ôn
Giáo
là
gì?
Khi
nghiên
cứu
lịch
sử
Tôn
Giáo,
chúng
ta
tìm
thấy
nhiều
giải
đáp
cho
vấn
đề
này.
Vậy
đâu
là
giải
đáp
thỏa
đáng
nhất?
Những
giải
đáp
ấy
có
thích
ứng
với
Đạo
Phật
không?
Chúng
ta
hãy
tìm
hiểu
một
vài
định
nghĩa
thông
dụng
nhất.
Một
định
nghĩa
nói
rằng
Tôn
Giáo
là
hệ
thống
các
tín
điều.
Định
nghĩa
này
rất
đúng
đối
với
nhiều
tôn
giáo
trên
thế
giới,
nhưng
không
phù
hợp
với
Đạo
Phật
vì
những
lý
do
sau
đây:
1-
Tín
điều
chỉ
là
một
mớ
ngôn
từ
không
tuyệt
đối.
Danh
từ
tự
nó
mang
đặc
tính
hữu
hạn,
làm
giới
hạn
chân
lý.
Chân
lý
không
bao
giờ
được
chứa
đựng
một
cách
toàn
vẹn
trong
ngôn
từ.
Danh
từ
có
thể
là
phương
tiện
để
truyền
đạt
chân
lý,
nhưng
chúng
ta
phải
hiểu
rằng
đó
không
phải
là
phương
tiện
hoàn
hảo.
2-
Tín
điều
chỉ
đưa
tôn
giáo
đến
chỗ
cứng
đọng,
giảm
hiệu
lực
và
làm
mất
tính
cách
sống
động,
uyển
chuyển
của
nó.
3-
Khi
đã
tin
vào
một
số
Tín
điều
nhất
định
nào
đó,
người
ta
dễ
sinh
ra
cố
chấp,
bảo
thủ
những
tín
điều
ấy,
và
xem
thường
hay
gạt
bỏ
những
tín
điều
của
những
tôn
giáo
khác.
Đây
là
lý
do
đưa
đến
tham
vọng
bắt
mọi
người
chấp
nhận
tín
điều
của
mình,
và
cũng
từ
đó
xẩy
ra
chiến
tranh
tôn
giáo
mà
chúng
ta
thường
thấy
trong
lịch
sử.
4-
Tín
điều
là
kết
quả
của
những
nỗ
lực
đưa
chân
lý
vào
hình
thức
của
các
mệnh
đề
phạm
trù
thuần
lý.
Trái
lại
Phật
Giáo
không
bao
gồm
một
hệ
thống
mệnh
đề
thuần
lý
mà
là
một
phương
pháp
thực
nghiệm
của
cuộc
sống.,
Chúng
ta
tìm
thấy
lời
dạy
sau
đây
của
Đức
Phật
trong
Pháp
Cú
Kinh:
"
Người
nói
nhiều
Giáo
Pháp
nhưng
không
tự
mình
thực
hành
thì
chẳng
khác
nào
đếm
bò
cho
kẻ
khác.
Người
ấy
không
thể
hưởng
được
quả
vị
Thánh
nhân.
Người
không
nói
được
nhiều
Giáo
Pháp,
nhưng
tự
mình
sống
theo
Pháp,
từ
bỏ
tham
lam,
sân
hận,
si
mê,
có
chánh
kiến
và
trầm
tĩnh
không
cố
chấp
vào
thế
giới
nà
hay
thế
giới
khác,
người
ấy
mới
là
đệ
tử
Như
Lai".
Một
định
nghĩa
khác
xem
tôn
giáo
như
là
sự
mặc
khải
của
thượng
đế.
Hầu
hết
các
tôn
giáo
Tây
phương
đều
được
thiết
lập
trên
nền
tảng
Thiên
khải.
Theo
các
tôn
giáo
ấy
thì
Thiên
khải
tức
là
phương
tiện
giao
cảm
giữa
Thượng
đế
với
con
người,
nhờ
đó
con
người
biết
được
Ngài
và
vạn
vật
do
Ngài
sáng
tạo.
Phật
giáo
không
tán
thành
Thiên
khải
vì
những
lý
do
sau
đây:
1)
Thiên
khải
có
tính
cách
đặc
thù
vì
chỉ
được
thực
hiện
đối
với
từng
cá
nhân.
Và
một
khải
thị
có
thể
được
xem
là
giá
trị
đối
với
người
này
chưa
hẳn
đã
đúng
với
người
khác.
Vậy
mặc
khải
mang
sắc
thái
chủ
quan,
không
thể
phổ
quát
hóa.
Điều
này
đưa
đến
một
sự
chia
rẽ
trầm
trọng
giữa
các
tôn
giáo
Tây
phương.
Mặc
dù
các
tôn
giáo
ấy
đều
dựa
trên
căn
bản
mặc
khải,
nhưng
xem
ra
những
khải
thị
của
họ
lắm
lúc
mâu
thuẫn
lẫn
nhau.
Tệ
hại
hơn
nữa,
có
khi
trong
cùng
một
tôn
giáo
mà
nhóm
tông
đồ
kích
bác
mãnh
liệt
đến
độ
chiến
tranh
bùng
nổ
vì
thiên
khải
bất
đồng.
2-
Thiên
khải
đi
ngược
lại
các
nguyên
lý
căn
bản
như
nguyên
lý
túc
lý,
nguyên
lý
nhân
quả...
Ông
Christmas
Humphreys,
Hội
Phật
Giáo
Anh
Quốc,
nói:
"Trong
Phật
giáo,
không
những
chúng
ta
không
tìm
thấy
Thiên
khải,
mà
quan
niệm
này
còn
bị
bác
bỏ
nữa
là
khác".
Vì
người
Phật
tử
phải
thấu
hiểu
vũ
trụ,
nhân
sinh
qua
kinh
nghiệm,
lý
trí
và
trực
giác,
như
thái
độ
của
nhà
khoa
học,
mà
không
cần
ai
khải
thị.
Họ
nhận
định
rằng
tri
thức
do
khải
thị
chỉ
là
một
mớ
trí
thức
vay
mượn,
tạm
bợ
và
ảo
tưởng.
Thái
độ
của
người
Phật
tử
giống
như
thái
độ
của
Tất
Đạt
trong
"Câu
chuyện
dòng
sông"
của
văn
hào
Hermann
Hesse.
Tất
Đạt
nhìn
nhận
Đức
Phật
là
bậc
Toàn
Chân,
Toàn
Thiện,
Toàn
Mỹ;
lời
dạy
của
Ngài
rất
hoàn
hảo,
nhưng
chàng
phải
thực
hiện
con
đường
riêng
của
mình,
con
đường
mà
chàng
biết
cuối
cùng
cũng
chỉ
như
lời
Phật
dạy
và
cứu
cánh
tối
hậu
của
nó
cũng
chỉ
là
để
thành
bậc
Toàn
Chân,
Toàn
Thiện,
Toàn
Mỹ
như
Đức
Phật;
vì
không
thể
có
cái
gì
cao
hơn
được
nữa.
Cũng
thế
người
Phật
tử
không
chấp
nhận
lời
dạy
của
Đức
Phật
như
tín
điều
hay
mặc
khải
mà
họ
phải
chấp
nhận
một
cách
tuyệt
đối,
họ
xem
giáo
lý
của
Ngài
như
những
kinh
nghiệm
của
người
đi
trước
và
muốn
đạt
đến
cứu
cánh
họ
phải
đi
hết
quãng
đường
bằng
chính
kinh
nghiệm,
lý
trí
và
trực
giác
của
mình.
Một
định
nghĩa
nữa
coi
tôn
giáo
như
những
lệ
cúng
tế,
cầu
đảo.
Sở
dĩ
có
định
nghĩa
như
vậy
vì
một
vài
tôn
giáo
Đông
phương
cũng
như
Âu
Mỹ
tó
ra
rất
chú
trọng
đến
lễ
nghi
cúng
tế.
Những
tôn
giáo
này
tin
rằng
thần
thánh
có
một
quyền
uy
ban
ơn
giáng
họa
tuyệt
đối.
Họ
phải
tỏ
lòng
cung
kính
và
phục
tùng
để
được
ban
ân
huệ.
Mặt
khác,
họ
tin
rằng
tội
lỗi
có
thể
được
ân
xá
hay
tẩy
trừ
nhờ
cúng
tế.
Đạo
Phật
không
chú
trọng
đến
lễ
nghi
cúng
tế
vì:
1-
Những
nghi
lễ
cúng
tế
phiền
phức
làm
mất
tính
cách
giản
dị
của
một
tôn
giáo.
Mặc
dù
có
những
lễ
nghi
cần
thiết
phải
được
tôn
trọng
để
làm
tăng
lòng
thành
kính
của
tín
đồ,
nhưng
những
hình
thức
cúng
tế
quá
rườm
rà
đều
bị
Đạo
Phật
loại
bỏ.
2-
Nghi
lễ
cúng
tế
có
thể
gây
nên
một
sự
hiểu
lầm
nguy
hại.
Nhiều
tín
đồ
đã
nhầm
lẫn
sự
thờ
cúng
với
việc
tu
niệm
vì
họ
tin
rằng
tội
lỗi
sẽ
được
ân
xá
nhờ
cúng
tế.
Nhưng
thật
ra
tội
lỗi
chỉ
có
thể
tẩy
trừ
bằng
ý
chí
cải
thiện
của
mỗi
cá
nhân,
trong
khi
thờ
cúng
lại
chỉ
để
tỏ
lòng
thành
kính
của
môn
đệ
đối
với
đấng
Giáo
Chủ.
3-
Một
khi
đã
chú
trọng
đến
nghi
lễ
người
ta
có
thể
vấp
phải
một
khó
khăn
là
những
nghi
lễ
dễ
bị
lạc
hậu.
Nghi
lễ
mỗi
thời
một
khác,
địa
phương
này
cũng
bất
đồng
với
địa
phương
kia,
điều
này
đưa
đến
tranh
chấp
nghi
lễ
này
đúng,
nghi
lễ
kia
sai.
Đó
là
một
trở
ngại
lớn
lao
cho
việc
tu
niệm
và
truyền
bá.
4-
Một
tôn
giáo
chứa
đựng
quá
nhiều
hình
thức
thì
nội
dung
dễ
bị
lãng
quên.
Chúng
ta
nhìn
nhận
hình
thức
và
nội
dung
phản
ảnh
lẫn
nhau,
một
khi
nội
dung
tốt
thì
hình
thức
cũng
tốt
và
ngược
lại.
Như
một
bậc
Thánh
nhân
thì
hẳn
phải
có
dáng
điệu
phi
phàm.
Nhưng
đó
phải
là
phản
ảnh
trung
thực
chứ
không
phải
vẽ
vời
hình
thức
để
che
giấu
một
nội
dung
trống
rỗng.
Thật
vậy:
"Cúng
tế
không
đem
đến
một
hiệu
dụng
nào,
kinh
cầu
là
những
lời
lặp
đi
lặp
lại
vô
bổ
và
bùa
chú
không
đủ
sức
mạnh
cứu
vớt
được
con
người.
Chỉ
có
chế
ngự
tham
dục,
trừ
bỏ
sân
niệm
và
tiêu
trừ
si
mê
mới
thật
là
thể
cúng
chân
thật,
sự
tế
lễ
đúng
đắn.
Đọc
nhiều
kinh
điển,
cúng
dường
các
bậc
tu
hành,
thờ
lạy
thần
linh,
tự
đày
đọa
thân
thể
hay
bất
cứ
một
hình
thức
khổ
hạnh
nào
cũng
không
thể
làm
cho
người
trở
nên
thanh
tịnh,
sáng
suốt.
Tụng
hồng
danh
Phật
cũng
chỉ
hữu
ích
khi
nào
chuyên
tâm
nhất
niệm
để
giữ
ý
trong
sạch
và
cải
thiện
hành
động
cho
phù
hợp
với
lời
Phật
dạy".
Chúng
ta
đã
thấy
ba
định
nghĩa
trên
về
tôn
giáo
không
thể
áp
dụng
được
với
Phật
Giáo.
Vậy
Đức
Phật
định
nghĩa
tôn
giáo
như
thế
nào?
Câu
trả
lời
rất
giản
dị
và
rõ
ràng:
--
Tôn
giáo
là
thái
độ
chân
chính,
chứ
không
phải
là
bao
gồm
những
tín
điều,
nghi
lễ,
cũng
không
phải
được
khải
thị
bởi
Trời.
Một
người
tu
hành
phải
xây
dựng
nhân
cách
của
mình
bằng
những
thái
độ
thế
nào
để
có
thể
bộc
lộ
ra
ngoài
bằng
những
hành
động
đạo
đức.
Thái
độ
ấy
là
thái
độ
tri
thức
chân
chính,
một
tiêu
chuẩn
chính
xác
để
hành
động.
Đức
Phật
nhận
thấy
hành
động
bắt
nguồn
từ
thái
độ
tri
thức.
Vì
vậy
một
thái
độ
chân
chính
sẽ
đưa
đến
một
hành
động
đạo
đức
và
ngược
lại.
Đó
là
lý
do
tại
sao
Ngài
dạy
chúng
ta
muốn
trở
nên
đạo
đức
phải
phát
triển
một
số
thái
độ
chân
chính
và
phải
loại
bỏ
những
thái
độ
đối
nghịch.
Đôi
khi
chúng
ta
căn
cứ
vào
những
qui
luật
đạo
đức
bên
ngoài
để
đánh
giá
trị
thiện
ác
của
một
hành
động,
nhưng
giá
trị
hành
động
tự
nó
mang
sẵn
tính
chất
đạo
đức
của
thái
độ
bên
trong.
Một
khi
thái
độ
tri
thức
chân
chính
gắn
liền
với
nhân
cách
con
người
thì
điều
thiện
có
thể
thực
hiện
được
một
cách
tự
nhiên
không
phải
cố
gắng
nữa.
Đó
là
đạt
đến
chỗ
chí
nhân,
chí
thiện.
Vậy
một
tôn
giáo
có
mục
đích
đưa
con
người
đến
chỗ
toàn
chân,
toàn
thiện
phải
đặt
trọng
tâm
trong
việc
cải
thiện
thái
độ
trí
thức.
Phật
Ngôn
đầu
tiên
trong
kinh
Dhammapada
(Pháp
Cú)
đã
chứng
tỏ
cho
chúng
ta
tầm
quan
trọng
của
thái
độ
tâm
lý
đối
với
đi
sống
của
mỗi
cá
nhân:
"Sự
hiện
hữu
của
chúng
ta
là
kết
quả
của
những
tư
tưởng.
Nó
được
xây
dựng
trên
tư
tưởng
và
kết
tinh
bằng
tư
tưởng.
Nếu
một
người
nói
hay
hành
động
với
tư
tưởng
sai
lầm
thì
khổ
đau
sẽ
theo
người
ấy
như
bánh
xe
lăn
theo
chân
con
bò
kéo
xe.
Nhưng
nếu
nói
hay
hành
động
với
tư
tưởng
chân
chính
thì
hạnh
phúc
sẽ
theo
người
ấy
như
bóng
theo
hình".
Tư
tưởng
sai
lầm
và
tư
tưởng
chân
chính
là
hai
thái
độ
tâm
lý
mâu
thuẫn
nhau,
mỗi
thái
độ
đem
lại
một
kết
quả
khác
biệt.
Một
thái
đội
tâm
lý
gọi
là
sai
lầm
hay
bất
thiện
khi
nó
mang
bản
chất
Tham-Sân-Si.
Trái
lại
thái
độ
chân
chính
hay
thiện
khi
nó
không
bị
ba
trạng
thái
tâm
lý
(mental
states)
ấy
chi
phối.
Vậy
muốn
chuyển
hóa
thái
độ
sai
lầm
sang
chân
chính
phải
diệt
trừ
ba
nhân
bất
thiện:
tham,
sân,
si,
và
những
yếu
tố
liên
hệ
với
chúng.
Sau
đây
là
một
vài
thái
độ
tâm
lý
căn
bản
được
Đức
Phật
khuyến
khích
chúng
ta
nên
phát
triển.
1-
Tín
(Saddha):
Đức
tin
có
hai
khía
cạnh
là
tin
tưởng
nơi
Tam
Bảo
và
tự
tin
ở
khả
năng
cải
thiện
của
mình.
Như
có
người
muốn
đi
đến
một
nơi
nào
đó
phải
tìm
một
người
hướng
đạo
kinh
nghiệm,
sáng
suốt
và
từng
hiểu
rõ
đâu
là
nơi
ta
muốn
đến,
phải
tin
tưởng
nơi
con
đường
mà
người
ấy
chỉ
dẫn
cặn
kẽ
và
hơp
lý,
phải
noi
gương
người
đi
trước
và
tự
tin
là
mình
có
đủ
sức
đi
hết
đoạn
đường.
Cũng
vậy,
muốn
đạt
đến
chỗ
toàn
thiện
chúng
ta
phải
tin
tưởng
nơi
Đức
Phật
là
bậc
thầy
hướng
đạo
giàu
kinh
nghiệm
đầy
sáng
suốt
và
đã
trở
thành
bậc
toàn
thiện;
phải
tin
ở
Chánh
Đạo
mà
Ngài
chỉ
dạy
vì
đó
là
con
đường
hơp
lý,
thực
nghiệm;
và
phải
noi
gương
chư
Tăng,
những
người
đi
trước.
Mặt
khác
chúng
ta
phải
tự
tin
có
thể
đạt
đến
chỗ
toàn
thiện,
toàn
chân,
toàn
mỹ.
Vậy
Đức
Tin
là
thái
độ
tâm
lý
đầu
tiên
hướng
ta
về
điều
thiện.
2-
Tàm
và
Quý
(Hiri-Ottappa):
Tàm
là
thái
độ
tâm
lý
của
một
người
biết
hổ
thẹn
trước
điều
ác.
Quý
là
thái
độ
tâm
lý
biết
sợ
hãi
trước
tội
lỗi.
Hai
thái
độ
này
liên
kết
với
nhau
thành
một
bức
thành
trì
vững
chắc
ngăn
chúng
ta
cới
điều
ác.
Một
mặt
nhờ
có
Tàm
ta
biết
hổ
thẹn
với
lương
tâm
khi
sắp
làm
một
điều
ác,
lương
tâm
cảnh
cáo
ta
không
cho
nhúng
tay
vào
tội
lỗi.
Mặt
khác
nhờ
có
Quý
ta
biết
sợ
hãi
khi
phác
họa
ra
trước
mắt
những
hậu
quả
tai
hại
do
việc
ác
gây
ra
cho
mình
và
cho
kẻ
khác.
Ví
dụ
một
người
sắp
sát
nhân,
nhưng
lương
tâm
anh
ta
không
cho
phép
làm
việc
đó
(Tàm),
đồng
thời
cảnh
tượng
nạn
nhân
đau
đớn
quằn
quại
trên
vũng
máu,
cảnh
nheo
nhóc,
bi
thảm
của
vợ
con
nạn
nhân
v.v.
và
cảnh
tù
tội
của
chính
anh
hiện
ra
trước
mắt
khiến
anh
dừng
tay
không
làm
tội
ác
sát
nhân
nữa
(Quý).
Như
vậy
Tàm
(hổ
thẹn)
và
Quý
(ghê
sợ)
là
hai
thái
độ
tâm
lý
cần
thiết
giúp
ta
không
tái
phạm
điều
ác.
3-
Giác
tỉnh
(Sampajanna):
Muốn
biết
rõ
giá
trị
thiện
ác
của
mỗi
hành
động
ta
phải
có
một
thái
độ
sáng
suốt.
Giác
tỉnh
tức
là
biết
rõ
nhất
cử
nhất
động
của
mình,
vì
vậy
một
khi
đã
giác
tỉnh
thì
ta
không
hành
động
hồ
đồ,
vô
ý
thức.
Một
người
quá
sân
hận
có
thể
sát
hại
đối
thủ
một
cách
hoàn
toàn
mù
quáng.
Đến
khi
nguôi
giận
anh
ta
mới
biết
mình
hành
động
điên
rồ.
Sở
dĩ
như
vậy
vì
hành
vi
của
anh
bị
thúc
giục
bởi
một
xung
đột
tình
cảm
là
sân
hận
chứ
không
được
nhận
thức
rõ
ràng
bằng
giác
tỉnh,
nghĩa
là
anh
ta
không
kịp
thời
kiểm
soát
hành
động
của
mình
bằng
một
thái
độ
tri
thức
sáng
suốt.
Giác
tỉnh
thương
đi
đôi
với
Niệm
(Sati),
tạo
thành
một
thế
liên
hoàn
để
ngăn
chặn
điều
ác
và
giữ
cho
điều
thiện
luôn
luôn
hiện
hữu.
Giống
như
một
người
lính
canh
gác,
phải
tỉnh
táo
thường
xuyên
(giác
tỉnh)
để
nhận
biết
hành
tung
của
kẻ
địch
bất
cứ
lúc
nào
(niệm).
Albert
Camus
tán
đồng
quan
điểm
này
của
Đạo
Phật
khi
ông
nhìn
nhận
tỉnh
thức
là
thái
độ
tâm
lý
cần
thiết
để
đối
kháng
với
kẻ
thù
tham-sân-si.
4-
Vô
lượng
tâm
(Appamanna):
Con
người
sở
dĩ
gây
nên
tội
ác
là
do
tính
hẹp
hòi,
vị
kỷ,
chấp
ngã,
khinh
mạn...
Vì
vậy
muốn
hướng
thiện,
đừng
để
lòng
mình
bị
giới
hạn
trong
lớp
vỏ
bản
ngã,
phải
để
cho
tâm
hồn
phóng
đạt,
rộng
rãi,
bao
trùm
cả
vạn
vật
chúng
sinh.
Thái
độ
xả
kỷ
vị
tha
đó
thường
xuất
hiện
dưới
bốn
hình
thức:
Từ,
Bi,
Hỷ
và
Xả.
-
Từ
(Metta):
Là
lòng
mong
mỏi
cho
tất
cả
chúng
sanh,
không
phân
biệt
chủng
loại,
được
an
vui
hạnh
phúc.
-
Bi
(Karuna)
là
lòng
sẵn
sàng
hy
sinh
để
xoa
dịu
đau
khổ
của
tất
cả
chúng
sanh.
-
Hỷ
(Mudita):
là
lòng
vui
mừng
trước
sự
thành
công
hay
hạnh
phúc
của
bất
cứ
chúng
sanh
nào.
-
Xả
(Upekkha):
là
lòng
bình
đẳng,
vô
tư,
không
bị
chi
phối
bởi
những
tình
cảm
yêu
ghét,
thích
thú
hay
bất
mãn.
Chúng
ta
không
thể
làm
việc
thiện
nếu
không
có
những
thái
độ
tâm
lý
Từ,
Bi,
Hỷ,
Xả.
Vì
bao
lâu
Tâm
Vô
Lượng
chưa
có
thì
ta
còn
bị
những
tình
cảm
sân,
hận,
đố
kỵ
tham
dục
chi
phối;
mà
những
tình
cảm
này
là
mầm
mống
của
tội
lỗi.
5-
Chánh
kiến
(Sammaditthi):
Nhận
thức
đúng
đắn
về
bản
chất
của
kiếp
sống
là
thái
độ
cần
thiết
để
hướng
dẫn
hành
động.
Đức
Phật
dạy
rằng
có
hai
nhận
thức
sai
lầm
về
vũ
trụ
và
nhân
sinh
có
thể
dẫn
con
người
đi
sâu
vào
tội
lỗi
đó
là
Thường
Kiến
và
Đoạn
Kiến.
Nếu
tin
rằng
bản
ngã
và
thế
giới
là
thường
tồn
bất
biến
(thường
kiến)
thì
con
người
không
cần
phải
cải
thiện,
vì
nói
đến
cải
thiện
tức
là
nói
đến
đổi
thay
mà
bản
ngã
và
thế
giới
đã
bất
biến
thì
làm
thế
nào
cải
thiện
được.
Đó
là
thái
độ
nhận
thức
làm
cản
trở
bước
tiến
hóa
đến
chỗ
chí
thiện.
Trái
lại
nếu
cho
rằng
bản
ngã
và
thế
giới
hoàn
toàn
hủy
diệt
sau
khi
chết
(đoạn
kiến)
thì
người
ta
sẽ
bất
chấp
nhân
quả,
tội
phước.
Và
vì
thế
trật
tự
xã
hội
sẽ
rối
loạn,
con
người
sẽ
rơi
vào
vực
thẳm
tội
lỗi.
Để
có
thái
độ
nhận
thức
đúng
đắn,
ta
phải
biết
nhận
xét
và
phán
đoán
về
thực
chất
của
bản
ngã
và
thế
giới.
Chánh
kiến
bao
gồm
tri
kiến
về
Tứ
Diệu
Đế,
trong
đó
có
sự
biện
biệt
nhân
quả,
thiện
ác
và
yếu
tính
vô
thường
của
giới
hữu
vi
là
Bản
Ngã
và
Thế
Giới
.
Hành
động
của
mỗi
người
đúng
hay
sai
tùy
thuộc
kiến
thức
bên
trong
của
người
ấy
chính
xác
hay
không.
Một
vị
bác
sĩ
hiểu
biết
thâm
sâu
về
y
dược,
cách
khám
bệnh,
đoán
bệnh
và
giàu
kinh
nghiệm
trong
phương
pháp
trị
liệu
tất
nhiên
chữa
bệnh
có
kết
quả
hơn
ông
lang
băm
không
rành
y
học.
Một
cậu
sinh
viên
không
biết
các
định
lý
toán
học,
không
biết
chứng
minh,
không
thuộc
công
thức
thì
làm
sao
tìm
đáp
số
đúng
cho
một
bài
toán.
Cũng
vậy,
muốn
trở
thành
toàn
chân,
toàn
thiện
trước
hết
phải
có
chánh
kiến
tức
là
một
thái
độ
tri
thức
nhờ
đó
ta
hiểu
được
đâu
là
chân,
đâu
là
giả.
Qua
Tam
tạng
Kinh
điển
chúng
ta
tìm
thấy
rất
nhiều
thái
độ
tri
thức
được
Đức
Phật
giới
thiệu
và
khuyến
khích
bằng
chính
thái
độ
gương
mẫu
của
Ngài.
Trên
đây
chúng
ta
chỉ
muốn
đề
cập
đến
một
vài
thái
độ
tri
thức
căn
bản
mà
từ
đó
ta
có
thể
phát
triển
những
thái
độ
tâm
lý
chân
chính
khác
hầu
tự
giải
cứu
mình
ta
khỏi
thế
giới
giả
vọng
đến
chỗ
toàn
chân.
-
Hết-