| ...... ... |
. |
HỌC PHẬT QUẦN NGHI
(Giải thích những nghi vấn trong Phật
học)
Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học dịch
Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm
---o0o---
Phần C
[Câu hỏi 21 - 30]
|
[21]
Làm thế nào để người ta tin luật nhân quả trong 3 đời ?
[22] Quan
điểm của Phật giáo về vấn đề phong thủy, tướng mạng
[23]
Niệm Phật một tiếng, tội giảm như cát sông- có đúng không ?
[24] Mang
nghiệp vãng sinh có phải là trốn nợ không ?
[25] Thế
nào gọi là niệm Phật nhất tâm bất loạn ?
[26]
Người niệm Phật thấy tướng tốt thì làm thế nào ?
[27] Khi
mệnh chung thấy điềm lành có phải là triệu chứng của giải thoát
không ?
[28]
Làm thế nào để phân biệt ma cảnh với sự tiếp dẫn lúc lâm
chung ?
[29]
Thân trung ấm là gì ?
[30] Thuyết
anh linh gây họa căn cứ hay không ?
|
21. LÀM THẾ NÀO ĐỂ NGƯỜI TA TIN LUẬT NHÂN QUẢ TRONG BA
ĐỜI (QUÁ KHỨ, HIỆN TẠI, VỊ LAI) ?
Thông thường cho rằng, muốn hiểu
được nhân quả trong ba đời thì phải có túc mạng thông để biết
các sự vật thuộc đời quá khứ, phải có thiên nhãn thông để
biết các chuyện vị lai.
Đó là một quan điểm hình như đúng mà thực ra là
sai.
Ba đời là đời quá khứ, hiện tại và vị lai về
mặt thời gian có thể dài, có thể ngắn, có thể xa, gần. Dài thì
tính bằng a tăng kỳ kiếp như a tăng kỳ kiếp đời quá khứ, a tăng
kỳ kiếp đời hiện tại, a tăng kỳ kiếp đời vị lai. Tỉ dụ : chúng
sinh phát tâm tu thành Phật phải trải qua ba a tăng kỳ kiếp lớn,
kiếp a tăng kỳ kiếp là kiếp dài vô lượng không thể kể xiết
được. Đơn vị chiều dài thời gian thứ hai là đại kiếp: đại
kiếp quá khứ, hiện tại, vị lai. Một đơn vị nữa thường được
nói tới là một đời người, kiếp trước, kiếp sau, kiếp hiện
tại. Nếu theo những đơn vị thời gian nhỏ nhất thì tính theo sát na
hiện tại, sát na quá khứ, sát na vị lai (sát na là đơn vị thời
gian nhỏ nhất, có thể tưởng tượng được, có thể tính bằng
phần trăm giây). Vì vậy nếu kiếp hiện tại, quá khứ, vị lai theo ba
đời theo nhân quả ba đời là hiểu một cách quá hạn hẹp.
Một người đã tin ở luật nhân quả trong đời hiện
tại thì cũng phải tin ở luật nhân quả các đời quá khứ, và vị
lai. Song những sự kiện chứng minh luật nhân quả trong thời hiện
tại thì có thể kiểm nghiệm được, còn đối với đời vị lai hay
đời quá khứ thì không kiểm nghiệm được và khó tiếp thu, khó
tin, do đó mà cầu ở sự giúp đỡ của phép thần thông hay quỷ
thần đợi đến khi tự mắt mình thấy những hiện tượng xảy trong
đời rồi mới chịu tin.
Sức mạnh của thần thông và quỷ thần tuy có thực,
nhưng rất hữu hạn dù giúp chúng ta biết thời quá khứ hay vị lai
chăng nữa, thì cũng có thể biết trong một thời gian hết sức ngắn
ngủi mà thôi, làm thế nào mà biết hết tất cả mọi chuyện trong
cuộc đời quá khứ và vị lai vô cùng vô tận được. Do vậy cũng
không thể thanh toán được mọi nỗi nghi ngờ, vấn đề nhân quả ba
đời vẫn tồn tại như cũ, không giải quyết được.
Biện pháp của Phật giáo nhằm giải quyết vấn đề
này, không phải là dùng phép thần thông hay sức mạnh của quỷ
thần, mà chỉ dùng hai câu :
"Dục tri quá khứ sự
Kim sinh thọ giả thị
Dục tri vị lai sự
Kim sinh tố giả thị"
Nghĩa là "Muốn biết chuyện quá khứ, qua tình hình
chịu báo đời này thì rõ. Muốn biết chuyện vị lai, qua việc làm
đời này thì rõ".
Đời sống hiện tại là quá khứ của đời vị lai.
Vị lai của hiện tại là hiện tại của vị lai. Quá khứ của hiện
tại là hiện tại của quá khứ. Do đó điều quan trọng là phải
hiểu thật rõ nắm thật vững giờ phút của hiện tại tức là
đồng thời nắm vững cả lý nhân quả của ba đời rồi. Còn quay
lại tìm hiểu quá khứ hay là tìm cách biết trước vị lai, chỉ làm
mất thời giờ hiện tại, gây rối rắm và lãng phí giờ phút hiện
tại, đã không ích gì cho hiện tại mà cũng vô bổ cho tương lai.
Hiện tại gặp vận may chính là do trong quá khứ tạo ra
nhân lành. Hiện tại gặp điều bất hạnh, cũng chính là do trong quá
khứ đã gieo nhân ác. Vận may trong tương lai cũng chính là do trong
quá khứ đã làm điều lành cộng thêm sự cố gắng hiện nay, vận
không may trong tương lai cũng chính là do trong quá khứ đã gieo nhân
ác và hiện tại do lười biếng và tiếp tục làm ác. Vận mạng
đều nằm trong quá khứ, hiện tại và tương lai của mình đều do ở
nghiệp ác hay thiện, siêng năng hay lười biếng trong hiện tại mà
nghiệp ác có thể chuyển biến, vận may cũng có thể bị đánh mất.
Có người cho rằng vì không thấy được quá khứ
và tương lai, nên không tin là có chuyện quá khứ và tương lai.
Thực ra, nếu nói không thấy nên không tin là có thì trong hiện
tại, có nhiều chuyện mắt không thấy thì cũng không tin hay sao ? Tỉ
dụ : Lịch sử dân tộc, gia phả giòng họ, sự tích tổ tiên, ông
bà v.v
đều ghi những chuyện rất ít người được thấy, nhưng
lẽ nào không tin ? Có mấy ai hiện nay được thấy ông tổ, ông
tằng của mình ?
Cái thân xác của bản thân mình được di truyền từ ông tằng,
ông tổ và sẽ được di truyền đến vạn đời con cháu sau này.
Đó là nhân quả ba đời của thân xác. Ngoài thân xác vật chất
còn có linh hồn, tinh thần hay thần thức (từ Phật giáo) lưu chuyển.
Theo quan điểm duy vật thì người chết như ngọn đèn tắt, ngoài vật
chất ra, không có tinh thần. Luận điểm duy vật đối với người
bình thường dễ tạo ra tâm lý và thái độ thiếu trách nhiệm với
hành vi của mình, thậm chí dẫn đến những hành vi tội ác giết
người hay tàn sát hàng loạt vì lợi ích cá nhân hay lợi ích
đẳng cấp. Cho nên niềm tin ở luật nhân quả ba đời ở sự lưu
chuyển của thần thức là an toàn nhất. Nếu cả nhân loại mà có
niềm tin như thế, thì người người kính trọng nhau, nhường nhịn nhau,
cùng tồn tại, cùng phồn vinh. Nếu không tin như thế thì thiện ác
không được phân biệt, thế giới tương lai sẽ trở thành hỗn
loạn, bất an.
[^]
22. QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI CÁC VẤN
ĐỀ PHONG THỦY, TƯỚNG MẠNG
Các nguyên lý xem tướng, xem sao,
địa lý phong thủy có từ rất sớm. Theo truyền thuyết của các nhà
chiêm tinh học thì nguyên lý đó có từ thời thái cổ, đồng
thời với sự hình thành của trời đất, vũ trụ. Quan điểm của
Phật giáo là không khẳng định, không phủ định thuật xem số mạng
và phong thủy. Những thuật ấy cũng có một số đạo lý nhưng không
phải là đạo lý tuyệt đối, có thể tin nhưng không mê tín, cũng
có thể không tin, mà không tin cũng không gây ra tai nạn lớn gì.
Đức Phật Thích Ca cấm các đệ tử không được
làm các thuật xem sao, xem địa lý, bói toán, nhưng cũng không phản
đối sự tồn tại của các môn thuật đó.
Thuật chiêm tinh nói về các mối liên hệ giữa sự
vận hành của các thiên thể và vị trí trái đất chúng ta. Do có
mối quan hệ đó nên có sự biến đổi về khí hậu và thời tiết,
phối hợp vị trí địa lý hoàn cảnh cư trú của nhân vật, với
ngày tháng năm sinh, rồi cộng trừ chia mà thành nguyên tắc mang lý
tám chữ của thời điểm sinh. Tỉ dụ sinh năm ngưu vào mùa đông
ở Phương Bắc thì vận mệnh sẽ không tốt, vì ngưu sinh vào mùa
đông mà lại ở phương Bắc lấy cỏ đâu mà ăn ? Nếu sinh năm
ngưu ở vào tiết xuân ở phương Nam, lại gần núi, gần sông thì
chắc chắn là vận mệnh tốt.
Thế nhưng theo quan điểm Phật giáo thì vấn đề họa,
phú, may mắn hay bất hạnh đều do nghiệp nhân thiện ác tạo ra từ
đời sống trước rồi đời này chịu quả báo. Lại cộng thêm sự
nỗ lực hay chây lười trong đời sống hiện tại mà thay đổi hoặc
ảnh hưởng đến vận mạng của đời này. Do nghiệp nhân khác nhau
tạo nên trong đời trước mà tiếp nhận hoàn cảnh khác nhau trong
đời này. Cái gọi là hoàn cảnh bao quát cả di truyền của cha mẹ,
bối cảnh văn hóa, văn minh nuôi dưỡng và giáo dục anh em họ
hàng, thầy dạy, bạn bè và đồng nghiệp, tất cả đều ảnh hưởng
đến vận mạng của cả một cuộc đời. Dù cho nghiệp nhân tạo ra
ở đời trước là xấu, dẫn tới hoàn cảnh hiện tại nhưng nếu
có sự tu dưỡng về mặt nội tâm, chú ý luyện tập thân thể
tốt, trau dồi thêm ý thức mở mang trí tuệ thì vận mạng cũng sẽ
biến đổi theo chiều hướng tốt. Cho nên, xem tướng chỉ thuần túy
dựa vào 8 chữ sinh ra để phán đoán vận mạng một con người, là
không có gì chắc chắn cả, nhất là đối với người có dũng khí,
có nỗ lực.
Mạng lý và tướng lý nên tách đôi ra. Mạng lý
chỉ có ý nghĩa đối với nghiệp nhân đời trước (tám chữ lúc
sinh ra). Còn tướng lý có giá trị từ sau khi sinh ra, tiếp thu phần
tướng di truyền của cha mẹ, bao gồm tướng mặt, tướng xương cốt,
tướng của giọng nói, tướng tay v.v
Mặt khác do sự rèn luyện
hoặc buông thả do tình trạng sức khỏe kể cả tâm lý có bình
thường ổn định hay không khiến cho thần tướng lúc sinh ra cùng
với quá trình cuộc đời có sự thay đổi. Đó mới là sự tổng
hòa của tướng lý. Vì vậy mạng lý không thể chuyển được, còn
tướng lý có thể chuyển biến theo tùy thời, tùy tâm của mình. Do
đó tướng không có định mệnh, tất nhiên là có thể tin và có
thể không tin.
Còn địa lý phong thủy là dựa vào ảnh hưởng của
vị trí các thiên thể và vị trí địa lý mà quyết định ảnh hưởng
tốt hay xấu, lợi hay hại đối với con người. Đó là thuộc về
tự nhiên và cũng có ý nghĩa thường thức. Thuận với tự nhiên
là được thiên thời là có lợi, trái với tự nhiên là bất
lợi. Đó là khoa học tự nhiên, là môn học mà triết gia gọi là
hình nhi hạ.
Hiện nay, người ta lại dùng các căn cứ khoa học
từ trường, từ lực để giải thích các nguyên lý về địa lý
và phong thủy. Điểm tập trung của từ lực, phương vị thuận của
từ trường, có lợi đối với thân thể con người, cũng như đối
với trạng thái tinh thần của con người. Ngược lại là không
lợi.
Trong phong thủy, thì phong là không khí, là hoạt lực
đến không trung còn thủy là nước là hoạt lực từ dưới đất,
cần thiết cho sự sinh trưởng của vạn vật. Có sự phối hợp của
phong thủy, thêm vào là vị trí địa lý thuận lợi để hấp thụ
đầy đủ ánh sáng mặt trời, phải chăng đó chính là ba yếu tố
của sinh mạng là ánh sáng mặt trời, không khí và nước ?
Ông Lý Dị Nồng, nhà địa lý học trứ danh đã nói
phải có sự phối hợp của 3 điều kiện là :
- Tích lũy phúc đức
- Tám chữ lúc sinh ra
- Địa lý phong thủy thì mới được phú quý và thọ mạng lâu dài.
Cái gọi là 8 chữ lúc sinh ra là mạng lý có từ đời trước.
Tích lũy phúc đức là sự tu dưỡng, cố gắng trong đời này, phong
thủy địa lý chỉ là một trong ba yếu tố. Nếu vận mạng xấu mà tâm
lại ác hành vi không chính đáng, phong thủy tốt thì dù cho tìm
được vị trí địa lý, vị trí này cũng sẽ bị nạn lụt hay nạn
động đất phá hoại. Ông Nông lại nói: "Ba phần phong thủy, bảy
phần cố gắng". Ý muốn nói phong thủy phải cộng thêm sự cố
gắng của con người để cải tạo hoàn cảnh. Theo quan điểm Phật
giáo, địa lý, phong thủy tuy có đạo lý nhưng không phải là đạo
lý quyết định.
Xưa nay, các vị Tổ sư thường chọn nơi núi cao, rừng
sâu, đầm lớn để xây dựng Tùng lâm, bố trí Tăng chúng ở
đó, sau này trở thành những danh sơn, thắng cảnh. Đã gọi là danh
sơn, thắng cảnh thì chắc là địa lý phong cảnh phải tốt, tuy rằng
các vị ấy chưa có ý thức chuyên nghiệp về địa lý phong thủy. Họ
có thể cải tạo địa lý, thay đổi tự nhiên tuy rằng không dùng
đến sức người. Như năm Dân Quốc thứ 25 khi Hòa Thượng Hư Vân
tu bổ lại chùa Nam Hoa của Tổ đình Tào Khê đã xảy ra các hiện
tượng tự nhiên như mưa lớn, sông đổi dòng chảy.
Khi chọn địa điểm xây dựng nhà văn hóa Phật giáo
ở Đài Bắc, bản thân tôi tự mình xem xét cảnh và chọn địa
điểm thích hợp, sau đó mời các chuyên gia đến tham khảo ý kiến.
Thấy người nào cũng nói "tốt, tốt". Tôi là người không
có trí thức về địa lý, phong thủy mà chỉ biết về nguyên lý của
vấn đề này thôi. Vì vậy, tôi vừa không tin, vừa tin. Đối với
bản thân, tôi thấy không cần phải tin. Nhưng đối với quần chúng
để họ khỏi thắc mắc nên phải mời chuyên gia phong thủy đến để
tham khảo ý kiến, điều này không có gì là sai trái.
Trên thực tế, rất ít nhà địa lý tìm ra cho mình một địa điểm
phong thủy tốt, cũng có rất ít nhà chiêm ngưỡng dùng trí thức
và kinh nghiệm của mình để thay đổi số mệnh của mình. Vì vậy, các
Phật tử nên lấy Phật pháp giáo hóa chúng sinh làm căn bản, nếu
lấy việc bói sao, xem tướng, xem phong thủy làm sự nghiệp của mình
thì sẽ lãng phí thời gian, có hại cho việc tu học chính đáng.
[^]
23. "NIỆM PHẬT MỘT TIẾNG, TỘI GIẢM NHƯ CÁT
SÔNG" CÂU NÀY CÓ ĐÚNG KHÔNG ?
Câu "Niệm Phật nhất nhanh, tội
giảm hà sa" rút ra từ trong kinh Pháp Hoa và được nói ra, theo
quan điểm pháp tâm. Lý luận giảm tội của Phật giáo khác với
thuyết chuộc tội của đạo Gia-tô. Đạo Gia-tô nói : "Chúa
Giê-su chịu đóng đinh trên thánh giá là để chuộc tội cho mọi
người, người nào tin ở Chúa Giê-su đều được miễn tội, mà
thành ra vô tội". Lại nói, không phải dựa vào hành vi thiện
hay ác để phán xét có tội hay không có tội. Một người được
lên thiên đàng hay không là do sự phán xét cuối cùng của Chúa.
Vì vậy thuyết chuộc tội của đạo Cơ Đốc có mâu thuẫn. Thượng
đế đã vì tình thương mà tạo ra con người, rồi lại chuộc tội cho
tội nguyên thủy của loài người, kết quả là chỉ có những
người được thượng đế lựa chọn mới được lên Thiên
đường, số người còn lại đều phải xuống hỏa ngục. Tình thương
và xử phạt, thiện và ác không phải căn cứ trên hành vi đạo
đức của con người mà căn cứ vào quyền năng và uy thế của
Thượng đế. Cơ Đố giáo cường điệu người có đức tin sẽ
được cứu rỗi, về mặt luân lý, đạo đức có mâu thuẫn hay
không thì không thành vấn đề.
Phật pháp không phải như vậy. Đức Phật có thể
cứu độ chúng sinh bằng cách giác ngộ, chỉ bày cho chúng sinh bỏ
ác làm lành, từ thiện hữu lậu đến thiện vô lậu, tức là
khởi đầu bằng việc đoạn trừ mọi nghiệp nhân dẫn đến ba cõi
khổ, rồi cố gắng tu phúc để sinh thiên hay sinh làm người, đó là
thiện hữu lậu. Rồi tu đạo Bồ Tát, đạo thành Phật thành thiện
vô lậu, tức là triệt để giảm tội. Kinh nói : "Tội tình vốn
không do tâm đạo, nếu tâm diệt thì tội cũng hết". Tội là do
tạo nghiệp ác mà thành, phải có ba điều kiện mới thành tội :
Một là tâm phạm tội, biết là phạm tội, biết rõ mình phạm tội.
Tỉ dụ : giết người, bày mưu giết người, biết là giết người
đích xác là giết người. Nếu thiếu một trong ba điều kiện ấy, thì
không thành trọng tội hay thành phạm tội. Quan trọng nhất trong ba
điều kiện ấy là ý niệm. Nếu không có mưu sát, cũng không biết
là giết người thì dù là có người bị giết, cũng không phạm
giới sát. Cũng như người điên cầm dao giết người, nhưng vẫn
không phạm tội giết người.
Người niệm Phật, tâm hướng về Phật, chỉ một niệm
như vậy cũng vượt khỏi ba cõi. Nếu qua niệm thứ hai mà quên niệm
Phật thì vẫn còn ở lại ba cõi. Nếu tâm niệm Phật không có
đứt đoạn thì sẽ đoạn trừ được vô lượng nghiệp ác, tội
báo, mãi mãi niệm Phật thì sẽ không còn chịu quả báo trong ba cõi
nữa.
Ý nghĩa của việc diệt tội là : Ở giai đoạn một, xa
lìa mọi nghiệp nhân ác; ở giai đoạn hai, không còn phải chịu quả
báo nữa. Không chịu quả báo cũng có hai ý nghĩa : Một là con
người đã được giải thoát tuy còn mang thân trong ba cõi, nhưng
không còn cảm thấy khổ nữa, cho nên cũng như không chịu quả báo.
Nghĩa thứ hai là hạt giống ác nghiệp, vì không có đủ nhân duyên,
cơ hội nên không hiện hành được. Cũng như hạt giống thực vật,
đặt nằm phơi nắng trên đá lâu ngày, tất nhiên sẽ bị khô héo,
mất công năng đâm chồi nảy mầm.
[^]
24. MANG NGHIỆP VÃNG SINH CÓ PHẢI LÀ TRỐN NỢ
KHÔNG ?
Mang nghiệp vãng sinh là quan điểm
của người tu pháp môn Tịnh độ, nhưng không thấy có danh từ này
trong các kinh điển về Tịnh độ. Vì vậy, cách đây vài năm, có
một cuộc bút chiến về chủ đề "Tiêu nghiệp vãng sinh và mang
nghiệp vãng sinh", của tu sĩ Du già Mật giáo và người tu Tịnh
độ. Nhưng, theo kinh "Quán vô lượng thọ" và kinh "Vô
lượng thọ" thì người phàm phu, tuy tạo nghiệp ác lớn, nếu
niệm danh hiệu Phật A-di-đà, hướng về Phật A-di-đà phát lời
nguyện lớn thì cũng được vãng sinh. Vì vậy mà giới Tịnh độ ở
Trung Quốc đề xướng thuyết "Mang nghiệp vãng sinh".
Bình thường mà nói, thì các vị Bồ Tát, do sức
mạnh lời nguyện của mình mà xuất hiện ở thế gian để cứu độ
chúng sinh, còn phàm phu thì do nghiệp lực mà phải xuất hiện ở
thế gian để chịu quả báo. Trong khi chịu quả báo lại liên tục tạo
nghiệp, dù là tạo nghiệp thiện hay ác đều không thể ra khỏi ba
cõi. Tạo nghiệp ác lớn thì bị đọa vào đường ác. Tạo nghiệp
thiện lớn thì sẽ sinh lên cõi trời hưởng phúc ở đấy. Nếu
vừa tạo nghiệp thiện vừa tạo nghiệp ác thì vừa có thể sinh làm
người hay làm quỷ thần, vừa được phúc báo, vừa chịu khổ báo.
Chỉ có những người tu hạnh giải thoát thanh tịnh ngoài việc giữ 5
giới, tu mười điều thiện ra, còn tu định, tu huệ, đoạn trừ hết
phiền não mới có thể ra khỏi sinh tử, mãi mãi vượt qua ba cõi.
Phép tu Tịnh độ là một phương tiện thuận tiện có
thể dựa vào sức mạnh thệ nguyện của Phật A-di-đà mà giải
thoát khỏi 3 cõi. Những người có niềm tin sâu sắc mà phát
nguyện vãng sinh về cõi Tịnh độ thì dù có phạm trọng tội, làm
vô số các nghiệp ác cũng có thể vãng sinh về cõi Cực lạc, sau
đó nhờ nghe pháp lâu dài, nhờ có hoàn cảnh thuận tiện chẳng
những không còn tạo nghiệp ác nữa, mà qua một thời gian dài làm
cho các hạt giống ác nghiệp dần dần bị khô héo, cằn cõi đi. Đó
là lý luận "Đeo nghiệp ác".
Tất nhiên ở cõi Tịnh độ Tây phương, tu chứng
được quả Thánh rồi sẽ trở lại cõi Sa-bà này, hiện nay nhiều
nhân tướng khác nhau, để độ chúng sinh. Bậc Thánh ấy có thể
thác vào thai mà sinh, cũng có thể biến hóa mà sinh. Nếu là khai
sinh, thì mang thân thế và chịu hoàn cảnh như các chúng sinh khác,
cũng chịu mọi sự đau khổ bức bách. Đối với chúng sinh mà nói
đó là thuộc về nghiệp báo. Nhưng các bậc Thánh đó tuy vẫn chịu
thọ báo, nhưng không lấy đó làm khổ. Cho nên tuy mang nghiệp vãng
sinh, nhưng không phải là trốn nghiệp, tuy chịu quả báo nhưng rất
khác với chúng sinh phàm phu. Như vậy có thể thấy, nếu không vãng
sinh Tịnh độ thì sẽ bị lưu chuyển mãi trong bể khổ sinh tử luân
hồi, tạo nghiệp báo rồi chịu báo, tạo nghiệp báo rồi chịu báo,
tạo nghiệp tuần hoàn mãi mãi. Còn được vãng sinh Tịnh độ thì
mang nghiệp mà đi tiêu nghiệp trở về, rồi lại trở lại thế gian
mà chịu báo. Nhưng chịu ở đây chỉ là hiện tượng không phải là
thực chất. Cho nên, dù có tin thuyết "Đeo nghiệp vãng sinh, thọ
báo để tiêu nghiệp" cũng không hại gì. Nhưng không thể so sánh
việc phàm phu tạo nghiệp thọ báo, với việc chủ động, phát nguyện
tái sinh, chịu báo để độ chúng sinh. Một bên là chủ động, một
bên là bị động.
Có một loại lý luận Mật giáo, cho rằng nhờ thực hành phép tu
bí mật, hay nhờ sự gia hộ của bậc đại tu hành nên có thể lập
tức tiêu mọi nghiệp chướng, đạt tới chỗ thân tâm thanh tịnh,
vãng sinh sang nước Phật. Thuyết này tương tự như phép chuộc tội,
miễn tội, thế tội của tôn giáo thần quyền, không phù hợp với
thuyết nhân quả nhà Phật.
[^]
25. THẾ NÀO GỌI LÀ "NIỆM PHẬT NHẤT TÂM BẤT
LOẠN" ?
Câu "Nhất tâm bất loạn" có
ở trong kinh A-di-đà. Trong kinh "Di giáo" cũng có nói tới
"Chế ngự tâm tại một nơi thì không có việc gì là không làm
được". "Nhất tâm bất loạn" là thuộc về một pháp
môn của tu định, lại gọi là "Niệm Phật tam muội" hoặc gọi
là bát châu tam muội hoặc là nhất hạnh tam muội. Trong kinh "Hoa
Nghiêm" quyển 6, phẩm "Nhập pháp giới" có nói đến 21
loại niệm Phật tam muội. Kinh A-di-đà thì nói nếu một ngày hoặc
trong bảy ngày liên tục mà chuyên trì niệm danh hiệu Phật A-di-đà
đến mức "Nhất tâm bất loạn" thì lúc lâm chung có thể
vãng sinh đến nước Cực-lạc Tây phương.
"Nhất tâm" là đối với tâm tán loạn mà
nói. Nếu một mặt miệng thì niệm danh hiệu Phật, mặt khác trong lòng
có nhiều vọng tưởng thì đó là niệm Phật tâm tán loạn. Nếu
niệm Phật mà niệm đến mức tâm với miệng khớp với nhau không
có rối loạn, danh hiệu của Phật được niệm liên tục kế tiếp
nhau, đến mức không niệm mà tự niệm ! Đó là như kinh "Lăng
Nghiêm" đã nói "Tịnh niệm tương kế" (ý niệm liên tục
không gián đoạn).
Căn cứ vào đại sư Liên Trì cuối đời nhà Minh thì
"Nhất tâm" có thể chia thành : "Sự nhất tâm",
"Sự nhất tâm và lý nhất tâm" là tâm không có tạp
niệm, tâm và miệng tương ứng với nhau, chỉ có niệm danh hiệu
Phật. Tự mình biết rằng mình đang niệm Phật, biết rằng có danh
hiệu Phật đang niệm, đó là nhất tâm niệm Phật, hoặc là toàn
thân niệm Phật. Do chuyên tâm niệm Phật nên có thể đạt tới
điều mà Thiền tông gọi là "công phu thành phiến". Cái gọi
là "lý nhất tâm" tức là tâm tương ứng với lý, tự
thấy được pháp thân của A-di-đà tức là tự tánh, Tây phương
không tách rời mình một tấc. Đó là cảnh giới hiện ra trước
mặt "tự tánh Di-đà duy tâm Tịnh độ". "Sự nhất
tâm" thuộc về mức độ thiền quán thiền định. "Lý nhất
tâm" thuộc về trình độ thiền ngộ. Đó là kết quả của việc
tu hành song đôi cả tịnh độ và thiền định. Lấy việc niệm Phật
của tịnh độ để nhập môn đạt đến mục đích tam muội rồi giác
ngộ, giải thoát.
"Nhất tâm bất loạn" là muốn chỉ chuyên tâm
nhất ý. Khi niệm Phật, phải trói buộc cái tâm mình vào danh hiệu
Phật, miệng niệm danh hiệu Phật, tai nghe tiếng niệm Phật, "tâm
chẳng dùng hai", đó gọi là nhất tâm. Và như vậy thì khi lâm
chung có thể vãng sinh lên cõi Tịnh độ.
[^]
26. NGƯỜI NIỆM
PHẬT THẤY TƯỚNG TỐT THÌ LÀM THẾ NÀO ?
Pháp môn niệm Phật thuộc pháp môn
tự tướng. Sự xuất hiện của kinh "Quán vô lượng thọ"
là do khi Đức Phật còn tại thế, Thái tử A-xà-thế chiếm ngôi
Vua, bắt giam Vua cha là Tần-bà-sa-la cùng với mẹ là Bà Vi-đề-hi.
Bà Vi-đề-hi ở trong tù cầu mong được Phật Thích Ca đến thuyết
pháp. Cảm thông được điều đó, Đức Phật với phép thần thông
làm cho Bà Vi-đề-hi thấy được các cõi Tịnh độ của chư Phật 10
phương. Bà Vi-đề-hi chọn cõi Cực-lạc của Phật A-di-đà. Phật bèn
giảng cho bà 16 pháp môn tu trì để được vãng sinh sang cõi
Cực-lạc. Bà Vi-đề-hi cùng với 500 thị nữ theo hầu bà đều
được chứng Vô sinh pháp nhẫn và đều được vãng sinh qua cõi
Cực-lạc.
Cuốn kinh ấy giới thiệu Tịnh độ của Phật A-di-đà
có 9 cấp vãng sinh. Khi mệnh chung, không kể là vãng sinh theo đẳng
cấp nào đều được thấy Phật cũng tướng tốt hiện ra trước
mặt mình như Phật, Bồ Tát, đài sen v.v
Cho nên trong quá trình
niệm Phật mà thấy được các tướng tốt lành như các cảnh đẹp
cõi Tịnh độ là chuyện bình thường.
Kinh "Địa Tạng" có kể chuyện Bồ Tát Địa
Tạng ở một kiếp trước là một thiếu nữ tên là Quang Mục, nhờ
niệm danh hiệu Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục (Mắt hoa sen thanh tịnh) và
lập bàn thờ cúng dường mà nằm mộng thấy Phật, phóng hào quang
rực rỡ, và nghe lời Phật giảng. Lại ở kiếp trước Bồ Tát
Địa Tạng là một phụ nữ Bà-la-môn, muốn độ thoát cho mẫu thân
mà cúng dường tượng Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương, được
nghe Phật từ hư không giảng pháp khuyến cáo về nhà ngồi thẳng
người nghĩ tới danh hiệu Phật, qua một ngày đêm, thì sẽ xuống
được địa ngục để gặp mẫu thân. Câu chuyện này chứng tỏ có
thể nhờ sám hối mà thấy được Giác Hoa Định Tự Tại Như Lai,
đó là điềm lành của sự giảm tội.
Nếu ngày thường niệm Phật, không nhằm mục đích
thấy điều lành mà điều lành tự hiện có thể là tốt, cũng có
thể không phải là tốt lắm. Thấy điềm lành có thể làm tăng
thêm lòng tin, vì tự mình có thể nghiệm và cảm thọ. Nhưng nếu vì
cầu được điềm lành mà niệm Phật thì cái tâm niệm Phật đó
chưa phải thật là trong sáng và điềm lành xuất hiện có thể là do
tâm trạng hoảng hốt mà sinh ra.
Khi tâm lý bị kích thích, đầu óc quá bị mệt nhọc
và mong chờ nên rất dễ sinh ra ảo tưởng, nhẹ thì mắc bệnh tâm
thần, nặng thì có thể bị điên loạn, cho nên phải cẩn thận.
Lại có lòng thành cầu mong mà sinh ra cảm ứng, nên
sinh ra huyễn cảnh điềm lành, và có thể do phát tâm không chân
chính, tâm ý không thanh tịng mà bị ma quấy nhiễu.
Do vậy, đối với người Phật tử có chính tín, thì
mục đích niệm Phật không phải để cầu được thấy điều lành,
như hào quang, hoa đẹp, mùi hương thơm, thấy cảnh giới ở
Cực-lạc, thấy Phật và Bồ-tát. Người Phật tử chỉ giữ cho lòng
không có ham trước, tâm không điên đảo và nhất tâm niệm Phật.
Đó chính là cách niệm Phật an toàn nhất.
Còn nếu khi lâm chung mà thấy điềm lành thì đó là
do cảm ứng mà được, chứ không phải là do tưởng tượng, ở
chương sau sẽ nói rõ vấn đề này.
Nếu khi niệm Phật mà điềm lành cứ xuất hiện luôn
thì đó không phải là chuyện hay, bởi vì sẽ không thể chuyên tâm
niệm Phật được, khiến người ta tách rời Phật pháp rồi biến
thành công cụ của người ngoại đạo, công của quỷ thần muốn
dùng làm phương tiện để thi thố quyền năng. Nếu bản thân mình
không có khả năng phân rõ chính tà thì có thể gác bỏ vấn đề
sang một bên và tập trung toàn bộ sự chú ý vào việc niệm Phật,
điềm lành tự nhiên sẽ biến đi. Còn nếu điềm lành cứ bám mãi
không tha, thì nên mời các vị cao tăng, đại đức, cư sĩ đến chỉ
giáo giúp đỡ.
[^]
Có thể là giải thoát, nhưng đa số
trường hợp là không phải. Nói điềm lành hiện ra lúc mệnh chung
là chỉ mùi hương lạ, có thiên nhạc, có ánh hào quang, có hình
ảnh Phật, Bồ Tát hiện ra, có chim thú kêu, hoa bỗng nhiên nở rộ,
cây cỏ biến sắc, mây gió biến đổi, có tiếng chớp, thân thể
người mệnh chung mềm mại, sau hỏa táng còn lại ngọc xá v.v
Tất cả những tướng phúc đức đó do tu thiện tích đức mà
thành. Khi còn sống, làm người chính trực hay bố thí, khi chết hay
xuất hiện điềm lành, sau khi chết có thể trở thành thần linh có
phúc lớn.
Nếu vừa có tội, vừa có phúc, nhưng phúc nhiều hơn
tội thì có thể làm quỷ với uy lực lớn. Nếu ít tham, sân có
nhiều phúc đức, thì tái sinh làm loài trời ở dục giới. Nếu tu
hành Phật pháp, coi trọng cả ba môn học Giới, Định, Tuệ thì dù
chưa thoát khỏi được ba cõi cũng được sinh lên cõi trời
Đao-lợi của Dục giới hay là 5 cõi trời Tịnh-cư-thiên của sắc
giới. Sau khi lên cõi trời rồi có thể gặp Phật, nghe pháp, cúng
dường chư Phật 10 phương, cùng tụ hội một nơi với các bậc Đại
Bồ Tát, dần dần sẽ thoát khỏi 3 cõi, giải thoát sống chết. Nếu
là người thọ trì 5 giới, tinh tiến niệm Phật, một lòng hướng
về cõi Cực-lạc thì khi mệnh chung, sẽ được vãng sinh về cõi
Cực-lạc. Tất nhiên, mười phương thế giới có vô lượng cõi
Phật, cầu vãng sinh ở đâu cũng được toại nguyện.
Như chúng ta thấy, chỉ cần khi làm người tu phúc làm
lành là có thể không đọa vào ba cõi ác, được tái sinh làm
người hay lên cõi trời, khi mệnh chung, thường xuất hiện ít nhiều
điềm lành. Có những điềm lành chỉ người đương sự thấy mà
thôi, nhưng cũng có điềm lành mà nhiều người thấy được, thậm
chí có thể chụp ảnh được, ghi âm được, khiến cho người chứng
kiến tăng thêm lòng tin.
Còn thân thể người chết mềm mại, sắc mặt như khi
còn sống, tất nhiên đó là điềm lành sẽ tái sinh lên các cõi
trời. Nhưng cũng có khi do sức mạnh thần linh biểu hiện ra chứ
không phải do công đức người chết. Sức mạnh đó có thể hiện
thành uy quyền to lớn khiến nhiều người tin theo và sùng bái. Về
các loại điềm lành khác thì có thể suy ra mà hiểu.
Về nguyên tắc thì điềm lành không phải là chuyện
xấu, vì có thể khuyên mọi người bỏ ác làm lành. Nhưng không
nên hiểu điềm lành xuất hiện là triệu chứng của giải thoát.
Giải thoát là thuộc về tướng của tâm, chứ không phải tướng
của vật. Vật tướng thuộc về tướng của tâm, chứ khi đạt tới
trong tâm không còn tướng, không còn vật mới là giải thoát. Kinh
Kim Cương có câu "Phàm là tướng, đều là hư vọng". Giải
thoát là ly tướng, không chấp tướng. Trong lòng đã không có
tướng, thì ở bên ngoài có hay không có điềm lành không quan
trọng.
Nhưng cũng không thể nói rằng khi mệnh chung xuất hiện
điềm lành là có thể chưa được giải thoát. Như Phật Thích Ca khi
nhập Niết-bàn cũng có điềm lành xuất hiện, các bậc Cao-tăng,
Đại-đức qua các đời, khi viên tịch cũng hiện ra nhiều điềm
lành. Đó không phải là do tự họ hiện ra điềm lành, mà là do
các vị thần linh, hộ pháp bày tỏ lòng hoan hỉ thương tiếc có
người giải thoát, thương tiếc người được giải thoát sắp đi xa.
Điềm lành phần lớn là do sức mạnh của các thần linh hiển hiện,
tuy có quan hệ với người sắp chết, nhưng không phải trọng yếu.
Điềm lành xuất hiện tuy có tác dụng làm tăng thêm lòng tin đối
với người khác, nhưng không thể khẳng định đó là triệu chứng
của giải thoát. Ngược lại, khi lâm chung, xuất hiện điềm xấu, thì
không nhất định là không được giải thoát. Thí dụ các bậc đại
A-la-hán như Mục-Kiền-Liên, Ưu-Đà-Di, Liên-Hoa-Sắc v.v
. bị
người ta đánh chết, thậm chí bị vứt bỏ vào hố phân. Đó là do
nghiệp báo của đời trước, chứ không có liên quan gì đến cảnh
giới giải thoát thuộc đời hiện tại của họ.
[^]
Kinh Kim Cương có câu : "Phàm là
có tướng, đều là hư vọng". Đó là vì thực tướng là
không có tướng, cho nên cõi Tịnh độ thuộc lĩnh vực nội tâm,
chứ không phải thuộc về ngoại giới. Đó là cõi Tịnh độ của
loài người và loài trời, chứ không phải là các cõi Phật siêu
việt ngoài ba cõi.
Vì vậy, từ xưa các bậc đại-đức cho rằng cõi
Cực-lạc của Phật A-di-đà là cõi phương tiện, là nơi phàm tính
cũng ở, chứ không phải là cõi Phật thực sự. Nhưng vào đời
nhà Đường có đại sư Thiện Đạo cho rằng, cõi Cực-lạc phương
Tây hình thành trên cơ sở lời nguyện của Phật A-di-đà là cõi
nước thực báo trang nghiêm của Phật. Người phàm phu nếu không tu
hành chứng được thực tướng vô tướng để vào cõi nước
thực báo của Phật thì vẫn có thể dựa vào sức mạnh lời
nguyện của Phật A-di-đà, mang theo nghiệp mà vãng sinh đến cõi
Cực-lạc, nhưng không thấy được báo thân của Phật và chỉ thấy
được hóa thân của Ngài mà thôi. Như vậy tức là ngay trong cõi
thực báo vô tướng của Phật vẫn có tướng hóa thân.
Còn về vấn đề Phật và Bồ Tát tiếp dẫn người
vãng sinh thì đó là có tướng. Mà đã có tướng thì là hư
vọng, và đã là hư vọng thì cầu vãng sinh để làm gì ? Đó là vì
nếu không vãng sinh thì sẽ phải ở lại cõi đời ô trọc này,
không tránh khỏi tạo nghiệp làm ác. Hoàn cảnh ở cõi Sa-bà rất
ác liệt, lành ít dữ nhiều như mẹ Mạnh Tử, phải ba lần dời chỗ
con mình mới có hoàn cảnh giáo dục tốt. Đạo lý cầu vãng sinh
Tịnh độ cũng là như vậy.
Làm thế nào để phân biệt Phật, Bồ Tát đến tiếp
dẫn với cảnh ma quấy rối? Chỉ có thể phân biệt vấn đề này trong
cuộc sống bình thường hàng ngày, chuyên tâm niệm danh hiệu Phật
A-di-đà, nguyện vãng sinh về cõi Cực-lạc, lại kiêm tu phúc, giữ
giới, tu định, tu tuệ, thì tự nhiên khi lâm chung sẽ được Phật
A-di-đà, Bồ Tát Quan Thế Âm và Thế Chí đến tiếp dẫn. Ngược
lại, nếu nhận thức lầm cõi nước Cực-lạc của Phật A-di-đà
cũng là cõi nước ô trọc, dơ bẩn, xem Phật A-di-đà cũng là một
loại quỷ thần bao che tội ác cho mình, với lòng tham cầu sinh ở Tây
phương, với lòng sẵn giận ghét cõi Sa-bà này, với cái tâm ngu si
luyến tiếc những vật ngoài thân của mình : vợ con, cha mẹ, quyến
thuộc tài sản, sự nghiệp, địa vị, tuy lúc lâm chung muốn cầu
được đến nước Cực-lạc thì bản ý đã trái ngược với bản
nguyện của Phật A-di-đà rồi nên đến khi đó rất có khả năng là
ma quỷ hiện hình Phật, Bồ Tát để lừa dối họ. Trong trường hợp
này, biện pháp duy nhất có thể dùng là mời các vị thiện tri
thức có duyên với mình đến giúp đỡ, khai ngộ, niệm Phật, tạo
trợ duyên lành xua đuổi ma quỷ đến quấy phá.
[^]
Trung ấm cũng gọi là trung uẩn, hay
trung hữu. Sách Phật gọi ấm hay uẩn là chỉ sắc, thọ, tưởng,
hành, thức (5 uẩn). Năm uẩn hay năm ấm là năm nhóm nguyên tố
tạo thành chúng sinh trong ba cõi. Ấm là từ dịch cũ, từ đời nhà
Đường trở về trước. Uẩn là từ dịch mới sau đời Đường.
Chúng sinh trong ba cõi cũng gọi là 25 hữu. Hữu (tồn tại) chính là
năm uẩn. Vì bị năm uẩn làm cho nguy khốn, hạn chế nên không vượt
khỏi ba cõi. Giải thoát khỏi vòng sinh tử tức là vượt khỏi ba
cõi của năm uẩn.
Trong dân gian Trung Quốc có câu "Vượt ra khỏi ba
cõi, không còn ở trong năm hành". Câu này đổi khái niệm uẩn
của Phật giáo thành năm hành : kim, mộc, thủy, hỏa, thổ (ngũ
hành). Thật ra ngũ hành tương sinh tương khắc thuộc về thế giới
vật chất (tương sinh và xung khắc nhau). Sắc uẩn trong năm uẩn của
Phật giáo bao quát cả năm hành rồi. Bốn uẩn còn lại thuộc thế
giới tinh thần. Sự kết hợp tinh thần với vật chất tạo ra hiện
tượng hoạt động của chúng sinh trong ba cõi.
Theo luận "Câu xá", quyển mười thì thân trung
ấm chữ Phạn có năm nghĩa: ý sinh thân, cầu sinh, ăn hương liệu,
trung hữu, sinh khởi.
Ý sinh thân là do tâm ý cầu có tái sinh thân. Cầu
sinh là thường xuyên tìm kiếm nơi có thể tái sinh. Ăn hương liệu
là tự duy trì mình nuôi sống mình bằng các món ăn thơm tho mình ưa
thích. Trung hữu là ở vào thời gian quá độ giữa chết và tái
sinh. Khởi là xuất hiện sau khi thân đời sống trước chết đi.
Thân trung ấm có phúc báo tốt thì được ăn loại
hương liệu tốt. Thân trung ấm "vô phúc" thì phải tự nuôi
dưỡng bằng thức ăn hôi thối. Nói chung, thân trung ấm thấy
được những sự vật mà mắt thịt của người sống không thấy
được.
Về thân trung ấm tồn tại bao lâu thì có nhiều thuyết
khác nhau. Có thuyết nói thân trung ấm tồn tại cho tới khi nào tái
sinh, dù lâu bao nhiêu cũng gọi là thân trung ấm. Có thuyết nói
thân trung ấm chỉ tồn tại có bảy ngày, chết rồi mang một thân trung
ấm khác, cho đến khi tái sinh rồi mới thôi.
Thuyết được nhiều người chấp nhận nhất là thuyết
của "Đại tỳ bà sa luận", cho rằng thân trung ấm chỉ tồn
tại trong 49 ngày. Vì vậy mà có tục lệ làm Phật sự như cúng trai,
bố thí, làm công đức để siêu độ vong linh trong thời gian 49 ngày
sau tang lễ. Cúng vong linh 49 ngày trở thành một truyền thống tín
ngưỡng Phật giáo.
Thực ra, chúng sinh trong ba cõi sau khi chết đều trải
qua một thời kỳ của trung ấm, trước khi tái sinh vào một thân
khác. Chỉ có chúng sinh ở cõi vô sắc giới thường xuyên ở trong
cảnh thiền định, không có sắc uẩn, nên không có thân trung ấm.
Theo Kinh "Đại bảo tích" quyển 56 (Hội nhập thai tạng), thì
thân trung ấm của chúng sinh từ địa ngục có dung mạo xấu xí như
củi khô bị thiêu cháy. Thân trung ấm của chúng sinh chuyển từ loài
súc sinh có dung sắc như khói đen. Thân trung ấm của chúng sinh chuyển
từ giới quỷ đói có dung sắc như nước, thân trung ấm của chúng
sinh cõi người và cõi trời có dung sắc màu vàng, thân trung ấm
của chúng sinh chuyển từ cõi sắc giới có màu trắng đẹp. Do vậy,
hình trạng của thân trung ấm có thể có hai tay, hai chân bốn chân,
nhiều chân hay không có chân đều do hình tướng của chúng sinh ở
đời trước mà hình thành. Luận "Câu xá" quyển 9 cho biết,
thân trung ấm của người thuộc dục giới có thân như của cậu bé
5, 6 tuổi, thân trung ấm của vị Bồ Tát ở cõi dục giới có thân
như thân của người tráng niên với tướng mạo đẹp đẽ, khi nhập
thai và sinh ra đều có hào quang chiếu sáng. Thân trung ấm của cõi
trời thuộc sắc giới có thân hình tròn đầy như khi còn sống. Theo
"Đại thừa Nghĩa Chương" quyển 8, chúng sinh ở hai cõi dục
giới và sắc giới nói chung đều có thân trung ấm. Chỉ riêng loại
chúng sinh thượng thiện (thiện bậc cao) hay chúng sinh cực ác, sau khi
chết hoặc vãng sinh Tịnh độ, hay là chết có thân trung ấm. Chúng
sinh phạm tội ngũ nghịch bị đọa ngay cõi ác, không có thân trung
ấm.
Lại theo cuốn "Giải thích các mối nghi ngờ về
vãng sinh Tịnh độ" quyển 2, cũng có hai cách giải thích : Một là
vãng sinh Tịnh độ không có thân trung ấm vì sau khi chết lập tức
hóa sinh vào cõi thanh tịnh nên có thân trung ấm. Nhưng thân trung ấm
đó vượt mười vạn ức Phật độ, chỉ trong thời gian búng ngón
tay, và trung ấm đó được nuôi dưỡng bằng hương thơm cõi Phật.
Như vậy, căn cứ vào kinh luận đã dẫn trên đây,
tất cả chúng sinh ở cõi dục giới và sắc giới, ngoài những
chúng sinh cực thiện hay cực ác ra, đều có thân trung ấm. Trong giai
đoạn thân trung ấm, chúng không thuộc bất cứ một cõi sống nào.
Nhưng khi đã có nhân duyên chín muồi thì chúng tái sinh, hoặc theo
hình thức thai sinh hay hóa sinh v.v
Nhưng trước khi tái sinh vẫn có phương pháp giúp cho
có thể tái sinh theo hướng tốt. Các phương pháp đó là được
nghe Phật pháp, có người thân vì mình mà bố thí, cúng dường,
làm công đức v.v
có thể ảnh hưởng tới hướng đầu sinh
của thân trung ấm. Ngược lại, nếu gây oán hoặc nghiệp chướng
nặng nề, lại do tác động xấu của người thân hay kẻ thù, thân
trung ấm có thể vì đó mà đọa vào con đường ác. Vì vậy, mà
Phật giáo ở Tây Tạng rất chú ý biện pháp siêu độ thân trung
ấm. Hiển giáo cũng chú trọng hộ niệm và siêu độ trong vòng 49
ngày. Còn Phật pháp cứu độ thân trung ấm thì nên mời thân trung
ấm nghe Phật pháp, rũ bỏ mọi oan kết trong tâm của thân trung ấm,
giảm bớt phiền não, lấy sức mạnh của Phật pháp khiến cho quỷ
thần có duyên được hoan hỉ v.v
Nhờ tất cả những công đức
ấy mà kết thiện duyên, giúp cho thân trung ấm được siêu độ.
Còn đối với những người thượng thiện hay cực
ác không có thân trung ấm thì cũng dễ hiểu. Cũng như người học
giỏi, tốt nghiệp xong, có thể cử đi học nước ngoài ngay hoặc là
có cơ quan, xí nghiệp mời ra làm việc ngay, không phải chờ đợi thu
xếp công tác. Trái lại, có người sống làm nhiều điều ác, lúc
chết, tái sinh làm gia súc, làm bò, làm gà, dê rồi nhất định sẽ
bị giết thịt. Nếu tích đức làm thiện, có niềm tin sâu sắc, có
sức phát nguyện kiên cường thì nhất định không phải lo sợ đọa
vào ba cõi mà có thể vãng sinh Tịnh độ. Đối với người tu hạnh
Bồ Tát cũng vậy, dù có vãng sinh Tịnh độ hay ở cõi Sa-bà, thì
khi lâm chung, không có chuyện bàng hoàng chờ đợi mà lập tức
hóa sinh ở các cõi Phật hay là tái sinh vào các cõi lành để
tiếp tục tu hạnh Bồ Tát, không cần có thân trung ấm, cũng không
cần có ai tổ chức siêu độ cho mình.
[^]
Mấy chục năm lại đây, ở Đài
Bắc cũng như ở các khu vực khác có người Hoa ở đã lưu hành
truyền thuyết tín ngưỡng Anh Linh. Anh Linh là linh hồn trẻ con chết do
người mẹ bị lưu sản, hoặc chết trong bụng mẹ, hoặc lọt lòng mẹ
vài ngày rồi chết. Người ta cho rằng nếu anh linh không được siêu
độ, thì nó sẽ dùng nhiều phương thức, hiện tượng để làm hại
thân thuộc, báo oán với người nó có oán thù v.v
làm cho gia
đình bất an, xã hội khủng hoảng. Tất cả những điều đó đều là
những hậu quả, những gánh nặng tinh thần sinh ra từ sự tiết dục,
từ việc người phụ nữ có mang trước khi kết hôn hoặc không
kết hôn.
Vì vậy mà có một số nhân sĩ liên tục đăng quảng
cáo trên báo chí về việc cúng dường anh linh, siêu độ anh linh để
trừ bỏ mọi chướng ngại, nguy hiểm do anh linh gây ra và dẫn chứng
cuốn sách "Trường thọ kinh". Lại có người tuyên bố có
thể dùng phù chú biến anh linh thành lính trẻ con để dùng làm thám
tử đi dò la chuyện riêng tư của người khác, cung cấp tin tức
thậm chí có thể sai kiếm lính trẻ con giết người ở ngoài ngàn
dặm mà không để lại dấu vết gì. Loại truyền thuyết như vậy, tất
nhiên không phải là của đạo Phật, cũng không phải là loại tín
ngưỡng đã từng lưu truyền ở một thời đại lịch sử nhất định
hay một khu vực nhất định.
Từ khi thuyết anh linh được lưu truyền đến nay, ngoài
cha mẹ và gia đình của những phụ nữ bị lưu sản gặp khó khăn,
cũng có một số người gặp phải một vài hiện tượng kỳ dị về
tinh thần hay vật chất, bèn nghi ngờ đó là quỷ thần can thiệp hay
là anh linh tác quái, tựa hồ trong không gian sống của chúng ta nơi
nào cũng có anh linh chờ cơ hội để ra tay, làm hại người. Thật
ra, theo quan điểm Phật giáo, mọi người đều bình đẳng, sinh mạng
của người tuy có dài, có ngắn, nhưng chết rồi ai cũng giống nhau,
người lớn hay trẻ con sau khi chết đều có thân trung ấm. Sau 49
ngày, họ đều chuyển sinh, hoặc làm người, hoặc lên cõi trời,
hoặc làm quỷ thần, làm chúng sinh ở địa ngục, không có chuyện anh
linh của trẻ con chết, tác oai tác quái giữa loài người.
Đúng là có một số người loạn tưởng thấy gà
hóa quốc cho rằng bản thân đã thấy hiện tượng oan hồn của anh
linh nên luôn bị ám ảnh. Nhưng đó chủ yếu là do nhân tố tâm lý
tạo nên. Cho dù có thần lực từ bên ngoài quấy phá cũng không
thể khẳng định đó là do anh linh tác quái.
Người ta lo sợ đối với thuyết anh linh có thể là
do quan điểm tâm trạng thiếu nhi. Trẻ con không hiểu biết thì hài nhi
lại càng không biết, khi nó làm ồn thì cha mẹ la. Nếu hài nhi suốt
ngày khóc, đêm không ngủ mà lại không phải vì bụng đói thì
phải có người bế nó, săn sóc, vỗ về nó. Giả sử có chuyện
anh linh quấy nhiễu, thì anh linh đã không biết gì, dù có tụng kinh,
thuyết pháp nó cũng không hiểu, không cảm hóa được nó.
Trước tình hình đó, có một số kẻ đầu cơ trục
lợi, rêu rao rằng họ có pháp thuật siêu độ đặc biệt có thể
giải quyết vấn đề anh linh. Theo kinh Phật thì chúng sinh từ khi chết
cho đến lúc tái sinh, trải qua giai đoạn thân trung ấm, hình thù
giống như khi còn sống, nhưng có phần nhỏ hơn. Hài nhi vốn đã
không biết gì, thân trung ấm của hài nhi làm sao mà trả cừu trả
oán được. Thậm chí, kết thúc giai đoạn thân trung ấm, hài nhi có
thể tái sinh làm quỷ thần và thường có thần thông, thân thể
nhẹ nhõm, rất dễ dàng cảm ứng và cảm hóa. Do vậy, tuyệt đối
không được xem hài nhi sau khi chết như những hung thần ác quỷ.
Theo tri thức phổ thông của đạo Phật thì dù người
già hay trẻ, tuổi nhiều hay ít, sau khi chết, họ hàng thân thích nên
tổ chức cúng dường Tam Bảo, cầu cho vong linh người chết được
sinh vào cõi lành hay vãng sinh Tịnh độ. Không có pháp môn riêng
biệt nào dành riêng để siêu độ cho vong linh hài nhi và trẻ con
chết.
Còn cuốn "Phật thuyết trường thọ kinh" kể
chuyện Phật thuyết cho một phụ nữ, do vấn đề gia đình mà giết
đứa con mình đã hoài thai 8 tháng. Phật nói với bà ta : "Tội
sát thai cũng nặng như tội giết cha, mẹ, giết La hán, làm Phật chảy
máu và phá hòa hợp Tăng vậy. Muốn sám hối tội thì phải thọ
trì cuốn "Trường thọ kinh" này, hãy chép lại, đọc tụng,
hoặc tự mình chép, hoặc nhờ người chép, như vậy sẽ không chịu
tội báo mà còn được sinh ở cõi Trời Phạm Thiên". Kinh này
cũng không nói đến vấn đề siêu độ anh linh. Cuốn kinh nhấn mạnh
phải bảo vệ thai, xem sát thai là tội nặng ngang với 5 tội ngũ
nghịch. Nhưng kinh này, vì không thích hợp, nên không lưu hành ở
nước ta.
Ngoài ra, có truyền thuyết nói ở Nhật bản, có
chuyện anh linh cầu xin Bồ Tát Địa Tạng siêu độ. Chuyện này cũng
không phù hợp với lịch sử tín ngưỡng Bồ Tát Địa Tạng. Trong
dân gian Nhật bản, chỉ từ thế kỷ 11 trở đi, mới có ghi tập tục
thờ ảnh Địa Tạng để cầu trị bệnh và kéo dài tuổi thọ. Dần
dần, trong dân gian, người ta biến Địa Tạng thành vị thần bảo hộ
hài nhi, nhưng việc này cũng không có quan hệ gì với việc anh linh
tác quái cả.
Phong trào cầu siêu độ cho anh linh hiện nay dù là có
thiện ý hay là vị trục lợi, đều không quan hệ gì tới truyền
thống Phật giáo cả.
---
o0o
---
| Mục
Lục |
Phần A | Phần B | Phần C | Phần D |
| Phần
E | Phần F | Phần G | Phụ Lục|
--- o0o ---
Chân thành cảm ơn ĐĐ Thích Nhật Từ đã gởi tặng phiên bản điện tử tập sách này.
Vi tính : Hải Hạnh
Trình
bày
:
Nhị
Tường
Cập
nhật
ngày:
01-05-2002
|
|