Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

PHẬT HỌC CƠ BẢN


...... ... .

 

 

 

 

CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC

 

Tác giả: Narada Maha Thera

Dịch giả:  Thích Viên Lý

---o0o---

 

MỤC LỤC 

 

Lời giới thiệu

 

TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

Từ

Bi

Hỷ

Xả

 

HƯỚNG ĐẾN GIẢI THOÁT NIẾT BÀN I

Giới hạnh

Cư sĩ có thể thực hiện niết bàn

Một tì kheo

 

HƯỚNG ĐẾN GIẢI THOÁT NIẾT BÀN II

Định

Những chủ đề của thiền

Những chủ đề thích hợp với tính khí khác nhau

Sáu loại tính khí

Thực hành định

Làm thế nào để kiểm soát những ý t ưởng xấu

Thiền định về đất

Asubha (Hôi thúi)

Naussati (Suy tưởng)

Anapanasati (thiền hô hấp)

Anhinna (Năng lực siêu nhiên)

Nivarana hay những chướng ngại

 

HƯỚNG ĐẾN GIẢI THOÁT NIẾT BÀN III

Nội quán (vipassana – minh sát)

Những xiềng xích (kiết sử)

Dự Lưu Quả

A La Hán - Thánh giả

 

NIẾT BÀN LÀ GÌ?

Định nghĩa

Niết bàn có phải là vô không?

Những đặc tính của niết bàn

Niết bàn ở đâu?

Cái gì đạt tới niết bàn?

 

Lời Giới Thiệu

     

Chữ Niết Bàn (Nirvana hay Nibbana) có thể được diễn nghĩa như là sự dập tắt những dục vọng thuộc giác quan. Nhiều người thường có cảm tưởng rằng họ có thể tìm được an lạc và hạnh phúc vĩnh cửu bằng cách cung cấp cho chính mình ngày càng nhiều những thứ vật chất để thỏa mãn các giác quan của họ. Nhưng, đó là một công việc không bao giờ chấm dứt. Chúng ta càng cung cấp nhiều thứ cho các giác quan của mình thì chúng lại càng đòi hỏi thêm nhiều hơn nữa. Bởi vậy, không ai có thể làm thỏa mãn cơn khát vô tận của các giác quan. Con người có thể làm việc cực nhọc cho tới hơi thở cuối cùng để mong làm thỏa mãn các khát vọng của họ; nhưng, tới lúc chết họ vẫn không thể dập tắt cơn khát giác quan của mình. Sự ham muốn hay khát vọng sẽ tiếp tục chế ngự họ ngay cả khi họ không còn khả năng sử dụng các giác quan để hưởng những lạc thú đó.
     Phương pháp luôn luôn hữu hiệu của Đức Phật để dập tắt cơn khát này là hãy khiến cho các giác quan của chúng ta trở nên thanh tịnh, thay vì cố gắng làm thỏa mãn chúng. Muốn như vậy, chúng ta phải hiểu thực tướng (bản chất đích thực) của cuộc đời này và những quy luật phổ quát trên thế gian. Chúng ta phải can trường để khỏi trở thành nô lệ của các giác quan. Chúng ta phải học cách kiểm soát các giác quan và tâm trí qua tu tập, khắc kỷ và tự chế. Chúng ta phải học tập để đạt được sự hài lòng với hiện tại của mình và vô chấp thủ. Rất ít người ý thức được rằng nguyên nhân của đau khổ là do sự chấp thủ và khao khát của họ đối với nhiều thứ. Họ không chịu hiểu rằng một ngày kia họ sẽ phải giã biệt tất cả mọi thứ mà họ trân quí trên thế gian này.
     Niết Bàn của Phật giáo hoàn toàn khác hẳn với thiên đàng của các tôn giáo khác. Con đường của Phật giáo để tiến tới giải thoát và cực lạc vĩnh hằng không thể nào đạt được nếu con người không tự thanh tịnh hóa bằng cách trở thành một người hoàn hảo. Nhưng tín đồ của các tôn giáo khác tin rằng họ có thể tìm được giải thoát cho mình qua ảnh hưởng của Thượng Đế, bằng cách cầu xin và tin tưởng vào Ngài. Người Phật tử cũng tin rằng có những cảnh thiên giới nào đó dành cho những người tốt đã từng có những hành vi đáng quí trọng, để họ được hưởng những lạc thú thuộc cảm quan; nhưng trong những cảnh giới như vậy không ai có thể tìm thấy cực lạc vĩnh cửu mà chỉ có hạnh phúc tạm thời, bởi vì một ngày nào đó thì những lạc thú đó cũng sẽ phải chấm dứt. Theo Phật giáo, thiên giới chẳng phải là nơi mà con người có thể giải thoát khỏi Vòng Luân Hồi Sanh Tử. Vì khi nào con người vẫn còn khao khát những lạc thú giác quan, thì họ sẽ vẫn còn tiếp tục ở trong Vòng Luân Hồi Sanh Tử.
     Có sự khác biệt lớn giữa lạc thú mà con người được hưởng từ sự thỏa mãn giác quan và lạc thú mà họ được hưởng nhờ tự kiềm chế sự khao khát đó. Cho nên, Đức Phật là người đầu tiên dạy rằng lạc thú cao nhất ở trên đời đạt được bằng cách kiểm soát các giác quan của chúng ta chứ chẳng phải là bằng cách tha hồ chiều theo sự khao khát của chúng. Trong khi một số tôn giáo nói rằng chúng sanh đạt được sự bất tử sau khi chết, một số khác nói rằng không có đời sau nào nữa sau khi chết. Nhưng theo Phật giáo thì cả hai quan điểm này đều không thể chấp nhận được. Tất cả những biến đổi trong cuộc đời là do những hành động tốt và xấu của một cá nhân. Chúng ta không thể thoát khỏi đau khổ trong khi chúng ta vẫn còn có những khát ái, vô minh.
     Trừ phi chúng ta trở thành con người hoàn hảo bằng cách tận diệt tất cả những ô trược của mình, chúng ta sẽ không thể thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử, phiền não và những gánh nặng khác.
     Người ta suốt đời cứ phải tranh đấu trên cõi đời này để cố gắng tìm an lạc và hạnh phúc bằng cách áp dụng những phương pháp sai lầm, mà không biết tới con đường chân chánh, vì sự ngu muội của chính họ.
     Theo Phật giáo, không ai có thể đạt được giải thoát hay cực lạc vĩnh cửu chỉ bằng cách cầu nguyện một đấng thần linh hoặc bằng cách cử hành những nghi thức cúng tế. Muốn đạt được giải thoát, chúng ta phải là người tốt đối với cả chính mình lẫn tha nhân. Chúng ta phải trau dồi bản thân bằng cách thực hành một số giới hạnh, bằng cách tránh làm những điều ác và bằng cách thanh lọc tâm ý. Không ai khác có thể thanh tẩy cho chúng ta bằng cách rửa sạch tất cả những tội lỗi và ác tâm của chúng ta. Chúng ta phải tự làm việc đó cho chính mình.
     Không bao giờ chúng ta có thể giải thích Niết Bàn bằng ngôn ngữ một cách đầy đủ và thỏa đáng, bởi vì ngôn ngữ của con người quá hạn hẹp và thiếu sót để có thể bày tỏ hoặc mô tả thực tướng của Chân Lý Tuyệt Đối hoặc Thực Tại Tối Hậu, tức là Niết Bàn. Ngôn ngữ được quần chúng tạo ra và sử dụng để bày tỏ những sự vật và ý tưởng mà các giác quan và tâm trí của họ đã có kinh nghiệm. Loại kinh nghiệm siêu phàm giống như Chân Lý Tuyệt Đối không thuộc những loại đó. Ngôn từ là những biểu tượng dùng để tượng trưng cho những sự vật và ý tưởng mà chúng ta đã biết, nhưng các biểu tượng này không thể nào chuyển vận đầy đủ thực tướng của ngay cả những sự vật tầm thường. Ngôn ngữ bị coi là hư ngụy và dẫn tới hiểu lầm trong vấn đề tìm hiểu chân lý. Dù sao, chúng ta không thể loại bỏ ngôn ngữ. Nhưng nếu chúng ta mô tả và giải thích Niết Bàn bằng những từ ngữ xác định thì chúng ta tức thời có khuynh hướng chụp bắt một ý tưởng thường được liên kết với những từ ngữ đó; và thường thường thì chúng có những ý nghĩa trái ngược hẳn. Vì vậy, Niết Bàn thường được mô tả bằng những từ ngữ phủ định - có lẽ đây là đường lối ít nguy hiểm hơn. Do đó, Niết Bàn thường được diễn đạt bằng những từ ngữ phủ định, như “sự dập tắt khao khát, vô điều kiện, không còn tham dục, tận diệt, thoát ra, hoặc dập tắt, v.v.”
     Có nghĩa là sự diệt trừ hoàn toàn sự khao khát đó, từ bỏ nó, chối bỏ nó, giải thoát và xa lìa khỏi nó.
     Niết Bàn được mô tả bằng những từ ngữ phủ định như “Làm lắng xuống tất cả những sự vật có điều kiện, diệt trừ tất cả những ô trược.” Tuy nhiên, nhiều người cũng có những ý niệm sai lầm rằng chính chữ Niết Bàn là phủ định và bầy tỏ sự “tự hủy.” Chắc chắn Niết Bàn không phải là sự tự hủy cái ngã, bởi vì không hề có cái ngã để mà hủy diệt. Nếu có sự hủy diệt nào đó thì là hủy diệt ảo tưởng và ý tưởng sai lầm về cái ngã.
     Phật giáo chủ trương rằng sự tận diệt vô minh, ngu muội, là con đường giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử; nhưng chúng ta không thể đạt tới sự giải thoát đó bằng cách nhập vào cảnh giới của đấng Phạm Thiên (Brahma), hoặc Thượng Đế, mà các tôn giáo nói rằng con người chỉ có thể đạt tới ở kiếp sau. Theo Đức Phật, chiến thắng đạt được qua sự tận diệt vô minh là loại chiến thắng mà chúng ta có thể đạt tới và được hưởng ngay trong kiếp này. Đó chính là ý nghĩa của lý tưởng về đạo quả A-La-Hán - cuộc đời của một con người trở thành hoàn hảo nhờ nội quán, cuộc đời của một người đã đi theo Bát Chánh Đạo và đã cắt đứt tất cả những xiềng xích, và đã thực hành đầy đủ hệ thống tự tu và tự chế của Phật giáo.
     Theo Đức Phật, loại đời sống siêu việt này có thể đạt được một cách bình thường trước khi nhục thân của con người chết đi, và ngài coi đó là loại hạnh phúc cao đẳng nhất, đi cùng với ý thức về sự hủy diệt của tham dục và chấp ngã. Trong thực thể siêu việt tuyệt đối này, con người thoát khỏi ý thức về cái ngã tách biệt của họ và hòa nhập vào cảnh giới Niết Bàn. Lúc đó con người trở thành chính hiện thân của Mười Đại Hạnh Ba-La-Mật, gồm Bố Thí (dana), Trì Giới - h?nh (sila), Xuất Thế - Viễn Ly tr?n c?u (nekkhamma), Trí Huệ (panna), Nghị lực - Nhẩn nhục (viriya), Tha Thứ - nh?n nh?c (khanti), Chân Đế (sacca), Gia Trì - cương quyết (adhitthana), Từ Tâm (metta), và Xả (upekkha).
     Sự biến đổi đi từ một cuộc đời vị kỷ sang một cuộc đời quên cả tự ngã, một sự an lạc nội tâm không bao giờ có thể bị lay chuyển. Những người đạt tới cảnh giới này được hưởng trạng thái an lạc tâm thần. Có vô số những tên gọi dành cho trạng thái như vậy, được căn cứ vào một trong những giai đoạn của một tổng thể có nhiều mặt, như Giải Thoát, Nơi An Trú, Sự Chấm Dứt Tham Dục, Cảnh Giới Thanh Tịnh, Cảnh Giới Tối Thượng, Cảnh Giới Siêu Việt, Vĩnh Hằng, Ra Khỏi, Không Lay Chuyển, Bất Khả Hủy Diệt, Thực Phẩm Tuyệt Hảo, v.v. Tuy nhiên, có một từ ngữ đã quen thuộc để chỉ cảnh giới đó; từ ngữ đó là “Niết Bàn” (Nibbana hay Nirvana), là “đi ra khỏi,” nghĩa là cái tâm đi ra khỏi ba ngọn lửa tham, sân, si.
     Tham, sân, si được gọi là “ba ngọn lửa,” sự dập tắt chúng dẫn tới cảnh giới của bậc A-La-Hán, là người đã đạt tới Niết Bàn. Vì nghĩa đen của chữ Niết Bàn là “đi ra khỏi” hoặc “dập tắt,” cho nên nó có thể khiến cho một số người lầm tưởng rằng chữ này đồng nghĩa với “biến thành hư vô.” Nhưng thật ra Niết Bàn có nghĩa là đời sống cao hơn của người đã thăng hoa lên trên chính mình. Nó có nghĩa là tận diệt ảo tưởng về cái ngã, và do đó tận diệt sự vị kỷ, đó là cảnh giới của giác ngộ hoàn toàn, của cái thiện hoàn hảo, và của an lạc hoàn hảo. Đức Phật so sánh nó với “kinh thành an lạc.” Thật là sai lầm nếu bảo rằng Niết Bàn có tính cách phủ định hay xác định. Những ý tưởng về “phủ định” hay “xác định” chỉ là tương đối, và thuộc lãnh vực của thực tế. Không thể áp dụng những từ ngữ đó cho Niết Bàn, Chân Lý Tuyệt Đối, là thứ siêu việt lên trên những phạm trù nhị nguyên và tương đối.
     Trong cuốn sách này, Ngài Narada Maha Thera, một học giả Phật giáo uyên bác, tác giả của nhiều sách Phật học, và cũng là một nhà truyền bá Phật giáo nổi tiếng, đã hiến cho chúng ta một số ý tưởng quí giá và giới thiệu cho chúng ta phương pháp để thực hành, như đã được Đức Phật truyền giảng, để đạt được an lạc và hạnh phúc vĩnh hằng. Bằng cách theo đuổi phương pháp này, chúng ta có thể chắc chắn đạt tới mục tiêu tối hậu hoặc mục đích cao cả của cuộc đời để chấm dứt toàn bộ khổ đau của đời sống.
     Xin thành tâm cảm tạ Ngài Narada Maha Thera đã đóng góp những bài hết sức giá trị cho cuốn sách và cảm tạ nữ cư sĩ Gladys Loke Chua đã có hảo tâm hiến tặng phí tổn ấn tống cho cuốn sách này để tưởng nhớ người chồng yêu quí đã khuất, cố cư sĩ Bác Sĩ Chua Sin Kah.


XIN CẦU NGUYỆN TẤT CẢ CHÚNG SANH ĐẠT ĐƯỢC AN LẠC VÀ HẠNH PHÚC.


K. Dhammananda
Chùa Phật Giáo
Jalan Berhala
Kuala Lumpur
Malaysia

TỨ VÔ LƯỢNG TÂM
 

     Được sinh ra làm người là điều hiếm quí
     Mạng sống chúng sinh thật vô cùng cam go
     Chớ để buông trôi cơ hội này

     Kinh Pháp Cú (Dhammapada)
     Con người là một sinh vật huyền bí có những tiềm năng mà người ta không thể quan niệm nổi. Trong con người tiềm tàng cả những đức tính thánh thiện lẫn những khuynh hướng tội ác. Những thứ tiềm ẩn đó có thể trồi lên bề mặt vào những lúc bất ngờ với cường độ mạnh mẽ. Chúng ta không biết chúng phát xuất từ đâu. Chúng ta chỉ biết rằng chúng tiềm ẩn trong con người ở những mức độ khác nhau.
     Ở trong tâm trí cường mạnh của con người phức tạp này vừa có một kho tàng chất chứa những đức hạnh vừa có một đống rác đầy những điều ác. Tùy theo sự phát triển của những cá tính đó, một con người có thể trở thành một nguồn phúc lợi hay là một tai vạ đối với nhân loại.
      Những ai mong muốn trở thành vĩ đại, cao thượng, và hữu ích, mong muốn tự mình thăng hoa và phục vụ nhân loại cả bằng cách nêu gương lẫn bằng giới hạnh, và mong muốn tận dụng cơ hội bằng vàng được sống làm người, thì họ cố gắng hết sức để loại trừ những cái ác tiềm ẩn và vun bồi những đức hạnh tàng trữ trong con người họ.
      Để đào những viên ngọc quí nằm sâu dưới đất con người bỏ ra những món tiền lớn, mất nhiều sức lực, thậm chí có khi phải hi sinh đến tính mạng. Nhưng để đào những kho tàng quí báu tiềm ẩn bên trong con người, chúng ta chỉ cần tới sự kiên quyết và nhẫn nại. Ngay cả tới một người nghèo nhất cũng có thể thực hiện trọng trách này; bởi vì tài sản chẳng phải là một điều kiện thiết yếu đối với việc tích tụ những kho tàng thăng hoa tinh thần.
     Có điều kỳ lạ là những cái xấu tiềm tàng trong con người có vẻ như tự nhiên và tự phát. Một điều chẳng kém kỳ lạ là mọi thói xấu cũng đi kèm với đức hạnh trái ngược với nó, tuy đức hạnh thì dường như không tự nhiên và tự phát, dù rằng chúng có thể hiện ra ở bất cứ trình độ nào.
     Một tật xấu nguy hiểm của con người là “sân” hay sự tức giận. Đức hạnh ngọt ngào để dập tắt thói xấu này và giúp con người thăng hoa là “Từ” (Metta).
     Sự độc ác là một tật xấu khác khiến cho thế giới xảy ra biết bao nhiêu chuyện sai lầm và giết chóc lẫn nhau. “Bi” (Karuna) là thứ thuốc để giải trừ sự độc ác.
     Ganh ghét là một tật xấu khác đầu độc con người và dẫn tới những ganh đua không lành mạnh và những cạnh tranh nguy hiểm. Phương thuốc hữu hiệu nhất để chống lại độc tố này là “Hỉ” (Mudita)
     Có hai đặc tính phổ quát khác khiến cho sự quân bình tinh thần của con nguời bị xáo trộn. Đó là sự quyến luyến những điều thích thú và ghét bỏ những điều không thích thú. Chúng ta có thể diệt trừ hai lực đối nghịch này bằng cách phát triển “Xả” (Upekkha)
     Bốn đức hạnh cao quí này được gọi chung bằng tiếng Pali là Brahmavihara, tức là “Tứ Vô Lượng Tâm” (gồm Từ, Bi, Hỉ và Xả).
     Những đức hạnh này có khuynh hướng nâng cao con người. Chúng khiến cho một con người trở thành thánh nhân ngay trong chính cuộc đời này. Chúng có thể biến con người thành “siêu nhân.” Nếu tất cả mọi người đều cố gắng vun bồi bốn đức hạnh này, bất kể tôn giáo, mầu da, chủng tộc, hay giới tính, thì trái đất sẽ biến thành tịnh độ, nơi mọi người có thể sống trong an lạc và hoàn toàn hòa hợp, như là những công dân lý tưởng của thế giới.
     Bốn đức hạnh cao cả này còn được gọi là những “quang minh” (ánh sáng chiếu rọi khắp nơi) vì chúng không có ngăn cách hay giới hạn nào và cần nên được trải rộng đối với tất cả chúng sinh không trừ một ai. Chúng bao gồm tất cả mọi sinh vật kể cả các loài thú vật.
     Bất kể tín ngưỡng tôn giáo, người ta có thể vun bồi những đức hạnh cao đẹp này để trở thành nguồn hạnh phúc cho chính mình lẫn chúng sinh.

 

TỪ (METTA)
 

     Trạng thái vô lượng tâm thứ nhất là Từ (Metta). Chữ Metta trong tiếng Pali có nghĩa là “làm mềm trái tim” hoặc trạng thái của một người bạn chân chính. Nó được định nghĩa như là sự thành tâm mong mỏi cho hết thảy mọi sinh vật đều được hưởng phúc lợi và hạnh phúc đích thực. Nó cũng được giải thích như là tình cảm thân thiện mà một người bạn chân chính thành tâm cầu mong cho bạn mình được hưởng an lạc.
     Giống như một người mẹ bảo vệ đứa con duy nhất của mình dù nguy hiểm tới tính mạng, Đức Phật khuyên chúng ta hãy nên vun bồi lòng từ vô biên đối với tất cả chúng sinh.
     Ở đây chúng ta không nhấn mạnh tới tình thương sâu xa của người mẹ đối với đứa con mà nhấn mạnh vào sự thành tâm mong cho nó được hưởng phúc lợi.
      Metta chẳng phải là tình yêu xác thịt hay luyến ái cá nhân, vì cả hai loại tình cảm này đều có thể sanh ra phiền não, đau khổ.
     Metta chẳng phải là thứ tình láng giềng, vì nó không phân biệt giữa những người xung quanh và những người khác.
     Metta chẳng phải chỉ là tình huynh đệ phổ quát, bởi vì nó bao trùm tất cả mọi sinh vật kể cả các loài thú vật - là những anh chị em thấp kém của chúng ta và cần tới lòng từ tâm của chúng ta nhiều hơn, vì chúng khó có thể tự vệ.
     Metta chẳng phải là tình huynh đệ thuộc về chính trị, chủng tộc, quốc gia, hay ngay cả tình huynh đệ thuộc tôn giáo.
     Tình huynh đệ thuộc chính trị chỉ giới hạn trong số những người cùng chia sẻ những chính kiến giống nhau, chẳng hạn như tình huynh đệ đảng phái giữa những đảng viên Dân Chủ, Xã Hội, Cộng Sản, v.v.
     Tình huynh đệ chủng tộc, hoặc quốc gia, chỉ giới hạn trong số những người có cùng một chủng tộc hoặc thuộc cùng một quốc gia. Một số người nặng đầu óc quốc gia đến nỗi có khi họ thẳng tay giết chóc những người vô tội, kể cả phụ nữ và trẻ em, chỉ vì những người đó không được sinh ra với mái tóc mầu vàng và cặp mắt xanh. Các chủng tộc da trắng có tình cảm đặc biệt đối với mầu da trắng, các chủng tộc da đen yêu mầu da đen, các chủng tộc da vàng yêu mầu da vàng, các chủng tộc da đỏ yêu mầu da đỏ. Những người khác mầu da đôi khi bị người ta nghi kỵ và hải sợ. Nhiều khi, để xác định sự ưu việt chủng tộc, người ta gây ra chiến tranh tàn khốc, giết hại hàng triệu sinh linh. Những sự việc đã xảy ra trong trận Thế Chiến Thứ Nhì là những tấm gương rõ rệt mà nhân loại không bao giờ có thể quên.
     Trong số những dân tộc tâm trí hẹp hòi, trong quốc gia của họ có những giai cấp thiểu số mà tình huynh đệ của những kẻ áp bức hạn hẹp đến nỗi những người bị áp bức thậm chí không được phép hưởng những nhân quyền căn bản, chỉ vì họ chào đời trong một giai cấp nào đó. Những kẻ áp bức đó thật đáng thương hại, bởi vì họ bị kiềm tỏa trong những cái túi bưng bít.
     Metta cũng chẳng phải là tình huynh đệ thuộc tôn giáo. Chỉ vì những hạn hẹp của cái gọi là tình huynh đệ tôn giáo mà biết bao cái đầu con người đã bị chặt không một chút thương xót; bao nhiêu người nói thật những điều họ nghĩ đã bị thiêu sống trên giàn hỏa; bao nhiêu hành động dã man tàn ác không thể tả đã xảy ra; những cuộc chiến tranh tàn khốc đã làm ô uế những trang lịch sử thế giới. Ngay cả trong thế kỷ 20 được coi là “giác ngộ” mà những tín đồ của một tôn giáo thù ghét, hoặc đàn áp và thậm chí giết chóc những người khác chỉ vì họ không thể ép buộc những người này suy nghĩ giống họ, hoặc vì những người này mang một “nhãn hiệu” khác.
     Nếu những người khác tín ngưỡng không thể gặp nhau trên một cương lĩnh chung giống như anh chị em thì chắc chắn rằng sứ mạng của các vị thầy dạy về thế giới từ bi đã thất bại một cách đáng thương.
     Lòng từ tâm (metta) ngọt ngào siêu việt tất cả những loại tình huynh đệ hẹp hòi này. Nó vô biên trên cả phạm vi lẫn tầm mức. Nó tuyệt nhiên không có những rào cản. Nó không phân biệt và kỳ thị. Metta khiến cho con người coi toàn thể thế giới như đất mẹ, tổ quốc của mình và tất cả chúng sinh đều là đồng bào ruột thịt.
     Giống như mặt trời tỏa ánh sáng lên tất cả mọi thứ, không loại trừ bất cứ cái gì, lòng từ tâm vô biên cao thượng tỏa phúc đức ngọt ngào của nó một cách bình đẳng lên người đáng ưa cũng như kẻ không đáng ưa, lên kẻ giầu cũng như người nghèo, lên kẻ quyền cao chức trọng cũng như người tiện dân, lên kẻ ác cũng như người thiện, lên người nam cũng như người nữ, lên nhân loại cũng như các loài thú vật.
     Đó chính là lòng từ tâm của Đức Phật; ngài đã cố gắng đem lại phúc lợi và hạnh phúc cho những người yêu kính ngài cũng như những người thù ghét ngài và thậm chí muốn làm hại và giết ngài.
     Đức Phật hướng Metta (từ tâm) một cách đồng đều về phía con trai ngài là La-Hầu-La, về phía kẻ thù nghịch ngài là Devadatta (Đề Bà Đạt Đa), về phía người săn sóc ngài là A-Nan-Đàa, về phía những người khâm phục ngài cũng như những người chống đối ngài.
     Từ Tâm cần nên trải ra đồng đều về phía bản thân cũng như về phía bạn hữu, kẻ địch cũng như những người trung dung. Giả sử có một tên cướp tiến về phía một người lữ hành đang đi cùng với ba người, gồm một người bạn thân thiết, một người trung dung, và một địch thủ; và giả thử tên cướp đòi phải nạp cho hắn một mạng người. Nếu người lữ hành nói rằng mình sẵn lòng để cho tên cướp bắt đem đi, tức là ông ta không có Từ Tâm đối với chính mình. Nếu ông ta bảo tên cướp có thể bắt bất cứ ai trong ba người kia thì tức là không có Từ Tâm đối với họ.
     Khi thực hành hạnh Từ Tâm vô biên, chúng ta không được bỏ quên chính bản thân mình. Chúng ta đừng hiểu lầm về điểm tế nhị này, vì sự hi sinh là một đức hạnh cao thượng khác, và sự không chấp ngã còn là một đức hạnh cao hơn nữa. Tuyệt đỉnh của Từ Tâm là đồng hóa bản thân mình với tất cả chúng sinh, không phân biệt chính mình với tha nhân. Cái gọi là “ta” mất đi trong tổng thể. Sự phân biệt tan biến. Sự Nhất Như được thể hiện.
     Phản đề của Metta (từ tâm) là sự tức giận (sân), ác cảm, thù ghét, hoặc ghê tởm. Từ Tâm không thể cộng tồn với tức giận hoặc hành vi trả thù.
      Từ Tâm chẳng những có khuynh hướng chinh phục sân mà còn loại trừ những ý tưởng thù ghét đối với tha nhân. Người có Từ Tâm không bao giờ nghĩ tới chuyện làm hại tha nhân, và cũng không nói xấu hoặc lên án tha nhân. Một người như vậy không sợ bất cứ ai và cũng không khiến cho bất cứ ai phải sợ họ.
     Một kẻ địch gián tiếp và vi tế có thể ám hại Metta (từ tâm) khi nó ngụy trang là một bạn hữu. Đó là thứ tình thương yêu vị kỷ, bởi vì lòng Từ Tâm bất cẩn đôi khi có thể bị lòng tham dục ám hại. Kẻ địch gián tiếp này giống như một kẻ lẩn trốn trong rừng rậm đồi núi để hãm hại người khác. Phiền não sanh ra từ tình thương yêu, nhưng không thể sanh ra từ Metta (từ tâm).
     Chúng ta đừng hiểu lầm điểm tế nhị này. Cha mẹ đương nhiên không thể tránh thương yêu các con, và các con đương nhiên thương yêu cha mẹ, vợ chồng thương yêu nhau. Đó là thứ tình cảm tự nhiên. Thế giới không thể tồn tại nếu không có tình thương yêu lẫn nhau. Điểm cần nói rõ ở đây là Từ Tâm bất vị kỷ không đồng nghĩa với tình thương yêu thông thường.
     Một thái độ nhân đức là đặc tính chính yếu của Metta (từ tâm). Người thực hành hạnh Từ Tâm lúc nào cũng quan tâm tới việc thăng tiến phúc lợi cho tha nhân. Người đó tìm kiếm những cái thiện và mỹ trong tất cả, ngoại trừ cái xấu trong tha nhân.

 

NHỮNG PHÚC LỢI DO HẬU QUẢ CỦA TỪ TÂM

  1. Người thực hành hạnh Từ Tâm ngủ ngon giấc. Khi đi vào giấc ngủ với một trái tim nhẹ nhàng, không vướng mắc thù ghét, người đó tự nhiên rơi vào giấc ngủ ngay tức thì. Sự kiện này chứng tỏ rõ ràng nơi nhưng người lòng tràn đầy Từ Tâm. Họ mau lẹ rơi vào giấc ngủ sau khi nhắm mắt.

  2. Khi đi ngủ với một trái tim đầy thương yêu, họ sẽ thức dậy với một trái tim cũng đầy thương yêu y như vậy. Những nguời phúc đức và từ bi thường thức dậy và ra khỏi giường với gương mặt tươi cười.

  3. Ngay cả trong khi ngủ, những người giầu Từ Tâm không bị quấy rối bởi những giấc chiêm bao xấu. Với lòng tràn đầy tình thương trong những lúc tỉnh thức, họ cũng hưởng những giờ khắc an lạc trong giấc ngủ. Vì vậy, hoặc là họ rơi vào giấc ngủ ngon hoặc là có những giấc mộng êm đẹp.

  4. Họ trở thành người thân ái đối với nhân loại. Vì họ yêu thương tha nhân, cho nên tha nhân yêu thương họ.
    Khi một người nhìn vào tấm gương với nét mặt tươi cười, thì nét mặt giống như vậy sẽ hiện ra chào họ. Nếu, ngược lại, họ nhìn vào gương với nét mặt nhăn nhó thì họ sẽ thấy một phản ảnh giống như vậy. Thế giới bên ngoài phản ứng đối với chúng ta theo cách giống như chúng ta hành động đối với thế giới. Một kẻ có đầy những điều xấu và khuyết điểm trong người thì thường trông thấy điều xấu nơi tha nhân. Hắn không thấy những điều tốt nơi họ.
    Tại sao chúng ta cứ thấy những điều xấu nơi người khác trong khi ngay trong chúng ta cũng có cả cái ác lẫn cái thiện? Nếu chúng ta có thể thấy những cái thiện và mỹ trong tất cả mọi người thì đó là nguồn vui đối với tất cả mọi người.

  5. Người thực hành Metta (từ tâm) trở thành thân ái đối với loài thú vật. Họ có sức thu hút chúng. Với lòng Từ Tâm chiếu rọi ra xung quanh, các vị ẩn sĩ sống khổ hạnh trong rừng hoang hòa mình với những loài ác thú hung dữ mà không bị chúng làm hại.

  6. Nhờ sức mạnh của Từ Tâm, họ trở thành vô nhiễm đối với các chất độc, v.v., trừ phi họ không thể tránh khỏi trả nợ cho Nghiệp (Kamma) quá xấu nào đó.
    Vì Từ Tâm là một lực lành mạnh và xây dựng, nó có sức mạnh chống lại những ảnh hưởng xấu. Giống như những ý tưởng thù ghét có thể sản sinh ra những ảnh hưởng độc hại trong con người chúng ta, những ý tưởng thương yêu có thể sản sinh ra những ảnh hưởng lành mạnh cho cơ thể.
    Khi Đức Phật trở về thăm viếng sinh quán của ngài lần đầu, con trai ngài là La-Hầu-La, lúc đó mới lên 7 tuổi, tiến về phía ngài và bất chợt nói: “Ô, b?c ph?m h?nh, ngay cả cái bóng của Ngàai cũng khiến con c?m thấy thích thú.” Cậu bé đã bị chế ngự bởi Metta (từ tâm) của Đức Phật đến nỗi cậu thâm cảm một sức thu hút mãnh liệt từ lòng Từ Tâm đó.

  7. Các thần linh vô hình bảo vệ họ vì sức mạnh của Từ Tâm mà họ phát ra.

  8. Metta dẫn tới sự tập trung tư tưởng mau chóng. Vì tâm trí không bị những dao động xấu quấy nhiễu, người thực hành Từ Tâm dễ dàng đạt được sự tập trung tư tưởng vào Nhất Tụ Điểm. Với cái tâm thanh tịnh, họ sẽ sống trong cảnh giới tịnh độ do chính mình tạo ra. Ngay cả những người chỉ tiếp xúc với họ cũng sẽ cảm nhận được ảnh hưởng từ cảnh giới đó.

  9. Metta (t? tâam)có khuynh hướng khiến cho sắc diện con người trở thành tươi đẹp hơn. Nét mặt luôn luôn phản ảnh trạng thái tâm trí. Khi người ta tức giận, trái tim họ bơm máu hai hay ba lần nhanh hơn mức bình thường. Máu nóng dồn lên mặt khiến mặt trở thành đỏ hoặc thâm, tùy theo mầu máu. Vào những lúc như vậy, gương mặt con người trông rất khó thương. Trái lại những ý tưởng nhân từ khiến cho trái tim an vui và giúp cho máu trong sạch. lúc đó gương mặt hiện ra những nét đáng yêu.
    Kinh điển kể lại rằng sau khi Đức Phật đạt được Đại Ngộ ngài suy tưởng về Duyên Khởi, trái tim ngài bình an và máu ngài có những mầu vàng, đỏ, trắng, cam, và sự tổng hợp những mầu đó tỏa ra từ thân thể ngài.

  10. Một người chứa đầy Từ Tâm sẽ từ trần một cách bình an vì họ không có những ý tưởng thù ghét đối với bất cứ ai. Ngay cả sau khi chết, nét mặt thanh tịnh của họ phản ảnh cái chết bình an.

  11. Bởi vì người thực hành Từ Tâm chết một cách vui vẻ, cho nên họ sẽ sanh vào một cảnh giới an lạc. Nếu họ đạt tới những Thiền ??nh Jhanas thì họ sẽ sinh vào một cõi Phạm Thiên (Brahma).


 

SỨC MẠNH CỦA TỪ TÂM


     Ngoài nhưng phúc lợi phàm trần đương nhiên sẽ xảy ra đó, Từ Tâm còn chứa đựng một mãnh lực từ-tính (magnetic power). Nó có thể phát sanh một ảnh hưởng tốt đối với tha nhân, ngay cả những người ở xa, và có thể thu hút người khác.
     Một lần có kẻ xua một con voi say rượu về phía Đức Phật với ý định sát hại ngài. Đức Phật đã bình thản chiếu rọi tình thương của ngài về phía con voi để khuất phục nó.
     Chúng ta có thể kể lại một câu chuyện đẹp về vị Bồ Tát lúc còn là một thiếu niên đã tỏa ra Từ Tâm vô biên khi người cha của ngài ra lệnh giết ngài. Tuy còn nhỏ tuổi, vị Bồ Tát nghĩ thầm:
     “Đây là một cơ hội hiếm có để ta thực hành hạnh Từ Tâm. Cha ta đứng trước mặt ta, mẹ hiền đang khóc lóc, kẻ hành quyết sẵn sàng chặt tay chân ta. Ta là nạn nhân đang đứng giữa trung tâm. Ta phải thương yêu tất cả bốn người một cách đồng đều mà không phân biệt gì cả. Cầu cho cha ta sẽ không phải chịu đau khổ vì hành động nhẫn tâm này! Mong trong tương lai ta sẽ trở thành một vị Phật!”
     Trong một trong những tiền kiếp của ngài, vị Bồ Tát có lần thực hành đức hạnh kiên nhẫn trong một khu vườn hoàng gia. Vua cha, một người say rượu, muốn thử thách đức tính nhẫn nhục của vị hoàng tử. Ông vua say rượu đá ngài và chặt đứt tay chân ngài. Nhưng ngài vẫn thực hành đức hạnh kiên nhẫn. Ông vua bất nhẫn đá vào ngực ngài. Nằm trong vũng máu và kề bên cái chết, vị Bồ Tát cầu chúc ông vua sống lâu và nói rằng những người như ngài không bao giờ tức giận.
     Chính Đức Phật đã nêu tấm gương cao thượng khi ngài nói: “Giống như một con voi trên chiến địa chống chọi với những mũi tên bắn ra từ cây cung, ta sẽ chịu đựng những lời nhục mạ: phần đông người đời không biết khắc kỷ.”
     Thế giới ngày nay đầy hỗn loạn, chiến tranh, bất ổn; các nước đang thi nhau trang bị đủ thứ vũ khí, họ sợ lẫn nhau; đời sống nhân loại bị đe dọa bởi chiến tranh vũ khí hạch tâm có thể xẩy ra bất cứ lúc nào; vì vậy chúng ta đang cần tới lòng Từ Tâm phổ quát này để tất cả mọi người có thể sống trong một thế giới hoàn toàn thái bình và hòa hợp, giống như anh chị em một nhà.
     Chúng ta có thể thực hành Từ Tâm một cách thiết thực hay không, khi bị bom đạn và những vũ khí tàn khốc khác đe dọa?
     Những con người không có quyền hành có thể làm được gì khi bom đạn dội xuống từ trên không? Họ có thể ngăn chận được một tai họa như vậy hay không?
     Lòng Từ Tâm (Metta) của Phật giáo là câu trả lời duy nhất đối các vũ khí tàn khốc đó khi con người đối diện với cái chết không thể tránh được.
     Nếu có thể thuyết phục tất cả những quốc gia đang võ trang đầy mình hãy thay thế những vũ khí độc hại của chủ nghĩa vật chất đó bằng Metta của tâm linh, và hãy cai trị thế giới bằng chính nghĩa và tình thương thay vì bằng sức lực, thì lúc đó chúng ta mới được hưởng thái bình và hạnh phúc đích thực trên thế gian này.
     Gác qua một bên những vấn đề thực tế chính yếu, việc chúng ta nên làm là hãy quan tâm tới chính mình và toàn thể nhân loại trong việc vun bồi đức hạnh Từ Tâm ngọt ngào cao quí này tới mức tối đa mà một con người có thể thực hành.

 

LÀM CÁCH NÀO ĐỂ THỰC HÀNH TỪ?

     Sau đây là vài điều gợi ý để thực hành thiền quán về Từ Tâm.
     Đầu tiên, Từ cần được thực hành đối với chính bản thân. Khi làm như vậy hành giả hãy nên nạp vào tâm trí và thân thể mình những ý tưởng tích cực về an lạc và hạnh phúc. Hãy nên suy nghĩ làm cách thế nào để mình được an lạc, hạnh phúc, không bị đau khổ, không lo âu, không tức giận. Hành giả không ngừng tập luyện và cố gắng hết sức để khiến cho sự tức giận không có cơ hội phát sanh. Qua sự thực hành Từ Tâm hành giả đoạn trừ tất cả những dao động xấu và những ý tưởng tiêu cực. Hành giả lấy cái thiện trám vào cái ác, lấy tình yêu thương trám vào sự tức giận. Hành giả luôn luôn khoan dung và cố gắng hết sức để không cho sự tức giận có cơ hội phát sinh đối với bất cứ ai. Tự thân hành giả biểu lộ hạnh phúc và họ tiêm nhiễm hạnh phúc sang cả những người khác bằng cách thực hành Từ tâm trong đời sống hằng ngày.
     Khi chất chứa đầy an lạc và không còn những ý tưởng thù ghét, hành giả dễ dàng chiếu rọi Từ Tâm về phía tha nhân. Chúng ta không thể đem cho người khác những cái gì chúng ta không có. Trước khi cố gắng giúp tha nhân hạnh phúc, đầu tiên hành giả cần nên tìm hạnh phúc cho chính mình. Hành giả phải biết những đường lối và phương tiện để giúp chính mình được hạnh phúc.
     Bây giờ hành giả chiếu rọi Từ Tâm về phía tất cả những người gần gũi và thân thương, từng cá nhân cũng như tập thể, cầu chúc cho họ được hưởng an lạc và hạnh phúc, thoát khỏi đau khổ, bệnh tật, lo âu và tức giận.
     Trong khi hướng những ý tưởng Từ Tâm về phía các thân nhân và bằng hữu, hành giả cũng chiếu rọi những ý tưởng đó tới những người trung dung. Giống như cầu chúc cho những người thân thương, hành giả cũng thành tâm cầu chúc an lạc và hạnh phúc cho những người trung dung, cầu chúc họ thoát khỏi đau khổ, bệnh tật, lo âu và tức giận. Sau cùng, hành giả hãy nên chiếu rọi Từ Tâm giống như vậy tới cả những người thù nghịch với mình (nếu có), tuy rằng điều này không phải là chuyện dễ thực hành. Nếu bằng cách thực hành Metta (t? tâam) hành giả có thể giữ một thái độ thân thiện đối với những người bị coi là thù nghịch với mình thì sự thành công của hành giả lại càng cao cả và đáng khâm phục hơn. Như Đức Phật đã khuyên răn: Khi sống với những người có lòng thù ghét, chúng ta hãy rũ bỏ sân hận.
     Khởi đầu từ chính mình, hành giả nên dần dần mở rộng Từ Tâm về phía tất cả chúng sinh, không phân biệt tôn giáo, mầu da, hay giới tính, gồm cả những loài thú vật, cho tới khi nào hành giả đồng hóa mình với tất cả, không phân biệt bất cứ sinh vật nào. Hành giả hòa nhập vào toàn thể vũ trụ và trở thành đồng nhất với tất cả. Họ không còn bị những ý tưởng vị kỷ chế ngự. Họ siêu việt lên trên tất cả mọi hình thức phân biệt. Không còn tự giam hãm trong những cái ngăn kín mít, không còn bị ảnh hưởng bởi những thứ như giai cấp, quốc gia, chủng tộc, hoặc những thành kiến tôn giáo, hành giả có thể coi toàn thể thế giới như là quê mẹ và tất cả chúng sanh như là những người bạn đồng hành trên đại dương của cuộc đời.

 

BI (KARUNA)
 

     Đức hạnh thứ nhì khiến con người trở thành cao cả là Bi (Karuna). Nó được định nghĩa như là đức tính khiến cho trái tim của thiện nhân rung động khi người khác đang chịu đau khổ, hoặc trái tim họ chia sớt những đau khổ của người khác. Đặc tính chính yếu của Bi là mong muốn giải thoát những đau khổ, những bất hạnh của tha nhân.
     Trái tim của những người giầu tình thương mềm dịu hơn cả những bông hoa. Chúng không thể thỏa mãn khi chưa đoạn trừ được đau khổ của người khác. Thậm chí có những khi họ hi sinh mạng sống của chính mình để làm dịu bớt đau khổ của tha nhân. Câu chuyện về Vyaghri Jataka trong đó vị Bồ Tát đã hi sinh tính mạng của mình để cứu một con cọp cái sắp chết đói và những con cọp con của nó, có thể được nêu ra như một tấm gương.
     Chính đức hạnh Bi thúc đẩy chúng ta phục vụ tha nhân với những động lực vị tha. Một con người thực sự giầu tình thương không sống cho chính mình mà sống cho tha nhân. Họ tìm những cơ hội để phục vụ tha nhân, không trông mong được đền bù gì, ngay cả sự biết ơn của người khác.

 

NHỮNG AI CẦN TÌNH THƯƠNG?

      Nhiều người xung quanh đáng được hưởng tình thương của chúng ta. Những người nghèo khó, những người bệnh hoạn, những người không nơi nương tựa, những người cô độc, những người ngu dốt, những người bất lương, những người không trong sạch, những người vô kỷ luật, là một số người cần tới tình thương của những ai có trái tim từ bi và tinh thần cao thượng, bất kể tôn giáo hay chủng tộc của họ.
     Một số quốc gia giầu về vật chất nhưng nghèo về tinh thần, trong khi một số nước khác thì giầu tinh thần nhưng nghèo vật chất. Cả hai tình trạng đáng thương này cần nên được các nước giầu vật chất và giầu tinh thần tìm cách giải quyết.
     Trọng trách cao nhất của những người gi?u là ra tay cứu vớt giúp đỡ những người nghèo khó sống trong cảnh khốn cùng, thiếu thốn những nhu cầu cần thiết trong đời sống. Đương nhiên là người sung túc có thể cho người nghèo tài vật, tiền bạc thặng dư của họ mà không phải chịu cực khổ thiếu thốn.
     Có lần một em học sinh tháo cái màn cửa trong nhà mình để cho một người nghèo, cậu nói với bà mẹ hiền rằng cái cửa không cảm thấy lạnh, nhưng người nghèo thì lạnh. Một thái độ nhân từ như vậy nơi những người trẻ tuổi thật là đáng khen.
     Một điều đáng mừng là một số quốc gia trù phú đã thành lập những cơ quan bác ái để giúp các quốc gia kém mở mang, nhất là ở Á Châu. Các tổ chức từ thiện cũng đã được giới thanh niên, phụ nữ, sinh viên, học sinh thành lập trong các nước trên thế giới để trợ giúp người nghèo và người khốn cùng bằng mọi cách. Các tổ chức tôn giáo cũng thực thi những nghĩa vụ như vậy một cách khiêm tốn. Những nhà dưỡng lão, cô nhi viện và các cơ quan từ thiện tương tự cần được thành lập trong các nước nghèo.
     Chúng ta cũng cần giải quyết vấn đề về giới hành khất trong một số nước mà hành khất đã trở thành một thứ nghề nghiệp. Vì tình thương đối với những người ăn mày bất hạnh này, các chính phủ liên hệ cần phải giải quyết vấn nạn này một cách thỏa đáng, bởi vì sự hiện hữu của những người hành khất là một điều nhục nhã đối với bất cứ quốc gia biết tự trọng nào.
     Trong khi người giàu vật chất hãy nên có tình thương đối với những người nghèo vật chất và cố gắng giúp họ thăng tiến, thì bổn phận của những người giàu tinh thần cũng phải thương những người nghèo tinh thần và thăng tiến về mặt tâm linh, dù họ có thể giầu về vật chất. Riêng tài sản trù phú không thể đem lại hạnh phúc. Chúng ta không thể đạt được sự thanh tịnh tâm trí bằng những kho tàng vật chất mà bằng những kho tàng tâm linh. Nhiều người trên thế gian này rất cần tới những thực phẩm tâm linh, không dễ gì đạt được, vì trên thế giới này số người nghèo nàn về tinh thần nhiều hơn số người nghèo về vật chất, vì họ hiện diện cả trong giới giàu lẫn giới nghèo.
     Ngoài sự nghèo khó, trên thế giới cũng đầy dẫy những người bệnh hoạn. Nhiều người mắc bệnh về thể xác, một số khác mắc bệnh tâm thần. Khoa học cung cấp một cách hiệu quả đối với những bệnh tật thể xác, nhưng khoa học không giúp được gì nhiều cho những người bệnh tâm thần, và họ thường phải sống buồn thảm trong các bệnh viện tâm thần.
     Có những nguyên nhân gây ra hai loại bệnh tật đó. Những người giàu tình thương cần phải cố gắng diệt trừ những nguyên nhân đó nếu họ mong tìm ra phương thuốc hiệu quả.
     Các quốc gia cần phải áp dụng những biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa và chữa trị bệnh tật, chẳng những cho nhân loại mà cho cả các loài thú vật.
     Đức Phật đã nêu tấm gương cao cả khi chính ngài săn sóc người bệnh và nói với các đệ tử của ngài những lời đáng ghi nhớ này: “Ai săn sóc người bệnh tức là săn sóc ta.”
     Một số bác sĩ có lòng vị tha phục vụ miễn phí để thoa dịu đau khổ. Một số dành tất cả thời giờ và sinh lực của họ để chữa trị cho các bệnh nhân nghèo, có khi bất kể nguy hiểm tới tính mạng của chính họ.
     Các bệnh viện và các phòng phát thuốc miễn phí đã trở thành một phúc lợi cho nhân loại, nhưng chúng ta cần có nhiều hơn nữa để người nghèo có thể được hưởng. Trong những quốc gia kém mở mang, người nghèo phải chịu đau khổ vì thiếu thốn những phương tiện y khoa. Những người bệnh phải được chở đi xa nhiều cây số một cách chật vật để tới một bệnh viện hoặc phòng phát thuốc gần nhất. Nhiều khi họ chết ở dọc đường. Các phụ nữ có thai thường chịu khổ nhiều nhất. Các vùng thôn quê lạc hậu cần có những bệnh viện, phòng phát thuốc, viện bảo sanh, v.v.
     Những người nghèo mạt và khốn cùng đáng được hưởng tình thương của những người giầu có. Nhiều khi những người tôi tớ và công nhân không được chủ nhân trả tiền xứng đáng, không được cho ăn đầy đủ, thiếu quần áo, và bị đối xử tệ bạc. Họ không được hưởng sự bảo vệ của công lý. Họ bị làm ngơ và bất lực, vì chẳng có ai bênh vực cho họ. Trong một số trường hợp hiếm hoi, những người bị đối xử vô nhân đạo được loan tin trên báo chí. Nhưng nhiều trường hợp khác như vậy đã xảy ra mà không ai biết tới. Những người bất hạnh đó chẳng có cách nào khác hơn là nhẫn nhục và âm thầm chịu đựng đau khổ. Khi nỗi đau khổ không thể chịu đựng được nữa thì họ đành tự tử trong nỗi tuyệt vọng.
     Những kẻ bất lương, độc ác và ngu dốt còn cần được đoái thương hơn cả những người bệnh hoạn cơ thể và bệnh hoạn tâm thần. Chúng ta không nên lên án, khinh miệt họ mà hãy nên thương xót cho những thất bại và những khuyết điểm của họ. Tuy một bà mẹ có tình thương đồng đều đối với tất cả các con, nhưng bà vẫn hướng tình thương nhiều hơn về phía một đứa con bị bệnh hoạn. Vì thế, chúng ta hãy nên dành tình thường nhiều hơn đối với những người bệnh hoạn về tinh thần, bởi vì sự bệnh hoạn làm hư hỏng tâm tánh của họ.
     Kinh điển ghi lại rằng, Đức Phật đã hướng nhiều thương xót đối với người phụ nữ sa ngã Ambapali và kẻ sát nhân Angulimala, về sau họ đều trở thành môn đồ của ngài và đã hoàn toàn cải hóa tâm tánh.
     Chúng ta phải hiểu rằng sự cao thượng đều tiềm tàng trong tất cả mọi người, dù hiện thời họ có thể độc ác tới đâu chăng nữa. Có lẽ một lời nói thích đáng thốt ra đúng lúc có thể cải hóa được một người nào đó.
     Vua A-Dục (Asoka) đã làm nhiều tội ác đến nỗi người ta gọi ông là “A-Dục Đại Ác.” Sau này một câu nói của một chú tiểu nói rằng “Tinh tiến là con đường dẫn tới bất tử” đã khiến ông thay đổi đến nỗi ông trở thành “A-Dục Đại Thiện.”
     Đức Phật khuyên chúng ta hãy tránh kết bạn với những kẻ làm bậy. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng những người hiền lương không nên gần gũi với những kẻ đó để cải hóa họ. Người ta thường tránh những người mắc bệnh truyền nhiễm. Nhưng các y sĩ giầu tình thương chăm sóc họ để chữa trị cho họ. Nếu không thì người bệnh sẽ chết. Tương tự như vậy, những người ác có thể “chết” về phương diện tinh thần nếu những người lương thiện không khoan dung và thương xót họ.
     Thường thường, Đức Phật đi tìm những người nghèo, những người dốt nát và những người bất lương, còn những người lương thiện và đức hạnh thì đi tìm Đức Phật.
     Giống như Từ (Metta), Bi (Karuna) cũng nên được trải rộng bất tận đối với tất cả chúng sinh đau khổ, bất lực, kể cả các loài thú vật, đã sanh ra hoặc chưa sanh ra.
     Từ chối những quyền của con người chỉ vì giai cấp, mầu da hay chủng tộc của họ, là điều phi nhân và độc ác. Dùng thịt thú vật làm tiệc tùng để ăn uống say sưa, dội bom để tàn sát hàng triệu người, là những hình thức độc ác tệ hại nhất mà con người cuồng si đã thi hành.
     Ngày nay thế giới đầy thù hận và không thương xót này đã bỏ quên những thứ quí báu nhất trên thế giới: đời sống bị đặt lên bệ thờ của sức mạnh tàn nhẫn. Tình thương đã biến đi đâu rồi?
     Thế giới ngày nay cần có những người đàn ông đàn bà giầu tình thương để loại trừ bạo lực và sự độc ác khỏi mặt địa cầu.
     Cần nên ghi nhớ rằng tình thương của Phật giáo không phải chỉ bao gồm những giọt nước mắt, bởi vì kẻ thù gián tiếp của tình thương là sự sầu thảm buồn rầu.
     Đức hạnh Bi là tình thương hướng về tất cả những chúng sinh đang đau buồn. Còn đức hạnh Từ thì hướng về tất cả chúng sinh, kể cả người hạnh phúc lẫn nguời đau buồn.

HỶ (MUDITA)
 

     Trạng thái Vô Lượng Tâm thứ ba là Hỷ (Mudita). Đây không phải chỉ là cảm tình mà là niềm vui thông cảm và đồng tình, nó có khuynh hướng hủy diệt sự ghen ghét, kẻ thù trực tiếp của Hỷ.
     Một lực tai hại có thể gây nguy hiểm cho toàn thể tình trạng sức khỏe của chúng ta là lòng ghen ghét. Nhiều người không thể chịu được khi nhìn thấy hoặc nghe nói về sự thành công của người khác. Họ vui mừng khi thấy người khác thất bại, nhưng họ tức tối khi thấy người khác thành công. Thay vì khen ngợi và chúc mừng về sự thành công, họ cố gắng làm hại, gièm pha, và nói xấu người đã thành công. Trên một phương diện nào đó, Hỷ liên quan tới bản thân nhiều hơn là tới tha nhân, vì nó có khuynh hướng diệt trừ lòng ghen ghét - là thứ tác hại chính bản thân chúng ta. Mặt khác, nó giúp cho tha nhân, vì người thực hành đức hạnh Hỷ sẽ không cố gắng cản trở sự tiến bộ và phúc lợi của người khác.
     Giống như Từ, chúng ta dễ dàng dành Hỷ cho sự thành công của những người gần gũi thân thương với mình, nhưng khó làm như vậy đối với sự thành công của các đối thủ. Thật ra, đa số người đời chẳng những thấy khó lòng mà phải nói rằng họ không thể nào vui mừng về sự thành công của các đối thủ. Họ tìm sự thích thú trong hành động tạo bất cứ chướng ngại nào để khiến cho các đối thủ lụn bại.
     Thậm chí họ có thể ép uống thuốc độc, đóng đinh trên thập tự giá, hoặc ám sát những người tốt.
     Nhà hiền triết Socrates đã bị ép phải uống thuốc độc, Chúa Ki-Tô đã bị đóng đinh trên thập tự giá, Mahatma Gandhi đã bị ám sát. Buồn thay, đây là bản tánh của thế giới của những kẻ ác và ngu si.
     Thực hành Từ (Metta) và Bi (Karuna) dễ hơn là thực hành Hỷ (Mudita) - là thứ đức hạnh đòi hỏi nhiều nỗ lực cá nhân và ý chí mạnh mẽ.
     Các quốc gia Tây phương có vui mừng về sự thịnh vượng của các nước Đông phương hay không? Và các quốc gia Đông phương có vui mừng về sự thịnh vượng của các nước Tây phương hay không? Một nước nào đó có vui mừng về phúc lợi của nước láng giềng hay không? Một chủng tộc nào đó có vui mừng về sự phát triển thịnh vượng của một chủng tộc khác không? Thậm chí một giáo phái nào đó - là tổ chức tôn giáo coi trọng sự trau dồi đức hạnh - có vui mừng về ảnh hưởng tinh thần của một giáo phái khác hay không?
     Một tôn giáo ghen ghét một tôn giáo khác, một vùng trên địa cầu ghen ghét một vùng khác. Một đoàn thể ghen ghét một đoàn thể khác, một xí nghiệp ghen ghét một xí nghiệp khác, một gia đình ghen ghét một gia đình khác, các học sinh không thành công ghen ghét các học sinh thành công; đôi khi ngay cả các anh chị em trong một gia đình cũng ghen ghét lẫn nhau.
     Đây chính là lý do tại sao các cá nhân và các đoàn thể cần nên thực hành Hỷ nếu họ mong muốn thăng hoa và trở thành hạnh phúc mãi mãi.
     Đặc tính chính yếu của Hỷ là hoan hỷ đối với sự thịnh vượng và thành công của người khác. Tiếng cười, và những thái độ tương tự, không phải là những đặc tính của Hỷ, vì sự mừng rỡ do kích thích bị coi là kẻ thù gián tiếp của Hỷ.
     Hỷ hướng về tất cả những chúng sinh đang được hưởng sự thịnh vượng và là thái độ hân hoan chia vui của chúng ta. Nó có khuynh hướng diệt trừ bất cứ sự đố kị nào đối với một người thành công.

 

XẢ (UPEKKHA)
 

     Trạng thái Vô Lượng Tâm thứ tư là khó thực hành nhất và thiết yếu nhất. Đó là Xả (Upekkha), tức là sự an nhiên thanh thản. Nguyên nghĩa của chữ Upekkha là suy xét đúng, nhận ra một cách chính xác, hoặc nhận xét một cách vô tư, nghĩa là không ưa thích cũng không chán ghét, không thiên vị.
     Sự thản nhiên là điều cần thiết, nhất là những người thế tục đã sống trong một thế giới thiếu quân bình, trong những cảnh ngộ nhiều thăng trầm.
     Người đời thường hay miệt thị và phỉ báng lẫn nhau. Những người hiền lương và những người đạo đức thường bị chỉ trích và bị đả kích một cách bất công. Vì vậy, thật là đáng khen nếu ai có thể duy trì cái tâm quân bình thản nhiên trong những cảnh ngộ như vậy.
     Được và mất, danh tiếng và ô danh, khen ngợi và chỉ trích, đau đớn và hạnh phúc, là tám tình cảnh thế tục ảnh hưởng tới toàn thể nhân loại. Tâm trí chúng ta thường bị xáo trộn mỗi khi bị ảnh hưởng bởi những tình trạng có lợi hay bất lợi đó. Chúng ta khoan khoái khi được khen ngợi, và buồn bực khi bị trách mắng hoặc bị đả kích. Đức Phật dạy rằng người nào khi ở trong những cảnh ngộ như vậy mà có thể hoàn toàn bình thản, không lay chuyển như tảng đá, thì người đó là hiền nhân khôn ngoan.
     Cuộc đời gương mẫu của Đức Phật cống hiến cho những kẻ phàm tục như chúng ta một tấm gương tuyệt vời về sự thản nhiên, hay Xả (Upekkha).
     Trên thế giới không có vị thầy tôn giáo nào đã bị chỉ trích, đả kích, phỉ báng như Đức Phật, nhưng cũng không có người nào đã được ca ngợi, vinh danh và tôn kính như Đức Phật.
     Một lần đi khất thực, Đức Phật bị một người Bà-La-Môn vô lễ gọi ngài là “kẻ hạ cấp,” ngài thản nhiên đối với lời phỉ báng và giải thích cho người đó rằng một người hạ cấp chẳng phải vì sanh ra đời như vậy mà là vì cá tính xấu xa của người đó. Về sau, người Bà-La-Môn này đã cải đạo thành Phật tử.
     Một hôm có người mời Đức Phật vào nhà để dâng thực phẩm cúng dường và người này đã dùng ngôn ngữ thô tục nhất vào thời đó để xỉ vả Đức Phật. Ngài bị gọi là “con heo,” “thú vật,” “trâu bò,” v.v. Nhưng Đức Phật không tức giận. Ngài không trả đũa. Ngài bình thản hỏi chủ nhà ông ta cần nên làm gì khi có khách tới viếng nhà mình. Chủ nhà trả lời rằng ông ta sẽ làm tiệc để đãi khách. Đức Phật lại hỏi: “Nếu họ không ăn tiệc thì ông tính sao?”
     Chủ nhà trả lời: “Trong trường hợp đó chúng tôi sẽ ăn tiệc một mình.”
     Đức Phật thản nhiên nói: “Này, huynh đệ, ông đã mời tôi vào nhà để cúng dường. Ông đã đãi tôi bằng một tràng những lời nhục mạ, tôi không nhận những thứ đó. Xin ông hãy giữ lấy.” Sau đó tâm tánh của người này đã hoàn toàn thay đổi.
     Đức Phật khuyên các môn đồ: “Đừng trả đũa. Hãy im lặng khi bị nhục mạ. Nếu các người làm như vậy thì ta tin rằng các người đã bước chân tới Niết Bàn, tuy rằng các người chưa thực hiện được Niết Bàn.”
     Đây là những lời vàng ngọc mà cái thế giới nhiễu nhương thiếu kỷ luật này bây giờ cần phải chú trọng.
     Có lần một mệnh phụ thuộc triều đình xúi những kẻ say rượu phỉ báng Đức Phật thậm tệ đến nỗi tôn giả A-Nan-Đa, người đệ tử thị giả của Ngài, đã yêu cầu Ngài hãy rời khỏi khu vực đó để đi nơi khác. Nhưng Đức Phật chẳng bận tâm gì cả.
     Một lần khác một phụ nữ giả vờ có thai và công khai cáo buộc Đức Phật là người đã khiến cho bà ta lâm vào cảnh ngộ đó. Một phụ nữ khác bị những kẻ đối nghịch với ngài giết chết và Đức Phật bị cáo buộc là kẻ sát nhân. Người anh em họ và đệ tử của ngài là Devadatta ( Đề bà đạt Đa) mưu toan giết ngài bằng cách liệng một tảng đá từ trên vách núi. Một số đệ tử của ngài đã cáo buộc Đức Phật có hành vi ganh ghét, thiên vị, v.v.
     Mặt khác, nhiều người đã ca ngợi Đức Phật. Các vị vua chúa đã phủ phục dưới chân ngài và bầy tỏ lòng tôn kính tối đa.
     Giống như Mẹ Đất (Mother Earth), Đức Phật chịu đựng mọi điều trong im lặng với sự bình thản hoàn toàn.
     Giống như một con sư tử chẳng hề run rẩy vì mỗi tiếng động, chúng ta đừng để cho tâm trí mình bị quấy nhiễu bởi những mũi tên tẩm thuốc độc từ miệng lưỡi những kẻ ác khẩu. Giống như luồng gió không bám vào những cái mắt lưới, chúng ta đừng quyến luyến những dục lạc phù du giả tạm của thế giới vô thường này. Giống như đóa hoa sen không dính bùn nhơ mà nó mọc lên, chúng ta đừng để cho mình bị lôi cuốn bởi những quyến rũ phàm tục. Hãy thản nhiên, thư thái và thanh tịnh.
     Từ (Metta) hướng về tất cả chúng sinh, Bi (Karuna) hướng về tất cả những người đau khổ, Hỉ (Muditta) hướng về những người thành công, và Xả (Upekkha) hướng về người tốt và người xấu, người được yêu thương và người không được yêu thương, người đáng mến và không đáng mến.
     Những ai mong muốn trở thành thánh thiện trong chính cuộc đời này hãy hàng ngày trau dồi bốn đức hạnh nói trên - là những thứ tiềm tàng trong tất cả mọi người.
     Những ai mong muốn trở thành người hoàn hảo, và thực hành những công tác từ bi để phục vụ tất cả chúng sinh trong vô số kiếp trong cõi Luân Hồi này, thì hãy cố gắng phát huy mười Đại Hạnh Hoàn Hảo (Parami) để sau cùng sẽ trở thành một Bậc Giác Ngộ Tối Cao (Samma Sambuddha).
     Người nào muốn tận diệt những dục vọng của mình và chấm dứt đau khổ bằng cách thực hiện Niết Bàn ở một cơ hội sớm nhất, thì có thể chuyên tâm thực hành Bát Chánh Đạo - là giáo lý vẫn còn giữ tinh túy ban sơ của nó.
     Để cho thấy sự hiếm có của đời sống con người trên thế gian, Đức Phật đã dạy các môn đồ của ngài câu chuyện ngụ ngôn sau đây:
     “Này các Tì-Kheo, giả thử trái đất rộng lớn này là một khối nước, và một người liệng xuống đó một cái ách trên đó có một lỗ hổng. Rồi một luồng gió từ phương đông thổi cái ách về phương tây, và một luồng gió từ phương tây thổi nó về phương đông; một luồng gió từ phương bắc thổi nó về phương nam, và một luồng gió thừ phương nam thổi nó về phương bắc. Rồi một lần vào lúc chấm dứt thời kỳ 100 năm, một con rùa bị chột một mắt bỗng dưng chui đầu vào lỗ hổng của cái ách khi nó trồi lên mặt nước vào lúc chấm dứt thời kỳ 100 năm.”
     Các tì-kheo trả lời: “Bạch Thế Tôn, thật là khó có chuyện con rùa làm như vậy được.”
     Đức Phật dạy tiếp: “Này các Tì-Kheo, được sinh ra trong hình hài con người cũng khó như vậy; đấng Như Lai thị hiện trên thế gian cũng khó như vậy; một A-La-Hán cũng khó như vậy; Giáo Pháp (Dhamma) và Giới Luật (Vinaya) mà đức Như Lai chứng ngộ và truyền giảng trên thế gian cũng khó như vậy.
     “Này các Tì-Kheo, nhưng bây giờ đã có loài người, và Như Lai đã thị hiện trên thế gian, và Giáo Pháp cùng Giới Luật mà Như Lai thể chứng đã được truyền giảng trên thế gian.
     “Này các Tì-Kheo, vậy thì các người phải nỗ lực thực hành những giáo pháp: Điều này là đau khổ, điều này là nguyên nhân của đau khổ, điều này là chấm dứt đau khổ, điều này là con đường dẫn tới chấm dứt đau khổ.”

 

 

HƯỚNG ĐẾN GIẢI THOÁT - NIẾT BÀN (I)
 

     “Trung Đạo này dẫn tới thanh tịnh, chứng quả, giác ngộ và Niết Bàn.”
     “-Dhamma Chakka Sutta Kinh Chuyển Phap Luân

 

GIỚI HẠNH

     Con đường dẫn tới Niết Bàn là Trung Đạo, nó tránh điều cực đoan của sự hành hạ bản thân làm suy yếu trí thức, và cũng tránh điều cực đoan của sự nuông chiều bản thân làm cản trở tiến bộ giới hạnh.
     Trung Đạo này bao gồm việc đi theo Bát Chánh Đạo: Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tiến, Chánh Niệm, và Chánh Định.
     Hai chánh đạo đầu tiên được coi là thuộc Trí Huệ (panna), chánh đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm được coi là Giới Hạnh (sila), và ba chánh đạo cuối cùng được coi là Thiền Định (samadhi).
     Theo thứ tự của sự phát triển, Giới Hạnh, Thiền Định và Trí Huệ là ba giai đoạn (Giới, Định, Huệ) trên Đại Lộ dẫn tới Niết Bàn.
     Ba giai đoạn này được nói tới trong câu kệ đẹp đẽ sau đây:
     Saba papassa akaranam - Kusalassaupasampada
     Sacittapariyodapanam - etam Buddhana sasanam

     Đoạn trừ những điều ác
     Thực hành mọi việc thiện
     Thanh tịnh tâm ý mình
     Là lời dạy Chư Phật.
     (Chư ác mạc tác,
     Chúng Thiện phụng hành,
     Tự tịnh kỳ ý,
     Thị chư Phật giáo)

     Chúng ta gặt hái những gì chúng ta đã gieo hạt. Điều ác đưa tới đau khổ và điều thiện đưa tới hạnh phúc. Đau khổ và hạnh phúc của chúng ta là những kết quả trực tiếp của điều ác và điều thiện của chính mình.
     Một người có Chánh Tri Kiến nhận thức được luật này của tác động và phản động, và họ tự chế để tránh làm điều ác và cố gắng làm điều thiện trong khả năng tối đa của mình. Họ làm như vậy để tạo phúc lợi cho chính mình và cho tha nhân. Họ coi rằng họ có trọng trách phải sống như là một nguồn phúc lợi đối với chính mình và đối với tất cả tha nhân.
     Biết rằng đời sống là quí báu đối với tất cả chúng sinh và không ai có quyền hủy diệt đời sống của kẻ khác, họ mở rộng Từ và Bi về phía tất cả mọi chúng sinh, ngay cả những loài côn trùng nhỏ bé nhất bò dưới chân họ, và tránh giết hại hoặc gây thương tổn cho bất cứ sinh vật nào.
     Chẳng có luật nào khiến cho các sinh vật phải giết lẫn nhau. Tuy nhiên, trên thế gian này những loài vật mạnh hơn thường giết những sinh vật yếu hơn để ăn thịt. Đó là bản năng thú vật. Những hành động như vậy của các loài thú vật đáng được tha thứ vì chúng không ý thức được những điều chúng làm, nhưng khi những kẻ được ban cho lý trí và sự hiểu biết lại đi làm những tội ác như vậy thì không thể tha thứ được. Dù là để thỏa mãn sự ăn ngon hay là săn bắn để “giải trí” đều không thể biện minh cho hành động giết trực tiếp hoặc gián tiếp khiến cho sinh vật khác bị giết. Nếu việc giết hại các loài thú là sai quấy thì người ta còn ác độc tới đâu khi họ giết cả con người, giết từng cá nhân hay cả tập thể, áp dụng những phương pháp tàn bạo hoặc những phương pháp được gọi là “văn minh,” nhân danh hòa bình, tôn giáo, hoặc với mục đích nào đó mà người ta biện minh rằng cần phải làm?
     Sự thành thật, sự đáng tin cậy, và sự đoan chính cũng là những đức tính của một người có Chánh Tri Kiến. Một người như vậy cố gắng tránh tất cả những hình thức ăn cắp “dù là dưới những hình thức che đậy hay hiển nhiên.” Tránh tà dâm, là điều hạ thấp phẩm giá cao quí của con người, họ cố gắng giữ cho mình thanh khiết và đoan chính. Họ tránh những lời nói giả dối, tránh ngôn ngữ khắc nghiệt, phỉ báng và những câu chuyện vô bổ, và chỉ nói những điều chân thật, ngọt ngào, tử tế và hữu ích. Vì các chất rượu và ma túy dẫn tới sự buông thả và tâm trí lơ đãng, thiếu tập trung, cho nên họ tránh các chất làm say sưa, họ cố gắng trau dồi sự chú tâm và nhãn quan sáng suốt.
     Những nguyên tắc cơ bản về hành vi và cư xử này là thiết yếu đối với người đi trên con đường dẫn tới Niết Bàn, vì chúng có khuynh hướng kiểm soát cả những hành vi lẫn lời nói. Sự vi phạm những nguyên tắc này gây ra những chướng ngại làm cản trở sự tiến bộ của hành giả trên con đường tu tập. Sự tuân thủ những nguyên tắc này dẫn tới tiến bộ thuận lợi và vững chắc trên con đường tu tập.
     Sau khi đã tiến được một bước xa hơn trên con đường tu tập tiệm tiến, hành giả cố gắng kiểm soát các giác quan.
     Để kiểm soát sự ham muốn thực phẩm và giúp cho thân tâm được nhẹ nhàng, hành giả hãy nên tuyệt thực ít nhất là một lần mỗi tháng; đồng thời hãy nên sống một cách giản dị thay vì sống xa hoa khiến cho con người trở thành nô lệ của những tham dục. Họ nên tiết chế tình dục, bởi vì sinh lực quí báu của con người được bảo tồn như vậy có thể được sử dụng trọn vẹn vào phúc lợi trí thức và tinh thần của chính hành giả và tha nhân. Trong một đời sống như vậy hành giả tránh khỏi sự gia tăng những trói buộc trần tục làm cản trở tiến bộ tinh thần. Người ta thấy rằng hầu hết tất cả các bậc thầy tâm linh đã nuôi dưỡng thân thể họ một cách thanh đạm và họ đã sống cuộc đời hoàn toàn tiết chế tình dục, giản dị, thanh bần và tự chế.
     Trong khi họ tiến bộ dần dần và đều đặn, với sự kiểm soát ngôn ngữ, hành vi và các giác quan, Nghiệp Lực do tinh tiến của hành giả thúc đẩy họ từ bỏ những lạc thú phàm tục và sống một cuộc đời khắc khổ. Những ý tưởng giống như sau sẽ đến với họ:
     “Một cuộc đời tại gia có những xung đột,
     Có đầy những nhọc nhằn và nhu cầu,
     Nhưng một cuộc đời đạo hạnh không nhà,
     Thì tự do và cao rộng như bầu trời.”

     Khi ý thức được sự phù du của những lạc thú giác quan, hành giả tự ý lìa bỏ tất cả những vật sở hữu phàm trần, họ mặc y phục của người tu hành và cố gắng sống một cuộc đời đạo hạnh thanh khiết.

 

CƯ SĨ CÓ THỂ THỰC HIỆN NIẾT BÀN
 

     “Chẳng phải cái vỏ bề ngoài khiến cho một người trở thành thánh hiền mà là sự thanh lọc nội tâm và một đời sống gương mẫu. Sự biến cải cần phải xuất phát từ nội tâm, chứ không phải bên ngoài. Người ta tuyệt nhiên cần phải lui vào sự cô tịch và sống cuộc đời khắc khổ để thực hiện Niết Bàn. Đương nhiên là cuộc đời của một tì-kheo giúp cho người tu hành tiến bộ về tâm linh mau chóng và dễ dàng hơn, nhưng ngay cả những cư sĩ tại gia cũng có thể đạt tới quả vị A-La-Hán.
     Người đạt tới bậc A-La-Hán qua lối sống cư sĩ, đối diện với đủ thứ quyến rũ và cám dỗ, thì đương nhiên đáng khen hơn là một tì-kheo đạt tới quả vị đó khi sống trong khung cảnh không có những gì làm phân tán tâm trí.
     Khi nói tới một quan chức đã đạt tới quả vị A-La-Hán trong khi ngồi trên kiệu trang hoàng rực rỡ đặt trên lưng một con voi, Đức Phật nhận xét:
     “Ngay cả khi một người trưng diện xa hoa, nếu họ
     cất bước thanh thản,
     Nếu họ trầm lặng, bình thản, an lạc và trong sạch,
     Và nếu họ tránh làm thương tổn bất cứ sinh vật nào,
     Người đó chính là bậc thánh nhân,
     người đó là một hiền nhân,
     người đó là một tì-kheo.”

     Kinh Pháp Cú
     Có một số trường hợp những cư sĩ như vậy đã thực hiện Niết Bàn, dù họ không xa lánh thế giới phàm trần. Cư sĩ Anathapindika (trưởng giả Cấp Cô Độc), một Phật tử nhiệt thành và đạo tâm, đã đạt tới bậc Sotapana ("Dự Lưu Quả,” người nhập vào dòng sông, là giai đoạn thứ nhất của quả vị A-La-Hán). Người thợ gốm Ghatikara đã đạt tới bậc anagami ("Bất Hoàn Quả,” người không bao giờ trở lại, là giai đoạn thứ ba của quả vị A-La-Hán). Vua Tịnh Phạn, thân phụ của Đức Phật, lúc từ trần được coi là đã đạt tới quả vị A-La-Hán.

 

MỘT TÌ-KHEO
 

     Một tì-kheo cần phải tuân thủ bốn loại Giới Hạnh cao hơn, đó là:
     Patimokkha Sila - Những Giới Luật Căn Bản của Tì-Kheo.
     Indriyasanvara Sila - Những Giới Luật liên quan tới sự kềm chế các giác quan.
     Ajivaparisuddhi Sila - Những Giới Luật liên quan tới sự thanh khiết của đời sống.
     Paccayasannissita Sila - Những Giới Luật liên quan tới việc sử dụng những nhu cầu của đời sống.
     Trên đây là bốn loại giới luật được gọi chung là Sila-Visuddhi (Sự Thanh Khiết của Đức Hạnh), là giai đoạn thứ nhất của Bảy Giai Đoạn Thanh Lọc trên con đường dẫn tới Niết Bàn.
     Một người xuất gia thọ những giới này được gọi là tì-kheo. Chữ Pali “bhikkhu” (tì-kkeo) có thể dịch là “khất sĩ” - một nhà tu hành sống bằng phẩm vật bố thí.
     Một vị tì-kheo không bị cưởng buộc bởi bất cứ lời thệ nguyện nào. Do tự ý, họ trở thành một tì-kheo để sống cuộc đời thánh thiện bao lâu tùy ý mình. Họ được tự do dời khỏi tăng đoàn bất cứ lúc nào.
     Một tì-kheo bắt buộc phải tuân thủ 220 giới luật, ngoài vài giới luật khác kém quan trọng hơn. Bốn giới luật chính yếu mà họ phải tuân thủ nghiêm ngặt là: hoàn toàn xa lánh tình dục, không trộm cắp, không sát sanh, và không nói dối rằng mình đã đạt tới năng lực tâm linh cao hơn. Nếu vi phạm bất cứ giới luật nào trong số đó, họ trở thành người “bỏ đạo” (parajika) và tự động chấm dứt địa vị tì-kheo. Nếu muốn, họ có thể tái nhập tăng đoàn và giữ địa vị của một tu sĩ tập sự (samanera). Trong trường hợp vi phạm những giới luật khác, một tì-kheo phải thực hiện những phương pháp sám hối tùy theo mức trầm trọng của sự vi phạm giới luật.
     Trong số những giới hạnh nổi bật của một tì-kheo gồm có: thanh khiết, hoàn toàn xa lánh tình dục, không sở hữu tài sản, khiêm tốn, đơn giản, phục vụ bất vị kỷ, tự chế, kiên nhẫn, từ bi và vô hại.
     Cuộc đời của một tì-kheo - hay nói cách khác, sự từ bỏ những dục lạc và tham vọng trần tục - chỉ là một phương tiện hữu hiệu để chứng quả Niết Bàn, chứ không phải là một cứu cánh.

 

 

HƯỚNG ĐẾN GIẢI THOÁT - NIẾT BÀN (II)
 

     “Có một con đường để thủ đắc vật chất, có một con đường khác dẫn tới Niết Bàn.”
     -Kinh Pháp Cú


 

ĐỊNH (SAMADHI)

     Khi đã đứng vững trên căn bản giới luật, hành giả tiến lên sự tu tập cao hơn, đó là Định (Samadhi), là sự kiểm soát và trau dồi tâm trí, là giai đoạn thứ nhì của Con Đường Thanh Lọc.
     Định là “nhất tụ điểm” của tâm. Nó là sự tập trung của tâm trí vào một đối tượng trong khi loại trừ tất cả những thứ khác.

NHỮNG CHỦ ĐỀ CỦA THIỀN
 

     Theo Phật giáo thì có bốn chủ đề của thiền (cammatthana), và chúng khác nhau tùy theo tính khí của từng cá nhân.
     Chúng là:
     (a) Mười Kasina (công cụ, đối tượng), gồm có:
     1. Kasina đất, 2. Kasina nước, 3. Kasina lửa, 4. Kasina không khí, 5. Kasina xanh, 6. Kasina vàng, 7. Kasina đỏ, 8. Kasina trắng, 9. Kasina ánh sáng, 10. Kasina không gian. Chữ Kasina ở đây có nghĩa là “toàn thể” hay “trọn vẹn.” Nó được gọi như vậy là vì ánh sáng phát xuất từ hình ảnh thiền quán của đối tượng Kasina có thể lan tràn tới khắp nơi mà không có giới hạn.
     (b) Mười Asubha (ô uế), đó là mười loại xác chết, gồm:
     1. Trương sình (uddhumataka), 2. biến sắc (vinilaka), 3. rữa nát, 4. đứt đoạn (vicchiddaka), 5. bị cắn xé từng mảnh (vikkhayitaka), 6. rải rác từng mảnh (vikkhittaka), 7. bị chặt và rải rác từng mảnh (hata vikhittaka), 8. đẫm máu (lohitaka), 9. dòi bọ bám đầy (pulavaka), 10. bộ xương (atthika).
     Đây là mười loại xác chết mà thời xưa người ta thường thấy trong các nghĩa địa và những khu đất hoang, nơi mà những xác chết không được mai táng hoặc hỏa thiêu, và các loài thú vật hay chim muông thường tới ăn thịt. Trong thời hiện đại này chúng ta không thể có những chủ đề như vậy để tham thiền.
     (c) Mười Suy Tưởng (Anussati), đó là tám Suy Tưởng về: 1. Đức Phật (Buddhanussati), 2. Giáo Pháp (Dhammanussati), 3. Tăng Già (Sanghanussati), 4. Giới Luật (Silanussati), 5. Quảng Đại (Caganussati), 6. Thần Linh (Devanussati), 7. Bình An (Upasamanussati), 8. Cái Chết (Marananussati) - Cùng với: 9. Chú Tâm vào thân thể (Kayagatasati) và 10 [thiếu câu này trong bản Anh ngữ].
     (d) Tứ Vô Lượng Tâm (Brahmavihara), đó là Từ (Metta) Bi (Karuna), Hỷ (Mudita), và Xả (Upekkha).
     (e) Nhất Niệm, đó là niệm về sự ô trược của vật chất (Ahare patikkulasanna).
     (f) Nhất Phân Tách, đó là Phân Tách về Bốn Yếu Tố (Catudhatuvavatthana), có nghĩa là khảo sát những đặc tính của bốn yếu tố chính, gồm có sự khuếch trương (pathavi), sự cố kết (apo), sức nóng (tejo) và sự chuyển động (vayo).
     (g) Bốn Thiền Quán Vô Sắc (Arupa Jhanas), đó là: Cảnh Giới Vô Biên của Không Gian (Akasanancayatana - Không vô biên xứ), Cảnh Giới Vô Biên của Ý Thức (Vinnanancayatana - Thức vô biên xứ), Cảnh Giới của Không Có Cảnh Giới (Akincannayatana - Vô sở hữu xứ), và những Cảnh giới Phi tưởng phi phi
tưởng xứ. (Neva sanna nasannayatana).

 

NHỮNG CHỦ ĐỀ THÍCH HỢP VỚI TÍNH KHÍ KHÁC NHAU
 

     Theo kinh sách, Mười Ô Nhiễm và Chú Tâm vào Thân, như là ba mươi hai thành phần, là thích hợp với những người có tính khí tham dục, bởi vì chúng có khuynh hướng tạo ra sự khinh rẻ đối với thân thể vì nó quyến rũ các giác quan.
     Tứ Vô Lượng Tâm và Bốn Kasina (Khí Cụ) thuộc mầu sắc thích hợp với những người có tính khí thù ghét.
     Suy Tưởng về Đức Phật, v.v., thích hợp với những người có tính khí nhiệt thành với Đạo Pháp. Sự suy tưởng về Cái Chết và Bình An, Niệm về sự Ô Trược của vật chất, và Phân Tách về Bốn Yếu Tố, là thích hợp với những người có tính khí trí thức. Những đối tượng thiền quán còn lại, nhất là Suy Tưởng về Đức Phật, Thiền về Từ (Metta), Chú Tâm vào Thân, và Suy Tưởng về Cái Chết, là thích hợp với tất cả mọi người, bất kể tính khí của họ.

 

SÁU LOẠI TÍNH KHÍ
 

     Có sáu loại Tính Khí (Carita), đó là:
     1. Tính Khí Tham Dục (ragacarita),
     2. Tính Khí Thù Ghét (dosacarita),
     3. Tính Khí Vô Minh (mohacarita),
     4. Tính Khí Nhiệt Thành (saddhacarita),
     5. Tính Khí Trí Thức (buddhicarita),
     6. Tính Khí Tản Mạn (vitakkacarita).
     Carita (tính khí) có nghĩa là bản tính cốt yếu của một người được biểu lộ khi họ ở trong trạng thái bình thường không bận tâm về bất cứ chuyện gì. Tính khí của con người khác nhau tùy theo những khác biệt của những hành động, tức là Nghiệp (Kamma), của họ. Những hành động thường làm theo thói quen có khuynh hướng tạo nên những loại tính khí đặc biệt nào đó.
     Một số người bị chế ngự bởi tham dục (raga), trong khi một số khác bị chế ngự bởi sân (dosa), thù ghét, ác cảm. Phần đông người đời thuộc vào hai loại này. Một số người khác thiếu trí thông minh và có thể được xếp vào loại tính khí vô minh hay ngu dốt (mohacarita). Gần giống với vô minh ngu dốt là những người mà tâm trí tản mạn, không thể tập trung sự chú tâm vào một điều gì (vitakkacarita). Một số người có bản tính đặc biệt nhiệt thành (saddhacarita), trong khi một số khác có trí thông minh ngoại hạng (buddhicarita).
     Khi phối hợp 6 loại tính khí này với nhau chúng ta có 63 loại. Khi thêm vào đó loại Tính Khí suy đoán (ditticarita), chúng ta có 64 loại.

 

THỰC HÀNH ĐỊNH
 

     Trước khi thực hành Định (Samadhi), hành giả hãy nên suy tính cẩn thận về chủ đề tham thiền. Thời xưa, người học thiền định thường được một vị thầy giầu kinh nghiệm hướng dẫn để chọn một chủ đề thích hợp với tính khí của họ. Nhưng ngày nay, nếu không được tiếp xúc với một vị thầy có kinh nghiệm thì người học thiền định phải tự vận dụng trí phán đoán của mình để chọn một chủ đề mà họ nghĩ rằng thích hợp nhất với bản tính của mình.
     Khi chủ đề đã được lựa chọn, hành giả nên tới một nơi yên tĩnh không có những điều làm phân tán tâm trí. Trong vùng sơn lâm, hang động, hoặc một nơi yên tĩnh tịch mịch nào đó là thích hợp nhất, bởi vì ở những nơi đó hành giả sẽ rất hiếm khi bị làm gián đoạn trong thời gian thực hành.
     Nhưng, chúng ta nên hiểu rằng sự tịch mịch vắng lặng nằm trong nội tâm tất cả mọi người. Nếu tâm trí chúng ta không lắng đọng thì ngay cả một nơi sơn lâm tĩnh mịch cũng không thể thích ứng. Nếu tâm trí chúng ta lắng đọng, thì ngay cả giữa trung tâm một thành phố huyên náo cũng có thể thích hợp để thực hành. Khung cảnh của nơi chúng ta sống chỉ hỗ trợ gián tiếp để chúng ta thanh tịnh hóa tâm trí.
     Điều kế tiếp mà hành giả cần quyết định là thời gian thuận lợi nhất mà chính họ và khung cảnh xung quanh ở trong tình trạng thích hợp nhất để thực hành.
     Thông thường, vào buổi sáng sớm khi tâm trí còn thảnh thơi, hoặc trước khi đi ngủ - nếu hành giả không quá mệt mỏi - là thời gian thích hợp nhất để thực hành thiền. Nhưng khi đã chọn thời gian thích hợp nào đó thì hàng ngày hành giả hãy nên thực hành đều đặn vào giờ đó, bởi vì khi làm như vậy tâm trí chúng ta sẽ tập được phản xạ tự nhiên đối với sự thực hành.
     Tư thế tọa thiền cũng là một yếu tố quan trọng đối với Định.
     Người Đông phương thường ngồi kiết già, khoanh chân, với lưng thật thẳng. Họ ngồi gác chân phải lên đùi bên trái và gác chân trái lên đùi bên phải. Đây là tư thế kiết già đầy đủ. Nhưng nếu hành giả thấy rằng tư thế này khó - nhiều người mới tập thiền cảm thấy như vậy - thì có thể áp dụng cách ngồi bán già, tức là chỉ cần gác chân phải lên đùi bên trái hoặc gác chân trái lên đùi bên phải.
     Khi ngồi trong tư thế hình tam giác này toàn thân sẽ vững chãi và quân bình.
     Nên đặt bàn tay phải trên bàn tay trái, cổ giữ thật thẳng để mũi nằm trên một đường thẳng góc với rốn. Lưỡi nên tiếp xúc với hàm trên. Cần nên nới lỏng giây lưng quần và mặc y phục một cách gọn gàng. Một số người nhắm mắt lại để ngăn ánh sáng và ngoại cảnh.
     Tuy có những điều lợi trong sự nhắm mắt khi tham thiền, nhưng đây không phải là điều luôn luôn nên làm, vì nó có khuynh hướng khiến hành giả mơ màng hoặc buồn ngủ. Lúc đó tâm trí mất kiểm soát và tản mạn, những ý tưởng bâng quơ sẽ hiện ra, thân hình không còn ngay ngắn, miệng tự nhiên há ra một cách vô thức, nước miếng chẩy ra và đầu gục xuống.
     Đức Phật thường ngồi với cặp mắt hé mở và nhìn qua chóp mũi tới một khoảng cách không quá 4 feet (1 mét 20).
     Những ai thấy khó ngồi gác chân lên đùi thì có thể ngồi một cách thoải mái trên ghế, hoặc bất cứ chỗ ngồi nào đủ cao để đặt bàn chân trên mặt đất.
     Tư thế tọa thiền không quan trọng lắm, miễn rằng hành giả ngồi một cách thoải mái.

 


LÀM CÁCH NÀO ĐỂ KIỂM SOÁT NHỮNG Ý TƯỞNG XẤU

 

     Người nào cố gắng đạt tới nhất tâm (sự an định hoàn toàn của tâm thức) hãy cố kiểm soát bất cứ ý tưởng không lành mạnh nào ngay khi nó vừa hiện ra.
     Như đã nói trong kinh Nipata Sutta, hành giả có thể bị tấn công bởi hàng chục đạo binh của Cái Ác. Chúng là: 1. những dục vọng thuộc giác quan (kama), 2. sự nản lòng (arati), 3. đói và khát (khuppipasa), 4. chấp thủ (tanha), 5. uể oải và thiếu sinh lực (thinamiddha), 6. lo sợ (bhaya), 7. hoài nghi (vicikiccha), 8. khinh thị và bướng bỉnh (makkha, thambha), 9. tài sản, lời khen, danh dự và tiếng tăm đạt được một cách bất chính (labha, siloka, sakkara, micchayasa), và 10. tự tôn và khinh miệt người khác (attukkamsana paravambhana).
     Trong những trường hợp bị ý tưởng xấu xâm lấn vào tâm trí như vậy, những lời khuyên thực tiễn sau đây của Đức Phật sẽ rất hữu ích:

  1. Tạo một ý tưởng tốt đối nghịch với ý tưởng xấu xâm lấn vào tâm trí hành giả, thí dụ: hãy nghĩ tới Từ (Metta) để đối chọi với ý tưởng thù ghét.

  2. Suy tưởng về những hậu quả xấu có thể xẩy ra, thí dụ: sự sân hận tức giận có thể dẫn tới hành động sát nhân.

  3. Hãy làm ngơ hoặc hoàn toàn không để ý tới chúng.

  4. Truy tìm nguyên nhân làm phát sanh những ý tưởng xấu đó, nhờ vậy có thể xóa bỏ để quên được chúng sau khi nhớ lại.

  5. Dùng lực trực tiếp của cơ thể để kiểm soát.

     Giống như một người khỏe chế ngự một người yếu, chúng ta nên chế ngự những ý tưởng xấu bằng sức mạnh thể xác. Đức Phật khuyên: “Hai hàm răng cắn chặt và lưỡi đè lên hàm trên, tì-kheo chế ngự tâm trí bằng sức mạnh, và nhờ chế ngự tâm trí như vậy, những ý tưởng xấu tự hiện ra đó sẽ biến đi; và sau khi chúng biến mất thì tâm trí sẽ trở thành lắng đọng, thuần phục, thống nhất và tập trung.”
     Sau khi đã chuẩn bị tất cả những cần thiết sơ khởi đó, hành giả rút lui vào một nơi chỉ có một mình, và phát động lòng tự tin rằng mình sẽ chắc chắn đạt mục tiêu, rồi cố gắng kiên tâm phát huy thiền định.
     Một đối tượng vật chất như một Kasina (công cụ) chỉ hỗ trợ cho thiền định. Nhưng một đức hạnh như Từ Tâm (Metta) có lợi điểm riêng biệt là giúp hành giả trau dồi đức hạnh đặc biệt đó.
     Trong khi tham thiền, hành giả có thể lập đi lập lại những từ ngữ của một công thức đặc biệt nào đó, bởi vì những từ ngữ đó có tác dụng khơi dậy những ý tưởng mà chúng tiêu biểu.
     Dù hết sức cố gắng chú tâm vào đối tượng tham thiền, người mới thực hành sẽ không tránh khỏi những khó khăn ban đầu. “Tâm trí tản mạn, những ý tưởng vơ vẩn nhẩy múa trong đầu hành giả, họ mất kiên nhẫn vì thấy mình tiến bộ quá chậm chạp; và do đó những nỗ lực của họ bị giảm sút.” Nhưng nếu hành giả cương quyết, họ sẽ sẵn lòng đối phó với những chướng ngại này, khắc phục những khó khăn, với cặp nhìn thẳng về mục tiêu không một giây phút sao lãng.

THIỀN ĐỊNH VỀ KASINA ĐẤT
 

     Hãy lấy thí dụ một hành giả dùng Kasina Đất làm mục tiêu thiền định (kammatthana).
     Bề mặt của một vòng tròn có đường kính khoảng 1 foot (30 cm) được phủ bằng một lớp đất sét thật nhẵn. Cái vòng tròn thiền định này được coi như một đối tượng sơ khởi (parikamma nimitta). Hành giả đặt nó cách chỗ ngồi khoảng 4 feet và tập trung tư tưởng vào đó, đồng thời nói pathavi pathavi (đất, đất) cho tới khi nào trở thành hoàn toàn thẩm thấu vào đó tới độ tất cả những ý tưởng tản mạn tự động biến khỏi tâm trí. Khi đã thực hành như vậy một thời gian - có thể là nhiều tuần lễ, nhiều tháng hay nhiều năm - hành giả có thể hình dung ra đối tượng khi nhắm mắt. Hành giả tập trung tư tưởng vào hình ảnh hình dung đó (uggaha nimitta), nó là một “bản sao” của đối tượng trong tâm trí, hành giả tập trung cho tới khi nó phát triển thành một hình ảnh được quan niệm hóa (patibhaga nimitta).
     Theo Luận Visuddhi Magga (Thanh Tịnh Đạo) sự khác biệt giữa hình ảnh thứ nhất được hình dung hóa và hình ảnh thứ nhì được quan niệm hóa là “trong hình ảnh thứ nhất một khuyết điểm của đối tượng kasina hiện ra, trong khi hình ảnh thứ nhì thì giống như một cái gương soi lấy ra từ một cái túi, hoặc như một cái vỏ ốc biển đã được đánh bóng, hoặc như vầng trăng rằm ló ra khỏi đám mây.”
     Hình ảnh được quan niệm hóa không có mầu sắc cũng không có hình thể. Nó