Phật
Học Cơ Bản
Tập Ba
Ban
Hoằng pháp Trung ương
GHPGVN
Chương
trình Phật học Hàm thụ (1998-2002)
Nguyệt san Giác Ngộ
--- o0o ---
Phần
II - Bài 3
Giới thiệu học
thuyết phân kỳ về hệ thống phán giáo
Khải Thiên
Nội dung của bài này sẽ giới
thiệu khái quát về học thuyết Phân kỳ và hệ thống Phán
giáo. Ðây là cách thức tiếp cận hệ thống giáo lý Phật giáo rất
quan trọng, giúp học viên nắm rõ tiêu chí cơ sở của các bộ kinh
thuộc Nam tạng và Bắc tạng. Bài này sẽ là bước mở đầu để học
viên đi vào nội dung cơ bản của một số tông phái của đạo Phật tiếp
theo.
A- Dẫn nhập
Học thuyết Phân kỳ và hệ thống Phán giáo
(của Phật học Trung Hoa) có thể nói là một phương pháp tiếp cận
lịch sử-tư tưởng có hệ thống và rất bao quát. Các giai đoạn trong lịch
sử Phân kỳ và Phán giáo, ở đó phần lớn các tư tưởng đã được hệ
thống hóa hoàn chỉnh. Một cách tương đối, nó giúp chúng ta nắm bắt và xác
định các học thuyết cơ bản của các giai đoạn đáng chú ý trong
tiến trình lịch sử-tư tưởng triết học Phật giáo. Vì lẽ đó,
ngày nay khi nghiên cứu Phật học, phần lớn đều dựa vào phương pháp
tiếp cận này.
B- Nội dung
I.- Học thuyết phân kỳ -
Lịch sử tư tưởng
Một trong những học thuyết Phân kỳ nổi tiếng
được các nhà Phật học chuyên môn, đặc biệt là về tánh Không
luận như T.R.V. Murti, Ed. Conze, J. May... đánh giá rất cao, đó là học
thuyết của Stcherbatsky, một nhà luận lý học Phật giáo (1).
Trong những trang đầu của tác phẩm "Logic học
Phật giáo", cũng như trong quyển "The Conception of Buddhist
Nirvana" (Khái niệm về Niết bàn Phật giáo), ông đã có
những nhận định chính xác và toàn diện về bối cảnh lịch sử-tư
tưởng của Phật giáo tại Ấn Ðộ. Và theo Stcherbatsky, lịch sử phát
triển của Phật giáo Ấn Ðộ có thể được chia thành 3 thời kỳ
chính cộâng với một số tư tưởng trung tâm của mỗi thời kỳ. Các giai
đoạn của lịch sử được bắt đầu và kết thúc trong vòng 1.500 năm,
kể từ 500 năm trước Tây lịch. Và mỗi 500 năm là một thời kỳ, gồm
có: sơ kỳ, trung kỳ và hậu kỳ.
1- Thời kỳ thứ nhất (500 năm tr.TL)
Sơ kỳ - Thời kỳ này, triết học
Phật giáo được gọi chung là "đa nguyên luận" - phủ định về
Ngã thể. Ở đây, khi nói đến từ Ða nguyên luận là nhằm chỉ
đến cách thức phân tích các "pháp" hiện hữu trên cơ sở của
5 uẩn, 12 xứ và 18 giới. Và cũng trên cơ sở của các uẩn, xứ, giới này,
Phật giáo hoàn toàn phủ nhận về Ngã thể bất biến - (Unreality of
the Ego).
2- Thời kỳ thứ hai (500 năm sau TL)
Trung kỳ - Thời kỳ này, triết học
Phật giáo được gọi chung là "Nhất nguyên luận" - phủ định
về pháp - pháp vô ngã (Unreality of the Elements of existence). Triết gia
xuất sắc trong thời kỳ này là Luận sư Long Thọ, người xiển dương
về tánh Không luận - tất cả pháp vốn không có tự tính.
3- Thời kỳ thứ ba (500 năm kế tiếp)
Hậu kỳ - Thời kỳ của "Quan niệm
luận", do hai Luận sư Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu)
xiển dương triết học Duy thức - tất cả pháp đều được xem
như là sự biểu hiện của tâm thức, chúng không có tự ngã, và do đó,
sự hiện hữu của chúng là không thực (Unreality of the External world).
Trong bảng (số 3) phân kỳ này, mục đích của Giáo sư
Takakusu là đưa Không luận của Harivarman (3) lên trên Long Thọ.
Trên đây là một số nét cơ bản của sự phân kỳ trong
tiến trình phát triển của lịch sử-tư tưởng Phật giáo Ấn Ðộ.
Như thế, trong suốt 1.500 năm này là thời kỳ phát triển hưng thịnh
của Phật giáo Ấn Ðộ. Và từ đó, kéo dài cho đến thế kỷ thứ
XI TL thì Phật giáo Ấn Ðộ rơi vào suy vong. Có điều, chúng ta nên
nhớ rằng, trước khi Phật giáo Ấn Ðộ đi vào thời kỳ suy vong, thì
mọi sự phát triển của nó đã được truyền sang các nước (theo hai
hướng Nam truyền và Bắc truyền) khác. Và tất nhiên, trong sự
truyền thừa đó, có cả những phát triển khác biệt mà nó được
nảy sinh từ Ấn Ðộ. Trong trường hợp này, có thể nói tại Trung Hoa là
nơi có những bước phát triển mới làm cho nền Phật học trở nên
hoàn thiện, đặc biệt là quá trình hệ thống hóa các tư tưởng dị
đồng được du nhập từ Phật giáo Ấn Ðộ. Ðiều này được trình bày
cụ thể trong hệ thống phán giáo của Phật học Trung Hoa.
II.- Hệ thống phán giáo Phật học
Trung hoa
Phán giáo cũng có nội dung và tính chất như phân kỳ,
nhưng phần lớn nó được tập trung vào hệ thống giáo lý, kinh
điển. Nếu, nói một cách chính xác thì lịch sử phán giáo bắt nguồn
từ Ấn Ðộ vào thời đại của ngài Giới Hiền và Trí Quang, hai vị Luận
sư này đều phân chia giáo lý Phật giáo theo ba thời giáo khác nhau,
như được tìm thấy trong Pháp tướng tông (của ngài Giới Hiền) và Tam
luận tông (của ngài Trí Quang) (4). Tuy nhiên, khi Phật giáo truyền sang
Trung Hoa, thì phần lớn đều được hình thành qua hình thức tông phái, và
trên cơ sở của mỗi tông phái mà hệ thống phán giáo được tổ chức
khác nhau, theo hình thức khởi nguyên từ Ấn Ðộ.
Hệ thống phán giáo Phật học Trung Hoa, như đã
đề cập, bắt đầu từ thời đại Nam Bắc triều (5) (cũng gọi là
thời đại Lục triều), các nhà Phật học đã tổ chức hệ thống phán
giáo khởi đầu, thông qua việc nghiên cứu kinh Niết Bàn mà ngài Ðạo
Sinh đề xuất học thuyết "đốn ngộ thành Phật", và ngài
Tuệ Quán đề xuất học thuyết "đốn tiệm bất
địch", và học thuyết của Tuệ Quán được xem là một trong
những sự khởi xướng hệ thống Phán giáo đầu tiên của nền Phật
học Trung Hoa mà đời sau gọi là "Nam tam - Bắc thất" (ba hệ
thống phán giáo ở phương Nam và bảy hệ ở phương Bắc).
A/- Ba hệ thống phán giáo ở Giang Nam
a)- Hệ thống một (do Pháp sư Hổ Khưu Sơn Cập
lập thành) - có ba pháp luân:
1- Ðốn giáo: Kinh Hoa Nghiêm
2- Tiệm giáo:
Hữu tướng giáo: (11 năm thuyết giáo của Phật sau
thời Hoa Nghiêm)
Vô tướng giáo: (12 năm sau cho đến thời Pháp Hoa)
Thường trụ giáo: (thời Niết bàn)
3- Bất định giáo: Các kinh điển ngoài đốn,
tiệm như luật, kinh Thắng Man, Giải Thâm Mật...
b)- Hệ thống hai (do Pháp sư Tăng Ai lập thành)
- có ba pháp luân:
1- Ðốn giáo: (như hệ thống một)
2- Tiệm giáo:
Hữu tướng giáo: (như hệ thống một)
Vô tướng giáo: (12 năm sau Phương Ðẳng và Bát Nhã)
Ðồng qui giáo: (thời Pháp Hoa)
Thường trụ giáo: (thời Niết bàn)
3- Bất định giáo: (như hệ thống một)
c)- Hệ thống ba (do Tăng Nhu, Huệ Thứ, Huệ
Quán lập thành) - có ba pháp luân:
1- Ðốn giáo: (như hệ thống một)
2- Tiệm giáo:
Hữu tướng giáo: (như hệ thống một)
Vô tướng giáo: (Bát Nhã)
Ức dương giáo: (Phương Ðẳng)
Ðồng qui giáo: (như hệ thống một)
Thường trụ giáo: (như hệ thống một)
3- Bất định giáo: (như hệ thống một)
B/- Bảy hệ thống phán giáo ở Giang Bắc
a)- Hệ thống một (Hoặc Sư lập) - có năm pháp
luân:
1- Nhân thiên giáo: (Ðề-vị-bà-lợi)
2- Vô tướng giáo: (Tịnh độ)
3- Ðốn giáo: (Hoa Nghiêm)
4- Tiệm giáo: (Phương Ðẳng)
5- Bất định giáo: (như trước)
b)- Hệ thống hai (Bồ Ðề Lưu Chi lập) - có
hai pháp luân:
1- Tiên giáo bán tự: (12 năm trước - Tiểu thừa
giáo)
2- Hậu giáo mãn tự: (12 năm sau - Ðại thừa giáo)
Bán tự và mãn tự - dụ cho trẻ con khi mới học thì
trước hết dạy nửa chữ (tiên giáo bán tự), rồi sau đó mới dạy tiếp
nguyên chữ (hậu giáo mãn tự).
c)- Hệ thống ba (Quang Thống lập)
Hệ thống này do ngài Giác Hiền, Huệ Quang
đề xuất, có 4 tông:
1- Nhân duyên tông: (thuộc Tiểu thừa - Hữu bộ, chủ
thuyết Tứ nhân lục duyên)
2- Giả danh tông: (thuộc Thành Thật tông, chủ thuyết Thành Thật luận:
giảng về Tam giả - Nhân thành giả, Tương tục giả, Tương đãi giả)
3- Cuống tướng tông: (học thuyết Tam luận - Nhất thiết pháp không -
Tính không luận)
4- Thường tông: (giáo lý Hoa Nghiêm và Niết bàn)
d)- Hệ thống bốn (Hoặc Sư lập) - có năm
tông:
1- Nhân duyên tông: (A Tỳ Ðàm)
2- Giả danh tông: (Thành Thật)
3- Cuống tướng tông: (Tam luận)
4- Thường trụ tông: (Niết bàn)
5- Pháp giới tông: (Hoa Nghiêm)
e)- Hệ thống năm (Pháp Sư ở Kỳ Xà) - có sáu
tông:
1- Nhân duyên tông: (A Tỳ Ðàm)
2- Giả danh tông: (Thành Thật)
3- Cuống tướng tông: (Tam luận)
4- Thường trụ tông: (Hoa Nghiêm - Niết bàn)
5- Chân tông: (Pháp Hoa)
6- Viên tông: (Ðại Tập)
f)- Hệ thống sáu (Hoặc Sư lập) - có hai tông:
1- Hữu tướng Ðại thừa
2- Vô tướng Ðại thừa
g)- Hệ thống bảy (Hoặc Sư lập) - có một
tông:
Nhất âm giáo: (Phật dùng một âm thanh thuyết pháp,
chúng sanh tùy theo đó mà hiểu biết về giáo pháp khác nhau).
