| ...... ... |
. |
HỌC PHẬT QUẦN NGHI
(Giải thích những nghi vấn trong Phật
học)
Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học dịch
Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm
---o0o---
Phần A
[Câu hỏi 1 - 10]
|
[1] Tín
ngưỡng Phật giáo có nhất định phải quy y Tam Bảo hay không ?
[2] Có
nhất định phải nhìn thấy hồng trần rồi sau mới có thể học Phật
hay không ?
[3] Phải
chăng học Phật cũng cần đến tri thức và học vấn ?
[4] Thờ
Phật tại gia có cần phải kiêng kị gì không ?
[5] Học
Phật có cần phải vứt bỏ những hưởng thụ trong cuộc sống hiện
hữu hay không ?
[6] Các
Phật tử quan niệm ăn uống như thế nào ?
[7] Định
nghĩa và phạm vi của sát sinh ?
[8] Vì
sao phóng sinh ? Phóng sinh như thế nào ?
[9] Phật
tử kiếm tiền với thái độ như thế nào ?
[10] Phật
tử có thể có sinh hoạt tình cảm không ?
|
1 - TÍN NGƯỠNG PHẬT GIÁO CÓ NHẤT ĐỊNH
PHẢI QUY Y TAM BẢO HAY KHÔNG ?
Đúng thế ! Tín ngưỡng Phật giáo
và tín ngưỡng dân gian sùng bái quỷ thần rất không giống nhau, tín
ngưỡng Phật giáo tất nhiên phải quy y Tam bảo đầy đủ. Gọi là Tam
bảo là chỉ PHẬT, PHÁP, TĂNG; sở dĩ gọi là Bảo vì lấy mãi chẳng
hết, dùng mãi chẳng cạn, một khi tiếp nhận, thường theo mãi mãi,
nước lửa chẳng thể hủy, trộm cướp chẳng thể đoạt, nhận dùng
không hết, các thứ báu trong thế gian đều không thể nào sánh
nổi.
PHẬT BẢO là chỉ người đã tu hành tới mức
phúc đức, trí tuệ viên mãn cứu cánh, bất cứ chúng sinh nào
cũng đều có khả năng thành Phật, bởi thế chư Phật quá khứ, vị
lai, hiện tại ba đời mười phương đều là đối tượng để chúng
ta quy y tôn kính. Song trong các nhân vật lịch sử của thế giới
chúng ta hiện nay, bậc được thành Phật vẫn mới có một mình
đức Phật THÍCH CA MÂU NI.
PHÁP BẢO chỉ đạo lý và phương pháp để tu
hành Phật và Pháp Bảo mà chúng ta được biết là những điều do
Thích Ca Mâu Ni nói ra, vì thế mà gọi Ngài là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật. Pháp Bảo được thấy hiện nay là chỉ ba tạng giáo điển Kinh,
Luật, Luận cùng với các chú giải, ngữ lục của các tổ sư, đó
là chuẩn mực, là căn cứ chỉ đạo chúng ta tu hành và cần phải
tu hành như thế nào ?
TĂNG BẢO là chỉ người đang tu học Phật Pháp,
và giúp đỡ người khác tu học Phật Pháp, hộ trì chúng sinh tu
học Phật Pháp, bao gồm Bồ Tát, La Hán cùng Tăng Ni phàm phu. Thế
nhưng Bồ Tá và La Hán là bậc thánh tăng, phàm phu có nhìn thấy
cũng chẳng biết được. Những vị mà phàm phu tiếp xúc quá nửa
đều là phàm phu tăng. Vì thế lấy Tỳ kheo, Tỳ kheo ni của thế gian
làm trung tâm của tăng bảo.
Tăng bảo là thầy giáo, Pháp bảo là giáo
trình, Phật bảo là người phát minh và phát hiện ra giáo trình
đó. Chỉ có Tam bảo đầy đủ mới là Phật giáo hoàn chỉnh.
Nếu không, chỉ tin Phật bảo trong Tam bảo, thì không khác gì mù quáng
mê tín quỷ thần, chỉ tin Pháp bảo trong Tam bảo, thì cũng chẳng khác
gì các học giả thông thường nghiên cứu học vấn, chỉ tin Tăng
bảo thì cũng chẳng khác gì người thường nhận cha nuôi, mẹ nuôi.
Đó chẳng phải là Phật giáo.
Bởi vậy việc quy y Tam Bảo giống hệt như việc học
trò đến trường ghi tên nhập học, đó là bước đầu của việc
tin Phật, học Phật. Chỉ sau khi ghi tên nhập học, có học tịch rồi,
tự mình mới thừa nhận là học sinh của trường và nhà trường
cũng mới tiếp nhận bạn vào học tập. Học tập là nghĩa vụ của
học sinh, dạy học là trách nhiệm của nhà trường, bởi thế nghi
thức quy y rất quan trọng, hơn nữa giống như các cặp vợ chồng kết
hôn, như nhân viên đến nhận việc đều phải trải qua các khâu
tuyên thệ và giám thệ
Như vậy để tỏ rõ sự thận trọng và
khẳng định.
Nếu không kinh qua nghi thức Tam Bảo, đương nhiên vẫn
có thể học Phật, Phật giáo không hề coi người chưa quy y Tam Bảo
là ma quỷ, thế nhưng người chưa kinh qua nghi thức Tam Bảo, về mặt
tâm lý, chắc chắn có sự thoái thác, trù trừ, do dự, đến khi
gay cấn, họ sẽ nói rằng : "Tôi chẳng phải là tín đồ Phật
giáo, tôi chẳng cần phải làm đúng theo giới luật của Phật
giáo"; đối với các nghiệp ác và các thói xấu như lười
biếng, phóng túng, tà dâm, vọng ngữ, trộm cắp
họ sẽ tự tha
thứ cho mình, hơn nữa còn không chịu phòng ngừa khi các thứ đó
chưa xảy ra. Nếu quy y Tam Bảo rồi thì bản thân sẽ tự kìm chế,
cảnh giác, canh cánh đối với mình, sẽ được các bậc thiện trí
thức là các bạn đồng tu cùng các bậc sư tăng v.v
động
viên, đốc thúc, khuyên răn, cho nên về mặt nhân cách thăng hoa,
đạo tâm tăng trưởng, tu trì nỗ lực v.v
đều sẽ tiến vào
đúng quỹ đạo, đúng nề nếp.
Xin bạn đọc chớ nên cho rằng việc quy y là không quan
trọng hoặc hiểu lầm rằng chưa hiểu Phật Pháp và chưa tu trì thì
không đủ tư cách quy y Tam Bảo, kỳ thực chính vì bạn vẫn chưa tu
hành, không hiểu Phật pháp mà đã biết Phật pháp là đáng tin,
đáng học, thế thì càng nên mau quy y Tam Bảo. Người ta cho rằng bản
thân chưa đủ tư cách để làm tín đồ Phật giáo càng cần phải quy
y ngay từ bây giờ. Sau khi quy y, bất kể về phương diện nào, về
tâm thái, sinh hoạt hoặc tập quán v.v
đều có thiện hữu, có
chư Phật Bồ Tát đến giúp đỡ cho bạn, gia hộ cho bạn, nếu là
người ý chí bạc nhược, tín tâm chẳng đủ mà quy y Tam Bảo thì
sẽ được tăng cường ý chí, tăng thêm tín tâm.
[^]
2
- "NHẤT ĐỊNH PHẢI NHÌN THẤU HỔNG TRẦN RỔI SAU MỚI CÓ THỂ HỌC
PHẬT" HAY KHÔNG ?
Đây là vấn đề tự hồ như đúng
mà lại sau. Hai chữ "Hồng Trần" thực ra không phải là danh
từ Phật học, mà xuất xứ từ kho từ vựng văn học Trung Quốc.
Nó có ý nghĩa cảnh bụi đất tung bay hoặc là cảnh tượng sinh hoạt
phồn hoa.
Bài phú Tây Đô của Ban Cố đời Tây Hán có câu :
"Nghẽn thành đầy quách, rẽ ra trăm chợ, hồng trần bốn phía,
khói mây nối liền" (điền thành dật quách, bàng lưu bách
triền, hồng trần tứ hợp, yên vân tường liên). Đây là hình dung
Tây đô Trường An người nhiều, việc nhiều, tiền nhiều, hào hoa
náo nhiệt.
Trong bài thơ "Trường Anh cổ ý" của Lư Chiếu
Lân có câu : "Liễu yếu hòe xanh buông quệt đất, Hồng trần
tiết đẹp bốc mù trời" (nhược liễu thanh hòe phất địa thùy,
giai kỳ hồng trần ám thiên khởi).
Trong bài thơ "Thu Nguyệt" (Trăng Thu) của Trình
Hiệu đời Tống có câu : "Cách hẳn hồng trần ba mươi dặm, mây
trắng lá hồng đều vời vợi !" (Cách đoạn hồng trần tam thập
lý, bạch vân hồng điệp lưỡi du du).
Trong hồi thứ nhất truyện Hồng Lâu Mộng của Tào
Tuyết Cần cũng nói : "Có thành quanh cửa trời, chính giữa
chốn hồng trần, là đất phú quý phong lưu hạng nhất, nhì" (Hữu
thành hồi xương môn, tối thị hồng trần trung, nhất nhị đằng phú
quý phong lưu chi địa). Đủ thấy hai chữ hồng trần đều là chỉ cảnh
tượng phồn hoa phú quý nhân gian, quan trường, thế tục.
Câu "Nhìn thấu hồng trần", cũng chẳng phải
là câu nhà Phật sử dụng mà là từ vựng được thường xuyên
sử dụng bởi các nhà văn học từ xưa đến nay ở Trung Quốc đã
chịu ảnh hưởng tự nhiên vô vi của Đạo gia và bởi các kẻ sĩ
ẩn dật và chán ngán cuộc sống phú quý hư huyễn nơi quan trường,
hướng về cuộc sống điền viên nơi rừng núi.
Cho nên "nhìn thấu hồng trần" chính là từ
cuộc sống phồn hoa khác nào mây khói lui về sống ẩn dật trong hoàn
cảnh sinh hoạt tự do, chất phát, giản dị, tại nơi đồng quê rừng
núi.
Phật giáo ở Trung Quốc luôn luôn bị hiểu lầm, Nói
chung người ta thường đem phong khí và hiện tượng trốn tránh hiện
thực, ẩn dật ở núi rừng qui cho tín ngưỡng Phật giáo và kết
quả học Phật. Kỳ thực trong Phật pháp không nói tới "hồng
trần", cũng không nói tới chuyện "nhìn thấu hồng trần"
mà chỉ nói tới sáu trần là Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp đối
đãi với Sáu căn : Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, Ý. Sáu trần là
ngoại cảnh, sáu căn là nội cảnh, phải thêm vào sáu thức của
Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, Ý mới có thể sản sinh ra được hiện
tượng thân Tâm. Tâm bị ngoại cảnh lay chuyển, cũng tức là bị
sáu trần tác động, dùng sáu căn mà tạo ra các hành vi thiện ác
tốt xấu. Phật pháp gọi đó là tạo nghiệp. Có thể tạo nghiệp
ác, cũng có thể tạo nghiệp thiện. Tạo nghiệp ác thì đọa xuống ba
đường ác : địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Tạo nghiệp thiện thì lại
được sinh làm người hoặc được sinh lên cõi trời, hưởng thụ
phúc báo của Người, của Trời. Thế nhưng bất kể là bị đọa
xuống hay được sinh lên, cũng vẫn đều là trong biển khổ luân hồi
sinh tử của thế gian.
Muốn giải thoát thì phải nhận thức được sáu trần
là hư huyễn, chẳng thực, hay biến đổi.
Kinh Kim Cương hình dung nó như mộng, như huyễn, như bọt,
như bóng. Triệt để giác ngộ được tính chất hư huyễn chẳng thực
của thế giới sáu trần thì sẽ được giải thoát tự tại.
Nếu thân tâm ở cõi thế gian sáu trần mà không bị
sáu trần quấy nhiễu, dụ dỗ, mê hoặc thì sẽ chẳng sinh ra phiền
não và được gọi là người giải thoát.
Đủ thấy : Phật Pháp gọi sáu trần là chỉ hoàn cảnh
mà thân tâm đang ở. Cuộc sống phú quý phồn hoa cố nhiên là
thuộc về sáu trần nhưng cuộc sống tự nhiên ẩn dật cũng vẫn chưa
lìa được sáu trần vì thế Thiền tông có câu : "Bậc đại ẩn
ẩn ở chợ búa, kẻ tiểu ẩn ẩn ở núi rừng" (đại ẩn ư
thị trần, tiểu ẩn ư sơn lâm). Đây chính là nói : Nếu tâm vẫn
còn có điều chấp trước, thân vẫn còn có sự trói buộc thì
bất kể là sống trong hoàn cảnh nào cũng đều chẳng được tự
tại. Gió to, mưa lớn, muông dữ, chim hung, trùng độc ở nơi sơn dã
hoặc các thứ mà người ta thường gọi là non cùng, nước độc,
vợ ác, dân điêu đều sẽ gây ra cho bạn phiền não. Còn nếu như
tâm không vướng mắc thì ở chốn cung vua, lầu đẹp và nơi hang
động lều tranh cũng đều như nhau cả, cần gì phải phân biệt.
Người ta thường nói : "Nhìn thấy hồng trần"
tức là cắt tóc làm Tăng, đó có thể là những kẻ thất bại
trên đường quan trường sự nghiệp thất bại, hôn nhân ly tán, gia
đình tan nát, không còn lòng tin và dũng khí nữa, trong bước
đường cùng, đã ngã lòng nản chí bèn tới cửa Phật để tìm
một con đường sống tạm qua ngày, gọi là bạn với khánh xanh mõ
đỏ cho hết cuộc đời tàn. Cảnh tượng này là vô cùng tiêu
cực, bi quan thậm chí còn là bi thảm !
Trong cửa Phật đúng là có hạng người đó. Nhưng
đó tuyệt đối chẳng phải là con đường thông thường, con đường
đúng đắn của những người học Phật tiến vào cửa Phật.
Tiến vào cửa Phật, trở thành tín đồ Phật giáo
thực ra không có nghĩa là cứ phải xuất gia. Tín đồ Phật giáo chia
làm hai loại lớn : tại gia và xuất gia, xuất gia chỉ là số ít, tại
gia mới là số nhiều trong tín đồ Phật giáo. Xuất gia là đem toàn
bộ sinh mệnh gửi gấm vào, có nghĩa là đem thân tâm này cúng
dâng Tam Bảo và thí cho chúng sinh là để độ sinh. Cúng dân Tam Bảo
là để hoằng dương Phật pháp tiếp nối trí tuệ của Phật. Bố thí
cho chúng sinh thì có thể nhiếp hóa, cứu giúp chúng sinh trong biển
khổ.
Có thể xả được điều khó xả, nhẫn được điều
khó nhẫn, đó mới thực là mục đích đúng đắn của xuất gia. Xả
được điều khó xả là vứt bỏ danh lợi, vật dục; nhẫn được
điều khó nhẫn là gánh vác sự nghiệp của Như Lai và khổ nạn
của chúng sinh. Cho nên cái gọi là "nhìn thấu hồng trần"
thật ra không có quan hệ gì với tôn chỉ xuất gia.
Còn những người xuất gia học Phật có thể bao gồm
tất cả mọi tầng lớp xã hội, họ tuyệt nhiên chẳng phải là để
trốn tránh hiện thực mà chính là để hòa với mọi người là
đưa lại thanh tịnh cho mọi người, cũng tức là Phật hóa mọi
người.
Nếu sau khi học Phật mà lại lìa khỏi mọi người, lìa
đàn ở lẽ, thế là làm trái với tôn chỉ Phật hóa mọi người.
Người tại gia học Phật, theo nguyên tắc sinh hoạt năm giới, mười
điều lành, đối với gia đình, xã hội, đất nước đều phải làm
hết trách nhiệm, làm hết bổn phận của mình. Bởi vậy, người
xuất gia sau khi học Phật sẽ càng tích cực hơn đối với cuộc sống
và đối với trách nhiệm của mình. Đó cũng chính là nguyên nhân
khiến Phật Giáo Đại Thừa phân chia hình tượng của Bồ Tát ra làm
hai loại xuất gia và tại gia. Bồ Tát tại gia là tướng trời
người phúc đức trang nghiêm.
Noi theo ý nguyện của "nhìn thấu hồng trần" thì
là tiêu cực, còn học Phật lại là tích cực.
Chúng ta có thể chia hình thái sinh hoạt và tâm thái
sinh hoạt của loài người ra làm ba loại :
Loại thứ nhất chiếm đa số tuyệt đối là thuộc
loại luyến thế, đối với bất cứ sự vật gì cũng đều không
buông bỏ được : tranh danh đoạt lợi, ăn uống trai gái, đắm say
trong cuộc sống, khổ não suốt đời mà chẳng biết sinh từ đâu
tới, chết sẽ đi đâu ? Lúc đáng sống thì khư khư chẳng buông tha,
lúc sắp chết thì bịn rịn bỏ chẳng được, cho nên Phật gọi họ là
những kẻ đáng xót thương.
Loại thứ hai là loại người yếm thế. Họ hoặc là
giận đời, ghét tục, hoặc tiếc rẽ có tài mà không gặp vận may;
hoặc là tiêu cực, bi quan, đối với sinh mệnh giữ một thái độ
cam chịu chẳng biết xoay sở ra sao. Vì thế, hạng người trước sẽ
biến thành những người diễu cợt cuộc đời, hoặc rút lui khỏi
vũ đài xã hội mà sống cuộc sống ẩn dật; hạng người sau nếu
chẳng tự sát mà chết thì cũng trốn tránh hiện thực, uất ức
mà chết.
