàn là bờ bên kia, nhưng lại
không biết rằng giữa sống chết và Niết bàn không có một giới
hạn tuyệt đối. Vì vậy, sợ sống chết mà cầu Niết bàn, cho rằng
trước khi chưa "ngộ" thì bị phiền não trói buộc, bị sống
chết làm cho khổ sở, chịu đựng bao nhiêu nỗi khổ dày vò. Có
biết đâu rằng khai "ngộ" thì có thể chấm dứt sự sống
chết, được tự tại. Có biết đâu rằng đó là nói cho người
còn mê chứ không phải nói cho người đã "ngộ", lấy đó
để dìu dắt người mê tu hành không phải mục đích, cảnh giới
"ngộ" cũng là chấp trước, lìa bỏ mọi chấp trước mới
có thể rời bỏ phiền não sống chết. Nếu nhận thức được như
vậy thì sẽ không còn có tâm cầu "ngộ" và chờ
"ngộ".
Nếu suốt đời tu hành mà không đạt được kết
quả, điều đó cũng có nghĩa là từ đầu đến cuối không có
cách nào thể nghiệm được công đức xả chấp và ly chấp.
Thường xuyên với tâm trạng sợ sống chết : cầu Bồ đề, cố
gắng tu hành thì lúc gần chết chẳng cần phải lo lắng sau khi chết
sẽ bị rơi vào ba cõi ác. Bởi vì, hướng cái tâm mình đến Niết
bàn bao giờ cũng tốt hơn là hướng cái tâm mình xuống địa ngục.
Phật Pháp coi trọng sức mạnh của lời nguyền và nghiệp lực, dựa
theo lời nguyện để tiến thẳng về tương lai. Nhưng khi tu hành do
chướng ngại của nghiệp lực nên cuộc đời này tuy không được
giải thoát nhưng cũng không rời bỏ Tam Bảo. Cuộc đời này nếu
không thành công thì cuộc đời sau lại cứ tiếp tục và dưới
sự dẫn dắt của sức mạnh lời nguyện, cố gắng tu trì tam học là
giới, định, huệ. Đó là phước nghiệp trì giới rồi cùng với
định nghiệp và tuệ nghiệp có thể khiến cho mình được sinh lên
cõi trời, vãng sinh Tịnh độ, chứng được Bồ đề, hay ít nhất
cũng có thể chuyển làm thân người, tiếp tục tu hành học Phật.
Vì vậy, người tu thiền, thứ nhất lo lắng sau khi chết
mình sẽ đi đâu, thứ hai nếu công sức mình ít ỏi, không có lòng
tự tin, không biết sức mạnh lời nguyện của bản thân mạnh hay
yếu, sự cố gắng nỗ lực tu hành của mình nhiều hay ít như thế
nào, nên áy náy lo lắng lời nguyền của mình không mạnh mẽ, công
sức tu hành không đầy đủ, nên khi lâm chung sẽ chịu ảnh hưởng
của nghiệp ác. Do vậy mà rời bỏ Tam Bảo đọa vào ba cõi ác
không ra khỏi sống chết, không có cách quay đầu trở lại. Như vậy
thì tốt nhất là theo sức mạnh lời nguyền của Phật A Di Đà để
cầu mong sinh lên cõi Tịnh độ Tây phương. Mặt khác, tăng cường
công đức tu thiền để vãng sinh cõi Tịnh độ. Đó là phương pháp
đáng tin cậy nhất.
Ở Trung Quốc, từ sau đời nhà Tống, hai pháp môn
Thiền và Tịnh độ đều được song song tiến hành, phương pháp tu
thiền và việc cầu sinh sang cõi Tịnh độ đều được xem trọng. Nếu
tu thiền đạt được kết quả thì bản thân không cần phải lo lắng
"ngộ" hay không "ngộ". Nếu không được như vậy thì
có thể lấy pháp tu Tịnh độ làm nơi nương tựa tạm thời.
[^]
Đó là một vấn đề tựa như đúng
mà cũng không đúng. Hiểu đạo là hiểu đạo nào ? Tại sao lại
phải "đội lông và đeo sừng ?". Ở dưới thì có cõi địa
ngục, cõi ngạ quỷ, cõi súc sinh. Bởi vì trên dưới khác nhau,
không thể nói một cách đồng đều hai chữ hiểu đạo. Tất nhiên
thông thường mà nói, hiểu đạo là muốn chi ra khỏi sống chết, ra
khỏi ba cõi, điều đó lại phải thành đạo để tu hành.
Nếu là đạo dễ tu hành thì bất cứ người nào chỉ
cần phát nguyện cầu sinh ở cõi Tịnh độ Cực Lạc Tây phương A Di
Đà là có thể ra khỏi ba cõi. Đạo khó tu hành, khó thực hiện
là đạo Bồ Tát, khó làm mà có thể làm, khó bỏ mà có thể
bỏ, khó chịu đựng mà có thể chịu đựng và phải trải qua ba A
tăng kỳ kiếp lớn mới có thể ra khỏi ba cõi, đó là con đường
thông thường mà Bồ Tát nói chung trở thành Phật. Chỉ cần có
lòng tin vững vàng, tâm nguyện chính xác, mục tiêu cuối cùng không
thay đổi thì không cần thiết phải lo lắng sợ hãi, đọa xuống cõi
dưới lại càng không cần thiết phải sợ hiện tượng sống chết
"đội lông và đeo sừng".
Trong quá trình tu hành, Chư Phật và Bồ Tát thường
thích ứng với nhu cầu của chúng sinh mà hiện thành những chân
tướng và hình tượng khác nhau. Vì vậy, trong Kinh "Bản Sinh
Đàm" có ghi chép Đức Phật Thích Ca khi còn làm Bồ Tát đã
từng làm nhiều loại động vật, đã độ nhiều chúng sinh trong nhiều
loại động vật. Thiền sư Phổ Nguyện Nam Truyền trong lịch sử thiền
tông Trung Quốc cũng nói rằng sau khi chết sẽ đến thôn làng dưới
núi để làm con trâu đực. Do vậy, làm một người tu hành chân
chính thì chỉ biết nỗ lực tu hành, còn như việc có rời khỏi ba
cõi hay không thì nên có thái độ chỉ quan tâm đến cày ruộng,
không lưu ý đến thu hoạch.
Người lo sợ "đội lông và đeo sừng" không
dám tu hành, những kẻ rêu rao đời này mà không hiểu đạo thì
phải "đội lông và đeo sừng" không phải là những Phật
tử chân chính, càng không cảm nhận được lòng mong muốn quan tâm
của Đại thừa Phật giáo. Quan niệm này làm trở ngại nhiều
người xuất gia tu hành, khiến cho nhiều người xuất gia cảm thấy
buồn rầu và thất vọng, khiến cho họ trở nên ưu tư, tư lợi nóng
vội muốn hiểu đạo, không thể có nguyện vọng làm lợi cho chúng
sinh, làm lành mạnh xã hội. Vì vậy, Phật giáo bị người ta cho là
tiêu cực, trốn tránh, bi quan. Lúc đầu quan niệm "đời này
không hiểu đạo bị "đội lông và đeo sừng" vốn không phải
xuất phát từ Phật giáo mà là từ âm mưu phá hoại Tam Bảo. Bởi
vì ngay khi Đức Phật còn tại thế, Ngài cũng không yêu cầu tất
cả các tăng chúng xuất gia đều phải lập tức thành đạt, do đó
theo con đường bình thường do Đức Phật vạch ra thì không luyến
tiếc sống chết và cũng không sợ sống chết. Bọn trái giáo manh
tâm phá hoại Phật giáo, bản thân không xuất gia mà xuất gia tu
đạo cũng không chứng được đạo lại còn nhận của cúng dàng
thì tất nhiên phải làm trâu ngựa để trả nợ.
Cuộc sống của tăng ni xuất gia so với người thường
thì thanh đạm hơn, khổ hơn. Họ quan tâm tới tín đồ, chăm lo phục
vụ chùa chiền, chỉ hưởng thụ những điều cần thiết, sao lại buộc
họ kiếp sau biến thành trâu ngựa để trả nợ ? Ngoài lập trường
thù địch tăng ni ra, quan niệm trên đầy thực tế không có căn cứ
lý luận vững vàng nào cả. Cho nên có thể nói rằng điều đó
là ác độc, như câu nói được lưu truyền là "trước cửa
địa ngục đầy rẫy các vị tu hành". Lúc còn tại thế, Đức
Phật Thíchh Ca đã đề ra việc Tỳ kheo khất thực, gọi là "hóa
duyên", lấy hình tượng khất thực để tiếp xúc với các tín
đồ tại gia và cầu nguyện cho họ. Bản thân hình tượng xuất gia có
thể để giáo hóa. Chẳng lẽ lại nào bằng công đức đó giống
như phương thức dùng sức lao động của mình để mưu cầu điều cần
thiết cho mình hay sao ?
Xét về mặt lập trường tôn giáo thì người xuất
gia ở chùa không được tiếp xúc với thế tục. Ngày ngày họ
không ngừng tiến hành các khóa tụng cầu nguyện cho hạnh phúc của
xã hội, nhân loại chúng sinh thế giới, công đức của họ là vô
thường. Vì vậy, trong cuốn "Kinh công đức xuất gia" có nói
: "Một ngày xuất gia có vô lượng công đức", huống hồ con
người đã phát lời nguyện to lớn suốt đời xuất gia ! Do đó
xuất gia tu hành là công việc nhiều đời, nhiều kiếp, không phải
vì cấp tốc như kiểu khát nước mới đào giếng, không cần thiết
phải làm ngay gấp rút trong một đời người.
Nếu đời này không chấm dứt được sống chết thì
còn có hai con đường có thể đi :
1) Dùng sức mạnh lời thề nguyện của Di Đà để
cầu xin vãng sinh ở Tây phương.
2) Dùng lời nguyện của chính mình để tu hành trong
nhiều kiếp. Chỉ cần lòng tin được kiên cố, lời thề nguyện không
lơi lỏng thì có thể đảm bảo tiến bước trên con đường tu hành.
Nhưng do lúc ban đầu mới phát tâm, có khi lòng tin
không đầy đủ phát nguyện không mạnh mẽ, tu hành không có yếu
lĩnh nên cần phải phát nguyện tu hành, hướng tới việc xuất gia.
Xuất gia thì những vướng mắc ít hơn so với tại gia, những trở
ngại lại càng ít. Song điều đó không bảo đảm được rằng trong
cuộc sống tương lai sẽ vĩnh viễn không bị đọa vào ba cõi ác. Nhưng
so với người tu tại gia thì khả năng đọa vào ba cõi thì ít hơn.
[^]
Tư tưởng địa ngục đã có ở Ấn
Độ trước khi Thế Tôn Thích Ca ra đời. Còn ở Trung Quốc, trước
khi Phật giáo truyền vào cũng đã có quan điểm "Sau khi chết, con
người xuống suối vàng". Đạo Cơ Đốc ở phương Tây cũng đề
cập đến lúc tận thế, những người không tin đạo Cơ Đốc, đặc
biệt là những người không được đạo Cơ Đốc yêu thương phải
đọa xuống địa ngục. Như vậy, tư tưởng địa ngục là tín ngưỡng
chung của tôn giáo loài người. Nhưng việc miêu tả và quan niệm
đối với địa ngục do khu vực, thời đại và bối cảnh văn hóa
khác nhau, nên khác nhau. Đó là vì lòng tin của các dân tộc, các
tôn giáo không giống nhau, cảnh tượng đối với địa ngục khác
nhau. Đối với tôn giáo này, thì người này được công nhận có
thể lên thiên đường nhưng đối với tôn giáo khác thì anh ta phải
đọa xuống địa ngục.
Địa ngục mà kinh Phật Ấn Độ nói gồm có 8 địa
ngục nóng, 8 địa ngục lạnh; mỗi nơi lại có 16 tầng địa ngục. Tám
địa ngục lạnh, tám địa ngục nóng là những địa ngục căn bản,
mười sáu tầng địa ngục là những địa ngục gần cạnh. Lại có
những địa ngục cô độc ở giữa những ngọn núi, dưới cây,
trên không. Ngoài ra còn có tên mười tám địa ngục nữa.
Phật giáo mô tả địa ngục trong kinh "Tạp A
Hàm" quyển 48 là địa ngục lửa đỏ. Việc mô tả địa ngục một
cách tỉ mỉ được thấy trong kinh "Trường A Hàm", quyển 19,
trong "Lập thế A tì đàm luận", trong "Tạp A tỳ đàm tâm
luận", "Đại tỳ bà sa luận", "Câu xá luận" v.v...
Dân gian Trung Quốc tin rằng sau khi chết phải qua sự
xử án của thập điện Diêm Vương, mỗi điện đều có những địa
ngục và hình phạt khác nhau. Đó là do kinh Phật ở Ấn Độ lưu
truyền nhưng không có căn cứ mà căn cứ vào kinh thập vương
được lưu truyền trong dân gian Trung Quốc. Nghe nói đó là do Tạng
Xuyên ở chùa Đại Thánh từ ở thành đô truyền ra. Đạo giáo
cũng nói đến 10 điện và 138 địa ngục.
Nguồn gốc của những loại tín ngưỡng đó là không
ngoài những điều mà người ta cảm thấy khi nằm mộng khi bói toán,
giáng linh, khi những người chết sống lại nói ra. Cái tên Diêm
Vương bắt nguồn từ "Lê Câu Vệ Đà" của Ấn Độ thời
kỳ đầu. Còn quan niệm về 10 điện (thập điện) là do tín ngưỡng
của người Trung Quốc sau này có liên quan đến trật tự tư pháp
của thời đại quân chủ, đến chức trách của các Ty trưởng, các
cấp tòa án. Có tòa án Diêm Vương 10 điện thì cũng như có viên
trí huyện, tri phủ, thượng thư, thậm chí ông vua tham gia xét hỏi.
Còn cảnh tượng địa ngục thì cũng tùy hoàn cảnh từng người mà
hình dung khác nhau. Theo người Trung Quốc xa xưa thì trong địa ngục
không có người da đen Châu Phi và người da trắng Âu Mỹ. Do thời
điểm, phong tục nên quan điểm về địa ngục cũng khác nhau. Đức
Phật nói : "Vạn pháp duy thức, tam giới duy tâm". Trong nội
tâm của chúng sinh thì địa ngục là có thực, nhưng không phải là
tất cả đều giống nhau, không thể phủ nhận sự tồn tại của địa
ngục. Nhưng không thể được câu nệ, chấp trước với truyền
thuyết của các loại địa ngục.
Trong kinh Phật có dẫn chứng các loại thí dụ về
việc đọa xuống địa ngục. Kinh Phật chỉ rõ "phạm 5 tội sau đây
thì bị đọa xuống địa ngục : giết cha, giết mẹ, giết A la hán, làm
chảy máu thân thể của Đức Phật, phá hòa hợp của chúng
tăng". Tỉ dụ như người em họ của Phật là Đề-bà-đạt-đa
cùng đồng bọn bị đọa xuống địa ngục dần dần khiến người ta có
quan niệm rằng hễ có lỗi lầm dù nặng hay nhẹ đều bị sa đọa địa
ngục. Còn về lỗi lầm phạm giới, phá giới của Tỳ kheo và Tỳ
kheo ni thì chỉ có một số lỗi lầm hết sức quan trọng không thể ăn
năn hối lỗi mới xuống địa ngục. Không thể ăn năn hối lỗi tức
là phạm vào giới xúc phạm đến thân thể mà bị đuổi ra khỏi
tăng đoàn và bị nhà nước xử tử hình. Ăn năn hối lỗi tức
là sám hối đối với nhiều người, với một số người, đối
với một người mà sám hối là tinh thần trách nhiệm, lương tâm
của bản thân mình. Trong luận của tăng ni cũng nói, phạm tội thì
phải sám hối, sám hối thì an lạc. Lại nói : "Có giới mà có
thể phá giới là Bồ Tát, không có giới mà phạm giới là Ngoại
đạo". Tất cả đều không khẳng định quan niệm hễ phá giới là
phải xuống địa ngục.
Tội lỗi lại phân thành giới tội và tính tội. Tính
tội là bản thân tạo nên hành vi tội ác, là có tội dù là thọ
giới hay không thọ giới. Hễ phạm tội là phải chịu tội. Giới
tội là sau khi thọ giới thì tăng cường giữ giới, lập công
đức. Nếu phạm giới thì phải chịu giới tội ngoài tính tội ra.
Giới tội là chỉ việc giữ giới có công đức, hễ phạm giới
là chịu tội báo. Giữ giới là đối với tất cả chúng sinh nên
công đức là vô lượng. Phạm giới là đối với một số ít
chúng sinh, cho nên tội phá giới tuy lớn nhưng không lớn hơn công
đức giữ giới.
Thọ giới có công năng ràng buộc, hối lỗi có công
năng rửa sạch cái tâm của mình. Tội thì có tội nặng, tội nhẹ.
Người phạm vào giới tội và tính tội quá nặng thì đọa xuống
địa ngục. Tuy chỉ có nội bộ Kinh "Mục Liên vấn kinh" mới
xuất bản sau này có nhấn mạnh mọi việc đều có thể sa vào địa
ngục, đó là điều trong kinh A Hàm trước đây và trong luật chưa bao
giờ thấy, nếu không thì dễ làm cho người ta hiểu lầm. Không tin
Phật, không học Phật còn không bị đọa xuống địa ngục thế mà tin
Phật, học Phật lại dễ dàng xuống địa ngục thì ai dám tin Phật,
học Phật, tu hành nữa.
Câu nói : "Có nhiều vị tăng trước cửa địa
ngục" không phải câu của Phật giáo cũng không phải của Đạo
giáo mà tự nơi miệng của bọn ông đồng, bà cốt, linh môi của
một số trai giáo sau ra đời nhà Minh truyền ra. Những môn đồ trai
giáo đều là người tại gia. Bọn họ cắt xén một vài danh từ và
quan niệm của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo hình thành nên tín
ngưỡng dân gian như tôn giáo Tân Hưng và Kết Xã bí mật. Do họ
thuộc về tổ chức tôn giáo tại gia, do sự bài bác các tôn giáo
khác và để tiếp nhận những quyền lợi của các tín đồ, nên họ
không thể không có thái độ thù hằn đối địch với các chư tăng
và đạo sĩ xuất gia. Họ tung ra khẩu hiệu "Người theo đạo rơi
vào nhà lửa", cổ vũ khuyến khích người phàm tục tu hành thì
dễ dàng đắc đạo lên trời, bịa đặt ra những khó khăn, những
điều mờ ám thối nát của người xuất gia tu hành, tung ra quan niệm
nhiều chư tăng phải đọa địa ngục. Bọn họ rỉ tai, truyền miệng
"trước cửa địa ngục có nhiều vị tăng" để bôi nhọ hình
tượng người tu hành và cũng để dọa dẫm người ưu tú xuất gia
tu hành. Câu nói đó không phải từ kinh Phật mà ra nên không cần
phải lưu tâm làm gì, chẳng qua đó chỉ là chuyện bịa đặt của
những tín đồ trai giáo nhằm làm ô nhục hai tôn giáo Phật giáo
và Đạo giáo.
Đời Dân Quốc năm thứ 9, ở huyện Nhĩ Nguyên Tây
Biên Côn Minh, Vân Nam, có mấy người theo trai giáo đã xuất bản
cuốn "Đổng Minh bảo ký" trong đó họ đã cực lực chỉ
trích các chư tăng không tuân thủ các quy định, bịa đặt ra chuyện
Hòa thượng rơi xuống địa ngục chịu hình phạt. Câu chuyện này cũng
có trong cuốn "Thiện Đạo điếu trầm" của Tống Quan Vũ ở
viện nghiên cứu trung ương. Họ Tống tuy chưa thừa nhận mình là tín
đồ của Nhất quán đạo nhưng trong cuốn sách đó, hễ nơi nào đụng
đến Phật giáo, đến hòa thượng là có thái độ công kích, chửi
bới rất cay nghiệt, phủ định giá trị đạo đức của người xuất
gia tu hành.
Nên biết rằng, hễ có người là có tệ nạn, trong
chư tăng, khó mà không có những người phá giới, phạm giới.
Đức Phật Thích Ca đề ra giới luật là để đề phong phạm giớí
luật, xử phạt, xử lý.
Các nhà Nho giáo đã nói "Con người không phải
là thánh hiền, ai lại không có khuyết điểm, không có lỗi
lầm". Người phàm phu xuất gia trong giai đoạn tu học trước khi
thành bậc thánh hiền, do không thanh tịnh nên phải giữ giới, thọ
giới, đó là khởi điểm của việc tu hành, ngã xuống thì bò dậy,
phạm giới thì sám hối. Đó là việc thường tình. Các tín đồ trai
giáo không chịu sự ràng buộc của giới xuất gia lại còn phỉ báng
người xuất gia giữ giới không nghiêm, thổi phòng tội ác phạm
giới của người xuất gia, dã tâm của họ thật là rõ ràng.
---
o0o
---
| Mục
Lục |
|