Phật
Học Cơ Bản
Tập Hai
Ban
Hoằng pháp Trung ương
GHPGVN
Chương
trình Phật học Hàm thụ (1998-2002)
Nguyệt san Giác Ngộ
--- o0o ---
Phần
II - Bài đọc thêm
Lịch sử kết tập kinh
luật lần thứ hai
Thích Phước Sơn
Sau khi Phật Niết bàn
độ 100 năm, các Tỳ kheo Bạt Kỳ ở Tỳ Xá Ly đề ra 10 điều phi pháp
như sau:
1/ Tỳ kheo ăn muối gừng để dành qua
đêm vẫn hợp pháp,
2/ Tỳ kheo ăn xong, nhận được thức ăn khác, dùng hai ngón tay cầm thức ăn
để ăn vẫn hợp pháp,
3/ Tỳ kheo ăn xong, rời khỏi chỗ, rồi ngồi ăn lại vẫn hợp pháp,
4/ Tỳ kheo ăn xong, đi sang nơi khác ăn thêm vẫn hợp pháp,
5/ Tỳ kheo dùng sữa đường hòa lại uống ngoài bữa ăn chính vẫn hợp pháp,
6/ Tỳ kheo uống rượu tự chế biến từ trái cây vẫn hợp pháp,
7/ Tỳ kheo tùy ý làm tọa cụ lớn hoặc nhỏ vừa với mình vẫn hợp pháp,
8/ Tỳ kheo có thể làm những việc mà lúc còn cư sĩ đã làm vẫn hợp
pháp, tất nhiên có việc có thể làm được và có việc không
thể làm được,
9/ Trong một trú xứ có một nhóm Tỳ kheo làm pháp yết ma riêng, sau đó
đến yêu cầu chúng Tăng chấp nhận pháp yết ma ấy vẫn hợp pháp,
10/ Tỳ kheo có thể thu nhận và cất giữ vàng bạc, tiền của vẫn hợp
pháp.
Thế rồi, vào các ngày mồng 8, 14 và 15,
các Tỳ kheo ấy thường ngồi ở chỗ đông người qua lại, đặt một cái bát
nước trước mặt, nói với mọi người rằng đó là cái bát điềm lành,
rồi yêu cầu họ bố thí:
"Những điềm lành ở trong này, các
vị hãy bố thí y bát, giày dép và thuốc men". Những người muốn bố thí,
liền bố thí, những người không muốn bố thí thì chê trách, hủy báng,
nói: "Sa môn Thích tử không nên nhận vàng bạc, tiền của, giả sử có
ai đem cho, cũng không nên đưa mắt nhìn đến, nay vì sao lại bày ra cái
trò xin bố thí như thế này?".
Bấy giờ, Trưởng lão Da Xá ở trên giảng
đường Trùng Các, bên dòng sông Di Hầu thấy thế, liền nói với các
Tỳ kheo: "Các Thầy chớ bày ra cái trò xin bố thí như vậy. Chính tai tôi
từng nghe Phật dạy: Người cầu xin bố thí phi pháp, và người cầu bố thí cho
kẻ xin phi pháp, cả hai đều có tội". Thầy nói với các Tỳ kheo xong,
lại nói với các bạch y nam nữ già trẻ: "Các người đừng bố thí như
thế. Chính tôi từng nghe Phật dạy: Người cầu xin phi pháp và người bố
thí cho kẻ xin phi pháp, cả hai đều có tội".
Khi các Tỳ kheo được vàng bạc, tiền
của rồi, liền đem chia cho Da Xá, nói với Thầy: "Ðại đức có thể
nhận phần này".
Da Xá đáp: "Tôi không nhận cái phần
bố thí do xin phi pháp như vậy".
- Nếu thầy không nhận thì có thể cho
lại chư Tăng.
- Tôi đã không nhận thì lấy đâu mà cho
chư Tăng?
Thế rồi, các Tỳ kheo ấy bèn hạch tội Da
Xá rằng trước đây Thầy đã nói cho bạch y biết việc đó, làm như
thế là nhục mạ bạch y, nên họ phạt Da Xá bằng pháp yết ma hạ
ý (làm vui lòng người khác).