Loại thứ ba là thuộc về loại người buông được
ra, nhấc được lên. Họ nhìn thấy con người đau khổ, thế sự hiểm
nguy, đem hoài bảo xót trời thương người ra mà cứu vớt chúng
sinh thế gian ở trong vòng nước sôi lửa bỏng, dù cho phải vượt
núi băng ngàn thậm chí là khuôn mẫu của những bậc được
người đời sau được gọi là hiền giả và thánh nhân.
Theo quan điểm của Phật giáo thì loại người thứ
nhất có căn tính phàm phu; loại người thứ hai giống như người
có căn tính tiểu thừa; loại người thứ ba giống như có căn tính
đại thừa.
Song nếu dùng Phật pháp mà hóa đạo thì loại người
thứ nhất dẫu là phàm phu, cũng có thể dần dần tiếp tu được
trí tuệ, hiểu thấu hiện tượng thế gian, mọi người giảm bớt
phiền não cho mọi người, giảm bớt tai họa cho xã hội. Loại thứ
hai căn tính tiểu thừa thì chỉ ít không biết giận đời ghét tục,
hoặc giả nghĩ quẫn tự sát, còn thì sẽ tích cực tu hành, sớm
cầu thoát ra khỏi biển khổ sinh tử, hơn nữa cũng có thể vì mọi
người nêu điển hình và tấm gương về tự mình phấn đấu nỗ
lực, tự mình cứu mình.
Loại thứ ba căn tính đại thừa thì có thể nhờ
sự hóa đạo của Phật pháp mà có một sinh mệnh vô hạn, một
lời nguyện từ bi vô hạn, đời đời kiếp kiếp phát tâm bồ
đề, tu hành đạo Bồ Tát, Phật hóa nhân gian, thành đạt tới
nước Tịnh độ của Phật (không chỉ độ người mà còn độ cho hết
thảy mọi chúng sinh). Họ sẽ không vì trở ngại mà thất vọng, cũng
không vì thuận lợi mà cuồng nhiệt, luôn luôn nỗ lực xúc thành
nhân duyên, lẳng lặng cày bừa, thành công không hẳn tại ta, nhưng
vẫn cứ tinh tiến mãi mãi không lười. Thái độ học Phật như vậy
đương nhiên không có dính dáng gì với quan niệm "Nhìn thấu
hồng trần"!.
[^]
3 - PHẢI CHĂNG
HỌC PHẬT CŨNG CẦN ĐẾN TRI THỨC VÀ HỌC VẤN ?
Câu này hỏi khá hầm hồ, dễ gây
lẫn lộn. Trước hết chúng ta khẳng định câu nói của Khổng Tử
"Dân có thể khiến họ làm theo, chẳng thể khiến họ hiểu
biết" (dân khả sử do chi, bất khả sử tri chi). Câu nói có
nghĩa là đại chúng thông thường hiểu càng ít thì càng có thể
chuyên tâm nhất ý cứ theo phương pháp giản đơn của thầy dạy cho
mà đi sâu vào một môn chuyên chú tu hành và thu được lợi ích.
Cho nên người trình độ thấp, thậm chí người mù chữ chưa từng
đọc qua sách vở cũng không phải là không tiếp thu được nhiều
về Phật pháp, ví dụ Lục Tổ Huệ Năng theo truyền thuyết là người
tiều phu đốn củi chưa hề đọc sách, mà cuối cùng đã trở thành
vị tổ sư thứ sáu trong lịch sử Thiền Tông Trung Quốc.
Song căn cứ vào nội dung của "Lục Tổ đàn
kinh" và căn cứ vào khảo sát của các học giả thì đại sư
Huệ Năng tuy chẳng phải là một vị học giả, nhưng không thể nói
rằng Ngài là người mù chữ. Vì thế, theo truyền thuyết, trong lịch
sử Phật giáo Trung Quốc, người mù chữ trở thành tổ sư Phật
giáo, hơn nữa có ảnh hưởng sâu xa rộng lớn đối với Phật
giáo thì là độc nhất vô nhị. Bắt đầu từ đức Thích Ca Thế Tôn
trong Phật giáo Ấn Độ truyền nối cho đến các vị tổ sư ở các
đời Trung Quốc đều là các bậc trí thức, các nhà đại học vấn
hiểu rộng ngũ minh, hiểu rộng học vấn trong nước và ngoài nước.
Loài người thượng thượng đẳng thì chẳng cần
giáo dục, chẳng cần văn hóa mà là tự thông suốt tất cả, họ
có thể nắm được cái lý cơ bản để quán thông cái sự toàn
thể, chứ không phải từ trong sự nhận biết vạn sự vạn việc
vụn vặt tủn mủn mà thấy cái lý thống nhất. Đúng như trong bài ca
"Vĩnh Gia đại sư chứng đạo" có câu : "Vạch lá tìm
cành ta chẳng thể" (trích diệp tầm chi ngã bất năng) và
"Xuống biển đếm cát chỉ nhọc mình" (nhập hải toán sa đồ
tự khốn), có nghĩa là từ hiểu một mà hiểu cả trăm, chẳng cần
phải tủn mủn vụn vặt.
Học pháp là biết rõ cái lý để mà hiểu thấu cái
gốc, học Phật là kiến tín mà thành Phật, đương nhiên chẳng cần
tri thức và học vấn. Thế nhưng sau khi kiến tính và ngộ rồi, vì
lợi ích chúng sinh nên phải thông hiểu kinh giáo, trau giồi tri thức
để làm công cụ lợi sinh.
Những người trung thượng đẳng và trung hạ đẳng
phải dựa vào sinh giáo, học hỏi minh sư mới có được chuẩn mực
tu hành và phương hướng học tập, nếu không thì tu hành, luyện tập
một cách mù quáng. Trước khi gặp được minh sư, hoặc sau khi đã
gặp được minh sư, cần phải căn cứ vào kinh giáo mới có thể
lựa chọn được minh sư thật hay giả. Nếu thuận với kinh giáo,
thâm nhập pháp lý, hiểu rõ pháp nghĩa thì đó là minh sư thật.
Nếu chỉ đem những điều tự mình ức đoán và những điều cảm
ứng, kinh nghiệm của mình trong việc tu trì để tự do tùy tiện giải
thích kinh giáo và chê bai các vị đại tổ sư chánh thống các đời
cùng Tam Bảo thì chính đó là các tà sư chứ chẳng phải là minh
sư.
Cho nên, nếu ai chưa biết chọn minh sư như thế nào thì
trước hết phải thâm nhập kinh giáo, xác nhận Phật pháp, rồi mới
đi tìm minh sư để giúp đỡ mình theo kiểu vẽ rồng điểm nhỡn
khiến cho ngàn vạn điều nghi vấn thắc mắc có thể chỉ qua một lời
chỉ giáo mà được triệt để giải quyết. Đó mới chính là minh sư
của bạn.
Nếu không biết tí gì mà đi học hỏi minh sư, thì ngay
đối với bạn mà nói ông ta vẫn là một phàm nhân bình thường !
Nếu đã hiểu sâu kinh giáo thì dù có đi nát giầy
sắt, tìm khắp thiên hạ, chưa gặp minh sư, cũng sẽ không bị lạc
đường. Hơn nữa nếu đã nắm vững phương hướng rồi thì chỉ cần
bóc từng lớp một những điều vướng mắc trong lòng thì tuy không
thể phá thủng được đáy thùng vô minh đen kịt ngay trong một lúc,
nhưng vẫn là an toàn hơn.
Người tu pháp môn niệm Phật, nếu không có thời
gian, hoặc hoàn cảnh không cho phép thì chỉ cần nắm vững một câu
sáu chữ hồng danh "Nam Mô A Di Đà Phật" là đủ.
Song các vị tổ sư hoằng dương Tịnh độ các đời như
Ngài Tuệ Viễn ở Lư Sơn cùng các Ngài Đạo Xước, Đàm Loan,
Thiện Đạo, Ca Tài đời Đường, cho đến cái Ngài Liên Trì, Ngẩu
Ích cuối đời Minh cùng đại sư Ấn Quang đầu thời Dân Quốc
v.v
đều là những bậc học rộng, thông hiểu cả ba giáo : Nho,
Thích, Đạo và cũng đều là những nhà tư tưởng lớn trong lịch
sử Phật giáo.
Như vậy thì làm sao lại có thể nói rằng : Niệm Phật
chẳng cần đến kinh giáo ? Chẳng thông pháp nghĩa mà chỉ niệm Phật,
làm sao biết được niệm Phật có thể vãng sinh Tịnh Độ ? Hơn nữa,
cái gọi là Tịnh Độ gồm có mấy loại ? Tuy rằng người hạ đẳng
chẳng biết hỏi, chỉ biết làm theo. Nhưng là người đã biết hỏi,
hơn nữa thường xuyên cần phải giúp đỡ người khác học Phật,
tin Phật, niệm Phật, nếu không biết tí gì về kinh giáo pháp nghĩa
thì làm sao có thể sản sinh ra lực lượng khuyến hóa được ?
Nếu không thì là người mù dẫn dắt người mù, tu
hành luyện tập mù quáng, tà chính chẳng phân, tâm thái chẳng tỏ,
mục đích không rõ ràng, thế thì làm sao có thể tự lợi lợi tha,
đạt tới mục đích vãng sinh Tịnh Độ được ?
