Giới, được hiểu một cách giản dị là bước
đầu tu tập đưa vào Ðịnh. Ðịnh là bước tu tập thứ
hai dẫn đến Tuệ. Tuệ là bước đi giải thoát sau cùng.
Thực ra, ở mặt giải thoát, khó mà phân định giới hạn
giữa Giới, Ðịnh và Tuệ, và khó mà phân ly Giới, Ðịnh,
Tuệ. Trong Giới và Ðịnh vốn có Tuệ, trong Giới và Tuệ
vốn có Ðịnh, và trong Ðịnh và Tuệ giải thoát vốn có
sự viên mãn của Giới. Cũng khó mà xác định cấp độ
giải thoát cao thấp giữa Giới, Ðịnh, Tuệ khi mà một
vị trì Giới thì đắc A-na-hàm quả, trong khi một vị tu Ðịnh
và Tuệ thì chỉ chứng đắc Tu-đà-hoàn quả. Nhưng chỉ
khi nào Giới, Ðịnh, Tuệ được hành đến Ba-la-mật thì
bấy giờ được gọi chung một quả vị là Vô Thượng Chánh
Ðẳng Giác (theo Kinh Kim Cang Bát-nhã).
Tuy nhiên, ở mặt hình thức trình bày, chúng
ta có thể phương tiện phân loại giáo lý thành từng nhóm,
nghiêng nặng về Tuệ, hoặc nổi bật sắc thái Ðịnh,
hoặc nhấn mạnh về Giới. Theo tinh thần đó, các giáo lý
Duyên khởi, Niết-bàn được xếp vào nhóm Tuệ; Ba mươi
bảy phẩm trợ đạo của Ðạo đế được xếp vào nhóm
Ðịnh, Giới bổn Patimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa) và các giáo
lý về hộ trì các căn thì thuộc về Giới.
Chương Pháp Bảo này sẽ được trình bày theo
thứ tự Tuệ, Giới và Ðịnh như thứ tự của Tuệ uẩn,
Giới uẩn và Ðịnh uẩn được Thế Tôn trình bày trong Bát
Thánh đạo.
Về giáo lý phát triển Tuệ, Duyên khởi là giáo
lý mà từ đó Thế Tôn giác ngộ Vô Thượng Chánh Ðẳng Giác
dưới cội Bồ-đề; Tứ đế là giáo lý mà Thế Tôn
thuyết giảng lần đầu (Sơ chuyển Pháp luân tại Lộc
Uyển) cho năm huynh đệ Tôn giả Kiều-trần-như; Vô ngã là
thời Pháp thứ hai cũng được giảng tại Lộc Uyển cho năm
huynh đệ của Tôn giả Kiều-trần-như sau khi nghe Tứ đế
mà chưa đoạn trừ hết lậu hoặc. Các giáo lý này sẽ
được lần lượt trình bày trước tiên, như là giáo lý cơ
bản nhất./.
uyên
khởi là giáo lý mà từ đó Thế Tôn giác ngộ Vô Thượng
Bồ-đề. Từ đấy, Thế Tôn được Trời, Người tôn xưng
với mười hiệu Như Lai. Không có một sử liệu nào, cũng
không có một bản Kinh nào nói khác đi về nội dung chứng
ngộ đó của Thế Tôn.
Kinh Tương Ưng Nhân Duyên (Tương Ưng Bộ Kinh
II; Tập 12, 16, Ðại 2, 85a), Kinh Phật Tự Thuyết (Udàna -
Tiểu Bộ Kinh I, Bản dịch của HT. Minh Châu 1982), Kinh Ðại
Bổn (Trường Bộ Kinh III) và Kinh Ðại Duyên (Trường Bộ
Kinh III) là các Kinh bàn rõ về giáo lý Duyên khởi.
Theo Kinh Tương Ưng Nhân Duyên (Tương Ưng Bộ
Kinh II), Thế Tôn Tỳ-bà-thi (Vipassi), sáu Thế Tôn tiếp theo
Thế Tôn Tỳ-bà-thi trong quá khứ, Thế Tôn Thích-ca-mâu-ni và
cả chư Thế Tôn trong vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng
Bồ-đề từ giáo lý Duyên khởi.
Tại sao giác ngộ Duyên khởi là giác ngộ
tối thượng? - Nếu không muốn nói là "Pháp nhĩ như thị"
(Pháp vốn như vậy) thì câu trả lời giản dị nhất là
Duyên khởi nói lên thực tính của các pháp. Thực tính ấy
là Duyên sinh tính hay Vô ngã tính. Trung Bộ Kinh I, số 28; Tương
Ưng III, tr. 144 và Tiểu Bộ I, tr. 48 chép lời Thế Tôn: "Ai
thấy Duyên khởi là thấy Pháp. Ai thấy Pháp là thấy Phật
(Ta)". Thấy Phật quả là sự giác ngộ tối thượng.
Nếu đi vào phân tích giáo lý, thì từ giáo lý
Duyên khởi ta thấy rõ vô ngã tính của các pháp. Vô ngã là
giáo lý độc đáo nhất của Phật giáo, độc đáo nhất
của lịch sử Tôn giáo và tư tưởng của nhân loại, làm
nền tảng chủ yếu cho các giáo lý Bắc tạng và Nam tạng.
Giữa khi sáu mươi hai học thuyết Ấn Ðộ
chấp ngã và ngã sở, giữa khi nhân loại chấp thủ ngã và
ngã sở, bị chìm sâu vào vòng sinh tử khổ đau, thì tiếng
nói Duyên sinh Vô ngã phải là tiếng nói của giác ngộ,
giải thoát khổ đau.
Duyên khởi là gì? Thế Tôn định nghĩa: "Do vô
minh, có hành sinh; do hành, có thức sinh; do thức, có danh
sắc sinh; do danh sắc, có lục nhập sinh; do lục nhập, có xúc
sinh; do xúc, có thọ sinh; do thọ, có ái sinh; do ái, có thủ
sinh; do thủ, có hữu sinh; do hữu, có sinh sinh; do sinh, có lão
tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh, hay toàn bộ Khổ uẩn sinh.
Ðây gọi là Duyên khởi (hay Duyên sinh)". (Tương Ưng Bộ
Kinh II, tr. 1-2).
"Do đoạn diệt tham ái, vô minh một cách hoàn
toàn, hành diệt; do hành diệt nên thức diệt; v.v.... lão
tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ
Khổ uẩn đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, như vậy là đoạn
diệt" (Ibid. tr. 1-2).
Khi Mười hai nhân duyên sinh khởi thì đồng
nghĩa với toàn bộ Khổ uẩn khởi. Khi Mười hai nhân duyên
diệt hay gọi là Mười hai nhân duyên đoạn diệt thì đồng
nghĩa với toàn bộ Khổ uẩn đoạn diệt. Tất cả đó
gọi là Duyên khởi, là sự thật về sự có mặt của các
pháp, đã được Thế Tôn xác nhận: "Pháp Duyên khởi ấy,
dù có Như Lai xuất hiện hay không xuất hiện, an trú là
giới tánh ấy, pháp quyết định tánh ấy, y duyên tánh
ấy. Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, chứng đạt định lý
ấy. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, chứng đạt, Như Lai tuyên
bố, tuyên thuyết, khai triển, khai thị, phân biệt, minh
hiển, minh thị". Ngài dạy: "Duyên vô minh, này các
Tỷ-kheo, có các hành, v.v.... Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở
đây là như tánh, bất hư vọng tánh, bất dị như tánh, y
duyên tánh ấy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Duyên khởi".
(Ibid., tr.31).
Về bốn danh từ nói về lý Duyên khởi ở trên,
được Tập Sớ giải thích như sau: lý Duyên sinh này trú như
vậy, không có một sanh, già, chết, v.v.... nào không có duyên
sinh (Paccaya). Do duyên nên có các pháp khởi lên, tồn tại,
do vậy nên gọi là Pháp trú tánh ấy (Dhammatthitata). Các duyên
ra lệnh hay an trú các pháp, do vậy được gọi là pháp
quyết định tánh. Các duyên của sanh già v.v..... là các duyên
đặc biệt gọi là y duyên tánh. Thế nào là duyên sinh pháp
(hay pháp do duyên sinh)?
- "Gọi là duyên sinh pháp là các pháp được
tác thành, hữu vi, biến hoại, tan rã, đoạn diệt, vô thường".
(Ibid, tr. 31).
Trong kinh Phật Tự Thuyết (Tiểu Bộ I, tr.
291), nguyên lý Duyên khởi đã được Thế Tôn tóm tắt:
Do cái này có mặt nên cái kia có mặt.
Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt.
Do cái này sinh nên cái kia sinh.
Do cái này diệt nên cái kia diệt.
Trong kinh Ðại Duyên (Trường Bộ III), khi Tôn
giả A-nan ca ngợi giáo lý Duyên khởi thâm thúy, thì Thế Tôn
lại nhấn mạnh hơn: "Này Ananda, chính vì không giác ngộ,
không thâm hiểu giáo pháp Duyên khởi này mà chúng sanh
hiện tại bị rối loạn như một tổ kén, rối ren như
một ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaja, không
thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sinh tử".
(tr. 56).
Ðể hiểu rõ Duyên khởi hơn, chúng ta cần đi
vào ý nghĩa của từng chi phần trong Mười hai nhân duyên, và
đi vào một số vấn đề được đặt ra với Duyên khởi.
- Lão tử (Jaràmarana): "Cái gì thuộc các loài
chúng sinh bị già, yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da
nhăn, tuổi thọ lớn, các căn chín muồi thì gọi là già. Cái
gì thuộc các loài chúng sinh bị từ bỏ, hủy hoại, tiêu
mất, các uẩn tàn lụn, thân thể vứt bỏ, tử vong thì
gọi là chết". (Ibid, tr. 3).
- Sinh (Jàti): "Cái gì thuộc các loài chúng
sinh bị sanh, xuất sinh, giáng sinh, đản sinh, xuất hiện các
uẩn, thành tựu các xứ thì gọi là sinh" (Tương Ưng II,
tr. 3).
- Hữu (Bhava): "Dục hữu, sắc hữu và vô
sắc hữu, gọi là hữu". (Tương Ưng II, tr. 3).
- Thủ (Upàdàna): "Có bốn thủ: dục thủ,
kiến thủ, giới cấm thủ và ngã luận thủ. (Ibid, tr. 3).
- Ái (Tanhà): "Sắc ái, thanh ái, hương ái,
vị ái, xúc ái, pháp ái - hay: dục ái, sắc ái và vô sắc
ái". (Ibid, tr. 3).
- Thọ (Vedana): "Có sáu thọ: thọ do nhãn xúc
sinh, thọ do ..., và thọ do ý xúc sinh". (Ibid, tr. 3).
- Xúc (Phassa): "Có sáu xúc: nhãn xúc, nhĩ xúc,
tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc và ý xúc". (Ibid, tr. 3).
- Sáu xứ (Chabbithàna): "Gồm sáu nội xứ (nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý căn) và sáu ngoại xứ (sắc,
thanh, hương, vị, xúc và pháp)". (Ibid, tr. 4).
- Danh sắc (Nàma-rùpa): "Danh gồm xúc, tác ý,
thọ, tưởng và tư (có nơi trình bày Danh gồm có thọ, tưởng,
hành và thức uẩn). Sắc là tứ đại và các pháp do tứ đại
sanh". (Ibid, tr. 4).
- Thức (Vinnàna): "Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ
thức, thiệt thức, thân thức và ý thức". (Ibid, tr. 4).
- Hành (Sankhàra): "Gồm có thân hành, khẩu hành
và ý hành".
- Vô minh (Avijjà): "Không hiểu rõ Tứ đế
gọi là vô minh (Tương Ưng II, tr. 4). Có thể phát biểu cách
khác rằng, không hiểu Duyên khởi, Vô ngã là vô minh".
Khi Thế Tôn giảng về Duyên khởi, Tôn giả
Moliya Phagguna hỏi, "Bạch Thế Tôn, ai cảm xúc? Ai thọ? Ai
khát ái? Ai chấp thủ?" (Tương Ưng II, tr. 15-16). Thế Tôn
dạy: "Như Lai chỉ dạy xúc, thọ, ái, thủ...., chớ không
dạy người nào xúc, thọ,...., nên các câu hỏi đó không
phù hợp với định lý Duyên khởi. Câu hỏi phù hợp lý
Duyên khởi phải là: Do duyên gì xúc sinh, thọ sinh? v.v...."
(Tương Ưng II, tr. 16).
Ngoại đạo lõa thể Kassapa (Tương Ưng II, tr.
22) và ngoại đạo du sĩ Timbakura (Tương Ưng II, tr. 26) đặt
vấn đề với Thế Tôn rằng: "Có phải khổ do mình làm
ra, hay do người khác làm ra? Hay do mình và người khác làm
ra? Hoặc khổ do tự nhiên sinh?" Thế Tôn đã dạy nghĩa
Trung đạo: "Khổ do Duyên sinh (khổ do xúc sinh)."
Tương tự, đối với mười một chi nhân duyên
còn lại đều do duyên mà sinh. Hễ cái gì do duyên sinh thì
là hữu vi, vô thường, đoạn diệt, biến hoại, không
thật.
Một hôm, Thế Tôn cắt nghĩa với Tôn giả
Kaccayana (Tương Ưng II, tr. 20) rằng, ai không chấp thủ, vị
ấy không có nghĩ đây là tự ngã của tôi, và khi khổ sinh
thì xem là sinh, khi khổ diệt thì xem là diệt, mà không xem
có tôi khổ, hay tôi hết khổ.
Từ mười hai chi phần nhân duyên của Duyên
khởi như vừa được trình bày, chúng ta có thể đi đến
một số kết luận:
1. Tất cả các pháp hữu vi đều do duyên sinh.
Sự có mặt của một pháp thực ra chỉ là sự có mặt
của nhơn duyên sinh ra nó; sự hoại diệt của một pháp cũng
chỉ là sự hoại diệt nhơn duyên sinh ra nó. Các pháp không
có thật sinh hay thật diệt.
Tiếp tục lập luận như thế với tất cả các
duyên, không dừng lại một nơi nào cả, ta sẽ thấy không
có một bóng hình hữu ngã nào xuất hiện trong pháp giới
Duyên khởi này cả. Nói một cách ngắn gọn, tất cả do
duyên sinh nên vô ngã.
Duyên khởi nói lên sự thật vô ngã và phủ
nhận tự ngã, nên phủ nhận mọi câu hỏi và mọi câu
trả lời về bản chất của các pháp, về nguyên nhân đầu
tiên của vũ trụ.
2. Mỗi một chi phần trong mười hai chi phần
nhân duyên là sự có mặt của mười một chi phần kia. Sự
đoạn diệt hoàn toàn một chi phần cũng có nghĩa là sự đoạn
diệt cả 12 chi phần nhân duyên. Vô minh, hành, thức, v.v...
không thể có mặt một mình, vì thế khi ái diệt hoặc
thủ diệt hoặc thức diệt.... thì vô minh phải hoàn toàn
diệt.
3. Khi ái, thủ, hay vô minh tồn tại hay tập
khởi, thì toàn bộ khổ uẩn tập khởi. Con đường tập
khởi này là sinh tử, gọi là tà đạo.
Khi tham ái, chấp thủ, hay vô minh đoạn diệt,
thì toàn bộ khổ uẩn đoạn diệt. Con đường đoạn diệt
này là chánh đạo.
4. Duyên khởi, trong thực tại, là một hiện tượng
trùng trùng. Một sự vật có mặt có nghĩa là tất cả nhơn
duyên trùng trùng ấy có mặt, tất cả pháp giới có mặt.
Nói khác đi, không thể có một ngã tướng nào có mặt
ngoại trừ pháp giới Duyên khởi.
Một pháp tập khởi chính là pháp giới tập
khởi. Ðây là ý nghĩa của "Một là tất cả, tất cả là
một". Một ở đây, chính là tất cả, chính là pháp
giới.
Tất cả chính là một và chính là pháp giới.
Một là tất cả ấy đồng nghĩa với Duyên sinh và Vô ngã.
Vì duyên sinh, vô ngã, vốn không sinh, không
diệt, nên tự nó không có ý nghĩa thường hay vô thường,
có hay không có, khứ hay lai, v.v..... nó thoát ly mọi tướng
trạng.
5. Cái gọi là Duy tâm, Duy vật, Duy thức, Duy
linh, v.v... không có ý nghĩa khác biệt nhau nào cả, nếu chúng
được nhìn là do duyên sinh, là vô ngã.
Với Duyên khởi, do đó, tất cả các chủ
thuyết đều không phù hợp nếu chúng được xây dựng trên
căn bản ngã tính; tất cả sẽ phù hợp nếu chúng được
xây dựng trên căn bản vô ngã tính.
Các vấn đề siêu hình (metaphysic) bàn về
nguồn gốc, tự thể của các hiện hữu đều được xem là
hý luận đối với giáo lý Duyên khởi.
6. Ðối tượng nghe giáo lý Duyên khởi là con
Người. Ðối tượng này bị vướng mắc vào vô minh, ái,
thủ, nên vì lợi ích giải thoát, Thế Tôn đã trình bày
Duyên khởi dưới dạng thức mười hai chi phần nhân duyên.
Chi phần lục nhập (6 căn và 6 trần) nói lên
rõ ràng đối tượng nghe phải là con người (các loài bàng
sanh không đủ lục nhập; một số các loài Trời cũng
thế, có nơi tỷ thức và thiệt thức không có hoạt động
nên không liên hệ đến hương trần và vị trần).
Với sự có mặt của tham ái hay chấp thủ, các
chi phần nhân duyên của Duyên khởi được nhìn thấy là
hữu vi (vô thường, đoạn diệt); với những ai ngay trên đời
này mà ái diệt, thủ diệt thì các pháp là phi khổ đau, là
trung đạo, là vô vi, như chính Thế Tôn xác định quan điểm
của Thế Tôn: "Khi Tôi thanh tịnh, Tôi thấy thế giới
thanh tịnh". Bài kệ mở đầu Trung Luận của Tổ Long Thọ
cũng nói lên ý nghĩa ấy:
"Bất sanh diệc bất diệt,
Bất thường diệc bất đoạn,
Bất nhất diệc bất dị,
Bất khứ diệc bất lai,
Năng thuyết thị nhân duyên,
Thiện diệt chư hý luận". -- (Chương I, Trung Luận).
Ở đây cho thấy thực tại là Duyên khởi, Vô
ngã. Ðây chính là thật pháp, như pháp, là thật tánh, bất
hư vọng tánh, như chủ trương của Hoa Nghiêm qua giáo lý "Pháp
giới trùng trùng Duyên khởi". Không có một sự cao thấp nào
giữa Duyên khởi được Thế Tôn chứng ngộ trình bày dưới
mười hai chi phần nhân duyên (Tương Ưng Bộ Kinh II) và Duyên
khởi của Hoa Nghiêm cả.
Nói về thực tại như thật, Thế Tôn dạy: "Này
các Tỷ-kheo, có xứ này, tại đây không có đất, không có
nước, không có lửa, không có gió, không có Hư không vô biên
xứ, không có Thức vô biên xứ, không có Vô sở hữu xứ,
không có Phi tưởng phi phi tưởng xứ; không có đời này,
không có đời sau, không có cả hai mặt trăng, mặt trời.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố không có đến, không
có đi, không có trú, không có diệt, không có sinh, không có
an trú, không có chuyển vận, không có sở duyên, đây là
sự đoạn diệt khổ đau". Và: "Này các Tỷ-kheo, có sự
không sinh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi. Này
các Tỷ-kheo, nếu không có cái không sinh, không hiện hữu,
không bị làm, không hữu vi, thời ở đây không thể trình
bày sự xuất ly khỏi sinh, khỏi hiện hữu, khỏi bị làm,
khỏi hữu vi. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có cái không sanh,
không hiện hữu, không bị làm không hữu vi, nên có sự trình
bày xuất ly khỏi sinh, khỏi hiện hữu, khỏi bị làm,
khỏi hữu vi". (Tiểu Bộ Kinh I, Kinh Phật Tự Thuyết, tr.
382).
Sự kiện Thế Tôn giác ngộ nói lên rằng vô
vi cũng chính là cuộc đời này. Một buổi sáng thanh tịnh,
Tôn giả Tu-bồ-đề (Subhuti) đã khéo nhận ra việc mở bày
tâm Kim Cang của Thế Tôn qua việc đắp y, trì bát, vào Xá-vệ
thành khất thực, v.v..... (Kinh Kim Cương, phần mở đầu) và
đã dâng lời tán thán Thế Tôn: "Thiện hộ niệm, thiện
phó chúc chư Bồ-tát".
Câu kệ Pháp Cú số 279 viết: "Hết thảy các
pháp là vô ngã" (Sabbe dhammà anattà). Thế có nghĩa là hữu
vi và vô vi đều vô ngã, hay hữu vi cũng chính là vô vi ở
mặt tự thể, hay ở mặt chân nghĩa của Duyên khởi. Ðây
là ý nghĩa mà Kinh Kim Cang bảo: "Nhứt thiết pháp giai thị
Phật pháp"; Hoa Nghiêm nói: "Nhứt thiết chư Pháp vô phi
Phật pháp" và các tư tưởng Bắc tạng thường đề cập:
"Phiền não tức Bồ-đề", hay "Sinh tử tức Niết-bàn",
hoặc "Thiết lập nhân gian Tịnh độ".
Tại đây, chúng ta có thể ổn định kết
luận rằng Duyên khởi là giáo lý nền tảng nhất của
Phật giáo. Dù Duyên khởi được nhìn dưới quan điểm bộ
phái nào, dù được trình bày dưới định thức tổng quát
"Cái này có, cái kia có...." hay dưới mười hai chi phần
nhân duyên, nó vẫn chuyên chở đầy đủ ý nghĩa thậm thâm
nhất. Cho rằng Duyên khởi là giáo lý thuộc Duyên giác
thừa hay Tiểu thừa chỉ là một thiên chấp hay là một
ngộ nhận đáng tiếc.
7. Không thể xem Duyên khởi, Vô ngã như là giáo
lý được Thế Tôn phương tiện thuyết để đối trị
chấp ngã, cái nhân khổ đau. Thực sự, khổ đau là do vô
minh, không hiểu rõ tính Duyên khởi, Vô ngã của các pháp.
Ðoạn tận khổ đau đồng nghĩa với giác ngộ Duyên sinh, Vô
ngã ấy.
8. Bàn đến Duyên sinh, nhà học giả Nhật
Bản Kimura Taiken trong cuốn "Ðại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng
Luận" (bản dịch của TT. Thích Quảng Ðộ, Tu thư Vạn
Hạnh, 1969) nhận định:
"Vấn đề Duyên sinh tuy có thể diễn tả theo
nhiều cách, song điểm phát xuất của nó vẫn không ngoài Tâm,
nếu lìa Tâm ra thì lý Duyên sinh sẽ vô căn cứ. Bởi thế,
nói một cách rốt ráo thì Tâm là nguồn gốc của Duyên
sinh quan. Cho nên, cái gọi là pháp, là Duyên sinh rốt cuộc
cũng không ngoài cái Tâm tướng biến hiện của ta. Ðó là
điểm căn bản độc nhất của Phật giáo, Tiểu thừa cũng
như Ðại thừa. Ðiều phục lấy Tâm đã trở nên một phương
châm tu dưỡng quyết định trong Phật giáo. Do đó, khi nói
đến Duyên khởi, tất nhiên ta phải đề cập đến Tâm, vì
giữa hai điểm ấy có một mối quan hệ rất mật thiết và
nếu ta muốn hiểu rõ dụng ý căn bản của Phật giáo, ta
không thể quên điểm hệ trọng đó". (tr. 28).
Công trình nghiên cứu tư tưởng Phật học qua
các bộ phái của Kimura Taiken là một công trình giá trị,
nhưng qua đoạn phát biểu này về Duyên sinh của tác giả,
chúng ta cảm nhận ngay có cái gì bất ổn trong đó, nghe hơi
thiếu vẻ Duyên sinh.
Tác giả xem Tâm là gốc của Duyên sinh, trong
khi thực tế chính Tâm là do Duyên sinh, là Duyên sinh. Ngay
cả từ nguồn gốc, tự thân nó đã là không phù hợp với
Duyên sinh. Tâm trong Phật giáo (hay đấy là thọ, tưởng, hành
và thức uẩn) là vô thường, biến diệt, nó còn phi thật
hơn cả vật chất (sắc uẩn), Tâm này cũng là Duyên sinh, Vô
ngã.
Tu, điều phục Tâm, là đi đến giải thoát và
tri kiến giải thoát: ở đây, thì phi tâm phi vật, nó là Chân
như, Vô ngã.
9. Cái thắc mắc lớn nhất về giáo lý Duyên
Sinh, Vô ngã của người học Phật vẫn là: khó mà quan
niệm được một pháp giới hoàn toàn Vô ngã. Làm sao mà có
thể tồn tại, nếu là Vô ngã? Ai sinh tử, luân hồi? Ai tu?
Ai chứng?..... như chính thắc mắc của Moliya Phagguna, Kassapa
và Timbura (như đã đề cập), như âu lo của Kimura Taiken
(phải có tâm là gốc thì Duyên khởi mới đứng vững) và
như chính Tôn giả A-nan, trong Thủ Lăng Nghiêm, đã sửng
sốt khi nghe Thế Tôn dạy chân tâm là Vô ngã.
Gốc của các thắc mắc ấy là tập khí tham
ái, chấp thủ của chúng sinh do nhiều kiếp chấp ngã trôi
lăn trong sinh tử.
Theo Phật giáo, gốc của sinh tử là vô minh. Vô
minh là nhận lầm thực tại vốn không có "ngã" thành có
"ngã". Sinh tử chính là sự nhận lầm có cái "ngã" ấy.
Thực sự, không có "ngã" trong sinh tử, luân hồi.
Tu là lộ trình đi ra khỏi sinh tử, luân hồi;
có nghĩa là đi ra khỏi sự trói buộc đầy sương mù của
sự chấp có ngã, là đoạn trừ cái chấp ngã ấy. Ðoạn
trừ cái chấp ngã là đoạn trừ hết thảy vọng tưởng.
Chứng, hay chứng ngộ, là đoạn trừ hoàn toàn
chấp thủ ngã tướng, chấp có ngã, để chứng đắc thực
tại không có tự ngã.
Vì thế, các câu hỏi: Ai tu? Ai chứng? v.v.... là
những câu hỏi đầy vọng niệm, trái với lý Duyên khởi
như Thế Tôn đã dạy.
10. Thực tại Vô ngã thì không trống rỗng.
Chỉ có thế giới ngã tướng là trống rỗng. Không phải vì
ngã tướng mà thế giới tồn tại, mà thực sự nhờ Vô ngã,
thế giới mới sinh khởi và tồn tại. Chúng ta thử đi vào
quán sát một số hiện tượng sau đây:
- Vì carbon (C) và sắt (Fe) là vô tự tính nên
mới có hợp chất của gang và thép. Vì hydro và oxy, v.v...
là vô tự tính nên mới có tổng hợp của nước, mới có
các phản ứng hóa học.
- Vì hư không là Vô ngã tính nên mới vừa
tối, vừa sáng, có nắng, có mưa, có bốn mùa vận hành.
Nếu hư không có ngã tính thì chỉ có hoặc tối, hoặc sáng,
v.v.....
- Nếu con người có ngã tính thì sẽ hoặc
dốt, hoặc thông, hoặc khỏe, hoặc bệnh, mà không thể
chuyển đổi từ dốt sang thông, từ bệnh sang vô bệnh,
từ buồn sang vui, từ thất vọng qua hy vọng, từ ghét
hận thành yêu thương....
- Vì các hiện tượng xã hội là Vô ngã tính
nên mới có thể cải tạo, chấn hưng.
- Vì sự vật và nhận thức là Vô ngã tính
nên mới có sáng tạo, gốc của văn hóa và văn minh.
- Vì Vô ngã nên mới có hiện tượng thần túc
thông: cả nghìn chư Thiên có thân khổng lồ trú ở đầu
mũi kim mà không vướng nhau.
- Vì Vô ngã nên các pháp dung nhiếp nhau,
mới có lý sự và sự sự vô ngại, v.v.....
Nói tóm, vì Vô ngã tính mà các tính được thành
lập.
11. Khi thấy rõ Vô ngã tính của các pháp thì
tham ái và chấp thủ sẽ tan dần đến hủy diệt, khổ não
sẽ tiêu đi, và giải thoát đến. Bấy giờ thực tại Duyên
sinh trở về chính nó. Nó là như thế, mãi mãi như thế.
Kinh Pháp Hoa gọi đây là "Thế gian tướng thường trú". Nó
không bị nhân quả hay bị duyên sinh. Nhân quả và duyên
sinh là chính nó. Ðây là tánh "Không" của Bát-nhã, tánh
"Như thị" của Pháp Hoa, và là tánh "Diệu hữu" của Hoa
Nghiêm, Niết-bàn.
12. Dù Duyên khởi được hiểu theo bất cứ
quan điểm của bộ phái nào, Niết-bàn (hay giải thoát toàn
triệt) cũng đồng nghĩa với ái diệt, thức diệt hay vô
minh diệt. Ðây là quả vị giải thoát sau cùng, gọi là
A-nậu-đa-la Tam-miệu-tam-bồ-đề (Anuttnara Sammasambodhi). Có
lẽ đây là lý do mà Thế Tôn trình bày Duyên khởi dưới
dạng thức mười hai chi phần nhân duyên. Và đây cũng là
ý nghĩa mà người biên soạn tập sách này chọn mười hai
nhân duyên là dạng thức ổn định của Duyên khởi để
khảo sát, để tránh khỏi những bối rối có thể có, khi
đi vào một số chủ trương Duyên khởi khác nhau qua các
thời kỳ phát triển Phật giáo.
Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu Duyên khởi
biểu hiện qua một số kinh điển Bắc tạng tiêu biểu.