Trên đây là phần trình bày đại cương về
"Nam tam - Bắc thất" - sự khái lược hóa về các hệ thống phán
giáo Phật học Trung Hoa.
C/- Hệ thống phán giáo của các tông phái
Ðại thừa
Khi các tông phái Ðại thừa Phật giáo hình thành tại
Trung Hoa, thì mỗi tông phái lại tổ chức hệ thống phán giáo đặc thù
theo tư tưởng của từng tông phái. Theo truyền thống lịch sử Phật giáo
Trung Hoa, các tông phái chính có hệ thống phán giáo được thành lập như
sau:
1- Pháp tướng tông
Tông phái này y cứ trên cơ sở của kinh Giải Thâm Mật
rồi đem giáo pháp của Phật chia làm ba pháp luân (ba lần chuyển pháp luân
của Phật).
a)- Pháp luân I: Phật nói về Hữu (Hữu giáo)
b)- Pháp luân II: Phật nói về Vô (Không giáo)
c)- Pháp luân III: Phật nói về Trung đạo (Trung giáo)
- Hữu giáo là giáo lý thời Nguyên thủy và Bộ phái
- Không giáo là giáo lý tiền Ðại thừa và Ðại thừa
- Trung giáo là giáo lý Ðại thừa và hậu Ðại thừa
* Pháp luân I: Giáo lý cơ bản là 4 thánh đế
và 12 nhân duyên
* Pháp luân II: Giáo lý cơ bản là "Nhất thiết pháp không"
* Pháp luân III: Giáo lý cơ bản là "Trung đạo đế"
Hai pháp luân đầu, Phật nói về pháp phương
tiện và bất liễu nghĩa (khế lý, khế cơ). Pháp luân thứ ba,
Phật nói về pháp liễu nghĩa - chân thật tối thượng - Chủ đề cơ bản
là Trung đạo: - 3 tự tính và 3 vô tính (tam tính và tam vô tính).
Về kinh điển, người đời sau đối chiếu như
vầy:
* Pháp luân I: Gồm 4 bộ A Hàm ~ 4 bộ Nikàya
* Pháp luân II: Gồm kinh Bát Nhã (không tông)
* Pháp luân III: Gồm kinh Giải Thâm Mật, Hoa Nghiêm...
2- Tam luận tông
Tông phái này phân chia giáo pháp của Phật làm hai
tạng và ba pháp luân:
- Hai tạng (Tùng pháp giảng): Thinh Văn tạng , Bồ Tát
tạng
- Ba pháp luân (Tùng nhân giảng): Pháp luân gốc, Pháp luân ngọn, Pháp
luân ngọn về gốc
- Thinh Văn tạng: gồm các kinh A Hàm và Nikàya
- Bồ Tát tạng: gồm các kinh Ðại thừa
* Pháp luân gốc: Phật nói kinh Hoa Nghiêm
* Pháp luân ngọn: Phật nói kinh A Hàm đến Phương Ðẳng
* Pháp luân ngọn về gốc: Phật nói kinh Pháp Hoa
Hệ thống Phán giáo này do Cát Tạng đề xuất.
3- Thiên thai tông
Tông phái này chia giáo pháp của Phật thành ngũ thời,
bát giáo.
Ngũ thời: Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Ðẳng (Duy
Ma, Lăng Già...), Bát Nhã, Pháp Hoa - Niết Bàn. Năm thời tương ứng với
năm vị (của kinh Niết Bàn): Sữa tươi (ngưu nhũ), Váng sữa (lạc), Váng
bơ (sinh tô), Bơ kết (thục tô), Bơ lỏng (đề hồ). Ðề hồ là tối
thượng trong 5 vị, và kinh Pháp Hoa, Niết Bàn được ví như đề hồ -
tối thượng trong các kinh.
Bát giáo:
- 4 hóa nghi (Hóa nghi tứ giáo) [4 phương pháp giáo
hóa]
1- Ðốn
2- Tiệm
3- Bí mật
4- Bất định
- 4 hóa pháp (Hóa pháp tứ giáo) [4 nội dung giáo lý
cơ bản]
1- Tạng giáo
2- Thông giáo
3- Biệt giáo
4- Viên giáo
Tứ giáo:
- Tạng giáo: hệ thống kinh điển A Hàm và Nikàya
- Thông giáo: hệ thống kinh điển xuyên thông cả Tam thừa
- Biệt giáo: giáo lý đặc biệt dành cho đối tượng đặc biệt,
như hàng Bôì tát, (Lục độ, Nhị đế v.v...)
- Viên giáo: giáo lý viên dung - nhất thừa, chỉ cho kinh Hoa Nghiêm,
Niết Bàn, Pháp Hoa
Tứ nghi:
- Ðốn giáo: giáo lý đốn ngộ, dành cho hàng trí
giả - Ðại thừa
- Tiệm giáo: giáo lý được giảng tùy theo trình độ, căn cơ (các kinh
A Hàm, Phương Ðẳng)
- Bí mật: giáo lý đặc thù dành cho đối tượng đặc thù (không phải ai
cũng được nghe và hiểu được)
- Bất định: cùng một giáo lý, cùng một pháp hội nhưng chỗ này là
đốn giáo, chỗ kia là tiệm giáo - tùy theo trình độ mà nói.
Ở đây, có một vấn đề. Tương truyền, ngũ
thời bát giáo là do ngài Trí Khải (6), đệ tử của Huệ Tư, sáng lập.
Nhưng học giả Sekiguchi Shindai trong bài viết "Khởi nguyên ngũ
thời bát giáo" (Goji hakkyo kyohanron no kigen) (xem Taisho daigaku kiyo,
tr.1-15 (1975)) cho rằng chính Trạm Nhiên (711-782) là người hệ thống hóa
phán giáo này (?).
4- Hoa nghiêm tông
Tông phái này do sư Ðỗ Thuận, Trí Nghiễm và Pháp
Tạng thành lập. Giáo pháp được chia thành 5 giáo, 10 tông.
* Năm giáo:
1- Tiểu thừa giáo: giáo lý cho hàng Thanh văn,
như A Hàm, A Tỳ Ðàm luận, Thành Thật luận; 2- Ðại thừa sơ giáo: giáo
lý cho hàng Ðại thừa, như Trung Quán luận, Du Già Sư Ðịa luận...; 3-
Ðại thừa chung giáo: giáo lý cho hàng Ðại thừa cao cấp, như kinh Lăng
Già, Thắng Man...; 4- Ðại thừa đốn giáo: giáo lý cho hàng Ðại thừa ưu
tú, như Thiền tông...; 5- Nhất thừa viên giáo: giáo lý viên dung, tối
thượng, như kinh Hoa Nghiêm...,
Nhất thừa viên giáo có hai loại:
a)- Nhất thừa đồng giáo: tương ứng với Tam thừa (kinh
Pháp Hoa)
b)- Nhất thừa biệt giáo: khác với Tam thừa (kinh Hoa Nghiêm)
* Mười tông: (10 học thuyết cơ bản của
Phật giáo Bộ phái và Ðại thừa)
Sáu học thuyết của Phật giáo Bộ phái:
1- Tông Ngã pháp đều có: thuộc giáo lý của
Ðộc tử bộ, Pháp thượng bộ, Hiền vị bộ, Chính lượng bộ, Mật lâm sơn
bộ, Kê dân bộ trong thời kỳ Phật giáo Bộ phái.
2- Tông Ngã không pháp có: thuộc giáo lý của Nhất
thiết hữu bộ, Tuyết sơn bộ, Ẩn quang bộ, Kinh lượng bộ.
3- Tông Pháp không khứ lai: thuộc quan niệm
"Hiện tại hữu thể, quá vị vô thể" của Hóa địa bộ, Pháp
tạng bộ, Ðại chúng bộ, Ða văn bộ, Chế đa sơn bộ, Tây sơn trụ bộ, Bắc
sơn trụ bộ.
4- Tông Hiện thông giả thật: thuộc quan niệm
"Chân giả tịnh hữu" của Thuyết giả bộ.
5- Tông tục vọng chân thật: Quan niệm của
thuyết Xuất thế bộ.
6- Tông chư pháp giả danh: Quan niệm "Tam thế
chư pháp giả danh vô thể" của Nhất thuyết bộ.
Bốn học thuyết của Ðại thừa:
7- Tông "Nhất thiết pháp không": thuộc Ðại
thừa thỉ giáo.
8- Tông "Chư pháp thực tướng": thuộc Ðại
thừa chung giáo.
9- Tông "Tướng và Tưởng đều không":
thuộc Ðại thừa đốn giáo.
10- Tông "Như thị - viên mãn": thuộc Nhất thừa
viên giáo (7).
Trên đây là các tông phái có hệ thống phán giáo
cụ thể. Còn Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông (Chân ngôn tông)
thì hệ thống phán giáo không cụ thể và cũng khá đa diện. Tuy
nhiên, với ba tông này, chủ yếu là đi vào tu tập thực tiễn. Do đó,
nếu lập phán giáo thì phải lập theo một thể cách đặc thù của nó.
Riêng về phần phán giáo như vừa trình bày trên
đây, chúng ta thấy lộ rõ một điều ở các hệ thống phán giáo, đó
là sự tương quan thống thiết giữa nhận thức của con người và chân
lý thực tại. Bởi lẽ, nhận thức của con người thì bất khả thuyết -
có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu nhận thức khác nhau. Ở đây, sẽ
không bao giờ có bất kỳ một khuôn mẫu tư duy nào có thể dùng cho mọi
người; cũng như, tất cả mọi người đều mang giày, nhưng không
thể có một đôi giày nào khả dĩ được dùng cho tất cả mọi người.
Vả lại, chân lý thực tại cũng chỉ có Một, Ðông phương hay Tây phương,
đều chỉ có Một và chỉ Một mà thôi. Vì lẽ đó, vấn đề được đặt
ra ở đây là: chân lý luôn luôn, lúc nào, và ở đâu, cũng bình đẳng
trước mọi người; và, làm thế nào để mọi người có thể
trực nhận được chân lý? Ðây là lý do tại sao Phật tử Trung Hoa
đề xuất và tổ chức các hệ thống phán giáo. Nó xuất hiện như là
sự nối kết các nhịp cầu phương tiện để giúp người sang sông.
Từ đó, ba thừa phân đốn, tiệm, quyền, thật tất cả đều viên
dung. Ðây là phương tiện thiện xảo để mỗi người với căn
tánh và trình độ khác nhau đều có thể tu tập Phật giáo. Có thể
tóm tắt ý nghĩa trên qua phát biểu của Long Thọ như sau:
"Nếu không nương tục đế, thì không thể đạt đến chân
lý. Nếu không đạt đến chân lý, thì không thể hiểu
được Phật pháp" (8)./.
Ghi chú: Học viên đọc thêm cuốn"Tìm
hiểu nhân sinh quan Phật giáo" của tác giả Thích Tâm Thiện
(phần Lược sử các bộ phái Phật giáo); cuốn "Lịch sử tư tưởng
và triết học tánh Không" của tác giả Thích Tâm Thiện
(phần Học thuyết Phân kỳ và hệ thống Phán giáo); "Tâm
lý học Phật giáo" của tác giả Thích Tâm Thiện (phần Ðại
cương triết học Duy thức)./.
* Chú thích:
(1) T.H.Stcherbatsky sinh ngày 19-9-1855 ở Keltse, Ba Lan
(bấy giờ thuộc Nga), trong một gia đình công chức khá giả. Tại Ðại học
Saint Petersburg, năm 1885, ông học các ngôn ngữ Ấn-Âu dưới sự hướng
dẫn của GS Minayeff và S.Oldenberg. Năm 1888, ông đến Viene (Áo) để
học Sanskrit. Từ 1893-1900, ông tập trung nghiên cứu Phật học. Ông có
nhiều tác phẩm: "The Theory of knowledge and logic in the doctrine of later
Buddhism" xuất bản năm 1903 bằng tiếng Nga; "Buddhist
Logic" 2 tập, tác phẩm này được Thủ tướng Nehru (Ấn Ðộ) đánh
giá cao như một tác phẩm về logic học xuất sắc nhất được xuất bản
trong vòng hai thế kỷ. Ông là Giáo sư viện sĩ Hàn lâm viện
Nga, thông thạo 6 thứ tiếng châu Âu và tiếng Sanskrit, tiếng Tây
Tạng. Những công trình của ông là sự cống hiến vĩ đại cho nền Phật
học Ấn Ðộ và châu Âu.
(2) Xem bản dịch "Các tông phái của đạo
Phật" của Tuệ Sỹ, Tu thư Ðại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1973,
tr.192-193.
(3) Harlvarman, tác giả bộ "Thành Thật luận"
(Satyasiddhi-sastra, 16 quyển). Ông là người thuộc Kinh Lượng bộ, sinh ở
vùng Trung Êẽn, trong một gia đình Bà la môn. Trong "Thành Thật
luận" (gồm 202 phẩm), ở phẩm "Diệt Pháp Tâm", Harlvarman
nói rõ về quan điểm "Nhân-pháp đều là không". Quan
điểm này có lẽ là được kế thừa từ học thuyết "Quá, vị
về thể hiện tại hữu thể" của Kinh Lượng bộ (Sautràntika).
(4) Trí Quang (Jnànaprabha), đệ tử của Thanh Biện
theo dòng triết "Thật tướng luận" của Long Thọ tại chùa
Nalanda. Ngài là bậc tinh thông Tam tạng của Ðại thừa và Tiểu thừa, nên
tổng hợp lại giáo lý và lần đầu tiên lập ra hệ thống Phán giáo gồm
3 hạng: a- "Tâm cảnh câu hữu giáo", b- "Tâm hữu cảnh không
giáo", c- Tâm cảnh câu không giới". Theo đó, Tiểu thừa Phật giáo
thuộc "Tâm cảnh câu hữu giáo"; giáo nghĩa của Vô Trước và Thế
Thân thuộc "Tâm hữu cảnh không giới"; và giáo nghĩa của Long Thọ
thuộc về "Tâm cảnh câu không giáo".
Giới Hiền (Siladhadra), đệ tử của Hộ Pháp,
nước Samatata, Trung Êẽn. Ngài học Duy thức với ngài Hộ Pháp tại Nalanda,
khi Huyền Trang sang Êẽn vào niên hiệu Chính Quán, năm thứ 16, đời
Ðường (636 TL). Huyền Trang đã thọ giáo với ngài Giới Hiền tại
Phật viện Nalanda, lúc đó, ngài Giới Hiền đã 106 tuổi. Vì ngài Giới
Hiền là luận sư xiển dương Duy thức học, nên để đối ứng
lại Phán giáo của ngài Trí Quang, Giới Hiền lập ra ba thời giáo khác,
gồm: "Hữu giáo", "Không giáo" và "Trung giáo". Hữu
giáo là giáo nghĩa của Tiểu thừa, Không giáo là giáo nghĩa của Long
Thọ, và Trung giáo là giáo nghĩa của Vô Trước và Thế Thân. Trung
giáo là ngôi vị cao nhất trong ba thời giáo.
(5) Nhà Ðông Tấn suy vong, các vương hầu kế
tiếp nổi dậy, ở phương Nam có các triều Lương, Tề, Tống, Trần;
ở phương Bắc, nhà Ngụy thống nhất Ngũ Hồ và lập thành Ðông Ngụy và Tây
Ngụy, kế Ðông Ngụy là Bắc Tề, kế Tây Ngụy là Bắc Chu; về
sau, nhà Tùy thống nhất Nam Bắc, Nam triều ủng hộ Phật giáo, Bắc triều
ủng hộ Ðạo giáo. Cho đến thời Võ đế-Bắc Chu và Thái Võ
đế-Ngụy, Phật giáo rơi vào suy vong (xem Tôn giáo tỷ giảo -
Thích Thánh Nghiêm).
(6) Trí Khải là tác giả của nhiều kinh sớ, và 3
tác phẩm: a- Ma ha chỉ quán - 209, Pháp Hoa huyền nghĩa - 109, và c- Pháp Hoa
văn cú - 209, là 3 bộ chính yếu của Thiên thai tông.
- Nguồn gốc truyền thừa: Long Thọ-Bắc Tề
Huệ Văn - Nam Nhạc Huệ Tư _ Thiên Thai Trí Khải - Chương An quán đảnh
- Tấn Văn Trí Oai - Tả Khê Huyền Lăng - Kinh Khê Trạm Nhiên - Hưng Ðạo
Ðạo Thúy - Chí Hành Quảng Tu - Chỉ Ðịnh vật ngoại - Diệu thuyết
Nguyên Tú - Cao Luận Thanh.
(7) Sự truyền thừa của Hoa Nghiêm tông như sau: Bồ
tát Mã Minh - Long Thọ _ Ðỗ Thuận - Trí Nghiễm - Pháp Tạng (Hiền
Thủ) - Thanh Lương - Tông Mật...
Dưới tay Pháp Tạng có 6 đồ đệ ưu tú, gọi là
Lục triết: Trí Quang, Tông Nhất, Huệ Uyển, Huệ Anh, Hoằng Quán
và Văn Siêu.
(8) Tục đế (Samvrtti-satya) là chân lý của
người còn vô minh, nó còn được gọi là chân lý công ước, nó khác
biệt với Chân đế (Paramàrtha-satya) - tức chân lý tuyệt đối -
là cảnh giới hiện quán của chư Phật. Hai chân lý này, khi ứng dụng
khéo léo, được gọi là "Nhị đế viên dung" - như qua bên kia
bờ thì phải dùng thuyền, con thuyền là Tục đế (mang ý nghĩa
phương tiện), và bờ bên kia là Chân đế (mang ý nghĩa cứu cánh).
-oOo-
|
Câu hỏi hướng dẫn
ôn tập
1- Trình bày sơ lược học thuyết Phân kỳ tư
tưởng Phật giáo theo quan điểm của T.H. Stcherbatsky.
2- Tóm tắt những điểm cơ bản trong tổ chức
hệ thống Phán giáo của Phật học Trung Hoa.
|
[^]
Bài
trước
|Mục lục |
Bài kế
|
-oOo-
| Toàn
bộ | | Tập Một
| | Tập Hai |
|Tập Ba|
--- o0o ---
Trình bày : Nhị
Tường
Chân thành cảm ơn Đạo hữu Bình Anson đã gởi tặng
phiên bản điện tử tập sách này
( Trang nhà Quảng Đức, 01/2002)
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |