Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

PHẬT HỌC CƠ BẢN


...... ... .

 

 

Cảm thọ và lòng trắc ẩn

 

Geshe Tashi Tsering

Thích Giác Tánh dịch

---o0o---

  

Cảm thọ đóng một vai trò rất lớn trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Sự yên tĩnh, tâm hồn trong sáng (shamatha) hiểu biết những nguyên nhân và điều kiện mà nó phát khởi cũng như hậu quả của nó.

Bây giờ, chúng ta đi xa hơn để nhìn cảm thọ quan trọng và thiết thực ra làm sao. Như đã nói, nền tảng căn bản để nhìn vào cảm thọ là sự an tịnh, sự trong sáng của tâm hồn. Nhưng làm sao chúng ta đạt được tâm thức này? Đây không chỉ là vấn đề về thời gian, sự thực hành thiền định, thiền tịnh. Chỉ riêng việc thiền định sẽ không mang lại cảm thọ đó. Bởi đây là một vấn đề phức tạp mà vốn dĩ tâm hồn là phức tạp nên chúng ta cần phải nhìn rõ vào cách sống của chúng ta, cách chúng ta sống.

Phật giáo nói về đời sống đạo đức (giới), và xem nó là một nhân tố quan trọng. Không có nó, thì khó có thể đạt được một tâm hồn an tịnh. Không đặt vấn đề là chúng ta phải trải qua quá trình rèn luyện bao lâu bởi khi sử dụng điều khoản đạo đức ở đây, tôi không ám chỉ đến những quy luật tu viện mà tôi đang nói về những điều căn bản ấy là nguyên nhân gây nên sự khổ đau và khó khăn cho chính mình và những người khác, trực tiếp hay gián tiếp.

Đức Phật thuyết giảngTứ diệu đế, trong đó chân lý cuối cùng là con đường chấm dứt khổ đau. Bát Thánh đạo - tám cửa ngõ thực hành (có thể chia ra ba nhóm chính - đời sống đạo đức, sự thiền định, sự sáng suốt hay trí tuệ). Tâm hồn chúng ta được kết nối bởi nhiều thứ, mà không đơn điệu phát khởi ra. Một sự phát khởi có thể là chìa khóa khai phát mạnh lên hoặc yếu đi một cảm thọ, Bởi tâm hồn luôn hoạt động trong sự phức tạp. Ở truyền thống Tây Tạng, điều này được giảng dạy và minh họa bởi bánh xe Pháp, đôi khi chúng ta nhìn thấy nó như là một Kim tự tháp vậy. Chúng ta có thể nói rằng, nền tảng của Kim tự tháp là mô hình đạo đức được tạo dựng bởi hai mặt; một mặt là sự thiền định (sự tập trung), mặt khác là sự sáng suốt (trí tuệ). Hai mặt thiền định và trí tuệ chỉ có thể đứng vững nếu có nền tảng căn bản là đạo đức.

Ở đây, hành vi đạo đức còn bao hàm những giá trị đạo lý khác. Nếu không có những giá trị khác, rất khó khăn để ta nói về nó như là một cái gì đó. Nếu có, chỉ riêng tôi sẽ không có đủ điều kiện để nói về những nhìn nhận hành vi đạo đức. Thí như, Phật tử có năm điều giới cấm hay Tăng Ni, tu sĩ có nhiều giới cấm hơn, nhưng tất cả đều có tương quan với nhau trong đời sống và cảm thọ. Dĩ nhiên, mọi cảm thọ sẽ diễn biến trong tôi như một thứ gì đó tôi chiêm nghiệm được, nhưng thực sự nó không đơn lẻ, mà tương quan với những thứ khác. Khi nói đến một số cảm thọ mang lại cho tôi hạnh phúc, vui thú, an bình, hay một số cảm thọ khác mang lại sự không như ý , có nghĩa là tôi đang nghiệm thấy những thứ đó, và chúng là những cảm thọ của tôi, nhưng chúng cũng có tương quan với những người khác. Để lý giải những cảm thọ, chúng ta cần biết những suy nghĩ và những cảm giác trong quá trình đánh giá, nếu chỉ nhìn nhận nó theo khía cạnh riêng của mình thì sẽ rất phiến diện.

Đức Phật không phải là người chứng ngộ duy nhất thuyết giảng về đời sống đạo đức. Sự không não hại là điều mà ai cũng mong ước. Dĩ nhiên, trong cuộc sống có những người muốn làm hại, nhưng nếu chúng ta cùng ngồi lại với những người này và tìm hiểu thâm tâm của họ, chúng ta thấy họ thực sự không muốn làm tổn thương đến những người khác. Khi nói về những vấn đề đạo đức là chúng ta đang nói một cách phổ quát về những tiêu chuẩn được nhấn mạnh. Chúng ta cần làm sáng tỏ hình thức ấy. Nếu chúng ta thực hành, đạo đức sẽ trợ giúp phát triển sự tập trung - không có nghi ngờ gì về điều đó. Sau đây là một ví dụ căn bản, chúng ta có thể nhận thấy rằng nếu đánh lừa một ai đó có mục đích rõ ràng, và rồi cố gắng ngồi xuống tập trung thiền định, điều đó thực sự rất khó khăn, bởi trong thực tế, có một số nỗi bất hạnh, một vài thứ cảm giác kỳ lạ... với vẻ bên ngoài giống như là hạnh phúc. Vâng, có một cái gì đó tôi muốn ở anh ta, thì lại có cảm giác chắc thực, ngược lại khi có một cái gì đó tôi muốn, thì cảm giác đó không chắc thực lắm. Vì vậy điều đó rất khó để thực hành thiền định.

Chúng ta cần phải thấy rõ đời sống đạo đức quan trọng đối với bản thân mình ra làm sao và nên hiểu rằng không khó khăn để sống một đời sống đạo đức. Cần né tránh những nguyên nhân đem lại khổ đau và khó khăn cho những người khác. Việc né tránh chúng một cách tích cực và phát triển một nền tảng đạo đức thể hiện sự đắn đo suy nghĩ của hành động. Người phương Tây có đời sống phát triển cao, có nền văn hóa giáo dục tốt. Nếu biết đầu tư đúng mức cho đời sống đạo đức cơ bản trong môi trường này, tôi không nghĩ đó là điều khó khăn.

Đạo đức là nền tảng căn bản giống như hình chóp Kim tự tháp và hai cạnh của nó là sự sáng suốt hay trí tuệ, và thiền định hay sự tập trung. Hai cạnh này nương tựa vào nhau; không có trí tuệ, thiền định không thể đứng vững được, và ngược lại. Qua kinh nghiệm tôi thấy rằng sự hồi tưởng đơn điệu của tôi làm mọi thứ dễ dàng thay đổi. Theo cách này, sự hiểu biết của trí tuệ hay sự sáng suốt hay bất cứ gì bạn thận trọng để gọi nó - thực sự quan trọng trong việc trợ giúp thiền định. Vì vậy, nó trở nên sung mãn. Nếu chúng ta có trí tuệ, sự tập trung sẽ trở nên dũng mãnh, dũng mãnh vì ngay cả khi chúng ta đối mặt với những khó khăn, sự tập trung cũng không biến mất. Tuy nhiên, chỉ riêng sự tập trung sẽ không đủ đối phó với những cảm thọ gây nên cho chúng ta đau khổ và khó khăn. Chúng ta cần có cả hai trí tuệ và sự tập trung.

Hành vi đạo đức, trí tuệ và sự tập trung là ba khía cạnh khác nhau ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của chúng ta. Nó là một câu hỏi để chúng ta tìm hiểu bức tranh bao quát hơn về sự tự nhiên của bản chất cảm thọ - làm sao mổ xẻ nó, làm sao hồi sinh nó và làm sao để tự do với nó? Chúng ta cần khám phá, khôi phục những cảm thọ hữu ích, như lòng trắc ẩn và tình thương. Cảm thọ này cần được mang vào đời sống, cụ thể là trong hành động. Vậy, bằng cách nào để chúng ta đưa những cảm thọ này vào đời sống hàng ngày của chúng ta? Bằng cách kết hợp đạo đức trí tuệ và sự tập trung với nhau. Nó không phải là câu hỏi của sự mong đợi cho tới khi chúng ta đạt được một mặt trong đời sống, hơn là trước khi tiếp tục vấn đề kế tiếp. Vâng, có một hệ quả như Kim tự tháp - thứ nhất là nền tảng đạo đức rồi hai cạnh - trí tuệ và sự tập trung.

Trí tuệ sáng suốt thực sự hữu ích cho việc đối phó với những cảm thọ của chúng ta. Dĩ nhiên, cảm thọ là ý thức tự phát, nó có thể xảy ra không cần có lý do, giống như kết quả của một vài thứ nhỏ nhặt, đôi khi cảm thọ có thể trở nên to tát, và chúng ta không thể điều khiển nó được. Trong khi đó, trí tuệ là một quá trình tiến triển chậm chạp được dựa trên căn bản của quá trình phân tích, phát triển tư duy, nghe ngóng và suy tính. Vì vậy, có thể nói, cảm thọ là ý thức tự phát, dao động liên tục và không dự đoán trước được, còn trí tuệ có thể dự đoán trước, không dao động và không có ý thức tự phát. Hầu như chúng hoàn toàn đối lập nhau, nhưng trí tuệ sẽ trợ giúp cảm thọ. Trí tuệ có thể chẳng làm gì ở giữa nó. Thí dụ, trong khi chúng ta quá tức giận, tâm hồn bị áp đảo, và không có khoảng trống cho trí tuệ đi vào để nói: "Đừng có làm vậy!". Chỉ khi không có sự tức giận, trí tuệ mới có thể trợ giúp. Vậy chúng ta hãy dành thời gian để nghĩ về những tổn hại bằng một cách đơn giản: Tức giận cái gì? Nó khiến ta đánh mất biểu cảm tốt đẹp, trở nên hung hãn và đáng sợ. Trong lúc tức giận không có sự lúng túng bởi vì mọi thứ bị cuốn theo nó. Chúng ta có thể nói bất cứ điều gì, làm bất cứ cái gì, nhưng sau một vài giờ hay một vài ngày, chúng ta có thể hiểu ra lúc đó chúng ta đã không thể nhìn thấy những cảm thọ nóng giận. Và như thế, cảm giác hổ thẹn, cảm giác ngượng ngùng sẽ xuất hiện. Chúng ta có thể không cần một ai nói cho chúng ta những gì xảy ra trong khi tức giận, bởi chúng ta biết những sự tổn hại và có tất cả kinh nghiệm về nó.

Những cảm thọ này tất cả chúng ta đều được biết, nhưng ở những cấp độ khác nhau. Một số người có tính khí nóng nảy, nhưng không có lo âu riêng bởi những cảm thọ khác. Trong khi một số người khác không để sự tức giận khởi lên một cách dễ dàng, ngay cả khi đối mặt với những vấn đề khó nhẫn chịu khác. Nhưng, bất cứ cái gì, nếu chúng ta muốn đối phó, cảm thọ sẽ gây nên cho chúng ta nỗi đau lớn nhất, thế nên, chúng ta cần trắc nghiệm nó ở một trạng thái yên tĩnh và dành thời gian để nhìn vào những kết quả của nó. Đây là cách sử dụng trí tuệ, trí tuệ ấy sẽ trợ giúp thực sự khi cảm thọ trỗi dậy. Khi sự tức giận có mặt, trong thực tế sẽ có cảm thọ ở đó, điều này mang lại một kết quả khó chịu. Tôi đánh mất tính khí của tôi do bởi những hoàn cảnh riêng biệt này, nhưng trí tuệ sẽ trợ giúp để đối phó với nó. Cùng với những cảm thọ đích thực, nếu chúng ta muốn khích lệ với một thái độ quan tâm mạnh hơn, bằng tình thương, sự tử tế, hay một vài cảm thọ tương quan khác và nếu chúng ta muốn có một vài trạng thái thường hằng,  thì trí tuệ là rất cần thiết.

Như tôi nói, đời sống đạo đức, đời sống đạo lý, luôn luôn được nối kết với nhau, nên những cảm thọ của chúng ta cũng được nối kết với những người khác. Cái "khác" rất quan trọng nhưng điều đó không có nghĩa là những cảm thọ thuộc về của riêng một ai. Vì vậy, hạnh phúc hay khổ đau riêng của cá nhân cũng hoàn toàn gắn liền với những người khác. Có thể nói rằng, hầu như không có sự hạnh phúc nào đối với chúng ta mà không có sự quan tâm bởi cảm thọ của những người khác. Hơn thế nữa, nó còn là tình thương và lòng trắc ẩn.

Tất cả chúng ta đều có lòng trắc ẩn, nhưng nó có thể rất yếu lược, đôi khi khá thiên vị và biệt đãi. Vậy, đâu là câu hỏi để mang lòng trắc ẩn đến đời sống, và tạo nên tính vô tư của nó. Tất cả chúng ta đều muốn có hạnh phúc, sự hòa bình và lòng mãn nguyện. Đây không phải một quan điểm triết học mà là một sự thật - tất cả chúng ta muốn điều đó. Tuy đôi lúc chúng ta có thể tìm kiếm nó nhưng lại không thể mang đến những lòng trắc ẩn cho chính chúng ta. Đặc biệt ở phương Tây, có một vấn đề xoay quanh sự tự chủ và sự đánh mất tự chủ. Nhưng tất cả ở bên dưới nó, trong thực tế, rõ ràng vẫn có một khả năng của sự khát khao hạnh phúc và lòng mãn nguyện.

Tôi không nghĩ có một cái gì đó nhầm lẫn trong sự khao khát tràn đầy với lòng mong ước sâu xa. Thực tế tôi nghĩ chúng ta có một sự hạnh phúc đáng tôn trọng. Vậy làm sao chúng ta đạt được điều đó? Không gì ngoài sự tác động đáng kể của những người khác. Bởi vì, như đã nói, hành vi đạo đức luôn luôn được nối kết với những người khác cũng như tất cả những trạng thái của nhận thức, cảm thọ nên không một đối tượng nhận thức riêng lẻ nào có thể vận hành được. Dĩ nhiên đối tượng luôn luôn tồn tại, nhưng chúng ta cũng nghiệm thấy những đối tượng khác - thấy chúng xúc chạm và cảm giác về chúng - nên chính những nhận thức của chúng ta luôn vận hành trong mối tương quan với tồn tại. Như vậy, tôi không nói về lòng trắc ẩn ở góc độ của việc nhìn vào những khác biệt nơi người khác, tôi đang ám chỉ đến nó trong những giới hạn của sự thỏa mãn những cảm giác sâu thẳm riêng của một người. Đức Phật nói rằng: "Kẻ nào thương yêu chính bản thân mình, thì không bao giờ gây tác hại cho những kẻ khác". Nếu chúng ta không biết bằng cách nào để thương yêu chính bản thân mình, thì khó mà thương yêu đến những người khác. Những người biết được nguyên nhân gây ra khổ đau hay mang lại hạnh phúc cho chính họ - thì đó không phải là trạng thái của tri thức mà nó xuất phát từ con tim. Thực sự họ sẽ tạm ngừng trong chốc lát khi nhu cầu trỗi dậy để suy xét.

Lúc Đức Phật nói về Diệu đế thứ nhất - Dukkha (sự không thỏa mãn các ước muốn) không phải Ngài dán lên đầu của ai đó một nỗi đau! Đây là Dukkha! Ngài muốn ám chỉ một điều gì sâu xa hơn thế nữa, đó là kêu gọi tình thương và lòng trắc ẩn. Lúc Ngài nói: "kẻ nào yêu thương chính bản thân mình, thì không bao giờ gây tác hại cho những kẻ khác", Ngài đang ám chỉ tình thương trong sự hiểu biết. Đây là một thứ tình thương biểu hiện trong thực tế, không có tình thương nào cao quý hơn tình thương đó.

Khi chúng ta nghĩ về những điều kiện tồn tại của lòng trắc ẩn - là chúng ta đang nói đến cái "tôi" bao hàm một cái "tôi". Chúng ta cần hiểu cái "tôi" này. Điều đó quy định trí tuệ, sự sáng suốt. Trong thực tế, yêu thương bản thân cũng cần sự hiểu biết rộng lớn. Trong ngôn ngữ Sanskrit, tình thương là "maitri", ngôn ngữ Pàli là "metta". Thứ tình thương đích thực ấy không thuộc phạm trù cảm thọ mà được thiết lập trên sự hiểu biết. Để tạo nên tình thương ấy đối với bản thân, ta cần phải có một sự hiểu biết thiết thực về đời sống tự thân đang được tiếp diễn.

Điều đó khá rõ ràng, như Đức Phật nói, đời sống - đời sống của tôi, đời sống của bạn, đời sống tất cả mọi người trên thế giới này - là không hài lòng (Dukkha), có tính vô thường, vô ngã và không (linh hồn). Lại nữa, sự hiểu biết về ba lĩnh vực ấy rất quan trọng trong việc phát triển tình thương cao thượng. Dukkha có ở mọi thời gian, mọi nơi nên nó chi phối mọi mặt của cuộc sống con người, không kể là phong cách sống nào, chúng ta làm gì, hay được giáo dục tốt ra làm sao. Mặc dù bạn có thể làm nên những lợi nhuận lớn trong công ty do công việc kinh doanh trôi chảy, nhưng thực tế, trong lúc ngủ nghỉ, bạn có cảm giác lo lắng về điều gì đó không chắc chắn.

Tôi có một người bạn trước đây là chủ hãng máy tính ở Mỹ - Bill Gates. Một lần anh ta không chấp nhận luật chia hai công ty nên anh ta đã kiện tụng trong phiên tòa. Anh là một trong những người giàu nhất thế giới, vì thế anh ta không thể chấp nhận luật của Chính phủ về việc chia hai công ty của anh ta. Tôi không nói là anh ta sai lầm đối với tham vọng đấu tranh để làm giàu. Có thể nếu ở vào địa vị của anh ta thì tôi cũng sẽ làm như thế. Nhưng điều đó cho thấy rằng, trong thực tế, giữa anh ta có một khoảng trống. Anh ta có tất cả hàng triệu thứ giống như thế, nhưng rồi anh ta vẫn thấy không đủ. Vậy anh sẽ làm gì để tồn tại? Đấy là lẽ tự nhiên của tâm trí. Vì vậy, chúng ta phải biết yêu thương chính bản thân mình khi ở trong trạng thái ấy. Điều đó là sự hiểu biết đích thực để nhận ra rằng không có vấn đề nào chỉ đạo cách sống của chúng ta. Trong thực tế, có cái gì đó không có cảm giác đúng đắn. Sự cảm giác đó được chia sẻ cho tôi, cho bạn, cho mọi người, ở đây, tôi nghĩ, ngoại trừ bạn là một bậc A la hán, bằng không ở tình huống này tôi xin lỗi bạn. Theo Phật giáo, cảm thọ, tình thương và lòng trắc ẩn là một cảm giác cao thượng trong tất cả những sinh vật có tri giác. Như thế, không có sự khác biệt giữa người giàu và người nghèo, người mạnh và người yếu, người già và người trẻ, Đông và Tây - tất cả đều như nhau. Đẹp biết bao nếu có tự do thực sự từ cảm giác tiếp xúc ấy. Đấy là tình yêu, tình yêu chân thật. Nó không có sự gượng ép.

 

---o0o---

Nguồn: Báo Giác Ngộ. Trình bày: Nhị Tường
 Cập nhật: 01-2-2006 

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544