PHÂN LOẠI NGHIỆP
T/S Lâm Như Tạng
o0o
PHÂN
LOẠI NGHIỆP THEO LUẬN AHIDHARMA KOSA (A Tỳ Dạt Ma Câu Xá) của
Vasubhandhu (Thế Thân).
Trong
phẩm Phân Biệt Nghiệp của luận Câu Xá có hai phần : (I) Thể tính của
Nghiệp và (II) Các loại Nghiệp được nói trong các kinh .
(I)/
LUẬN VỀ THỂ TÍNH CỦA NGHIỆP
Trong
phần nầy đề cập đến hai Nghiệp : TƯ NGHIỆP và TƯ DĨ NGHIỆP .
Tư
Nghiệp : sự hoạt động nội tâm, hoạt động của Ý Thức .
Tư Dĩ
Nghiệp : Từ sự hoạt động nội tâm phát khởi ra lời nói và
hành động nơi thân đó là Tư Dĩ Nghiệp .
Từ
hai Nghiệp kể trên là Tư Nghiệp và Tư Dĩ Nghiệp chia ra làm 3 đó là :
·
Thân Nghiệp, Ngữ Nghiệp (tức là Tư Dĩ
Nghiệp)
·
Ý Nghiệp (thuộc về Tư Nghiệp tức là sự
suy nghĩ sắp đặt tính kế trước khi phát khởi ra hành động và lời nói ) .
Trong
Thân Nghiệp và Ngữ Nghiệp đều có hai loại là : Vô Biểu Nghiệp và Biểu
Nghiệp .
Vô
Biểu Nghiệp là gì? Tức là giai đoạn mệnh lệnh từ Ý Thức truyền xuống
thân nhưng trong khoảng thời gian thân chuẩn bị hành động và miệng chuẩn
bị ngôn từ vẫn tạo ra Nghiệp nhưng vì chưa hành động, chưa phát ra ngôn
ngữ nên không thể thấy được Ðó gọi là VÔ BIỂU NGHIỆP. Trong lúc thân
Hành Ðộng và miệng nói ta có thể thấy được , nghe được đó là Biểu Nghiệp
.
Tóm
tắc bằng đồ biểu như sau :
NGHIỆP
: (a) Hai Nghiệp : Tư Nghiệp , Tư Dĩ Nghiệp
(b)
Ba Nghiệp : Ý Nghiệp , Thân Nghiệp, Ngữ Nghiệp
(c) Năm Nghiệp:
*Ý Nghiệp
,
*Thân
Nghiệp
: Thân Biểu Nghiệp.
Thân
Vô Biểu Nghiệp
*Ngữ
Nghiệp
: Ngữ Biểu Nghiệp
Ngữ
Vô Biểu Nghiệp
(A)
TRUY NGUYÊN VỀ THỂ TÍNH CỦA NGHIỆP QUA SỰ LUẬN GIẢI CỦA CÁC BỘ PHÁI -
Năm loại Nghiệp kể trên lấy gì làm thể ?
Ý
Nghiệp là sự hoạt động tư duy nội tâm nên lấy Tư Tâm Sở làm thể .
Ðối
với thể của những Nghiệp còn lại đã xãy ra sự tranh luận dị đồng giữa
các bộ phái như sau .
Tát
Bà Ða bộ Sarvastivâda, Sarvastivâdin (sanscrit) (cũng gọi là Thuyết
Nhất Thiết Hửu Bộ, giáo tổ là ngài La Hầu La (Râhula) luận giải rằng
Hình Sắc là thể của Thân Biểu Nghiệp, Âm Thanh là thể của Ngử Biểu
Nghiệp. Bởi vì Biểu Nghiệp là những động tác nơi thân mà động tác ắt
phải tùy thuộc vào hình sắc dài, ngắn … sai biệt mới có được. Nếu lìa
Sắc thì không thể nào có động tác .
Ngữ
Biểu Nghiệp tức là chỉ cho tác động của ngôn ngữ, nếu lìa Âm Thanh thì
tác động của ngôn ngữ không thể phát sinh .
Kinh
Lượng bộ Suatrantika , còn gọi là Thuyết Ðộ bộ, Thuyết Chuyển bộ, là
một trong 18 bộ của tiểu thừa, sau khi Ðức Phật nhập diệt dộ 400 năm nó
được tách ra từ Thuyết Nhất Thiết Hửu Bộ , trong số các bộ phái , bộ nầy
dùng Kinh làm chính lượng nên gọi là Kinh Lượng bộ, gọi tắc là Kinh Bộ ,
người khai sáng là Cưu Ma La Ðà (Kumàra – labdha) . Bộ nầy lý luận rằng
Tư Tâm Sở có khả năng khiến thân thể vận động gọi là Ðộng Thân Tư, chính
nó là thể của Thân Biểu Nghiệp . Ðồng thời Tư Tâm Sở có khả năng phát
động ngôn ngữ gọi là Phát Ngữ Tư đó chính là thể của Ngữ Biểu Nghiệp .
Bộ
phái nầy cho rằng Nghiệp có nghĩa là tạo tác , mà tạo tác là thuộc tính
của Tư Tâm Sở . Tư Tâm Sở phát hiện bằng hành động của thân thì gọi là
Thân Nghiệp, phát hiện bằng hành động của ngôn ngữ thì gọi là Ngữ
Nghiệp, phát hiện bằng những hiện trạng của củ Ý thì gọi là Ý Nghiệp .
Ba nghiệp sở dĩ có khác nhau vì phát xuất từ Thân, Ngữ, Ý khác nhau
nhưng thực ra chúng đồng một thể xuất phát là Tư Tâm Sở .
Nói
về Thân và Ngữ Vô Biểu Nghiệp , Tát Bà Ða Bộ nói rằng đó là thật pháp .
Sắc thân do đại chủng tạo thành đó là thật thể . Cả Thân và Ngữ cũng từ
Thân mà ra do đó Vô Biểu Nghiệp của Thân Và Ngữ cũng là thật Pháp .
Kinh
bộ lại cho rằng đó là giả pháp , vì nó chỉ dựa theo chủng tử của Tư Tâm
Sở mà giả lập ra .
Ðó là
diểm tranh luận tối yếu của hai bộ phái .
Tát
Bà Ða bộ đưa ra 8 luận điểm để chứng minh cho lý luận của mình nhưng tất
cả đều bị Kinh bộ phản luận .
1/
Phật nói về 3 loại Sắc
: Kinh Tạp A Hàm, cuốn 13 , Sắc chia làm 3 loại :
·
Loại có thể thấy, có đối pháp như :
xanh, vàng, đỏ trắng v.v…
·
Loại không thể thấy, có đối pháp như
: thanh, hương, vị, xúc, chỉ có sự chướng ngại giữa nó với những vật
đối tác khác .
·
Loại không thể thấy , không có đối pháp
, rõ ràng loại nầy chỉ cho các Sắc Vô Biểu . Nếu không có Sắc Vô Biểu
thật thì loạI Sắc vừ nói đó chỉ cái gì ?
Kinh
Bộ phản luận rằng S8ác không thấy không đốI là Sắc của cảnh giớI trong
định . Nó không đốI ngạI và mắt không thấy được chứ không thật có .
2/
Sắc Vô Lậu :
Tát
Bà Ða bộ lập luận rằng cảnh thấy nghe hay biết của phàm phu như năm căn
tiếp xúc với 5 cảnh đều thuộc hửu lậu, nhưng trong kinh Tăng Nhất A Hàm
: “Pháp vô lậu là thế nào? Ðối với các sắc ở quá khứ, vị lai, hiện tại
nó không làm khởi lên tâm ái nhiễm, sân nhuế , cho đến đối với thọ,
tưỡng, hành thức cũng vậy. Ðó gọi là pháp vô lậu” . Bộ phái nầy kết luận
rằng ngoài sắc hửu lậu Kinh còn nói đến sắc vô lậu, nếu không có sắc vô
lậu, thì lấy gì gọ là sắc vô lậu ?
Thế
nhưng Kinh Lượng bộ phản luận rằng Sắc nầy cũng là cãnh giới của định,
do định vô lậu phát khởi, thế nên mới gọi là Sắc Vô Lậu .
3/Tát
Bà Ða bộ dẫn chứng về phước nghiệp tăng trưỡng. Có 7 loại phước nghiệp :
Bố thí
cho người đi đường thuyền .
Bố thí
cho người đi bộ .
Bố thí
cho người bệnh tật .
Bố thí
cho người săn sóc bệnh nhân .
Bố thí
vườn rừng .
Bố thí
cho người thường đi khất thực .
Tùy
thời bố thí .
Kinh
Trung A Hàm, phẩm Thế Gian Phước nói : “Thiện nam, tín nữ nào khi đã tạo
được bảy thứ phước thế gian đó, hoặc đi, hoặc đến, hoặc đứng, hoặc ngồi,
hoặc ngủ, hoặc thức, hoặc ngày, hoặc đêm, phước đó vẫn thường sinh càng
lúc càng sâu, càng lúc càng rộng”.
Hửu
Bộ cho rằng phước nghiệp thường tăng trưỡng đó là vô biểu sắc thật có .
Kinh
Lượng bộ cho rằng đó chỉ là chủng tử của Tư Tâm Sở khởi ra những hiện
tượng giả lập chứ không thật có vô biểu sắc. Khi suy nghĩ về bố thí ,
đó là do hạt giống đã được huân tập trong Thức Thứ Tám từ trước . Về sau
có khi hạt giống ác tâm sở khởi lên, có khi là vô ký tâm , nhưng những
chủng tử về bố thí vẫn tìm tàng tương tục chuyễn biến để đưa đến kết quả
mà ta gọi là phước nghiệp tăng trưỡng thế thôi chứ không thật có sắc vô
biểu .
4/
Không thấy tạo tác vẫn thành nghiệp
: Ví
dụ người chủ mưu giết người, không tự tay hành động mà chỉ thuê mướn
người khác giết, sau cùng người chủ mưu đó man lấy ác nghiệp . Hửu Bộ
cho rằng ác nghiệp khộng tự làm mà vẫn thành đó là vô biểu sắc có thật .
Kinh
Lượng bộ cho rằng đó chỉ là chủng tử của Tư Tâm Sở, lấy Tư Tâm Sở làm
thể . Vì trong kế hoạch thuê mướn người khác hành động đó đã có chủng tử
sát nhân dấy lên trong tâm, tiếp tục chuyễn biến , tăng trưỡng cho đến
khi kế hoạt mưu sát thành công , trong quá trình đó kẻ chủ mưu đã tạo ra
nghiệp sát sanh không phải thật có một vô biểu sắc nào cả .
5/
Sắc Pháp Xứ :
Kinh
Tạp A Hàm quyển 13 nói : “Pháp thuộc ngoại xứ sẽ không nhiếp vào 11 xứ,
Pháp không thấy không đối” . Hửu Bộ luận rằng Kinh nói Pháp không thấy
không đối chứ không nói vô sắc. Do đó khi đề cập đến pháp xứ không có
nghĩa là loại trừ sự tồn tại của vô biểu sắc . Nếu pháp xứ không phải là
vô biểu sắc tại sao Kinh không nói ngay là vô sắc mà chỉ nói là không
thấy không đối .
Kinh
Bộ vẫn cho đó là sắc thuộc cảnh giới của định và không đồng ý với những
luận điểm của Hửu Bộ vì cho rằng những dẫn chứng đó không đủ chứng minh
sự hiện hửu của vô biểu sắc .
6/ Ba
chi Sắc Pháp trong Tám chi Thánh Ðạo :
Chính Ngữ, Chính Nghiệp, Chính Mạng là ba chi thuộc Sắc Pháp . Hửu Bộ
luận giải rằng khi hành giả nhập chánh định thân không hoạt động nên
không có Chính Nghiệp, miệng không nói năng nên không có Chính Ngử,
không đi khất thực nên không có Chính Mạng . Mặc dù trong định không có
ba chi đó nhưng người nhập định vẫn có đủ Tám Chi Thánh Ðạo do đó trong
lúc nhập định ba chi Chính Ngữ , Chính Nghiệp và Chính Mạng vẫn hiện
hửu dưới dạng vô biểu sắc . Nếu không có sắc vô biểu của ba chi đó thì
khi hành giả xuất định ba chi đó từ đâu xuất hiện trở lại . Chẵng lẽ
người nhập chánh định lại không có đủ 8 chi Thánh Ðạo như người không
nhập định hay sao ?
Kinh
Bộ vẫn lập luận rằng trong khi nhập định vẫn có Chính Ngữ, Chính Nghiệp
và Chính Mạng là do nơi Tư Tâm Sở mà giả lập chứ không có thật thể .
Trong định không có Biểu Nghiệp về ba món đó nhưng nhờ có Tư Tâm Sở suy
tư về ba chi đó nên khi xuất định có ba chi đó xuất hiện trở lại chứ
không có Vô Biểu Sắc nào cả .
7/
Giới Biệt Giải Thoát :
Khi một giới tử thọ đắc Giới Biệt Giải Thoát sau
đó có lúc khởi ác tâm, vô ký tâm hoặc vô tâm nhưng giới thể vẫn không
mất . Hửu bộ cho rằng giới thể không mất đó là vô biểu sắc có thật .
Kinh
bộ vẫn cho rằng giới thể đó lấy tư tâm sở làm thể . Từ nơi Tư chủng tử
có khả năng phòng phi chỉ ác, đó gọi là giới thể , dựa vào đó thành lập
luật nghi biệt giải thoát chứ không có vô biểu sắc nào cả .
8/
Giới là bờ đê ngăn chận tội ác :
Trong Kinh Luật thường ví dụ giới là bờ đê ngăn chận tội ác giống như
bờ đê ngăn chận nước vậy. Ðã là bờ đê thì nó phải có thực thể mới ngăn
chận được và do đó mới gọi giới là bờ đê . Hửu Bộ cho đó là sắc vô biểu
có thật .
Kinh
Bộ vẫn giữ vững lập trường rằng Tư Tâm Sở có khả năng như bờ đê ngăn
chận tội ác . Vì người thọ giới khi phát nguyện từ nay về sau không
phạm điều tội ác , từ đó mỗi niệm mỗi niệm đã tạo được những chủng tử
thiện được huân vào Thức Thứ Tám do đó chủng tử ác bị triệt tiêu dần
không phát khởi nên gọi đó là bờ đê ngăn chận không cho phạm tội ác. Do
đó mà có giả dụ giới như bờ đê ngăn chặn tội ác thế thôi chứ không có
vô biểu sắc gì cả .
Những
chứng minh trên của Hửu Bộ là để làm sáng tỏ thuyết Ý Nghiệp lấy Tư Tâm
Sở làm thể , hành động và ngôn ngữ do Tư Tâm Sở phát động sinh khởi . Họ
cho rằng Thân Biểu Nghiệp và Ngữ Biểu Nghiệp đều thuộc Sắc Pháp. Thân
Biểu lấy Sắc làm thể , Ngử Biểu lấy âm thanh làm thể từ đó dẫn khởi ra
Sắc Pháp không thể biểu thị và không có đối ngại gọi là Vô Biểu Sắc cũng
gọi là Vô Biểu Nghiệp. Sắc do đại chủng tạo được coi là là thật thể của
Sắc Pháp nầy .
Tóm
lại theo Hửu Bộ, Biểu Sắc và Vô Biểu Sắc đều có thật thể .
Nhưng
theo Kinh Bộ thì chủ trương ngược lại . Luận Tỳ Bà Sa 122, 123 nói :
“Biểu, Vô Biểu Nghiệp đều không thật thể” . “ Nghiệp thân, ngữ, ý đều
chỉ là Tư” (Biểu, vô biểu nghiệp, vô thật thể tính, thí dụ giả thuyết
thân, ngữ , ý nghiệp giai thị nhất Tư) .
Cũng
theo Kinh bộ, Tư chia làm 4 loại : (1) Thẩm lự, (2) quyết định, (3) Ðộng
thân, (4) phát ngữ . (1) và (2) thuộc về Ý Nghiệp . Thân biểu và Ngử
biểu đều do Ý mà ra do đó thân biểu vaà ngữ biểu đều không có thật thể
vì cả hai đều do tư tâm sở phát động . Do đó vô biểu nghiệp cũng không
có thật thể vì cả hai đểu do tư tâm sở tạo ra những chủng tử và huân vào
Tạng Thức và sau đó nếu hội đủ điều kiện chúng sẽ khởi ra hiện hành chứ
không có thật thể .
Tóm
tắc như sau : Theo chủ trương của Hửu Bộ và Kinh Lượng Bộ .
THỂ CỦA CÁC NGHIỆP :
(1) Ý
NGHIỆP
: * Tư Tâm Sở làm thể … (Hửu Bộ)
·
Thẩm Lự Tư …….( Kinh Bộ)
·
Quyết Ðịnh Tư …….( Kinh Bộ)
(2)
BIỂU
: (a) Thân : * Hình Sắc làm thể … . (Hửu
Bộ)
·
Phát Ðộng làm thể..(Chính Lượng Bộ)
·
Ðộng Thân Tư ….( Kinh Bộ)
(b)
Ngữ
: * Âm Thanh làm thể … (Hửu Bộ)
·
Hành động làm thể..(Chính Lượng Bộ)
·
Phát Ngữ Tư …. (Kinh Bộ)
(3)
VÔ BIỂU
: (a) Thân: * Sắc do đại chủng tạo… (Hửu Bộ)
·
Chủng tử Tư Tâm Sở… (Kinh Bộ)
(b)
Ngữ
: * Sắc do đại chủng tạo… (Hửu Bộ)
·
Chủng tử Tư Tâm Sở (Kinh Bộ)
(B)
BA TÍNH CỦA NGHIỆP
Nghiệp có 3 Tính . Ðó là Thiện, Ác và Vô ký . Nhưng chỉ có Thiện và Ác
mới tạo ra Nghiệp còn tính Vô Ký không tạo ra nghiệp . Do Ý nghiệp Thiện
hay ác mà phát sinh ra thân biểu nghiệp và vô biểu nghiệp, cũng như phát
sinh ra ngữ biểu nghiệp và ngữ vô biểu nghiệp thiện hay ác .
Ý
nghiệp vô ký chỉ phát sinh ra thân hoặc ngữ biểu nghiệp vô ký, chứ không
có thân, ngữ vô biểu nghiệp . Vì tính vô ký , chẵng phải thiện hay ác
thế lực của nó quá yếu nên không thể chiêu cảm được kết quả như nghiệp
thiện hay ác . Do đó chỉ có thân, ngữ biểu nghiệp vô ký , nhưng không có
vô biểu vô ký .
Thế nhưng tính Thiện , Ác và Vô Ký của Nghiệp là gì ?
Luận
Tỳ Bà Sa 51 viết: “ Nếu pháp chiêu cảm quả khả ái, lạc thọ thì gọi là
thiện, còn nếu chiêu cảm quả không khả ái, khổ thọ thì gọi là ác. Nếu
khác với cả hai việc đó thì gọi là vô ký” .
Luận
Câu Xá 15 viết : “Nghiệp an ổn hay chiêu cảm được quả báo khả ái và Niết
Bàn, tạm thời hay vĩnh viễn xa lìa thống khổ thì gọi là thiện.
Nghiệp không an ổn hay chiêu cảm quả báo bất khả ái thì gọi là ác .
Nghiệp trái với hai tính trên gọi là vô ký . Ðây là căn cứ vào sự chiêu
cảm quả báo để phân biệt thiện, ác và vô ký tính của Nghiệp” .
Luận
Câu Xá 13 : “ Căn cứ vào nguyên do để chia ba tính Thiện, Ác và Vô Ký .
Mỗi tính kể trên đều có 4 loại : thắng nghĩa , tự tính, tương ưng,
đẵng khởi” .
1/ Bốn loại Tính Thiện
(1)
Thắng nghĩa Thiện :
Thắng nghĩa có nghĩa là tuyệt đối, tuyệt vời, hơn hẵn, diệu lý sâu xa
hơn hẵn nghĩa lý thời gian thế tục . Ðó là Niết Bàn rất an ổn, vĩnh viễn
bặt dứt dấu vết thống khổ .
(2)
Tự tính thiện :
Chỉ 5 tâm sở : tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si có tự thể là thiện
không cần các món khác chung khởi như tương ưng và đẵng khởi thiện ...
Tương
ưng thiện :
những tâm sở nhờ tương ưng với 5 món tâm sở tự tính thiện kể trên mà
thành , vì tự thể của nó không phải là thiện.
Ðẵng
khởi thiện:
Ðó là thân, ngữ thiện nghiệp do cùng phối hợp đồng khởi của tự tính
thiện và tương ưng thiện mà phát sinh .
2/
Bốn loại tính ác :
Thắng
nghĩa ác :
Ðó là
Sinh và Tử . Tự tính của sinh tử hàm chứa nhiều tự tính xấu ác, khổ não
cùng cực .
Tự
tính ác :
Ðó
là 5 món tâm sở : vô tàm, vô quý, tham, sân , si, tự thể của chúng là
ác , không cần tương ưng hay đẵng khởi với các món tâm sở khác mà thành
.
Tương
ưng ác :
Ðó
là chỉ cho các món tâm sở mà tự tính của nó không phải ác nhưng khi
tương ưng khởi với 5 món ác kể trên nên nó trở thành ác. Do đó gọi là
tương ưng ác .
Ðẵng
khởi ác:
Ðó
là thân, ngữ ác nghiệp do cùng phối hợp đồng khởi của tự tính ác tâm sở
và tương ưng ác tâm sở mà phát khởi .
3/Vô
ký tính
.- Về
tính vô ký chỉ có Thắng nghĩa Vô Ký tức là nói về hư không vô vi và phi
trạch diệt vô vi . Vì thể của nó thường hằng nên gọi là thắng nghĩa,
nhưng nó không phải là sự chứng đắc của đạo nên không gọi thiện mà gọi
là vô ký . Trong 46 món tâm sở , món nào cũng thông cả 2 hoặc 3 tính,
nhưng không có món nào thuần là vô ký do đó luận sư không lập tự tính
vô ký . Và vì không có tự tính vô ký nên không có tương ưng và đẵng khởi
vô ký .
Có
thể tóm tắc 5 nghiệp và sự hiện diện ở các cõi , các địa như sau:
NGHIỆP :
(1)
NGHIỆP
: Thiện & vô ký ----------Hiện hửu ở 3 cõi ,
chín
địa
Ác ---------- Chỉ có ở cõi
Dục
(2) BIỂU :
Thiện ------------ Chỉ có ở cõi Dục và Sơ Thiền
Hửu phú vô ký ---------- Chỉ có
ở Sơ Thiền
Ác -----------Chỉ có ở cõi
Dục
(3) VÔ BIỂU :
Thiện ----------Chỉ có ở cõi Dục và Sắc
Ác ----------Chỉ có ở cõi
Dục
(C) LUẬN GIẢI VỀ Ý NGHĨA CỦA BIỂU VÀ VÔ BIỂU NGHIỆP
Tướng
trạng của Biểu và Vô Biểu Nghiệp thể hiện như thế nào?
Về Vô
Biểu có 3 loại :
1/
Luật Nghi Vô Biểu :
Ðây
là nói về sự giữ giới , sự trì giới , không tùy thuộc về hình thức nên
không thể trông thấy vì nó không biểu lộ bên ngoài . Do đó chỉ nhận
biết qua cảm giác và suy luận nên nó thuộc về Vô Biểu , thuộc về tính
thiện . Có thể phân thành 3 loại :
a/
Biệt giải thoát luật nghi vô biểu:
Khi
hành giả thực hành trì giới tinh tấn thanh tịnh , dứt trừ được từng tội
nơi thân và ngữ thành tựu giải thoát khỏi những triền phược được gọi
bằng cụm từ nầy , và nó thuộc về Vô Biểu .
b/
Tịnh lự luật nghi Vô Biểu :
còn
gọi là “định cộng giới” hành giả đã thành công trong cảnh giới thiền
định , dứt trừ được những tội lỗi nơi thân và ngữ mà thành tựu dược Vô
Biểu nầy . Ðây là cảnh trong định do đó khi xuất định thì Vô Biểu nầy
mất .
c/ Vô
lậu luật nghi Vô Biểu
:
cũng được gọi là “đạo cộng giới” . Trường hợp nầy được thành tựu khi
thiện tâm vô lậu khởi lên, các tội lỗi nơi thân , ngữ dược dứt trừ . Nó
khởi lên khi thiện tâm vô lậu phát khởi và diệt mất khi thiện tâm vô lậu
diệt .
2/
Bất luật nghi Vô Biểu : thuộc về tính ác .
3/
Phi luật nghi phi bất luật nghi vô biểu : thuộc về vô ký tính .
Luật
Nghi và Bất Luật Nghi Vô Biểu nghiệp do biểu nghiệp sinh cũng có , không
do biểu nghiệp sinh cũng có .
Xem
biểu đồ :
VÔ BIỂU:(a) Luật Nghi (tính
thiện)
(b) Bất
luật nghi (tính ác)
(c)
Phi luật nghi phi bất luật nghi (vô ký)
(a) *
Biệt giải thoát luật nghi : Tỳ kheo, tỳ kheo ni, sa di, sa di ni,
cận sự nam cận sự nữ, tại gia 8 giới :
Ðều có Biểu và Vô Biểu Nghiệp
·
Tịnh lự luật nghi
·
Vô lậu luật nghi : cả hai chỉ có VÔ
BIỂU
(b)
và (c) : cả hai đều có BIỂU và VÔ BIỂU NGHIỆP
Luận
về sự thành tựu Vô Biểu và sự xã bỏ Biểu và Vô Biểu nói trên , xin
trích dẫn các luận thư của các bộ phái để làm sáng tỏ vấn đề . Trong ba
loại luật nghi vừa nêu trên có Biệt Giải Thoát, Tịnh Lự và Vô Lậu.
Trước
tiên đề cập đến
Biệt Giải Thoát Luật
Nghi .
Trong
Câu Xá Ký 14 nói : “
Luật nghi biệt giải thoát do người khác dạy mà được thành tựu” . Nghĩa
là do người khác truyền dạy mà đắc giới . Có hai cách như sau :
Ðắc
giới từ cá nhân Tăng Gìa
:
Trong Câu Xá Quang Ký 14 nói: “ Sa Di , Sa Di Ni, từ nơi hai vi Tăng
mà thọ đắc giới; Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di và Cân Trú (tại gia 8 giới) chỉ cần
từ một vị Tăng mà thọ đắc giới” .
Ðắc
giới từ Tăng Già (5 vị Tăng trở lên)
: Ðó
là trường hợp Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni phải thọ giới trước giới đàn có 5 vị
hoặc 10 vị Tăng Già mà thọ đắc giới .
Bàn
rộng về sự duyên đắc giới Cụ Túc, có sự bất đồng giữa bốn bộ
luật và năm bộ luận.
Sự
bất đồng giữa bốn bộ Luật được nêu ra như sau :
Luật
Thập Tụng , nêu ra mười duyên đắc giới
Luật
Tứ Phần , nêu 5 duyên
Luật
Tăng Kỳ , nêu 4 duyên
Luật
Ngủ Phần , nêu 5 duyên
Sự
bất đồng trong 5 bộ Luận được liệt kê như sau :
Luận
Tỳ Ni Mẫu , nêu ra năm duyên
Luận
Ma đắc Lặc Gìa, nêu 10 duyên
Luận
Thiện Kiến, nêu 8 duyên
Luận
Tát Bà Ða, nêu 7 duyên
Luận
Minh Liễu, nêu ra 7 duyên
Trong
sự luận tranh dị đồng giữa 4 bộ Luật và 5 bộ Luận nêu trên Câu Xá chọn
Thập Tụng Luật nêu ra 10 duyên đắc giới như sau :
Ðắc
Giới tự nhiên :
Ðây
là chỉ cho những trường hợp của Phật và Ðộc Giác do Vô Sư Trí tu chứng
giác ngộ , tự nhiên đắc giới .
Ðắc
Giới do ngộ Tứ Ðế :
Trường hợp nầy còn gọi là nhập chính tính ly sinh , ví dụ như 5 vị tỳ
kheo Kiều Trần Như ngộ được lý Tứ Ðế mà đắc giới .
Có
túc duyên căn lành đắc giới :
đây
là trường hợp của Da Xá (Yasas), nằm trong trường hợp Phật dạy là
“Thiện Lai Tỳ Kheo” (ehi bikkhu) . Ngài là một Thượng Tọa chùa Kê Viên
thành Hoa Thị nước Ma Kiệt Ðà đã khuyên vua A Dục lập 84 ngàn tháp thờ
Phật . Ngài đã chứng quả vị A La Hán , triệu tập trên 700 vị thánh hiền
kiết tập Tam Tạng giáo điển lần thứ nhì tại thành Tỳ Xá Ly nước Bạt Kỳ .
Nhờ túc duyên nhiều đời mà được đắc giới .
Phát
nguyện đắc giới :
Trường hợp ngài Ðại Ca Diếp do tín kỉnh Tam Bảo phát đại nguyện rằng :
“Phật là Ðại Sư của mình” mà đắc giới .
Vấn
đáp luận nghị đắc giới
: trường hợp chú bé Tô Ðà Di nhân khi Phật hỏi : “Nhà con ở đâu?” . Chú
bé đáp : “Ba cõi không nhà” , câu trã lời làm vừa ý Phật nên mặc dù chú
bé chưa đủ 20 tuổi Phật vẫn đăc biệt cho phép Tăng kiết ma cho thọ cụ
túc giới .
Ðắc
giới trong trường hợp thọ trọng pháp
: trường hợp Ðại Sanh Chủ do thọ Tám Kỉnh Pháp mà được đắc giới .
Sứ
giả truyền giới
:
trường hợp Pháp Thọ tỳ kheo ni muốn đến nơi đại Tăng trụ xứ để thọ giới
nhưng vì tướng mạo quá đoan nghiêm sợ đi đường xa gặp bất trắc nên Phật
đặc cách cho sứ giả đến truyền giới cho .
Ðắc
giới từ năm vị Tăng
: trường hợp bốn vị làm Tăng Chúng và vị thứ năm là trì luật để Kiết Ma
(trì luật vi đệ ngũ nhân), cho thọ giới vì trường hợp ở nơi không đủ 10
vị Tăng để lập giới đàn truyền giới .
Giới
Ðàn Kiết Ma đắc giới
: trường hợp dủ số 10 vị Tăng , hoặc nhiều hơn không ngại, đển lập giới
đàn Kiết Ma truyền giới .
Tam
Ngữ Ðắc Giới
: Luật Thập Tụng 60 viết : “Nếu khi Phật chưa chế pháp Bạch Tứ Yết Ma
(Jnapticaturtham) (1 lần bạch, 3 lần Yết Ma nghĩa là xem xét rồi hỏi lại
đại Tăng 3 lần xem việc ấy nên làm chăng sau đó mới quyết định thi
hành), người nào qui mạng về Phật , xướng 3 lần : Tôi theo Phật xuất
gia, người đó đã khéo thọ đắc Cụ Túc Giới. Nhưng nếu sau khi Phật chế
pháp Bạch Tứ Yết Ma, dù có xướng ba lần xuất gia cũng không được gọi là
đắc Cụ Túc Giới” . Luận Hửu Bộ viết : “Tam Ngữ Ðắc, Tam Quy Ðắc, chỉ
trong thời gian 8 năm sau Phật thành đạo thì được, nếu quá 8 năm thì
không thể gọi là đăc giới” .
Mười
cách đắc giới kể trên , (1) và (2) chỉ có Vô Biểu Nghiệp. Tám cách còn
lại đều có đủ BIỂU và VÔ BIỂU NGHIỆP .
Trường hợp Tịnh Lự và Vô Lậu luật nghi không cần nhờ người khác truyền
thọ nên không có Biểu Nghiệp .
Biệt
Giải Thoát là giới không chuyễn theo tâm (bất tùy tâm chuyễn) , có nghĩa
là khi đã đắc giới rồi , sau đó, dù tâm có thay đổi lúc ác, lúc vô ký,
lúc vô tâm, nhưng không xã giới thì giới thể vẫn tồn tại trong Tàng Thức
không mất . Ngược lại Ðịnh Cộng Giới và Ðạo Cộng Giới là giới chuyễn
theo tâm (tùy tâm chuyễn) nên khi nhập định thì có nhưng khi xuất định
thì mất .
Thế
nhưng thế nào mới được gọi là Ðắc Giới ? Ðó là Khi thọ giới, giới tử
phải phát nguyện bất cứ trong trường hợp nào, bất cứ nơi nào, bất cứ lúc
nào cũng phải tuyệt đối thọ trì giới cấm , quyết dứt bảy chi tội của
thân và ngữ một cách thanh tịnh mới gọi là đắc giới .
Có
năm trường hợp hạn định sau đây chỉ gọi là DIỆU HẠNH mà không gọi là
GIỚI đó là :
Hạn
định nơi loài hửu tình:
thề rằng chỉ không sát hại đối với loài hửu tình nầy chứ không đối với
loài hửu tình khác .
Giữ
giới có chỉ định
:
thề rằng chỉ giữ giới cấm không sát sanh hoặc không trộm cắp… chứ không
phải giữ tất cả bảy chi cấm giới .
Hạn
định nơi chốn
: chỉ giữ giới sát nơi nầy chứ không phải ở những nơi khác .
Hạn
định thời gian
: chỉ giữ giới sát trong thời gian nầy chứ không giữ giới sát ở những
thời gian khác .
Tùy
trường hợp
: giữ giới sát trong mọi trường hợp trừ trường hợp chiến tranh.
Trường hợp phi luật nghi phi bất luật nghi đắc thành từ ba phương diện
như sau :
Từ
việc phước thiện
: người hay làm việc bố thí , làm các việc thiện …hoặc làm việc ác hại
người, hại vật …khi người đó lìa bỏ những việc làm thiện và ác liền đắc
thành “phi luật nghi phi bất luật nghi vô biểu” .
Thọ
lãnh sau khi phát thệ nguyện
: Ví dụ như thệ nguyện rằng : “chỉ ăn sau khi đã lễ Phật” . Hành giả
khi vừa phát nguyện như vậy liền đắc thành “phi luật nghi phi bất luật
nghi vô biểu” .
Trong
khi thực hành
:
sau khi phát khởi việc gì một cách hăng hái, đưa đến hành động , ngay
khi hành động đó liền đắc thành phi luật nghi phi bất luật nghi vô biểu
.
Những
trường hợp xã giới được phân chia như sau : Như trước đã nói 8 loại Biệt
giải thoát giới(Tỳ Kheo, tỳ kheo ni, chính học, sa di, sa di ni, cận sự
nam, cận sự nữ, cân trụ) trừ Cận trụ còn bảy đều có 4 duyên xã giới như
sau :
(a)
Cố ý xã giới; (b) Mệnh chung; (c) Nam nữ căn cùng xuất hiện; (d) Ðoạn
thiện căn .
Riêng
về giới Cận Trụ ngoài 4 duyên trên , giới nầy chỉ thọ một ngày một đêm
nên sau đó tự nhiên xả giới .
Trong
trường hợp xả giới nêu trên Kinh Lượng Bộ có quan điểm : “Bốn trọng giới
sát, đạo, dâm, vọng là giới đoạn đầu, rất nặng, hễ phạm một trong 4 giới
ấy thì tất cả giới xuất gia đều mất” .
Hửu
Bộ trái lại quan niệm rằng : “ giả sử trường hợp phạm một trong 4 giới
đó cũng không hẳn mất hết giới xuất gia , nếu chân thành sám hối thề
không tái phạm và nghiêm trì các giới còn lại” .
Trường hợp Tịnh Lự Luật Nghi có 3 duyên xả giới như sau :
Chuyển đổi vị trí : Nếu từ hạ địa sinh lên thượng địa thì xã giới tại hạ
địa. Ngược lại từ thượng địa sinh xuống hạ địa thì xả giới thượng địa .
Vì định cộng giới hửu lậu luôn luôn ràng buộc theo Giới và Ðịa .
Giới
mất do thối chuyển : lúc được thắng định được đắc giới nhưng sau đó
phiền não phát sinh , thắng định mất do đó giới cũng mất .
Mất
giới vì mạng chung .
Trường hợp Vô Lậu Luật Nghi xả giới do 3 trường hợp sau :
Ðắc
quả cao hơn : trường hợp hành giả đắc quả cao hơn thì vô lậu đạo quả vị
thấp không còn do đó giới cũng mất là lẽ tự nhiên .
Trí
huệ phát triển : khi hành giả tu luyện từ độn căn, trí huệ phát dạt
thành lợi căn do đó giới độn căn đã mất .
Truờng hợp bị thối chuyển : Giới mất khi quả vị bị thối chuyển.
Trường hợp xả Bất Luật Nghi có 3 duyên như sau :
(a)
Chết; (b) Nam nữ căn cùng xuất hiện; (c) Thọ đắc thiện giới .
Trường hợp xả Phi luật nghi phi bất luật nghi có 6 duyên như sau :
Chấm
dứt thề nguyện giử giới : bỏ không tuân thủ lời thề giử giới nữa, ngay
lúc đó giới liền bị xả bỏ .
Giới
chấm dứt do thế lực chấm dứt : do các thế lực của lòng tin thanh tịnh
dẫn sinh Vô Biểu Nghiệp Thiện, thế lực phiền não dẫn sinh Vô Biểu Nghiệ
Ác đã chấm dứt, ví như lực của mũi tên bắn ra đã hết lực đi tới nên tự
động rơi xuống, trường hợp nầy cũng giống như vậy do đó giới bi xả bỏ .
©Xả
giới do chấm dứt tác nghiệp : Vô biểu nghiệp thiện, ác vốn do tác
nghiệp thiện ác tạo thành do đó khi tác nghiệp chấm dứt, mặc dù lời thề
còn nhưng giới cũng theo tác nghiệp mà bị xả bỏ .
Sự
vật hư hoại : khi bố thí phòng xá cầu dường (thuộc thiện), hoặc lưới bẫy
(thuộc ác) …Những thứ nầy hư hoại thì giới cũng bị xã luôn .
Khi
thọ mạng chấm dứt
Khi
thiện căn chấm dứt .
(II)
NGHIỆP ÐƯỢC ÐỀ CẬP TRONG CÁC BỘ LUẬN VÀ CÁC KINH
Theo
A Tỳ Ðạt Ma Câu Xá Luận (Abhidharma Kosa của Vasubhandhu) có nêu ra 11
loại Nghiệp như sau :
1/
Nghiệp có 3 tính
: Thiện, ác, vô ký
2/ 3
loại phước nghiệp: phước nghiệp (nghiệp lành) ở cõi Dục, phi phước
nghiệp (nghiệp ác) ở cõi Dục, Bất Ðộng Nghiệp ở cõi Sắc và Vô Sắc Giới .
3/
Nghiệp về 3 thọ
:
Nghiệp tùy theo Lạc Thọ ở cõi Dục và ở Sơ , Nhị , Tam Thiền. Nghiệp tùy
theo Khổ Thọ (nghiệp bất thiện) ở cõi Dục. Nghiệp tùy theo Bất Khổ Bất
Lạc Thọ ở từ Tam Thiền lên đến trời Hửu Ðỉnh (trời thứ tư trong Sắc
giới, tức Sắc Cứu Kính Thiên vì là cao nhất trong thế giới hửu hình nên
gọi là Hửu Ðỉnh) .
4/
Nghiệp suốt 3 thời : quá khứ, hiện tại và vị lai . Và theo thuận thứ
thọ, thuận hậu thọ . Trường hợp nầy có 3 quan điểm khác nhau :
a/ 4 loại Thuận Nghiệp
: *
Thuận hiện Nghiệp : hiện tại tạo nghiệp, hiện tại thọ quả
. *Thuận sinh nghiệp: hiện tại tạo nghiệp đời kế thọ quả.
* Thuận hậu nghiệp : hiện tại tạo nghiệp đến đời thứ 3 mới
thọ quả. * Thuận bất định nghiệp : hiện tại tạo nghiệp
nhưng thời kỳ thọ quả không nhất định thuộc về đời nào trong lai sinh
.
b/ 5 loại thuận nghiệp
:
ngoài 4 loại Thuận Nghiệp vừa nêu trên ; riêng THUẬN BẤT ÐỊNH NGHIỆP lại
chia ra 3 loại : *quả báo nhất định; *thời hạn thọ quả báo không nhất
định; *quả báo và thời hạn thọ quả báo đều nhất định .
c/ 8 loại Thuận Nghiệp
: từ 4 thuận nghiệp kể trên chia mỗi loại làm 2 thứ do đó thành 8 Nghiệp
như biểu đồ bên dưới .
TÁM NGHIỆP
·
Thuận Hiện Nghiệp : (i) Báo
định - thời định
(ii) Báo bất định - thời định
·
Thuận Sinh Nghiệp : (i) Báo
định - thời định
(ii) Báo bất định - thời định
·
Thuận Hậu Nghiệp : (i) Báo
định - thời định
(ii) Báo bất định - thời định
·
Thuận Bất Ðịnh Nghiệp : (i) Báo
định - thời bất định
(ii) Báo bất định - thời bất định
Ðối
với 3 quan điểm vừa nêu trên , luận Câu Xá 15 viết : “Ba nghiệp thuận
hiện pháp thọ là định, cọng thêm nghiệp thuận bất định thành bốn, thuyết
nầy đúng hơn”. Như thế đủ thấy luận chủ Thế Thân chấp nhận thuyết 4
Nghiệp .
Trong
bốn nghiệp kể trên Nghiệp nào dẫn đến quả tổng báo thì gọi là DẪN NGHIỆP
. Nghiệp nào dẫn đến quả riêng biệt thì gọi là MÃN NGHIỆP .
Theo
luận Tỳ Bà Sa có đưa ra 3 thuyết như sau :
Hai
Nghiệp Thuận Sinh Thọ và Thuận hậu thọ có đủ cả DẪN NGHIỆP và MÃN NGHIỆP
. Hai nghiệp Thuận hiện thọ và Thuận bất định thọ thì chỉ có MÃN NGHIỆP
.
Ba
nghiệp Thuận Sinh Thọ, Thuận Hậu Thọ và Thuận Bất Ðịnh Thọ có đủ cả DẪN
NGHIỆP và MÃN NGHIỆP .Còn nghiệp Thuận Hiện Thọ chỉ giớI hạn có MÃN
NGHIỆP .
Theo
luận Tỳ Bà Sa 2 : Bốn Nghiệp đều có đủ cả DẪN NGHIỆP và MÃN NGHIỆP
.
5/ Cả
Thân, Tâm đều thọ Nghiệp
: nghiệp do Tâm thọ là nghiệp thọ quả báo (dị thục), tương ứng với đệ
lục ý thức. Thiện nghiệp ở từ trung gian định của Sắc giới đến cõi trời
Hửu Ðỉnh , nó chỉ chiêu cảm do tâm thọ lãnh . Nghiệp do thân thọ là
nghiệp chiêu cảm dị thục do thân thọ lãnh như ác nghiệp ở cõi Dục Giới .
6/
Khúc, Uế, Trược , 3 nghiệp
: do Siểm khúc phát sinh ra nghiệp Thân, Ngữ , Ý gọi là Khúc Nghiệp.
Sân phát sinh ra 3 nghiệp gọi là Uế Nghiệp. Do tham phát sinh ra nghiệp
thân, ngữ, ý gọi là Trược Nghiệp .
7/
Bạch hắc nghiệp
: nghiệp ác thọ quả báo ác ở cõi Dục gọi là Hắc Hắc Nghiệp. Nghiệp lành
thọ quả báo lành ở cõi Sắc gọi là Bạch Bạch Nghiệp . Nghiệp lành dữ
xen lộn nhau thọ quả báo khả ái phi khả ái xen lộn nhau ở cõi Dục gọi là
Hắc Bạch Hắc Bạch Nghiệp .
8/ Ba
Nghiệp Mâu Ni
:
Ba Nghiệp
Ba Nghiệp thanh tịnh Ba Nghiệp Mâu Ni
Thân Thân thanh tịnh Thân
Mâu Ni
Ngữ Ngữ thanh tịnh Ngữ Mâu
Ni
Ý Ý thanh tịnh Ý
Mâu Ni
Từ
Mâu Ni là do phiên âm từ tiếng Phạn Muni, có nghĩa là tịch mặc, dứt sạch
các phiền não nên được vắng lặng. Hàng thánh giả vô học, do dứt sạch các
phiền não nên thân nghiệp được gọi là thân Mâu Ni, Ngữ nghiệp gọi là ngữ
Mâu Ni. Ý nghiệp gọi là ý Mâu Ni. Thân , ngữ , ý đều thành diệu hạnh nên
được gọi là Thân thanh tịnh, Ngữ thanh tịnh, ý thanh tịnh. Vì tạm thời
và vĩnh viễn xa kìa mọi ác hạnh phiền não cấu uế nên gọi là Diêu Hạnh;
nó thông cả hai loại thiện hửu lậu và thiện vô lậu .
9/ Ba
Hạnh
: gồm có 3 ác hạnh và 3 diệu hạnh như sau :
(a)
Ba ác hạnh :
Ba Nghiệp
Thân ác hạnh
Thân Nghiệp
Ngữ ác hạnh
Ngữ Nghiệp
Ý ác hạnh Ý Nghiệp và tham, sân,
tà kiến.
(b)
Ba diệu hạnh
: Ba
Nghiệp
Thân diệu hạnh
Thân Nghiệp
Ngữ diệu
hạnh Ngữ
Nghiệp
Ý diệu hạnh Ý nghiệp và vô tham, vô sân,
chính kiến
Ba ác
hạnh là tất cả 3 nghiệp ác của thân, ngữ, ý . Ba diệu hạnh gồm tất 3
nghiệp lành của thân, ngữ, ý . Quan trọng nhất là Ý ác hạnh cũng như Ý
diệu hạnh . Chúng nhiếp tất cả Ý nghiệp thiện, ác . Ý ác hạnh nhiếp luôn
cả tham , sân, tà kiến . Ý diệu hạnh nhiếp cả vô tham, vô sân, và chính
kiến , như biểu đồ ghi trên .
10/
Hai loại mười nghiệp đạo
: đó là 10 ác nghiệp đạo và 10 thiện nghiệp đạo .
MƯỜI ÁC NGHIỆP
·
Thân : Sát, đạo, dâm
·
Ngữ : Nói dối trá, nói lưỡi hai
chiều, nói lời hung ác, thêu dệt
·
Ý : Tham, sân, tà kiến
MƯỜI THIỆN NGHIỆP
·
Thân : Không sát, không đạo, không
dâm
·
Ngữ : Không nói dối trá, không nói
lưỡi hai chiều, không nói lời hung ác, không thêu dệt
·
Ý : Không tham, không sân , thực
hành chính kiến
Trong
các Kinh thường viết những việc lành, việc ác phát khởi từ thân, ngữ, ý
đều trãi qua 3 giai đoạn : (a) Gia Hạnh; (b) Căn Bản; (c) Hậu khởi.
Kinh
Ưu Bà Tắc Bồ Tát Giới, phẩm Nghiệp viết : Phương tiện trang nghiêm; Căn
Bản; Thành Dĩ.
Kinh
Phạm Võng Bồ Tát Giới viết : Sát nhân sát duyên; Sát Pháp; Sát Nghiệp.
Trong
3 phần kể trên Gia Hạnh là phương tiện phát khởi sự việc;
Căn Bản là giai đoạn sự việc vừa hoàn thành ; Hậu
Khởi là những hành động kế tiếp sau đó . Chỉ có phần Căn
Bản mới gọi là NGHIỆP ÐẠO.
Câu
Xá Luận 16 viết : “Về bất thiện, Thân ác nghiệp đạo trừ một phần của
thân ác hạnh không kể vào, đó là các thân nghiệp ác thuộc Gia Hạnh và
Hậu Khởi và các nghiệp như uống rượu , đánh, trói … vì những việc nầy
không thô bạo rõ rệt bằng những thân Ác Hạnh làm kẻ khác mất mạng , mất
của, mất vợ như Phật dạy, đặc biệt phải xa lánh. Chỉ những việc ác
chính như làm kẻ khác mất mạng, mất của …mới gọi là Nghiệp Ðạo.
Ngữ
ác nghiệp đạo không kể những ngữ ác hành thuộc gia hạnh, hậu khởi và
khinh vi.
Ý ác
nghiệp đạo không kể những Ý ác hạnh thuộc tư duy ác và lòng tham nhẹ …
Về
thiện, Thân thiện nghiệp đạo trừ một phần của thân diệu hạnh không kể
vào , đó là thân thiện nghiệp thuộc gia hạnh, hậu khởi và các việc khác
như bố thí , cúng dường, lìa uống rượu…
Ngữ
thiện nghiệp đạo, trừ một phần của ngữ diệu hạnh như ái ngữ, thật ngữ…
không kể vào.
Ý
thiện nghiệp đạo , trừ một phần của Ý diêụ hạnh như các tư duy thiện
không kể vào.”
10
điều Ác và 10 điều Thiện trở thành nghiệp đạo với những điều kiện như
thế nào?
NHỮNG YẾU TỐ KHIẾN 10 ÐIỀU ÁC TRỞ THÀNH ÁC
NGHIỆP ÐẠO
Sát
sinh nghiệp đạo : có 5 yếu tố : (a) Có tâm muốn giết; (b) Ðối tượng là
loài hửu tình; (c) Tưởng đó là loài hửu tình; (d) Dùng sức giết; (e)
Không giết lầm .
Trộm
cắp nghiệp đạo : có 5 yếu tố : (a) Móng tâm lấy cắp; (b) Ðối với tài vật
của kẻ khác ; (c) Tưởng đó là tài vật của kẻ khác ; (d) Dùng sức lấy ;
(e) Không phải lấy lầm đem về làm của mình .
Tà
dâm nghiệp đạo : có 4 yếu tố : (a) Hành dâm với người không phải vợ
hoặc chồng chính thức . (b) Làm việc trái với phép tắc bình thường .
(c) Làm việc trái với nơi chốn bình thường . (d) Làm việc trái với thời
gian bình thường .
Vọng
ngữ nghiệp đạo : có 4 yếu tố : (a) Tâm ô nhiễm; (b) Tư tưởng và lời nói
trái với pháp tắc ; (c) Người bị lừa dối hiểu rõ điều được nghe nói
.(e) Người nói dối biết rõ việc mình đã làm.
Lưỡi
hai chiều (ly gián ngữ) nghiệp đạo : có 4 yếu tố : (a) Tâm ô nhiễm; (b)
Cố ý nói hại kẻ khác; (c) Người nghe hiểu rõ; (d) Người nói tự biết rõ
mình nói hai lưỡi.
Ác
khẩu nghiệp đạo : có 4 yếu tố : (a) Tâm ô nhiễm; (b) Cố ý nói lời độc
ác, cộc cằn, thô bạo để hạ nhục kẻ khác ; (c) Người nghe hiểu rõ; (d)
Người nói tự biết rõ mình nói lời độc ác .
Ỷ ngữ
(thêu dệt, tạp uế) nghiệp đạo : có 2 yếu tố : (a) Tâm ô nhiễm; (b) Cố ý
nói lời thêu dệt , vẽ vời, dua nịnh, tạp uế .Từ Ỷ Ngữ nầy có phạm vi rất
rộng . Trừ 3 thứ hư cuống ngữ, thô ác ngữ , ly gián ngữ, tất cả
ngôn từ điên đảo, tà vạy, phát khởi ra từ tâm ô nhiễm đều nằm trong phạm
vi Ỷ Ngữ nầy .
Tham
nghiệp đạo : trường hợp nầy, lòng tham thể hiện nhiều mặt rất phức tạp
phát khởi từ căn bản thức, nó là món căn bản phiền não cực mạnh nên một
mình nó đủ yếu tố tạo ra Nghiệp Ðạo .
Sân
nghiệp đạo : sân cũng là một trong tam độc, căn bản phiền não , thế lực
của nó cực mạnh nên tự nó có thể tạo ra Nghiệp Ðạo.
Tà
kiến nghiệp đạo: tà kiến là một chi nằm trong 6 món căn bản phiền não ,
thế lực của nó không kém gì 2 món trên . Từ kiến chấp tà vạy mà sinh ra
vô số tội lỗi . Do đó nó dễ dàng tạo ra nghiệp đạo .
Tóm
lại Gia Hạnh của 10 nghiệp đạo ác do 3 căn bất thiện là Tham , Sân , Si
mà phát khởi . Do tâm Sân mà tạo ra nghiệp đạo sát sinh; do Tham dục mà
tạo ra trộm cắp nghiệp đạo, tà dâm … Cũng từ 3 món tam độc kể trên mà
tạo ra cuống ngữ, ly gián , tạp uế ngữ, thô ác , tà kiến nghiệp đạo…
Về
10 Thiện Nghiệp Ðạo thì luận Câu Xá viết như sau: “Các Nghiệp đạo Thiện
bất luận là Gia Hạnh, Căn Bản, hay Hậu Khởi đều từ 3 Thiện Căn là Vô
Tham, Vô Sân, Vô Si mà phát khởi. Những Thiện Tâm tất nhiên là tương
ứng với 3 thiện căn nầy.”
11/
Ba món tà hạnh
: Tức là Tà Ngữ, Tà Nghiệp, và Tà Mạng.
Luận
Bà Sa 16 viết như sau: “Như trong ngữ nghiệp tạo bất thiện nghiệp, nếu
do lòng Tham mà phát khởi thì gọi là tà ngữ, cũng gọi là tà mạng, vì
trong đó gồm có mục đích nuôi sống nữa. Nếu do tâm Sân si mà phát khởi
thì chỉ gọi là tà ngữ chứ không gọi là tà mạng. Bởi không vì mục đích
nuôi sống. Và thân nghiệp đạo bất thiện cũng vậy, nếu do lòng tham phát
khởi thì gọi là tà nghiệp, cũng gọi là tà mạng. Nhưng nếu do sân si mà
phát khởi, chỉ gọi là tà nghiệp chứ không gọi là tà mạng.”
Nói
tóm lại Nghiệp có nhiều chủng loại nhưng không ngoài 3 cách phân loại
chính đó là thuộc về Thân, Ngữ , Ý; hoặc Thiện, hoặc Ác , hoặc Trung
dung; thuộc hửu lậu hay vô lậu.
Nghiệp Thiện Hửu Lậu, tính nó ít nhiều mùi vị bất lương, vị bản ngã
trong đó. Trái lại Thiện Vô Lậu hoàn toàn thanh tịnh, thoát hẳn mùi vị
bất lương, vị bản ngã. Còn gọi là Diệu Thiện.
Ðặc
biệt đây muốn nhấn mạnh đến nguyên nhân của Mê không những chỉ có 3
Nghiệp ác mà luôn cả 3 nghiệp Thiện hửu lậu nữa . Vì 3 nghiệp thiện hửu
lậu nầy là nguyên động lực chiêu cảm quả báo tốt lành trong cõi người và
cõi trời. Ðồng thời nó cũng là bước căn bản tiến lên Vô Lâu Thiện, và
tiến dần đến giác ngộ, giải thoát.
Lâm Như Tạng
---o0o---
Cập nhật: 01-05-2005