Phật
Học Cơ Bản
Tập Hai
Ban
Hoằng pháp Trung ương
GHPGVN
Chương
trình Phật học Hàm thụ (1998-2002)
Nguyệt san Giác Ngộ
--- o0o ---
Phần
I - Bài đọc thêm
Năm Căn, Năm Lực
Thích Viên Giác
Con đường tu tập của
đạo Phật để đạt được mục đích giải thoát tối hậu bao gồm trong 37
phẩm trợ đạo, còn gọi là 37 yếu tố giác ngộ (Bodhi pàksika-Dharma),
đó là Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm
lực, Bảy giác chi và Tám chánh đạo. Ðây là những nguyên tắc căn bản của
mọi đường lối tu tập cho cả Nguyên thủy và Ðại thừa Phật giáo. Có lần
Ðức Phật nhấn mạnh rằng "...Về sau giáo đoàn có sự sai khác về
nếp sống, sinh hoạt, về quy chế tổ chức nhưng không thể có sự
sai khác về đường lối tu tập, về 37 phẩm trợ đạo" (Trung Bộ kinh
III, kinh Làng Soma). Mỗi pháp đều có lãnh vực riêng và lộ trình tâm
riêng, nhưng đồng thời nó mang tính thống nhất và đan quyện vào nhau, bổ
sung cho nhau.
Trong phạm vi đề tài, chúng tôi sẽ
trình bày phần Năm căn và Năm lực, là một phần của con đường tu tập nhưng
rất quan trọng, có thể nói Năm căn, Năm lực là những yếu tố giác
ngộ căn bản làm nền cho 37 phẩm trợ đạo.
I- Ðịnh nghĩa
a/- Năm căn (Panca-Indriya):
Căn nghĩa là rễ, là nguồn gốc, là cơ sở xuất phát. Năm căn là năm cơ sở
tâm lý thiện, từ đó mọi thiện pháp sinh khởi, nói cách khác,
chúng là 5 đức tính căn bản cho thiện tính, giải thoát tính, gồm có:
1. Tín căn (Saddhà): niềm tin đối với
Tam bảo, Tứ đế
2. Tấn căn (Viriya): nỗ lực tu tập thiện pháp
3. Niệm căn (Sati): nhớ nghĩ chánh pháp
4. Ðịnh căn (Samàdhi): trụ tâm vào một cảnh
5. Tuệ căn (Panna): hiểu rõ chân lý.
Tóm lại, Năm căn là năm cơ sở sinh khởi
của tất cả các thiện pháp.
b/- Năm lực (Panca-Bala):
Lực là năng lực, là sức mạnh, là năm sức mạnh tinh thần, năm khả năng do
thực hành 5 căn đưa tới, làm cho hành giả giác ngộ. Nói cách khác, 5 lực
là kết quả thực hành 5 căn, như do tín căn mà có tín lực. Gồm có 5
lực:
1. Tín lực: là tâm loại bỏ được hoài nghi
và những niềm tin sai lầm.
2. Tấn lực: là năng lực tu tập diệt trừ bất thiện pháp gồm trong Bốn
chánh cần.
3. Niệm lực: là sức mạnh do tu tập hành Bốn niệm xứ.
4. Ðịnh lực: là sức mạnh do tu tập thiền định loại bỏ mọi tham ái.
5. Tuệ lực: là sức mạnh nhờ tuệ tri về Bốn chân lý, đoạn tận
vô minh.
Mối quan hệ giữa Căn và Lực là mối quan
hệ nhân quả hỗ tương: tu tập căn thì phát huy sức mạnh của lực, sức
mạnh của lực sẽ làm cho căn càng vững chắc. Ví dụ: khi phát khởi đức tin
đối với Tam bảo, đức tin ấy có tác dụng đưa mình vào con đường
thiện, khi vào con đường thiện thì đức tin đối với Tam bảo càng
sâu.
