| Tiếng Việt |
|
Phật Học Cơ Bản |
| ...... ... | . |
Ngũ Giới A.-Mở Ðề Sau khi quy y Tam bảo phải sống đúng theo quy luật mà Ðức Phật đã chế ra, để tiến bước trên đường Ðạo. Quy luật ấy là Ngũ Giới. Người theo đạo Nho phải sống đúng theo Tam cương, Ngũ thường, thì người theo Ðạo Phật cũng không thể chỉ thọ Tam Quy mà không trì Ngũ Giới. Người đã phát
tâm quy y Tam Bảo là đã bước chân lên nấc thang giải thoát,
nhưng nếu không giữ năm giới là chỉ mới bước một nấc
đầu rồi dừng lại, không thể tiến đến giải thoát thật
sự được. Nam Giới này không những đưa người mạnh tiến
trên
- "Sau khi ta diệt độ, các người tu hành phải tôn kính giới luật làm thầy; dầu cho ta còn tại thế để dạy dỗ cho các người mấy ngàn đời đi nữa, ta cũng thêm điều nào ngoài giới luật." giới luật Phật chế ra rất nhiều, vì cần phải áp dụng cho nhiều hạng người tu hành: - Tỳ kheo,- Tỳ kheo ni,- Sa di, -Sa di ni. Riêng đối với hàng Phật tử tại gia, thì chỉ có 5 giới mà thôi. Nhưng nếu giữ được 5 giới ấy thì lợi ích cho mình, cho người không xiết kể. B.- Chánh Ðề: I.- Ðịnh Nghĩa : Ngũ giới là năm điều ngăn cấm mà Phật đã chế ra, để ngăn những tưởng niệm ác, nói năng chẳng lành, hành động bất chính. Năm điều răn ấy là: - Không được giết hại, - Không được trộm cướp, - Không được tà dâm, - Không được nói dối, - Không được uống ruợu. Năm điều này y cứ trên tâm từ bi, bình đẳng trên phương diện dứt trừ tội lỗi cá nhân và đem lại trật tự, an vui cho xã hội mà thành lập. Ðức Phật không bắt buộc chúng ta phải triệt để tuân theo và cũng không hăm dọa nếu chúng ta không tuân theo thì phải bị Ngài trừng phạt. Sự giữ hay không giữ giới là do chúng ta hoàn toàn tự liệu lấy. Ðạo Phật khác với các Tôn giáo khác chính là ở điểm Ðức Phật không phải là một quan tòa tối cao giữ quyền thưởng phạt. Một ý nghĩ, một lời nói, một hành động tốt hay xấu chính đã mang theo nó một mầm thưởng phạt rồi. Ðức Phật chỉ là một vị dẫn đường rất từ bi, và rất sáng suốt. Ngài chỉ cho chúng ta con đường nào là con đường sáng và con đường nào là con đường nguy hiểm không nên đi. Nhưng nếu chúng ta không theo con đường sáng mà lại muốn đi vào con đường nguy hiểm, thì tất nhiên chúng ta sẽ gặp tai họa tự nhiên, chứ Phật không tạo ra tai họa để trừng phạt chúng ta. Tòa án chính là luật nhân quả. Ta làm ác thì ta chịu quả xấu; ta làm thiện thì ta được qủa tốt. Năm giới chính là năm thành trì ngăn chận cho ta đừng di lạc vào đường ác, là năm hàng rào ngăn chận cho ta khỏi rơi xuống vực sâu, trong khi ta đi trên con đường giải thoát. II.- Năm Giới 1.- Không được giết hại. Ðiều ngăn cấm thứ nhứt mà Phật khuyên chúng ta, là không được giết sanh mạng, từ loài người cho đến loài vật. Sanh mạng là một gía trị qúy báu, nhất là sanh mạng người; giết hại sanh mạng kia để tô bồi cho sanh mạng này là một điều ác, không hợp lý đạo. Phật giáo cấm sát sanh bỡi nhiều lý do: a) Tôn trọng
sự công bằng. - Chúng ta coi sanh mạng mình là quý, là
một của báu tuyệt đối. Nếu ai mưu hại, là mình chống
trả triệt để bảo vệ sanh mạng. Mình đã biết quý trong
thân mạng mình, tại sao lại muốn chà đạp sanh mạng người?
Suy rộng ra,
b) Tôn trọng Phật tánh bình đẳng. - Chúng ta mỗi loài tuy thân hình khác nhau, mà vẫn đồng một Phật tánh. Phật tánh đã bình đẳng thì không thể viện lý do gì để nói rằng Phật tánh ở người giá trị hơn ở vật, ở giai cấp này màu da này gía trị hơn giai cấp kia màu da kia. Sát hại một sanh vật là sát hại Phật tánh. c) Nuôi dưỡng
lòng từ bi. - Lòng từ bi của Ðức Phật xem mọi loài
như con, nên Ngài không đồng ý cho đệ tử Ngài sát hại
sanh vật, bất cứ trong trường hợp nào. Bỡi vì đêm tâm
giết hại sanh mạng là lòng độc ác đã cực thịnh, tâm
từ bi bị bóp chết. Nhẫn
d) Tránh nhân
qủa báo ứng oán thù. - Khi ta giết một người hay một
con vật thì sự oán hận của họ tràn trề khó dập tắt
được. Họ vì cô thế, vì yếu sức nên bị ta giết hại.
Trong khi ấy, họ ôm lòng căm hận, chờ gặp dịp báo thù,
hay con cái thân nhân họ
Lợi ích của sự không sát hại. - Vì những lý do trên, Ðức Phật cấm Phật tử không giết haị. Không giết hại, sẽ có những điểm lợi sau đây: a) Về phương diện cá nhân. - Một người không tàn nhẫn sát nhân, hại vật, không độc ác làm đổ máu, không lóc da, xẻ thịt, chặt đầu, thắt cổ, thì trong lòng không bức rứt, hối hận, thân tâm được nhẹ nhàng, thơ thới, giấc ngủ được an lành, nét mặt được hiền hòa, trong sáng. b) Về phương diện xã hội. - Nếu tất cả nhân loại trên thế giới này đều giữ đúng giới thứ nhật của Phật dạy đây, thì chiến tranh sẽ không có, mà các nghiệp sanh tử luân hồi cũng đươc giải thoát. Cho nên Tổ xưa có dạy: ''Hết thảy chúng
sanh không nghiệp giết,
Hạn chế: Vẫn biết giết hại là tạo nhân khổ, nhưng người tại gia còn ăn mặn, còn làm công việc kia nọ, thì khó tránh khỏi phạm giới sát. Ở đây không bắt buộc chúng ta phải giữ triệt để như thế, chỉ cần giữ phần quan trọng là không giết người, và những con vật lớn như: Trâu, bò, ngựa, chó, heo, gà v.v... Còn những con nhỏ nếu tránh được bao nhiêu quý bấy nhiêu. chúng ta nên đi từ từ thì chắc ăn hơn. Nhất là không nên giết hại sinh vật một cách vô lý, giết để thỏa lòng thích giết. Trong khi giữ giới sát, ta nên đề phòng hai đều sau đây: a) Không nên để cho ác ý sanh khởi. Giết một con vật lớn mà vì vô ý hay tự vệ, thì cái qủa của nó còn nhẹ hơn là giết một con chuồn chuồn với cái ác ý muốn giết cho vui tay. b) Nên tránh sự huân tập trong hoàn cảnh giết hại: Những đứa bé lên 3, lên 5 ra sân gặp chuồn chuồn, bươm bướm chụp bắt rồi ngắt cánh, rứt đầu nếu cha mẹ thấy mà không rầy la; đến 12,13 tuởi, chúng sắm ná, giàng thun bắn chim, đến 20,25 tuởi, chúng đâm họng heo, giết chó, vẫn không bị ngăn cấm thì sau này, quen với tánh hung bạo, trong cơn giận dữ, chúng có thể giết người không gớm tay. Vậy chúng ta không nên để tự do cho con cái quen cái sự giết hại sinh vật, mà cũng không cho chúng mục kích những cảnh chém giết ở các rạp chiếu bóng hay ở giữa đời. 2. - Không được trộn cướp. Ai cũng biết trộn cướp là lấy những tài vật thuộc quyền sở hữu của người, mà không có sự ưng thuận , hay cưỡng ép người ta ưng thuận bằng võ lực hay quyền hành. Những vật quý giá như nhà cửa, ruộng vườn, tiền bạc, ngọc ngà... cho đến vật hèn mọn như lá trầu, trái ớt... người ta không cho mà mình tự lấy đều là trộm cướp. Trộm cướp có nhiều hình thức: Ỷ mạnh bè đảng giựt ngang của người là ăn cướp,; cậy thế ỷ quyền làm tiền kẻ yếu là ăn cướp; bắt chẹt người ta trong lúc túng thiếu để cho vay nặng lời, cầm bán gía rẻ mạt là ăn cướp; tích trử đầu cơ để bán giá chợ đen là ăn cướp. Dùng mưu mẹo rình rập, lén lút lấy của người là ăn trộm; cân non, đong thiếu, trốn xâu, lậu thuế, được của người ta mà không tìm cách trả lại là ăn trộm. Có thể nói tóm một câu là; Bất cứ hình thức nào, do lòng tham lam lấy của ngườibất chính đều là trộm cướp cả. Nếu vì nghèo nàn thiếu thốn, vợ ốm con đau, thiếu gạo thiếu thuốc, nên phải buộc lòng gian xảo, thì tội còn được châm chế; chứ đã giàu có, ăn sung mặc sướng, lên xe xuống ngựa mà còn lường gạt người lấy của, cướp công, để sống một cách vương gỉa trên mồ hôi nước mắt của kẻ nghèo đói, thì tội ác thật nặng nề! Vì lý do gì Phật cấm trộm cướp? Phật cấm trộm cướp vì những lý do sau đây: a) Tôn trọng
sự công bằng: Chúng ta không muốn ai lấy của mình, tại
sao mình lại chăm chăm muốn đoạt của người? Quyền sở
hữu cá nhạn của ta, ta biết t6o trọng, thì tại sao ta lại
chà đạp lên quyền sở hữu của người? Làm nhu thế là
trái lẽ công
b) Tôn trọng
sự bình đẳng. - Mỗi người đều có Phật tánh như nhau,
tại sao ta lại muốn làm khổ người khác để ta được sung
sướng? Tại sao ta lại muốn hưởng nhữnh đặc ăn bất chính
trong khi ta cũng chỉ là một con người như bao nhiêu con người
c) Nuôi dưỡng
lòng từ bi. - Một khi vô ý đánh mất một vật gì hay
một số tiền, ta dàu dàu buồn khổ, ăn không ngon, ngủ không
yên, tại sao ta lại nỡ tâm lấy của người để cho người
phải khóc than, đau khổ vì ta? Người ta thường nói: "Tiền
tài là huyết
d) Tránh nghiệp
báo oán thù. - Trong xã hội có tổ chức, tôn trọng lẽ
công bằng, thì tội trộm cướp bao giờ cũng bị trừng trị.
Ăn trộm là bị đưa ra tòa án tiểu hình, ăn cướp thì ra
tòa án đại hình. Khi chưa bị bắt, kẻ trộm cướp phải
tìm trăm phương ngàn kế
Nhưng nếu luật pháp thế gian không trừng trị, thì người trộm cướp cũng không thoát khỏi luật nhân quả nghiệp báo. Trộm cướp của người thì sẽ bị người trộm cướp lại, gây bao thù oán khổ đau. Phật dạy: "Người tham luyến sắc tài không chịu rời bỏ, cũng như đứa bé luyến tiếc một chút mật trên lưỡi dao, thè lưỡi liếm, phải bị cái họa đứt lưỡi" (Kinh Tứ Thập Nhị Chương). Chính thế, vì tham tiền của, lắm người đã tự gieo mình vào khám đường, vào địa ngục. Chúng ta hãy lắng nghe bài kệ cảnh tỉnh của vua Trần Thái Tông: Khoét vách xoi
tường chí những đâu,
Lợi ích của sự không trộm cướp. a) Về phương
diện cá nhân. - Người không gian tham thì đời sống hiện
tại được an ổn, không bị đòi hỏi, giam cầm, tù tội,
đi đâu cũng được người khác tin cậy, giao phó cho mình
những địa vị quan trọng. Người không gian tham thì đời
sau được hưởng
b) Về phương
diện đoàn thể. - Nếu một ngày nào trong xã hội không
ai có tâm gian tham, trộm cướp thì nhà không cần đóng cửa,
của khỏi lo gìn giữ, vật đánh rơi không mất, thật không
còn gì sung sường hơn! Người ta khổ bỡi không có của,
nhưng kẻ
3. - Không
được tà dâm. Tà dâm tức
là muốn nói về sự dâm dục phi lễ, phi pháp. Luật dạy
người xuất gia ly tục phải dứt hẳn dâm dục, còn người
tại gia thì không được tà dục. Khi vợ chồng có cưới
hỏi đủ lễ gọi là chánh; ngoài ra, lén lút lang chạ
Phật cấm tà dâm vì những lý do sau đây: a) Tôn trọng sự công bình. - Mỗi người ai cũng muốn gia đình mình êm ấm, yên vui, vợ con mình đoan chánh, thì sao lại đi phá hại gia cang, làm nhục nhã tông môn người, đưa vợ con người vào con đường dâm loạn. b) Bảo vệ
hạnh phúc gia đình. - không gì đau khổ, đen tối hơn,
khi một gia đình mà chồng hoặc vợ có dạ riêng tư, tà vạy.
Hạnh phúc đâu còn, khi chồng vợ không tin nhau! Một khi gia
đình lâm vào cảnh ấy, thì con cái sẽ xấu hổ, bê tha, côi
cút, bà
Cho nên cấm tà dâm là một điều kiện cần thiết để xây dựng hạnh phúc cho gia đình mình và gia đình người. c) Tránh oán
thù và quả báo xấu xa. - Phật dạy: "Người ôm lòng ái
dục cũng như kẻ cầm đuốt đi ngược gió, quyết bị nạn
cháy tay" (Kinh Tứ Thập Nhị chương). Thật vậy, người ta
có tâm xấu xa đắm mê sắc dục, không sớm thì chầy quyết
bị hại: nếu
Lợi ích của sự không tà dâm.Vì thế nên sự giữ giới cấm tà dâm sẽ có những lợi ích sau đây: a) Về phương diện cá nhân. - Kinh ThậpThiện nói:"Người thế gian không tà hạnh thì được hưởng bốn điều lợi sau: - Sáu căn (tai,
mắt, mũi, lưỡi, thân, ý) đều được vẹn toàn.
b) Về phương diện đoàn thể. - Trong một xã
hội mà ai cũng không tà hạnh, thì gia đình được yên vui
hạnh phúc, những sự thương lus6n bại lý sẽ tiêu tan, những
cảnh thù hiềm, ché giết sẽ không xảy ra nữa; con cái được
mạnh khẻo, nâng niu, xã hội
4. - Không được nói sai sự thật. Nói sai sự thật có bốn cách: Nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác. a) Nói dối
hay nói láo, là không nói thật, chuyện có nói không, chuyện
không nói có, việc phải nói trái, việc trái nói phải; điều
nghe nói không nghe, điều không nghe nói nghe; hoặc gỉa trước
mặt khen dồi, sau lưng chê mạc; hay là khi ưa thì nói dịu
ngọt
b) Nói thêu dệt, là việc ít xít cho nhiều, làm cho người nghe nổi sân hận; là trau tria lời nói, chuốt ngót giọng hay, lên hơi xuống giọng cho êm tai mát dạ để cám dỗ người nghe, làm cho người say mê đắm nhiễm; cũng có khi là nói biếm, nói bâm, nói châm, nói chích làm cho người nghe phải khổ sở. Tóm lại, bao nhiêu lời nói không đúng nghĩa chân thật, thêm bớt cho đến văn chương phù phiếm, bóng bẩy làm cho kẻ nghe phải loạn tâm, sanh phiền não, đều gọi là nói thêu dệt cả. c) nói lưỡi hai chiều, hay nôm na hơn, là nói "đòn xóc nhọn hai đầu", nghĩa là đến chỗ này thì nói hùa với bên này để nói xấu bên kia, đến bên kia thì nói hùa bên ấy để nói xấu bên này, làm cho bạn bè đang thân nhau trở lại chống nhau, kẻ ân, người nghĩa chống đối, oán thù nhau. d) nói lời hung ác, là nói những tiếng thô tục cộc cằn chửi rủa, làm cho người nghe phải đau khổ, buồn rầu, sợ hãi. Vì sao Phật cấm nói sai sự thật? Phật cấm nói sai sự thật vì những lý do sau đây: a) Tôn trọng sự thật. - Ðạo Phật là Ðạo như thật; người tu theo Ðạo Phật phải tôn trọng sự thật. Người quen với dối trá, không thiết tìm sự thật thì khó có thể chứng qủa được. Chúng ta đang sống trong vọng tưởng, công việc chính của người tu hành là cố gắng phá tan vọng tưởng ấy để thấy được bản nguyện; nếu không làm được như thế mà trái lại còn chồng chất thêm cái vọng tưởng ấy với những sự dối trá lừa phỉnh nữa, thì thật là trái đạo. b) Nuôi dưỡng
lòng từ bi. - Cái động lực chính của sự dối trá là
lòng ích kỷ, ác độc, muốn hại người để thỏa lòng dục
vọng đen tối của mình. Người bị lừa dối, phỉnh gạc
phải đau khổ vì mình, có khi phải mắt thù vươn oán, có
khi phải tan gia bại sản.
c) Bảo tồn
sự trung tín trong xã hội. - Trong một gia đình, một đoàn
thể, một xã hội mà không ai tin ai, thì mọi công cuộc từ
nhỏ đến lớn đều thất bại. Trong đạo Nho, một trong 5
đức tính căn bản là lòng tin. "Nhơn vô tín bất lập", đó
là lời dạy của
d) Tránh nghiệp
báo khổ đau. - lời nói tuy không phải là lưỡi kiếm,
nhưng nó nguy hiểm hơn lưỡi kiếm, vì nó có hai mũi ngọn,
một mũi đâm vào người khác, một mũi đâm vào chính người
xử dụng nó. Ai ai cũng chắc chưa quên câu chuyện thằng bé
Lợi ích của sự không dối trá: a) Về phương diện cá nhân. - Ðược người trọng nể, tin cậy, không ai oán hận thù hiềm; đi đâu cũng được người chung quanh dành cho một địa vị thân tín, niềm nỡ tiếp đón> Trong nghề nghiệp làm ăn, người chân thật được nhiều thân chủ, và được giao phó cho nhiều trọng trách quý báu. b) Về phương diện đoàn thể. - Gia đình và xã hội được đoàn kết trong sự tin cậy. Mọi công cuộc chung, được xúc tiến có kết qủa tốt.Ðồng bào thương yêu, thông cảm nhau hơn. Hạn chế:
Nói dối là một tai họa lớn lao, cho mình và xã hội. Tuy
nhiên, cũng có vài trường hợp nên nói dối. Ðó là khi nào
vì lòng từ bi mà phải nói dối để cứu người hay vật.
Nói dối phạm tội là trong trường hợp do lòng tham, sân làm
động cơ thúc đẩy .
5. - Không
được uống rượu. Tất cả
những thứ có chất men làm say người, hay chấc độc hại
người đều không được uống. Chính mình không uống đã
đành, mà cũng không được ép nài người khác uống. Ép nài,
khuyến khích người khác uống, tội lại
Vì những lý do gì Phật cấm uống rượu? - Phật cấm uống rượu vì những lý do sau đây: a) Bảo toàn hạt giống trí tuệ. - Rượu còn nguy hiểm hơn thuốc độc. Một ché thuốc độc ta uống vào chết ngay, nhưng chỉ chết một thân hiện tại, chứ rượu uống vào, làm mất giống trí tuệ, phải chết đi sống lại vô số kiếp. Vì thế để bảo toàn hạt giống trí tuệ quý báu, Phật cấm uống rượu. b) Ngăn ngừa những nguyên nhân sanh ra tội lỗi. - Rượu chính nó không phải là một tội lỗi như sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nhưng nó có thể làm nhân cho những tội lỗi kia sanh ra. Khi đã uống rượu vào say sưa, thì tội nào cũng có thể phạm được. Dưới đây là một câu chuyện để chứng minh đìều đó: - Một anh nông phu kia đang cày ruộng giữa đồng, bỗng thấy hiện ra sừng sững trước mặt mình một hung thần to lớn, kỳ dị, hăm giết anh. Anh kinh sợ, khóc lóc xin tha mạng. Vị hung thần bảo: - Nếu ngươi làm một trong ba việc này thì ta tha chết cho: hoặc là giết cha ngươi, hoặc là đánh mẹ ngươi hay uống hết lít rượu để trên bàn nhà ngươi. Anh nông dân suy nghĩ mộ hồi rồi trả lời: - Xin Ngài cho con được uống lít rượu. Hung thần nghe xong có vẻ hài lòng rồi biến mất. Trưa hôm ấy, anh nông dân về nhà, thấy lít rượu mà ông thân mua để đãi khách, vì nhà sắp có giỗ, anh ta vội vàng chụp lấy, nốc cạn một hơi. Cha anh thấy đứa con hỗn láo, nắm gậy xông lại đánh mắng con. Ma men đã thấm, anh ta không còn biết phải trái, giựt gậy của cha, đánh ông một cây chêùt tốt! Bà mẹ chạy đến ôm con la làng. Anh ta chưa hả giận, đánh mẹ túi bụi. Xóm làng chạy lại bắt anh dẫn lên quan vì tội giết cha đánh mẹ. Tỉnh lại anh mới biết uống rượu là tội nặng nhứt trong ba diều mà hung thần bắt anh làm. Tóm lại rượu
gây ra nhiều tội lỗi. Sau đây là 10 tai hại của rượu mà
trong Kinh đã nói đến: 1 - Của cải rơi mất; 2 - Tăng trưởng
lòng giết hại; 3 - Trí tuệ kém dần; 4 - Sự nghiệp chẳng
thành; 5 - Thân tâm nhiều khổ; 6 - Thân hay tật bịnh; 7 - Tâm
sân hận
Lợi Ích Của Sự Cấm Uống rượu a) Về phương diện cá nhân. - Người không uống rượu thì tránh được 10 điều hại vừa kể trên. b) Về phương diện đoàn thể. - Gia đình được yên vui, con cái ít tật bịnh, xã hội được hòa mục, nòi giống được hùng cường. C. - Kết Luận 1. - Phật tử không giữ giới không phải là Phật tử. - Chúng ta đã thấy công dụng thiết thực và lợi ích của 5 giới về phương diện cá nhân và đoàn thể. Nếu Tam Quy là nền tảng, thì ngũ giới là 5 nấc thang của người Phật tử tại gia để bước dần lên Thánh qủa. Trong bước đầu, người Phật tử nếu có thể phát nguyện giữ cả năm giới thì càng tốt; nếu vì nhiều sự ràng buộc chưa thể giữ được cả năm giới thì có giữ vài giới mà mình thấy có thể thực hành được, như: Không uống rượu, không nói dối. Rồi với sự tinh tấn và Bồ đề tâm dũng mãnh , ta tiếp tục phát nguyện giữ thêm những giới khác như không trộm cắp, không tà dâm... Nhưng đã phát nguyện giữ giới nào thì giữ cho trung kiên, đừng có một bước tiến tới, hai bước thoái lui, dùng dằng như thế mãi thì không bao giờ đi đến đâu cả. Nếu người Phật tử mà không giữ giới nào thì sao gọi là Phật tử? Người thường, không theo Phật mà còn giữ đúng tư cách như không uống rượu, không nói dối, không trộm cắp thay, huống hồ là Phật tử? Ta đến với Ðạo Phật là muốn vượt lên trên đời tầm thường của thế nhân. Nếu chúng ta vào Ðạo rồi mà vẫn tiếp tục cuộc đời trôi nổi cũ, hay còn tệ hơn cuộc đời thường của thếnhân, thì đó là chúng ta muốn làm hoen ố Ðạo, Cho nên người Phật tử phải cố gắng giữ giới để cho xứng đáng với danh nghĩa của mình, để đem hạnh phúc đến cho mình và chúng sanh. 2 Người không theo Ðạo Phật cũng nên giữ giới. - Năm giới nói trên không có gì là cao siêu, huyền bí. Ðó là một bài học công dân thông thường mà bất cứ một xã hội nào, một quốc gia nào muốn phồn thịnh, hùng cường cũng không thể bỏ sót được. Cho nên năm điều luật ấy không phải chỉ để áp dụng riêng cho giới Phật tử, mà còn chung cho tất cả những ai muốn sống một cuộc sống lành mạnh, an vui, có lễ nghĩa và tiến bộ. Một xã hội mà mọi phần tử đều thực hiện được năm giới cấm ấy, thì đó là một xã hội gương mẫu, văn minh nhứt thế giới.
|
Biên tập
nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng
góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com
Cập nhật ngày:
01-02-2002