hân
mùa
báo
hiếu
chúng
tôi
xin
cống
hiến
quý
vị
một
gương
hiếu
thảo
sống
thực,
đúng
theo
tinh
thần
Phật
giáo,
đầy
ý
vị
không
kém
gì
Nhị
Thập
Tứ
Hiếu
ngày
xưa.
Đó
là
chuyện
một
nhà
chính
khách
lỗi
lạc,
một
nhà
lãnh
đạo
thế
giới
có
uy
tín:
Ông
cựu
Tổng
Thư
Ký
Liên
Hiệp
Quốc
U
Thant,
người
Miến
Điện.
Nếu
chúng
ta
viện
lẽ
vì
chiến
tranh,
vì
ảnh
hưởng
cuộc
khủng
hoảng
kinh
tế,
chính
trị
mà
lắm
lúc
phải
lãng
quên
bổn
phận
làm
con
đối
với
cha
mẹ,
thì
trái
lại
ông
Thant
trong
khi
phải
dàn
xếp
vô
số
công
việc
chính
trị,
ngoại
giao,
kinh
tế,
xã
hội,
văn
hóa...
vẫn
không
hề
xao
lãng
bổn
phận
của
mình
đối
với
mẹ
già.
Chúng
tôi
rất
cảm
động
khi
thấy
bức
hình
ông
cựu
Tổng
Thư
Ký
Liên
Hiệp
Quốc
đang
quỳ
lạy
và
dâng
cơm
nước
cho
bà
mẹ,
đăng
trong
một
tờ
báo
tại
Kuala
Lumpur,
Mã
Lai.
Quý
vị
có
thể
bảo
rằng
cử
chỉ
đó
quá
giản
dị,
ai
mà
chẳng
làm
được.
Vâng,
giản
dị
thật,
nhưng
không
phải
ai
cũng
thực
hiện
đựơc,
vì
nó
phản
ảnh
một
tấm
lòng
hiếu
thảo
được
các
bậc
thánh
hiền
ca
ngợi
trong
nền
văn
hóa
truyền
thống
Á
Châu.
Bưng
cơm
cho
cha
mẹ
thì
dễ,
nhưng
hầu
hạ
với
lòng
cung
kính
thành
thực
và
biết
ơn
thì
thật
là
hiếm
có.
Nhiều
thanh
niên
thi
đại
đã
xem
cử
chỉ
khiêm
cung
đối
với
cha
mẹ
như
là
một
cổ
lệ,
lạc
hậu,
không
phù
hợp
với
cao
trào
tiến
bộ
của
văn
minh
cơ
giới.
Họ
sợ
bạn
bè
cười
chê
khi
phải
quỳ
lạy,
chắp
tay
hay
cúi
đầu
trước
song
thân.
Thậm
chí
chúng
ta
còn
nghe
họ
gọi
cha
mẹ
là
"ông
già
khó
tính"
hay
"bà
già
trầu"!
Một
người
con
không
hiếu
kính,
không
biết
ơn,
không
yêu
thương
cha
mẹ,
thì
tất
nhiên
đối
với
xã
hội
có
thể
anh
ta
là
một
người
vô
ân
bạc
nghĩa,
vô
lễ,
ngang
ngạnh
và
ích
kỷ,
nói
chung
là
một
người
hư
hỏng.
Cũng
lắm
người
khi
được
nuôi
nấng
nên
danh
phận,
họ
không
dám
nhìn
cha
mẹ
của
mình
chỉ
vì
cha
mẹ
của
mình
xuất
thân
từ
giai
cấp
nghèo
hèn,
thợ
thuyền,
quê
mùa
hay
là
người
tàn
tật.
Trong
một
xã
hội
như
thế,
cử
chỉ
hiếu
kính
của
ông
U
Thant
dĩ
nhiên
phải
nổi
bật
như
một
gương
sáng
cho
mọi
nguời.
Ông
Thant
sinh
ra
tại
Miến
Điện,
một
nước
lấy
Phật
Giáo
làm
Quốc
Giáo,
và
được
thấm
nhuần
giáo
lý
Phật
Đà
nên
ông
đã
tỏ
ra
là
một
Phật
tử
thuần
thành
gương
mẫu.
Mặc
dầu
nắm
giữ
vai
trò
quan
trọng
nhất
trên
chính
trương
quốc
tế
và
được
nhân
loại
tôn
trọng,
kính
nhường
như
một
nhà
lãnh
đạo
thế
giới,
nhưng
về
nhà
ông
vẫn
là
một
người
con
hiếu
thảo,
vẫn
lo
săn
sóc,
hầu
hạ
cha
mẹ
đúng
theo
lời
Phật
dạy.
Hẳn
ông
đã
không
quên
sở
dĩ
ông
có
được
địa
vị
cao
trọng
ngày
nay
là
nhờ
công
lao
sinh
thành
dưỡng
dục,
nhờ
tình
thương
vô
bờ
bến
và
tấm
lòng
hy
sinh
cao
cả
của
người
mẹ,
vì
thế
ông
sẵn
sàng
gác
qua
một
bên
những
công
tác
lớn
lao
và
nặng
nhọc
của
một
nhà
chính
khách
vĩ
đại
trên
thế
giới
để
có
thì
giờ
làm
tròn
bổn
phận
của
một
người
Phật
tử
ngoan
đạo,
một
người
con
hiếu
thảo
trong
gia
đình.
Mẹ
của
ông
hẳn
phải
hãnh
diện
và
sung
sướng
không
phải
vì
thấy
con
mình
là
một
nhà
lãnh
đạo
thế
giới
hay
một
chính
khách
lỗi
lạc
mà
chính
vì
bà
có
một
người
con
ngoan
đạo
và
hiếu
thảo.
Đây
là
một
bài
học
cụ
thể
cho
tất
cả
Phật
tử
chúng
ta.
Một
gương
hiếu
thảo
không
siêu
quần
bạt
chúng
nhưng
đủ
để
làm
mẫu
mực
cho
mọi
người
noi
theo,
để
luôn
ghi
nhớ
rằng:
Trong
bất
cứ
trường
hơp
nào,
dù
danh
vọng
cao
sang,
địa
vị
quý
trọng
hay
có
uy
tín
lớn
lao
đến
đâu
cũng
phải
khiêm
cung,
hiếu
kính
đối
với
bậc
sinh
thành.
Trong
Mangala
Sutta
(Kinh
Hạnh
Phúc),
Đức
Phật
dạy:
Phụng
sự
cha
mẹ
là
một
điều
hạnh
phúc
cao
thượng.
Chính
Đức
Phật
cũng
đền
đáp
công
ơn
sinh
thành
của
cha
mẹ
bằng
một
hành
động
siêu
phàm.
Ngài
đã
độ
cho
vua
cha
trở
thành
một
bậc
thánh
nhân
trước
khi
lià
đi,
và
kinh
điển
có
chép
rằng
suốt
mùa
an
cư
kiết
hạ
thứ
bảy,
Ngài
đã
dùng
hầu
hết
thì
giờ
để
thuyết
pháp
cho
hoàng
hậu
Ma
Gia
ở
trên
cung
trời
Đao
Lợi.
Theo
đạo
Phật
hướng
dẫn
cha
mẹ
sống
đúng
theo
chánh
đạo
là
một
thái
độ
hiếu
thuận
có
ý
nghĩa
nhất
trong
những
bổn
phận
của
con
đối
với
cha
mẹ.
Những
bổn
phận
này
được
Đức
Phật
đề
cập
đến
trong
Kinh
Sigala
(Lễ
Sáu
Phương)
như
sau:
1-
Phụng
dưỡng
cha
mẹ
bằng
phương
tiện
vật
chất
và
hướng
dẫn
người
trên
bước
đường
tinh
thần.
2-
Làm
những
công
việc
nặng
nhọc
thay
cha
mẹ.
3-
Gìn
giữ
gia
phong.
4-
Chi
dụng
gia
sản
của
cha
mẹ
một
cách
hơp
lý.
5-
Hồi
hướng
công
đức
cho
cha
mẹ
khi
người
đã
lià
đời.
Một
người
con
có
thể
xem
là
bất
hiếu
nếu
đi
ngược
lại
năm
bổn
phận
chính
yếu
kể
trên
nghĩa
là:
1.
Không
nuôi
dưỡng
cha
mẹ
và
không
hướng
dẫn
cha
mẹ
theo
chánh
đạo
khi
cha
mẹ
là
người
tà
kiến.
2.
Không
đỡ
đần
những
công
việc
nặng
nhọc
cho
cha
mẹ
3-
Làm
ô
uế
gia
phong.
4-
Làm
tán
gia
bại
sản
của
cha
mẹ.
5-
Không
màng
tới
thâm
ân
của
cha
mẹ
khi
các
người
đã
quá
vãng.
Chúng
ta
có
thể
so
sánh
điều
này
với
năm
tội
bất
hiếu
mà
Mạnh
Tử
đã
dạy:
1-
Lười
biếng
không
làm
việc
để
nuôi
cha
mẹ.
2-
Say
mê
cờ
bạc,
rượu
trà,
không
nghĩ
đến
cha
mẹ.
3-
Ham
tiền
của,
lo
vợ
con,
chẳng
đoái
hoài
đến
cha
mẹ.
4-
Ham
vui
chơi
để
cho
cha
mẹ
mang
nhục
5-
Ham
sức
mạnh
thích
đánh
nhau
làm
phiền
đến
cha
mẹ.
Người
con
nào
không
phạm
đến
năm
tội
bất
hiếu
trên
được
xem
là
hiếu
tử.
So
sánh
hai
lời
dạy
trên
của
Đức
Phật
và
của
Đức
Mạnh
Tử,
chúng
ta
thấy
hai
Ngài
đều
lưu
tâm
đến
cách
phụng
dưỡng
cha
mẹ
bằng
vật
chất.
Nhưng
điểm
nổi
bật
là
Đức
Phật
có
đề
cập
đến
phương
diện
tế
nhị
hơn:
hướng
dẫn
cha
mẹ
theo
chánh
đạo.
Như
trường
hợp
cha
mẹ
không
rành
đạo
lý,
ham
thích
cờ
bạc,
rượu
chè,
tham
lam,
trộm
cắp
hay
độc
ác
hại
nhân...
nhưng
người
con
may
mắn
có
dịp
đến
chùa
nghe
kinh
thính
pháp
nên
biết
sống
theo
đạo
đức,
hiểu
biết
đạo
lý,
trong
trường
hợp
này
người
con
phải
tìm
cách
khôn
khéo
hướng
dẫn
cha
mẹ
trở
lại
đường
ngay
nẻo
chánh.
Nhiều
Phật
Tử
đã
hướng
dẫn
cha
mẹ
bằng
cách
xây
chùa,
cất
tịnh
thất
cho
cha
mẹ
tu
niệm.
Họ
còn
thỉnh
chư
Tăng
đến
giảng
đạo,
thuyết
pháp
cho
cha
mẹ
nghe.
Hoặc
chính
họ
thực
hành
lời
Phật
dạy
như
bố
thí,
trì
giới,
tham
thiền
cho
cha
mẹ
hành
theo.
Tất
cả
những
cử
chỉ
đó
đều
được
ca
ngợi
trong
Phật
giáo.
Tóm
lại,
làm
con
phải
nhớ
công
ơn
sinh
thành
dưỡng
dục
của
cha
mẹ
và
phải
báo
đền
ân
thâm
ấy
bằng
bất
cứ
giá
nào,
vì
đó
là
nghĩa
vụ
trước
tiên
trong
tất
cả
nghĩa
vụ
làm
người;
đúng
như
đức
Khổng
Tử
đã
dạy:
"Hiếu
giả
bách
hạnh
chi
tiên".