II- Nội dung của Năm căn và
Năm lực
1)- Tín căn và Tín lực (Saddhà):
là niềm tin, là sự tin tưởng hay một lý tưởng để hướng
đến. Ở đây là niềm tin vào bậc Ðạo Sư (Ðức Phật) và giáo
pháp của Ngài, là bước đầu xây dựng lộ trình tâm hướng thượng và hướng
thiện. Niềm tin của người Phật tử là biểu hiện của sự thấy
biết sâu sắc của chánh kiến.
Con người ai cũng có một niềm tin, một
lý tưởng tựa cho tinh thần và hành động, ai cũng có một mục tiêu
để hướng đến. Một người nếu không có một niềm tin nào trong
đời sống của mình, người đó sẽ mất phương hướng, sẽ sống vội và sống
ích kỷ, sẽ bị sa đọa và gặt hái khổ đau. Có người tin vào tài sản
tiền bạc, lấy tài sản làm nơi trú ẩn, nương tựa, họ an tâm khi tài
sản tăng trưởng. Có người tin vào tình yêu, cho đó là lẽ sống của đời
họ, nếu không có tình yêu, cuộc đời sẽ mất hết ý nghĩa
v.v... Nhưng sớm muộn gì, những người ấy sẽ nhận ra rằng những đối tượng
của niềm tin thế tục có nguy cơ đưa đến bất an, bất hạnh và khổ
đau. Kinh nghiệm về khổ đau thường trực trong cuộc đời làm cho con
người thức tỉnh, họ bắt đầu hướng tâm tìm kiếm những đối tượng
cao siêu nào đó để tin tưởng, để làm mục tiêu và lý tưởng
của đời mình.
Người Phật tử khởi lên niềm tin đối
với Ðức Phật, hay nói một cách đầy đủ: Phật, Pháp và Tăng, lấy Tam bảo
làm nơi nương tựa, làm mục tiêu và lý tưởng của đời mình. Như vậy,
tín căn bắt đầu phát triển. Ðức Phật dạy về tín căn như sau:
"Này các Tỳ kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, đặt lòng tin vào sự
giác ngộ của Như Lai rằng:"Ðây là Như Lai, ng Cúng, Chánh Biến Tri,
Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Ðiều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Này các Tỳ kheo, đây được gọi
là tín căn" (Tương Ưng V, 308). Chữ "căn" trong đạo Phật có
ý nghĩa là gốc rễ ở tâm thức, như nói: "Thiện căn ở tại lòng
ta" (Nguyễn Du). Lòng tin của người Phật tử xuất phát từ một cuộc
chuyển hóa nội tâm, một sự hiểu biết khởi lên từ kinh nghiệm
thực tiễn: cuộc đời đầy đau khổ. Thấy khổ và mong muốn thoát khổ là cơ
sở của niềm tin trong đạo Phật; như vậy, niềm tin của đạo Phật luôn
bao hàm lý trí chứ không thuần túy đức tin, thuần túy theo quan điểm
thần học. Ðức Phật thường dạy: "Tin ta mà không hiểu ta là phỉ
báng ta".
Tin tưởng vào Ðức Phật, giáo pháp và
chúng Tăng có nghĩa là tin tưởng vào điều thiện, hướng về con
đường giải thoát. Khi niềm tin đối với Tam bảo được xác lập thì con
người sẽ từ bỏ các hành vi bất thiện, làm giảm nhẹ áp lực của tham lam,
sân hận và si mê. Ở trong tâm thức mình sẽ hình thành sức mạnh hướng
về điều thiện, thích thú với điều thiện và nỗ lực
thực hành điều thiện, đó gọi là tín lực.