Đúng là con người đang giữa lúc dụng công, dù là
tham thiền niệm Phật hay tu hiển, tu mật, đều yêu cầu "tâm vô
nhị dụng" (tâm chẳng dùng hai), không thể vừa tu hành vừa
nghiền ngẫm kinh giáo, hoặc lúc nào cũng đem nội dung, pháp nghĩa
trong kinh giáo ra đối chiếu với tình hình tu hành của mình, đó là
một thứ nhiễu loạn, là đại chướng trong việc tu hành.
Nhưng trong việc nhận rõ chỉ tiêu trước khi tu hành
và việc ấn chứng tình huống, chỉ đạo việc học tập sau này sau khi
tu hành, việc nghiên cứu tụng đọc kinh giáo lại là phần không
thể thiếu được.
[^]
4 - THỜ PHẬT TẠI GIA CÓ PHẢI KIÊNG
KỊ GÌ KHÔNG ?
Tín ngưỡng thông tục của dân gian
có rất nhiều điều kiêng kị, nhưng đó không phải là tín ngưỡng
Phật giáo chân chính mà chỉ là những điều kiêng kị ngộ nhận là
của Phật giáo. Như những cây hương thừa trong bát hương nếu hàng
ngày không thu gọn thì trở nên dơ bẩn và dễ gây cháy rất nguy
hiểm. Thực ra là mỗi một bát hương đặt trước các tượng Phật
trong nhà chùa của chúng ta hàng ngày vào lúc sáng sớm đều cần
phải thu gọn, giữ cho bát hương luôn luôn sạch sẽ như mới thắp
hương lần đầu.
Các nữ tín đồ thờ Phật tại nhà đến kỳ kinh
nguyệt thì không dám tới chùa lễ Phật, thậm chí không dám đến
trước bàn thờ Phật để thắp hương tụng kinh, tọa thiền, niệm
Phật. Kỳ thực đó là điều kiêng kị của hàng quỷ thần cấp
thấp. Vì quỷ thần sợ máu bẩn nên hễ thấy máu bẩn thì dễ nổi
giận. Quỷ thần nghiện ăn máu, thấy máu là dấy lòng tham, nhưng
máu kinh nguyệt không phải là máu tươi nên quỷ thần có phản ứng
như bị người ta đùa bỡn làm nhục. Do vậy, phụ nữ khi hành kinh
vào các đền, miếu, điện thờ quỷ thần thì có thể bị hậu quả
không tốt. Còn như các Sadini, Tỳ kheo ni, cùng các Ưu bà di ở gần
đều sinh hoạt tại chùa, cùng các phụ nữ tu hành hàng ngày làm
bạn với kinh sách, tượng Phật và các pháp vật khác của nhà
chùa, từ xưa đến nay chưa từng thấy ai bị tai họa bởi vấn đề
xung khắc do kinh nguyệt gây ra cả.
Những người thờ Phật tại gia khi lập bàn thờ
Phật trước hết phải nhờ người làm lễ khai quang các tượng
Phật, Bồ Tát, lại phải chọn ngày tốt, hương tốt. Đó cũng là do
tín ngưỡng dân gian hoặc phong tục dân gian. Theo quan điểm "vào
làng nào theo tục lệ làng ấy" mà nói thì tục lệ đó cũng
không có gì sai trái lắm, làm lễ khai quang là để tỏ ý thận
trọng, chọn ngày chọn hướng là để tỏ ý cầu mong tốt lành.
Nhưng theo quan điểm Phật giáo thì chư Phật, Bồ Tát có ở khắp mọi
nơi, không một chỗ nào không ứng hiện. Tất cả mọi hướng đều
có chư Phật thập phương, Tam bảo thập phương, Long thiên hộ pháp.
Như vậy, đương nhiên là không hề có những vấn đề do tín
ngưỡng dân gian tưởng tượng ra. Chỉ cần chọn một chỗ nào mình
cho là tôn quí nhất, rồi với tình cảm thành kính nhất và chọn
một thời điểm thích đáng nhất để đặt tượng thờ Phật là
được.
Có người cho rằng cho những bài chú, kinh nào đó
thì người tu tại gia không được niệm, hoặc có những bài chú,
kinh nào thì không được niệm vào một giờ nào đó. Kỳ thực,
với tấm lòng cung kính, tất cả mọi bài kinh, chú đều có thể
tụng niệm ở bất cứ nơi nào thanh tịnh. Tốt nhất là trước khi
tụng niệm nên rửa tay, súc miệng rồi đứng trước bàn thờ thắp
hương lễ Phật mà tụng niệm nhưng không nên nói người tu tại gia
không được tụng kinh nào đó hoặc không được niệm chú nào
đó, trừ những pháp môn quy định đặc biệt của Mật Tông thì
không kể.
Trong một nhà cũng có thể có người tin Phật, có
người tin Thần, phải chăng có thể thờ chung cả Thần và cả Phật
trong cùng một bàn thờ ? Điều đó nên coi là không có vấn đề
gì : thờ Phật ở chính giữa, cúng Bồ Tát ở hai bên, cúng các
Thần ngoài cùng, coi là kẻ bảo vệ bên ngoài cho Tam bảo, cũng nên
để cho các Thần gần gũi với Tam bảo để tu học Phật pháp, gây
thần nhân duyên với đạo Phật. Nếu đạt được sự thỏa thuận
của cả nhà, sau khi đã đổi ý mà tin theo Phật thì sẽ làm lễ
cúng Thần, khấn cáo với Thần rồi đem tượng (và đồ thờ) Thần
cất đi, để tránh cúng thờ ngẫu tượng quá nhiều sinh ra tạp
loạn.
Có nhiều người không hiểu đối với tro hương cùng
các kinh sách, tượng và các pháp vật bị hư hỏng thì sẽ xử lý
như thế nào ? Thậm chí có người mang đến giao cho nhà chùa. Kỳ
thực thì chỉ cần chọn chỗ đất trống và đồ đựng sạch sẽ, bỏ
các thứ đó vào rồi châm lửa đốt đi, đốt xong đào lỗ chôn
xuống đất là được. Những thứ làm bằng kim loại không đốt
được thì tìm chỗ cất kín, một thời gian sau sẽ xử lý thải bỏ
như đối với đồ đạc cũ kỷ rách nát khác.
Các vật cúng bày trên bàn thờ Phật như hoa, quả,
nước trà v.v
thuộc các loại phẩm vật tiêu hao thì phải thay
đổi hằng ngày. Những thứ gì còn có thể dùng được, ăn
được thì nên đem dùng vào việc khác hoặc đem cho người nhà ăn
dùng, không nên vứt đi, những thứ bị ôi thiu, hư nát thì phải
đổ bỏ đi như đổ rác. Còn như phẩm vật bày cúng nên bày cúng
đơn chiếc hay bày một đôi thì không có hạn chế gì cả. Xét về
mỹ quan đối xứng mà nói thì nên dùng một cặp đôi. Nhưng nếu vì
tiền nong vật phẩm có hạn, hoặc do vị trí chỗ bày biện không tiện,
chỉ bày cúng đơn chiếc thì cũng không có gì là không được. Còn
về đồ cúng là những món gì, về nguyên tắc là tùy theo chỗ
tiền nong chi tiêu mà mình có thể lo liệu được, không bày biện
rườm rà mà cũng không cần phải phô trương.
Thời gian tu hành tại nhà thích hợp nhất là vào
lúc sáng sớm và buổi tối, lúc đó nhờ thân tâm thanh tịnh,
thoải mái. Như vậy mới có thể chuyên chú, thành tâm mà tu tập.
Nếu vì tính chất công việc làm ăn thì đương nhiên có thể chọn
những thời gian khác nhau. Tốt nhất là không lập bàn thờ trong
phòng ngủ, không nên ngồi tọa thiền, lễ Phật, tụng kinh ở trên
giường. Nhưng nếu nhà ở chỉ có một phòng thì tốt nhất là lúc
bình thường lấy vải khăn che phủ tượng Phật khi nào lễ Phật thì
xếp dọn giường chiếu chỉnh tề, sạch sẽ rồi mới mở khăn
tượng Phật ra. Nếu giường làm lễ cúng được, coi đó cũng là
một nơi để tu hành. Nói tóm lại, lấy cái tâm thanh tịnh, cung kính
để biểu thị mức độ trang trọng, nghiêm túc làm nguyên tắc.
Sau khi đã quy y Tam Bảo thì không được quy y một tôn
giáo nào khác, không được thờ phụng một đền miếu, đạo tràng
nào của tín ngưỡng dân gian. Tuy vậy vẫn phải giữ thái độ tôn
kính đối với các tín ngưỡng đó. Khi đi vào các nhà thờ, đền
miếu, đền thần phải cúi người chắp tay chào hỏi. Không được
coi việc thờ phụng đó là đối tượng tín ngưỡng của mình, mà
coi đó là cử chỉ để giữ quan hệ hữu nghị. Trước khi chưa có
nhận thức xác thực đối với Phật pháp thì không được đọc
sách báo ngoại nếu không sẽ dẫn đến sự chi dắt sai lầm về
phương hướng.
[^]
5
- HỌC PHẬT CÓ CẦN PHẢI VỨT BỎ NHỮNG HƯỞNG THỤ TRONG CUỘC SỐNG
HIỆN HỮU HAY KHÔNG ?
Không nhất thiết phải vứt bỏ hay
không vứt bỏ mà cần phải xem xét tình hình. Những hưởng thụ
không mục đích thì nên vứt bỏ, còn những hưởng thụ có lý do
thì cần duy trì.
Tượng Phật phải nhiếp vàng là để cho chúng sinh xem.
Con người ta phải mặc quần áo là để cho những tầng lớp xã hội
nhất định xem. Sự hưởng thụ tiêu biểu cho thân phận, địa vị và
lập trường của bản thân mỗi người. Trong những hoàn cảnh và
trường hợp cần phải có nghi thức lễ tiết trang nghiêm, nếu tình
hình điều kiện vật chất cho phép thì sự hưởng thụ tiêu biểu cho
sự long trọng lịch sự. Nhưng nếu điều kiện vật chất thiếu thốn,
năng lực kinh tế yếu kém, hoặc trong tình hình xã hội đặc biệt
khó khăn thì dẫu mình có năng lực, tiền của cũng nên vứt bỏ
những hưởng thụ vốn có để cùng với đại chúng vượt qua cửa
ải khó khăn, như Ngài Găng Đi ở Ấn Độ trước đây chính là
như thế.
Trong xã hội ngày nay, do phép lịch sự hoặc vì lý do
an toàn, trong những trường hợp, hoàn cảnh nào đó, thì phải ăn
mặc mũ áo chỉnh tề, phải dùng đến ô tô riêng, ban ngày mặc lễ
phục ban ngày, buổi tối mặc lễ phục buổi tối. Ở Nhật Bản và
các nước Âu Mỹ khi đi dự đám tang cần phải mặc lễ phục theo
một kiểu cách và màu sắc nhất định. Tham dự hôn lễ và các
cuộc họp cũng không được mặc quần áo lao động, quần áo ngủ
và quần áo mặc ở nhà. Những việc đó đều không coi là hưởng
thụ.
Phật pháp coi trọng luật nhân quả, phúc báo ở cuộc
đời hiện nay là do sự bố thí của kiếp trước mang lại, hưởng
thụ quả phúc cũng ví như việc rút tiền gửi ở ngân hàng ra ma chi
dùng, rút ra dùng càng nhiều thì tồn khoán càng ít, cuối cùng rồi
cũng có lúc hết nhẵn. Trong cuộc sống hiện nay, hưởng thụ càng
nhiều thì phúc báo để lại càng ít, rốt cuộc rồi cũng có ngày
dùng hết. Cần phải một mặt tiếp tục tu phúc, đồng thời cũng
cần phải dè xẻn việc hưởng thụ của phúc thì mới có thể đạt
đến trình độ phúc đức tràn đầy, nếu không thì dù có đức
cũng không đầy đủ.
Vì vậy Phật giáo nguyên thủy đã chủ trương các Tỳ
kheo trên người không mặc thứ gì dài rộng, một là để răn sự
tham muốn, hai là để dè xẻn phúc báo, ba là để giảm bớt sự
chấp trước của bản thân con người. Những người xuất gia cố
nhiên là phải noi theo, những người tu tại gia cũng nên như thế.
Các Sa di là kẻ xuất gia cần phải tuân thủ các
điều giới luật như không xức nước hoa lên đầu tóc, không bôi
dầu thơm lên người, không nhảy múa, vui chơi ca kỷ, không có duyên
cớ không được đi xem đi nghe, không ngồi nằm trên ghế cao,
giường rộng, không đeo đồ trang sức, không tích trữ tiền bạc,
báu vật v.v
Đại chúng tu tại gia nếu có thể thực hiện
được, ngoài tiền nong cần phải tiêu dùng ra, các khoản khác cũng
phải nên tuân theo như thế. Nếu không thể tuân theo được cả thì
hy vọng hàng tháng thực hiện sáu "ngày ăn chay", để theo
cuộc sống của người xuất gia, mục đích là nhằm dè xẻn hướng
phúc, bỏ sự hưởng thụ. Nội dung hưởng thụ nên bao quát cả
việc ăn, dùng, ở, ngồi, ngủ, các vật đeo mặc trên người cùng
mọi trò vui chơi giải trí. Đó chính là điều tiết dòng chảy đặc
biệt quan trọng từ lúc khởi nguồn. Bố thí là khơi nguồn cho phúc
báo, vứt bỏ hưởng thụ chính là để điều tiết dòng chảy của
phúc báo.
Đức Thế Tôn Thích Ca có đến ba mươi hai đại nhân
tướng, là tướng của phúc đức, trang nghiêm, trí tuệ. Theo truyền
thuyết thì Đức Thế Tôn Thích Ca cũng nhận đồ cúng dường bố thí
là chiếc áo cà sa có giải tua bằng vàng, cũng để cho trưởng giả
Cô-Độc dùng vàng trải đất, mua tịnh xá Kỳ-Viên để cúng dường
Phật. Lúc bấy giờ các vị trưởng giả Phúc Đức thiết lễ trai
tăng cúng Phật dùng toàn những món ăn ngon, lại sửa sang trang
hoàng những nơi cúng Phật, thiết lễ trai tăng rất trang nghiêm, sắp
đặt nhiều nơi cảnh đẹp để Phật thuyết pháp, về sau đều trở
thành những vườn hoa và công viên nổi tiếng trong lịch sử Phật
giáo.
Những miền tịnh độ của nước Phật mà chúng ta
thấy nói đến trong kinh Phật như : Tịnh Độ Di Đà ở Tây Phương,
những lầu gác Di Lặc trong Kinh Hoa Nghiêm, các cung điện của chư
Đại Bố Tát mà Thiện Tài đồng tử trong khi đi tham yết Năm mươi
ba vị thiên tri thức đã nhìn thấy đều là những nơi vàng ngọc
rực rỡ lấp lánh, cực kỳ trang nghiêm. Đó cũng chính là những
người đại phúc đức mà phúc đức gắn liền với họ, mà sự
giàu có biểu hiện ở nơi họ, cũng giống như tướng của những
kẻ nghèo hèn thì xấu xí, da dẻ sần sùi, còn tướng của người
giàu sang thì trang nghiêm, da dẻ nhẵn mượt. Đó là những phúc báo
mà họ sinh ra đã có, không liên quan gì đến chuyện vứt bỏ
hưởng thụ hay tham lam hưởng thụ.
Sự hưởng thụ mà chúng ta nói đến là chỉ lòng
tham cá nhân muốn cho sướng miệng đầy bụng như ăn uống các món
sơn hào hải vị quý hiếm, chẳng phải vì để thiết đãi khách
khứa, cũng không phải vào dịp lễ tết, mà chỉ để tỏ ra mình đây
giàu có, hoặc muốn để người khác mến mộ mình mà chú ý chăm
chút kiểu các ăn mặc trang điểm để thỏa mãn các hư vinh của
mình, hoặc là vì những kích thích hưởng thụ của ngũ quan mà tìm
đến những "chỗ vui chơi" như các ca lâu, tiệm nhảy, nhà
chứa v.v
mặc sức phóng túng, thả sức đua tìm thú vui vung
tiền như rác, những hành vi như vậy, người học Phật đương nhiên
là phải từ bỏ.
[^]
6
- CÁC PHẬT TỬ QUAN NIỆM VỀ VIỆC ĂN UỐNG NHƯ THẾ NÀO ?
Khi Phật giáo ra đời ở Ấn Độ,
các tín đồ Phật giáo không có thói quen hoặc những điều quy định
nào đặc biệt về ăn uống. Vì Ấn Độ là một quốc gia mà tín
ngưỡng tôn giáo là hiện tượng phổ biến, phàm những người có
tín ngưỡng tôn giáo đều có một quan niệm đại đồng tiểu dị về
việc ăn uống cho nên các tín đồ Phật giáo nguyên thủy cho đến
các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni xuất gia đều sinh sống bằng cách khất thực,
gọi là "một bát nghìn nhà". Họ không lựa chọn đối
tượng khất thực, cũng không có sự cấm k?về ăn uống gọi là
tinh khiết hay không tinh khiết, thần thánh hay không thần thánh, bởi
vì tất cả đều nhất loạt bình đẳng, rộng kết thiện duyên. Cho
đến nay các khu vực Phật giáo thượng tọa bộ như SriLanka, Miến
Điện, Thái Lan v.v
còn giữ tập tục cổ ai cúng dường gì thì
nhận cái ấy không chọn lựa, miễn là không vì người khất thực
mà phạm sát, dù là các món ăn bằng thịt, cá v.v
đều không
từ chối. Đó là nguyên nhân vì sao Phật giáo Tiểu Thừa không quy
định buộc phải ăn chay. Ăn chay là điều Phật giáo nhấn mạnh và
khuyến khích. Nếu ăn chay được thì đó là dựa vào lập trường
từ bi chứ không phải như người ta hiện này nói nguyên nhân khỏe
mạnh và kinh tế. Sự thực thì các thức ăn bằng thịt vừa làm
thương tổn đến lòng từ bi, lại làm hại sức khỏe. Cho nên các
kinh Đại Thừa như Kinh Phạm Võng, Kinh Làng Già v.v
đều nhấn
mạnh việc ăn chay, nghiêm cấm ăn thịt.
Đối với hành tỏi, chất tanh nên có sự phân biệt.
Hành tỏi là các loại rau củ có mùi vị hôi hăng như : tỏi, hành,
hẹ, kiệu. Kinh Lăng Già nói : hành tỏi ăn sống thì sinh cáu gắt,
ăn chín thì kích dâm. Trong giới luật của Tỳ kheo có quy định : ăn
hành tỏi thì phải ở riêng một mình, phải ngồi cách người khác
ngoài mấy bước và phải ngồi hướng dưới gió, hoặc phải súc
miệng cho đến lúc sạch mùi hôi hăng. Như thế chủ yếu là để
khỏi làm phiền nhiễu người khác, nên quy định không được ăn
hành tỏi. Hơn nữa, trước lúc tụng kinh, để cho quỷ thần nghe
tiếng tụng kinh khỏi tức giận và dấy lòng tham thì tốt nhất là
không ăn hành tỏi. Còn chất tanh là chỉ thức ăn bằng thịt. Các
thứ như ớt, hồ tiêu, ngũ hương, bát giác, hương xuân, hoa hồi,
vỏ quế v.v
đều là hương liệu không phải là hành tỏi, không
bị giới luật hạn chế.
Về quy định cấm uống rượu thì đó là một đặc
sắc của tín đồ đạo Phật ở Ấn Độ, các tôn giáo khác không
những không cấm uống rượu mà thậm chí còn coi rượu có khả
năng thông đạt với thần linh. Cất rượu không nên phạm tội sát
sinh, rượu lại có thể trở thành dược liệu, không nên xếp vào
các điều cấm k?của tôn giáo. Nhưng vì tôn giáo coi trọng trí
tuệ, nếu uống rượu nhiều sẽ làm rối loạn tính tình. Ít người
sau khi uống rượu mà làm chủ được mình, không bị say sưa rối
loạn. Cho nên để giữ mình thường xuyên tỉnh táo, có lợi cho
việc tu hành tinh tiến, đặc biệt là để đạt mục đích tu định thì
phải cấm uống rượu. Còn đối với đông đảo đại chúng nếu
căn cứ theo lời Khổng Tử đã nói thì "uống không đến mức
say loạn" không phương hại phong thái đẹp của con người. Cho nên
nếu thọ 5 giới mà không thể giới tửu được thì cũng có thể
bỏ giới ấy cũng không mất đi tư cách đệ tử của Tam Bảo.
Nếu dùng rượu làm gia vị mà không còn mùi rượu,
không làm cho người bị say thì nên coi là không phạm vào giới cấm
rượu. Vì vậy một tôn giáo mới xuất hiện ở Trung Quốc gọi là
lý giáo cũng răn cấm uống rượu. Trong trường hợp cần dùng
rượu thì lấy dấm để thay thế, chẳng hạn dùng dấm để thay làm
gia vị để nấu ăn nên dấm đó không có tính chất rượu nữa.
Nếu vào hiệu ăn mặn hoặc vào nhà mà có người
ăn chay lại có người ăn mặn thì tốt nhất là sử dụng cả dụng
cụ nấu chay và nấu mặn. Vì ăn chay và ăn mặn có mùi vị khác
nhau, nên giữ cho sạch sẽ là điều cần thiết. Tuy vậy, tổ thứ
sáu của Thiền Tông là đại sư Huệ Năng sau khi đã khai ngộ, truyền
pháp phải ẩn lánh trong đám thợ săn chỉ ăn rau ở bên cạnh
miếng thịt mà tránh những miếng thịt ở bên cọng rau. Không ăn
thịt là để giữ lòng từ bi đối với chúng sinh, còn rau là để
sống. Vì vậy trong điều kiện cuộc sống không cho phép dù cho dùng
dụng cụ nấu thịt để nấu thức ăn chay cũng không phải là không
thể chấp nhận được.
Về thuốc lá và chất ma túy thì theo giới luật của
đạo Phật, có thể dùng theo yêu cầu của thầy thuốc để chữa
bệnh. Không những chỉ thuốc lá mà cả rượu nữa trong trường
hợp không thể không dùng thì không xem như phạm giới. Đương nhiên
không thể mượn cớ chữa bệnh để uống rượu, hút thuốc lá và
dùng chất ma túy để thỏa lòng thèm muốn của miệng và bụng. Hút
thuốc để phòng ngừa chướng khi. Ở những vùng có bệnh chướng
khí lan truyền thì người xuất gia có thể hút thuốc với liều
lượng thích đáng, nếu không thì phải răn cấm thuốc là nhằm giữ
uy nghi của người tu hành. Nếu vì những nguyên nhân như kích thích
thèm muốn, buồn bực v.v
mà hút thuốc thì đó là điều giới
luật nhà Phật không cho phép. Ở miền nhiệt đới phương Nam, ăn
trầu cũng có tác dụng phòng ngừa bệnh viêm nhiễm của cơ quan hô
hấp. Nhưng trong trường hợp không phải vì lý do chữa bệnh mà ăn
trầu thì trở thành một tập tục xấu làm mất uy nghi và làm tổn
thương hình ảnh của người tu hành.
Thuốc lá và trầu cau vốn không phải là những thứ
nhu yếu phẩm trong việc ăn uống, đối với cơ thể con người dùng
ít thì có ích cho việc chữa bệnh, dùng nhiều thì có hại. Thí dụ
như uống rượu quá liều lượng thì trúng độc, chất nicotine trong
thuốc lá làm tổn khí hại phổi đồng thời là nguyên nhân gây ra
bệnh ung thư. Nước trầu làm phá hủy chất men răng làm hại độ
bền chắc của răng, tín đồ đạo Phật tốt nhất là không nên
dùng.
Đối với các loại trứng thì nên coi là loại chất
tanh, vì trứng có thể ấp nở thành gà, vịt con có mùi tanh, những
người chay tịnh tốt nhất không nên ăn. Hiện nay trứng gà sản
xuất ở các trại nuôi gà là trứng gà vô tinh, trứng bán ở
thị trường tiêu dùng phần lớn đều là loại trứng không có sinh
mệnh. Nhưng rõ ràng trứng không phải là loại thực vật. Theo quan
điểm sát sinh thì ăn loại trứng vô tính ấy không coi là phạm
giới, cũng không tổn hại đến lòng từ bi. Nhưng nếu theo tập quán
ăn chay thì nên tránh không ăn.
Cuối cùng đối với các chế phẩm sữa là không
thuộc loại thịt cũng không thuộc loại tanh, vì bò, dê ăn cỏ và
ngũ cốc, chất sữa tiết ra không có mùi tanh. Uống sữa vừa không
phạm sát sinh cũng không trở ngại đến việc chăn nuôi bê con, dê
con, vì đã có người chăn nuôi chăm sóc, khống chế lượng sữa
để không gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát dục của
chúng. Bởi vậy trong thời đại của Phật uống sữa bò là phổ
biến, hơn nữa còn phân chế phẩm sữa thành năm loại: sữa, kem,
bơ, pho mát, sữa chua, đó là những thực phẩm hàng ngày cũng là
chất dinh dưỡng rất cần thiết, không xếp vào các điều răn cấm.
[^]
7
- ĐỊNH NGHĨA VÀ PHẠM VI CỦA SÁT SINH
Về nguyên tác mà nói thì trọng
tâm của giới không sát sinh là không giết người. Cho nên giết
người là tội nặng, giết các loại động vật khác là tội nhẹ.
Chúng sinh cố nhiên là nhất loại bình đẳng như nhau. Nhưng chỉ có
loài người là có thể gây nghiệp ác (còn gọi là "hắc
nghiệp" - nghiệp đen) mà bị đọa xuống làm quỷ hoặc xuống địa
ngục. Cũng chỉ có loài người mới có thể tu hành nghiệp thiện
(còn gọi là "bạch nghiệp" - nghiệp trắng) mà được lên
thiên đường, ra khỏi ba cõi, cho đến thành Phật. Còn các loài
chúng sinh khác, trừ một số trường hợp ngoại tệ rất ít, nói
chung là không biết thiện, ác là gì, chỉ có những hành vi tự
nhiên tùy nghiệp mà chịu báo chứ không có tạo tác của tâm ý.
Cho nên con người là khí cụ để chở đạo (Đạo khí) chỉ có con
người mới có thể tu đạo và có thể hoằng đạo. Vì vậy giới
sát lấy việc răn cấm không giết người làm căn bản.
Giết người phải có đủ ba điều kiện : 1 - biết đó
là người; 2 - có dự định mưu sát; 3 - giết chết. Không đủ ba
điều kiện ấy thì chỉ gọi là làm bị thương hoặc ngộ sát, không
hình thành tội giết người. Về con người, thì không kể tuổi tác,
sang hèn, đã thành hình hay chưa thành hình người, đã có trí khôn
hay chưa có trí khôn, đã khẳng định là người thì không được
giết. Cho nên không được sát hại, cũng không được lấy danh
nghĩa cái chết an lạc để xử lý cho người tự họ muốn tìm cái
chết hoặc những người tàn phế đã trở thành vô tri vô giác.
Nếu làm trái với những điều đó tức là phạm
tội giết người. Ngày nay giới y học hô hào những người có
điều kiện cho các bộ phận cơ thể để ghép cho người cần thay
thế, như lấy giác mạc của mắt, lấy quả thận và các bộ phận
khác của cơ thể để ghép cho người khác. Đó là lấy một phần
cơ thể của những người đã không còn khả năng xử dụng nó
nữa, làm cho nó sống lại. Đó là việc làm đáng khuyến khích.
Nếu họ cho khi còn sống có nghĩa là đã được sự đồng ý tự
nguyện của họ. Nếu sau khi họ chết mới dùng để lắp ghép thì
trước đó phải được họ xác nhận đồng ý khi còn sống. Nếu
không làm như thế thì người chết có thể còn một phần quyến
luyến, chấp trước đối với di thể của mình mà sinh tức bực oán
giận, thậm chí còn ảnh hưởng tới ý nguyện chuyển sinh thiện đạo
hoặc con đường vãng sinh tịnh độ của họ.
Những người chết một cách tự nhiên thì thông
thường trong khoảng 12 giờ thần thức chưa lìa hẳn, vẫn còn phần
tri giác. Theo quan điểm y học mà xem xét thì chưa hẳn là đã chết
thực sự.
Nhưng nếu họ làm di chúc để lại nói rõ việc cho
một bộ phận cơ thể của họ để cứu chữa tính mạng của một
hoặc nhiều người khác thì đó là hạnh Bồ Tát xả thân cứu
người. Vì vậy, nếu khi còn sống, người tự nguyện cho cơ thể có
viết di chúc để lại thì việc lấy bộ phận cơ thể của họ để
lắp ghép cho người khác không thành vấn đề phải bàn đến.
Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, vì lý do giữ
gìn môi trường vệ sinh tất phải xử lý vấn đề diệt ruồi,
nhặng, muỗi, kiến, châu chấu, bọ ngựa, chuột v.v
Điều này
đã có định lệ ngay từ khi Phật còn tại thế. Trong nhà tắm của
các Tỳ kheo do bồn tắm lâu ngày không dùng, nên đầy rẫy sâu
nhỏ. Các Tỳ kheo làm công việc dọn dẹp không biết xử lý như
thế nào ? Phật nói "phải làm sạch nước bẩn, dọn nhà tắm cho
sạch". Tỳ kheo hỏi "sẽ làm hại đến sâu bọ". Phật nói
: "đó không phải là làm hại đến côn trùng mà để duy trì
môi trường vệ sinh của con người mà phải quét tước, dọn dẹp,
không phải là mục đích sát thương loài côn trùng cho nên không coi
là sát sinh. Đương nhiên không được phun thuốc có chất độc để
giết hại côn trùng chỉ dùng các phương thức quét tước, dọn dẹp
tiêu độc để phòng ngừa hoặc ngăn cản không cho côn trùng xâm
nhập sinh sôi nẩy nở. Nếu môi trường vệ sinh được giữ gìn
ngăn nắp, sạch sẽ và được tiêu độc thì dẫu có côn trùng
cũng không nhiều lắm.
Trong lúc cày cấy cũng khó tránh khỏi làm tổn hại
đến côn trùng, nhưng vì cuộc sống của bản thân chúng ta, không
những lúc cày cấy mà cả khi đi, khi chạy thường ngày và khi làm
các công việc khác chúng ta cũng vô ý giết hại côn trùng. Vì
vậy chỉ có thường xuyên niệm Phật A Di Đà, nguyện cho các loài
chúng sinh ngu si vô trí sau khi chết được chuyển sinh thiện đạo hoặc
siêu sinh tịnh độ thì coi như không phạm giới sát sinh. Tất nhiên
là nếu cẩn thận đề phòng, giảm bớt những cơ hội làm sát
thương côn trùng thì đó là biểu hiện của lòng từ bi. Nếu đã
biết rằng tự mình gây ra sát sinh mà trong lòng không hối hận thì
tức là không có lòng từ bi.
Đối với các loài rắn độc, thú dữ cùng các
loài côn trùng độc hại khác thì đó là do nghiệp kiếp trước
của chúng khiến nên như thế. Chúng làm hại con người nhưng không
có mưu mô định trước, tuy có hành vi ác nhưng không có ác tâm,
vì vậy không xem chúng gây ra nghiệp sát sinh. Loài người cần có
sự cảm thông và bảo hộ chúng.
Đối với xã hội ngày nay mà nói thì không những
con người có khả năng phòng ngừa không để chúng gây hại mà
còn có thể hoạch định một phạm vi không gian khiến cho chúng được
sinh tồn, hoặc hạn chế khả năng sinh sôi nẩy nở quá nhiều của
chúng để chúng khỏi trở thành mối đe dọa đối với con người.
Ở đây chúng ta nên dùng các phương pháp phòng ngừa chứ không
nên dùng phương pháp hủy diệt, không những nhằm bồi dưỡng lòng
nhân từ của loài người mà cũng là để làm hết trách nhiệm
đối với việc bảo vệ môi trường thiên nhiên.
Nói chung người mới học Phật thường chưa hiểu rõ
định nghĩa thế nào là chúng sinh. Hơn nữa ngày nay lại càng có
người cho rằng thực vật cũng có sinh mệnh, thực vật cũng có
tình cảm, nếu nói không sát sinh thì không nên sát sinh đối với
động vật đã đàng, mà cũng không nên sát sinh cả đối với
thực vật nữa. Kỳ thực thì sinh mệnh có thứ lớp của nó. Thực
vật là loài chúng sinh vô tình, động vật là loài chúng sinh hữu
tình. Cái gọi là chúng sinh có thể chia làm ba cấp : Loại cao cấp
là loài người, có đủ 3 điều kiện : 1 - có tế bào sống; 2 - có
phản ứng thần kinh; 3 - có đủ tư tưởng và trí nhớ. Loại cấp
thấp là thực vật chỉ có tế bào sống không có thần kinh và trí
nhớ. Tuy có phản ứng về sống chết, không có cảm ứng vui
sướng, đau khổ càng không có tư tưởng và trí nhớ, nên gọi là
loài vô tình. Loại cấp trung là động vật. Chỉ có ít loài như chó,
khỉ, ngựa, voi v.v
là động vật bậc cao, có một trí nhớ nào
đó, nhưng không có khả năng tư duy. Còn các động vật loại thấp
thì ngoài phản ứng thần kinh bản năng, không có tư tưởng và trí
nhớ, nhưng chúng có thần kinh tức có cảm giác đau khổ, biết sợ
chết, vì vậy loài sâu, kiến đều có bản năng tự nhiên biết
trốn tránh khi có nguy cơ tử vong. Thực vật thì không như thế. Cho
nên giới hạn định nghĩa sát sinh là các loại động vật biết sống
chết không phải cả loài thực vật.
Phật răn cấm các Tỳ kheo không được chặt phá cây
cỏ, đối với các loài vi sinh vật như vi khuẩn thì theo quan điểm sinh
vật học vì đó là các loại sinh vật năm ở giữa động vật và
thực vật, không có thần kinh, lại không có tư tưởng và trí
nhớ, không thuộc chúng sinh hữu tình,, có thể nói đó là những
thực vật có hoạt động, nên giết vi khuẩn không phải là sát sinh.
Đối với các loài vi sinh vật ở dưới nước thì
ngoài các vi khuẩn ra còn có những sinh vật tương đối cao cấp tuy
không có thần kinh nhưng có thể xếp vào loài động vật. Vì thế khi
Phật còn tại thế các Tỳ kheo khi dùng nước đều dùng nước đã
qua túi lọc nước, làm như vậy là để lọc ra những chúng sinh nhỏ
bé nhưng tương đối lớn, còn những loại sinh vật tương đối nhỏ
thì không đáng kể. Như vậy là dựa trên quan điểm từ bi, không
nở lòng trông thấy các loài chúng sinh vật mà không cứu độ.
Còn đối với những loài mà mắt thường không thể thấy, hoặc tuy
trông thấy nhưng không phân biệt được là loại hữu tình hay loại
vô hình thì không cần phải biết đến.
Phật giáo chủ trương không sát sinh chủ yếu ở tinh
thần từ bi, coi chúng sinh đều bình đẳng, tất cả chúng sinh đều
có quyền sinh tồn và tự do. Mỗi người chúng ta đều sợ bị giết
hại, đều lo sợ chết chóc, các chúng sinh khác đều như vậy. Các
chúng sinh tuy phân biệt sang hèn, cao cấp. Nếu người người đều
phát huy tinh thần từ bi bình đẳng đó thì thế giới của chúng ta
nhất định sẽ hài hòa, hòa bình, giúp đỡ, kính trọng, yêu mến
nhau, hòa hợp với nhau không có sự ngăn cách, sẽ không có một
người nào bị cố ý giết hại. Tuy nhiên trong kinh Phật có nói :
"Sát sinh thì chịu quả báo. Giết người thì phải đền mạng, ăn
củ người nửa cân thì phải trả tám lạng". Điều đó đã
nói rõ sự thực của luật nhân quả. Quả báo là có thực, nhưng
cũng không phải là tuyệt đối không thể cải biến được. Bồi
dưỡng tấm lòng từ bi mới là trọng điểm của việc không sát
sinh, cũng chính là tinh thần của Phật và chư Bồ Tát giáo hóa độ
thế.
[^]
8
- VÌ SAO PHÓNG SINH ? PHÓNG SINH NHƯ THẾ NÀO ?
Phóng sinh bắt nguồn từ kinh Phật
Đại Thừa, thịnh hành ở Trung Hoa, Tây Tạng, truyền sang Nhật Bản
và các nước láng giềng Triều Tiên, Việt Nam. Hoạt động phóng sinh
dựa trên tinh thần từ bi và bình đẳng giữa chúng sinh, và quan
niệm nhân quả của sinh tử luân hồi. Nếu vừa giữ giới sát,
lại vừa phóng sinh thì công đức gấp bội. Những tỷ dụ kinh
nghiệm cảm ứng về phóng sinh, sách sử nói đến rất nhiều.
Trong kinh "Tạp bảo tạng" quyển 4 có ghi chép sư
phụ của một Sa di biết Sa di này sẽ chết trong vòng 7 ngày, nên cho
phép anh ta về thăm nhà, 7 ngày sau sẽ trở lại, nhưng không giải
thích rõ lý do. Anh ta lên đường về nhà, thấy nước trong một cái
ao thoát ra một khe hở, đe dọa một ổ kiến ở bờ ao. Bầy kiến
nháo nhác chạy trốn nhưng không kịp với tốc độ nước tháo ra. Anh
Sa di thấy vô số con kiến ắt phải chết đuối bèn lấy áo cà sa
của mình bồi đất vào để đắp lỗ hổng ở bờ ao, cứu thoát
bầy kiến. Sa di về thăm nhà 7 ngày, rồi trở lại ra mắt sư phụ. Sư
phụ thấy Sa di kinh ngạc vô cùng, hỏi anh ta mấy ngày qua có xảy ra
chuyện gì đặc biệt không. Tưởng rằng sư phụ nói mình phạm giới,
làm việc bậy bạ nên lo sợ nói rằng không làm việc gì sai trái.
Sư phụ là A la hán dùng thiên nhãn biết rõ là anh Sa di này đã
làm một việc thiện nhỏ là cứu sống một bầy kiến, nhờ vậy mà
khỏi phải chết yểu, được sống cho đến già.
Các tín đồ Phật giáo đều biết rõ căn cứ của
phóng sinh. Có hai bộ kinh. Một là "Kinh Phạm Võng Bồ Tát
Giới", trong đó có nói : "Mọi người hãy lấy từ tâm mà
phóng sinh, vì tất cả đàn ông là cha của mình, tất cả đàn bà
là mẹ của mình, mình chính là từ ở đó mà sinh ra. Vì vậy chúng
sinh trong sáu cõi đều là cha mẹ ta, giết họ mà ăn là giết cha
mẹ, và giết cả bản thân mình nữa. Tất cả đất và nước là
thân trước của ta, tất cả lửa và gió đều là bản thể của ta,
cho nên thường làm việc phóng sinh, đời đời thọ sinh. Nếu
người đời khi thấy việc giết hại súc vật thì nên cứu chúng
thoát khỏi khổ nạn, thường giáo hóa nói về giới Bồ Tát, cứu
độ chúng sinh".
Bộ kinh thứ hai là "Kinh Kim Quang Minh" quyển 4
(phẩm con ông trưởng giả Lưu Thủy) kể lại chuyện ngày trước
Phật Thích Ca tu hạnh Bồ Tát. Thời ấy Phật Thích Ca làm con ông
trưởng giả Lưu Thủy. Một lần Người đi qua một cái hồ lớn.
Trời đại hạn. Có người đắp đập trên thượng nguồn để bắt
cá, làm cho mức nước hồ thấp xuống, hàng vạn cá lớn, cá bé
có nguy cơ bị chết. Con trưởng giả muốn cứu bầy cá, nhưng không
thể lên tận nguồn để phá đập chắn, bèn tâu với quốc vương
phái đến 20 con voi lớn, chở nước tới, đổ đầy hồ, cứu sống
đàn cá.
Kinh "Phạm Võng" là chỗ dựa lý luận của
phóng sinh. "Kim Quang Minh" là chỗ dựa để xây ao phóng sinh.
Các bộ kinh Đại Thừa khác như "Lục độ tập kinh" quyển 3,
ghi chép việc mua rùa để phóng sinh. Cuốn "Đại Đường Tây
Vực Ký" của Huyền Trang cuốn 9 kể chuyện Tháp Nhạn. Ở nước
Magadha thuộc Trung Ấn Độ có một ngôi chùa Tiểu Thừa, do một vị
Tỳ kheo tu không giữ giới ăn ba loại thịt thanh tịnh là các loại
thịt không thấy giết, không nghe giết, không vì mình mà giết. Có
một ngày, một Tỳ kheo không có thịt ăn, chính lúc đó ở trên
trời có một bầy nhạn bay qua, Tỳ kheo bèn nói với đàn nhạn
"Hôm nay, có vị Tăng không có thịt ăn, vì không ai cúng dường.
Các vị Đại Bồ Tát biết là thời cơ đã đến rồi". Bầy nhạn
nghe thấy như vậy, đều sa xuống mà chết. Vị Tỳ kheo ấy vốn không
tin Đại Thừa, không tin chim nhạn có thể là Bồ Tát, nên nói ra
câu trên để chế diễu Đại Thừa. Không ngờ chính các Bồ Tát
đã hiển hiện làm nhạn để giác ngộ cho anh. Các Tỳ kheo Tiểu
Thừa trong chùa lấy làm xấu hổ và bảo nhau : "Đây là các vị
Bồ Tát, ai mà dám ăn". Từ nay về sau phải dựa vào Đại
Thừa, chúng ta sẽ không ăn ba loại thịt thanh tịnh. Rồi xây tháp
thờ chim nhạn.
Có thể thấy phóng sinh có gốc rễ ở giới sát.
Cũng có thể nói phát triển giới sát thêm một bước, thành ra
phóng sinh. Giới sát chỉ là ngăn không làm ác, là hành vi thiện
thụ động. Phóng sinh cứu mạng là hành vi thiện tích cực. Nếu chỉ
ngăn ác, mà không hành thiện thì không phải là tinh thần của Phật
pháp Đại Thừa. Vì vậy mà Trung Quốc, từ thời Bắc Tề Lương
đến nay, có phong trào không ăn thịt không sát sinh. Phong tục phóng
sinh cũng từ đó được phát triển dần dần từ triều đình đến
dân thường, từ chúng Tăng đến người trần tục đều coi trọng
ăn chay.
Chính phủ Dân quốc hiện nay cũng định kỳ cấm giết
hại súc vật một số ngày trong năm, từ trung ương đến địa phương
để cầu mưa, xua đuổi tai họa, người ta cũng tổ chức phóng sinh
và cấm giết hại súc vật. Võ Đế nhà Lương xuống chiếu cấm sát
sinh để cúng tế. Tỳ kheo Tuệ Tập đời nhà Lương, nguyện tự đốt
hai cánh tay, đi khắp nơi khuyên phóng sinh. Đời Tùy, đại sư Trí
Khải phát động phong trào xây ao phóng sinh, giảng các kinh "Kim
Quang Minh" và "Pháp Hoa" để tuyên truyền xin bỏ tiền mua
lương thực để nuôi cá. Đời Trần Tuyên Đế, Vua sai quan Tế Tửu
Từ, Khắc Hiếu viết "Bài Bia về việc thiền sư Trí Khải" tu
ở chùa Thiền núi Thiên Thai tổ chức phóng sinh. Điều đó mở
đầu cho việc ghi chép các hội phóng sinh và các ao phóng sinh ở
Trung Quốc. Từ đó về sau từ đời nhà Đường, nhà Tống đến
nhà Minh, đời nào cũng có phát triển việc phóng sinh. Đời vua
Đường Túc Tôn, có viết bài bia về ao phóng sinh. Đến đời Tống,
hai đại sư Tuân Thức và Tri Lễ cũng ra sức tán thán việc phóng
sinh.
Cuối đời nhà Minh có đại sư Liên Trì là một trong
những cao tăng rất tích cực tuyên truyền việc phóng sinh. Đại sư
viết các bài "Như Lai không cứu nghiệp sát", "Ăn
thịt", "Ăn chay" in trong tập "Trúc song tùy bút",
lại viết các thiên th+ |