- Khai Thị
[ Tập 2 ]
- Đại Sư Tuyên Hóa
- Việt dịch:
Ban Phiên Dịch Đại Học Pháp Giới,
Vạn Phật Thánh Thành
--- o0o ---
Phần
giới
thiệu
Vài
Nét
Về
Vạn
Phật
Thánh
Thành (^)
Khác
với
Ðạo
Phật
ở
Phương
Ðông
đã
trải
qua
hơn
2000
năm
lịch
sử.
Phật
giáo
ở
Mỹ
quốc
chỉ
mới
phôi
thai,
sinh
mầm
nảy
nhạ
trong
khoảng
thế
kỷ
này.
Do
vậy
khi
đem
Phật
pháp
truyền
tới
Mỹ,
nhu
cầu
đòi
hỏi
chư
Tăng,
trước
thông
ngộ
Phật
chỉ,
thông
suốt
Tam
tạng,
đạo
hạnh
cao
vút,
sau
là
có
thể
vận
dụng
Phật
lý
viên
dung
với
nền
văn
hóa
Tây
phương,
dùng
ngôn
ngữ
thời
đại.
Nền
tảng
chủ
yếu
trong
việc
hoằng
pháp
là
kiến
thiết
tùng
lâm,
định
đặt
một
chế
độ
Tăng-lữ
với
giới
luật
nghiêm
minh,
tạo
nhân
duyên
thuận
lợi
cho
chư
Tăng,
Ni
học
tập,
nghiên
cứu,
tu
trì
và
hành
đạo.
Với
những
điểm
then
chốt
ấy,
năm
1959,
Hòa
Thượng
Tuyên
Hóa,
vị
đệ
tử
kế
thừa
tâm
ấn
của
đại
Hòa
Thượng
Hư
Vân,
sang
lập
ra
Tổng
Hội
Pháp
Giới
Phật
Giáo
để
chủ
động
việc
hoằng
pháp.
Năm
1966,
Giảng
Ðường
Phật
Giáo
ở
Cựu
Kim
Sơn
được
thành
lập,
rồi
tiếp
theo
là
chùa
Kim
Sơn.
Năm
1973,
Viện
Quốc
Tế
Dịch
Kinh
ra
đời.
Mục
đích
chính
của
viện
là
dịch
chính
xác,
dễ
hiểu
Tam
Tạng
Kinh
điển
(Kinh,
Luật,
Luận)
từ
tiếng
Phạn và
Hán
ra
các
ngôn
ngữ
khác
trên
thế
giới
như
tiếng
Anh,
Pháp,
Tây
Ban
Nha,
Nhật
và
Việt.
Song
song
với
chính
văn,
phần
phiên
dịch
còn
kèm
theo
lời
giảng
nghĩa
của
Hòa
Thượng
Tuyên
Hóa
khiến
cho
độc
giả
đời
nay
có
thể
dễ
dàng
am
hiểu
Phật
lý
và
áp
dụng
vào
sự
tu
hành,
sinh
hoạt
thực
tiễn.
Ðiểm
đặc
thù
của
viện
là
việc
phiên
dịch
do
chư
Tăng,
tục
cộng
tác
phải
thông
qua
bốn
giai
đoạn:
Dịch
từ
nguyên
văn,
kiểm
lại
ý
dịch,
trau
chuốt
lời
văn
và
cuối
cùng
là
ấn
chứng
cho
bản
dịch.
Năm
1967,
Hòa
Thượng
sáng
lập
Vạn
Phật
Thánh
Thành,
một
đại
tùng-lâm
với
hơn
70
tòa
nhà,
tọa
lạc
trên
500
mẫu
đất
ởTalmage,
miền
Bắc
California.
Tất
cả
Tăng,
Ni,
cư
sĩ
không
phân
biệt
quốc
tịch
đều
có
thể
tới
tu
hành
ở
Vạn
Phật
Thánh
Thành.
Bởi
vì
mục
đích
của
tùng
lâm
ấy
là
dành
cho
tất
cả
mọi
chúng
sanh
nào
chân
tâm
thành
ý
muốn
tới
đó
tu
hành.
Cùng
năm
ấy,
1976,
Hòa
Thượng
sáng
lập
ra
trường
Ðại
Học
Pháp
Giới
với
4
mục
đích:
Truyền
bá
giáo
nghĩa
của
đạo
Phật,
hun
đúc
chân
tâm
của
mọi
người,
tạo
lợi
ích
cho
xã
hội
và
giác
ngộ
chúng
sanh.
Các
vị
Tăng,
Ni,
cư
sĩ
cư
trú
tại
Vạn
Phật
Thánh
Thành
đều
sống
thanh
đạm,
hướng
theo
sáu
tông
chỉ
của
Thánh
Thành
là:
Không
tranh,
Không
tham,
Không
truy
cầu,
Không
ích
kỷ,
Không
tự
lợi
và
Không
dối
trá.
Thanh,
thiếu
niên
nam
và
nữ
ở
Vạn
Phật
Thánh
Thành
sống
biệt
lập;
các
em
hằng
ngày
có
thể
theo
học
ở
trường
tiểu
học
Dục
Lương
hoặc
trường
trung
học
Bồi
Ðức,
là
bộ
phận
trực
thuộc
của
trường
Ðại
Học
Pháp
Giới.
Ở
đây,
học
sinh
sinh
viên
đều
giữ
nếp
sống
thanh
khiết:
Ăn
chay,
không
uống
rượu,
không
hút
thuốc,
không
cờ
bạc,
xa
rời
truyền
hình,
chiếu
bóng
và
các
tập
quán
ngoài
đời.
Ðến
nay,
sau
gần
30
năm
phát
triển,
Tổng
Hội
Pháp
Giới
Phật
Giáo
đã
sáng
lập
ra
nhiều
đạo
tràng
ở
khắp
nơi
như:
- Chùa
Kim
Luân
ở
Los
Angeles,
California,
Hoa
Kỳ
(1976);
- Chùa
Kim
Phong
ở
Seattle,
Washington,
Hoa
Kỳ;
- Chùa
Kim
Phật
ở
Vancouver,
Gritish
Columbia,
Gia
Nã
Ðại
(1983);
- Chùa
Hoa
Nghiêm
ở
Calgary,
Alberta,
Gia
Nã
Ðại
(1986);
- Chánh
Pháp
Phật
Học
Viện
ở
Lục
Quy,
Ðài
Loan
(1989).
Và
gần
đây,
thêm
nhiều
tu
viện
được
thành
lập
rải
rác
tại
tiểu
bang
California
như
Pháp
Giới
Thánh
Thành
ở
Sacramento,
Tu
Viện
Phật
Giáo
&
Học
Viện
Tôn
Giáo
Thế
Giới
ở
Berkeley,
Long
Beach
Thánh
Tự
ở
California.
Sơ
Lược
Về
Hòa
Thượng
Tuyên
Hóa (^)
Hòa
Thượng
Tuyên
Hóa
họ
Bạch,
tên
thật
là
An
Từ,
tự
là
Ðộ
Luân.
Ngài
quê
ở
huyện
Song
Thành,
tỉnh
Tùng
Giang
thuộc
Ðông
Bắc,
Trung
Hoa,
tức
là
Mãn
Châu.
Phụ
thân
ngài
tên
Phú
Hải,
chuyên
làm
nghề
nông.
Mẹ
họ
Hồ,
sinh
được
tất
cả
tám
người
con;
năm
trai,
ba
gái
và
ngài
là
út.
Hồ
thái
phu
nhân
thọ
chay
trường,
niệm
Phật,
chẳng
hề
gián
đoạn.
Một
đêm
nọ
phu
nhân
nằm
mộng
thấy
Ðức
Phật
A
Di
Ðà
hiện
thân
phóng
đại
quang
minh
chiếu
triệt
thế
giới,
chấn
động
thiên
địa.
Giật
mình
tỉnh
giấc,
phu
nhân
ngửi
thấy
mùi
hương
kỳ
diệu
khắp
phòng,
rồi
sau
đó
hạ
sinh
ra
ngài.
Ngài
vừa
ra
đời
liền
liên
thanh
khóc
suốt
ba
ngày
đêm
không
dứt.
Chính
là
vì
đau
xót
cho
nỗi
khổ
của
thế
giới
Ta
Bà
này
vậy.
Ngài
cư
ngụ
tại
một
thôn
quê
rất
nhỏ
bé,
thưa
thớt
nhà
cửa.
Thế
nên,
đến
năm
mười
một
tuổi
ngài
vẫn
chưa
thấy
qua
người
chết.
Một
hôm,
ngài
cùng
lũ
bạn
trong
thôn
dạo
chơi
chốn
điềm
dã.
Bất
chợt,
ngài
thấy
một
em
bé
miệng
ngậm,
mắt
nhắm,
nằm
bó
trong
đám
rơm
bên
lề.
Ngài
gọi
mà
đứa
bé
chẳng
đáp,
rờ
thì
chẳng
có
hơi
thở.
Ngài
lấy
làm
khó
hiểu
vô
cùng
nên
hỏi
lũ
bạn.
Có
kẻ
hiểu
biết
liền
nói:
"Ðứa
bé
đã
chết
rồi!"
Song
ngài
vô
cùng
ngạc
nhiên,
không
hiểu
thế
nào
là
chết.
Về
nhà,
ngài
liền
hỏi
mẹ,
bà
dạy:
"Phàm
là
người,
ai
cũng
phải
chết.
Có
kẻ
chết
già,
có
kẻ
chết
bịnh,
cũng
có
kẻ
chết
vì
tai
nạn.
Bất
luận
là
giàu
sang
hay
nghèo
khó,
bất
luận
là
sĩ,
nông,
công,
thương,
hay
quan
lại,
ai
ai
rốt
cuộc
cũng
phải
chết."
Ngài
lại
hỏi:
"Nếu
thật
như
vậy,
có
cách
gì
thoát
được
chết
không?"
Bấy
giờ
trong
nhà
có
vị
khách
xưa
từng
là
tu
Ðạo,
đỡ
lời
đáp
rằng:
“Chỉ
có
cách
tu
Ð?o,
minh
ngộ
tự
tâm,
triệt
kiến
bổn
tánh
thì
mới
liễu
đoạn
sanh
tử,
siêu
thoát
luân
hồi,
thành
Chánh
Giác,
chứng
Vô
Sinh."
Tuy
lúc
đó
ngài
còn
nhỏ
tuổi,
song
đối
với
lời
vị
khách
nói,
ngài
tỉnh
ngộ
sâu
xa,
do
đó
ngài
lập
định
chủ
trương
quyết
chí
xuất
gia
tu
Ðạo.
Khi
ngài
mang
chuyện
xuất
gia
bàn
với
mẹ,
bà
dạy:
"Xuất
gia
là
chuyện
tốt
lắm,
nhưng
cũng
không
phải
là
chuyện
dễ
làm.
Cần
có
thiện
căn,
có
đại
nguyện
lực,
cần
phát
Ð?i
Bồ
Ðề
tâm
thì
mới
có
thể
thành
tựu
Vô
Thượng
Ðạo.
Nay
con
có
lòng
vậy,
ta
hết
sức
đồng
ý,
cũng
thật
phù
hợp
với
giấc
mộng
xưa
kia
vậy.
Nay
ta
đã
già,
ngày
tháng
chẳng
còn
bao
lâu,
các
anh
chị
con
đều
đã
tự
lập.
Con
nên
ở
lại
để
phụng
dưỡng
cha
mẹ;
khi
ta
mất
rồi,
con
xuất
gia
tu
hành,
lúc
đó
cũng
chẳng
muộn."
Ngài
vâng
lời
cha
mẹ,
rồi
sau
đó
hằng
ngày
thường
theo
mẹ
lạy
Phật.
Lạy
Phật
xong,
ngài
lạy
cha
mẹ.
Ngày
qua
ngày,
đông
tàn
xuân
đến,
ngài
cung
kính
phụng
dưỡng
song
thân
như
đối
vớI
Phật
vậy.
Chẳng
bao
lâu
tiếng
tăm
hiếu
thảo
đồn
khắp
bốn
phương,
khi
đó
mọi
người
đều
gọi
ngài
là
Bạch
Hiếu
Tử
(người
con
chí
hiếu
họ
Bạch)
Năm
ngài
19
tuổi
thì
mẹ
ngài
qua
đời;
bấy
giờ
ngài
từ
giã
họ
hàng
lên
chùa
lạy
Hòa
Thượng
Thường
Trí
làm
thầy
và
quy
y,
chính
thức
xuất
gia,
thọ
giới.
Sau
đó,
ngài
về
lại
nơi
mộ
phần
thân
mẫu
để
thủ
hiếu
trong
ba
năm.
Suốt
thời
gian
ấy,
ngài
sống
trong
một
túp
lều
tranh
nhỏ,
ngày
ngày
tọa
thiền,
đọc
tụng
kinh
điển
Ð?i
thừa
và
niệm
danh
hiệu
A
Di
Ðà.
Rất
nhiều
lần
ngài
ngồi
thiền
rồi
nhập
định,
liên
tiếp
trong
nhiều
tuần
lễ
chẳng
rời
thiền
sàng.
Một
đêm
nọ,
dân
trong
thôn
gần
đó
hốt
hoảng
thấy
túp
lều
tranh
của
ngài
hừng
hực
lửa
đỏ.
Ánh
lửa
hồng
phừng
thẳng
lên
giữa
không
trung
và
túp
lều
tranh
thì
sáng
rực
lên
như
ban
ngày.
Nhiều
người
chạy
đến
mộ
hô
hoán:
"Nhà
Hiếu
Tử
bị
cháy
rồi!"
Cả
trăm
người
trong
làng
hè
nhau
xách
gáo,
đem
xô
tới
để
chữa
cháy.
Song,
khi
tới
nơi
họ
chỉ
thấy
túp
lều
tranh
bình
lặng,
lửa
chẳng
cháy
và
ngài
thì
vẫn
an
nhiên
tĩnh
mặc
trong
Thiền
Ðịnh.
Có
lần
ngài
đang
tọa
thiền
chợt
cóvị
khách
đến
viếng.
Vị
khách
ấy,
ngạc
nhiên
thay,
chính
là
Lục
Tổ
Huệ
Năng!
Ðức
Tổ
Sư
dạy
ngài
rằng
trong
tương
lai
ngài
sẽ
đi
tới
Mỹ
quốc
để
độ
sinh,
rằng
ở
Tây
phương
ngài
sẽ
gặp
nhiều
kẻ
hữu
duyên
có
thể
hoằng
dương
Phật
Pháp
và
ngài
sẽ
độ
vô
lượng
vô
biên
chúng
sanh.
Mãi
đến
lúc
Ðức
Tổ
Sư
biệt
quay
đi
rồi
ngài
mới
choàng
tỉnh,
nhớ
lại
rằng
Ðức
Huệ
Năng
vốn
là
người
đời
Ðường,
1200
năm
về
trước.
Sau
Ð?
Nhị
Thế
chiến,
ngài
vân
du
khắp
nơi.
Cuối
cùng,
trải
hơn
ba
ngàn
dặm,
ngài
tới
chùa
Nam
Hoa,
bái
kiến
vị
Ðại
Thiện
Tri
Thức
của
thời
bấy
giờ
là
lão
Hòa
Thượng
Hư
Vân.
Lão
Hòa
Thượng
lúc
ấy
đã
109
tuổi.
Vừa
nhìn
thấy
ngài,
Lão
Hòa
Thượng
liền
nhận
ra
ngay
sự
chứng
ngộ
của
ngài.
Khi
đó,
Lão
Hòa
Thượng
nói:
"Như
thị,
như
thị";
và
ngài
cũng
đáp
lại:
"Như
thị,
như
thị."
Bấy
giờ
Lão
Hòa
Thượng
Hư
Vân
ấn
chứng
sở
đắc
của
ngài
và
ngài
chính
thức
trở
thành
vị
Tổ
thứ
chín
của
dòng
pháp
Quy
Ngưỡng.
Sau
đó,
Lão
Hòa
Thượng
dạy
ngài
ở
lại
chùa
đảm
nhận
chức
viện
trưởng
Viện
Giới
Luật
của
chùa
Nam
Hoa.
Năm
1950,
ngài
từ
giã
chùa,
lên
đường
sang
Hương
Cảng.
Ở
đây,
ngài
sống
tại
một
sơn
động
biệt
lập,
chẳng
vãng
lai
gì
đến
bụi
trần,
tục
lụy.
Chẳng
bao
lâu,
có
một
số
Tăng-lữ
từ
Trung
Hoa
Ð?i
Lục
qua
Hương
Cảng
tỵ
nạn,
và
họ
cần
sự
giúp
đỡ
của
ngài.
Cuối
cùng,
ứng
với
nhân
duyên,
ngài
rời
sơn
động
lập
ra
giảng
đường
và
hai
ngôi
chùa,
cùng
trợ
giúp
xây
dựng
nhiều
đạo
tràng
khác.
Trong
suốt
mười
hai
năm
ở
Hương
Cảng,
ngài
là
tấm
gương
sáng
khổ
hạnh,
tinh
tấn
tu
Ðạo,
quên
mình
vì
Phật
pháp.
Ngài
đã
ảnh
hưởng
vô
số
thiện
nam
tín
nữ,
khiến
họ
phát
tâm
Bồ
Ðề,
quy
y
Tam
Bảo,
ủng
hộ
Phật
Pháp.
Năm
1962,
ngài
đến
San
Francisco,
Mỹ
quốc.
Tại
đây,
nơi
một
nhà
kho
nhỏ,
ngài
kiên
trì
tu
hành
trong
im
lặng,
chờ
đợi
cho
cơ
duyên
hoằng
dương
Ðạo
Pháp
chín
mùi.
Lúc
ấy
ngài
tự
gọi
mình
là
Mộ
Trung
Tăng
(nhà
sư
trong
phần
mộ)
hay
là
Hoạt
Tử
Nhân
(người
đã
chết
nhưng
còn
sống).
Những
Phật
tử
hiểu
biết
sự
tu
hành
chân
chính
của
ngài
đều
rất
cảm
động
và
cung
kính
ủng
hộ,
cúng
dường
ngài.
Năm
1968,
ngài
biết
cơ
duyên
đã
đến,
ngài
nói:
"Một
đóa
hoa
sẽ
nở
ra
năm
cánh.”
Mùa
hè
năm
đó,
ngài
chủ
trì
Pháp
Hội
giảng
Kinh
Lăng
Nghiêm
trong
96
ngày.
Khi
Pháp
Hội
kết
thúc,
quả
nhiên
có
năm
người
Mỹ
đầu
tiên
xin
xuất
gia
với
ngài.
Từ
đó,
ngài
tiếp
tục
chủ
trì
nhiều
Pháp
Hội
khác,
giảng
giải
Tâm
Kinh,
Kinh
Ðịa
Tạng,
Kinh
Pháp
Hoa,
Kinh
Pháp
Bảo
Ðàn
v.v…
Năm
1971,
ngài
giảng
bộ
kinh
tối
cao
của
Ðại
Thừa,
đó
là
kinh
Hoa
Nghiêm.
Song
song
với
việc
giảng
kinh,
thuyết
Pháp,
ngài
còn
làm
vô
số
công
đức
độ
sinh
khác.
Năm
1976,
ngài
thành
lập
Vạn
Phật
Thánh
Thành,
nền
tảng
căn
cứ
địa
để
hoằng
dương
Phật
pháp
ở
Mỹ
quốc.
Tại
Thánh
Thành,
ngài
xây
dựng
chế
độ
Tùng-lâm,
đào
tạo
Tăng,
Ni,
học
chúng,
tạo
nhân
duyên
thù
thắng
cho
sự
chân
chính
tu
hành.
Mười
Tám
Ðại
Nguyện
Của
Hòa
Thượng
Tuyên
Hóa (^)
Năm
Hòa
Thượng
Tuyên
Hóa
19
tuổi
thì
mẫu
thân
ngài
qua
đời.
Sau
đó
lo
liệu
chu
toàn
việc
mai
tang,
ngài
tới
chùa
Tam
Duyên
ở
Hợp
Nhĩ
Tân
(Harbin),
chính
thức
xuất
gia,
lạy
Hòa
Thượng
Thường
Trí
làm
thầy.
Ít
lâu
sau,
ngài
tới
mộ
phần
của
mẫu
thân
thủ
hiếu.
Năm
đó,
nhân
ngày
vía
Ðức
Quán
Thế
Âm,
ngày
19
tháng
6,
ngài
đối
trước
chư
Phật,
Bồ
Tát
phát
mười
tám
đại
nguyện:
"Kính
lạy
mười
phương
Chư
Phật,
Cùng
với
Tam
Tạng
Pháp,
Quá
khứ,
hiện
tại
Hiền
ThánhTăng,
Nguyện
rủ
lòng
tác
chứng:
Ðệ
tử
Ðộ
Luân,
Thích
An
Từ,
Con
nay
phát
tâm
rằng:
Chẳng
cầu
phước
báo
hàng
Trời,
Người,
Cùng
Thanh
Văn,
Duyên
Giác,
Cho
đến
hà
ng
Bồ
Tát
quyền
thừa.
Duy
nương
TốI
Thượng
Thừa
Mà
phát
Bồ
Ðề
tâm.
Nguyện
cùng
Pháp
Giới
chúng
sinh,
Nhất
thời
đồng
đắc
A
nậu
đa
la
tam
miệu
tam
bồ
đề.”
- Nguyện
rằng
nếu
có
một
vị
thuộc
hàng
Bồ
Tát
ở
mười
phương
ba
đời,
trong
tận
cùng
hư
không,
biến
khắp
Pháp
Giới,
mà
chưa
thành
Phật
thì
tôi
thề
không
thủ
Chánh
Giác.
- Nguyện
rằng
nếu
có
một
vị
thuộc
hàng
Duyên
Giác
ở
mười
phương
ba
đời,
trong
tận
cùng
hư
không,
biến
khắp
Pháp
Giới,
mà
chưa
thành
Phật
thì
tôi
thề
không
thủ
Chánh
Giác.
- Nguyện
rằng
nếu
có
một
vị
thuộc
hàng
Thanh
Văn
ở
mười
phương
ba
đời,
trong
tận
cùng
hư
không
biến
khắp
Pháp
Giới,
mà
chưa
thành
Phật,
tôi
thề
không
thủ
Chánh
Giác.
- Nếu
có
một
vị
thuộc
hàng
Trời,
Người
ở
trong
Tam
Giới,
mà
chưa
thành
Phật
thì
tôi
thề
không
thủ
Chánh
Giác.
- Nguyện
rằng
nếu
có
một
Người
ở
trong
mười
phương
thế
giới
mà
chưa
thành
Phật
thì
tôi
thề
không
thủ
Chánh
Giác.
- Nguyện
rằng
nếu
có
một
vị
Trời,
Người,
A
Tu
La
chưa
thành
Phật,
tôi
thề
không
thủ
Chánh
Giác.
- Nguyện
rằng
trong
thế
giới
loài
Súc
Sinh,
nếu
còn
một
loài
nào
chưa
thành
Phật,
tôi
thề
không
thủ
Chánh
Giác.
- Nguyện
rằng
trong
thế
giới
loài
Ngạ
quỷ,
nếu
còn
một
kẻ
chưa
thành
Phật,
tôi
thề
không
thủ
Chánh
Giác.
- Nguyện
rằng
trong
thế
giới
loài
Ðịa
Ngục,
nếu
còn
một
kẻ
chưa
thành
Phật,
tôi
thề
không
thủ
Chánh
Giác.
- Nguyện
rằng
trong
Tam
Giới,
nếu
những
kẻ
từng
quy
y
với
tôi,
hoặc
là
Trời,
Người,
A
Tu
La,
các
loài
bay
lặn,
động
vật,
thực
vật,
linh
giới,
rồng,
súc
sanh,
quỷ
thần
mà
chưa
thành
Phật,
tôi
thề
không
thủ
Chánh
Giác.
- Nguyện
rằng
tất
cả
phước
lạc
mà
tôi
đáng
được
hưởng
đều
hồI
hướng
phổ
thí
cho
tất
cả
chúng
sanh
trong
Pháp
Giới.
- Nguyện
rằng
một
mình
tôi
nhận
chịu
hết
tất
cả
khổ
nạn
của
chúng
sanh
trong
Pháp
Giới.
- Nguyện
rằng
tôi
sẽ
phân
linh
vô
số,
phổ
nhập
tâm
chúng
sinh
nào
không
tin
Phật
Pháp,
làm
cho
họ
bỏ
ác,
hướng
thiện,
hối
quá,
sửa
mình,
quy
y
Tam
Bảo
rồi
cuối
cùng
thành
Phật.
- Nguyện
rằng
tất
cả
chúng
sinh
nàokhi
thấy
mặt
tôi,
cho
đến
chỉ
nghe
tên
tôi,
đều
phát
tâm
Bồ
Ðề,
mau
đắc
thành
Phật
đạo.
- Nguyện
rằng
luôn
tôn
kính
điều
Phật
dạy,
và
thực
hành
mỗi
ngày
ăn
một
bữa.
- Nguyện
giác
ngộ
loài
hữu
tình,
khắp
nhiếp
thọ
các
loài
căn
cơ.
- Nguyện
trong
đời
nay
tôi
sẽ
đắc
Ngũ
Nhã
n,
Lục
Thông
và
phi
hành
tự
tại.
- Nguyện
tất
cả
mọi
cầu
nguyện
đều
hoạch
đắc
mã
n
túc.
Cuối
cùng:
"Chúng
sanh
vô
biên
thề
nguyện
độ.
Phiền
não
vô
biên
thề
nguyện
đoạn.
Pháp
môn
vô
biên
thề
nguyện
học.
Phật
Ðạo
vô
thượng
thề
nguyện
thành."
Tám
Quy
Luật
của
Viện
Phiên
Dịch
Kinh
Ðiển (^)
Dịch
giả
phải
thoát
mình
ra
khỏi
động
cơ
tự
truy
cầu
danh
lợi
Dịch
giả
phải
tu
tâm
dưỡng
tánh,
dứt
bỏ
đi
thói
cao
ngạo.
Dịch
giả
phải
tự
chế,
không
được
tự
khen,
rồi
chê
bai
kẻ
khác.
Dịch
giả
không
được
tự
cho
mình
là
tiêu
chuẩn,
là
thước
đo,
rồi
hạ
thấp
kẻ
khác
bằng
cách
tìm
lỗi
lầm
nơi
tác
phẩm
của
họ.
Dịch
giả
phải
lấy
tâm
Phật
làm
tâm
mình.
Dịch
giả
phải
dùng
Trạch
Pháp
Nhãn
để
phán
xét
đâu
là
chân
lý.
Dịch
giả
phải
cung
kính
cầu
thỉnh
Cao
Tăng,
Ðại
Ðức
ở
mười
phương
chứng
minh
cho
bản
dịch
của
mình.
Dịch
giả
phải
hoan
hỷ
truyền
bá
giáo
nghĩa
nhà
Phật
bằng
cách
in
Kinh,
Luật,
Luận
một
khi
phần
phiên
dịch
của
mình
được
chứng
minh
là
đúng
đắn.
--- o0o ---
|
Mục
Lục
|
00
|
01
|
02
|
03
|
04
|
05
|
06
|
07
|
08
|
--- o0o ---
|
Xem tập 01 |
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |
--- o0o ---
Đánh máy vi tính :
Thiền Lâm Đông Phương
Cập nhật ngày:
01-04-2002