Phật Học Khái
Luận
Thích Chơn Thiện
Chương
Ba - Tăng Bảo
Tiết II
Liên
hệ giữa Chư Tăng và Cư Sĩ
(tiếp theo)
Tín Và Hạnh Của Người Phật
Tử Tại Gia.
Bằng thân giáo và khẩu giáo, và
có thể cả ý giáo, vị Tỷ-kheo xây dựng niềm tin đạo và
niềm tin sống cho các Phật tử tại gia.
Ðời sống tu hành thanh tịnh,
tinh cần của vị Tỷ-kheo đã là một bài học và là niềm
tin của các Phật tử có nhân duyên thân cận.
Bằng giảng dạy, vị Tỷ-kheo
chỉ rõ cho Phật tử biết thế nào là một Phật tử có lòng
tin chân chánh? Tin như thế nào? Tin những gì?
Tin của Phật giáo không phải là
tín điều (creed), cũng không phải là đức tin (faith) như
một số đông tôn giáo khác chủ trương. Tin của người
Phật tử là đồng nghĩa với thấy, biết, hiểu rõ Phật
giáo.
Trước khi đặt niềm tin vào giáo
lý, người Phật tử tìm hiểu, thắc mắc, nghi vấn về giáo
lý, sau đó đi đến chỗ thấy sáng tỏ các lời dạy của
Thế Tôn, và tìm thấy thoải mái tâm hồn, an lạc và giải
thoát khi thể hiện giáo lý ấy vào đời sống. Thường, lòng
tin Pháp của người Phật tử phát khởi ngay sau niềm hân
hoan hiểu Pháp, hoặc niềm hân hoan phát khởi từ niềm tin
ấy.
Người Phật tử chỉ tin vào
những gì đem lại an lạc, hạnh phúc cho mình và cho người
trong hiện tại và trong cả tương lai. Qua ý nghĩa này,
Phật tử đặt niềm tin vững chắc vào ngôi Tam Bảo. Tin
rằng Thế Tôn đã chứng đắc Vô Thượng Bồ-đề; tin
rằng Phật pháp đã được Thế Tôn thuyết giảng rất
thiện xảo đưa con người đến ly tham, ly thủ; tin rằng chư
Tăng là những vị đi trên con đường giải thoát, đang
sống trong sáu pháp hòa kính, là những bậc có thể chỉ
đường giải thoát cho đời; tin rằng mỗi người có sẵn
trong tự thân khả năng giác ngộ, đoạn trừ tham, sân, si;
tin rằng con người có thể ly tham ái và chấp thủ, loại
bỏ các lậu hoặc ngay trong hiện tại; và tin rằng con người
có thể tự mình, bằng nỗ lực của mình, thể hiện sự hòa
điệu trong tự thân và hòa điệu trong đời sống xã hội.
Như một người lên đỉnh núi
cao, đồi cao nhìn thấy nơi mình sẽ đi đến và định rõ
được phương hướng đi. Sau khi xuống núi, đồi, tuy điểm
đến không hiện rõ trước mắt, nhưng người ra đi biết
chắc rằng hướng nào dẫn đến đích, và có thể phát
biểu: "Tôi tin rằng hướng này dẫn đến đích muốn đến".
Tin là thế.
Niềm tin của người Phật tử thường
đem lại niềm hân hoan và phấn khởi. Trên lộ trình giải
thoát, một lần Thế Tôn đã dạy: Sau khi thể nghiệm đau
khổ, tín phát khởi; tín phát khởi đưa đến hân hoan,
hỷ, khinh an, lạc, định, tri kiến như thật, ly tham và
giải thoát. Bấy giờ tín xuất hiện như là lẽ sống.
Tin Tam Bảo, người Phật tử
giữ được mình trong chánh tín, rời xa các tà kiến của
ngoại đạo. Sự có mặt của chánh kiến là yếu tố
quyết định hướng sống đúng, an lạc và giải thoát cho
người Phật tử trong hiện tại và tương lai.
Sau đây là lời dạy tiêu biểu
nhất của Thế Tôn về lòng tin của người Phật tử: "Chớ
có tin chỉ vì nghe báo cáo, chớ có tin chỉ vì theo truyền
thống; chớ có tin chỉ vì nghe tin đồn; chớ có tin chỉ vì
được Kinh tạng truyền tụng; chớ có tin chỉ vì nhân lý
luận; chớ có tin chỉ vì nhân định lý; chớ có tin sau khi
suy tư về những dữ kiện, điều kiện; chớ có tin sau khi
thầm lự hay chấp nhận một vài lý thuyết; chớ có tin
chỉ vì thấy thích hợp; chớ có tin chỉ vì Sa-môn là bậc
Ðạo sư của mình. Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình
biết như sau: "Các pháp này là thiện; các pháp này được
người có trí tán thán; các pháp này nếu được thực
hiện, được chấp nhận thì đưa đến hạnh phúc, an lạc",
thời này các Kàlàmà, hãy chứng đạt và an trú" (Tăng Chi
I, tr. 216-217).
Bố thí:
Bên cạnh việc tu tập năm giới
hay mười giới, bát quan trai giới của một Phật tử tại
gia, người Phật tử có thêm một hạnh lành cần tu tập:
Bố thí.
Thế Tôn thường dạy bố thí cho
các cư sĩ và ngoại đạo trước khi giảng dạy Tứ đế
cho họ. Bố thí chỉ là phương thức xả bỏ các tâm keo rít,
tham ái của tự thân người bố thí, vừa nuôi dưỡng các
từ tâm, tâm bao dung, vừa được tạo công đức có thể
sanh về cõi trời sau khi mệnh chung. Mặt khác, bố thí đem
lại nhiều lợi ích cho người nhận của bố thí, giúp họ
thoát khỏi cảnh lầm than của túng quẫn, nghèo đói hay mê
muội. Như thế pháp bố thí là pháp hành đem lại an vui cho
đời, cho xã hội, cần được xiển dương rộng rãi. Xuyên
qua pháp bố thí này, người Phật tử có thể lần lượt
thực hiện được hai bước đầu giải thoát, hay thực
hiện được trọn cả ba bước giải thoát như được trình
bày ở bài kệ tóm tắt giáo lý Phật giáo "Chư ác mạc
tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý" tuỳ theo
khả năng vận dụng tu tập. Chúng ta sẽ lần lượt đi vào
tìm hiểu ý nghĩa của pháp bố thí này.
"Này các Tỷ-kheo, có hai loại
bố thí: bố thí tài vật và bố thí pháp.. Tối thắng
trong hai loại bố thí này, này các Tỷ-kheo, tức là pháp thí"
(Tăng Chi I, tr. 105).
Bố thí tài vật gồm thức ăn,
áo mặc, chỗ ngủ, chỗ ở, thuốc men, chăn, chiếu và có
thể gồm cả tiền của.
Bố thí pháp là giảng dạy, chỉ
rõ khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, khổ đau diệt và
con đường đi ra khỏi khổ đau; chỉ rõ các ác pháp cần
phải tránh, các thiện pháp cần phải tu; chỉ rõ con đường
sống dẫn đến hạnh phúc trong hiện tại và tương lai trên
cuộc đời này và trong các đời sau. Bố thí pháp còn được
hiểu là trao truyền các kiến thức cho kẻ khác, trao niềm
hỷ, lạc và vô uý cho kẻ khác, bởi tự thân của giáo lý
có khả năng đem lại hỷ, lạc và sự không sợ hãi cho người
đời.
Người bố thí được hưởng năm
lợi ích, theo lời dạy của Thế Tôn: "Này các Tỷ-kheo, có
năm lợi ích này của bố thí: được nhiều người ái
mộ, ưa thích, được bậc Thiên nhân, Chân nhân thân cận;
tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi; không có sai lệch
pháp của người gia chủ; khi thân hoại mạng chung, được
sanh lên cõi lành, Thiên giới" (Tăng Chi II-B, tr. 66).
Người bố thí ngoài năm lợi ích
trên, còn được nhiều lợi ích khác nữa mà Thế Tôn đã
phân tích qua các Kinh. Chẳng hạn, lòng hoan hỷ trước khi
cho, lòng hoan hỷ tịnh tín trong khi cho, và lòng hoan hỷ còn
kéo dài sau khi cho (Tăng Chi II-B, tr. 382).
Với bố thí thức ăn, người
nhận thức ăn có năm điều lợi: nuôi thọ mạng, nuôi dung
sắc, được an lạc, được sức khỏe, được có trí
(biện tài). Như thế, người cho cũng sẽ nhận được năm
lợi ích tương tự được xem như là kết quả bố thí ấy
(Tăng Chi III-B, tr. 67).
Giá trị thực sự của việc bố
thí nằm ở cái tâm bố thí của người cho. Kết quả của
bố thí, do đó không thể căn cứ vào vật bố thí, giai
cấp, địa vị người bố thí hoặc người nhận bố thí
(phàm, Thánh..) để xác định.
Thế Tôn dạy có hai hạng người
bố thí: một hạng bố thí có kết quả lớn, lợi ích
lớn, một hạng cũng bố thí với của bố thí như vậy, nhưng
không có kết quả lớn, lợi ích lớn:
- "Này Sàriputta, có hạng người
bố thí với tâm mong cầu, bố thí với tâm trói buộc, bố
thí với tâm mong cầu được chất chứa, bố thí với ý
nghĩ: "Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau". Vị ấy
bố thí như vậy, khi thân hoại mệnh chung được sanh lên cùng
sống với chư Thiên ở Tứ Thiên Vương (Dục giới Thiên).
Và vị ấy khi nghiệp dứt, thần lực ấy, danh tiếng ấy,
uy quyền ấy cũng dứt, vị ấy trở lại trạng thái này"
(Tăng Chi III-A, tr. 61).
- "Này Sàriputta, ở đây ai bố
thí không với tâm mong cầu, không với tâm trói buộc, không
với tâm chất chứa, không với ý nghĩa: "Ta hưởng được
cái này ở đời sau", không với ý nghĩ: "Lành hay sự bố
thí", ... Nhưng vị ấy bố thí để trang nghiêm tâm, để
trang bị tâm. Do vị ấy bố thí như vậy, sau khi thân hoại
mệnh chung, được sanh cùng trú xứ với chư Thiên ở Phạm
Chúng thiên (Sắc giới). Và khi vị ấy nghiệp dứt, thần
lực ấy, danh tiếng ấy, uy quyền ấy dứt, vị ấy trở thành
vị Bất lai, không trở lui trạng thái này nữa" (Tăng Chi
III-A, tr. 63).
Cúng dường các bậc Thánh, cúng
dường chúng Tăng là một hình thức bố thí. Thế Tôn đã
đánh giá bố thí cao hơn là các nghi lễ, cúng kiến, tế đàn
(như đã được đề cập). Ngài thường khuyến khích các
Phật tử tại gia bố thí bằng cách phân tích cho thấy rõ
ràng những gì bố thí là những gì không mất, được đem
ra khỏi ngôi nhà đang bốc cháy; những gì cất giữ là
những gì bị thiêu sạch trong ngôi nhà cháy. Căn nhà cháy
chính là đời sống này, và ngọn lửa biểu tượng cho
tham, sân, si, sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não (Tương
Ưng I, Phẩm Thiêu Cháy, tr. 36).
Ðiều này nói lên sự quan tâm sâu
xa của Thế Tôn đối với hạnh phúc của nhân loại.
Phật tử Việt Nam lại thể
hiện đúng tinh thần của lời dạy trên của Thế Tôn, qua
châm ngôn rất là quen thuộc của hiện đại: "Phụng sự
chúng sinh là cúng dường chư Phật". Lo cho hạnh phúc của
người đời đúng là lễ vật rất ý nghĩa của cúng dường
Thế Tôn.
Người bình dân Việt Nam cũng
quan niệm: "Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc
cứu cho một người".
Cứu nhân độ thế là việc làm
có ý nghĩa thiết thực và cần thiết hơn là xây chùa.
Thực ra, cứu dân hộ đời là công việc xây dựng ngôi chùa
trong quần chúng, trong lòng dân tộc, một ngôi chùa tỏa sáng
trí tuệ và từ bi và khó bị thời gian tàn phá.
Người tu sĩ Phật giáo Việt Nam
cần giáo dục, gây ý thức cho quần chúng Phật tử Việt
Nam nghiêng nặng về thực hành bố thí hơn là đi vào nghi
lễ cúng kiến, nghiêng nặng vào việc cứu đời hơn là
việc xây những ngôi chùa không nằm trong yêu cầu của sự
phát triển Giáo hội và của thời đại.
Bố thí, trong tinh thần giáo lý
Bắc tạng, có thể được thực hành ở cấp độ sâu hơn,
gọi là bố thí độ hay bố thí Ba-la-mật.
Bố thí Ba-la-mật là bố thí mà
không trú tướng, hay gọi là bố thí rời khỏi sự vướng
mắc vào các ngã tướng. Nếu rời hẳn các ngã tướng ấy
thì liền tận trừ chấp thủ, chứng đắc Vô ngã hay Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác. Thế là người Phật tử có thể tu
tập hạnh bố thí mà vẫn có thể đoạn trừ ái, thủ để
đi vào hạnh phúc tuyệt đối của sự giải thoát hết
thảy lậu hoặc.
Kinh Kim Cương rõ ràng đề cao
bố thí Ba-la-mật, cho dù vẫn muốn trình bày lục
Ba-la-mật. Hành bố thí như thế này là vừa giải thoát
tự thân vừa cứu đời khỏi khổ đau. Tinh thần của
Phật giáo Nam tạng và Bắc tạng, nếu hiểu đúng đắn, luôn
luôn không rời khỏi hành động thực tiễn giải thoát
cuộc đời ra khỏi khổ đau (đủ mọi thứ khổ đau của
thân và tâm). Ðây là sự thật.
Trì giới:
(Ðã được trình bày ở năm giới, tám giới và mười
giới).
Tuệ: Chánh
kiến về các pháp là Tuệ. Chánh kiến về các pháp là
thấy duyên sinh tính của các pháp, thấy rõ nghĩa Tứ đế,
và khởi niệm mong cầu giải thoát.
Vị Tỷ-kheo có bổn phận giáo
dục các Phật tử tại gia thế nào để các Phật tử ấy
có chánh kiến. Ðể đạt yêu cầu đó vị Tỷ-kheo cần khích
lệ các Phật tử học pháp, nghe pháp, tư duy về pháp và hành
pháp. Như thế, các Phật tử cần có điều kiện gần gũi
các vị chân tu, các vị Tỷ-kheo có học, có hạnh để
học tập. Phần của vị Tỷ-kheo, cần giới thiệu rõ ràng
chánh kiến (trong Bát Thánh đạo) và những nhân duyên để
làm phát khởi chánh kiến. Cần cắt nghĩa rõ ràng để người
cư sĩ nhận rõ các lợi ích thiết thực do chánh kiến đem
lại, như nhờ có chánh kiến mới có thể hành chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng, chánh niệm, chánh tinh tấn, chánh
tư duy và chánh định; nhờ có chánh kiến mà khỏi đoạ;
nhờ có chánh kiến mà sau khi sanh về cõi Trời và chấm
dứt mạng sống tại đó, sẽ đi lên và sẽ được trở thành
vị Bất lai; nhờ có chánh kiến mà có niềm tin vững
chắc, hỷ, lạc và rời xa dần mọi sợ hãi trong đời
sống hiện tại. Ðấy là những gì mà người Phật tử
tại gia cần học và người tu sĩ cần truyền đạt.
Ngày nay, người tu sĩ Việt Nam
cần phải hiểu rõ hoàn cảnh lịch sử của dân tộc Việt
Nam, lịch sử truyền bá và đóng góp của Phật giáo Việt
Nam để thấy rõ những gì tự thân mình phải hoàn bị, và
những gì mình nên truyền đạt cho các Phật tử tại gia
Việt Nam.
Lịch sử phát triển của Phật
giáo đời Lý, Trần vẫn là bài học lớn nhất để các tu
sĩ Phật giáo Việt Nam ngày nay suy nghĩ về những yếu tố
nào đã làm hưng thịnh Phật giáo và hưng thịnh dân tộc và
những Phật tử tại gia Việt Nam cần gì.
Có những yếu tố lịch sử và
những yếu tố tâm lý mà các vị tu sĩ cần nắm vững. Xã
hội Việt Nam thường phải phấn đấu suốt dòng lịch sử
để tồn tại trước nhiều cuộc tấn công xâm lấn từ bên
ngoài. Yếu tố quyết định thắng lợi trong cuộc tự vệ
để tồn tại là yếu tố đoàn kết keo sơn của dân tộc
để phát huy sức mạnh của dân tộc. Yếu tố quyết định
thắng lợi thứ hai là nuôi dưỡng truyền thống tự cường,
tự lực và bất khuất. Yếu tố thứ ba là yếu tố trí
tuệ. Chính ba yếu tố đòi hỏi của lịch sử Việt Nam này
hoàn toàn được giáo lý Thiền định Phật giáo (hay Tứ
niệm xứ) đáp ứng thích đáng như đã được trình bày
ở tinh thần giáo dục Thiền định (chương Phật Bảo).
Giáo lý Thiền định lại là giáo
lý tu tập chính thống nhất của Phật giáo. Tại sao các
vị tu sĩ Việt Nam lại không giới thiệu rộng rãi con đường
Thiền định này cho quần chúng Việt Nam? Muốn thực hiện
nghiêm chỉnh công việc truyền đạt giáo lý Thiền định,
các vị tu sĩ trước hết là phải tự mình dấn thân đi sâu
vào tu tập Thiền định, song song với việc giữ gìn tinh
thần căn bản của Giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa và việc phát
triển học thuật.
Do tinh thần làm chủ, vô chấp và
không sợ hãi của Thiền định mà chúng ta có thể phát
triển được dũng lực và cả trí tuệ (gồm cả ý nghĩa
thông sáng để vận dụng vào các việc đời) mà không
chịu cúi đầu trước bất cứ một bạo lực nào.
Do tinh thần thể nghiệm và rất
thiết thực của Thiền định mà các Phật tử phát triển
được tinh thần tích cực xây dựng cuộc đời và xây
dựng xứ sở.
Năm Thiền chi của bước đầu tiên
đi vào Thiền định (Sơ thiền) là Tầm (Vitakka), Tứ (Vicàra),
Hỷ (Piti), Lạc (Sukha) và Xả - Nhất tâm (Upekkha-Ekaggata),
xuất hiện để thay thế Năm triền cái (trạo hối, hôn
trầm, dục, sân và nghi). Tất cả những nhân tố tham nhũng,
tiêu cực và chiến tranh đều được gồm trọn trong Năm
triền cái đó: sân hận, tà kiến (nghi) và tham ái (dục) là
nhân tố của chiến tranh; dục là nhân tố của tham nhũng;
hôn trầm (hay các tâm lý tiêu cực) là nhân tố của các thái
độ sống tiêu cực. Như thế, chính pháp môn Thiền định
này được phổ biến thì cùng lúc có thể làm sống dậy
hạnh phúc và sức mạnh của tự thân và của dân tộc,
lại cùng lúc có thể nói lên tiếng nói xây dựng hòa bình
cho thế giới trung thực nhất. Chính vô sân, vô tham là
yếu tố căn bản xây dựng và bảo vệ hòa bình mà không
phải là các thứ bom đạn và các thủ đoạn đánh lừa.
Về tâm lý, thông thường con người
có những tâm lý mệt mỏi, chán nản trước đường đời
và đường đạo, do đó luôn cần được khích lệ, nuôi dưỡng
niềm tin và phát khởi nỗ lực. Ðể đóng được vai trò hướng
dẫn của mình, quý vị tu sĩ trước tiên phải là gương
mẫu về đức tự tin, tin Pháp kiên cố, và tinh cần tu
tập.
Ðể thích ứng với hoàn cảnh
lịch sử Việt Nam, quý vị tu sĩ Phật giáo Việt Nam phải
làm những điều tương tự chư Tăng đã thực hiện ở Ấn
Ðộ dưới thời Thế Tôn, thế nào để vừa nói lên
tiếng nói trung thực của đạo giải thoát, vừa linh động
thích nghi với dòng văn hóa địa phương. Với tinh thần
cốt lõi là "tùy duyên, bất biết", quý vị tu sĩ có thể
hình dung ra ngay các yêu cầu chính của con đường mình
phải đi: tu tập tự thân trên tinh thần căn bản của
Giới bổn, hành Tứ niệm xứ và tích cực đóng góp vào các
công cuộc xây dựng văn hóa, giáo dục và xã hội trong điều
kiện có thể của mình.
Ðấy là ý nghĩa của Tuệ dành
cho sự tu tập của các Phật tử tại gia và dành cho vai trò
chỉ hướng của các tu sĩ.
Tứ Nhiếp pháp:
(Phẩm Gia Chủ, Tăng Chi IV): Ðã được trình bày ở chương
Phật Bảo.
Lục Hòa Kỉnh: (Kinh Xá Di
Thôn, Trung Bộ III, Kinh Tịnh Bất Ðộng, Trung II, số 75, Ðại,
542b): Ðã được trình bày ở chương Phật Bảo.
Qua phẩm Gia Chủ, chương Tám Pháp,
Tăng Chi IV, Thế Tôn đã dạy Tứ nhiếp pháp cho cư sĩ
Hatthaka (chứng đắc A-na-hàm) nhiếp chúng năm trăm cư sĩ.
Ðiều này chứng tỏ, dưới sự lãnh đạo của Thế Tôn, cư
sĩ đã được tổ chức thành đoàn thể. Thế Tôn và chư Tôn
giả chỉ giảng dạy giáo lý và truyền giới luật cho các
cư sĩ, còn việc tổ chức và lãnh đạo cư sĩ thì do chính
các cư sĩ có trình độ tu tập, trình độ văn hóa lãnh đạo
và đảm trách. Cư sĩ lãnh đạo vẫn nói pháp cho các cư sĩ
khác nghe; việc nói pháp này được biểu hiện dưới hình
thức thảo luận và trao đổi như là bạn, và có khi vẫn
mang tính chất thuyết giảng của chư Tăng. Vị cư sĩ lãnh
đạo vẫn thường hướng dẫn đoàn cư sĩ đến nghe pháp
từ Thế Tôn và chư Tôn giả. Cũng có trường hợp vị Tăng
thuyết pháp có hiểu biết và quả vị chứng đắc còn
thấp hơn cả người cư sĩ lãnh đạo ấy.
Khi đã quy tụ thành đoàn thể,
thì nguyên tắc "Lục hòa" lại cần được ứng dụng để
duy trì và phát triển mạnh mẽ đoàn thể này.
Trong bảng liệt kê các nam và
nữ cư sĩ đệ nhất, ghi rõ có nam cư sĩ Citta thuyết pháp
đệ nhất, Cấp Cô Ðộc và Visakhà là bố thí đệ nhất;
Hatthaka là người nhiếp phục hội chúng đệ nhất;
Nakulapità (nam) và Nakulamàtà (nữ) là hai người thân mật
đệ nhất; nữ cư sĩ Suppiyà là người săn sóc bệnh nhân
đệ nhất, v.v... Qua bảng liệt kê đó, chúng ta có thể hình
dung ra một số nét chính sinh hoạt của đoàn thể cư sĩ.
Trước tiên là nam và nữ cư sĩ
đã được tổ chức thành đoàn thể (có thể tổ chức
chung hay riêng, tùy điều kiện) để hộ trì chư Tăng, học
hỏi Phật pháp và hành các Phật sự khác như bố thí, săn
sóc bệnh nhân (công tác y tế) và có thể có vài hình
thức đi vào quần chúng nữa được biểu hiện qua "Lợi hành"
của Tứ nhiếp pháp. Có rất nhiều cư sĩ có khả năng
thuyết pháp nên Thế Tôn đã tuyên bố về người thuyết
pháp giỏi nhất.
Thứ đến, hẳn là bên cạnh Giáo
hội Tăng-già, cư sĩ đóng một vai trò truyền bá đạo
Phật rất mạnh và rất có hiệu quả. Tứ nhiếp pháp là
để phục vụ mục tiêu đưa mọi người đến với Phật
giáo.
Tăng-già chỉ cần giữ vai trò
truyền sức sống, niềm tin và kinh nghiệm giải thoát cho hàng
cư sĩ lãnh đạo, ngoài việc thuyết giảng có giới hạn
hằng ngày. Tưởng chúng ta cũng nên suy nghĩ sâu xa về Giáo
hội Phật giáo dưới sự lãnh đạo của Thế Tôn với hai
đoàn thể xuất gia và tại gia sinh hoạt rất tích cực và
hòa điệu, để nhìn lại Giáo hội Phật giáo đương thời
với một bối cảnh lịch sử, văn hóa mới, hầu mở ra
một hướng đi chung thế nào để Phật giáo phồn thịnh và
xã hội được thêm nhiều an lạc và hạnh phúc.
Nhìn lại lịch sử phát triển
của Phật giáo Việt Nam, trong các thời hưng thịnh của
Phật giáo như dưới triều đại Lý, Trần, cho dù chư Tăng
là linh hồn của Giáo hội thì công cuộc phát huy Phật giáo
vẫn ở trong tay đoàn thể cư sĩ. Chính các vua, quan nhà
Trần, nhà Lý như Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Ỷ Lan Thái
Phi, Trần Quốc Tảng, vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông
v.v... làm hưng thịnh Phật giáo. Ở Ấn Ðộ thì chính vua
A-dục (Asoka) đã làm hưng khởi Phật giáo với công cuộc
Kiết tập kinh điển và truyền bá sâu rộng Phật giáo
trong và ngoài nước.
Ở nước ta, nếu nghĩ đến một
đại hội Kiết tập kinh điển bằng Việt ngữ thì nhân
tố chính vẫn là cư sĩ. Cư sĩ đóng góp hoàn toàn các
khoản chi phí, đóng góp các nhân sự có khả năng về mặt
học thuật, về tổ chức, ấn loát v.v... Cho đến địa bàn
hoạt động truyền bá Phật pháp sâu và rộng, vai trò đảm
trách vẫn là cư sĩ. Vậy thì, vấn đề chấn hưng Phật giáo
trước mắt cần phải có một đoàn ngũ cư sĩ đầy khả năng
và đạo tâm để hộ trì. Cư sĩ chỉ có một giới hạn là
không khoác y vàng, không khất thực và không trao truyền
giới luật cho ai. Phải có một đoàn thể cư sĩ mạnh mẽ
trước đã về cả hai mặt tâm và tuệ.
Từ đó, cần nghĩ lại và nếu
cần thì thiết lập lại mối tương hệ đầy ý nghĩa và
hữu hiệu trong việc truyền bá Phật giáo giữa Tăng sĩ và
cư sĩ. Tại đây, vai trò và việc xây dựng hàng xuất gia cũng
cần được đặt ra, tuy vẫn xây dựng trên nền tảng Pháp
với Giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa. Chư Tăng mãi mãi là ngôi
báu giữ địa vị Chúng Trung Tôn, là niềm tin, là nơi quy hướng
của toàn thể Phật tử tại gia. Ðiều ưu tư của thời đại
là làm thế nào để Tăng-già phát triển rực sáng xứng đáng
là ngôi báu, xứng đáng ở vị trí lãnh đạo tinh thần
của đoàn thể cư sĩ đang phát triển mạnh cả hai mặt
chất và lượng. Khi mà cả hai đoàn thể Tăng-già và cư sĩ
đóng đúng vai trò của mình trong một nền văn hóa thì Chánh
pháp lại được thiết lập trên cõi đời này.
Chánh Pháp và
Cuộc Ðời
Thông thường, người ta cho rằng
Phật giáo chỉ là giáo lý liên hệ đến giải thoát mà không
thể vận dụng hữu hiệu vào việc xây dựng và tổ chức
một xã hội mới. Ðiều này thật là lầm lẫn.
Như đã được trình bày ở chương
Phật Bảo và sáu mối tương quan xã hội (chương Tăng
Bảo), Phật giáo thực sự chuyên chở một nội dung giáo
dục rất tốt, rất tiên tiến và phong phú. Ðiều này
chứng tỏ Phật giáo có khả năng soi sáng (hay chỉ hướng)
cho một nền giáo dục nhân bản và tiên tiến. Giáo dục thì
lại làm nên văn hóa, nhân tố xây dựng và phát triển
một xã hội mới. Như thế tại sao Phật giáo lại không
thể được vận dụng để xây dựng và tổ chức một xã
hội mới?
Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Tu Hành
(Trường A-hàm, số 6) và Kinh Chuyển Luân Thánh Vương (Trường
Bộ Kinh IV) cho thấy rằng nhà vua dùng Chánh pháp trị dân và
tạo nên một thời đại hòa bình, an lạc, hùng cường và
thịnh vượng cho xứ sở. Chúng ta hãy tìm hiểu thế nào là
Chuyển Luân Thánh Vương? Và thế nào là dùng Chánh pháp để
trị dân?
Một vị Chuyển Luân Thánh Vương
xuất hiện thì có bảy món báu xuất hiện: Thiên bảo luân
báu, voi báu, ngựa báu, thần châu báu, ngọc nữ báu, cư sĩ
báu, chủ binh báu. Khi mà xe vàng báu lặn mất thì là lúc
kết thúc mạng sống của nhà vua. Nhà vua sanh thời dùng Chánh
pháp dạy dân mà không dùng trượng, không dùng kiếm, không
dùng hình phạt. Toàn thể nhân dân đều học hỏi Chánh pháp,
giữ gìn nghiêm chỉnh năm giới không sát, không trộm cắp,
không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu. Khi lớn
tuổi, nhà vua nhường ngôi cho thái tử, căn dặn thái tử dùng
Chánh pháp trị dân, rồi xuất gia tu hành giải thoát.
Thái tử hỏi: "Tâu Ðại vương,
thế nào là Thánh vương Chánh pháp?" Nhà vua đáp: "... y
cứ vào Pháp, kính trọng Pháp, cung kính Pháp, đảnh lễ cúng
dường Pháp, tự con trở thành Pháp tràng, Pháp kỳ, trở thành
người bảo vệ hợp pháp cho nhân dân, cho quân đội, cho Sát-đế-lợi,
cho Bà-la-môn, cho Gia chủ, cho các loài thú và chim chóc.
Chớ làm gì phi pháp trong nước... đem tiền của cho dân nghèo...
tìm đến các Sa-môn tu hành thanh tịnh và hỏi han các việc
tu hành, như thế nào là thiện, là bất thiện, là ác, là
phạm... Ðem Chánh pháp dạy các tiểu vương, vương tử, đại
thần... nhân dân..." (Nikàya và A-hàm đều ghi tương tự).
Khi nhà vua không làm đúng những
gì nhà vua cần phải làm, đấy là khi mà nhân dân bắt đầu
đi vào dối trá, trộm cắp, tà hạnh... và đói kém, giặc
giã khởi lên.
Như thế, Chánh pháp đã đi vào các
thể chế, định chế xã hội và gần như trọn vẹn đi vào
văn hóa. Bấy giờ, toàn dân vẫn sống đời sống gia đình
như đã sống và đang sống; quân đội vẫn được tổ
chức hùng mạnh; kinh tế vẫn được phát triển phồn
vinh...
Chừng nào mà các nhà lãnh đạo
và nhân dân phần lớn giữ giới và hành Thiền (mở đầu
hai Kinh trên có đề cập đến việc tu tập Tứ niệm xứ là
việc trở về chính mình và nương tựa chính mình) thì
tiến gần thời "Thánh Vương Chánh Pháp"; chừng nào các
nhà lãnh đạo và nhân dân không còn giữ giới nữa, mà dùng
hình phạt và đao kiếm thay vào, thì bấy giờ là sống xa
Thánh Vương Chánh Pháp và xã hội đi dần vào phân hóa, đói
kém và chiến tranh.
Từ hậu bán thế kỷ hai mươi này
có thể thể nghiệm lại thời kỳ Thánh Vương Chánh Pháp
kia, nếu toàn dân ý thức và mong đợi như thế. Ðối với
nhân dân, ý thức và mong đợi ấy có thể là kết quả
của một đường hướng giáo dục./.
-oOo-
Ðoạn
trước
|
Mục lục | Bài
kế
--- o0o ---
Trình bày : Nhị
Tường
Chân thành cảm ơn Đạo hữu Bình Anson đã gởi tặng
phiên bản điện tử tập sách này
( Trang nhà Quảng Đức, 01/2002)
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |