ột
trong năm giới mà một người Phật tử chân chánh phải
hảnh trì là tránh xa Vọng Ngữ. Tích cực hơn, người Phật
tử phải có lời nói chân thật (saccavàdà), ý nghĩ chân thành,
và thủ tín.
Lời nói chơn thật là một trong Thập Thiện
Nghiệp mà người hành trì không những đem lại lợi ích cho
mình mà còn góp phần xây dựng một xã hội đạo đức. Vì
muốn được trật tự, xã hội cần đòi hỏi một số điều
kiện mà trong đó có sự tín nhiệm lẫn nhau nhờ ở mọi người
đều chân thật.
Đoạn kinh sau đây mô tả một người chân
thật :
" Ở đây, một người thiện nam từ
bỏ sự giả dối, xa lánh vọng ngữ, nói lời chân thật dù
ở nơi hội họp đứng đắn, giữa đám đông, trong tư gia
với bà con thân thuộc, trong nhiệm sở hay khi làm nhân chứng
tại pháp đình.... Như vậy, người ấy sẽ không vì cá nhân
mình, không vì ai khác cũng không vì một vài lợi lạc vật
chất mà cố ý nói sai sự thật." (Sàleyyake Sutta, M.I.
228)
Thật ra Chánh Ngữ không phải chỉ giới hạn
trong lời nói chân thật mà còn cần phải :
1- Tránh dùng lời phao vu để chia rẽ, hay gây
bất hòa giữa người này với người khác, trái lại phải
tìm cách đem lại hòa hợp và thông cảm giữa mọi ngui.
2- Tránh dùng lời thô lỗ để hạ nhục
kẻ khác, trái lại phải nói lời thanh bai, lễ độ để an
ủi, khuyến khích hay thuyết phục kẻ khác.
3- Tránh những câu chuyện phiếm vô bổ,
phải nói đúng lúc, hợp lý và hữu ích.
Cũng có trường hợp, khi ta nói chân thật và
lễ độ mà vẫn chạm đến tự ái của kẻ khác, khiến họ
phật lòng. Tuy thế đôi khi cần phải nói sự thật dù có
mất lòng nhưng hữu ích. Như vị bác sĩ muốn chữa một
vết thương của bệnh nhân đôi khi không thể không gây cho
bệnh nhân một chút đau đớn, nhưng nếu không đụng đến
vết thương thì làm sao điều trị được.
Vì vậy trong kinh Abhayaràjàkumàra có phân
loại lời nói theo chân, thiện và mỹ như sau :
1- Lời nói chân, thiện và mỹ:
Tức là lời chân thật có lợi cho người nghe. Chữ Mỹ ở
đây dùng với nghiã đẹp lòng người, làm cho người hoan
hỷ khi nghe. Như trường hợp Đức Phật thuyết pháp. Ngài trình
bày chân lý (chân) để chuyển mê khai ngộ cho chúng sanh
(thiện) và khi Ngài thuyết xong thính giả đều hoan hỉ
(mỹ).
2- Lời nói chân, thiện nhưng không
mỹ: Tức là lời nói chân thật, có lợi cho người
nghe nhưng không làm vừa ý họ. Đó là trường hợp
"Trung ngôn nghịch nhĩ lợi ư hạnh" hay nói một cách
nôm na là "Sự thật mất lòng". Không mỹ dùng ở đây
với hai nghĩa: thô lỗ và không thô lỗ nhưng làm phật ý. Có
khi vì lời nói cộc cằn làm cho người nghe nổi giận, nhưng
có khi lời nói lễ độ mà vẫn chạm tự ái của kẻ khác.
3- Lời nói chân, mỹ nhưng không
thiện: Túc là lời nói chân thật, đẹp lòng người
nhưng vô ích. Như kể một chuyện thật làm cho người nghe
vui tai nhưng không đem lại lợi ích gì cả, có khi chỉ làm
mất thì giờ hoặc có hại.
4- Lời nói chân, nhưng không thiện và
không mỹ: Tức là lời nói thật nhưng vô ích làm người
nghe bực mình. Nhiều người bất cứ nghe thấy chuyện thị
phi ở đâu cũng đem về kể lại cho bạn bè, thân thuộc
nghe. Hoặc có người lại thường đem những chuyện đời tư
nói với người khác để khoe khoang thành công hay phân bua
thất bại của mình. Những chuyện đó tuy là sự thật, nhưng
không ích cho người nghe, và chỉ làm phiền lòng họ.
5- Lời nói không chân, nhưng thiện và
mỹ: Tức là lời giả dối nhưng có ích lợi và làm
đẹp lòng người. Như trường hợp vì cứu người nào đó
(thiện) mà ta phải nói dối (giả) và nhờ nói khéo nên người
nghe bằng lòng (mỹ).
6- Lời nói không chân, không thiện nhưng
mỹ:: tức là lời nói giả dối, vô ích nhưng người
nghe lại thích. Nhiều người nói ba hoa, khoác lác vô tích
sự, thế mà vì có tài ăn nói uyển chuyển, thông suốt nên
ai cũng thích nghe.
7- Lời nói không chân, không mỹ nhưng
thiện: tức là lời nói giả dối, làm người nghe
bực mình nhưng có lợi. Cũng như trường hợp 5, nhưng vì nói
không khéo léo nên làm mất lòng người.
1- Lời nói không chân, không thiện, và
không mỹ: là lời nói giả dối vô ích và làm người
nghe bực tức. Như trường hợp nói vu khống, nói thêu dệt
để nhục mạ người khác.
Trong tám cách trên, cách thứ nhất và thứ
hai được Đức Phật cũng như các bậc hiền nhân khuyến khích.
Kinh Abhayaràjàkumàra dạy tiếp rằng: "người nên nói
lời hợp thời mà người biết là đúng với sự thật, xác
đáng, hữu ích, có thể chấp nhận được và làm cho kẻ khác
hoan hỷ (loại thứ nhất); người nên nói lời hợp thời mà
người biết là đúng với sự thật xác đáng, hữu ích, có
thể chấp nhận được nhưng không làm cho kẻ khác hoan hỷ
(loại thứ 2); người không nên nói lời giả dối, và cần
phải tìm sự thật, nói sự thật vì hành động đó nâng cao
hạnh phúc cá nhân của người cũng như sự điều hòa và
tiến bộ của xã hội ".
Trong một đoạn kinh khác Đức Phật mô tả
lời nói của bậc thiện trí với năm điều kiện :
1- Phát biểu đúng lúc (Kàlavàdì):
như chúng ta đã thấy ở trên, có khi một lời chân thật nhưng
không được phát biểu đúng lúc thì thành ra vô ích hoặc làm
cho người khác bực mình. Người thiện trí phải tế nhị để
áp dụng lời nói của mình đúng chỗ, đúng lúc.
2- Hợp với sự thật (Bhùtavàdì):
bậc thiện tri thức nói một lời phải dựa trên sự thật,
không ngụy biện, không lừa dối. Tuy vậy nói sự thật chưa
đủ, cần phải có điều kiện sau đây bổ túc :
3- Đem lại lợi ích (Atthavàdĩì):
lời nói phải có mục đích và ý nghiã của nó, dù là lời
chân thật nhưng không có mục đích đem lại lợi ích cho ai,
thì đó cũng chỉ là lời nói nhảm, vô dụng.
4- Thích ứng với lý trí (Dhammavàdì):
chữ Dhamma, Pháp ở đây có nghĩa là đạo lý. Lời nói hợp
đạo lý tất nhiên phải thích hợp với lý trí.
5- Hợp với đạo đức (Vinayavàdì):
giá trị của lời nói còn phụ thuộc tính cách luân lý của
nó. Nếu một lời nói có đủ bốn yếu tố trên nhưng không
hợp với luật pháp hay luân lý, đạo đức thì vẫn nguy
hiểm.
Trong phần phân tích tám lời nói, chúng ta dùng
chữ "thiện" với nghĩa là "lợi ích". Nhưng
trong thực tế, có lợi ích chưa hẳn là thiện. Khi nói trục
lợi, vụ lợi, người ta thường dùng với nghĩa bất thiện.
Vì vậy lời nói của bậc thiện trí phải có ích và hợp
với đạo đức nữa.
Theo kinh điển, có mười điều lợi ích và
hợp với đạo đức nên bàn luận là :
1- Nên nói về đức từ bi bác ái,
vì lòng từ ái giúp ta có tâm hồn vị tha, không tham lam, không
ích kỷ, không bỏn xẻn.
2- Nên nói về đức tính tri túc,
để giúp chúng ta bỏ những ước vọng thái quá, và sống an
vui trong bất cứ hoàn cảnh nào.
3- Nên nói về đức thanh tịnh,
để giúp cho tâm hồn trầm tĩnh, trong sạch và tự tại.
4- Nên nói về đức tính độc lập,
để giúp chúng ta không xu hướng bè đảng, không ỷ lại và
phát triển đức tự tin.
5- Nên nói về đức tinh tấn,
để giúp chúng ta từ bỏ tính biếng nhác, do dự và bất
nhất.
6- Nên nói về giới hạnh, vì
giới hạnh có khả năng loại bỏ những nết hư tật xấu mà
ta đã tập nhiễm từ vô lượng kiếp đến nay.
7- Nên nói về thiền định, vì
thiền định có khả năng tiêu trừ dục vọng, oán thù và phát
triển sức mạnh tinh thần.
8- Nên nói về trí tuệ, để giúp
ta rèn luyện đức sáng suốt, phát triển trí năng hầu thấu
triệt chân lý.
9- Nên nói về sự giải thoát,
vì đó là mục đích cuối cùng của người Phật tử trên
đường diệt tận vô minh phiền não.
10- Nên nói về giải thoát tri kiến,
tức là nói đến sự thực chứng giải thoát của chư Thánh
nhân hay Đức Phật. Sự thực chứng đó giúp chúng ta trên
đường tu tập vì biết chắc rằng nếu cố gắng, một ngày
kia ta cũng được giải thoát tri kiến.
Tóm lại lời nói có một ảnh hưởng vô cùng
quan trọng không những đối với đi sống hạnh phúc của
mỗi cá nhân mà còn có thể định đoạt được cả sự an
nguy của xã hội. Lời nói của một nhân vật có uy tín bao
nhiêu lại càng phải thận trọng bấy nhiêu. Chính vì thế mà
Đức Phật đã đưa Chánh Ngữ vào Bát-Chánh Đạo, con đường
Tám Chánh dẫn đến giải thoát giác ngộ.