Sau khi tuân thủ pháp yết ma hạ ý, Da
Xá liền bảo các Tỳ kheo cử một Tỳ kheo cùng đi với Thầy đến các
nhà bạch y để xin lỗi họ. Da Xá bèn đi đến chỗ 500 Ưu bà
tắc đang tụ họp, nói với họ: "Các người nên biết, điều
gì chánh pháp thì tôi nói là chánh pháp, điều gì phi pháp thì tôi nói
là phi pháp, điều gì chánh luật thì tôi nói là chánh luật, điều gì
phi luật thì tôi nói là phi luật. Những gì do Phật dạy thì tôi bảo là do
Phật dạy, những gì không phải do Phật dạy thì tôi bảo là không phải do Phật
dạy. Trước đây tôi đã nói như thế, khiến các Ưu bà tắc nổi giận,
nên hôm nay tôi đến để xin lỗi".
Các Ưu bà tắc nghe thế, hoảng kinh bảo:
"Thưa Ðại đức, lúc nào Ðại đức bảo đây là pháp, đây là luật,
đây là lời Phật dạy, khiến cho chúng tôi nổi giận mà nay phải đến
xin lỗi?".
Nhân đó, Da Xá mới nói với họ rằng,
ngày trước tại thành Vương Xá, Ðức Thế Tôn có nói với các đại thần
của vua Bình Sa Vương rằng: "Sa môn Thích tử không nên cất giữ vàng bạc
châu báu và dùng nó để buôn bán". Rồi Phật nêu ví dụ về mặt
trời, mặt trăng không sáng tỏ là vì bị 4 thứ khói, bụi và A tu la che khuất.
Cũng thế, Sa môn Thích tử cũng bị 4 thứ sau đây che khuất: 1/ Không đoạn
trừ ái dục, làm điều bất tịnh, 2/ Ðam mê rượu thịt không chịu trừ bỏ,
3/ Chuyên làm những việc tà vạy để mưu sinh, 4/ Thu nhận vàng bạc
châu báu rồi dùng nó để mua bán kiếm lời. Chỉ có những ai xem ngũ
dục là thanh tịnh mới cất giữ vàng bạc châu báu, và dùng nó để mua
bán, rồi xem như một việc làm hợp pháp. Phật thường bảo: "Tỳ kheo
cần xe thì xin xe, cần người thì nhờ người, tùy theo những nhu cầu cần
thiết Ta đều cho phép cầu xin, nhưng hoàn toàn không được thu nhận
vàng bạc châu báu và dùng nó để mua bán".
Da Xá lặp lại lời Phật dạy xong, bèn hỏi
các người Ưu bà tắc là những điều đó có đúng luật, đúng lời Phật
dạy hay không. Các người ấy đều nhất trí thừa nhận là đúng, và phát
biểu: "Tại thành Tỳ Xá Ly hiện nay chỉ có Ðại đức Da Xá là số
một trong hàng Sa môn Thích tử". Thế rồi, họ yêu cầu Thầy trụ
trì tại thành Tỳ Xá Ly để họ cúng dường tứ sự (4 món cần thiết
suốt đời).
Sau đó, Da Xá từ giã các cư sĩ rồi trở
về lại trú xứ. Các Tỳ kheo Bạt Kỳ biết Da Xá được các người Ưu
bà tắc tín nhiệm, nên xoay qua kết tội thầy phạm Ba dật đề, vì
trước đây đã xúc phạm các Tỳ kheo, do đó, phải sám hối. Da Xá khẳng
định rằng mình vô tội nên không có lý do gì phải sám hối. Các Tỳ kheo
Bạt Kỳ bèn tập họp lại, định làm yết ma kết tội Da Xá ngoan cố
không nhận tội. Thấy tình thế gay cấn, Da Xá liền dùng thần thông bay
đến nước Ba Tuần. Trên đường đi, Thầy gặp 60 Tỳ kheo đã đắc tam minh,
lục thông, đều là đệ tử của A Nan, Thầy liền yêu cầu họ
họp sức để diệt trừ 10 điều phi pháp của nhóm Tỳ kheo Bạt
Kỳ, đồng thời Thầy tiếp tục vận động hai nhóm Tỳ kheo khác, mỗi
nhóm gồm 30 người. Họ cũng đã đạt được đạo quả cao siêu như nhóm
Tỳ kheo trước, và ai nấy đều nhiệt tình hưởng ứng công việc
chính nghĩa của thầy. Rồi thầy tiếp tục đến núi A Phù mời trưởng
lão Tam Phù Ðà hợp tác, và trưởng lão cũng tùy hỷ.
Bấy giờ, trưởng lão Ly Bà Ða đã đạt
được từ tâm tam muội, có đông đảo đồ chúng, đang ở tại thành Câu Xá
Di. Da Xá cũng đến đó mời trưởng lão tham gia, và trưởng lão cũng hoan
hỷ.
Các Tỳ kheo Bạt Kỳ nghe tin Da Xá đã
đến gặp trưởng lão Ly Bà Ða, họ bèn chở đầy thuyền những y bát
của Sa môn và những vật dụng cần thiết khác, cùng đến đó định mua
chuộc trưởng lão để trưởng lão yểm trợ. Trong thuyền ấy, có một
Tỳ kheo tên Sa Lan, thấy sự việc phức tạp, thầy bèn căn cứ vào kinh luật
chiêm nghiệm xem các Tỳ kheo Bạt Kỳ hành động đúng pháp hay phi pháp,
thì thầy thấy rằng họ phi pháp. Bỗng dưng, trên không trung có vị
thiên thần ba lần xướng lên rằng: "Ðúng thế ! đúng thế ! Các
Tỳ kheo Bạt Kỳ hành động phi pháp như ông đã thấy".
Khi đi đến Câu Xá Di, các Tỳ kheo Bạt
Kỳ liền vào diện kiến trưởng lão Ly Bà Ða và thưa rằng:
"Chúng tôi chở rất nhiều vật dụng cần thiết của Sa môn đến
để cúng dường đại đức, mong đại đức nạp thọ". Trưởng lão
từ chối nói: "Y bát của tôi đã đầy đủ chẳng cần chi nữa". Họ
lại nài nỉ: "Nếu không nhận nhiều, xin đại đức nhận cho chút
ít". Trưởng lão khẳng định: "Y bát của tôi đã đủ không thể
nào nhận thêm những vật của các thầy một cách phi pháp".
Biết Trưởng lão Ly Bà Ða có một
đệ tử tên Ðạt Ma thường hầu bên cạnh, các Tỳ kheo Bạt Kỳ liền
đến xin cúng dường vật dụng cho thầy, thầy cũng từ chối. Họ bèn
thuyết phục: "Khi Phật còn tại thế, người ta đến cúng dường
Phật, nếu Phật không nhận thì họ đem cúng dường A Nan, A Nan đều
nhận cả. A Nan nhận thì cũng như Phật nhận". Ðạt Ma nghe thế liền
nhận một vật. Nhận rồi liền hỏi: "Các Thầy muốn điều gì mà
cưỡng ép bố thí cho tôi?". Họ đáp: "Chúng tôi muốn đại đức
thưa với Hòa thượng Bổn sư, tận lực hỗ trợ chúng tôi, đừng để cho
Da xá phá hoại pháp luật của chúng tôi".
Ðạt Ma liền đến thưa với thầy
mình: "Hòa thượng nên ủng hộ các Tỳ kheo Bạt Kỳ", Ly Bà Ða nói:
"Những người làm điều phi pháp, ta không ủng hộ". Ðạt Ma thưa:
"Mong thầy suy nghĩ lại". Ly Bà Ða liền khiển trách Ðạt Ma:
"Nay ngươi khuyên ta hỗ trợ những kẻ phi pháp, ngươi chẳng phải là
đệ tử của ta nữa. Từ nay trở đi chớ có ở quanh quẩn bên ta".
Ðạt Ma sợ hãi, xấu hổ, đến thuật lại
với các Tỳ kheo Bạt Kỳ sự kiện vừa rồi và họ bèn an ủi, khuyên Thầy
đừng sợ gì cả.
Thế rồi, trưởng lão Ly Bà Ða suy nghĩ:
"Nếu ta dẹp trừ những việc phi pháp của bọn họ tại đây,
họ sẽ khởi lên trở lại, vậy ta phải cùng nhau đến chỗ ở của
họ mà dẹp trừ". Nghĩ vậy, liền cùng với Da Xá đến thành Tỳ
Xá Ly. Nơi thành này, có vị Tỳ kheo tên là Nhất Thiết Khứ, Thầy là vị
Thượng tọa có uy vọng nhất trong hàng Sa môn Thích tử ở cõi Diêm phù
đề này, đã đắc quả A la hán, có tam minh, lục thông, cũng là đệ
tử lớn nhất của A Nan. Da Xá liền bàn với Ly Bà Ða, cùng đến gặp
Nhất Thiết Khứ để bàn bạc công việc rồi sẽ thực hiện. Sau khi
gặp Thượng tọa Nhất Thiết Khứ, chào hỏi xong xuôi, Ly Bà Ða một mình
đến phòng Thượng tọa, trải tọa cụ an nghỉ. Ðêm đến, Ly Bà
Ða suy nghĩ: "Thượng tọa Nhất Thiết Khứ này đã quá già nua mà
còn nỗ lực ngồi thiền suốt đêm, thì ta nay đâu được phép an
nghỉ". Nhất Thiết Khứ cũng suy nghĩ: "Vị khách Tỳ kheo này đi
đường cực nhọc mà còn ngồi thiền suốt đêm để hành đạo, thì
ta đâu được phép nằm yên".
Hai người ngồi thiền suốt đêm suy nghĩ
về nhau như thế. Ðến cuối đêm, Nhất Thiết Khứ hỏi Ly Bà Ða:
"Ðêm nay Thầy nhập vào loại thiền định nào?"
Ly Bà Ða đáp: "Tính tôi rất nặng lòng
từ bi, đêm nay tôi nhập vào từ tâm tam muội".
- Ðó là loại Thiền định thô thiển.
Chẳng hay Thầy đã đắc quả A la hán chưa?
- Ðã đắc rồi. Thế còn Thượng tọa
đêm nay nhập vào loại Thiền định nào?
- Tính tôi thích quán tưởng về
"không", đêm rồi tôi nhập vào không tam muội.
- Ðó là việc làm của bậc đại nhân.
Vì không tam muội là pháp của bậc đại nhân. Nhưng Thượng tọa đã đắc
quả vị A la hán chưa?
- Ðã đắc rồi.
- Vậy xin Thượng tọa cho biết, muối
để cách đêm có được phép dùng không?
- Việc ấy nên hỏi giữa chúng Tăng,
nếu hỏi riêng tôi, những kẻ phi pháp sẽ cho tôi là có ý thiên vị và
không chấp nhận tôi vào thành phần bàn luận Tỳ ni (giới luật).
Bấy giờ, Ly Bà Ða liền tập họp Tăng
chúng để luận bàn Tỳ ni, nhưng vì Tăng chúng đông đảo, không khí ồn
náo, khó quyết đoán Tăng sự nên Thầy đề nghị bạch nhị yết ma
đề cử một số đại diện để chủ trì cuộc họp và quyết
đoán các sự việc. Nhóm Tỳ keo Bạt Kỳ trước hết đề cử 4 vị:
1/Nhất Thiết Khứ, 2/ Ly Bà Ða, 3/ Bất Xà Tôn, 4/ Tu Ma Na. Nhóm Tỳ kheo
Ấp Ba Lợi cũng đề cử 4 người: 1/ Tam Phù Ðà, 2/ Sa Lan, 3/ Trường
Phát, 4/ Ba Sa Lam.
Các Thượng tọa được Tăng sai bèn nhất
trí chọn khu vườn của một nữ thí chủ đã cúng dường cho chư Tăng, tại
Tỳ Xá Ly làm nơi nghị sự.
Bấy giờ Ly Bà Ða bèn hỏi Thượng tọa
Nhất Thiết Khứ điểm thứ nhất: "Muối để cách đêm có được
phép dùng không?"
Nhất Thiết Khứ đáp: "Không được
dùng".
- Phật chế định điều này tại nơi
nào?
- Tại thành Vương Xá.
- Do ai mà chế?
- Do một Tỳ kheo ở nơi A lan nhã.
- Phạm về việc gì?
- Phạm về việc dùng thức ăn để
cách đêm, thuộc tội Ba dật đề.
Thế rồi, Ly Bà Ða kết luận: Ðó là
pháp, đó là luật, đó là lời Phật dạy, các Tỳ kheo Bạt Kỳ làm điều
phi pháp, phi luật, trái lời Phật dạy, giờ đây bỏ xuống một thẻ.
Và cứ thế, Ly Bà Ða hỏi, Nhất Thiết
Khứ đáp, cho đến khi kết thúc 10 điều phi pháp.
Tiếp theo, 8 vị này bèn suy cử 4 người
đại diện là: Nhất Thiết Khứ 136 tuổi hạ, Ly Bà Ða 120 tuổi hạ, Tam
Phù Ðà và Da Xá đều 110 tuổi hạ, những vị này có trách nhiệm đem
các quyết định của Ðại hội vừa rồi ra công bố trước 700 vị A la hán,
theo thể thức Ly Bà Ða hỏi và Nhất Thiết Khứ đáp như trên. Cuối
cùng, Ly Bà Ða kết luận: "Những gì không do Phật chế thì không
được tùy tiện chế định, những gì do Phật đã chế thì không
được vi phạm. Tăng chúng phải chăm chỉ học tập những gì Phật đã
truyền dạy".
Cuộc kết tập này vừa đúng 700 vị A la
hán, nên gọi là cuộc kết tập của 700 người. (Ngũ phần Luật,
ÐTK.1421, tr.192a-194b).
Vài điều ghi nhận
1/ Lý do kết tập: cả hai bộ Tứ Phần
luật (ÐTK.1428, tr.969c-976a) và Thập Tụng luật (ÐTK.1435, tr.453c-455c) đều
nhất trí với Ngũ Phần Luật cho rằng do 10 điều phi pháp của nhóm Tỳ kheo
Bạt Kỳ mà phải mở Ðại hội kết tập pháp tạng lần thứ hai này.
2/ Thời gian kết tập: Ngũ Phần luật và
Tứ Phần luật đều ghi nhận là sau Phật Niết bàn 100 năm. Riêng Thập
Tụng luật thì bảo là sau Phật Niết bàn 110 năm.
3/ Ðịa điểm kết tập: cả ba bộ
đều nhất trí bảo là tại Tỳ Xá Ly.
4/ Thành phần chủ trì cuộc kết tập: Hai
bộ kia cũng không khác mấy với Ngũ Phần (xem lại trên), chỉ có cách phiên
âm tên của các trưởng lão hơi khác đôi chút mà thôi.
5/ Số người tham dự kết tập: Cả ba bộ
đều nhất trí cho rằng cuộc kết tập lần này có tất cả 700 vị A la
hán.
6/ Về 10 điều phi pháp: Cả ba bộ,
kể cả Luật Thiện Kiến (ÐTK.1462,tr.677c) và Luật Nam tông (Luật
xuất gia, quyển thượng, T.K.Hộ Tông, 241) cũng ghi nhận là có tất cả 10
điều, nhưng về thứ tự của 10 điều thì có đảo lộn chút ít (xem
bản so sánh ở sau). Tuy thế, nội dung của từng điều thì các bộ gần
như nhất trí, chỉ khác nhau về cách diễn giải rộng hay hẹp mà thôi.
Ở điều 2, Ngũ Phần luật ghi:
"Lưỡng chỉ" sao thực thực tịnh" (dùng hai ngón tay cầm thức ăn
để ăn vẫn hợp pháp), và được giải thích rõ là: Tỳ kheo ăn xong, rời
khỏi chỗ ngồi, nếu nhận được thức ăn khác, không cần xin phép ăn
thêm, dùng hai ngón tay cầm thức ăn mà ăn vẫn hợp pháp. Chúng tôi đã so
sánh các bộ Tứ Phần luật, Thập Tụng luật, Thiện Kiến luật - là những
tư liệu rất căn bản, cổ xưa, còn giữ nguyên vẹn - cũng đều giải
thích ý nghĩa như Ngũ Phần. Nhưng không hiểu sao phần lớn các loại
luật giải về sau, thường giải thích điều này khác hẳn. Cụ thể
như Phật Quang Ðại Từ Ðiển, tr.442a, giải thích điều 2 Nhị chỉ tịnh
như sau: Từ lúc mặt trời đúng ngọ cho đến lúc bóng xế hai ngón
tay vẫn có thể ăn được (mà không phạm luật). Nhân đây, người viết
muốn nêu lên thắc mắc này, xin chất chính các vị tôn túc luật sư, và rất
mong vấn đề này được làm sáng tỏ.
Tại sao gọi 10 điều ấy là phi pháp?
Thiết nghĩ, lúc bấy giờ cách Phật Niết bàn mới khoảng 100 năm, các
vị tôn túc trưởng lão nghiêm trì giới luật vẫn còn nhiều, chánh pháp
còn được nhiều người sùng thượng, mà các Tỳ kheo Bạt Kỳ lại tự
tiện đặt ra những điều luật mới khác với giới luật Phật chế,
nên mới bị lên án gắt gao như vậy. Kỳ thực, trong 10 điều ấy chỉ có
vài điều là trái luật, ngoài ra, các điều khác cũng không có gì là
trầm trọng lắm, nếu đem so sánh với thời đại chúng ta ngày nay. Vả
lại, nếu muốn cho chánh pháp tồn tại lâu dài và được truyền bá
rộng rãi, thì các sứ giả Như Lai phải biết tùy theo căn cơ, thời đại
và hoàn cảnh mà áp dụng giới luật một cách uyển chuyển, linh động,
miễn sao không phương hại đến mục đích giải thoát là được. Nếu
không thì giới luật của Phật sẽ có nhiều điều trở nên vô hiệu.
Thế nên, Phật đã cẩn thận căn dặn: "Này các Tỳ kheo, tuy là những
điều do Ta chế định, nhưng nếu không phù hợp với phong tục tập
quán của địa phương đó, thì không nên áp dụng. Trái lại, có những
điều không do Ta quy định, nhưng vốn là phong tục tập quán của địa
phương ấy thì không thể không thi hành" (Ngũ Phần luật, ÐTK.1421,
tr.153a).
Rồi Ðức Phật bổ túc: "Tỳ kheo khi làm
việc vì, nên đem đối chiếu với kinh, luật, nếu việc làm đó
phù hợp với tinh thần của kinh, luật thì hãy làm. Ngược lại, nếu
việc làm đó trái với tinh thần của kinh, luật, thì không nên làm"
(Tứ Phần Luật, ÐTK.1428, tr.970a).
Tóm lại, tinh thần của Phật giáo là
"Tùy duyên mà bất biến, bất biến mà vẫn tùy duyên". Chúng ta
có thể linh động áp dụng giới luật sao cho tốt nhất để đạt đến
mục đích giải thoát, nhưng phải thận trọng trong việc đề xuất
những quy định mới, và nhất là không nên tùy tiện sửa đổi giới luật
của Phật./.
Phụ lục: Bản so
sánh 10 điều phi pháp.
Các bộ luật - Những điều
khoản
- Ngũ Phần luật: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
- Tứ Phần luật: 7 1 3 2 6 8 9 5 4 10
- Thập Tụng luật: 1 2 5 3 4 7 9 8 6 10
- Thiện Kiến luật: 1 2 4 3 7 8 9 6 5 10
- Nam Tông luật: 1 2 4 3 7 8 9 6 5 10
Chỉ có cột 3 của Ngũ Phần luật (3 Tứ Phần:
5 Thập Tụng: 4 Thiện Kiến: 4 Nam Tông) về nội dung, so với mỗi
bộ có sai khác đôi chút, còn 9 cột kia, tuy vị thứ của mỗi bộ có khác
nhau, nhưng nội dung căn bản có thể nói tương đối nhất quán. (Khi nào
có dịp, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này).
[^]
Bài
trước
|
Mục lục |
Bài kế
-oOo-
| Toàn
bộ | | Tập Một
| | Tập Hai |
|Tập Ba|
--- o0o ---
Trình bày : Nhị
Tường
Chân thành cảm ơn Đạo hữu Bình Anson đã gởi tặng
phiên bản điện tử tập sách này
( Trang nhà Quảng Đức, 01/2002)
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |