Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

PHẬT HỌC CƠ BẢN


...... ... .

 

 

 

 

Some knowledge about buddhism 

MỘT VÀI KIẾN THỨC PHẬT GIÁO

 

Nguyên Tác: DR.  C.T. SHEN

HT Thích Trí Chơn dịch

---o0o---

 

Các bạn thân mến,  

 

Các bạn đều biết rằng Trung Quốc là một quốc gia ở Á Châu. Bao nhiêu người trong quý vị biết chữ Hán về danh từ Trung Quốc? Ðó là Chun Kuo (Trung Quốc). “Chun” nghĩa là ở giữa hoặc trung tâm, và “Kuo” là nước hay vương quốc. Do đó, Trung Quốc là quốc gia ở trung tâm. Hàng nghìn năm qua, người Trung Quốc tin rằng quốc gia của họ là trung tâm của thế giới và hoàng đế của họ được xem như Thiên Tử (con của trời), và có uy quyền lớn nhất ở thế gian. Chính vì thế mà người Trung Hoa tin rằng các dân tộc sống những nơi ngoài Trung Quốc là thấp kém, và các vua chúa của họ đều là chư hầu của hoàng đế Trung Quốc. Vào thời đó, nếu ai dám bảo rằng trên thế gian này có nhiều nhà vua, và một vài vị còn có uy quyền hơn Thiên Tử thì họ có thể bị chém đầu.  

 

Mãi đến đầu thế kỷ 18, khi văn minh Tây Phương du nhập Trung Quốc, người Trung Hoa mới bắt đầu nhận thấy rằng trên thế giới còn có những quốc gia với nhiều nhà cầm quyền có thế lực. Người Trung Hoa không còn ở trong tháp ngà nữa, tầm quan sát của họ được mở rộng, và họ chia xẻ những trách nhiệm với các quốc gia khác trên thế giới. Tuy vậy, điều đáng chú ý là, bất chấp sự thừa nhận đó, vẫn không có cách gì làm giảm bớt trong đầu óc người Trung Hoa sự quan trọng của vị nguyên thủ quốc gia của họ. Ðến ngày nay, vị lãnh tụ của người Trung Hoa vẫn còn là nhân vật có uy quyền và ảnh hưởng nhất trong đời sống của họ.

 

Lại nữa, một vài trăm năm trước, mọi người nghĩ rằng mặt trời là trung tâm của vũ trụ . Tuy nhiên, ngày nay, các nhà thiên văn học cho chúng ta thấy rằng thái dương hệ, như chúng ta đã biết, với mặt trời, quả đất và các hành tinh của nó, chỉ là một nhóm nhỏ của những thiên thể (clestial bodies) bên cạnh giải Ngân Hà, gồm có hơn 100 ngàn triệu tinh tú như mặt trời. Hơn nữa, giải Ngân Hà cũng chỉ là một đơn vị nhỏ trong số hàng nghìn triệu giải Ngân Hà trong vũ trụ.  Cho nên chúng ta thấy có vô số mặt trời và là điều sai lầm, khi chúng ta bảo rằng chỉ có một mặt trời, hay mặt trời của quả đất là trung tâm của vũ trụ. Tuy thế, việc công nhận sự kiện này không làm giảm thiểu sự quan trọng của mặt trời đối với trái đất của chúng ta. Do sự phát triển của kiến thức (khoa học), mặt trời - nguồn sống và năng lượng của nhân loại đã trở nên quan trọng và gần gũi với chúng ta hơn ngày xưa. Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của chúng ta.

 

Hầu hết các tôn giáo lớn, kể cả đạo Thiên Chúa dạy rằng chỉ có một Thượng Ðế. Một vài tôn giáo lại bảo rằng Thượng Ðế của họ là Thượng Ðế chân chính, còn những Thượng Ðế mà các tôn giáo khác kính thờ là sai lầm. Ðạo Phật thì lại dạy khác. Tôi xin trình bày với quý vị một vài sự kiện lịch sử:  

 

Hơn 2.500 năm trước, tại vương quốc mà ngày nay gọi là Nepal, dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya), tại đó sinh trưởng một hoàng tử tên là Tất Ðạt Ða Cồ Ðàm (Siddhartha Gautama). Vào lúc 30 tuổi, vì nhận thức được sự khổ đau của kiếp người, nên thái tử đã rời bỏ cung điện, cắt đứt cuộc đời vương giả, tu hành khổ hạnh trong sáu năm, để tìm con đường giải thoát khổ đau cho chúng sanh. Sau cùng, bằng vào pháp môn tự mình tu tập thiền định thái tử đã chứng đạo. Từ đó, thái tử được gọi là Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni. “Phật” là danh xưng để chỉ cho nhân vật đã hoàn toàn giác ngộ, nghĩa là đấng có được trí tuệ tuyệt vời và lòng từ bi bao la. Sau đó, đức Phật đi chu du khắp nơi tại Ấn độ, để giáo hoá cho các đệ tử của Ngài và dân chúng trong hơn 45 năm, trước khi Ngài nhập diệt vào năm 80 tuổi.  

