| ...... ... |
. |
Phật Học Khái
Luận
Thích Chơn Thiện
Chương
Hai - Pháp Bảo
Tiết XIV
Tứ
Niệm Xứ
(tiếp theo)
Ðối trị các ảo giác, ảo tưởng...
Trong thời gian đầu tu tập Thiền định, hành
giả do công phu hành chưa điều hòa được thân, hơi thở và
tâm, thường phát sinh nhiều hiện tượng ảo giác, ảo tưởng
như: cảm thấy ngứa ngáy, nghe có kiến bò trong mình, trên
mặt, tưởng thân mình đang bị nghiêng (sự thật thì không),
cảm giác có vòng ánh sáng, người lâng nhẹ muốn bay nổi
lên, nghe ran ở ngực, thái dương, v.v...
Hành giả đừng băn khoăn đi tìm biện pháp đối
trị từng loại các ảo giác này. Cứ mặc nhiên theo dõi hơi
thở đều đặn, tập cho hơi thở điều hòa và thân ngồi
nhuyễn, hai đầu gối sát xuống sàn tọa, chỉ ghi nhận có
các hiện tượng ấy xảy ra mà không lo, không sợ, không
rộn ràng, không hân hoan; nhìn các hiện tượng khơi lên như
nhìn hơi thở vào ra. Nhiếp niệm vào hơi thở và cố đi ra
khỏi các tưởng mà khi trú niệm vào tưởng này thì xảy
ra các ảo giác ấy. Sau một thời gian tu tập ổn định thân,
hơi thở và tâm khá hơn thì các hiện tượng ấy tự tiêu.
Hành giả phải ý thức rõ ràng Thiền không liên hệ gì đến
các thứ ảo giác ấy. Khi mà hành giả tập được khá
tốt về ba phương diện nhiệt tâm tính cần, chánh niệm
tỉnh giác và rời khỏi các tham ưu, thì hành giả lập
tức chấm dứt được các ảo giác, ảo tưởng, loạn tưởng
ấy.
Có nhiều lúc hành giả nhận thấy nước
miếng ra nhiều ở trong miệng và thường bị ho ướt, trường
hợp này cũng đừng bận tâm, chỉ vì trạo cử bắt đầu
phát khởi khi hành giả đang nhiếp niệm. Hãy tinh cần
nhiếp niệm an tịnh trở lại đối tượng đang theo dõi thì
hiện tượng này sẽ lặn đi; tập nhiếp như vậy nhiều
lần thì hiện tượng ho ướt này cũng mất đi.
Các hiện tượng ảo giác trong khi tu tập xảy
đến khác nhau ở từng người, cũng có một số hiện tượng
giống nhau. Tất cả các hiện tượng ấn đều có chung
một phương cách đối trị hoàn toàn hữu hiệu, đó chính
là pháp môn niệm hơi thở vào hơi thở ra ấy. Thế Tôn đã
dạy pháp môn này để đối trị với mọi thứ vọng niệm
của hành giả, giúp hành giả đi vào chánh niệm tỉnh giác
và nhiếp phục tham ưu. Ðừng nghi ngờ gì nữa! Hành giả hãy
tiếp tục nhiệt tâm tu tập cho nhuần nhuyễn hơn, mặt khác,
quên đi các thứ ảo giác, thì hành giả sẽ đi ra khỏi các
hiện tượng ảo giác và các lệch lạc trong tu tập không
khó.
Một cách tổng quát, dù là trong lúc ngồi
Thiền, dù là trong mộng hay dù là trong khi làm việc, lúc
thức, hành giả hãy tu tập nhiếp niệm tỉnh giác trước
mọi chuyện xảy đến, và cả sau khi mọi chuyện xảy đến.
Lúc nào tâm lý của ta có mặt các Thiền chi (tầm, tứ,
hỷ, lạc và nhất tâm) thì ta đang ở Sơ thiền; lúc nào có
mặt hỷ, lạc, nhất tâm là ta trú Nhị thiền; lúc nào có
mặt lạc và nhất tâm là trú Tam thiền; lúc nào có mặt
xả và nhất tâm là trú Tứ thiền. Tâm không có mặt các
Thiền chi ấy là ta chưa vào định (các Thiền Vô sắc đều
có mặt xa và nhất tâm).
Ðối Tượng Tu Tập Thiền Quán
Theo truyền thống tu tập của Nikàya và A-hàm,
có bốn mươi đối tượng tu tập Thiền quán:
- Mười đối tượng liên hệ đến các vật
có tướng trạng như: đất, nước, gió, lửa, vật có màu
xanh, vàng, đỏ, trắng, ánh sáng và không gian.
- Mười đối tượng về xác chết như: sình,
biến sắc, rã, chảy nước, bị cắt đứt đoạn, bị xé
nát, bị bung rời từng mảnh, không còn nguyên hình thể,
đẫm máu, bị dòi rúc rỉa, thi hài chỉ còn xương.
- Mười đối tượng suy niệm như: Phật, Pháp,
Tăng, bố thí, giới, chư Thiên, Niết-bàn, chết, thân, hơi
thở vào ra.
- Bốn Thiền Vô sắc: Không vô biên xứ,
Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, và Phi tưởng phi phi tưởng
xứ.
- Bốn vô lượng tâm: Từ, bi, hỷ, xả.
- Một đối tượng về tưởng (sannà): Tưởng
về khía cạnh nguy hiểm của bốn loại thức ăn: đoàn
thực, tư niệm thực, thức thực và Thiền duyệt thực.
- Một đối tượng thuộc phân tích luận
giải: Phân tích tứ đại, lục đại.
Bốn mươi đối tượng tu trên đây dành cho sáu
loại căn cơ khác nhau. Mỗi loại căn cơ thích hợp với
một số đối tượng riêng biệt. Sáu căn cơ khác biệt
của người tu là:
- Tham ái (ràga carita) - Si (moha carita) - sân
(dosa carita).
- Nặng về đức tin (saddhà carita).
- Nặng về biện giải (buddhi carita).
- Nặng tính phóng đãng (vitakka carita).
Mỗi căn tánh có thể kéo dài suốt một đời
người, cũng có thể kéo dài trong một giai đoạn. Do theo dõi,
quán sát tự thân, hành giả biết mình thuộc loại căn tánh
nào, và do đó chọn được đối tượng tu tập hữu hiệu.
Nguyên tắc chọn đối tượng quán tưởng là nguyên tắc đối
trị: nếu tánh thuộc sân thì đối tượng quán là từ;
nếu tánh tham sắc thì đối tượng quán là bất tịnh tướng;
nếu tánh thuộc si, tà kiến thì đối tượng quán là quán
Mười hai nhân duyên, v.v...
* Về mười đối tượng tu đầu (địa,
thủy, hỏa, phong...): căn bản của pháp quán mười đối
tượng này là giữ tâm an trú trên đối tượng, không để
cho vọng tưởng khởi động, không để buông lung trí tuệ.
Ví dụ như đối với yếu tố đất, hành giả quán sát
những gì trong cơ thể mình thuộc địa đại, và những gì
ở thế giới bên ngoài thuộc địa đại, biết rằng tất
cả những gì thuộc địa đại đều không phải là mình,
không phải của mình, không phải là tự ngã.
Sau khi nhìn như thật yếu tố đất như thế,
hành giả khởi niệm nhàm chán, không chấp thủ nó, không
đắm trước nó.
Tương tự đối với chín đối tượng kia.
Nhìn các đối tượng trên như thế, có nghĩa
là không bao giờ hành giả nghĩ "tôi là", "tôi đã là",
hay "tôi sẽ là" (địa, thủy, hoả, phong, không, thức,
v.v...). Không nghĩ như thế là đi ra khỏi các vọng tưởng,
chấp thủ ngã. Ðấy là những gì mà kinh Kim Cang nói "Ưng
vô sở trú nhi sanh kỳ tâm", phương cách để hàng phục
vọng tưởng.
* Về Quán Các Tướng Bất Tịnh:
Việc quán tử thi cần đối mặt với các xác
chết ở nghĩa địa, như thời xưa ở Ấn Ðộ, thì mới có
kết quả tốt. Ngày nay đối tượng quán ấy không còn
phổ biến. Hành giả chỉ thỉnh thoảng tưởng đến các
tử thi để làm lắng xuống lòng tham ái sắc hầu để đi
vào Thiền định. Ðừng thường xuyên quán bất tịnh; trường
hợp quán thường xuyên này có thể bị phản tác dụng, tâm
lý hành giả có thể trở nên chán nản, tuyệt vọng làm
trở ngại sự phát triển nỗ lực ly tham.
* Về Các Ðối Tượng Suy Niệm (ức niệm):
- Phật: Niệm về thập hiệu Như Lai.
Niệm về tự tánh giác ngộ.
- Pháp: Niệm về giáo pháp Như Lai khéo
thuyết giảng đưa người qua biển khổ. Niệm về tự tánh
sáng suốt.
- Tăng: Niệm về phẩm hạnh của các
bậc Thánh hữu học và vô học. Niệm về tự tánh thanh
tịnh.
- Giới: Suy nghĩ về phẩm hạnh của mình,
về sự kiểm soát sáu căn.
- Thí: Niệm về tánh khoan hồng, bao dung
của tự thân.
- Thiên: Niệm về những đức tính đem
lại kết quả sinh Thiên.
- Niết-bàn: Suy niệm về sự chấm dứt
khổ đau, về tham, sân, si diệt.
- Chết: Nghĩ đến cái chết, rằng có
thể đến với mình bất cứ lúc nào, để thấy vô thường
mà tấn tu. Nghĩ đến cái chết để lòng bình tĩnh trước
cuộc vô thường của đời sống.
- Thân: Tương tự như niệm về thân đã
được trình bày ở Tứ niệm xứ.
- Niệm hơi thở vào hơi thở ra: Như đã
được trình bày.
- Bốn Thiền Vô sắc: Chỉ đi vào bốn
đối tượng vô sắc khi nào hành giả đã vào Tứ thiền
Sắc giới. Nhờ có tâm nhu nhuyến của Tứ thiền thì việc
dẫn tâm vào bốn Vô sắc mới hiệu quả.
- Tứ vô lượng tâm: Chỉ có hai kinh ở
Nikàya (Trung Bộ Kinh) đề cập đến việc tu Thiền quán
Tứ vô lượng tâm để vượt từ Vô sở hữu xứ định băng
qua Phi tưởng phi phi tưởng, đi thẳng vào Diệt thọ tưởng
định. Tương Ưng Bộ Kinh V thì ghép việc tu tập Tứ vô lượng
tâm với việc tu tập Thất giác chi.
- Tưởng: Tưởng đến các nguy hiểm,
nguy hại của bốn loại thức ăn (đoàn thực, tứ niệm
thực, thức thực và Thiền duyệt thực) để ly tham.
- Phân tích luận giải: Phân tích Năm
uẩn, Phân tích Sáu giới, Phân tích Mười hai nhân duyên...
để thấy rõ giả tướng mà buông xả sự chấp trước
thế giới sinh diệt...
Ðối với các đối tượng tu Thiền quán kể
trên, có người chủ trương rằng chỉ hành Thiền quán sau
khi đắc Tứ thiền Sắc giới; cũng có người cho rằng trước
khi vào Tứ thiền, chỉ nên hành Thiền chỉ. Quan niệm như
thế là giới hạn, hẹp hòi và có phần lệch lạc.
Từ Tứ thiền thì pháp Quán có tác dụng lớn
hơn, nhờ Thiền định ấy mà tuệ giác của hành giả có
thể sinh khởi đủ để đốt cháy các lậu hoặc tham, sân
và vô minh. Nhưng thực ra, trước khi vào Sơ thiền, hành
giả vẫn nên hành Thiền quán để đối trị dục, tham;
từ Sơ thiền đến Tam thiền, Thiền quán giúp hành giả giác
tỉnh mạnh để đi ra khỏi Sơ, Nhị và Tam thiền để vào
Tứ thiền. Ở Vô sở hữu xứ, Thiền quán Tứ vô lượng tâm
giúp hành giả vượt qua khỏi Phi tưởng phi phi tưởng, đi
thẳng vào Diệt thọ tưởng định.
Ðiểm khó nhất trong tu tập Thiền quán là
chọn đối tượng tu thích hợp với căn cơ của hành giả,
và đề khởi Thiền quán đúng lúc để vận dụng thiện
xảo cùng với Thiền chi.
Những Sự Hỗ Trợ Cho Việc Ngồi Thiền, Hành
Thiền
Ðể cho việc ngồi Thiền, hành Thiền có kết
quả tốt, hành giả cần lưu ý đến một số công việc
phải làm để hỗ trợ cho việc hành Thiền chỉ và Thiền
quán:
- Hành giả nên xếp đặt cuộc sống thế nào
để giữ mình trong một nếp sống điều hòa, điều độ
ăn uống, làm việc, nghỉ ngơi và tu tập. Nếp sống này
giữ hành giả trong một tâm lý quân bình, thuận lợi cho
việc tu tập phát triển tâm.
- Các việc lễ sám, các niệm khởi sám giúp
đưa tâm lý hành giả trở về chỗ an tịnh, xóa đi
nhiều dao động của thân và tâm. Khi tâm an tịnh, ít dao
động, ít bị ngăn che thì hành giả dễ dàng đi vào các
canh giới Thiền hơn.
- Kham nhẫn là đức tính giúp hành giả
nhiếp niệm về an tịnh dễ dàng, loại bỏ được nhiều
sân tâm, đóng góp hữu ích cho việc tựu thành công phu
Thiền định, xả niệm.
- Khiêm tốn là một đức tính khác để
loại bỏ các chấp ngã, kiêu mạn, giúp hành giả dễ đi
vào chánh niệm tỉnh giác, loại bỏ được nhiều yếu
tố gây ra trạo cử, vô minh.
- Làm các công việc vừa kể là đã xả bỏ
một phần lớn các động tâm, ác tâm, sân tâm và hại tâm.
Khi vào ngồi Thiền, hành giả tiếp tục xả
dần các vọng động của thân và tâm. Ðộng lắng có nghĩa
là tịnh sinh, định sinh. Ví như bóng tối tan, có nghĩa là
ánh sáng hiện. Không thể có công phu nào để làm sinh định
cả. Tất cả công phu chỉ là việc làm lắng vọng động,
làm chìm vọng động, tan vọng động.
Về thân, hành giả ngồi kiết-già với lưng
thẳng đứng, để niệm trên một đối tượng trước mặt
và giữ thân thế nào ở trong tư thế nghỉ ngơi, các cơ hoàn
toàn được buông thả. Nếu các cơ căng thì thân nhiệt
sẽ nóng lên làm mất sự an tịnh của thân hành, gây động
hơi thở và động niệm.
Về tâm, chú chánh niệm tỉnh giác vốn đã là
công phu xả các vọng niệm. Hành giả tiếp tục hành xả tích
cực các sân tâm, dục tâm theo các phương thức đã trình bày
ở phần trước.
Ngoài các thời ngồi Thiền, hành giả thực hành
về tưởng Vô ngã, Vô thường và Khổ đau của các pháp,
đặc biệt là Vô thường. Hành giả hãy đặt niềm tin mãnh
liệt vào đối tượng Thiền quán này. Ðây là đối tượng
siêu tuyệt nhất của Thiền quán. Thế Tôn dạy: "Thấy
rõ Ba pháp ấn này (có nghĩa là thấy duyên sinh) là thấy pháp;
thấy pháp là thấy Phật".
Các kinh Nikàya, A-hàm và các kinh Ðại thừa
(Bắc tạng) thường nhấn mạnh đến Ba pháp ấn này. Ðiển
hình là kinh Kim Cương. Sau khi chỉ rõ thật nghĩa Bát-nhã
của các pháp, kinh đã kết thúc bằng bài kệ dạy hành
giả quán sát cái tướng Vô thường, không thật của các
pháp như là phương pháp hành trì để thể nhập thật lý Bát-nhã
ấy. Kệ dạy:
"Nhứt thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn, bào ảnh,
Như lộ, diệc như điển,
Ưng tác như thị quán".
(Hết thảy các pháp hữu vi, là như mộng
huyễn, đấy là nghĩa không thật. Như bọt nước, như sương
mai, như ánh chớp, đấy là nghĩa Vô thường).
Nhờ thấy rõ tướng Vô thường, tướng Khổ
đau, hành giả ly tham. Từ ly tham giải thoát phát khởi, và
tuệ giải thoát sinh. Chính tuệ giác giải thoát này thấy rõ
thật tướng Bát-nhã. Hành giả không thể đi theo ngỏ đường
nào khác. Không thể vào thật tướng mà không từ bỏ tham
ái, chấp thủ và vô minh.
Thấy trực tiếp Vô thường, hay thắng tri Vô
thường không phải là việc dễ dàng. Nếu sinh vào địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì vì si mê nặng nề mà không
thấy được, và vì quá khổ đau mà không tu được. Nếu
sinh về các cung trời, thì vì quá sung sướng mà khó hành
tinh tấn, nhẫn nhục; vì thọ mạng quá dài và ít bị đổi
thay nên khó thấy Vô thường, Vì thế, khi Thế Tôn nói "Vô
thường" thì chư Thiên nghe mà rung động tâm thức. Kinh Tương
Ưng II đã diễn đạt tuệ giác chứng ngộ Vô thường của
Thế Tôn như là một đại thần lực, đại uy lực của
Thế Tôn làm chấn động chư Thiên. Ðược làm người chưa
hẳn dễ giác ngộ Vô thường, vì tham ái và sân hận thường
che khuất tâm tánh. Cả đến khi nghe nói đến Vô thường,
nghe giảng giải Vô thường, con người chưa dễ gì khởi tín
tâm, mà còn sinh lắm nghi ngờ về hiệu quả đưa đến
giải thoát của nó: người ta tưởng tượng ra chân lý,
hoặc là hoàn toàn ở ngoài cuộc đời, hoặc chân lý phải
được đạt đến bằng sự chịu đựng hành khổ của
một nghìn thứ khổ đau,v.v...
Ðược sanh làm người đã vô cùng khó, mà
được gặp Phật pháp lại càng khó khăn hơn. Gặp Pháp mà
hiểu đúng nghĩa Vô ngã, Vô thường, Khổ đau còn khó hơn
nữa. Hiểu được nghĩa ấy của Pháp để phát khởi lòng
tin mà tu tập đúng Pháp thì quả thật vô vàn khó khăn. Ðấy
là chưa nói đến việc chứng ngộ Pháp. Nếu hành giả quan
niệm đi đến chân lý là khó khăn thì đấy là nghĩa khó
khăn cần được hiểu đúng đắn: khó khăn cần vượt qua,
và không phải là không thể vượt qua.
Tư duy về "Vô thường" ấy là hành Thiền quán
trong đời sống hàng ngày. Ðấy là hành Thiền định trong
bốn oai nghi.
Nếu ngoài thời gian ngồi Thiền mà hành giả
không hành Thiền quán Vô thường ấy thì kết quả hành
Thiền sẽ đến muộn.
Ngay sau khi Thế Tôn thị tịch, Tôn giả
Anurudha, người đứng ra lo việc hỏa thiêu Xá-lợi, đã nói
lên lời cảm thán này, đáng cho chúng ta trầm tư:
"Không phải thở ra vào,
Chính tâm trú chánh định,
Không tham ái tịch tịnh
Tu sĩ hướng diệt độ..." (Kinh Ðại Niết-bàn).
(Bấy giờ Tôn giả đã đắc Tam minh).
Con đường hành Thiền định chính thống là
pháp tu Tứ niệm xứ, hay niệm hơi thở vào hơi thở ra.
Mỗi bước đi tu tập là mỗi bước đi ra khỏi một số
phiền não, và đi vào các thoải mái của thân và của tâm.
Hành giả đi từng bước đi tin tưởng vào hạnh phúc, để
lại sau lưng những thất vọng, mộng mị và bóng tối của
cuộc đời. Ðấy là con đường đi vào chân lý tự do và
hạnh phúc, niềm khát vọng muôn thuở của con người.
Lịch sử của nhân loại là lịch sử đi tìm kiếm chân lý,
tự do và hạnh phúc đó. Nhưng nhân loại hầu như vẫn mãi
ở trên con đường, và mơ màng trong sự tìm kiếm của chính
mình. Ôn Như Hầu, nhà thơ của thế kỷ 18 của thi đàn
Việt Nam, đã cảm thán:
"Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm"
(Cung Oán Ngâm Khúc).
Còn sự tìm kiếm là còn lý do để phát
triển và tồn tại của các tư tưởng hệ. Chừng nào nhân
loại tỉnh ngộ, quay về với Tứ niệm xứ, chừng đó nhân
loại sẽ ngưng ngay vai trò của triết lý, khép lại cánh
cửa tư tưởng hệ. Tại đây, nếu giả định rằng con người
chấp nhận Thiền định là con đường dẫn đến hạnh phúc
và chân lý, thì sẽ liền xóa đi mọi cuộc bút chiến,
mọi tranh chấp tư tưởng, mọi cuộc chiến đẫm máu và
mọi sự phung phí quá nhiều tài sản và nhân mạng, và sẽ
mở ra được một phương trời mới đầy sáng sủa, đầy
nhân tính và đầy an lạc cho đời.
Tứ niệm xứ là niềm tin lớn nhất của thế
kỷ hai mươi và của những thế kỷ tiếp theo, trong việc xây
dựng con người và xã hội rất người.
Thiền Chỉ Và Thiền Quán
Trong Thiền định Phật giáo có hai hình thức
mà hành giả vận dụng khi tu tập Thiền gọi là Thiền
chỉ và Thiền quán.
"Thiền chỉ" dịch từ chữ Samatha (Pàli),
và "Thiền quán" dịch từ chữ Vipassana (Pàli).
Nếu ta đừng suy nghĩ hay tư duy, để tâm theo
dõi hơi thở vào ra, hay để tâm dừng trú trên một đối tượng,
với chánh niệm tỉnh giác, thì đây gọi là Thiền chỉ.
Nếu ta theo dõi một đối tượng và phân tích
hay tư duy trên đối tượng ấy, dù đối tượng ấy là hơi
thở hay Năm triền cái, Năm uẩn, Mười hai giới, Bốn đại,
Thất giác chi hay Tứ Thánh đế, thì đấy là ta đang hành
Thiền quán. Ðặc biệt là ta cần để tư duy hoạt động
trên cơ sở sự thật Duyên khởi (hay Duyên sinh, hoặc Khổ,
Vô thường - Vô ngã). Nếu ta tư duy mênh mang, không phân tích
sự vật theo Duyên sinh, thì đấy chỉ là tư duy mà không
phải là Thiền quán. Thiền quán luôn luôn bao hàm ý nghĩa
của Chánh tư duy.
Có nhiều người chủ trương ròng tu Thiền
chỉ hay ròng tu Thiền quán. Chủ trương như vậy là đi vào
hai thái cực, có tính cố chấp, và không đem lại kết
quả thật tốt cho việc tu tập Thiền định.
Trong Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tứ niệm
xứ, Tứ Như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi và Bát
Thánh đạo đều có đủ cả Thiền chỉ và Thiền quán.
Về Tứ niệm xứ: niệm thân, niệm thọ,
niệm tâm và niệm pháp - đặc biệt là về niệm - đều có
công phu Chỉ và Quán. Nói thật đúng về Tứ niệm xứ thì
phải nói rằng đây là pháp môn rất quân bình về Chỉ và
Quán.
Theo dõi các đối tượng và trú tâm trên các
đối tượng là thuộc Thiền chỉ. Quán tánh sanh diệt của
thân, thọ, tâm và pháp là thuộc về Thiền quán.
(Ở đây, "Quán" có nghĩa là "Nhìn", nhìn
thấy rõ tướng Duyên khởi của các hiện hữu, nhìn có tác
ý phân tích hiện hữu theo sự thật Duyên khởi, hay là phân
tích các hiện hữu theo sự thật Duyên khởi.)
Về Tứ như ý túc, tâm định là thuộc Thiền
chỉ, tư duy định là thuộc Thiền quán.
Niệm trong Ngũ căn, Ngũ lực và Niệm trong
Thất giác chi chính là Tứ niệm xứ, do đó có đủ Chỉ và
Quán. Chánh tư duy của Bát Thánh đạo là thuộc Thiền quán.
Chánh niệm chính là Tứ niệm xứ, có đủ
Chỉ và Quán.
Thông thường, Chỉ thì thuộc tỉnh, Quán
thuộc động. Pháp tu tập Thiền định của Phật giáo là
một quá trình chuyển đổi tâm lý dựa trên nguyên tắc đối
trị. Mỗi khi tâm lý thụ động, hôn trầm thì hành giả
cần vận dụng tầm và tứ tâm sở, hay vận dụng Thiền quán
để đối trị. Khi tâm lý quá năng động hay trạo cử, thì
hành giả vận dụng Thiền chỉ để đối trị. Việc đối
trị giữ ở mức "trung đạo", vừa phải. Nếu Thiền quán
quá mức thì ngay sau khi dẹp hôn trầm xong, hành giả sẽ rơi
vào trạo cử; nếu Thiền chỉ quá mức thì ngay sau khi đối
trị trạo cử xong, hành giả sẽ rơi vào hôn trầm. Biết
tỉnh giác tu tập Chỉ và Quán song chiếu, đúng thời và đúng
độ là thiện xảo.
Bắt đầu vào ngồi Thiền, nếu hành giả
thấy tâm lý nghiêng về năng động thì nên hành Thiền
chỉ trước, nếu tâm lý nghiêng về thụ động thì hành
Thiền quán trước. Nếu tâm lý quân bình thì có thể đề
khởi Chỉ hoặc Quán. Lúc nào hành giả nghi ngờ, không
thấy rõ tâm mình nặng về động hay tĩnh, thì cứ hành
niệm hơi thở vào, hơi thở ra.
Khi dạy về tu tập Thất giác chi, Thế Tôn
dạy tu Trạch pháp giác chi, Tinh tấn giác chi và Hỷ giác
chi khi tâm lý thụ động; tu Khinh an giác chi, Ðịnh giác chi
và Xả giác chi khi tâm lý năng động. Niệm giác chi thì tu
tập thích ứng với mọi trạng thái tâm lý của hành giả.
Khi hành giả vào được Tứ thiền, bấy giờ
việc hành Thiền quán được vận dụng thường xuyên không
phải để đối trị tâm lý thụ động, mà là để trừ
tham ái và chấp thủ, trừ các kiết sử, lậu hoặc.
Khi lậu hoặc đã được hoàn toàn đoạn
trừ, thì việc hành trì Thiền không phải là để đối
trị các tâm lý năng động hay trạo cử, mà là để được
hiện tại lạc trú, để được thân khỏe và mắt khỏe.
Cũng có một số căn tính của hành giả thích
hợp với Thiền chỉ hơn là Thiền quán, một số thích
hợp với Thiền quán hơn Thiền chỉ. Trong trường hợp này,
hành giả sẽ nặng về Chỉ, hoặc Quán. Tuy nhiên, cả hai
Chỉ và Quán luôn luôn cần được phối hợp trong việc tu
tập Thiền định để dễ đi sâu vào Thiền định hơn.
Giản dị nhất, hành giả chỉ cần nhớ rằng, Quán đề
khởi lúc tỉnh, và Chỉ đề khởi lúc động. Chỉ có chánh
niệm tỉnh giác loại bỏ tham ưu là cần có mặt thường
xuyên.
Thiền Cảnh và Thiền Tâm.
Nỗ lực đầu tiên của người tu tập Thiền
định là chuyển đổi Năm triền cái thành Năm Thiền tâm
(tầm, tứ, hỷ, lạc, và nhất tâm - xả).
Khi trạo cử mất thì lạc sinh, và ngược
lại. Khi dục lặn thì xả và nhất tâm sinh, và ngược
lại. Khi sân dịu thì hỷ sinh và ngược lại. Khi nghi
triền cái mất thì Tứ tâm sở khởi và ngược lại. Tầm,
tứ, hỷ, lạc và nhất tâm là năm Thiền tâm (hay Thiền
chi) của Sơ thiền. Khi hành giả nhiếp tầm và tứ chỉ còn
lại hỷ, lạc, và nhất tâm, thì liền vào cảnh giới của
Nhị thiền. Khi hỷ Thiền chi được nhiếp thì hành giả vào
Tam thiền với sự có mặt của lạc, và nhất tâm. Từ bỏ
lạc, hành giả chỉ còn lại Thiền xả và nhất tâm thì
bấy giờ hành giả vào cảnh giới Tứ thiền.
Thiền chi xả và nhất tâm tiếp tục làm cơ
sở để tu tập Tứ không định (bốn Thiền của Vô sắc
giới). Tại đây nếu hành giả vận dụng tâm nhuần
nhuyễn của Tứ thiền vào tưởng: "Không gian là vô biên",
thì sẽ đắc Không vô biên xứ; nếu tiếp tục rời khỏi
tưởng không gian vô biên mà vào tưởng "Thức là vô biên"
thì hành giả sẽ vào Thức vô biên xứ; nếu tiếp tục
rời khỏi tưởng thức là vô biên và trú niệm vào tưởng
"Không có gì cả" (hay không có gì để có), thì hành giả
sẽ đắc Vô sở hữu xứ; nếu rời Vô sở hữu xứ tưởng,
trú niệm vào tưởng "Không có tưởng cũng không phải không
có tưởng" thì hành giả sẽ đắc Phi tưởng phi phi tưởng
xứ.
Nếu tại Phi tương phi phi tưởng xứ, hành
giả đủ tỉnh giác thấy rõ nguy hiểm của cõi Thiền này
mà nhiếp niệm đi ra khỏi Phi tưởng phi phi tưởng, thì hành
giả sẽ vào được Diệt thọ tưởng định. Ðây là cảnh
giới Thiền định cao nhất. Tại đây, các lậu hoặc tham,
sân, si được hoàn toàn đoạn trừ, và chánh trí giải thoát
phát khởi biết rằng đã giải thoát.
Ðặc biệt Nikàya và A-hàm thường chỉ dạy hành
giả tu tập đến Tứ thiền Sắc giới và từ đó tu tập
Thiền quán để đoạn tận lậu hoặc. Thỉnh thoảng trong
hai tạng Kinh này đề cập việc lẫn tránh vào Phi tưởng
phi phi tưởng xứ định, bởi vì, ở cảnh giới Thiền này,
ý thức hoạt động yếu ớt nên việc giác tỉnh và vận
dụng Thiền quán khó thực hiện. Tương tự như thế đối
với cảnh giới Vô tưởng của Tứ thiền, hành giả cần
thường xuyên cảnh giác để tránh rơi vào hai cảnh giới
Thiền ấy. Tại Vô sở hữu xứ định, Nikàya và A-hàm
dạy hành Tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả) để băng
ngang qua Phi tưởng phi phi tưởng mà vào Diệt thọ tưởng
định.
Khi hành giả chưa tận trừ các lậu hoặc thì
việc trú tâm vào các cảnh Thiền sắc giới và Vô sắc
giới của hành giả biểu hiện khác nhau. Nhưng, sau khi đã
đoạn trừ hết lậu hoặc thì với xả niệm và nhất tâm,
dù trú ở cảnh giới Thiền nào, hành giả đều là thật
trú vào Không tánh. (Kinh Tiểu Không, Trung Bộ Kinh III).
Việc vào một cảnh giới Thiền, an trú trong
cảnh giới Thiền ấy và đi ra khỏi cảnh giới Thiền ấy
biểu hiện công phu thiện xảo khác nhau giữa các hành
giả. Có người thiện xảo vào Thiền mà không thiện xảo
trú và ra Thiền; có người thiện xảo trú Thiền mà không
thiện xảo vào và ra Thiền; có người thiện xảo cả ba
việc vào, trú và ra. Tất cả đòi hỏi công phu thực tập
Thiền định mà không thể có sẵn ở Giới hay Tuệ. (Theo Tương
Ưng III, Tương Ưng Thiền),
Cũng vì có sự kiện thiện xảo về Thiền định
và thiện xảo về trí tuệ đoạn trừ các lậu hoặc khác
nhau, nên hàng đệ tử của Thế Tôn chứng đắc nhiều
cấp độ khác nhau: có những vị có tâm giải thoát mạnh mà
nhẹ về tuệ giải thoát; có những vị mạnh về tuệ
giải thoát mà nhẹ về tâm giải thoát.
Với những vị đệ tử tu tập nhuần nhuyễn
về định thì có tâm giải thoát cao và chứng đắc được
Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông và Thần túc thông. Ðây là
kết quả của Thiền chỉ. Với những vị nương vào các định
đã chứng đắc tu tập nhuần nhuyễn Thiền quán thì sẽ
đưa đến chứng đắc Túc mệnh thông, Thiên nhãn thông và
Lậu tận thông. Ba thông này còn được gọi là Ba minh.
Cũng có nhiều vị đệ tử do nhờ có công phu
tu tập Thiền định từ các kiếp trước, nay chỉ tu Thiền
quán mà đoạn trừ hết các lậu hoặc và đắc A-la-hán
quả. Quả vị A-la-hán này gọi là A-la-hán khô
(hay Khô đầu A-la-hán). Các vị này thì nhẹ về định. Tuy
nhiên, nếu cần, các vị chỉ cần nhiếp tâm trong thời
gian ngắn thì sẽ dễ dàng chứng đắc các cảnh giới
Thiền muốn chứng đắc.
* * *
Con Ðường Thiền Ðịnh Mà Thế Tôn Ði Qua
(Tăng Chi III-A, 411-419).
Trước khi giác ngộ, Thế Tôn nhận thấy con
đường xuất ly là an tịnh, nhưng lại không cảm thấy
phấn khởi. Khi Thế Tôn suy nghĩ đến cùng về sự nguy
hiểm của các dục thì sự hứng khởi của tâm xuất ly
khởi sinh, và tâm của Thế Tôn thấy "Ðây là an tịnh".
Sau đó Thế Tôn an trú Sơ thiền. Trong khi trú Sơ thiền thì
các tưởng đi đôi với dục vẫn có mặt; bấy giờ các tưởng
này trở thành bệnh hoạn, nó cũng gây ra đau khổ.
Thế Tôn liền ngưng tầm và tứ, và chứng
Nhị thiền; nhưng Thế Tôn lại không thấy hứng khởi và
giải thoát. Sau đó, Thế Tôn suy nghĩ đến cùng về sự
nguy hiểm của tầm và tứ thì Thế Tôn liền thấy hứng
khởi, giải thoát, biết "Ðây là an tịnh". Nhưng khi trú
Nhị thiền thì các tưởng cùng đi với tầm, tứ vẫn có
mặt; bấy giờ chính các tưởng này là bệnh.
Thế Tôn liền rời khỏi hỷ và chứng đắc
Tam thiền. Thoạt đầu Thế Tôn không cảm thấy hứng khởi
và giải thoát của Tam thiền, Ngài liền suy tư đến cùng
sự nguy hiểm của hỷ thì Thế Tôn liền cảm thấy hứng
khởi, an tịnh và giải thoát, biết rằng "Ðây là an tịnh".
Sau một thời gian trú Tam thiền, các tưởng đi đôi với
hỷ vẫn xuất hiện; bấy giờ chính các tưởng này là
bệnh.
Thế Tôn liền từ bỏ hỷ, từ bỏ lạc và
chứng đắc Thiền thứ tư. Buổi đầu trú ở Thiền này,
Thế Tôn không cảm thấy hứng khởi, an trú hay giải thoát.
Sau đó, Thế Tôn tư duy đến sung mãn về sự nguy hiểm
của lạc thì Ngài cảm thấy hứng khởi, an tịnh và giải
thoát của xả niệm trú (Tứ thiền), biết rằng "Ðây là
an tịnh". Trong khi an trú Tư thiền, xả lạc, xả khổ, thì
các tưởng đi đôi với xả lạc vẫn hiện hành; bấy giờ
đối với Ngài, các tưởng này là bệnh.
Rồi Thế Tôn đi ra khỏi các Sắc tưởng,
chấm dứt hoàn toàn các Sắc tưởng, không tác ý đến các
tưởng sai biệt. Bấy giờ Thế Tôn chứng đắc "Không vô
biên xứ định". Vào lúc đầu của sự chứng đắc Thiền
cảnh này, Thế Tôn không cảm thấy hứng khởi, và không có
giải thoát đối với Thiền này, Thế Tôn liền suy nghĩ đến
nguy hiểm của các Sắc, thấy nguy hiểm này đến cùng độ
thì Thế Tôn liền cảm thấy hứng khởi, an tịnh và giải
thoát đối với Không vô biên xứ, biết rằng "Ðây là an
tịnh". Sau một thời gian an trú trong Không vô biên xứ định,
các tưởng cùng đi với các Sắc vẫn còn hiện hữu. Thế
Tôn thấy đây là chứng bệnh,như là khổ đau phát khởi
ở người đang sung sướng.
Thế Tôn lại từ bỏ hoàn toàn Không vô biên
xứ định và chứng đắc "Thức vô biên xứ định"
(Thức là vô biên). Vào lúc ban đầu của sự chứng đắc này,
Thế Tôn không cảm thấy hứng khởi, không cảm thấy an
tịnh và giải thoát đối với Thức vô biên xứ. Ngài bèn
tư duy đến sự nguy hiểm của Không vô biên xứ định,
thấy được sự sung mãn về sự nguy hiểm này, Ngài liền
thấy hứng khởi, an tịnh và giải thoát đối với Thức vô
biên xứ định. Sau một thời gian trú trong Thức vô biên
xứ định, các tưởng về Không vô biên xứ vẫn hiện hành,
đây là chứng bệnh đối với Ngài, như là nỗi khổ đau
khởi lên giữa lúc đang sung sướng.
Thế Tôn lại từ bỏ hoàn toàn Thức vô biên
xứ định và đạt được "Vô sở hữu xứ định" (biết
rằng không có gì cả). Vào lúc ban đầu của sự chứng đắc
thiền này, Ngài không cảm thấy phấn khởi, an tịnh và
giải thoát, Ngài bèn tư duy đến sự nguy hiểm của Thức vô
biên xứ định cho đến khi thấy sung mãn sự nguy hiểm
của cảnh giới Thiền đó, Ngài mới cảm thấy hứng
khởi, an tịnh và giải thoát đối với Vô sở hữu xứ.
Sau một thời gian an trú trong Thiền Vô sở hữu xứ này, các
tưởng về Thức vô biên xứ vẫn hiện hành như là hiện hành
của khổ đau đối với người đang sung sướng. Với Ngài,
đây là một chứng bệnh cần được loại bỏ.
Thế Tôn lại ra đi, ra đi nữa. Ngài từ bỏ
hoàn toàn, chấm dứt hoàn toàn tưởng Vô sở hữu, và
chứng đắc "Phi tưởng phi phi tưởng xứ định". Dù
biết rằng "Ðây là an tịnh", nhưng lúc đầu Ngài vẫn không
thấy hứng khởi, không an tịnh hay không giải thoát đối
với Thiền này. Ngài chuyển qua tư duy về sự nguy hiểm
của Vô sở hữu cho đến khi thấy sung mãn sự nguy hiểm này
thì sự cảm nhận hứng khởi, an tịnh và giải thoát đối
với "Phi tưởng phi phi tưởng định" đến với Ngài. Sau
một thời gian trú Phi tưởng phi phi tưởng, các tưởng có
mặt của Vô sở hữu lại khởi lên như là khổ đau khởi
lên với người đang sung sướng. Ðối với Ngài, đây là
một chứng bệnh cần được đoạn trừ.
Rồi Thế Tôn lại ra đi nữa, từ bỏ hoàn toàn
Phi tưởng phi phi tưởng định và chứng đắc "Diệt thọ
tưởng định". Dù có biết rằng "Ðây là an tịnh", trong
buổi đầu chứng đắc Thiền này, Thế Tôn vẫn không có
hứng khởi, an trú và giải thoát đối với Thiền ấy. Ngài
bèn suy nghĩ đến nguy hiểm của Phi tưởng phi phi tưởng
xứ định, cho đến khi thấy rõ sự sung mãn của sự nguy
hiểm ấy, Ngài thưởng thức được lợi ích của Diệt
thọ tưởng định với tâm hứng khởi, an trú và giải thoát.
Thế Tôn thấy "Ðây là an tịnh, thật an tịnh". Sau một
thời gian an trú ở Diệt thọ tưởng định, với trí tuệ
Thế Tôn thấy rằng, tất cả các lậu hoặc đều đi đến
tận diệt.
Sau khi thuận thứ và nghịch thứ chứng đắc,
an trú và xuất khởi nhuần nhuyễn chín cảnh giới Thiền
trên, Thế Tôn mới tuyên bố Ngài đã chứng đắc "Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác".
Trên đây là lộ trình tu chứng chín cảnh
giới định của Thế Tôn. Ðấy là lộ trình liên tục ra
đi, liên tục từ bỏ những gì chứng đắc, liên tục giác
tỉnh, biết rằng các Thiền định (từ Sơ thiền đến Phi
tưởng phi phi tưởng định) là các pháp do nhân duyên sinh,
là hữu vi, là vô thường, là khổ đau, liên tục khởi lên
ưu tâm tìm vào giải thoát chân thực. Ưu tâm ở đây lại
là cần thiết để không bị dính mắc, đắm trước vào các
Thiền cảnh, là sức mạnh của sự từ bỏ hết thảy các
pháp bị tác thành. Ưu tâm ở đây chính là sự có mặt
của tuệ giác, của khả năng thấy sự vật như thật.
Chúng ta có thể rút ra từ kinh nghiệm của
Thế Tôn một bài học vô vàn quý giá rằng: nếu hành giả
luôn luôn giữ chánh niệm tỉnh giác trên ý nghĩa như thật
của các pháp hữu vi: Vô ngã, Vô thường, Khổ đau thì hành
giả sẽ vượt nhanh qua được các cảnh giới Thiền định,
dễ dàng xuất khởi khỏi các Thiền cảnh để hướng về
"Diệt thọ tưởng định", nơi mà các lậu hoặc sẽ hoàn
toàn được đoạn trừ, các cảm thọ lạc, khổ và các tưởng
đi đến các cảm thọ lạc, khổ sẽ hoàn toàn được
tịnh chỉ. Chúng ta cũng có thể rút ra một bài học kỳ
diệu khác rằng: tinh hoa của việc tu tập Thiền nằm ở
chỗ an trú trong chánh niệm về Khổ, Vô thường, Vô ngã
của các pháp để xả ly tham ái và chấp thủ. Sự giải
thoát khổ đau có mặt ngay trong sự xả ly đó.
Sự từ bỏ đến ngay sau khi thấy rõ sự nguy
hiểm của những gì đang ràng buộc chúng ta, đang trói
buộc tâm thức chúng ta; sự chứng đắc một cảnh giới
Thiền định cao hơn lại đến ngay sau sự từ bỏ cảnh
giới đang là; sự an trú cảnh giới chứng đắc là kết
quả của sự thấy sâu sắc cái nguy hiểm của cảnh giới
vừa đi ra. Cứ thế, lộ trình tu tập giải thoát là sự
trải qua của những quá trình thấy rõ khía cạnh vô thường,
nguy hiểm và khổ đau của các pháp, và sự từ bỏ những
gì được làm ra, được tác thành. Hành giả không mệt
mỏi, đi những bước đi đầy giác tỉnh, hứng khởi, an
tịnh và giải thoát. Con đường phải đi này là con đường
Thiền định chính thống của Phật giáo. Khác đi là đường
đi của ngoại đạo.
Từ bỏ, hay buông xả trong Thiền định của
Phật giáo đồng nghĩa với sự an trú trong chánh niệm
tỉnh giác và đồng nghĩa với an tịnh, giải thoát của
Thiền định. Nói khác đi, buông xả là buông xả tham ái và
chấp trước mọi pháp được tác thành, được làm ra.
Nếu có ai chủ trương giữ tâm Không (hay Không
tâm) khi tu tập Thiền định của đạo Phật, thì phải
hiểu tâm Không chính là chánh niệm tỉnh giác rời xa mọi
tham ái, chấp trước ở đời. Hành giả hành Thiền định
Phật giáo thì không có mơ màng chờ đợi gì ở cách thở
hay thế ngồi hoặc bất cứ một kỹ thuật tu tập nào,
ngoại trừ việc hàng phục chính vọng tâm của mình.
Chúng ta phải trở về con đường Thiền định của Thế Tôn.
Chân lý và con đường về chân lý chỉ được sáng ở dưới
cội Bồ-đề, mà không phải là những nơi nào khác. Tại
đó, chân lý sẽ rực sáng một lần và sẽ rực sáng mãi mãi.
Ðấy là nơi quy hướng của những ai tự nhận mình là
Phật tử, dù đang ở phương hướng nào trên trái đất.
Tại đấy, rực sáng hào quang của Duyên khởi và Tứ niệm
xứ, và hào quang đó vẫn còn tỏa sáng ở mốc điểm phân
ranh giữa sanh tử và giải thoát, giữa con đường chánh và
con đường tà.
Hướng về Duyên khởi và Tứ niệm xứ là
thắp sáng giáo lý của Thế Tôn giữa cuộc đời này. Chúng
ta hãy lắng nghe lời dạy sau đây của Thế Tôn về nhơn
duyên của diệu pháp không được tồn tại lâu dài, hay
được tồn tại lâu dài:
"Này Bà-la-môn, do Bốn niệm xứ không được
tu tập, không được làm cho sung mãn sau khi Như Lai nhập
diệt, nên diệu pháp không tồn tại lâu dài. Do Bốn
niệm xứ được tu tập, được làm cho sung mãn,này Bà-la-môn,
sau khi Như Lai nhập diệt, diệu pháp được tồn tại lâu
dài". (Tương Ưng V, tr. 183).
Cho đến đây, chúng ta có một kết luận rõ ràng
là vấn đề chủ yếu của một giáo hội Tăng-già hưng
thịnh và Phật giáo hưng thịnh hay tồn tại, chính là vấn
đề học hỏi Phật pháp và tu tập Giới, Ðịnh, Tuệ của
các Phật tử xuất gia cũng như tại gia. Các vấn đề khác
chỉ là thứ yếu. Thời đại của một xã hội Phật giáo
hưng thịnh như dưới thời vua A-dục (Asoka) phải là thời
đại mà quần chúng Phật tử học hỏi nhiều về giáo lý
và thực hành giáo lý, đặc biệt là Thiền định (Tứ
niệm xứ).
Cho đến khi nào mà các Thiền viện được phát
triển Thiền định mạnh hơn các lãnh vực gọi là "tín ngưỡng"
của Phật giáo, thì cho đến khi ấy, chúng ta mới có niềm
tin lạc quan rằng Phật giáo hưng thịnh, hay đang đi vào hưng
thịnh.
Phải chăng cần chuyển công phu thực hành Tứ
niệm xứ thành buổi công phu sáng hay chiều của hàng xuất
gia, và thành công phu thay thời công phu Tịnh độ của hàng
Phật tử tại gia để diệu pháp tồn tại lâu dài hơn ở
đời?
Ðó là câu hỏi mà người Phật tử cần
trầm tư ở cuối phần tìm hiểu giáo lý Tứ niệm xứ./.
-oOo-
Ðoạn
trước
|
Mục lục | Bài
kế
--- o0o ---
Trình bày : Nhị
Tường
Chân thành cảm ơn Đạo hữu Bình Anson đã gởi tặng
phiên bản điện tử tập sách này
( Trang nhà Quảng Đức, 01/2002)
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |
|
|