Tu tập phát triển sức mạnh của niềm
tin sẽ đưa đến khả năng từ bỏ một cách dứt khoát đối với điều
ác, coi nhẹ các dục lạc thế tục bao gồm tình cảm, tài sản, danh
vọng..., sức mạnh ấy sẽ đưa đến đoạn trừ tham, sân, si, ích
kỷ... Ðức Phật dạy: "Này các Tỳ kheo, tu tập tín lực liên hệ
đến viễn ly, ly tham, đoạn diệt sẽ hướng đến từ bỏ..., hướng
đến Niết bàn" (Tương Ưng V). Mặt khác, khi phát triển năng
lực, niềm tin bạn sẽ không còn nghi ngờ hay do dự đối với thiện pháp
và pháp môn, như bạn có niềm tin vững chắc với Tam bảo thì bạn sẽ nhận
thức rõ rằng điều thiện là đáng làm, rằng tu tập thiền định là
tốt đẹp cho tâm thức, là cách đoạn trừ phiền não... bạn không nghi ngờ
gì về điều ấy, cuộc đời bạn có một đường lối rõ ràng.
Người Phật tử có niềm tin đối với Tam
bảo mà cuộc sống vẫn đầy rẫy những tranh chấp, tham đắm, hận thù, thì
người ấy chưa thật sự có niềm tin đúng đắn, do đó không phát huy
được sức mạnh của niềm tin.
Tóm lại, tín căn và tín lực là cơ sở và
năng lực của niềm tin đưa đến từ bỏ điều ác, thực hành
điều thiện, là lối thoát cho mọi bất hạnh và khổ đau, bất an.
Ðó cũng là thái độ coi trọng chân lý, đặt mục tiêu và lý
tưởng mình nơi chân lý.
2)- Tấn căn và tấn lực (Viriya): chính
là nội dung của Chánh tinh tấn trong Bát chánh đạo, Tứ chánh cần trong 37
phẩm trợ đạo và Tinh tấn trong Thất giác chi. Tấn căn là sự nỗ lực
đúng đắn để đoạn trừ điều ác, phát triển điều thiện.
Ðức Phật dạy: "Này các Tỳ kheo, dựa vào Tứ chánh cần để thu nhận
tinh tấn gì? Ðây gọi là Tấn căn" (Tương Ưng V).
Khi đã có được niềm tin đối với Tam
bảo một cách vững chắc, năng lực của niềm tin sẽ đẩy bạn đi tới, nghĩa
là khởi lên tâm ước muốn hành động, muốn dấn thân để vươn tới cái
tối thiện. Do đó, sự nỗ lực tinh cần, nhiệt tâm khởi lên, đó là
tấn căn. Tấn căn như là hệ quả tất yếu của niềm tin, nếu tấn
căn không xuất hiện tức là đức tin của bạn chưa đúng mức.
Bất cứ một công việc gì hay ước
nguyện gì nếu không có sự nỗ lực tinh cần thì không thể thành
đạt gì. Vì vậy, tinh tấn là một đức tính căn bản luôn luôn có mặt trên
lộ trình tu tập từ bước đầu tiên cho đến mục tiêu cuối cùng. Một
người có nhiệt tâm siêng năng làm việc hay thực hành các hình thức
tu tập như tụng kinh, làm việc thiện, dầu vậy vẫn không được coi là
tinh tấn. Bởi lẽ có thể có những động cơ vì danh, vì lợi đằng sau các
hoạt động siêng năng ấy, có thể đưa đến phá hoại các thiện
pháp.
Tiêu chuẩn của tinh tấn được trình bày qua
Tứ chánh cần, 4 lãnh vực nỗ lực chân chánh:
a/- Nỗ lực tinh cần không cho sinh khởi
các điều ác chưa sinh.
b/- Nỗ lực tinh cần đoạn trừ các điều ác đã sinh.
c/- Nỗ lực tinh cần làm phát khởi các thiện pháp chưa sinh.
d/- Nỗ lực tinh cần làm tăng trưởng những điều thiện đã sinh.
Bốn lãnh vực tinh cần có thể được
hiểu như sau:
a/- Tinh cần chế ngự sáu giác quan đừng
để sáu giác quan bị chi phối và lôi cuốn theo các đối tượng tham dục,
làm cho các phiền não chưa sinh sẽ sinh.
b/- Tinh cần đoạn trừ những tư duy bất thiện gồm có lòng tham dục, sân
hận và hãm hại. Ðó chính là động cơ của mọi lỗi lầm, tội ác.
c/- Tinh cần tu tập các phương pháp mà Ðức Phật đã dạy như Thất giác chi,
Bát chánh đạo, qua đó làm phát khởi các thiện tâm, các công đức.
d/- Tinh cần hộ trì, tu tập giữ gìn các thiện pháp đã có mặt đừng
để thối thất, nhờ đó mà phát triển đạo lực và tuệ giác (kinh
Tăng Chi).
Các công đức, thiện tâm được hiển
lộ dần dần chi phối toàn bộ dòng tâm thức, những tâm lý ô nhiễm không
có điều kiện tồn tại, tâm thức được năng lực tinh tấn bảo vệ
như người chiến sĩ khoác chiếc áo giáp, đây là tác dụng của tinh
tấn là tấn lực.
Người có tấn lực không dễ sa ngã vào dòng
đời vì tấn lực có năng lực đưa bạn thiên về Niết bàn, hướng
về Niết bàn, xuôi về Niết bàn.
Tóm lại, niềm tin tạo nên ước muốn
hướng thiện và hành thiện và tinh tấn là thực hiện một cách tích
cực các thiện pháp. Không có tinh tấn thì sẽ dang dở công phu như kinh Di
Giáo dạy: "Nếu người hành đạo mà hay biếng nhác phế bỏ thì
cũng như kéo lửa chưa nóng mà ngừng, dầu thiết tha có lửa, lửa cũng
không có được". Sức mạnh của tinh tấn sẽ nhanh chóng đưa hành giả
đến mục đích giải thoát như kinh Pháp Cú, Phật dạy:
"Tinh cần giữa phóng dật
Tỉnh thức giữa quần mê
Người trí như ngựa phi
Bỏ sau những ngựa què" -- (PC 29)
3)- Niệm căn và niệm lực
(Sati): niệm căn là khả năng chánh niệm tỉnh giác, là dụng
tâm an trú vào các đối tượng cần an trú để đình chỉ sự đi hoang của
tâm lý, đồng thời phát triển tuệ giác nhờ an trú tâm nên các
đối tượng ấy, nghĩa là an trú tâm vào 4 lãnh vực thân thể, cảm giác,
tâm ý và đối tượng tâm lý, ta quen gọi là Tứ niệm xứ hay Tứ
niệm trụ. Ðức Phật dạy: "Này các Tỳ kheo, cần phải quán niệm
căn trong Bốn niệm xứ" (Tương Ưng V).
Năng lực chánh niệm sẽ làm nền cho
định lực và tuệ giác phát triển, năng lực ấy đều có sẵn trong
tự thân của mỗi người. Thông thường ta phóng tâm chạy theo ngoại cảnh
qua các giác quan, bị ngoại cảnh chi phối dẫn dắt làm phân tán năng lực tâm
thức. Chánh niệm là không phóng tâm theo ngoại cảnh nữa mà quay về
nội quán, làm chủ các hoạt động của thân tâm, nghĩa là biết rõ và chú
ý về các hoạt động của thân thể, của các cảm giác vui buồn, các
tư duy và các đối tượng tư duy. Nhờ Chánh niệm, ta thấy rõ các hoạt
động của thân thể và tâm lý nên ta có thể chuyển hóa chúng
từ thác loạn thành ổn định, từ ô nhiễm thành thanh tịnh, từ khổ đau thành
hạnh phúc. Con đường Chánh niệm được coi là con đường duy nhất phải
đi qua để đạt được mục đích giải thoát. Ðức Phật dạy: "Ðây là
con đường duy nhất để giúp chúng sanh thực hiện thanh tịnh, vượt
thắng phiền não, tiêu diệt khổ ưu, đạt tới Chánh đạo và chứng nhập
Niết bàn, đó là con đường an trú Bốn niệm xứ" (kinh Niệm Xứ
- Trung Bộ kinh).
Niệm lực là tác dụng của chánh
niệm, nhờ chánh niệm mà phiền não được tiêu diệt và
thiện pháp được an trú vững chắc. Tác dụng của chánh niệm có
thể phân tích như sau:
a/- Nhờ chánh niệm mà các tâm lý
tham dục, sân hận và tà kiến dừng lại, sự kích thích các tâm lý bất
thiện không sinh, các phiền não lo lắng, sợ hãi không có cơ hội phát
triển và xâm nhập, như Phật dạy:
"Như ngôi nhà khéo lợp
Mưa không xâm nhập vào
Cũng vậy, tâm khéo tu
Tham dục không xâm nhập" --
(PC 14)
b/- Nhờ chánh niệm mà giữ gìn và an trú
các thiện pháp, các công đức như bố thí, trì giới, tinh tấn, thiền
định và trí tuệ, các công đức này được bảo vệ và phát triển.
Nếu mất chánh niệm thì các công đức cũng mất.
c/- Nhờ chánh niệm mà tâm hồn được
vững chãi, an ổn, thanh thản. Có thể làm việc, sinh hoạt, tham dự
mọi hoạt động xã hội mà không bị ô nhiễm hay phiền não tác động
chi phối, như Phật dạy trong kinh Di Giáo: "Nếu chánh niệm có sức
lực vững mạnh thì dầu vào trong đám giặc ngũ dục cũng không bị chúng sát
hại như tướng sĩ lâm trận mà mặc áo giáp lát đồng thì không còn sợ hãi
gì nữa". Sống gần gũi với ngũ dục mà không bị chúng làm hại, đó là
đặc tính và tác dụng độc đáo của chánh niệm.
Tóm lại, khi ta trở về an trú tâm, tỉnh
giác trên các đối tượng như thân thể khi đi, đứng, nằm, ngồi... an trú
tâm vào hơi thở vào ra, ta bắt đầu lấy lại quyền tự chủ, tâm lý đi
hoang trở nên thuần thục. Phát triển năng lực chánh niệm sâu hơn, ta
làm chủ các cảm giác sung sướng hay khổ đau, tâm tư có hay không có tham
lam, giận hờn, hãm hại, an trú tâm trên các pháp môn tu tập quán chiếu
như vô thường, vô ngã, duyên sinh... Nhờ đó, các hoạt động tán loạn và
vô ích của tâm sẽ đình chỉ, tâm sẽ ổn định và hướng về một hướng:
thanh tịnh Niết bàn.
4)- Ðịnh căn và Ðịnh lực
(Samàdhi): định căn là khả năng tập trung của tâm vào một đối
tượng, thường thì tâm ta theo đuổi các đối tượng liên tiếp không
ngừng nghỉ, những đối tượng thường được tâm ta bám víu theo đuổi là sắc
đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, xúc chạm êm dịu và những ảnh
tượng tư duy. Nói về định căn, Phật dạy: "Thế nào là định
căn? Vị Thánh đệ tử sau khi từ bỏ các pháp sở duyên, được định,
được nhất tâm" (Tương Ưng V). Hoặc nói theo kinh Di Giáo: "Các thầy
Tỳ kheo, tập trung tâm lại thì tâm sẽ ở trong thiền định". Các pháp
sở duyên là các đối tượng mà tâm nhận thức, khi bị các đối tượng dẫn
dắt chi phối, tâm ở vào trạng thái tán loạn. Tập trung tâm lại là gom tâm
về một mối, nghĩa là trên một đối tượng cho đến khi tâm chủ
thể và đối tượng là một thì tâm ở trong trạng thái thiền định. Khi
ta tập trung vào một đối tượng chuyên nhất mà sự chuyên nhất ấy làm lòng
tham, sân, hại tăng trưởng thì gọi là tà định. Nếu sự chuyên nhất
ấy đưa đến thanh tịnh, viễn ly tham, sân... thì gọi là chánh định.