     

Bằng vào sự giác ngộ, đức Phật nhận thức rằng vũ trụ là vô hạn, cũng như có hằng hà sa số thế giới như quả đất, và nhiều vị thần linh tương đồng với đấng Thượng Ðế được dân chúng (Ấn Ðộ) tôn thờ vào thời Ngài còn tại thế.

 

Các bạn cũng nên biết rằng mặc dù đức Phật đã khám phá ra sự hiện hữu của nhiều Thượng Ðế trong vũ trụ, Ngài không bao giờ có ý đánh giá thấp quyền uy của đấng Thượng Ðế được dân chúng lúc bấy giờ kính thờ. Ðức Phật chỉ thuyết minh chơn lý. Và chơn lý đó không gây ảnh hưởng gì đến quyền lực của đấng Thượng Ðế đối với một nhóm người đang kính thờ Ngài, đơn giản chỉ vì đấng Thượng Ðế này đang còn tạo ảnh hưởng trực tiếp và thiết thực nhất đối với nhóm người đó.

 

Ðiều này cũng giống như người Trung Hoa nhận biết rằng hiện có nhiều nhà cầm quyền trên thế giới. Nhưng điều đó không làm giảm bớt quyền uy của chính phủ Trung Quốc đối với người dân Trung Hoa. Cũng như sự kiện biết rằng có vô số mặt trời trong vũ trụ, không làm giảm thiểu sự quan trọng của mặt trời đối với trái đất như một nguồn ánh sáng, nhiệt lượng, và chính nó là mạch sống đối với con người trên quả đất.

 

Ðây là điểm đầu tiên tôi muốn trình bày với quý vị: Chân lý cho rằng có nhiều đấng Thượng Ðế trong vũ trụ, nhưng chân lý đó không nhằm chủ trương hạ thấp quyền năng của đấng Thượng Ðế đang được kính thờ tại ngôi giáo đường ở đây. Thực vậy, người Phật Tử hiểu biết chân chính giáo lý của đức Phật luôn luôn kính trọng các đấng Thượng Ðế đang được nhân loại tôn thờ. Ðiều này thuyết minh một sự kiện lịch sử rằng chưa bao giờ có chiến tranh bùng nổ giữa các Phật Tử với những tín đồ của các tôn giáo khác. Ðạo Phật không chủ trương có “chủ quyền tôn giáo” (religious sovereignty), Ðức Phật không phải là Thượng Ðế.

 

 Ðiểm thứ hai tôi muốn nói là theo Phật Giáo, Thượng Ðế mặc dù  rất có quyền năng so với loài người, nhưng các ngài chưa giải thoát được sự khổ, và có thể còn sân hận. Thọ mạng của Thượng Ðế là rất dài lâu. Cho nên nhiều tôn giáo đã dạy rằng Thượng Ðế là vĩnh cửu. Nhưng theo đức Phật, Thượng Ðế thời xưa dân chúng Ấn Ðộ tôn thờ là đấng còn trong vòng sinh tử luân hồi. Bởi vậy, Thượng Ðế không thể gọi là đức Phật là đấng đã giác ngộ và giải thoát khỏi luân hồi sinh tử.

 

Ðiểm thứ ba và trọng yếu nhất mà đức Phật đã khai thị sau khi Ngài chứng đạo là tất cả chúng sinh đều có thể thành Phật. Ðức Phật dạy rằng mọi chúng sinh đều có cùng trí tuệ như Ngài đã có, nhưng trí tuệ đó đã bị vô minh che lấp, không dễ dàng tự mình chứng ngộ.

 

Tưởng nên nhấn mạnh rằng khi tôi bảo là mọi người, tôi muốn nói mỗi người và tất cả quý vị ở đây đều có thể thành Phật. Ðây là giáo lý căn bản của Phật Giáo. Nói cách khác, mọi chúng sinh đều có khả năng đạt đến trí tuệ hoàn toàn và lòng từ bi bao la. 

 

Bây giờ, trước khi giải thích bằng cách nào con người có thể thành Phật, tôi xin trình bày với quý vị hai ý niệm căn bản của Phật Giáo. Một là thuyết luân hồi (samsara) và hai là nghiệp báo (karma). Cả hai danh từ này là tiếng Phạn (sanskrit), một cổ ngữ được dùng tại Ấn Ðộ. Luân hồi là một vấn đề của vũ trụ, không thể phát hiện (nhận thức) bằng mắt trần của con người. Ðó là vòng luân hồi sanh tử của chúng sinh. Phật Giáo dạy rằng sự sống và chết trong kiếp hiện tại của con người chỉ là một đoạn ngắn của một chuỗi dài vô tận nhiều kiếp sống của chúng sanh đó. Sự chết của con người không phải là hết.

 

Hơn nữa, đạo Phật cũng dạy rằng có năm hình thức của cuộc sống hoặc thế giới mà trong đó con người có thể tái sinh vào. Năm cảnh giới đó là cõi trời của chư Thiên, loài người, súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục. Sau khi chết, con người sẽ đầu thai sinh vào thế giới khác. Nó có thể sinh làm người, hoặc có thể làm trời, súc sanh, ngạ quỷ hay vào địa ngục. Cho nên, con người có cơ hội để tái sinh làm chư thiên ở cõi trời. Nói rộng ra, chúng sinh ở địa ngục cũng có thể tái sinh làm thú vật, làm người v.v..., và người ở cõi trời cũng có thể chết để sinh lại làm người, vào địa ngục v.v... Sự thay đổi các cảnh giới này sẽ tiếp diễn không cùng tận, trừ phi và cho đến khi nào vòng xích (luân hồi) được chặt đứt; điều này xảy ra khi ý niệm về sự sanh tử không còn nghĩa lý gì nữa đối với chúng sinh.  

 

Theo Phật Giáo, sự kiện này có được khi con người đã chứng đạo. Và rồi ý niệm về sanh tử cũng không còn nữa. Sự giác ngộ giải thoát này gọi là niết Bàn (Nirvana), một danh từ phổ thông khác của Phạn Ngữ. Người đã chứng ngộ Niết Bàn sẽ đoạn diệt vòng luân hồi, và chấm dứt sự tái sinh vào trong năm cảnh giới nói trên. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là sự hủy diệt. Không phải chỉ đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứng đắc Niết Bàn, mà nhiều đệ tử của Ngài cũng đã chứng ngộ Niết Bàn.

 

Câu hỏi tiếp theo là ai hoặc cái gì tạo nên sự luân hồi? Ai hoặc điều gì quyết định kiếp sau của một chúng sinh sẽ sinh lên cõi trời, đọa địa ngục, hay làm thân người? Một câu hỏi tương tự khác người ta có thể đặt ra là ai hoặc cái gì đã quyết định mọi người ở thế gian, và tất cả chúng sinh đều khác biệt rất nhiều về hình dáng, tính tình, tài sản, cuộc sống, sức khỏe, số mệnh v.v...? Thật là ý nghĩa để ghi nhận là bằng cách nào hoàn cảnh trong đó con người sanh ra lại có thể ảnh hưởng đến số phận của nó. Chủng tộc nào, quốc gia nào, da sắc màu gì, loại cha mẹ nào - tất cả những yếu tố này đã tạo nên sự khác biệt lớn lao. Bây giờ, ai hoặc cái gì quyết định những sự chọn lựa này? Phải chăng là không hợp lý khi bảo rằng có cái gì đó xảy ra trước khi con người sinh ra đã tạo nên những kết quả này hơn là nói rằng chúng hoàn toàn do sự ngẫu nhiên hoặc đó là ý muốn của Thượng Ðế? Nếu một trẻ sơ sinh không có đời sống quá khứ, vậy thì trên căn bản nào mà Thượng Ðế có thể phán quyết sự thưởng hay phạt đứa trẻ đó bằng cách bắt nó phải sinh ra trong những hoàn cảnh quá khác biệt như thế? Theo Phật Giáo, đó không phải do sự tình cờ, mà cũng chẳng phải bởi ý muốn của Thượng Ðế. Chính hành động của chúng ta sẽ quyết định số phận của chúng ta. Khi Phật Giáo dạy rằng đời sống quá khứ, hiện tại và vị lai có nghĩa là những việc làm quá khứ bao gồm mọi hành động trong nhiều kiếp trước đã gây nên kết quả trực tiếp đến đời này và đời sau của chúng ta. Tưởng  nên nhấn mạnh rằng khi tôi nói những hành động quá khứ, nó bao gồm hành động trong hiện tại, bởi vì hiện tại chỉ là một phút chốc không thể duy trì được. Ngay khi chúng ta nói “gây phút này là hiện tại” thì nó đã đi qua rồi.

 

Cái luật dạy rằng hành động của chính chúng ta quyết định số phận của chúng ta, gọi là NGHIỆP (Karma). Tự điển Random House định nghĩa Nghiệp là “những hành động mang lại cho chính mình những kết quả không tránh được, tốt hoặc xấu, trong đời này hay kiếp sau”. Tôi muốn giảng rộng thêm định nghĩa này để nói rằng Nghiệp là một hành động hay tổ hợp của nhiều hành động gây nên bởi cá nhân hay một nhóm người để dẫn đến kết quả. Những kết quả đó có thể tốt, xấu, hoặc không tốt không xấu sẽ quyết định tương lai của cá nhân hay nhóm người đó. Thiện nghiệp dẫn đến quả lành, ác nghiệp mang lại quả dữ. Ở đây, kết quả tốt hoặc xấu tạo nên bởi nghiệp thiện hoặc ác; đơn giản chỉ là một hiện tượng tự nhiên được điều khiển bởi những định luật thiên nhiên đã tự động gây ra với sự hoàn toàn công bằng, chứ không phải là sự phán xét của một đấng quyền năng như Thượng Ðế. Hơn nữa, điều thiện hoặc ác đề cập ở đây không phải được định nghĩa bởi bất cứ điều lệ hay luật pháp nào do con người đặt ra, trừ phi điều lệ hay luật pháp đó theo đúng những luật lệ thiên nhiên. Ví dụ, khi nền dân chủ đầu tiên được thành lập, nữ giới đã không có quyền đi bỏ phiếu. Lúc ấy phụ nữ nào tuân theo tình trạng đó được xem như điều tốt, nhưng ai phản đối lại thì coi như điều xấu. Tuy nhiên, sự phán quyết đó là không đúng. Theo luật tự nhiên, mọi người đều bình đẳng, và như thế hệ thống (luật pháp) dành cho người phụ nữ quyền bầu cử bình đẳng với nam giới là luật pháp công bình chân chính. Cho nên những ai chống lại hệ thống bầu cử bất công là những người tốt. 

 

Luật nghiệp báo hay nhân quả này rất mạnh mẽ có thể chi phối mọi vật trong vũ trụ, ngoại trừ theo Phật Giáo, người nào đã chứng đạo. Nhờ giác ngộ, luật nhân quả này không còn giá trị, cũng như vòng luân hồi (samsara) sẽ chấm dứt khi con người đã chứng Ðạo.

 

Với kiến thức về luân hồi hay nghiệp báo, quý vị có thể thích thú hiểu biết theo Phật Giáo rằng các bạn, như một con người, thực sự có cơ hội tốt nhất để trở thành Phật. Ðể giúp qý vị dễ hiểu hơn, tôi có thể bảo rằng chúng sinh ở địa ngục, ngạ quỷ và súch sanh ít có thuận duyên tu tập để thành Phật. Nhưng tại sao chư Thiên ở cõi trời có trình độ cao hơn con người cũng khó thành Phật? Bởi vì cuộc sống ở cõi trời quá đầy đủ với nhiều dục lạc. Người ở cõi trời quá bận rộn thụ hưởng thú vui, nên không chú tâm vào sự tu tập. Chỉ có con người có khả năng trí tuệ để tiếp nhận Phật Giáo, có thì giờ thực hành giáo lý, cùng chịu đựng mọi khổ đau, phiền não mà chúng đóng góp như sự cảnh giác nhằm khuyến khích con người tìm con đường giải thoát những khổ đau đó. Và trên hết, con người có thuận duyên thấu hiểu giáo pháp của đức Phật, có khả năng giải thoát cho chính mình để thành Phật.  

   

Cho nên, cũng là điều thú vị để ghi nhận rằng Phật Giáo không khuyến khích con người tái sinh lên cõi trời, nhưng khích lệ con người theo gương sáng của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, vị đại sư, và tinh tấn tự mình tu tập ngay trong đời này để thành Phật.

 

Hiện nay đời sống của các bạn có thể rất thuận lợi. Phần đông những người đang sống tại nước Hoa Kỳ vĩ đại này với một cuộc sống vật chất đầy đủ, nhưng quý vị đừng nên quên rằng có nhiều sự khổ đau mà con người không thể tránh được. Hơn nữa, nhiều người trên thế giới hiện đang sống trong một hoàn cảnh không có gì tốt đẹp hơn cảnh sống ở địa ngục, như đã được diễn tả trong nhiều tôn giáo.

 

Như tôi đã nói trên, những khổ đau cunh cấp như chất liệu khuyến khích con người mong tìm sự giải thoát. Vậy chúng ta hãy tìm hiểu những điều khổ mà con người đang phải chịu là gì.

 

Có tám điều khổ căn bản mà đức Phật đã dạy 2.500 năm trước. Vào thời đó ở Ấn Ðộ, tiện nghi vật chất kém sút nhiều hơn ngày nay và sự khổ của con người rất dễ nhận thấy. Tuy nhiên, tám điều khổ căn bản, trải qua nhiều năm, cũng không thay đổi gì mấy. Những điều khổ này là:

 

 

Sanh là khổ

 

Già là khổ

 

Bịnh là khổ

 

Chết là khổ

 

Khổ vì phải xa lìa người mình yêu thương hoặc đồ vật mình ưa thích.

 

Khổ vì phải sống gần với người hay vật mình oán ghét.

 

Khổ vì mong cầu điều mình muốn mà không được

 

 Khổ vì sự tham đắm dục vọng tạo nên do năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) của con người, hay nói giản dị, là sự thiêu đốt mãnh liệt ở tình cảm của con người như tánh sân, giận, ganh ghét v. v...

 

Tiếc rằng với sự tiến bộ của nền văn minh nhân loại đã mang con người đến thời đại có thể du hành tới các hành tinh khác, con người vẫn chưa có thể làm giảm thiểu hoặc tiêu diệt được những nỗi khổ đau căn bản. Quý vị có thể đồng ý với tôi rằng trong một vài trường hợp, sự khổ đã được tăng lên do bởi tốc độ xô bồ của cuộc sống và sự gia tăng của những cám dỗ vật chất. Ðiều này đặc biệt có thể nhận thấy trong trường hợp của bốn điều khổ sau cùng.

 

Sự ý thức và nhận biết về nỗi khổ đau của con người là một bước tiến ý nghĩa trong Phật Giáo. Nó thường được đề cập đến như chân lý đầu tiên trong Tứ Diệu Ðế.

 

 Ba chân lý cao siêu còn lại kia là:

 

Dục vọng và lòng tham là nguyên nhân của sự khổ,

 

Sự khổ có thể chấm dứt, và

 

Con đường dẫn đến chấm dứt sự khổ .

 

Tôi đã trình bày quá nhiều để quý vị theo dõi và thời giờ không cho phép đi vào chi tiết của Tứ Diệu Ðế . Cho nên, tôi sẽ giải thích tóm lược về con đường dẫn đến chấm dứt sự khổ, Chân Lý Cao Siêu Thứ Tư, vì còn vài điểm quan trọng tôi muốn giải bày liên quan đến con đường đạo tu tập để thành Phật.

Có tám thành phần tạo nên con đường chấm dứt sự khổ Chúng được gọi là Bát Chánh Ðạo và là những nguyên tắc hướng dẫn căn bản cho cuộc sống. Bát Chánh Ðạo là:

 

 

Chánh Kiến

 

Chánh Tư Duy

 

Chánh Ngữ

 

Chánh Nghiệp

 

Chánh Mạng

 

Chánh Tinh Tấn

 

Chánh Niệm và

 

Chánh Ðịnh.

 

Danh từ căn bản ở đây là “chánh”. Ðể giúp dễ hiểu trong việc áp dụng nó vào đời sống hằng ngày, tôi định nghìa từ ngữ “chánh” như sau:

 

1)Không làm hại người khác, nếu có thể nên giúp đỡ họ;

 

2) Hiểu luật nhân quả là Nghiệp (Karma), và cẩn thận quan sát nó; và

 

3) Hiểu biết rằng thân thể của các bạn là cổ xe mà quý vị cần nương vào đó để vượt thoát từ bến khổ đau này đến bờ giải thoát bên kia; và do đó, các bạn nên chăm sóc nó.

 

    Nếu con người có thể sống theo những nguyên tắc hướng dẫn này, dục vọng và lòng tham sẽ bớt đi và sự khổ sẽ được giảm thiểu.

 

 Xin lưu ý quý vị là giáo pháp của đức Phật chú trọng nhiều đến đoàn thể và đòi hỏi các đệ tử của Ngài một trình độ cao về tinh thần tự giác. Ðức Phật đã thành lập Tăng Già (Sangha) - một đoàn thể có tổ chức của chư Tăng để họ tự hướng dẫn theo con đường sống chân chính. Tăng Già tạo nên một gương mẫu cho quần chúng hiểu rằng bằng cách nào nguồn gốc của mọi khổ đau có thể kiểm soát, làm giảm thiểu, và sau cùng được giải thoát. Bất cứ hoạt động hay phương thức sống nào, dù lấy danh nghĩa tôn giáo, hay Phật Giáo làm phiền tập thể hoặc gây khó khăn cho người khác, đều không được xem như là chân chính Phật Giáo, vì hành động như thế là chống lại giáo lý của đức Phật.

 

Khi các bạn nghiên cứu Phật Pháp, quý vị sẽ thấy rằng đức Phật thường thuyết giảng theo hai trình độ, tùy thuộc vào khả năng hiểu biết của thính giả. Một trình độ dành cho người đã giác ngộ và trình độ kia cho người thế tục.

 

Có ai ở đây đã giác ngộ hoặc hiểu giáo lý của đức Phật theo trình độ giác ngộ? Tôi không biết. Tôi không có. Tôi không có kinh nghiệm thực tế của sự giác ngộ. Tôi xin kể cho quý vị nghe mẫu chuyện này:

 

Một ngày nọ, một con ếch mẹ từ bờ nước trở về và kể cho mấy chú nòng nọc tí hon chưa bao giờ nhảy ra khỏi mặt nước, biết về nắng ấm của mặt trời cũng như gió mát, và chúng cảm thấy thật là kỳ diệu. Những con nòng nọc không thể hiểu được điều mẹ chúng nói, nên yêu cầu mẹ giải thích. Ếch mẹ cố gắng tìm hết phương cách để diễn tả kinh nghiệm của mình nhưng vô hiệu quả. Cho đến một ngày kia khi những chú nòng nọc chân lớn mạnh nhảy  vượt khỏi nước lên mặt đất, chúng mới biết rằng: “Ồ, đó là điều mẹ chúng đã diễn tả”.

 

Cũng vậy, hôm nay tôi kể một chút ít để giới thiệu với quý vị về trình độ giác ngộ, được xem giống như con nòng nọc này nói với con kia, nghe nhắc lại câu chuyện của ếch mẹ về cảnh nắng ấm của mặt trời và gió mát mà nó biết được trên mặt đất.

 

Nhờ giác ngộ, đức Phật thấu triệt rằng tất cả các hiện tượng và ý niệm đều không thực và vô thường, khởi dấy lên từ nhận thức sai lầm và thiếu sót của con người về vũ trụ. Ðức Phật gọi là sùnyata

 

Sùnyata là điều cần trước hết để đạt đến trí tuệ hoàn toàn. Nhưng Sùnyata là gì?

 

Sùnyata là danh từ tiếng Phạn (Sanskrit), Anh ngữ dịch là “Không” (emptiness). Nhưng tôi cần nhấn mạnh rằng Sùnyata không phải là “sự không có”, nó cũng không có nghĩa là trống không. Sùnyata là một từ ngữ được các bậc giác ngộ dùng để diễng tả bản chất chân thực của vũ trụ. Tôi sẽ giảng điều này theo hai khía cạnh:

 

Trước hết, tôi xin hỏi quý vị: Có vật gì trong khoảng trống trước mặt tôi không? Vài trăm năm về trước, tất cả quý vị chắc chắn trả lời rằng: “Không. Nó là trống không”. Ngày nay, có thể các bạn đang còn xem nó là khoảng trống, nhưng vài người trong quí vị có thể bảo là có không khí hoặc bụi trong đó. Người nào nghiên cứu môn hóa học có thể tiến xa hơn và nói rằng trong đó có chứa ốc-xy (oxygen), ni-tơ (nitrogen) và vi khuẩn (bacteria). Nhà vật lý học chắc sẽ tuyên bố là nó chứa đựng nhiều hơn nữa, liên hệ đến tia vũ trụ, làn sóng máy thu thanh (radio), và nhiều thứ khác mà chỉ các khoa học gia mới hiểu biết được. Bây giờ, các điều trên cho quý vị thấy gì? Chúng chứng minh rằng khoảng không gian này không phải trống không. Chúng ta có kết luận sai lầm cho rằng khoảng trống này là không có gì hết, bởi vì nó chứa nhiều vật thể và sinh hoạt trong đó tai và mắt trần chúng ta không thể trong thấy.

 

Thứ hai, tôi xin hỏi: Thân thể của tôi thế nào? Các bạn bảo nó là không có gì được không? Hầu hết quý vị sẽ trả lời: “Không phải. Ðây là thân thể rắn chắc”. Nhưng trả lời như thế có đúng không?

 

Chắc quý vị đã thấy hình chụp quang tuyến X? Nếu thân thể tôi được chụp quang tuyến X, các bạn thấy gì trong hình? Quý vị không còn thấy thân thể tôi nữa, mà chỉ thấy một bộ xương người không khác gì bộ xương của con khỉ to lớn. Lại nữa, nếu thân thể tôi được xem xét dưới một kính hiển vi lớn, chúng ta thấy gì? Hình dáng của một thân thể sẽ không còn nữa. Ðiều chúng ta thấy có thể là một chuỗi phức tạp của những phân tử. Nếu chúng ta khuyếch đại thêm nữa đến trình độ nguyên tử, những vật người ta có thể nhìn thấy sẽ rất ít, ngoại trừ một khoảng trống không rộng lớn. Trên lý thuyết, mọi vật có thể phân tích đến căn nguyên như năng lượng và năng lượng thì không có hình tướng, không có thể nhìn thấy, nó là không.

 

Thật thú vị làm sao! Khi người ta bảo khoảng trống này là không có gì, thực ra nó chứa nhiều vật trong đó. Khi người ta bảo thân thể tôi là rắn chắc, nó lại là trống không.

 

Tôi đưa một ví dụ khác có thể là giản dị hơn để dễ hiểu. Chúng ta bảo không khí là trống không và chúng ta có thể tự do di chuyển trong đó, nhưng nước đối với chúng ta không phải là trống không. Tuy nhiên, cá có thể nhìn nước hoàn toàn khác. Loài cá sẽ xem nước, trong đó chúng có thể tự do di chuyển như trống không; trong khi không khí đối với cá thì không phải thế. Thật vậy, không khí có thể cứng rắn như đá đối với loài cá. Rất khó khăn cho cá có thể di chuyển một inch trong không khí.

 

Tôi có thể cho quý vị nhiều ví dụ khác dẫn đến kết luận răng mắt và tai chúng ta cũng như các giác quan khác không cho chúng ta một cái thấy biết hoàn toàn về vũ trụ, và kết quả của kiến thức thiếu sót đó có thể rất lầm lạc. Thật không may là sự hiểu biết và hành động của chúng ta hoàn toàn xây dựng trên kiến thức sai lầm và thiếu sót được tiếp nhận bởi những giác quan của chúng ta, ngay từ phút đầu tiên chúng ta ra chào đời.

 

Một cách khoa học, hình ảnh điện từ (electro-magnetic) cho chúng ta biết rằng mắt của chúng ta chỉ có thể phát hiện một đoạn rất ngắn của hình ảnh - làn sóng ánh sáng. Mắt trần của chúng ta không thể nhìn thấy sự vật ở quá xa    hay những vật rất nhỏ.

 

Không phải chỉ có mắt chúng ta là không hoàn toàn. Cá heo có thể nghe âm thanh ở tầng số cao đến 150.000 chu kỳ trong một giây. Loài chó có thể nghe tiếng động ở tầng số giữa 15 đến 50.00 chu kỳ trong một giây. Nhưng loài người chúng ta nghe âm  thanh chỉ khoảng giữa 20 đến 20.000 chu kỳ trong một giây.

 

Tai hại hơn nữa là bản chất ngoan cố của óc não chúng ta luôn luôn từ chối chấp nhận sự kiện cho rằng các giác quan của chúng ta là sai lầm. Lý do vì kiến thức cung cấp một cách liên tục và thích hợp vào óc não chúng ta bởi các giác quan là quá thiếu sót. Cho nên, mặc dù các bạn nhận biết điều tôi nói vào lúc này, lát sau quý vị quên hoặc loại bỏ nó hoàn toàn, bởi vì tai và mắt quý vị đã cho quý vị một hình ảnh hoàn toàn khác, mà trí óc của các bạn thường chấp nhận xem như hình ảnh chân thực.

 

Cho nên điều quan trọng cần nhấn mạnh là chỉ hiểu biết không chưa đủ để chiến thắng thói quen chấp nhận ý kiến thiếu sót và sai lầm về thế giới này. Phải cần có sự giác ngộ. Với sự giác ngộ, các bạn quan sát trực tiếp, rõ ràng và thường xuyên rằng vũ trụ là không; tất cả mọi hiện tượng và ý niệm giống như giấc mộng hay những đám mây bay trên bầu trời; nó đến và đi mà không đểlại một dấu vết gì đàng sau. Rồi các bạn sẽ không bị ảnh hưởng bởi bất cứ hiện tượng xuất hiện nào. Bản chất của chúng là không. Chúng là không thật có và vô thường. Ðây là đại trí tuệ.

 

Làm sao con người có thể giác ngộ? Bằng kinh nghiệm của chính mình, đức Phật dạy rằng ngài giác ngộ nhờ tu tập chánh định và chánh niệm. Quý vị còn nhớ câu chuyện về con ếch mẹ và mấy chú nòng nọc con mà tôi đã kể vài phút trước đây. Trong trường hợp này, tôi giống như con nòng nọc và rất khó để giải thích cho các bạn thấu hiểu được về sự chứng nghiệm của giác ngộ. Tôi xin ngừng ở điểm này để đi vào điểm sau mà quý vị cần muốn biết để thành Phật; đó là sự thành tựu của lòng đại bi.

 

 Nói về lòng đại bi, tôi xin giới thiệu với quý vị một từ ngữ Phật Giáo quan trọng là Bồ Tát (Bodhisattva). Bodhi (Bồ Ðề) có nghĩa là tự giác hay giác tha; và sattva nghĩa là chúng sanh. Vậy Bodhisattva nghĩa là người đã giác ngộ hoặc người hướng dẫn cho chúng sinh khác giác ngộ. Cho nên Bồ Tát là người đang tiến trên con đường thành Phật, và người được giao phó (hạnh nguyện) giúp đỡ chúng sinh khác đạt đến giác ngộ.

 

Thật là thú vị để ghi nhận rằng Bồ Tát có thể là vị Tăng, Ni Cô, hoặc một người thường như các bạn. Thật vậy, hầu hết các vị bồ tát trong lịch sử Phật Giáo là cư sĩ. Sở dĩ vậy, vì làm những hành động mà một vị bồ tát cần làm, bồ tát phải tiếp xúc với mọi người trong xã hội.  

 

Ðức hạnh quan trọng nhất mà một vị bồ tát cần có là lòng từ bi. Ðức Bồ Tát Avalokitesvara hoặc Quan Âm (Kuan Yin) ở Trung Hoa hay Nhật Bản là một biểu tượng của lòng đại bi. Ðại nguyện của vị bồ tát này là cứu thoát tất cả chúng sanh khỏi sự sợ hãi. Tôi xin trích dẫn hai câu kinh sau đây: 

 

“Tôi sẽ đi đến hàng nghìn nơi,

Ðáp ứng lại hàng nghìn lời kêu cầu,

Trong bể khổ bao la;

Tôi sẽ luôn luôn như chiếc thuyền từ để cứu độ tất cả chúng sanh.”

 

Trong câu kinh này, quý vị có thể ghi nhận:

 

1) Không có giới hạn địa dư.

 

2) Không có hạn chế số người kêu cầu mà vị Bồ Tát sẽ cứu độ.

 

3) Không có giới hạn về loại người kêu cầu để được cứu độ.

 

4) Không có phân biệt người đang mong cầu cứu độ.

 

5) Không có sự gián đoạn trong khi cứu độ, nó tiếp tục ngày và đêm.

 

6) Không mong cầu sự đền trả dưới bất cứ hình thức nào. Ðây là hạnh đại bi mà chúng ta nên tu học.

 

Về điểm này, quý vị có thể thấy nó hoàn toàn giống với lòng “bác ái” mà đấng Christ đã dạy. Ðúng vậy, vì theo sự diễn đạt của Phật Giáo, Chúa Jesus Christ thật sự là một đại bồ tát. Trong nhiều trường hợp, Chúa Giê-Su đã dạy đệ tử của ngài hãy cho tất cả (tài sản) của mình để giúp đỡ kẻ khác. Chính Chúa Giê-Su cũng cho cả mạng sống của ngài.

 

Bố thí rõ ràng là biểu hiện của lòng từ bi. Trong Phật Giáo nó được gọi là Dàna (Bố thí), một danh từ của tiếng Phạn (Sanskrit). Bố thí có ba loại:

 

1) Tài Thí: Cung cấp của cải cho người nghèo khổ.

 

2) Pháp Thí: Giảng dạy cho người khác sự hiểu biết chân chính, giúp họ thoát khỏi sự khổ vì vô minh, và

 

3) Vô úy Thí: Cứu giúp người khác thoát khỏi mọi sự sợ hãi.

 

Ðối với bậc giác ngộ, bố thí là một hành động tự nguyện phát sinh từ lòng đại bi. Nó không có điều kiện, không có sự phân biệt, và không có giới hạn. Ðối với người đời chúng ta, bố thí là đức hạnh quan trọng nhất của lòng đại bi, nhằm dẫn đến con đường thành Phật

 

Bây giờ, có thể quý vị muốn nói với tôi: “Ðiều ông vừa giảng thật hay và thú vị . Nhưng liệu ông có thể giúp cho chúng tôi ý kiến thực tế, hầu chúng tôi có thể thực hành, để tạo cho chúng tôi cuộc sống an lành và giúp chúng tôi ngủ ngon giấc hơn được không?”

 

Tôi sẽ hân hạnh làm thế. Tôi xin kể một câu chuyện, gọi là “Tại sao thầy còn mang cô gái trên lưng”. Câu chuyện xảy ra ở Trung Hoa khoảng 1.000 năm trước, và để hiểu rõ hơn, tôi xin đưa ra một vài kiến thức căn bản. Vào thời điểm của câu chuyện này xảy ra, sự liên lạc xã hội giữa nam và nữ tại Trung Hoa rất là nghiêm ngặt. Các bạn có thể đã nghe đến sự kiện rằng những cô gái ít khi ra khỏi nhà trước khi họ lập gia đình. Sự hạn chế này đặc biệt bắt buộc phải tuân theo trong đoàn thể Tăng Già. Vào thời đó, một vài tông phái Phật Giáo tại Trung Hoa, chư Tăng cấm không được đùa giỡn hay cười mỉm trước phụ nữ. Họ không được sờ mó thân thể của người đàn bà, hoặc phơi bày ngực và chân trước nữ giới. Nếu không họ sẽ phạm trọng giới. Câu chuyện như sau:  

 

Có hai nhà sư tuổi độ trung niên. Họ cùng trải qua nhiều năm nghiên cứu, tu học tại một ngôi chùa theo tông phái nọ, nên cả hai vị đều thông suốt những giới luật đã nói trên. Ngày kia, họ đi bộ để du hóa, và đến gặp một con sông vào lúc xế chiều. Cầu và đò đều không có, nhưng nước sông thì cạn, nên họ tin rằng không khó khăn gì để lội qua. Thình lình hai nhà sư gặp một người đàn bà trẻ cũng đang nghĩ chuyện đi qua sông, nhưng do dự không dám đặt chân xuống nước.

 

Cô ta lo lắng. Một trong hai nhà sư thấy vậy, đến gần giúp đỡ, mang cô ta trên lưng để vượt qua sông. Vị sư kia rất ngạc nhiên về điều mà nhà sư bạn đã làm. Bối rối và thất vọng, nhà sư này khổ sở theo sau họ để đến bờ sông bên kia. Nhà sư đầu tiên để người đàn bà xuống đất, cô ta cám ơn vị sư rồi từ biệt. Hai nhà sư tiếp tục cuộc hành trình. Trong khi đi, vị sư thứ hai không thể quên việc mới xảy ra. Ông ta cứ thắc mắc tại sao nhà sư bạn của mình có thể phạm những giới mà họ đã thọ trì trong nhiều năm qua. Ông ta đã phạm trọng giới ngay cả trước mặt người khác!  Huống là khi sống một mình, ông ta còn phạm nhiều giới quan trọng khác đến đâu? Lúc bấy giờ trời đã tối, và cả hai tìm đến một ngôi đền bỏ hoang. Họ cảm thấy mệt mỏi nên cùng đi vào trong đền để nghỉ ngơi. Vừa nằm xuống, nhà sư thứ nhất tức thì ngủ liền, nhưng nhà sư thứ hai không ngủ được. Ðầu tiên ông ta thất vọng, rồi cảm thấy thương hại cho vị sư bạn đã phạm trọng giới nặng như thế. Ông ta cố gắng cầu nguyện để làm nhẹ tội bớt cho nhà sư bạn, nhưng đầu óc ông ta cứ nghĩ tưởng lung tung. Ông ta mãi trằn trọc, bực bội, không cách nào nhắm mắt ngủ được. Lúc gần sáng, ông ta nghe tiếng ngáy của nhà sư bạn trong lúc say ngủ, ông ta nổi giận và làm ồn khiến nhà sư thứ nhất phải thức giấc. “Cái gì xảy ra vậy hả thầy? Tại sao thầy không ngủ được?” vị sư thứ hai giận dữ trả lời: “Thầy biết thầy đã phạm điều gì chưa? Những gì là giới luật của chúng ta? Sao thầy có thể mang người con gái trên lưng để lội qua sông? Tôi không ngủ được vì phải cố gắng hết sức để cầu nguyện cho tội của thầy nhẹ bớt, nhưng thầy đã không cần để ý và ngủ ngon lành”. Nhà sư thứ nhất trả lời: “Ồ, thầy nói về cô gái đó hả.  Tôi đã rời bỏ cô ta lâu rồi, ngay khi chúng tôi vưa mới vượt qua sông, nhưng tại sao thầy, bạn của tôi, đang còn mang cô ta trên lưng?”

 

Xin cám ơn quý vị .

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01-6-2006 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au

Ghi rõ nguồn "Trang nhà Quảng Đức" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.