| ...... ... |
. |
HỌC PHẬT QUẦN NGHI
(Giải thích những nghi vấn trong Phật
học)
Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học dịch
Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm
---o0o---
Phần D
[Câu hỏi 31 - 40]
|
[31] Quan
điểm của Phật giáo đối với linh môi như thế nào ?
[32] Quan
điểm của Phật giáo đối với thần thông và quyền năng siêu nhân
[33]
Ngũ nhãn (5 con mắt) là gì ?
[34] Quan
niệm thọ ký của Phật giáo như thế nào ?
[35] Phật
có phải là vạn năng hay không ?
[36] Sau
khi thành Phật, còn thọ báo hay không ?
[37] Trước
độ chúng sanh, hay là trước thành Phật đã ?
[38] Vì
sao Phật phải độ chúng sanh ?
[39]
Kết thiện duyên rộng rãi là nghĩa thế nào ?
[40] Ý
nghĩa của kết duyên và liễu duyên
|
Từ thời cổ đại, linh môi là nam
thì gọi là ông đồng (Wizard), là nữ thì gọi là bà cốt (Witchi).
Danh từ tôn giáo gọi là thầy phù thủy (sorcier) cũng gọi là pháp
sư chữa bệnh (medicine man), gọi là thuật sĩ (magician). Ở Xibêri và
Bắc Á, ở Alasca, gọi là Shaman. Các danh từ trên nhằm chỉ một
loại người tin là có thần thông, có thể tiếp xúc với quỷ,
với thần v.v
Họ có khả năng dùng quỷ thần này để xua đuổi
quỷ thần khác hoặc là để nhờ quỷ thần giúp đỡ cho những
người nhất định, giúp họ khắc phục khó khăn trong cuộc sống hằng
ngày hay là đáp ứng những ước muốn của họ. Vì vậy, đối với
những nhược điểm tâm lý hay sinh lý của con người, họ có
những quan hệ hiểu biết nhất định. Từ khi có loài người đến nay
đã có sự hoạt động của họ.
Loại linh môi cao cấp được gọi là Tế sư, là Tiên
tri, Thiên sứ, hay là Thánh và họ trở thành trung tâm của tín
ngưỡng các tín đồ tôn giáo.
Vào thời kỳ đạo Gia-tô chiếm ưu thế ở châu Âu,
các linh môi ông đồng bà cốt thuộc các đạo giáo khác đều bị
tiêu diệt gần hết. Ở Trung Quốc, bọn phù thủy, bà cốt ông đồng
thường hay tác oai tác quái, là nguồn tai họa của nhân dân, cho
nên Khổng Tử có chủ trương không bàn tới "quái lực loạn
thần". Vì sao gọi linh môi là "quái lực loạn thần" ?
Đó là vì sức mạnh linh thiêng của chúng không xuất phát từ một
lý do nào hết, thế giới quỷ thần không có một tiêu chuẩn đạo
đức hay trật tự nhất định nào hết. Thông thường chúng nó dạy
người làm điều thiện nhưng một khi có mâu thuẫn, xung đột quyền
lợi với bọn phù thủy và linh môi thì chúng phao đồn, bịa đặc
mọi chuyện, làm điên đảo phải trái, mê hoặc nhân tâm. Vì vậy,
cho nên từ xưa đến nay tín ngưỡng linh môi của tôn giáo dân gian
ở Trung Quốc tuy có lúc chìm lúc nổi, nhưng chưa bao giờ thịnh đạt
cả. Theo lập trường Phật giáo làm điều thiện, tích lũy phúc
đức là nhờ giữ giới, bố thí mà được phúc báo ở cõi
Trời, cõi người. Theo quan điểm nhân quả thì gieo nhân lành được
quả lành, gieo nhân ác được quả ác. Nếu gặp tai nạn, mắc bệnh
v.v
thì phương pháp tốt nhất là sám hối, tích đức giữ tin
lành, nói lời hay làm việc tốt. Đó là nhờ tu phúc, làm lành
mà được che chở, phù hộ của chư Phật, Bồ Tát và các thiện
thần hộ pháp chứ không cần thông qua linh môi, để nhờ quỷ lành
đuổi quỷ dữ, thần lành đuổi thần ác.
Linh môi đúng là có tác dụng nhưng tác dụng của
nó chỉ là tạm thời giống như khoét thịt mình đắp vào vết thương
của mình vậy, chứ không phải thực sự giải quyết được vấn
đề. Cầu sự giúp đỡ của linh môi, nhìn bề ngoài thì hình như
vấn đề được giải quyết, nhưng thực chất thì mâu thuẫn, vết
thương ngày càng được khoét sâu thêm, cũng như hút thuốc phiện
hay chích moócphin, càng say càng đắm. Những người dân bình thường
nhiều khi rất khó tỉnh táo trong vấn đề này. Cũng như con cá kình
ngoài biển, tìm không ra thức ăn phải gặm cái sừng của mình cho
đỡ đói. Đó là biện pháp khi không tìm ra biện pháp. Đó là con
đường chết bởi vì làm trái với quy luật nhân quả và quy luật
tự nhiên.
Cầu linh môi, đôi khi cũng gặp may nhưng đó chỉ là
huyễn giác mà thôi. Người học Phật không những không được
làm linh môi, cũng không được gần gũi với linh môi, mà phải
dựa vào sự chỉ đạo của Phật pháp, tự mình nỗ lực, tránh ác,
hướng thiện, tự mình tạo ra tiền đồ sáng lạn cho mình.
Sức mạnh của linh môi là đến từ quỷ thần, mà
quỷ thần đi đến không lường, khi cầu được vị thần này, khi cầu
được vị thần kia. Nếu quỷ thần bỏ linh môi mà đi, thì linh môi
trở thành bất lực, vô năng hơn cả người bình thường nữa. Linh
môi bình thường đã giúp người trị bệnh, tiêu tai, trừ loạn
v.v
Nếu bỗng chốc quỷ thần bỏ linh môi mà đi, thì linh môi lập
tức chịu ác báo trừng phát. Chính vì sợ quỷ thần bỏ đi nên linh
môi thường xuyên bày đặt mọi phương tiện, nghi thức để thỉnh
cầu quỷ thần, nhằm mục đích quỷ thần phù hộ.
[^]
Phật giáo thừa nhận có phép thần
thông. Phàm phu cũng có thể chứng được năm phép thần thông.
Bậc Thánh xuất thế chứng được sáu phép thần thông (lục thông).
Đức Phật có ba minh, sáu thông.
Năm thần thông là : Túc mạng thông, biết
được đời sống quá khứ. Hai là Thiên nhãn thông, biết
được đời vị lai, thấy được xa ngoài tầm nhìn của mắt thịt. Ba
là Tha tâm thông, biết được hoạt động tâm niệm của
người khác. Bốn là Thiên nhĩ thông, nghe được những âm
thanh ngoài tầm nghe bình thường. Năm là Thần túc thông, tức
là có thể bay nhanh, bay xa, đi lại trong nháy mắt. Năm phép thần
thông nói trên đều là phép hữu vị, hữu lậu, do trình độ dụng
công mà phạm vi hoạt động có thể rộng hẹp, thời gian duy trì có
thể dài hay ngắn khác nhau. Năm thần thông không có quan hệ với
đạo giải thoát, tất nhiên đó cũng không phải là đạo Bồ Tát.
Vì vậy, bậc Thánh phải cầu cho được Lậu tận thông.
Lậu tận thông là phá được ngã chấp chứng
được Niết-bàn. Tiểu thừa là A-la-hán, đại thừa là Bồ tát sơ
địa, và từ Thất địa, trở lên. Chỉ có Phật là chứng
được ba minh tức là Thiên nhãn minh, Túc mạng minh và Lậu tận
minh.
Đó là vì chỉ duy nhất có sức mạnh thần thông của
Phật là triệt để, cứu cánh, viên mãn, vô ngại, là phương tiện
để độ chúng sinh chứ không phải để thi thố phép lạ. Một số
người tu ngoại đạo, nhờ cảm ứng với quỷ thần mà sai khiến
được quỷ thần hay là bị quỷ thần sai khiến, cho rằng chứng
được ba minh sáu thông. Đó là điều hết sức ấu trĩ và nguy
hiểm.
Thần thông đòi hỏi những phép tu nhất định. Có
phép thần thông nhờ tu định mà chứng được. Có phép thần thông
nhờ trì chú mà chứng được. Tu định mà chứng được thần
thông, trước hết là nhờ tập trung sức chú ý, tăng cường sức
mạnh của tâm, dùng tâm niệm làm cho các quan năng của thân mình
tiếp xúc, giao tiếp với từ lực và điện năng của vũ trụ, đạt
tới một trình độ nào thì phát sinh ra thần thông. Mọi việc đều
diễn ra trong thế giới vật chất. Không có điều kiện vật chất,
phép thần thông sẽ không thể thi thố, biểu hiện được, cũng
không thể luyện thành được. Cho nên, nói cho đúng đạo lý thì
các nhà duy vật cũng có thể chứng được thần thông.
Còn trì chú mà chứng được thần thông là nhờ
trì một câu chú hay là trì một số câu chú nhất định mà cảm
thông với quỷ thần, sai khiến quỷ thần hay bị quỷ thần sai khiến.
Sức mạnh của chú như chúng tôi đã giới thiệu ở một chương
riêng, là ở chỗ nó đại biểu cho uy lực của một số quỷ thần
nhất định nên trì chú có tác dụng cảm ứng những quỷ thần đó.
Nếu so sánh hai loại biện pháp chứng được thần
thông trên đây thì có thể kết luận : Trong biện pháp thứ nhất
nếu định lực sút kém thì phép thần cũng mất. Trong biện pháp
thứ hai nếu quỷ thần bỏ đi hoặc nếu phạm điều cấm k?thì phép
thần thông cũng mất. Sức mạnh của quỷ thần có thể biểu hiện
theo hai phương thức : một là dựa vào quán năng thần kinh của
người mà xuất hiện. Hai là thông tin nói nhỏ vào tai người.
Phương thức thứ nhất và thứ hai đều do cảm ứng mà được,
chứ không phải tự mình chứng được thần thông. Những phương
thức cảm ứng thông qua quan năng thần kinh dễ làm cho người ngộ
nhận là mình có thần thông.
Bởi vì, thần thông không thể đi ngược lý nhân
quả, không thể thay đổi những sự việc đã rồi, mà chỉ có thể
dự báo được tin tức tương lai hoặc tin tức từ nơi xa. Do đó,
mà chỉ có khả năng tạm thời chống đỡ hay lẫn tránh sự cố.
Thần thông cũng chỉ là một trong những hiện tượng tự nhiên,
không thể đi ngược với quy luật tự nhiên. Vì vậy mà người có
phép thần thông, ngoài việc làm những việc dị lạ để mê hoặc
người ra, không thể giúp ích gì cho tình hình hỗn loạn của xã hội,
cũng không làm cho nhân tâm bớt phần lo lắng bàng hoàng. Ngược
lại, người đam mê phép thân thông sẽ tách rời cuộc sống bình
thường. Vì vậy, khi còn tại thế, Đức Phật không cho phép đệ
tử lạm dụng phép thần thông. Các đệ tử A-la-hán, không phải vị
nào cũng có thần thông. Dùng thần thông có thể nhất thời cảm
hóa chúng sinh, nhưng không thể nhiếp hóa chúng sinh lâu dài được.
Trong hàng ngũ tỳ-khiêu giỏi thần thông nhất có
Đại-Mục-Kiền-Liên. Trong hàng ngũ tỳ-khiêu-ni, thần thông đệ
nhất là Liên-Hoa-Sắc. Thế nhưng, Tôn giả Mục-Kiền-Liên bị ngoại
đạo dùng gậy đập chết. Còn Tỳ-khiêu-ni Liên-Hoa-Sắc thì bị gậy
sắt của Đề-Bà-Đạt-Đa đánh chết. Chính vì vậy mà các vị Tổ-sư
qua các đời ở Ấn Độ cũng như ở Trung Quốc đều rất ít dùng
thần thông để truyền bá Phật giáo.
Như mọi người đều biết, tại cao nguyên Tây Tạng
trong núi cao rừng sâu, có những người tu theo Phật giáo, tập
thiền định và chứng được các phép thần thông. Trong họ, có
người có khả năng gọi gió, làm mưa, rắc hạt đầu thành binh
tướng, có thể phi kiếm chém chết người ở cách xa muôn dặm.
Thế nhưng, trong lịch sử của Phật giáo Tây Tạng đã xảy ra pháp
nạn một vài lần, Phật giáo bị bài xích và tiêu diệt, thần thông
mất hiệu nghiệm.
Ngay ở Đài Loan, hiện nay cũng không ít người chứng
được ba minh sáu thông, thế nhưng đảo này hầu như năm nào cũng
có bão tố động đất, lũ lụt và những tệ nạn lưu manh trộm
cướp, thổ phỉ gây rối loạn cho xã hội. Các vị có phép thần
thông đã làm gì cho Đài Loan sống an bình, tránh được thiên tai.
Xem thế mới biết, sức mạnh của nghiệp, cộng nghiệp
và biệt nghiệp, là khó chống đỡ. Mê tín phép thần thông của
quỷ thần chỉ làm cho tình hình càng khó khăn phức tạp thêm, tài
sản càng bị tổn thất nhiều thêm, hao tốn nhiều thời gian và tinh
lực hơn. Vì vậy, mà Khổng Tử không chịu nói chuyện "Quái
lực loạn thần". Trong thời đại xã hội văn minh và trí thức
phổ cập ngày nay, phải lấy Phật giáo chính tín để mở mang trí
tuệ, không nên đam mê phép thần thông kỳ lạ. Bởi vì, trên thực
tế đó cũng chỉ là huyễn thuật của hiện tượng quỷ thần mà
thôi.
[^]
Chúng ta thấy trên một số ảnh,
tượng Phật giáo có những mặt người có ba con mắt, tức là ở
giữa hai mắt có thêm một mắt nữa. Thực ra, người không thể có
ba mắt. Con mắt thứ ba chỉ có ý nghĩa tượng trưng, nghĩa là ngoài
hai mắt thật ra, còn có mắt của tâm (tâm nhãn). Ý nghĩa của tâm
nhãn có sâu có nông. Ý nghĩa nông cạn của tâm nhãn chỉ hoạt
động tư tưởng của con người thông thường. Về ý nghĩa thâm sâu
của tâm nhãn thì phải nói ngũ nhãn (năm mắt). Theo thuyết ngũ
nhãn thì ngoài con mắt thật ra, còn có bốn loại tâm nhãn nữa,
với trình độ cao thấp khác nhau.
Cái gọi là ngũ nhãn, chỉ các loại công năng khảo
sát sự vật và hiện tượng từ đầu đến cuối, từ gốc đến
ngọn trong quá trình tu đạo, từ địa vị phàm phu cho tới quả vị
Phật. Có người gọi mắt là cái cửa trí tuệ, là cửa sổ của
linh hồn. Con mắt giúp phân biệt sự vật, tăng trưởng tri thức.
Công phu tu trì càng cao thì phạm vi của tâm nhãn càng mở rộng. Mắt
thật của phàm phu là do cha mẹ sinh ra, nên tầm nhìn, phạm vi nhìn bị
hạn chế. Những vật quá nhỏ, quá lớn, quá xa, quá gần đều
không nhìn thấy, sáng quá hay tối quá cũng không nhìn thấy. Nếu
chứng được thiên nhãn thì trong thế giới vật chất, có thể nhìn
một cách tự tại, không bị hạn chế bởi khoảng cách, thể tích và
ánh sáng.
Các cõi Trời cũng có thứ bậc, trình độ cao thấp
được chia thành Địa Cư Thiên, Không Cư Thiên và Thiền Định Thiên.
Loài Trời ở các cõi Địa Cư Thiên tức là các loại quỷ thần
phúc đức đối tượng của tín ngưỡng dân gian. Bốn Thiên Vương,
các Thiện Thần ở cõi Trời Đao Lợi, các loài trời ở các cõi
trời Không Cư Thiên tức là các cõi trời thiện thần dục giới
từ Dạ Ma Thiên đến cõi trời Tha Hóa tự tại. Còn Thiền Định
Thiên gồm 22 cõi trời Sắc giới và Vô sắc giới. Thứ bậc và
trình độ càng cao thì công năng của thiên nhãn càng lớn. Nói
công năng của thiên nhãn thì ngoài việc không có sự hạn chế
càng không có sự ngăn cách chướng ngại, không cần có ánh sáng
phản chiếu mà chỉ cần tác dụng sức tinh thần mà thôi. Thiên nhãn
nhờ tu chứng mà có hay nhờ phúc báo mà có. Các quỷ thần nói
chung đều có thiên nhãn, ít hay nhiều, trình độ cao hay thấp. Đây
là trường hợp có phúc báo mà được. Đó là do quỷ thần
không bị sự ràng buộc của thân xác chỉ có hoạt động của sức
mạnh linh thiêng cho nên ít bị vật thể gây chướng ngại. Các linh
môi nói chung có thiên nhãn do dựa vào quỷ thần cảm ứng có thể
thấy những sự vật mà con người không thể thấy được. Người
ta có thiên nhãn nhờ có tu thiền định. Tuy nhiên mục đích của tu
thiền định không phải là để có thiên nhãn. Tuy rằng, có những
phương pháp chuyên tu thần thông nhưng tu được thiên nhãn chưa chắc
chắn đã nhập được thiền định.
Ngoài những công năng kể trên, thiên nhãn còn có
thể thấy được những hiện tượng, sự kiện xảy ra. Đó là do
hiện tượng nào phát sinh cũng có quan hệ nhân quả của nó. Đã
có nghiệp nhân tạo ra, thì tất nhiên có quả báo. Dù hiện tượng
xảy ra nhưng những lực lượng tạo ra hiện tượng đã sớm hình
thành, và nếu không có nhân tố nào khác tác động vào, thì hiện
tượng đó tất yếu sẽ xảy ra. Vì vậy, người có thiên nhãn có
thể biết được chuyện vị lai. Năng lực thiên nhãn càng mạnh càng
có khả năng thấy xa và chính xác. Vì sao nói độ chính xác của
thiên nhãn ? Đây là do thiên nhãn cũng không hoàn toàn đáng tin
cậy, bởi vì nhân tố mới luôn xuất hiện làm cho sự việc dự
báo có thể không xảy ra hoặc là tuy có thể xảy ra nhưng biến
dạng. Vạn pháp là do duyên sinh, duyên biến thì các pháp cũng biến.
Vì vậy Phật pháp không chấp trước vào thiên nhãn, cũng không
khuyến khích người ta tu tập để có thiên nhãn.
Cái gọi là ngũ nhãn (năm mắt) tức là ngoài mắt
thịt và thiên nhãn ra, còn có mắt trí tuệ (tuệ nhãn), mắt pháp
(pháp mãn), và mắt Phật (Phật nhãn). Tuệ nhãn là con mắt trí tuệ.
Các vị A-la-hán đều chứng được tuệ nhãn, thấy rõ 12 nhân duyên
và sự luân hồi sinh tử thoát khỏi vòng sống chết luân hồi,
không còn bị thân tâm ràng buộc, lìa năm uẩn, vượt ba cõi. Trong
thế gian cũng dùng trí tuệ, nhưng với nghĩa trí tuệ thế gian, còn
chấp ngã. Còn tuệ nhãn của bậc A-la-hán là vô ngã, không còn
chấp trước.
Còn Pháp nhãn (con mắt pháp) của các bậc Bồ Tát
từ Sơ địa trở lên thì có khả năng thấy được bản tính, tức
pháp tính của vạn pháp, thân chứng được một phần pháp thân
của Phật. Pháp thân của Phật phổ biến khắp nơi, khắp mọi lúc,
không phải là sắc, không phải là không có sắc, không phải là
có tướng, không phải là không có tướng v.v
Nói rằng, tất
cả là pháp thân, cũng có thể tất cả đều không phải là pháp
thân. Đối với người chấp thủ, thì tất cả đều không phải pháp
thân, nhưng đối với người không có chấp thủ, thì tất cả đều
là pháp thân. Vị Bồ Tát có đầy đủ pháp mãn được gọi là
đại sĩ pháp thân, đó là những điều mà phàm phu không thể
tưởng tượng được.
Có hai loại vô ngã : nhân vô ngã và pháp vô ngã.
A-la-hán chứng được lý nhân vô ngã, bỏ được nhân ngã chấp.
Còn chứng pháp vô ngã, lìa bỏ pháp ngã chấp, là Bồ Tát từ Sơ
địa trở lên. A-la-hán bỏ được nhân quả chấp, chứng được
tuệ nhãn vượt khỏi ba cõi, Bồ Tát tiến xa thêm một bước nữa,
lìa bỏ pháp ngã chấp, chứng được pháp thân, chứng được pháp
nhãn, tuy ở trong ba cõi nhưng không bị hạn chế bởi sống chết nên
được gọi là Đại sĩ pháp nhân. Có một số ngoại đạo tự xưng
là Phật pháp, luôn tuyên bố mình đã chứng thực tuệ nhãn hay
pháp nhãn. Kỳ thực, ngay cả thiên nhãn họ cũng không chứng
được, mà chỉ là tác dụng phản xạ của vận động khí mạch, hay
là sức mạnh linh thiêng cảm ứng của quỷ thần mà thôi. Còn Phật
nhãn thì có tất cả công năng của bốn loại nhãn kể trên chính
là toàn bộ trí tuệ, là bản thân "đại viên cảnh trí"
(gương trí tuệ lớn) cũng gọi là đại viên giác, cũng gọi là vô
thượng bồ đề.
[^]
Thọ ký (ryakarama) là danh từ chuyên
dụng của Phật giáo, là một trong 12 bộ kinh. Ý nghĩa của thọ ký
là dự báo chúng sinh phát tâm bồ-đề, nhất định sẽ thành Phật.
Ngày xưa, trong thời đại chế độ quân chủ, người con trai đầu
tiên của vua phần lớn được chọn làm Thái tử gọi là thọ ký.
Trong buổi lễ, ở Ấn Độ thường lấy nước bốn đại dương rưới
lên đầu. Thái tử (gọi là Quán đỉnh), nhằm tuyên cáo cho thiên
hạ biết Thái tử nhận lễ Quán đỉnh sẽ thống trị đất nước và
nhân dân trong bốn biển.
Trong kinh Phật, thọ ký là Phật dự báo thời gian
các đệ tử của Ngài sẽ thành Phật, chứng đạo Bồ-đề. Thí dụ,
trong kinh "Pháp Hoa" có một phẩm gọi là "phẩm thọ
ký". Trong phẩm này Phật thọ ký cho 500 vị A-la-hán sẽ thành
Phật. Thậm chí, cả Đề-Bà-Đạt-Đa, tội ác tày trời cũng được
thọ ký. Tư tưởng thọ ký của Phật pháp là ai ai cũng được
thành Phật. Không kể người nào, nếu tu hành theo Phật đạo, thì
đều căn cứ vào căn tính và pháp môn tu hành của người đó,
thái độ siêng năng hay lười nhác mà phán đoán người đó sẽ
thành Phật nhanh hay chậm.
Ai có đủ tư cách để được Phật thọ ký ? Chắc
chắn đó phải là vị Bồ Tát đã đạt trình độ bất thoái. Trong
kinh "Pháp Hoa", các vị A-la-hán được Phật thọ ký thực ra
đều là các vị Bồ Tát đại thừa. Nhưng những người theo Đại
thừa, những người tu theo Tiểu thừa chứng quả Thánh từ Sơ quả
trở lên cũng được thọ ký sẽ thành A-la-hán. Đã chứng sơ quả
(Tu Đà Hoàn) thì sau bảy lần sinh tử luân hồi sẽ chứng quả
A-la-hán. Nếu chứng quả Thánh thứ ba thì chỉ lên cõi Trời một
lần rồi chứng quả A-la-hán, ở đấy không còn ai trở lại nhân
gian nữa. Vì vậy, Phật có thể thấy tâm hành và lịch trình tu hành
của tất cả chúng sinh rõ ràng như trong lòng bàn tay. Khi hành giả
đạt được quả vị bất thoái, thì tiến trình tương lai đã rất rõ
ràng và Phật có thể thọ ký cho hành giả đó.
Thọ ký không phải là dự báo, không phải là suy
đoán, cũng không phải là định mệnh. Người thọ ký cũng như
người hướng dẫn, cũng như người giáo sư có thể tuyên bố với
học sinh mới vào học, học xong mấy năm thì sẽ tốt nghiệp. Trong
chuyện này, không có chút gì thần bí cả.
Thiền tông Trung Quốc, trước đây không có chuyện
thọ ký và nghi thức thọ ký. Nhưng gần đây, trong tùng lâm tu viện
để chọn người kế vị trụ trì chùa hay tu viện sau khi chọn lựa xong
cũng tiến hành theo nghi thức thọ ký. Vì ngày xưa, việc truyền pháp
thọ ký thực ra là truyền tâm pháp, lấy tâm ấn chứng tâm, không
cần có nghi thức, cũng không cần có văn tự chứng minh. Mà
người được truyền tâm pháp cũng không nhất định phải lãnh
chức trụ trì tu viện. Những năm về sau này, trong thiền lâm Trung
Quốc, khi thọ ký, có ban giấy tờ chứng chỉ, những người được
thọ ký cũng không nhất thiết là những người có kinh nghiệm
chứng ngộ. Mục đích của thọ ký là để hợp thức hóa vị trụ
trì của người được lựa chọn. Có thể nói, phần lớn là
được thọ ký trên danh nghĩa, không phải là thọ ký thực sự,
đã mất đi ý nghĩa ban đầu là truyền tâm pháp.
Một vài vị tu hành có kinh nghiệm thần bí thường tổ
chức nghi thức thọ ký cho người khác. Nếu chỉ là việc dự báo
những việc xảy ra trong sinh hoạt bình thường thì đó chỉ là việc
làm của bọn linh môi, ông đồng, bà cốt không phải bàn ở đây.
Nếu có người thọ ký cho các đệ tử của mình thành Phật hay
A-la-hán. Thì đó là đại vọng ngữ, họ không phải là Phật, sao
lại có thể thọ ký cho người khác thành Phật, hay là thánh
A-la-hán được ? Nếu họ tự xưng mình là Phật nhưng trong kinh Phật
không thấy Đức Phật Thích Ca dự báo trước khi Đức Phật Di-Lặc
xuất hiện, có một vị Phật nào khác giáng sinh ở thế gian này.
Đức Phật Thích Ca đã không thọ ký cho anh ta thì làm sao anh ta có
thể thọ ký cho người khác được ? Hiện nay, có nhiều người tự
xưng là Phật hay Đại Bồ Tát. Họ cũng biểu hiện thái độ từ bi
và cứu vớt chúng sinh, nhưng trong thân tâm của họ là một khối
ngã mạn lớn. Kỳ thực họ đã phủ định giáo pháp của Phật Thích
Ca, do đó không phải là Phật giáo chánh tín, thực lòng quy ngưỡng
Tam Bảo, cần phải biết phân biệt điều đó.
Các bậc đại tu hành chân chính phải sống với thân
phận như những người phàm phu bình thường. Nếu không thì rất có
thể làm bạn với ma, quỷ, thần. Đức Phật Thích Ca thường nhấn
mạnh vai trò của Phật hoạt động với thân người, và trong thế
giới loài người. Đó là vị Phật lấy nhân cách làm bổn vị, có
nhân cách kiện toàn. Vì lý do đó, đại sư Thái Hư đề xướng
thuyết "Nhân thành tức Phật thành".
[^]
Chúng ta có thể lấy một câu để
chứng minh trí tuệ và phúc đức của Phật là sâu hay nông, lớn
hay nhỏ. Đó là câu "Vô tri thức toàn tri. Vô năng tức toàn
năng". Vô tri không giống như ngu si. Vô năng không giống như bất
lực, hữu và vô là hai mặt của cùng một thể. Hữu có ở trong
vô, vô bao hàm cả hữu. Chỉ có "Vô" mới có thể bao gồm
toàn thể. Còn "Hữu", dù sâu rộng to lớn như thế nào
cũng đều là hữu hạn, không thể nào bao gồm tất cả được.
Phật là con người phúc đức, trí tuệ vẹn toàn cho
nên không lấy hình tướng để hình dung được, cũng không thể lấy
hữu vô để phán đoán được. Nếu lấy bản thân của Phật để
nói, Phật là toàn thể, lấy toàn thể pháp giới làm thân cho nên
gọi là pháp thân. Pháp giới có khắp mọi nơi mọi lúc, pháp thân
hiện diện trong hết cả không gian, thời gian của pháp giới và sự
cảm ứng của thiện căn chúng sinh nên tùy nơi, tùy thời, dưới
những hình thức khác nhau mà biểu hiện thành hóa thân và đã là
hóa thân thì phải cục bộ, chịu sự hạn chế của thời gian, không
gian, không thể đại biểu cho toàn thể, không thể là toàn trí, toàn
năng, mà chỉ có những chúng sinh có đủ thiện căn phúc đức
mới có thể tiếp xúc và cảm nhận sự tồn tại của Pháp thân.
Nhưng đó không là bản lai diện mục của Phật. Đó chỉ là kết quả
cảm ứng của chúng sinh mà thôi. Vì vậy, kinh Pháp Hoa nói :
"Phật vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời".
Cũng tức là nói, do thiện căn của chúng sinh ở cõi Sa-bà này
cảm ứng mà Phật Thích Ca xuất hiện.
Vì vậy, kinh Pháp Hoa nói Phật Thích Ca là tích Phật.
Tích Phật là hóa thân còn thân Phật đích thực là pháp thân và
báo thân. Phật Thích Ca tất cả các hiện tượng như sinh, già, bệnh,
chết và tu đạo, thành Phật, nhập diệt. Đương nhiên đó không
phải là Phật thực sự, tức là chân Phật. Chân Phật là không
có hình tướng, mà tức là hết thảy hình tướng. Cũng tương tự
như "Thần" trong "phiếm thần luận", nhưng lại khác.
Thần trong phiếm thần luận hiện diện khắp mọi nơi, mọi lúc, thần
được mọi người thương yêu nhưng thần không thể thương yêu
người. Pháp thân của Phật cũng hạn chế chút nào có đầy đủ
tất cả mọi sức mạnh của phúc đức và trí tuệ, có thể tiếp thu
yêu cầu tất cả mọi chúng sinh và đáp ứng một cách thích đáng,
nhưng vẫn như như bất động, không có tạo tác gì hết. Vì vậy,
đứng về pháp thân và báo thân của Phật mà nói, Phật là đấng
toàn tri, toàn trí năng, mà tức là vô tri vô năng. Đứng về hóa
thân mà nói thì không như vậy. Sự toàn tri, toàn năng của Phật
không giống như trí "thượng đế vạn năng" của thần giáo,
Phật không phải là ông Vua trên một vạn ông Vua (vạn vương chi
vương), Phật không thể thay đổi nghiệp lực của chúng sinh, mà chỉ
có thể giáo hóa chúng sinh tự mình nỗ lực để thay đổi vận
mạng của mình, nhưng còn phải xem xét cả điều kiện của bản thân
chúng sinh nữa. Trong kinh Phật, có ví dụ : Lòng từ bi của Phật như
ánh sáng mặt trời chiếu khắp nơi, căn cơ chúng sinh không kể lớn
hay nhỏ đều được ánh sáng mặt trời chiếu sáng, nhưng lợi ích
tiếp thu được vẫn khác biệt rất nhiều giữa chúng sinh với nhau.
Có người mới sinh ra đã mù cả hai mắt, tuy ở trong ánh sáng mặt
trời mà không thấy ánh sáng mặt trời như thế nao ? Côn trùng
sống dưới đất, và những vi sinh vật ở nơi tối tăm, tuy cũng
trực tiếp hay gián tiếp cảm nhận được ánh sáng mặt trời, nhưng
chúng không thể biết được lợi ích của ánh sáng mặt trời là
thế nào ? Ngay cả khi Phật Thích Ca còn tại thế, tại những vùng
được Ngài giáo hóa, cũng có rất nhiều người không biết Phật
là ai ? Chư Phật ba đời, khi còn hành đạo Bồ Tát, đều phát
nguyện độ thoát hết thảy chúng sinh. Các Đức Phật tuy thành Phật
rồi nhưng vẫn còn vô lượng chúng sinh chưa được nghe biết Phật
pháp. Cho nên Phật không phải là toàn năng vậy.
Khi Phật còn tại thế, Người cũng nói là không thể
độ thoát cho những chúng sinh vô duyên không chuyển được định
nghiệp của chúng sinh. Vì vậy, khi Phật Thích Ca còn tại thế, tuy vua
Lưu Ly xứ KoSaNa dấy binh tàn sát dòng họ Thích Ca, mà Người không
có cách nào dùng phép thần thông để ngăn chận được vụ thảm
sát. Nhưng Đức Phật có thể dùng Phật pháp dìu dắt chúng sinh tu
thiện, tu phúc, trừ tai, miễn họa. Vì vậy nói là Phật độ chúng
sinh nhưng thực ra là chúng sinh tự độ nếu không thì làm trái
với quy luật nhân quả tự nhiên.
Nói về sự toàn trí của Phật, thì Người biết rõ
quan hệ nhân duyên và nhân quả ba đời của tất cả chúng sinh, vì
khác với chúng sinh, Phật không bị sự hạn chế xa, gần, rộng, hẹp
của thời gian và không gian. Ở bất cứ nơi đâu và lúc nào,
Phật cũng biết rõ tất cả và toàn thể.
Chúng sinh nhờ có trí nhớ mà biết được quá
khứ, nhờ vào thần thông và cảm ứng, để biết được quá khứ
và vị lai. Đức Phật nhờ sự thực chứng toàn bộ mà biết rõ
tất cả, nhưng trong một thời điểm nhất định Người không thể
thuyết minh tất cả. Đối với thời gian và không gian, sự hiểu
biết của Phật là toàn diện và toàn bộ không có sự hạn chế xa
gần hay rộng hẹp, Phật có thể nói về quá khứ và vị lai của bất
cứ một chúng sinh nào, thế nhưng không thể nói hết được, dù
có trải qua vô lượng vô kiếp. Vì vậy, chỉ trừ một số ít
trường hợp ngoại lệ, được ghi trong kinh sách, còn thì Đức Phật
không thể nói hết được quá khứ vị lai của mọi chúng sinh. Phật
không nói nhiều đến chuyện vị lai và quá khứ, mà chỉ cần nắm
bắt một niệm hiện tiền. Trên thực tế trong một niệm đó, đã bao
hàm toàn bộ quá trình cho đến lúc chúng sinh thành Phật, kể cả
tâm lý thể, nắm nguyên tắc lý thể đó, khai phát trí tuệ của
tâm là có thể đạt tới mục đích toàn trí. Tuy Phật là toàn trí,
nhưng không phải là vạn năng. Vì vậy cảnh giới của Phật gọi là
không thể nghĩ bàn, không thể lấy tâm chúng sinh mà đo lường,
dùng ngôn ngữ để bàn luận được.
[^]
Đúng như vậy, thành Phật rồi cũng
vẫn còn thọ báo. "Lịch sử của các Phật Thánh và các bậc vĩ
nhân trên thế gian này, chứa đựng biết bao nhiêu sự không như
ý. Như Giê-su bị môn đồ phản bội cuối cùng phải chết đóng đinh
trên thánh giá. Khổng Tử phải nhịn đói ở đất Trần, Văn Thiên
Tường bị giết, Tổng Thống Mỹ Linh Côn và Tháng Găng Đi (Ấn Độ)
bị sát hại, Tôn Trung Sơn gặp nạn ở Luân Đôn. Phật Thích Ca
trước và sau ngày thành Phật cũng gặp nhiều tai nạn khi tu 6 năm
khổ hạnh ở trong núi Tuyết Sơn phải hàng phục Ma Vương ở gốc
cây Bồ-đề. Có lúc Phật khất thực không có người cúng dường
bị đói, bị lạnh, bị phụ nữ vu cáo, bịa đặt điều xấu, bị đệ
tử là Đề-Bà-Đạt-Đa lăn đá bị thương ở chân, bị đau đầu,
khi giòng họ Thích Ca bị sát hại. Khi sắp vào Niết-bàn, ăn phải
thức ăn độc mà đau kiết l? Phật đã như vậy, thì đệ tử Phật
chứng quả A-la-hán rồi cũng không tránh khỏi thọ báo như tôn giả
Mục-Kiền-Liên, giỏi phép thần thông hàng đầu của Phật, và tỳ
kheo ni Liên Hoa Sắc đều bị người ta đánh chết.
Tùy theo tôn giáo Đông và Tây phương khác nhau mà
có sự giải thích khác nhau về nguyên nhân thánh nhân mắc nạn.
Sự kiện thánh nhân mắc nạn biểu hiện nhân cách vĩ đại, sự
nghiệp vĩ đại của thánh nhân. Đạo Cơ Đốc nói Giê-su chết là
để chuộc tội cho loài người. Lý luận Phật giáo thì khác trên 2
điểm : Một là do sự thị hiện của pháp thân như một bài học cho
chúng sinh, khiến chúng sinh tin rằng mình cũng có thể thành Phật.
Phật là do tu đạo mà thành. Con người có khổ, vui, họa phúc thì
Phật giáng sinh làm người cũng chịu khổ, vui, họa phúc như người
vậy tuy rằng bản thân Người không có cái chướng ngại như khổ,
vui, họa phúc. Chính vì để dìu dắt chúng sinh đang khổ, vui, họa phúc
tu hành Phật pháp mà Phật thị hiện như con người nói chung.
Con người đã có thân người thì có những nhu cầu
của thân con người và những điều phải kiêng k? Nếu hai mặt đó
(nhu cầu và kiêng k? xung đột nhau thì sinh ra cái gọi là "ma
nạn". Vì vậy Mạnh Tử nói "Trời trao trách nhiệm lớn cho
người lớn, cho người nào thì làm cho họ khổ tâm chí, mệt gân
cốt". Nếu không chịu gian khổ mà vẫn giữ được quả Phật,
không gặp ma nạn mà vẫn thành Phật thì cũng không cần thiết phải
tu hành nữa, và cũng không thấy được nhân cách vĩ đại của
bậc thánh. Vì vậy, sau khi thành Phật đạo, tuy đã đủ 6 phép thần
thông, chứng đủ ba minh, Phật vẫn đi khất thực, áo mặc, thức
ăn, nơi ở, cách đi lại hoàn toàn giống như người bình thường.
Khi đệ tử hỏi, Phật cũng trả lời "Chúng sinh có khó độ
thoát không ? Thân thể có được mạnh khỏe không ?". Rất ít khi
thấy Phật dùng phép thần thông để giải quyết các vấn đề của
bản thân hay chúng sinh trong cuộc sống hàng ngày. Phật chỉ dùng trí
tuệ về các vấn đề thông dụng trong nhân gian để giải quyết các
vấn đề của nhân gian.
Nếu xét thân cuối cùng của Bồ Tát, Phật hay
A-la-hán thì từ sau khi chứng đạo, các Ngài không còn bị ràng
buộc bởi sống chết, bởi khổ đau trong ba cõi nữa, do đó mà các
Ngài phải thanh toán mọi hậu quả của những nghiệp bất thiện đã
tạo ra khi còn là phàm phu. Khi còn tại thế, Đức Phật đã quy định
người nào muốn xuất gia đều phải làm xong mọi trách nhiệm, thanh
toán mọi khoản nợ nần. Nếu phạm tội, mắc nợ không được cha
mẹ, vợ chồng đồng ý thì không được xuất gia. Hiện nay cũng
vậy, người nào muốn xuất gia đều phải làm xong mọi trách nhiệm,
thanh toán mọi nợ nần, mọi quan hệ tình cảm gia đình. Vì vậy,
trước khi thành Phật, khi còn là hậu thân Bồ Tát, vẫn phải chịu
những quả báo của sự nghiệp nhân quá khứ. Ngay sau khi thành
Phật, tuy thân của Ngài luôn luôn tự tại, không bị phiền não khổ
vui chi phối nhưng khi thân thể các Ngài một khi chưa nhập vo dư
Niết-bàn, còn hoạt động trong nhân gian thì vẫn chịu ảnh hưởng
của thế giới vật chất bên ngoài. Người phàm phu xem các Ngài
cũng có sống, có chết, già, nhưng đối với Đức Phật do tâm
được giải thoát nên có thể bị đau, bị mệt nhưng không vì vậy
mà sinh buồn bực bội. Do vậy Phật thọ báo, phàm phu thọ báo là 2
chuyện rất khác nhau, các bậc Thánh, Phật, Bồ Tát, A-la-hán vì lời
nguyện của mình mà giáng thế độ sinh, đó là hóa hiện chứ không
phải chịu nghiệp báo. Tâm của các Ngài không bị chi phối bởi các
hiện tượng bên ngoài như già, đau, chết v.v
[^]
Theo cuốn "Địa Tạng Bồ Tát bổn
nguyện kinh", và "Diêm phù chúng sinh nghiệp cảm phẩm",
thì Bồ Tát Địa Tạng Vương, trước đây vô lượng kiếp, từng
làm vua một nước nhỏ, và là bạn của ông vua khác ở nước
láng giềng. Thời bấy giờ, dân chúng của hai nước đều làm
điều ác, không làm điều thiện. Hai vua bàn nhau, thực hành các
phương tiện để giáo hóa dân chúng tránh ác, làm lành. Một vua
thì phát nguyện sớm thành Phật để giáo hóa độ chúng sinh còn
ông vua kia thì phát nguyện trước hãy độ thoát tất cả nhân dân,
khỏi khổ, được vui chứng đạo Bồ-đề, sau đó mới thành Phật.
Ông vua phát nguyện sớm thành Phật, sau này thành Phật có danh hiệu
Nhất Thiết tựu Như Lai. Còn ông vua kia chính là Bồ Tát Địa Tạng
mãi đến nay chưa thành Phật.
Do câu chuyện trên, nên có người hỏi: "Sớm tu
thành Phật trước là tốt, hay là độ thoát chúng sinh trước mới
là tốt ?" Vấn đề này tùy thuộc ở bản nguyện của mỗi cá
nhân. Phật Nhất Thiết Thành Tựu Như Lai, khi còn là quốc vương, có
phát nguyện sớm thành Phật để tế độ chúng sinh, chứ không phát
nguyện thành Phật trước độ chúng sinh sau. Sau khi thành Phật rồi,
Ngài ở lại thế gian 6 vạn kiếp, số chúng sinh được Ngài độ
thoát nhiều không kể xiết. Còn bản nguyện của Bồ Tát Địa Tạng,
khi còn là quốc vương có bản nguyện không sớm thành Phật, mà
trước độ chúng sinh nên hiện nay Ngài vẫn là Bồ Tát. Đó là do
lời nguyện của Bồ Tát Địa Tạng. Còn thông thường các vị Bồ
Tát khác đều tu hành phải trải qua 3 A tăng kỳ kiếp rồi thành
Phật.
Bồ Tát dựa vào nguyện lực mà thọ sinh, chúng sinh
thì nghiệp lực lôi kéo mà bị sinh. Để độ chúng sinh, Bồ Tát đi
đi, lại lại trong ba cõi. Để tiếp nhận tội báo và phúc báo chúng
sinh lưu chuyển trong ba cõi, Bồ Tát tuy ở trong ba cõi nhưng thân đều
tự tại, vì được giải thoát. Chúng sinh do nghiệp báo sống chết
trói buộc, nên đáng thương, nhưng Bồ Tát đã được tự do, tự
tại thì độ chúng sinh trước hay thành Phật trước thì không thành
vấn đề. Lời nguyện của Bồ Tát Địa Tạng, trong địa ngục còn có
chúng sinh thì thề chưa thành Phật. Trong hàng ngũ Bồ Tát, Ngài
được xưng thân là "Bi Nguyện Đệ Nhất".
[^]
Kinh "Kim Cương" có câu :
"Họ không phải là chúng sinh, không phải không là chúng
sinh" (Bỉ phi chúng sinh, phi bất chúng sinh). Lại có câu : "Cái
gọi là chúng sinh, Như Lai nói không phải là chúng sinh, đó là tên
gọi chúng sinh". Lại nói : "Thật ra không có chúng sinh để
Như Lai độ; nếu có chúng sinh để Như Lai độ thì Như Lai có ngã,
có người, chúng sinh thọ giả tướng". Cái gọi là độ chúng
sinh là khi Phật phát lời nguyện lớn thành Phật, tức là khi chưa
thành Phật, là tâm nguyện của vị Bồ Tát chưa thành Phật, khi còn
có trung tâm tự ngã. Như vậy khi còn là phàm phu hay Bồ Tát, khi
chưa thành Phật thì còn có chúng sinh có thể độ.
Khi đã thành Phật rồi thì không còn chúng sinh, cũng
không còn có Phật. Nếu không thì còn có sự đối lập, còn có
quan hệ độ và bị độ thì chưa phải là viên mãn, chưa chứng
được toàn thể pháp thân. Một khi đã chứng được toàn thể
pháp thân thì sẽ không còn trong, ngoài, không có cái kia, có cái
này. Cũng như một giọt nước từ biển mà ra rồi trở về biển.
Theo góc độ biển lớn mà xét giọt nước nào cũng thuộc về toàn
thể biển cả. Chỉ khi đứng ở góc độ giọt nước mà xét thì
mới có sự phân biệt sông, nước mưa, sương tuyết, băng giá
v.v
Vì vậy kinh "Kim Cương" lại nói : "Thiện nam tử,
thiện nữ nhân, người phát tâm bồ đề nên có tâm nghĩ như sau :
Ta sẽ diệt độ tất cả chúng sinh, diệt độ tất cả chúng sinh rồi
mà thực ra không có một chúng sinh nào diệt độ".
Các vị Bồ Tát khi chưa thành Phật đều phát tâm độ
chúng sinh nên có chúng sinh để độ. Bởi vì đứng trên lập
trường Bồ Tát mà xét, nhất định là có chúng sinh để độ. Vì
Bồ Tát từ Sơ địa trở lên tuy đã biết không có chúng sinh để
độ thoát, nhưng vẫn còn độ chúng sinh. Từ bát địa trở lên thì
việc độ chúng sinh tiến hành một cách tự nhiên, còn tự mình thì
không còn độ chúng sinh nữa. Đến khi thành Phật rồi thì không
còn độ chúng sinh, không còn chúng sinh để độ, chỉ có chúng sinh
tự độ lấy mình. Do thiện căn, phúc đức, nhân duyên nhiều hay ít
mà cảm ứng được Phật và Bồ Tát hóa hiện để cứu độ mình.
Đó là Phật, Bồ Tát trong tâm chúng sinh, không phải là bản thân
Phật và Bồ Tát.
Thiện căn là cái vốn có ở trong chúng sinh, nhưng vì
không được bồi dưỡng cho nên không nên được tăng trưởng,
không hiển hiện. Càng tinh tiến cầu pháp, càng cảm ứng được
lòng từ bi nhiếp hóa của chư Phật, Bồ Tát. Đó gọi là tự
cứu, tất có người cứu. Chúng sinh có yêu cầu thì mới có sự
cảm ứng, hóa hiện của Phật và Bồ Tát, cũng như đánh chuông
vậy, gõ nhẹ thì chuông kêu nhẹ, gõ mạnh thì chuông kêu vang. Phải
có người đánh chuông thì chuông mới kêu. Chúng sinh không tự
mình nỗ lực tăng trưởng thiện căn thì dù cho pháp thân của Phật
có mặt khắp nơi cũng không thể giúp được gì,.
Tăng trưởng thiện căn là phát tâm Bồ-đề, là
chúng sinh tự cầu thành Phật, được Phật cảm ứng giáo hóa. Sau
khi thành Phật rồi cũng sẽ tiếp thu sự cảm ứng chúng sinh chứ
không phải Phật đi cảm ứng chúng sinh. Các Đức Phật là những
bậc toàn tri, biết hoàn toàn, biết tất cả. Vì vậy gọi Phật là
chính biến tri giác. Chúng sinh có cầu, chư Phật tất cảm ứng.
Không thể lấy tri thức phân tích và quy nạp của
người bình thường để đo lường chính biến tri giác của Phật, vì
cái biết của Phật là toàn bộ, cùng khắp, thấu triệt, còn cái
biết phân tích và quy nạp của chúng sinh là hữu hạn.
Nhân gian thấy Phật Thích Ca về mặt lý luận mà nói
chỉ là thấy sự hóa thân của Phật. Ở với loài người thì Phật
giống thân người, ở với loài trời thì giống thân loài trời,
ở với bất cứ loài chúng sinh nào đều giống chúng sinh loài ấy
để đem lại lợi ích cho chúng sinh. Hóa thân của Phật có thể hiển
hiện thành muôn vàn thân đi khắp mọi nơi, nhưng khắp pháp thân
của Phật vẫn như như bất động.
[^]
Duyên nghĩa là quan hệ. Kiến lập quan
hệ nghĩa là kết duyên. Hai người vốn có quan hệ giao tiếp với nhau
gọi là có duyên. Quan hệ lợi mình, lợi người thì gọi là thiện
duyên. Quan hệ không đụng chạm tới dục vọng cá nhân gọi là tịnh
duyên. Tạo ra nhiều duyên và tịnh duyên thì gọi là rộng rãi kết
thiện duyên.
Do đó, có người sau khi tin Phật, học Phật bèn gặp
người là kết duyên, suốt ngày tiếp khách, làm các công việc hộ
pháp, thuyết pháp, hoằng pháp một cách vô nguyên tắc. Bỏ tiền,
bỏ công mà không có phương pháp tu hành cũng không có nơi nương
tựa ổn định tuy trên hình thức anh ta đúng là kết duyên với rất
nhiều người, nhưng trên thực tế, đối với đạo pháp đều không
có tác dụng hỗ trợ gì gọi là sâu sắc và có hiệu quả. Tuy
rằng đâu cũng có mặt anh ta, nhưng không phải đâu đâu cũng cần
tới anh ta. Tuy rằng, có nhiều người tiếp xúc với anh nhưng lại
rất ít người được anh ta giúp ích thiết thực.
Lời kết thiện duyên như vậy cũng giống như đem một
bát cơm bố thí cho một người thì người đó có thể tạm ăn no,
đem một tạ gạo bố thí cho một người thì người đó có thể sống
được nữa năm. Trái lại, đem một bát gạo bố thí cho 100 người
sắp chết đói, thì sẽ không có người nào được cứu sống cả.
Nhưng dùng một bát cơm bố thí cho một người, thì người đó có
thể sống được một ngày. Như vậy, dùng một đấu gạo bố thí cho
một vạn người đói, thì đó cũng là kết duyên rộng rãi, nhưng
kết quả là không ai có thể sống thêm một ngày. Do đó việc kết
duyên rộng rãi phải tiến hành có nguyên tắc, phải lượng sức
mà làm. Nếu có sức bố thí cho toàn thế giới mà ngân quỹ còn
đủ thì hãy bố thí không hạn chế, không phân biệt, thực sự bình
đẳng. Còn nếu chỉ có lực lượng ít ỏi, thì phải biết tập trung
vào một số đối tượng có nhu cầu cấp bách, và thân cận với
mình, thí dụ người nhà, bà con thân thuộc, thầy dạy, bạn bè
v.v
Nếu không thì việc kết duyên rộng rãi không thực tế, kém
hiệu quả.
Nếu đứng trên lập trường Tam Bảo mà nói, thì kết
duyên rộng rãi có nghĩa là bố thí không phân biệt, bình đẳng.
Tức là dùng Phật giáo để giáo hóa chúng sinh, không phân biệt
người giàu hay người nghèo, có quyền thế lớn hay nhỏ, địa vị cao
hay thấp, có học hay không có học, hễ có ai yêu cầu thì giúp. Vì
vậy mà Tam Bảo tiếp thu mọi sự cúng dường như không chê ít, chê
nhiều, xấu hay tốt. Đối với mọi người cúng dường như Tam Bảo
đều tiếp thu với lòng từ bi, hoan hỷ. Khi Phật còn tại thế các
đệ tử xuất gia đã hành động như vậy. Ngày ngày cầm bát đi
khất thực, đến mọi nhà không kể giàu nghèo, cho bao nhiêu, cho gì
cũng nhận, miễn là đầy bát thì thôi. Đó chính là kết duyên
rộng rãi với tâm bình đẳng. Bố thí cho người khác là kết thiện
duyên, tiếp thu bố thí cũng là kết thiện duyên.
Nói chung, tài lực vật liệu, thế lực, trí lực và
thời gian của mọi người có hạn, nếu bố thí, kết thiện duyên
một cách không nguyên tắc thì không những hiệu quả kém mà tự
mình gây khó khăn cho mình một cách vô nghĩa lý. Có khi điều đó
làm tài sản gia đình kiệt quệ, sức khỏe bản thân bị hao tổn, mà
kết quả lại làm người khác oán giận, hoặc sinh ra nghi k?đối
với mình, mất cả tín tâm và đạo tâm. Trong kinh "Di giáo",
Đức Phật đã từng dạy rằng : Tỳ kheo khất thực, cũng như ong
hút mật nơi hoa, không làm tổn hại đến sắc và hương vị của hoa.
Vì vậy, cư sĩ muốn kết thiện duyên, phải biết lượng sức mình,
không nên vì cúng dường Tam Bảo mà bị khốn khổ, đáng lẽ tiến
mà hóa ra lùi, có phải là ngu si hay không ? Vì vậy hộ trì Tam Bảo
cũng phải có trọng tâm, trọng điểm, có nguyên tắc, phải biết
phân biệt hoãn cấp, nặng nhẹ, gần xa, thân, sơ, cấp bách hay từ
từ v.v
Kỳ thực, hộ trì, bố thí một cách có nguyên tắc,
có trọng điểm cũng là một phương thức kết thiện duyên một cách
rộng rãi. Thí dụ, hỗ trợ cho một người thành Phật và Phật độ
thoát được nhiều chúng sinh, và như vậy, một cách gián tiếp anh
cũng kết duyên được với nhiều chúng sinh. Vì vậy trong kinh "42
chương" có câu : "Bố thí cho 100 người ăn, không bằng bố
thí cho một người lương thiện ăn, bố thí cho một ngàn người
lương thiện ăn, không bằng bố thí cho một người giữ 5 giới; bố
thí cho một vạn người giữ 5 giới, không bằng bố thí cho một vị Tu
đà hoàn (bậc Thánh đạt sơ quả) v.v
Bố thí cho một vị đại
giải thoát đã đạt tới trình độ vô tu vô chứng thì công đức
còn nhiều hơn nữa". Từ đó, mà suy ra thì cúng dường, bố
thí, hộ trì Tam Bảo có thể chia thành hai trọng điểm :
- Hộ trì cho những nhân vật và sự nghiệp của họ, có ảnh hưởng
tới hiện tại và vị lai của Phật giáo, là kết duyên rộng rãi.
- Đối với những nhân vật Phật giáo và sự nghiệp của họ, tuy
không có tiếng tăm, nhưng chúng ta nhận thấy đáng tôn kính và
chúng ta hoan hỷ hộ trì thì đó cũng có nghĩa là kết duyên rộng
rãi.
Do hai điểm đó mà thấy rằng tán thành và hộ trì
những nhân vật Phật giáo nổi danh, không nhất thiết thêu hoa trên
gấm, mà cúng dường, bố thí cho những nhân vật Phật giáo không
nổi danh cũng không phải là vứt than hồng trên tuyết lạnh. Điều
quan trọng nhất là xử sự, hành động có trọng điểm, có trí
tuệ.
[^]
Phật giáo chỉ nói kết duyên và
liễu duyên, nghĩa là thanh toán, rũ sạch ác nghiệp. Ý nghĩa của
kết duyên là : Đối với người không có thiện duyên hay thiện
duyên không đầy đủ thì giúp họ chủ động hay là bị động,
được sự giúp đỡ về thể lực, cũng như được sự hướng
dẫn về mặt Phật giáo để họ hết sức kết duyên rộng rãi với
mọi người, mọi chúng sinh mà mình tiếp xúc được là việc nên
làm. Nhưng kết duyên không phải là đầu tư, đừng có nghĩ chuyện
đền ơn trả nghĩa. Bản thân kết thiện duyên rộng rãi, ảnh hưởng
tới người khác cũng kết thiện duyên rộng rãi, đó chính là bố
thí, ít thì cũng đem lại hạnh phúc cho xã hội, nơi mình đang sống,
nhiều thì có thể ảnh hưởng tới cả nước và toàn thế giới,
tạo ra Tịnh độ trên cõi đời.
Còn từ "Liễu duyên", chính là quan niệm nhân
quả bị tín ngưỡng dân gian nhận thức sai lệch đi mà hình thành.
Thiện có thiện báo, ác có ác báo, đó là đúng, anh đối với
tôi tốt, tôi đối với anh cũng tốt. Điều đó là đúng. Vì nam
nữ có quan hệ ân ái với nhau mà hai người thấy cần chung sống
với nhau thành vợ thành chồng, người đời gọi là "Liễu
duyên". Các tiểu thuyết võ hiệp, thần quái, các truyền thuyết
nói đến chuyện ba đời, bảy đời làm vợ chồng. Làm vợ chồng
một đời chưa đủ, phải hết ba đời mới có thể chia tay. Có
những thầy số nói rằng, đã có nhân duyên kiếp trước thì phải
thành vợ chồng, nếu không thì sẽ xảy ra biến cố trong gia đình
hoặc tính mạng bị nguy hiểm.
Theo quan điểm Phật pháp thì quan hệ nam nữ đã có
ân, oán thì kéo dài mãi, không phải một đời mà nhiều đời. Vì
vậy mà Kinh "Phạm Võng" nói : "Tất cả đàn ông đều
là cha của ta, tất cả đàn bà đều là mẹ của ta". Như vậy có
nghĩa là bất cứ người nào khác giới tính đều từng là vợ hay
chồng của mình, quan hệ ân oán đó không thể nào chấm dứt kết
liễu được. Cặp vợ chồng có ân mà ít có oán thực là ít có
vậy. Huống hồ, chỉ có ân mà không có oán, thì là đắm tình, mà
đã đắm tình thì khó bỏ nhau. Không phải vợ chồng ba đời, nhân
duyên bảy đời mà là quan hệ ân oán vô lượng kiếp. Nhưng chỉ
có những đôi nam nữ, nhân duyên đã thành thục, nghiệp lực lại
tương đương mới có thể thành vợ chồng. Nếu nam nữ lấy nhau gọi
là để "Liễu duyên" mà đi ngược lại luân lý xã hội thì
không những luật pháp thế gian không cho phép, mà Phật pháp cũng
không chấp nhận. Những chuyện như vậy gây ảnh hưởng không tốt
đến nhiều người, tạo ra bất cứ nhân duyên nào dẫn tới hậu
quả xấu đều nên xa lánh, sao lại còn dấn thân vào, vừa hại
mình, vừa hại người ? Bởi vì quan hệ nam nữ không thích hợp, đem
lại tai họa cho cả hai bên, cho người thứ ba, và cho nhiều người
khác nữa, vì vậy gọi là truyền thuyết "Liễu duyên", thực
ra, đã gây hại cho biết bao người rồi.
Oan gia nên giải, chứ không nên kết. Quan hệ nam nữ
không chính đáng, không thích hợp, không được đạo đức xã hội
chấp nhận nên xem oan gia gặp nhau, là sự thể hiện của nghiệp ác.
Vì vậy, đừng có nghe theo quan điểm "Liễu duyên" mà phải tin
ở quan điểm "nghiệp". Nghĩa là có nợ với người thì
phải trả. Gặp phải nghịch cảnh thì phải gắng hết sức mà khắc
phục, trả nợ càng được nhiều, thì gánh nặng càng bớt đi.
Chúng tôi không cho rằng, quan hệ nam nữ gây ra ác
nghiệp. Trên thực tế, quan hệ vợ chồng chính đáng là nền tảng
của luân lý xã hội. Nhưng nếu cao rao về "Liễu duyên" mà
ảnh hưởng tới phong tục thuần lương thì đó là tạo nghiệp ác,
không những đời sau không thể là vợ chồng, mà còn phải chịu
ác báo đáng sợ.
Người xuất gia, không kể là nam hay nữ thường dễ
bị người khác giới tính hấp dẫn, thu hút. Người xuất gia cũng
vẫn là người phàm tục, chưa phải là bậc A-la-hán đã ly dục. Vì
vậy, Kinh Phật nói tình dục nam nữ là điều đáng sợ nhất. Nếu
xét nhân duyên quá khứ của mọi cá nhân chúng ta, thì mỗi người
chúng ta đều là bà con quyến thuộc của vô lượng chúng sinh, nếu
muốn "Liễu duyên" thì tất phải thành vợ chồng với tất
cả mọi chúng sinh, mà như vậy, sẽ không còn cơ hội để xuất gia
nữa. Nếu xuất gia mà còn tin ở thuyết "Liễu duyên" thì sẽ
không ai có thể xuất gia cả. Người xuất gia phải dựa vào niềm tin
và lời nguyện của mình, phải xem mối quan hệ nam nữ là biểu hiện
nhân duyên ác, quả báo xấu, không để cho nó trói buộc mình mãi
mãi. Phải dùng lưỡi gươm trí tuệ chặt đứt sự đắm tình nam
nữ, như vậy mới là chân thực hành "Liễu duyên" đối
với người xuất gia theo đạo Phật.
---
o0o
---
| Mục
Lục |
Phần A | Phần B | Phần C | Phần D |
| Phần
E | Phần F | Phần G | Phụ Lục|
--- o0o ---
Chân thành cảm ơn ĐĐ Thích Nhật Từ đã gởi tặng phiên bản điện tử tập sách này.
Vi tính : Hải Hạnh
Trình
bày
:
Nhị
Tường
Cập
nhật
ngày:
01-05-2002
|
|