Tập trung tâm vào một đối tượng là ý
nghĩa của chữ Samàdhi, tịnh hay chỉ. Tập trung tâm vào một đề mục quán
chiếu là ý nghĩa của chữ Dhyàna, Thiền hay Thiền quán.
Thiền định chân chính là bao gồm cả hai ý nghĩa ấy.
Ðịnh lực là năng lực của thiền định,
thiền định tạo ra năng lực đoạn trừ các thế lực tâm lý bất
thiện, các thế lực ấy sâu có cạn có, tùy theo tác dụng mạnh hay
yếu mà thiền định có thể đưa tâm an tĩnh đến mức độ nào.
Ðức Phật thường đề cập đến thiền định qua 4 cấp độ: sơ
thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Khi tâm có định thì có
tác dụng đoạn trừ 5 yếu tố trói buộc và gây bất ổn tâm lý, đó
là:
a/- Tham dục: những ước muốn bất thiện,
là các đối tượng thích ý làm tâm dao động.
b/- Sân hận: những sự bất mãn không thích đối với các đối tượng không
vừa ý, làm tâm dao động.
c/- Hôn trầm thụy miên: trạng thái buồn ngủ, thụ động trầm uất u trệ
làm tâm không tỉnh giác.
d/- Trạo hối: trạng thái tâm chao đảo, chập chờn làm tâm dao động không
yên.
e/- Hoài nghi: trạng thái tâm lý do dự không quyết định làm têm không
vào định được.
Năm trạng thái tâm lý tích cực dần dần
đi sâu vào nhất tâm được thành tựu, đó là: tầm, là trạng thái tâm ý
và đối tượng hướng vào nhau; tứ, là trạng thái tâm ý và đối tượng
gắn chặt với nhau, tuy hai mà một; hỷ, là trạng thái tâm lý hoan
hỷ do định mà có; lạc, là trạng thái vượt qua hỷ, một sự thỏa mãn
thân tâm; nhất tâm, là trạng thái không còn dao động, đây là ý nghĩa
của định.
Tóm lại, định có được là nhờ niệm
lực, như khu vườn được làm sạch cỏ, cây trái được trồng chỉ cần siêng
năng chăm bón là đơm hoa kết trái. Thiền định chủ yếu là đừng
để các đối tượng tham dục khuấy động, đừng để dòng tư duy tuôn
chảy bất tận, phải làm cho tâm dục đình chỉ và xả ly sự rối loạn của tư
duy. Như vậy, những tạp niệm, những tâm lý bất an, thụ động, bám víu
đều được xả ly và tâm định an trú.
5)- Tuệ căn và Tuệ lực
(Panna): trí tuệ là khả năng thấy biết một cách sâu sắc
về bản chất của con người và thế giới, biết rõ các nguyên lý
chánh tà, thiện ác; thấy rõ tính vô thường, vô ngã duyên sinh một cách
trực tiếp. Chánh kiến, chánh tư duy là những biểu hiện của trí
tuệ. Trí tuệ là nền tảng của mọi đức tính, Ðức Phật dạy:
"Với vị Thánh đệ tử có trí tuệ, này các Tỳ kheo, tất nhiên tín
được an trú, tinh tấn được an trú, niệm được an trú, định được an
trú" (Tương Ưng V). Như vậy, trí tuệ vừa là nguyên nhân vừa là
kết quả của các thành quả tu tập. Trong mọi lãnh vực, mọi pháp
môn, trí tuệ luôn luôn dẫn đầu, do đó trí tuệ được người Phật
tử coi là sự nghiệp của đời mình (Duy tuệ thị nghiệp).
Trong kinh Căn Bản Pháp Môn (Trung Bộ I),
Ðức Phật dạy có có 3 cấp độ nhận thức:
a/- Cấp độ một gọi là tưởng tri; là
nhận thức thông thường qua kinh nghiệm các giác quan, nhận thức bị hạn
chế bởi sự hạn chế của giác quan, chúng mang tính nhị nguyên phân
biệt chủ thể và đối tượng, còn gọi là nhận thức hữu ngã.
b/- Cấp độ hai gọi là thắng tri
(Abhinnattha), là nhận thức trực tiếp qua thiền định, thấy rõ tâm
lý và vật lý là một chuỗi duyên sinh vô ngã, ở đây chủ thể
và đối tượng tan biến trong cái thấy sáng tỏ.
c/- Cấp độ ba gọi là liễu tri
(Parinnattha), là trên cơ sở thắng tri nhận thức viên mãn nhổ tận gốc rễ của
sự tham ái và chấp thủ. Chủ thể và đối tượng là một, giải thoát
mọi ràng buộc của ba cõi.
Trí tuệ chính là khả năng thắng tri và
liễu tri, có thể nói gọn trí tuệ là nhận thức không ô nhiễm,
đoạn tận mọi tham ái.
Sức mạnh của trí tuệ gọi là tuệ
lực, một người có trí tuệ là có sức mạnh:
a/- Ðoạn trừ phiền não, bất thiện
pháp mà căn bản là sự tham đắm si mê đối với năm dục lạc.
b/- Ðoạn trừ sự chấp thủ, mê đắm đối
với các quan điểm, luận thuyết, tư duy, tư tưởng..., biết rõ đấy
là mê cung đưa đến rối loạn và khổ đau.
c/- Ðoạn trừ sự chấp ngã, sự bám víu vào
cái ta và cái của ta, đồng thời xuất hiện tâm từ, bi, hỷ, xả.
d/- Ðoạn trừ vô minh vi tế , thành tựu
giải thoát và giải thoát tri kiến, đủ phương tiện độ sanh.
Tóm lại, "trí tuệ chân thực là
chiếc thuyền chắc nhất vượt biển sinh, lão, bệnh, tử; là
ngọn đèn sáng nhất đối với hắc ám vô minh; là thần dược cho mọi
kẻ bệnh tật; là búa sắc chặt cây phiền não" (kinh Di Giáo). Như
vậy, tuệ được coi là tối thượng của sự giải thoát.
III- Kết luận
Năm căn, Năm lực là những đức tính căn
bản cho mọi thiện pháp và mọi đường lối giải thoát sinh tử. Lộ
trình tâm được trình bày qua Năm căn, Năm lực là lộ trình giải thoát, một
pháp môn tu tập tuần tự từ thấp đến cao. Khi bạn có niềm tin vào
điều thiện, có chỗ để hướng tâm trí của mình, bạn sẽ có
niềm vui, lòng nhiệt thành và nỗ lực thực hiện lý tưởng
của mình. Khi nỗ lực nhiệt tâm đã phát khởi, tâm ý của bạn sẽ
an trú vào những đối tượng và mục đích cần thiết, bạn không còn hoang
mang do dự theo kiểu "tiền lộ mang mang vị tri hà vãng" (Cảnh
sách văn) - nghĩa là đường trước mịt mờ chẳng biết đi về đâu.
Tâm trí của bạn chỉ hướng về một điểm, soi sáng vào một điểm,
dần dần sự thật hiển lộ dưới tuệ giác của bạn. Ðến đây,
mọi ưu phiền, đau khổ, tham dục, hận sầu đều rơi rụng. Bạn có
một đời sống thanh thản và tịnh lạc.
Năm căn, Năm lực là một pháp môn có
thể thực tập riêng và đưa đến kết quả giải thoát, đồng thời
pháp môn này vẫn có thể tu tập một cách dung thông với tất cả các phẩm
trợ đạo mà không có chướng ngại gì, tất cả đều quy về một hướng:
hướng về Niết bàn./.
[^]
Bài
trước
|
Mục lục |
Bài kế
-oOo-
| Toàn
bộ | | Tập Một
| | Tập Hai |
|Tập Ba|
--- o0o ---
Trình bày : Nhị
Tường
Chân thành cảm ơn Đạo hữu Bình Anson đã gởi tặng
phiên bản điện tử tập sách này
( Trang nhà Quảng Đức, 01/2002)
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |