| ...... ... |
. |
HỌC PHẬT QUẦN NGHI
(Giải thích những nghi vấn trong Phật
học)
Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học dịch
Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm
---o0o---
Phần B
[Câu hỏi 11 - 20]
|
[11]
Phật tử nên cử hành nghi thức tang lễ như thế nào ?
[12] Làm
Phật sự như thế nào ?
[13] Cư
sĩ có thể nhận quà tặng của nhà chùa hay không ?
[14] Cư
sĩ tại gia lập bàn thờ Phật như thế nào ?
[15]
Tiến hành khóa tụng ở nhà như thế nào ?
[16] Có
thể tiêu trừ tai họa và kéo dài tuổi thọ không ?
[17] Có
công dụng gia trì hay không ?
[18]
Các bậc đại tu hành có thể tiêu trừ nghiệp chướng cho chúng sanh
được không?
[19] Trì
chú có công hiệu hay không ?
[20]
Phật giáo có tin thuyết kiếp số hay không ?
|
11.
PHẬT TỬ NÊN CỬ HÀNH NGHI THỨC LỄ TANG NHƯ THẾ NÀO?
Trong lễ tang nên làm các "Phật
sự" như : tụng kinh, niệm Phật v.v
Nhưng trong nghi thức lễ
tang hiện nay ở Trung Quốc, người xuất gia chỉ tụng kinh, không đứng
chủ lễ tang. Vì các nghi thức lễ tang đều do phái viên của tổ
chức hội bảo trợ đảm nhiệm, Phật sự chỉ là những công việc
phụ.
Theo nghi lễ tang chính thức của Phật giáo thì ngoài
những người phụ trách lễ tang thì chủ thể phải là một pháp sư
xuất gia tụng kinh hộ niệm cho người chết. Những người tham dự
lễ tang nên có quyển kinh Phật trong tay để tụng theo pháp sư chủ
lễ, bài kinh và bài kệ đọc nên ngắn gọn, như bài "Tâm
kinh", "Chú vãng sinh", "Kệ tán Phật", "Niệm
danh hiệu Phật", "Kệ hồi hướng". Chỉ cần đọc không
cần xướng bởi vì trong số người tham dự có nhiều người không
biết xướng. Sau đó vị pháp sư giới thiệu sơ lược tiểu sử,
công đức học Phật, làm điều thiện của người chết rồi nói
đôi lời ngắn gọn cầu cho người chết vãng sinh tịnh độ và an ủi
gia đình bạn bè của người chết.
Lễ tang gia đình và lễ tang chung (dành cho bạn bè
đoàn thể) nên tổ chức vào cùng một ngày cho tiện, đồng thời
nghi thức lễ tang nên tổ chức giản đơn, long trọng, thời gian không
quá một giờ, nhiều nhất là một giờ rưỡi. Dùng ban nhạc hay
hàng rào danh dự đều là việc phô trương, hình thức. Những
người không phải là Phật tử cho rằng những hình thức đó có
lẽ có lúc có tác dụng an ủi người chết. Còn đối với các
Phật tử thì điều đó chỉ làm nhiễu loạn tâm người chết cầu
mong sinh nơi cõi Phật.
Xưa nay, lễ tang Phật giáo chưa có quy định cụ thể.
Nhưng ở Trung Quốc, vốn có các nghi thức lễ tang gồm các khâu như
di lưu, khi người còn sống chưa chết hẳn và sau khi chết thì có các
khâu như tắm rửa, thay áo, đặt linh vị, túc trực bên linh vị, nhập
quan, đưa tang, mai táng, làm lễ cúng 7 ngày cho tới lễ cúng 100
ngày, v.v
Theo pháp môn Tịnh độ thì trong khâu "di lưu" (1)
nên mời các thiện tri thức, kể cả tại gia và xuất gia, đến hộ
niệm, nói pháp, tụng kinh, niệm Phật. Và trong vòng 12 giờ sau khi
đương sự chết thì tổ chức tắm rửa và tiếp tục hộ niệm. Bất
cứ cử hành nghi thức nào đều tổ chức hộ niệm cho tâm người
chết hướng về vãng sinh Tịnh độ. Tốt nhất là có các chư tăng
hộ niệm làm lễ, bằng không thì có thể nhờ bạn bè đồng đạo,
đồng tu giúp đỡ hộ niệm.
Phật tử xử lý xác người chết như thế nào ?
Có thể đặt trong khám, hay trong quan tài để hỏa táng
hay đem chôn. Nếu là hỏa táng thì đưa tro cốt lên chùa hay là đặt
trong tháp để thờ, hoặc đem chôn trong phần mộ. Nhưng dù hỏa táng
hay chôn cất, cũng nên dùng các nghi thức tụng niệm, đọc kinh, hồi
hướng, thay cho các nghi thức phô trương như cử nhạc hiếu và than
thuê khóc mướn v.v
Ngày xưa, ở nông thôn có tập tục, người già
đều chuẩn bị sắm quan tài, áo tang để cầu sống lâu dài và cầu
đại cát đại lợi. Nhưng ngày nay trong xã hội công thương nghiệp,
phong tục đó cũng không còn nữa mà cũng không cần thiết nữa.
Như trên đã nói, nghi thức lễ tang theo Phật giáo cố
gắng làm đơn giản, long trọng và đặc biệt là trong thời gian lễ
tang không được bày chuyện sát sinh, làm cổ mặn, rượu thịt để
thiết đãi bạn bè hay là để cúng tế vong linh người chết. Ở
làng tôi tại tỉnh Giang Tô, vào dịp lễ tang, nhân dân chỉ làm cổ
chay để tiếp đãi những người đến tham dự, phúng viếng. Bàn
thờ linh vị chỉ có hoa quả, cổ chay để cúng dường
có vòng
hoa, giỏ hoa, trướng biển cũng giảm bớt hay bãi bỏ, chỉ trừ một
số giỏ hoa, hay vòng hoa của bạn bè thân hữu đến như các đoàn
đại biểu. Số tiền phúng viếng ngoài phần để trang trải chi phí lễ
tang và nhu cầu sinh hoạt ra (nếu tang gia thuộc hạng người nghèo) còn
thì nên đem tất cả cúng dường Tam Bảo hay làm các công việc
hoằng pháp lợi sinh, các công việc từ thiện, để hồi hướng cho
người chết được siêu sinh tịnh độ.
Cha mẹ qua đời, con cháu vì thương cảm khóc than là
chuyện thường tình. Khi đức Phật nhập Niết Bàn trừ các bậc
A-la-hán đã được giải thoát ra tất cả các đệ tử đều khóc.
Nhưng trong lễ tang ngày nay, nếu vì tục lệ mà tổ chức "khóc
lóc để biểu thị lòng thương cảm" thì không nên. Các Phật tử
nên thay khóc lóc bằng các Phật sự.
Thế thì khi nào làm Phật sự vì người chết ? Và
nên tiến hành làm Phật sự như thế nào ?
Chú thích :
(1) Một số công việc làm với người hấp hối như thay quần áo,
niệm Phật.
[^]
12.
NHƯ THẾ NÀO LÀ LÀM PHẬT SỰ ?
Làm Phật sự là làm các công
việc học Phật, hoằng dương Phật pháp, đối tượng chủ yếu là con
người. Đọc kinh, nghe pháp, khóa tụng, giảng kinh, bố thí, giữ
giới, tu thiền, thực hành bát chính đạo, và thực hành sáu pháp
Ba La Mật v.v
đều là Phật sự.
Nhưng trong sinh hoạt dân gian nói chung, không có quan
niệm làm Phật sự như vậy. Thông thường khi bà con bạn bè chết
họ mời các sư Tăng đến niệm Phật, tụng kinh, cầu cho vong linh
người chết được siêu độ, không trực tiếp tham gia những công
việc Phật sự đó, không tham gia tụng kinh niệm Phật, sám hối cùng
với các chư Tăng. Họ chỉ làm công việc thù tiếp bà con thân
thuộc, bạn bè đến phúng viếng, thậm chí còn đánh bài để tiếp
khách khứa. Tang gia xử sự như vậy chỉ là làm theo tập tục, không
phải là làm Phật sự, vừa bất kính đối với Phật pháp, vừa
vô lễ đối với vong linh người chết.
Làm Phật sự phải có đầy đủ lòng thành, cung kính,
nghiêm túc trang trọng. Tang gia thân thuộc của người chết phải tham
gia tụng kinh niệm Phật. Khi cần thiết các chư Tăng đến làm chủ lễ
chỉ đạo, hướng dẫn công việc Phật sự. Khi làm lễ không được
ồn ào, mất trật tự.
Phật sự không phải là nghi thức, không được xem
Phật sự như một nghi thức trong lễ tang. Bạn bè, họ hàng người
chết đều nên tham gia tụng kinh, niệm Phật. Nếu không thì cũng phải
đứng bên cạnh với thái độ cung kính, trang nghiêm, lắng nghe và
theo dõi chư Tăng và người khác tụng kinh, niệm Phật, lễ bái. Làm
Phật sự trong lễ tang tức là mời vong linh người chết đến nghe
pháp, giải thoát nghiệp lực siêu sinh tịnh độ. Nếu tổ chức lễ
tang và Phật sự mà tang gia không trực tiếp tham gia, thiếu lòng
thành kính, thì công dụng đối với vong linh người chết chỉ có rất
ít mà thôi.
Nên tổ chức làm Phật sự cho người chết trong vòng
49 ngày sau khi chết. Thông thường con người sau khi chết nếu nghiệp
ác quá nặng thì lập tức đọa xuống ba cõi ác. Nếu có nhiều
việc thiện thì cũng lập tức được sinh lên cõi trời. Nếu tu
nghiệp thanh tịnh thì được siêu sinh tịnh độ. Dù cho người chết
có bị đọa vào ba đường ác thì công dụng của Phật sự là làm
giảm bớt nỗi thống khổ của người chết, cải thiện hoàn cảnh
của ba cõi. Nếu được sinh lên cõi trời thì sẽ làm cho hạnh phúc
của họ trên cõi trời càng thêm an lạc. Nếu được sinh ở cõi
tịnh độ thì có thể nâng cao thêm thứ bậc ở đấy.
Kinh Địa Tạng chép rằng, muốn giúp cho bà con quyến
thuộc được siêu sinh tịnh độ thì phải cung kính cúng dường chư
Phật, Bồ Tát, đọc tụng thụ trì kinh Phật. Theo Kinh "Vu Lan
Bồn" thì phải có bố thí cúng dường chúng Tăng xuất gia. Nói
tóm lại, đứng trên lập trường của bà con quyến thuộc người
quá cố, dùng tài sản của họ để lại làm các công việc bố thí,
cúng dường Tam Bảo, cứu tế kẻ nghèo, làm phúc lợi xã hội, bố
thí cho tất cả chúng sinh, khiến cho họ rời bỏ cái khổ, được an
vui, điều đó có công dụng giúp cho người quá cố rời bỏ khổ,
siêu sinh tịnh độ.
Trong vòng 49 ngày, kể từ phút người thân nhắm mắt
nên tổ chức niệm danh hiệu Phật liên tục. Nếu khi còn sống,
người thân tu pháp môn tịnh độ hàng ngày niệm danh hiệu Phật
A-Di-Đà thì tất nhiên, khi hộ niệm sẽ niệm danh hiệu Phật
A-Di-Đà
Bà con thân thuộc người chết nên phân công luân
phiên nhau niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà. Nếu người quá cố không tu
pháp môn nào thì vẫn nên niệm danh hiệu Phật A-Di-Đà cho họ. Còn
nếu họ thường tụng một bộ kinh nào đó hoặc trì tụng danh hiệu
một đức Phật hoặc Bồ Tát nào đó thì tốt nhất là thọ trì kinh
đó, niệm các danh hiệu Phật, Bồ Tát đó rồi hồi hướng công
đức cho họ.
Theo tập quán ở Trung Quốc, trong vòng 49 ngày, nếu
ngày nào cũng làm Phật sự là tốt nhất. Bằng không thì chỉ làm
Phật sự trong 7 ngày đầu hay trong 3 ngày đầu hay một ngày đầu mà
thôi cũng tốt. Sắp xếp như thế nào là do điều kiện nhân lực,
vật lực của gia đình.
Nói chung theo đạo Phật, cần cử hành lễ tang ngắn gọn, trang
nghiêm, long trọng. Tránh mọi sự phô trương, lãng phí không cần
thiết. Tài lực, vật lực, nếu có, nên dùng vào các việc cúng
dường Tam Bảo, hoằng dương Phật pháp, bố thí kẻ nghèo v.v
rồi
hồi hướng công đức cho người quá cố. Nếu không như vậy là
không phải Phật sự mà là dựa vào nghi thức lễ tang người chết
mà phô trương sự hự vinh mà thôi. Tất nhiên là không nên chôn
theo người chết quần áo đắt tiền và báu vật của họ, làm như
vậy không có lợi ích gì thực tế đối với người chết mà còn
lãng phí của cải đồ dùng.
[^]
13.
CƯ SĨ CÓ THỂ NHẬN QUÀ TĂNG CỦA NHÀ CHÙA HAY KHÔNG?
Theo giới Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, thì
người nào lấy của cải do thập phương cúng dường đem dùng riêng
hoặc đem tặng cho cư sĩ đều là "phạm tội thâu đạo" (ăn
trộm). Vì đó là của cải do thập phương cúng dường, đã trở
thành của cải của tất cả chúng Tăng, là của công, nếu chiếm
dụng riêng của công, hoặc đem cho cư sĩ thì sẽ phạm tội rất nặng.
Nếu với tâm ô nhiễm, tặng quà vật cho cư sĩ thì mình sẽ phạm
tội "làm ô nhiễm người khác".
Có hai trường hợp, cư sĩ có thể nhận quà của nhà
chùa. Một là nghèo túng, bệnh tật cấp bách nên tiếp nhận sự
bố thí, cứu tế của nhà chùa. Có hai loại cứu tế, một là bằng
tiền của vật chất, hai là bằng tinh thần và Phật pháp. Tất nhiên
đã tiếp nhận sự cứu tế bằng Phật pháp thì cũng có thể nhận
sự cứu tế bằng vật chất. Sau khi được cứu tế mà tai qua nạn
khỏi thì người được cứu tế sẽ ra sức cúng dường Tam Bảo,
giúp đỡ người khác.
Trường hợp thứ hai là trường hợp công tác cho
nhà chùa và có thù lao để sống. Những người phát tâm công
tác cho nhà chùa, tu viện, không tiện đem thực phẩm đến nấu ăn
ở nhà chùa thì tất nhiên nhà chùa phải lo liệu việc ăn ngủ cho
họ. Các bậc đại đức ngày xưa ở Trung Quốc đã từng căn dặn :
Đối với những người làm việc cho nhà chùa, phải đảm bảo cho
họ ăn uống tử tế, và trả tiền công khá cao. Thông thường chế
độ sinh hoạt ở nhà chùa kham khổ, người làm công có thể vì
không quen, mà sinh ra bực bội, sinh giận. Nếu chùa có vật phẩm
thừa, lại không thể đem đổi lấy tiền được, cũng không biết
đem cho ai, thì cư sĩ tại gia nên hoan hỉ tiếp nhận, để tránh lãng
phí.
Chế độ sinh hoạt tại chùa ở Trung Quốc và Ấn Độ khác nhau.
Chùa Ấn Độ không có bếp nấu, chùa Trung Quốc cũng như chùa Triều
Tiên, chùa Nhật đều có dự trữ lương thực và có bếp tự nấu
ăn. Đặc biệt trong thời gian có hội chùa, cư sĩ cũng ở lại ăn
cơm tại chùa. Đó là chuyện rất phổ biến ở Trung Quốc, Nhật,
Triều Tiên. Kinh phí ăn uống đều do tín đồ đóng góp.
[^]
14.
CƯ SĨ TẠI GIA LẬP BÀN THỜ PHẬT NHƯ THẾ NÀO ?
Vấn đề này tùy tình hình mỗi
người, mỗi nhà mà sắp xếp giải quyết. Nều nhà ở quá chật
hoặc ở ký túc xá công cộng, có nhiều người cùng chung một
phòng, thì rất bất tiện khi tiến hành khóa tụng, có thể lấy kinh
Phật thay cho tượng Phật đặt ở vị trí thích đáng, cũng không cần
đốt hương đốt đèn, nến, không dâng hoa, dâng nước v.v
Trước và sau khóa tụng chỉ cần làm lễ để bày tỏ lòng thành
mà thôi. Nếu những người ở cùng với mình trong một phòng một
nhà cũng đều là Phật tử, thì có thể bố trí nơi thờ Phật chung.
Nhưng nếu có một mình tin Phật tử thì không nên cưỡng ép người
khác để cho mình đặt bàn thờ Phật, bởi vì làm như vậy, sẽ
khiến cho người khác bực mình khó chịu.
Tình hình cũng như vậy, nếu trong nhà chỉ có mình là
theo đạo Phật. Trong trường hợp này, nếu đặt bàn thờ Phật ở
trong nhà sẽ dễ làm cho người trong gia đình có ác cảm với đạo
Phật. Điều kiện sẽ thuận lợi hơn cho việc đặt bàn thờ Phật
tại nhà nếu mọi người trong nhà đều tin Phật, học Phật hay là
nếu chủ gia đình là người tin Phật, hoặc cả chồng và vợ đều
tin Phật và nhà cửa rộng rãi. Bàn thờ Phật nên đặt ở vị trí
chính của phòng khách đối diện với vị trí ngồi bình thường của
chủ nhà. Sau tượng Phật không nên có cửa sổ. Tượng Phật phải
đặt đối diện với cửa sổ có đủ ánh sáng để cho người
khách bước vào có thể thấy ngay được. Bàn thờ Phật chiếm vị
trí trung tâm của nhà ở gia đình để có thể phát huy tác dụng
cảm hóa an lạc. Nếu có ý kiến của thầy địa lý thì nên lấy ý
kiến đó để tham khảo, không nên câu nệ mê tín, chỉ cần không
được đặt bàn thờ Phật đối diện với chuồng xí, bếp núc, hay
giường ngủ là được. Bàn thờ Phật nên đặt ở phòng vắng
lặng, không phải là nơi tiếp khách, hội họp, cười đùa, ăn
uống, mà phải là nơi tụng niệm, ngồi thiền, không nên dùng vào
mục đích khác.
Nếu trong nhà đã có sẵn tượng Quan Công, Thánh
Mẫu, có bàn thờ Thổ Địa thì không nên vì tin Phật mà phá bỏ
cả đi, phải tiến hành dần dần từng bước : đầu tiên hãy đặt
tượng Phật, Bồ Tát vào vị trí trung tâm, đặt các tượng thần
thánh bài vị tổ tiên ở hai bên. Cũng không cần đặt thêm hương
án, đèn nến mà làm gì, bởi vì các thần thánh, tổ tiên, ông
bà đều hộ trì Tam Bảo gần gũi với Tam Bảo và cũng sẽ trở
thành đệ tử Tam Bảo.
Còn bài vị tổ tiên, ông bà thì nên chuyển đến
"Vãng sanh đường" trong chùa, trong nhà cũng không nên thờ
bài vị tổ tiên làm gì. Nếu muốn giữ lại trong nhà thì có thể
đặt dưới chân tượng Phật. Cũng có thể đặt một bàn thờ
khác để thờ, nhưng phải nhỏ hơn bàn thờ Phật. Các chùa lớn,
rộng đều có "Vãng sanh đường" ở đây đặt các bài vị
vãng sinh. Ở các chùa nhỏ không có "Vãng sanh đường"
riêng thì có thể thờ bài vị tổ tiên ông bà ở hai chái bên
điện thờ Phật. Như vậy vừa kết hợp bày tỏ lòng tôn kính đối
với Phật, Bồ Tát và lòng kính hiếu đối với tổ tiên, ông bà.
Các tượng Phật, Bồ Tá thờ ở nhà không nên quá
nhiều và phức tạp. Có thể lấy một vị Phật đại biểu cho vạn
Phật, lấy một Bồ Tát thay cho các Bồ Tát. Nói chung, phần lớn các
gia đình đều thờ tượng Bồ Tát Quan Thế Âm, tượng Phật Thích Ca,
Phật A Di Đà, Phật Dược Sư
Có thể lấy tượng của một vị
đại biểu cho tất cả các vị cũng được. Nếu trong nhà đã sẵn
thờ các tượng Phật, Bồ Tát thì nên đặt tượng Phật ở giữa,
tượng các vị Bồ Tát ở hai bên, hoặc là ở các vị trí dưới
tượng Phật một bậc, làm như vậy để đề cao vị trí độc tôn của
Phật. Tranh, tượng Phật, Bồ Tát to hay nhỏ là tùy theo kích thước
của gian thờ Phật và bàn thờ Phật. quy mô phải tương xứng, quá
to hay quá nhỏ đều không nên.
Khi thỉnh tượng Phật Bồ Tát về nhà, nhiều người
thích làm lễ gọi là "khai quang". Theo quan điểm Phật giáo
chính thống thì nghi thức đó không cần thiết. Bởi vì tượng Phật
và Bồ Tát chỉ là những công cụ để tu hành. Điều quan trọng ở
đây là đức tin và lòng thành, lòng sùng kính, chứ đâu phải
ở nơi tượng Phật và Bồ Tát.
Khi Phật Thích Ca còn tại thế, lúc Phật lên cõi
trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẹ ba tháng, dân chúng ở cõi
người chúng ta có tạo tượng Phật để cúng dường. Lúc bấy
giờ không thấy chép có nghi thức khai quang. Về sau này kinh sách
Phật, tranh tượng Phật, các pháp khí chùa chiền, bảo tháp đều có
ý nghĩa biểu tượng cho tính thường trụ của đức Phật và Phật
pháp. Nghi thức càng long trọng càng thu hút nhiều người phấn khởi
tín tâm. Vì vậy càng ngày càng có nhiều nghi thức cúng dường,
mà khai quang tượng Phật, Bồ Tát là một trong những nghi thức đó.
Các nhà chùa, tu viện hiện nay, mỗi lần đặt tượng Phật, Bồ Tát
mới đều có triệu tập đông đảo tín đồ làm lễ khai quang, cũng
tương tự như lễ khai giảng năm học mới, khai mạc công ty hay cửa
hàng mới, khánh thành một công trình kiến trúc mới phải tổ
chức để công bố cho đông đảo quần chúng biết.
Còn như đặt tượng, tranh Phật, Bồ Tát ở gia đình
thì không cần cử hành nghi thức khai quang làm gì, cũng không cần
triệu tập đông người đến chứng kiến. Chỉ cần có lòng thành
kính, đem tượng Phật Bồ Tát bố trí ở nơi thích đáng, rồi ngày
ngày cúng hương hoa quả trái, không ngày nào quên. Lễ vật cúng
dường phải đảm bảo thường xuyên tươi tốt và mới, như vậy sẽ
phát huy đầy đủ tác dụng của bàn thờ Phật, Bồ Tát, đạo tâm
của người cúng dường nhờ vậy mà được tăng tiến.
Hương đốt phải tốt và mới, mỗi ngày thắp một cây hương là
đủ. Không nên thắp nhiều hương quá một lúc, làm cho không khí
trong nhà mất tinh khiết. Nên dùng các loại hương như đàn hương,
trầm hương là loại hương tự nhiên. Không nên dùng các loại
hương hóa học, hay loại hương điều chế bằng nguyên liệu động
vật. Ở các gia đình Phật tử "hiện đại" có thể thay đèn
sáp bằng đèn điện. Vật phẩm cúng dường phải được đảm bảo
xanh tươi, tinh khiết không được để hoa quả héo thối. Tốt nhất,
mỗi ngày hai lần sớm tối, có khóa lễ niệm Phật, tụng kinh, thắp
hương, rót nước. Trước khi ra khỏi nhà hay là đi đâu về nhà,
nên đứng trước bàn thờ Phật, Bồ Tát lạy hoặc vái bày tỏ
lòng cung kính cảm tạ.
[^]
15.
TIẾN HÀNH KHÓA TỤNG Ở NHÀ NHƯ THẾ NÀO ?
Nguyên tắc tiến hành khóa tụng là
làm đúng giờ. Nội dung khóa tụng gồm các mục cúng dường, lễ
bái, ngồi thiền, niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát, tụng kinh, phát nguyện
hồi hướng v.v
Cúng dường là bài trí hương hoa, đèn sáp, quả
trái v.v
trước tượng Phật. Nếu điều kiện cho phép thì mỗi
ngày thay một lần. Nếu không thì cũng đảm bảo đừng để hoa héo,
quả trái thối mục trên bàn thờ Phật, giữ cho bàn thờ Phật lúc
nào cũng trang nghiêm, thanh khiết, chỉnh tề.
Nội dung khóa tụng ngày nào cũng nên giống nhau và
tiến hành kết thúc vào thời gian quy định. Tốt nhất là nên chọn
vào lúc thân tâm, đầu óc sảng khoái. Thông thường tiến hành
khóa tụng vào lúc sáng sớm, sau khi thức dậy, trước buổi ăn
sáng hay là chiều tối sau buổi ăn chiều, nghỉ ngơi một lát trước
khi đi ngủ. Cả hai buổi cộng lại vào khoảng từ 1 đến 2 tiếng
đồng hồ, không nên quá 4 tiếng đồng hồ. Nếu không thì thời gian
khóa tụng quá dài, sẽ ảnh hưởng đến sinh hoạt và công tác bình
thường của gia đình. Nếu có tình hình đặc biệt, có thể tiến
hành khóa tụng vào buổi sáng hoặc buổi chiều cũng được.
Cần tiến hành khóa tụng hàng ngày, ngày nào cũng
làm, không ngày nào bỏ. Tác dụng của khóa tụng hàng ngày là
giữ thân tâm thăng bằng, tu dưỡng tâm tính, siêng năng tinh tiến.
Cũng như hàng ngày sáng sớm rửa mặt, ăn sáng,
quét nhà, đi đại tiểu tiện vậy. Mục đích của tu hành không phải
là hình thức, nhưng hình thức có thể giúp làm cho thân tâm an
tịnh, kiện khang, hạnh phúc. Ngoài việc tự mình rèn luyện, phản
tỉnh, khóa tụng hàng ngày còn đảm bảo cho chúng ta được chư
Phật, Bồ Tát, chư thiên gia hộ nữa. Các mục của khóa tụng có
thể nhiều hay ít, tùy theo điều kiện và mục đích của mỗi người,
thế nhưng các mục như rót nước, dâng hương, lễ bái thì không
được thiếu. Trong buổi cá nhân tiến hành khóa tụng, không cần
chuông mõ, cũng không cần giọng phải ngâm nga trầm bổng. Nếu không
phiền người khác thì có thể dùng mõ nhỏ. Buổi sáng sớm sau khi
đặt đồ lễ và lạy ba lạy thì tụng : "Chú đại bi" từ ba
đến bảy lần, đọc một lần bài "Tâm kinh" ba lần niệm
"Mahabát nhã ba la mật đa", rồi niệm danh hiệu Phật A Di Đà
hay Bồ Tát Quan Thế A? 48 lần hay 108 lần, rồi tụng 10 nguyện lớn
của Bồ Tát Phổ Hiền và đọc 4 lời nguyện lớn. Cuối cùng đọc
ba lời quy y Phật, Pháp, Tăng và đọc kệ hồi hướng như sau :
- Nguyện tiêu trừ ba chướng và các phiền não
- Nguyện được có trí tuệ sáng suốt
- Nguyện tiêu trừ mọi tai chướng
- Đời đời hành đạo Bồ Tát
Xong, lạy ba lạy và buổi khóa tụng kết thúc.
Nội dung khóa tụng buổi chiều hay buổi tối, sau khi ăn
cơm chiều nên gồm:
- Cúng dường, lễ bái
- Tụng kinh "Di Đà" hoặc "Bài sám hối" 1 lần
Cũng có thể tụng "Chú đại bi" 7 lần,
"Tâm kinh" 1 lần, "Chú vãng sinh" 3 lần, niệm danh hiệu
Phật A Di Đà 48 lần hay 108 lần. Sau đó đọc 4 lời nguyện lớn,
đọc kệ cảnh tỉnh chúng sinh của Bồ Tát Phổ Hiền, ba quy y và kệ
hồi hướng. "Nguyện đem công đức này hồi hướng tất cả
chúng sinh, giải thoát nỗi khổ của ba cõi, đều phát tâm bồ
đề", sau đó lạy ba lạy và buổi khóa tụng chiều kết thúc.
Tùy theo người hành lễ nhanh hay chậm, có người
biết, có người không biết xướng, tùy điều kiện có thể dùng
chuông mõ hay không dùng, số lần đọc kinh, đọc chú có thể tăng
giảm để đảm bảo thời gian quy định.
Nếu thời gian cho phép, có thể kéo dài mỗi buổi
khóa tụng từ 45 phút đến 1 giờ. Trước khóa tụng buổi sáng và
sau khóa tụng buổi chiều có thể ngồi thiền từ 25 phút đền 30
phút. Tốt nhất là học được cách thức ngồi thiền an toàn của
một thiền sư, có kinh nghiệm thuộc phái Phật giáo chính thống. Nếu
không thì phải biết ngồi thẳng người, nghiêm túc, thân tâm thư
ruỗi, niệm không thành lời danh hiệu Phật, Bồ Tát, chuyên chú
nhất tâm, không căng thẳng cũng không buông lỏng. Nếu không quen
ngồi thiền thì có thể thay bằng phương thức lễ bái Phật, Bồ Tát.
Lễ bái hay ngồi thiền đều với tâm không cầu mong gì riêng tư.
Đó là cách thức lễ bái và ngồi thiền an toàn nhất, đúng đắn
nhất. Nếu không dễ sinh ra những lệch lạc gây chướng ngại đối
với thân và tâm như thấy cảnh tượng hư huyễn, quái lạ, ảo
giác.
Người tu hành chân chính không đòi hỏi một điều
kiện nào, tuy rằng có mục đích. Chính bản thân sự tu hành là mục
đích.
Nếu như muốn kéo dài thời gian khóa tụng và thời
gian ngồi thiền thì có thể, buổi sáng, sau khi cúng dường, lễ bái
xong đọc thêm "Chú Lăng Nghiêm" và mười câu chú ngắn.
Còn buổi chiều tối, sau khi cúng dường lễ bái, có thể đọc thêm
"Phẩm phổ môn" thêm số lần tụng "Chú đại bi" 21
lần hay 48 lần.
Nếu ở nhà rỗi rãi, có thể tổ chức "Lễ bái
kinh Phật" theo phương pháp như sau : Trước hết làm lễ cúng
dường, đọc mỗi chữ trong kinh thì vái một vái. Khi vái một chữ
thì niệm hai lời "Bái kinh". Thí dụ làm lễ bái kinh Pháp hoa
vái một vái thì niệm "Nam mô diệu pháp liên hoa kinh" "Nam
mô pháp hoa hội thượng Phật Bồ tát". Nếu bái kinh Kim Cương
thì niệm "Nam mô bát nhã ba la mật Kim Cương kinh" "Nam mô
bát nhã ba la mật hội thượng Phật, Bồ Tát". Nếu bái kinh Di
Đà thì niệm "Nam mô Phật thuyết Di Đà kinh" "Nam mô liên
trì hải hội Phật, Bồ Tát". Nếu bái "Phẩm phổ môn" thì
có hai cách niệm. Các thứ nhất là niệm như đối với kinh Pháp
hoa. Cách thứ hai là niệm "Nam mô Quan Thế A? Bồ Tát phổ môn
phẩm" "Nam mô đại từ bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế A? Bồ
Tát". Nếu bài kinh "Địa Tạng" hay kinh "Dược Sư"
cũng bái theo kiểu như vậy.
Khi bái kinh, thông thường dùng giấy điều màu vàng
hay là hương chiên, đàn, và dùng kính chữ to đọc và vái từng
chữ một. Bái hết một đoạn kinh thì có thể dùng bút đánh dấu,
để lần sau tiếp tục bái. Một lần bái xong phải xếp cuốn kinh lại,
không được mở, cũng không được cất cuốn kinh ở một nơi nào
khác.
Bái xong trọn một bộ kinh, có thể tiếp tục bái lại
bộ kinh đó hay là phát nguyện bái hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn
bộ kinh khác. Hay là cả đời chỉ bái một bộ kinh, càng bái nhiều
lần càng tốt.
Mục đích của việc tiến hành khóa tụng hay bái kinh
có thể là vì lợi ích đời sau hoặc là đời hiện tại, có thể
là để đạt đến công đức nhất định, một niềm hy vọng nào đó.
Trong thời gian tiến hành khóa tụng thì phải chuyên chú nhất tâm,
không nên để bị xao lãng bởi một ước mong riêng tư nào khác.
Thái độ tốt nhất là chỉ muốn chúng sinh thoát khổ được vui.
Riêng mình thì không mong cầu gì. Đó chính là thái độ hành đạo
của Bồ Tát, tu hành không phải vì mình, đó là công đức lớn
nhất.
[^]
16. CÓ
THỂ TIÊU TRỪ TAI HỌA VÀ KÉO DÀI TUỒI THỌ ĐƯỢC CHĂNG ?
Lý luận nhân quả của Phật giáo
nói lên sự quân bình của lực lượng tự nhiên. Tai họa xảy ra
hay là thành đạt hạnh phúc đều là nhân quả báo ứng. Gieo nhân
lành thì được quả lành, được phú quý và sống lâu. Gieo nhân
ác thì chịu quả ác, gặp tai nạn và bệnh tật. Do vậy theo quan điểm
của Phật pháp, làm thiện tránh ác chính là biện pháp tốt nhất
để trừ tai họa và sống trường thọ.
Nguyên lý tiêu trừ tai họa, sống thọ là nơi sám
hối, phát nguyện. Quả báo đến thì phải chịu, thế nhưng khi phát
tâm sám hối và phát nguyện, thì quả báo chưa sinh khởi có thể
biến chuyển. Cũng giống như kẻ phạm tội, khi đem ra phán xử, mà
biết nhận tội và ăn năn hối lỗi, chịu hợp tác với quan tòa,
thì khi luận tội cũng sẽ được khoan giảm. Ngày xưa có chuyện đái
tội lập công, đem công chuộc tội, ngày nay có lệ giảm tội mà
không bắt giam, không khởi tố hoặc tiến hành hòa giải ngoài phạm
vi của tòa án. Đó là những thí dụ tuy có nhân phạm tội, nhưng
quả chịu tội được chuyển biến.
Người cầu xin được tiêu trừ tai họa, sống thọ,
không được một mặt cầu xin, một mặt cứ tiếp tục làm ác, mà
phải sám hối, làm các Phật sự như tụng kinh lễ bái, bố thí cúng
dường. Tức là dùng Phật pháp mở đường cho các oan gia trước
đây của mình, được lìa thoát cõi khổ, không còn hạch sách đòi
nợ cũ nữa. Lại nhờ sức mạnh của phát nguyện mà nhân tố ác
đã gieo được cải biến. Trái lại nếu cứ tiếp tục làm ác thì
sẽ phù hợp với nhân ác đã gieo, tội ác càng chồng chất, nên
bỏ ác làm lành thì có thể hạn chế những nhân tố ác đã làm
và nhờ đó tránh khỏi tai họa.
Vì vậy, phát nguyện, học Phật làm điều thiện có thể làm thay
đổi vận mệnh tương lai. Đương nhiên, ở đây, còn có sức mạnh
bất khả tư nghị của Phật pháp nữa. Trong kinh có nói, người quy y
Tam Bảo sẽ được sự gia hộ của 25 vị đại thiện thần(*).
Người làm lễ cầu tiêu tai họa và sống thọ, nếu đã quy y Tam Bảo
thì cũng được sự gia hộ như vậy. Từ vô thỉ đến nay, nhân quả
thiện ác xoay vòng mãi không thôi, cực kỳ phức tạp, ân oán
chằng chịt giao xen, người nào mắc nợ người nào, chúng sinh nói
chung và cả đến bậc A La Hán nữa, cũng đều rất khó làm sáng
tỏ vấn đề này. Do sức mạnh Phật pháp và sự gia hộ của các vị
thần hộ pháp, có thể tránh được những quả báo đáng lẽ phải
chịu. Cũng như người giàu có không đòi những món nợ nhỏ đối
với kẻ nghèo khổ, nỗi oan gia ngày trước, nếu được siêu sinh
thoát khổ rồi, thì nỗi oan ức và lòng giận cũng sẽ được giải
trừ, không còn lấy oán báo oán nữa. Đó chính là đạo lý của
việc tiêu trừ tai họa và cầu trường thọ.
[^]
17
- CÓ CÔNG DỤNG GIA TRÌ HAY KHÔNG ?
Giáo pháp đạo Phật bao gồm nhiều
nội dung và thứ bậc : có thứ bậc là tín ngưỡng dân gian, có
những thứ bậc là tôn giáo cao cấp, là triết học và cao nhất là
thứ bậc ngộ đạt thực tướng vô tướng.
Thứ bậc đạt được thực tướng vô tướng tuy là
cao như vậy, nhưng lại là căn bản của Phật giáo, cơ sở của Phật
giáo, bởi vì Phật giáo chủ trương xa lìa dục vọng, không mong cầu
và nương tựa ai, không chấp thụ gì cho nên được giải thoát,
không chấp trước có hay không, thiện hay ác, được hay mất, yêu
hay ghét. Vì vậy mà nói Phật giáo là không thiên lệch một bên
nên gọi Phật pháp và vô biên, hoàn toàn tự tại, thực ra không
cần được ai gia trì cũng không gia trì cho ai.
Nhưng người ta sống cuộc đời phàm tục, tuy vẫn
hiểu rằng cảnh giới thoát, xa rời dục vọng không mong cầu gì cuối
cùng mới là tự tại. Nhưng một khi xảy ra những chuyện không may
như đau ốm, bệnh tật, gia đình mắc nạn, công tác gặp khó khăn,
thì một cách tự nhiên người ta mong cầu được sự hỗ trợ từ
bên ngoài, được sự gia hộ của Phật, Bồ Tát, Thần và Thánh. Do
đó gia hộ và hộ trì tuy không phải cứu cánh của Phật pháp, nhưng
cũng vì thuận theo nhu cầu của chúng sinh, vì phương tiện cứu độ
chúng sinh nên Phật giáo không phủ định hoặc bác bỏ tác dụng và
ý nghĩa của gia trì và phù hộ.
(*) Thần lương thiện chỉ giúp đỡ người, không hại.
Công năng của gia trì là sức mạnh của thần chú,
sức mạnh của lời nguyện và sức mạnh của tâm. Người trì chú
có công đức sâu dày thì bản thân của chú sinh ra lực cảm ứng
có thể cảm thông với quỷ thần, giúp đỡ và gia trì người ta.
Sức mạnh của lời nguyện có thể giúp thông cảm với sự gia hộ
của chư Phật, Bồ Tát và các vị thần hộ pháp. Sức mạnh của tâm
có thể ảnh hưởng tới xu thế của tâm, tăng sức mạnh, ý chí,
thay đổi quan niệm, chuyển hung thành các tiêu trừ tai họa, chữa
lành bệnh, tất cả là do sức mạnh của tâm làm chủ.
Sức mạnh của trì "gia hộ và hộ trì" là ở
chỗ làm cho tâm của người được gia trì có chuyển biến, và nhờ
đó tăng cường sức mạnh của người được gia trì. Cái gọi là
sự gia hộ của thần lực chủ yếu là giúp cho thân tâm được gia
trì được ổn định, vượt qua được khó khăn, tăng cường
được dũng khí và nghị lực để đối phó với hiện thực, chứ
không làm cho người ta khuất phục hay trốn tránh với hiện thực,
chứ không làm cho người ta khuất phục hay trốn tránh hiện thực.
Đương nhiên có thể nhờ có sức mạnh của gia trì mà áp lực
được dịu đi, bớt căng hơn và cuối cùng được triệt tiêu.
Theo lập trường của tín ngưỡng dân gian thì sức
mạnh của gia trì là tha lực chứ không phải tự lực. Đó là
sức mạnh thần chú, sức mạnh của lời nguyện và tâm người gia
trì và nhằm giải quyết vấn đề của người được gia trì.
Đó là mong cầu và niềm tin của người ta nói chung.
Bởi vì bản thân không mất công tu hành, không phải trả giá gì
hết mà lại vượt qua được mối nguy cơ lớn. Đó là nguyên nhân
của tín ngưỡng quỷ thần ở con người bình thường.
Thế nhưng sức mạnh của gia trì, chỉ có thể đối phó
với tai họa nhất thời thôi chứ không phải vĩnh cửu, cũng như
dựa vào thế lực của người có quyền uy, để trốn tránh xã hội
đen tối hoặc để tránh sự truy lùng của chủ nợ. Một khi mà thế
lực che chở không còn nữa hoặc bị suy yếu thì tai họa sẽ đổ ập
đến ghê gớm hơn nữa.
Biện pháp của Phật giáo thì khác. Nếu bị kê oan gia
hay chủ nợ quấy nhiễu gây trở ngại thì người ta trì có thể
dùng sức mạnh của lòng từ bi và công phu tu hành của mình để
cảm hóa, làm cho oan gia, người chủ nợ rũ sạch hết tâm báo thù
và đòi trả oán, khiến họ thoát khỏi sự ràng buộc mà được
sinh ở cõi thiện đạo, nhờ đó mà người được gia trì sẽ tai
qua nạn khỏi. Nhưng sau đó phải quy y Tam Bảo, tu trì Phật pháp tạo
phúc cho chúng sinh, nếu không mà tiếp tục tạo nghiệp ác thì càng
chịu quả báo nặng nề hơn nữa.
Có người trì chú Đại Bi trong bát nước, có
người dùng sức mạnh của lời nguyện, biến một pháp khí hay đồ
vật thông thường thành vật linh thiêng rồi dùng để trị bệnh,
đuổi tà, cầu an, giáng phúc. Đó là do sức mạnh của lời nguyện
và sức mạnh tu trì, phúc đức, tâm lực của người được gia
trì khiến vật phẩm của anh ta sản sinh ra lực lượng. Hiệu lực của
vật thiêng nhiều hay ít, kéo dài thời gian bao nhiêu là do phạm vi
của cảm ứng.
Đó là tác động chủ yếu do tha lực. Nhưng nếu
người được gia trì không chịu thu thập điều thiện, tránh xa điều
ác thì sự may mắn của anh ta chỉ là tạm thời. Nếu anh ta cứ tiếp
tục làm ác thì hậu quả xảy ra càng trầm trọng hơn. Vì vậy gia trì
chỉ là phương tiện có hiệu lực tạm thời, không phải là biện
pháp căn bản.
[^]
18. CÁC
BẬC ĐẠI TU HÀNH CÓ THỂ TIÊU TRỪ NGHIỆP CHƯỚNG CHO CHÚNG SINH
ĐƯỢC KHÔNG ?
Đúng là có người nói như vậy,
các bậc tu hành đạo cao đức trọng có thể chịu quả báo thay cho
chúng sinh. Thí dụ có người nói, Lão Hòa Thượng Hư Vân gặp
phải sự kiện Vân Môn, bị đánh đập thương tích đầy mình, đến
nỗi gần chết, chính là đã chịu nạn thay cho tất cả mọi người
Trung Hoa trên đại lục. Lại có người nói, có những vị đại Lạt
Ma, lâm trọng bệnh, đau đớn đến chết là thay cho toàn nhân loại
mà tiêu trừ nghiệp ác. Lại có người nói, có những bậc cao
tăng tu khổ hạnh ngồi nhiều ngày trong tuyết, ngồi phơi nắng dưới
mặt trời hoặc nhờ người khác dùng roi, gậy đánh đập nhục
thân của mình, là để cho số đông người sống được bình an,
mạnh khỏe. Hiểu như vậy hình như đúng mà thực là sai, không phải
là sự hiểu biết đúng đắn của Phật pháp. Phật giáo giảng lý
nhân quả áp dụng chung cho tất cả chúng sinh không phân biệt. Mọi
người tạo ra nghiệp riêng biệt, chỉ chịu báo riêng biệt. Nhiều
người tạo ra nghiệp chung (cộng nghiệp) thì chịu quả báo chung được
phúc báo. Thí dụ : Mọi người đều ăn cơm thì mọi người đều no,
không ăn thì đói.
Một người ăn không thể làm cho nhiều người no.
Một người không ăn, không liên quan gì đến sự no đói của đại
chúng. Kinh Địa Tạng nói : "Cha con là người chí thân, đường
đi khác nhau, dù họ gặp nhau cũng không thay đổi cho nhau được".
Sức mạnh tu hành của các bậc cao tăng, đúng là có
ảnh hưởng đến người khác. Nơi nào có bậc cao tăng tu hành thì
nơi đó quần chúng được lợi, thời nào xuất hiện một đại cao
tăng thì quần chúng thời ấy được hỗ trợ nhiều. Đó là sức
mạnh cảm hóa của lời nói và việc làm của bậc đại tu hành, là
sức mạnh cảm ứng của bậc ấy, khiến cho nhiều người bỏ ác làm
lành, quỷ thần cũng che chở. Đó cũng là phúc đức của dân
chúng thời ấy nơi ấy cảm ứng mà có cao tăng đại đức xuất
hiện, chứ không phải bậc cao tăng tiêu trừ nghiệp chướng thay cho
chúng sinh.
Trong trường hợp bậc đại tu hành lâm bệnh nặng hay
gặp tai nạn thì có hai khả năng : Một là bậc thánh thể hiện thành
tướng phàm phu, ứng xử giống như phàm phu chịu khổ nạn để dễ
dàng tiếp cận với phàm phu tác động đến phàm phu. Hai là bản
thân bậc đại tu hành đã tạo nghiệp nay chịu báo. Ngay ở kiếp
sống cuối cùng của Phật và A La Hán cũng có thọ báo, huống hồ
là bậc đại tu hành còn ở giai đoạn phàm phu nói chung. Có
trường hợp do bậc cao tăng tinh tấn tu hành khiến các loài Ma Vương
khiếp sợ hay là các oan gia cũ, những chủ nợ cũ tái sinh làm
quỷ thần, lo sợ bậc đại tu hành sau khi rời khỏi sinh tử sẽ
không còn phải trả nợ cũ nữa. Do đó mà chúng gây bệnh tật
hiểm nghèo, giáng tai họa lớn vào đầu bậc đại tu hành. Lại có
trường hợp do nghiệp ác tạo ra từ trước đáng lẽ nên chuyển
nghiệp, không phải đọa ba đường ác, nhưng nhờ công phu tu hành cho
nên chuyển nghiệp, không phải đọa cõi ác, mà chỉ phải trả nợ
bằng một vài bất hạnh ở cõi người, gọi là phạm tội chịu quả
báo nhẹ. Cho nên bậc đại cao tăng gặp tai nạn hay bất hạnh, là
hiện tượng tốt, không phải là tiêu trừ nghiệp ác thay cho chúng
sinh.
Quan niệm bậc thánh chịu tội thay cho chúng sinh là tư
tưởng mượn của tôn giáo thần quyền. Tỉ dụ : Chúa Giê-Su vì để
chuộc tội cho loài người mà phải chết trên thánh giá. Trong tín
ngưỡng dân gian Trung Hoa, người ta tin rằng các vị Bồ Tát có thể
tiêu trừ nghiệp chướng hộ cho chúng sinh, tin rằng đức Phật
Dược Sư có quyền năng "kéo dài tuổi thọ, tiêu sạch tai
ương" hoặc cho rằng Bồ Tát Địa Tạng vào địa ngục để cứu
độ chúng sinh. Lại có người vì để tiêu trừ tai họa, kéo dài
tuổi thọ cho cha mẹ và họ hàng thân thích mà phát nguyện ăn chay,
xuất gia, tự mình xin giảm thọ. Những việc làm như vậy tuy xuất
phát từ lòng tốt trong sáng nhưng đều không phù hợp với luật
nhân quả của nhà Phật.
Có người cho rằng, người tu hành có thể giúp
người khác tiêu nghiệp, trị bệnh, đuổi tà xua quỷ; trong nhân gian
người ta vốn tin như vậy. Nhưng Phật giáo cho rằng, một khi nghiệp
tạo ra được xác định rồi, chín muồi rồi thì nhất định phải chịu
quả báo, không tránh khỏi được. Tuy sức mạnh niềm tin tôn giáo
của dân gian có thể có công hiệu nào đó, nhưng không thể giải
quyết vấn đề một cách căn bản.
Dùng sức mạnh của chú thuật hay sức mạnh tâm linh
của người tu hành có thể nhất thời hạn chế nghiệp chướng của
người khác. Nhưng nếu hạn chế quá nhiều hoặc miễn cưỡng hạn
chế, thì bản thân người dùng chú thuật hay là người tu hành sẽ
bị phẫn kích rồi mắc bệnh, thậm chí bị chết. Cũng như dùng ba tấm
ván để ngăn dòng thác trên núi đổ xuống thì làm sao thành công
được, đó không phải là tiêu nghiệp cho chúng sinh mà là tự
mình tạo nghiệp và chịu quả báo do làm trái luật nhân quả. Tuy bản
thân có lòng tốt muốn cho người khác không chịu quả báo, nhưng
lưới trời lồng lộng khó thoát. Không thể có đạo lý tạo
nghiệp ác mà không chịu quả báo. Như vậy là làm trái với tự
nhiên, với luật nhân quả.
Dù là giúp người bằng sức mạnh của chú thuật hay
sức mạnh của tâm linh của người tu hành, cũng đều phải dựa
trên nguyên tắc cân đối. Nghĩa là người được giúp đỡ phải
có thiện căn, tâm phải chuyển biến tốt, cộng thêm sức mạnh của
chú thuật, và sức mạnh tâm linh của người tu hành mới có thể
hiệu quả. Đó là hiệu quả sinh ra trên nguyên tắc hợp lý, chứ
không phải là "tiêu nghiệp hộ cho người khác".
[^]
19.
TRÌ CHÚ CÓ CÔNG HIỆU HAY KHÔNG ?
Trì chú có tác dụng không ? Trì
chú là dùng những âm thanh đặc biệt, những ngôn từ đặc biệt,
đại biểu cho sức mạnh gia hộ của chư Phật, Bồ Tát hay thần linh
để phát huy những công năng nhất định như trị bệnh, xua đuổi tà
ma quỷ quái, cầu phúc v.v
Trì chú dưới những hình thức khác
nhau đã sớm có trong tôn giáo của các bộ tộc nguyên thủy.
Trì chú xuất hiện nói chung là thông qua môi giới
những nhân vật đặc biệt được tin là có phép linh thiêng, có
khả năng tiếp xúc với thần linh và được thần linh trao truyền cho
mật chú. Ở các nước phương Đông hay phương Tây, nhiều mật chú
được lưu truyền, tin tưởng và sử dụng. Ở Trung Quốc, cả phù
và chú đều được sử dụng, phù là phù hiệu vẽ bằng bút, nó
cũng đại biểu cho một sức mạnh thần kinh nhất định, dân gian tin
rằng phù chú có sức mạnh đuổi tà, tránh dữ, giáng phúc cũng
như một số loại thuốc dân tộc có tác dụng trị bệnh vậy.
Khi đức Phật Thích Ca còn tại thế, có một số ít
đệ tử cũng dùng phù chú, nhưng đức Phật không cho phép. Sau khi
đức Phật diệt độ, những người theo đạo Phật dần dần trở
nên phức tạp, số người trước kia là phù thủy, đạo sĩ ngoại
đạo sau quy y theo Phật xuất gia làm Tỳ kheo. Nhưng họ vẫn tiếp tục
dùng phù chú để chữa bệnh. Trong quyển 27 bộ "Tứ phần
luật" và trong cuốn 46 bộ "Thập tụng luật" có ghi các
truyện dùng chú trị bệnh.
Theo quan điểm cơ bản của Phật giáo, khi có bệnh phải
đến thầy thuốc, gặp tai nạn thì phải sám hối, phải có lòng
thành, làm điều thiện mới có thể chuyển hung thành cát, giải
trừ được oan trái và nghiệp chướng. Vì vậy, trên nguyên tắc
không coi trọng việc dùng mật chú.
Thế nhưng nếu thường xuyên trì tụng những câu
thuật chú nhất định thì cũng có thể tạo được sức mạnh của
thuật chú, trong đó tất nhiên có sức mạnh của thần linh. Nhưng
trọng yếu là sức mạnh của tâm niệm tập trung của người trì
chú. Nếu chuyên tâm nhất trí thường xuyên trì tụng một thuật chú
thì có thể đạt tới hiệu quả thiền định thống nhất thân và
tâm, từ hữu niệm tiến tới vô niệm. Vì vậy, trong giai đoạn phát
triển về sau của Phật giáo, người ta không phản đối pháp môn trì
chú, hơn nữa các câu chú chữ Phạn có ý nghĩa tổng trì nghĩa là
thâu tóm tất cả, cho nên dùng pháp môn trì chú thì có thể thâu
tóm tất cả các pháp. Bất kỳ câu chú nào mà tu trì đúng pháp
và thường xuyên thì sẽ có hiệu quả lớn. Chủ yếu là do công phu
trì chú, kết hợp với giữ giới, tu định mà sinh ra lòng từ bi
và trí tuệ và tất nhiên có thể giúp tiêu trừ mọi nghiệp
chướng, nhờ đó có thể thông cảm với sức mạnh bản nguyện
của chư Phật, Bồ Tát.
Thế nào gọi là Vua của chú (chú vương) ? Theo ý
nghĩa tổng trì thì bất cứ câu chú nào, nếu trì tụng thật chuyên,
thành ra có sức mạnh, cũng đều là chú vương, trừ các câu tà
chú, dùng để lợi mình hại người hoặc để báo thù, rửa hận ra
thì bất cứ câu chú nào đều có thể trì tụng được cả.
Vào thời kỳ đầu Phật giáo mới truyền vào Trung
Quốc, người ta không coi trọng trì chú. Nếu trì chú thì bị phê
phán là tạp tu, mặc dù vào thời Ngụy Tấn cuốn "Kinh chú
Khổng tước vương" đã được dịch ra còn cuốn "Đại bi
chú" được dịch ra chữ Hán vào đời Đường Cao Tôn. Đó là
những tài liệu sớm nhất về Mật Giáo được truyền đến Trung
Quốc. Nhưng mãi tới đời Tống, với sự đề xướng của Đại Sư
Tứ Minh Tri Lễ, thuộc Tông Thiên Thai thì việc trì chú mới phổ
cập. Vào cuối đời nhà Đường "Chú Lăng Nghiêm" đã
được truyền ở Trung Quốc.
Đến sau đời Tống "Kinh Lăng Nghiêm" được
phổ biến, xem trọng mới được các chùa trì chú. Đến cuối đời
nhà Minh, cuốn "Thiền môn Nhật tụng" đã gồm có nhiều câu
chú rồi.
Dưới các đời Đường, Tống, Phật giáo truyền vào
Nhật Bản không lưu hành các câu chú. Ngoài Mật tông ra, các câu
chú không được xem trọng. Tịnh độ tông thì chuyên niệm Phật,
Thiền Tông thì chuyên tham thiền, Tông Thiên Thai thì chuyên tu chỉ và
quán. Vào thời kỳ Trung Quốc cận đại, người ta trì chú đồng
thời kiêm tu các pháp môn khác, đó là điều mà các giới Phật
giáo Nhật Bản rất lấy làm lạ. Đó là do ở Trung Quốc, có nhiều
tỉ dụ của công việc trì tụng chú Đại Bi nên chúng tôi không
phản đối pháp môn trì chú.
Hiện nay trong các câu chú được sử dụng ở Trung
Quốc, đại bộ phận là danh hiệu các thần linh, vì theo tư tưởng
của Đại thừa thì sức mạnh của tất cả mọi thiện pháp và tác
dụng của công đức đều phát xuất từ quyền hiện và hóa hiện
của chư Phật, Bồ Tát. Các câu chú mà Phật giáo dùng đều có
danh hiệu Phật và Bồ Tát, đều có lời quy y Tam Bảo ở trong đó,
nhưng đều dịch âm từ chữ Phạn, chứ không phải dịch ra nghĩa chữ
Hán. Tỉ dụ "Nam mô Phật đà, Nam mô Đạt ma, Nam mô Tăng
già" là chữ Phạn về quy y Tam Bảo. Nếu tụng "Nam mô Quan
Thế Âm Bồ Tát" thì lời lẽ ý tứ rõ ràng hơn.
Người trì chú đúng đắn, tốt nhất là phát âm theo
nguyên âm tiếng Phạn. Tụng tiếng Phạn, mọi âm tiết đều có tác
dụng và ý nghĩa của nó. Như trong từ A di đà, cần phát âm A cho
chuẩn. Thế nhưng trong tất cả các pháp môn, tâm là chủ, thanh là
thứ yếu. Hàng nghìn năm lại đây, người Trung Quốc niệm "Nam
mô A di đà Phật" không hề thấy xảy ra hậu quả hoặc tác dụng
xấu nào cả. Hiện nay, chú Đại Bi được người Trung Quốc, người
Tây Tạng, người Nhật, người Triều Tiên, người Việt Nam trì tụng
với âm thanh khác nhau, nhưng đều đạt tới hiệu quả giống nhau.
Còn việc trao truyền chú thuật là tập tục của Lạt ma Giáo Tây
Tạng của những vị Lạt Ma cao cấp. Thầy trò truyền cho nhau pháp gọi
là Du Già mật, hay là Vô thượng Du Già Mật, theo những nghi thức
nhất định và tự tu hành nhất định.
[^]
20. PHẬT
GIÁO CÓ TIN THUYẾT KIẾP SỐ HAY KHÔNG ?
Phật giáo không tin thuyết định
mệnh, nhưng chấp nhận thuyết nhân quả. Nhân quả có thể thay đổi.
Nhân quá khứ cộng với nhân hiện tại, có thể thay đổi quả báo.
Nhưng sách Phật nói : "Định nghiệp không thể chuyển, trọng
nghiệp không thể cứu" nghĩa là làm sao ? Khi đức Phật nói
định nghiệp không thể chuyển là nói những nghiệp ác cực nặng,
gọi là 5 tội (ngũ nghịch) : giết cha, giết mẹ, giết A la hán, phá
hòa hợp Tăng, làm Phật chảy máu. Ngoài ra, còn có những tội như
hủy báng Tam Bảo, giết người cướp của, đốt nhà phá đê,
cưỡng hiếp phụ nữ đều là tội ác cực kỳ nặng, không thể
chuyển được. Bởi những hành vi đó không những cưỡng đoạt
sinh mệnh người khác, mà còn ảnh hưởng xấu xa lâu dài tới nền
trị an xã hội cho nên những tội ác như vậy, tắt phải chịu quả
báo.
Ngày xưa có câu ngạn ngữ "Muốn hiểu vì sao trên
đời có giặc giã đao binh, chỉ cần nửa đêm nghe tiếng đồ tể
giết các súc vật". Sát sinh quá nhiều không tránh khỏi dẫn
tới chiến tranh, tàn sát lẫn nhau.
Kiếp có nghĩa là thời gian hoặc thời hạn. Nhân ác
tích lũy đến một trình độ nhất định, sẽ sinh ra tai nạn, hoặc với
quy mô khu vực hoặc với quy mô toàn quốc hay thế giới, tùy theo
số người tạo nghiệp nhiều hay ít và nghiệp nặng hay nhẹ. Đời
này tạo nghiệp không hẳn là đời này chịu báo. Trong đời quá
khứ, những người tạo ra những nghiệp nhân giống nhau thì ở
đời sau trong hoàn cảnh giống nhau ở một thời điểm nhất định sẽ
chịu quả báo giống nhau.
"Số" không phải là một từ ngữ Phật giáo.
Nhưng trong "Sở từ", Khuất Nguyên viết : "Số hữu sở
bất đãi, thần hữu sở bất thông". Nghĩa là "số có khi
không đuổi kịp, thần thánh có chỗ không thông suốt" (ý nói
số có khi không đuổi kịp người, thần tuy gọi là linh thông nhưng
vẫn có điều không biết).
Từ "Số" mà Khuất Nguyên dùng là thuật số.
Trong Kinh thư có câu "lịch số" của trời tại nơi thân nhà
ngươi" (có thể hiểu cái gọi là số mệnh trời chính là do nhà
ngươi chứ không phải do trời).
Lại trong cuốn "Văn Tuyển" của Ứng Cư có
câu "Sinh ra ở mùa xuân thì xanh tươi, sinh ra ở mùa thu thì vàng
héo, đó là số tự nhiên, có gì mà ân hận".
Các từ "Số" dùng trong các câu văn trên
đều chỉ lẽ trời, vận mạng hay là vận khí. Đem từ số ghép với
từ kiếp thành ra "số kiếp".
Kiếp là từ Phật giáo xuất xứ chữ Phạn
"Kampa" dịch âm thanh "Kiếp ba", nó chỉ một quá trình
thời gian dài vô cùng, phân biệt thành kiếp đại, kiếp trung, kiếp
tiểu. Độ dài một kiếp tiểu tính như sau : Theo đạo Phật, tuổi thọ
của loài người dài nhất có thể đến 8 vạn 4 nghìn năm, ngắn
nhất là 10 năm. Tính từ 84000 năm, cứ mỗi trăm năm (1 thế kỷ)
giảm một tuổi cho đến khi còn 10 tuổi. Rồi lại từ 10 tuổi tính
trở lên, cứ mỗi trăm năm thêm một tuổi thọ cho đến lúc đạt 8
vạn 4000 tuổi. Quá trình một lần giảm, một lần tăng như vậy là
một tiểu kiếp. Hai mươi tiểu kiếp làm một trung kiếp. Thế giới mà
chúng sinh ở kinh qua 4 giai đoạn : Thành, Trụ, Hoại, Không. Thời gian
một giai đoạn là một trung kiếp, bốn trung kiếp họp thành một đại
kiếp. Căn cứ vào Kinh Phật có giai đoạn "trụ" mới có
hoạt động của chúng sinh. Ở ba giai đoạn còn lại chúng sinh "di
chuyển" ở các thế giới khác. Đối với chúng sinh chưa kịp di
chuyển mà giai đoạn "hoại" bắt đầu, thì sẽ gặp các tai
nạn như đại hỏa (lửa cháy lớn), lụt lớn (đại thủy), bão lớn
(đại phong), gọi chung là "kiếp nạn" có thể thiêu hủy cả
thế giới vật chất và cảnh giới thiền định nữa. Khi nói chúng
sinh không thoát khỏi kiếp nạn là có nghĩa như vậy. Sau kiếp nạn
mà nghiệp báo vẫn chưa hết, thì nghiệp thức của chúng sinh đó
lại tiếp tục ở một thế giới khác để tiếp tục chịu thọ báo.
Nếu nghiệp báo hết, thì không chờ có kiếp nạn xảy ra, chúng sinh
có thể ở cõi Phật từ đó vượt khỏi ba cõi, không còn bị
kiếp nạn nữa. Tất nhiên, nếu không tu hành Phật pháp thì khó
lòng thoát khỏi kiếp nạn.
Trong dân gian nói chuyện "kiếp số" tuy có liên
quan đến Phật giáo nhưng người ta không hiểu được vì sao mà có,
chỉ biết đó là điều không thể tránh, mà không biết làm sao để
tránh. Vì vậy, gặp lúc bình thường, nhiều người không biết sợ
hãi, chơi bơi bừa bãi, đạo đức suy đồi và tư tưởng thoái
hóa. Một số người hiểu biết bèn kêu gọi người khác hãy tỉnh
ngộ bỏ ác làm lành, nếu không thì thiên tai, dịch họa sẽ ập
tới, số người chết sẽ không kể xiết. Thế nhưng số người biết
nghe và tỉnh ngộ rất ít. Những người lên tiếng cảnh tỉnh như vậy
có thể là một bậc nhân sĩ có tâm huyết, có thể là Tăng Ni
Phật tử có trình độ hiểu biết. Có một số nhân dĩ dựa trên
thuyết "kiếp số khó tránh" nói rằng việc "Ma vương"
ra đời tàn sát hàng loạt người là có lý, Ma vương không phải
là kẻ sát nhân, mà những người bị giết yêu cầu Ma vương xuất
thế để giết họ. Nếu không thì thuyết báo ứng nhân quả thiện
ác không đúng nữa. Đó là một lập luận sai lầm cần được uốn
nắn. Bởi vì, nếu lập luận rằng Ma vương xuất thế là để đáp
ứng chúng sinh phải chịu kiếp nạn, thì có khác gì nói rằng đao
phủ giết người là làm đúng pháp luật chứ không phải là phạm
tội. Thực ra, đã là Ma vương thì là phạm tội ác chứ không phải
là "thay trời hành đạo". Chỉ có thiên tai lớn mà sức
người không chống đỡ nỗi mới gọi là "số trời" (thiên
số). Ma vương giết người thì tội ác càng nặng cũng sẽ chịu ác
báo. Hỏa tai, bão lụt là báo ứng tự nhiên và do người tạo
nghiệp trực tiếp chịu đựng. Chính vì vậy mà kinh Phật chỉ nói
tới các kiếp nạn tự nhiên như hỏa tai, bão lụt, không nói
chuyện Ma vương hay đại diện Ma vương thực hiện ác báo của chúng
sinh. Ma vương giết người, có thể là do người bị giết có tội,
cũng có thể do Ma vương nhất thời nổi giận cũng có thể do người
ác xúc xiểm gây ra. Thậm chí có trường hợp nhiều người mượn
danh nghĩa "thay trời hành đạo" để tàn sát sinh linh không
tiếc tay. Đó toàn là những việc làm không chính đáng. Vì vậy,
mà Phật giáo không tán thành quan điểm cho rằng Ma vương xuất hiện
thay cho thiên tai để giết hại sinh linh.
Muốn thoát khỏi kiếp số, chúng sinh cần tu học Phật pháp, giữ 5
giới, làm 10 điều lành, như vậy mới tránh khỏi nỗi khổ của 3
cõi là đao binh, hỏa tai, thủy tai và địa ngục. Tu tập thiền định
có thể tạm thời dứt bỏ được phiền não trong nội tâm. Nếu
giác ngộ mà phát huy được trí tuệ, thì có thể thoát khỏi vòng
sống chết của ba cõi. Nếu không đủ niềm tin để tu tập ngũ giới,
"thập thiện, thiền định và trí tuệ" thì có thể thường
xuyên niệm danh hiệu Phật A Di Đà để cầu vãng sinh sang cõi cực
lạc phương Tây, như vậy cũng sẽ thoát khỏi được nỗi khổ của
sinh tử luân hồi. Đáng tiếc là chúng sinh biết sợ quả khổ nhưng
lại không biết tránh nhân ác. Biện pháp tốt nhất là tức thời
bỏ ác làm lành, trồng phước tu học Phật pháp, phát tâm Bồ Đề,
cầu thành Phật đạo, như vậy có thể tránh được mọi tai nạn của
số kiếp.
---
o0o
---
| Mục
Lục |
Phần A | Phần B | Phần C | Phần D |
| Phần
E | Phần F | Phần G | Phụ Lục|
--- o0o ---
Chân thành cảm ơn ĐĐ Thích Nhật Từ đã gởi tặng phiên bản điện tử tập sách này.
Vi tính : Hải Hạnh
Trình
bày
:
Nhị
Tường
Cập
nhật
ngày:
01-05-2002
|
|