Hạnh Phúc
mộng và thực
Nhất Hạnh
Dẫn nhập
TU HỌC THẾ NÀO ĐỂ CÓ TUỆ GIÁC?
PHẦN ĐẦU BÀI PHÁP THOẠI KHAI GIẢNG KHÓA TU MÙA THU 1994
Tu Tập Là Cày Bừa Và Vun Bón Đất Tâm
Thưa đại chúng, hôm nay là ngày mồng 1 tháng 9 năm
1994, chúng ta đang ở xóm Thượng, trong ngày khai giảng khóa tu mùa Thu.
Nếu tới Làng Mai cách đây mười hai năm, quí vị sẽ thấy
quang cảnh của Làng không giống bây giờ. Thí dụ Pháp đường Chuyển Hóa là
một chuồng bò, phân bò chất lên rất cao, phía trên toàn là rơm và sàn gỗ
mục gần hết. Mỗi khi có việc cần vào, ta thường bị những con mạt cắn khắp
mình, khi ra phải đi tắm mới hết ngứa. Cỏ dại mọc khắp nơi, Phật đường
Trúc Lâm tức là căn phòng đẹp nhất của xóm Thượng cũng là một chuồng bò
chứa phân cao tới gần một thước tây. Chúng ta đã để ra rất nhiều tuần lễ
mới chở hết phân ra, rồi phải dùng một máy xịt nước rất mạnh để rửa từng
viên đá. Quang cảnh của Làng Mai cách đây mười hai năm rất khác với bây
giờ. Trong suốt mười hai năm đó, chúng ta đã cày bừa, dọn dẹp, sắp đặt và
quang cảnh của Làng Mai ngày nay tuy chưa được như mình mong ước nhưng
cũng đã khá hơn trước rất nhiều.
Khi mới đến một vùng đất hoang để khai khẩn, mảnh đất
đó có thể làm cho ta nản lòng vì cỏ gai và chướng ngại vật đầy dẫy. Ta cần
phải đào, phải bứng, phải chặt, phải cày, phải bừa. Ngưòi làm việc có
phương pháp, lúc mới đến họ thường chụp hình khung cảnh đất hoang, rồi mới
bắt đầu khai khẩn, xây cất. Sau một hai năm xây dựng họ đem hình ra xem để
thấy sự khác biệt giữa hai quang cảnh mới và cũ.
TU HỌC LÀ ĐIỀU PHỤC TÂM
Sự tu học của chúng ta cũng như vậy. Trước khi tu thì
tâm của ta rất là hoang vu và gai góc. Ta tạo ra rất nhiều đau khổ cho
chính ta và cả cho những người chung quanh. Trong Kinh Tăng nhất A Hàm
quyển 5, kinh thứ 5 và 6 thuộc Hán Tạng, Bụt có nói:
“Này các vị khất sĩ, không có một sự vật nào khi không
được điều phục mà có thể đem lại nhiều đau khổ như tâm của chúng ta.
Này các vị khất sĩ, không có vật nào khi đã được điều
phục và chế ngự mà lại có thể đem lại nhiều hạnh phúc như tâm của chúng
ta”.
Vì vậy tu học có nghĩa là điều phục tâm, làm việc với
tâm. Trong văn học Nikaya tức kinh Pali, tưong đương với đoạn kinh trên là
Kinh Samyutta Nikaya (1), phẩm thứ nhất, Kinh số 6. Bản
dịch như sau:
“Này các vị khất sĩ, ta không thấy một Pháp nào đưa đến
bất lợi như là tâm không được điều phục. Tâm không được điều phục, này các
vị khất sĩ, đưa tới những bất lợi rất lớn”.
Vậy thì ý kinh cũng giống như Kinh Tăng nhất A Hàm. Ta hãy đọc tiếp:
“Ta không thấy một Pháp nào khác, này các vị khất sĩ,
có thể đưa đến lợi ích như là tâm được điều phục.
Ta không thấy một Pháp nào khác, này các vị khất sĩ,
đưa đến bất lợi lớn như là tâm không được hộ trì.
Ta không thấy một Pháp nào khác, này các vị khất sĩ, có
thể đưa đến lợi ích lớn như là tâm được hộ trì.
Ta không thấy một Pháp nào khác, này các vị khất sĩ,
đưa đến bất lợi lớn như là tâm không được phòng hộ.
Ta không thấy một Pháp nào khác, này các vị khất sĩ, có
thể đưa đến lợi ích lớn như là tâm được phòng hộ”.
Sau đó Kinh được tóm tắt lại bằng câu:
“Ta không thấy một Pháp nào khác, này các vị
khất sĩ, có thể đưa đến bất lợi lớn như là tâm không được điều phục, không
được hộ trì, không được phòng hộ, không được bảo vệ. Tâm không được điều
phục, không được hộ trì, không được phòng hộ, không được bảo vệ, này các
vị khất sĩ, sẽ đưa đến những bất lợi lớn”.
bất lợi lớn ở đây có nghĩa là những đau khổ cho chính
bản thân và cho những người chung quanh.
“Ta không thấy một Pháp nào khác, này các vị
khất sĩ, có thể đưa đến lợi ích lớn như là tâm được điều phục, được hộ
trì, được phòng hộ, được bảo vệ. Tâm được điều phục, được hộ trì, được
phòng hộ, được bảo vệ, này các vị khất sĩ, sẽ đưa đến những lợi ích lớn”.
Lợi ích lớn ở đây là hạnh phúc cho chính mình và cho
những người chung quanh. Khi tu, ta tu với cái tâm của ta, nghĩa là ta
điều phục, bảo vệ, và hộ trì cái tâm của ta.
TÂM CŨNG NHƯ ĐẤT, CHỨA ĐẦY HẠT GIỐNG
Trong văn học Phật Giáo, tâm có khi được ví với đất.
Tại bất cứ nơi nào ở xóm Thượng, nếu quí vị cày lên một khoảng đất, bừa
cho nhỏ rồi tưới nưới, một thời gian sau sẽ thấy rau dền mọc lên. Quí vị
hỏi rau dền ở đâu mà mọc ra như vậy? Rau dền đã có hạt giống ngay trong
lòng đất ở xóm Thượng. Ngoài hạt giống rau dền, đất xóm Thượng còn chứa
rất nhiều loại hạt giống khác.
Ta thường chứa hạt giống trong bồ hoặc trong nhà để chờ
ngày gieo và do đó ta nghĩ hạt giống là một cái gì có ở ngoài đất. Kỳ
thực, hạt giống luôn luôn nằm trong đất. Nếu ta có hạt giống chứa trong bồ
thì hạt giống cũng từ lòng đất mà ra, chứ không phải từ trên không rơi
xuống rồi đem cất vào bồ. Cái ý niệm đất là tâm là một ý niệm vô cùng
tuyệt diệu, vì vậy cho nên ta có chữ tâm địa. Trong đất tâm, ta có
đủ mọi hạt giống: hạt giống của gai góc, của tham giận, của si mê, của
kiêu căng, của ganh tị v.v... Nhưng trong tâm ta cũng có các hạt giống
của hạnh phúc, của giác ngộ, của giải thoát, của sự tha thứ, của sự thương
yêu v.v... Tu học có nghĩa là phân biệt cho được những hạt giống đó để
chuyển hóa những hạt giống xấu và tưới tẩm những hạt giống tốt.
Trước khi tu tập, đất tâm của ta rất cứng và với đất đó
ta không làm gì được cả. Vì vậy, việc đầu tiên là phải cày đất. Lưỡi cày
đất tâm là chánh niệm. Tại Làng Mai chúng ta có 1250 cây mận. Trước khi
trồng mận, ta phải cày những khu đồi. Trồng mận ta phải chọn đất. Đất
trồng mận phải là đất trên đồi thì mận mới tốt. Trồng ở thung lũng, vào
mùa Xuân sương đọng nhiều, hoa mận có thể bị đóng băng giá, những trái mận
có thể chết ngay từ lúc còn trong lòng hoa. Ban đầu ta cày sâu khoảng 40cm
rồi đặt những cây mận xuống. Năm thứ hai, giữa những hàng mận con ta phải
dùng một lưỡi cày nhỏ, rộng khoảng 5cm và dài gần 1m để cày hai bên hàng
mận. Lưỡi cày đó đi sâu vào lòng đất, làm vỡ những tảng đất cứng ở dưới để
sau này rễ mận có thể chui qua nếu không, những cây mận này sẽ không có
tương lai. Sang năm thứ ba, ta cũng cày lại, nhưng lần này không cày theo
đưòng cũ mà cày sang một bên, tiếp tục làm vỡ đất dưới sâu để cho rễ mận
có đường chui qua. Nếu không cày nhiều lần như vậy, rễ mận chỉ đi qua trên
mặt mà không bao giờ hút được nước và chất bổ ở dưới lòng đất sâu. Vì vậy
nhìn bề ngoài ta tưởng công phu cày mận chỉ sâu mấy chục phân thôi, nhưng
thực ra ta đã dùng lưỡi cày rất dài và đã cày nhiều năm giữa những hàng
mận để cho đất ở dưới sẽ được phá vỡ. Khi cày sâu như vậy, lưỡi cày sẽ
giật, sẽ cắt đứt và làm lộ lên những rễ cây, những hạt giống kết tụ từ
hàng trăm năm trước.
Tu học cũng vậy. Phải biết rằng nếu đất tâm của ta
không được điều phục thì đất tâm đó không giúp được gì cho việc tu tập của
ta cả. Phải cày đất tâm của ta bằng sự thực tập chánh niệm hàng ngày. Ví
dụ nghe chuông là một cách cày ruộng tâm. Làm sao quý vị có thể làm cho
tâm mình được phòng hộ, được trở nên tốt đẹp nếu mình không cày sâu xuống
mảnh đất tâm của mình? Vì vậy trong đời sống hàng ngày, khi chúng ta nấu
cơm, giặt áo, quét nhà, gánh nước, bổ củi là những lúc chúng ta cày miếng
đất tâm của chính mình. Ruộng tâm được cày lên để tất cả những gai góc và
rễ cây được xắn đứt, trồi lên mặt đất để ta có thể lượm, quăng vào một
đống rồi đốt đi.
Sáng nay chúng ta đã học sơ lược về cách thỉnh chuông.
Thỉnh chuông là một phương thức cày ruộng tâm. Nếu không thành công khi
thỉnh và nghe chuông thì có thể sẽ không thành công trong những pháp môn
tu tập khác.
TU HÀNH CŨNG NHƯ LÀM RUỘNG
Nói đến cày ruộng, ta nhớ đến Kinh Samyutta tức là
Tương Ưng Bộ, chương 1, kinh thứ 172. Kinh tương đương trong Hán tạng
là Kinh Tạp A Hàm. Kinh thứ 98 Tương Ưng Bộ ghi lại rằng:
Một hôm Bụt đi khất thực với các thầy ở miền quê nước Kosala (Câu Tát La,
tức là nước của Vua Ba Tư Nặc, nơi có vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc ở thủ đô Xá
Vệ). Hôm đó là ngày đầu mùa Xuân, các nhà nông đưa trâu ra cày ruộng. Có
một vị Bà la môn tên Bhàradvàja (Ba La Đậu Bà Giá), là một chủ điền rất
lớn. Ông đem theo tới 500 lưỡi cày, 500 con trâu và rất nhiều lực điền để
cày ruộng. Đến giờ nghỉ trưa, họ mang cơm ra ăn. Giáo đoàn của Bụt đi
ngang qua và các thầy dừng lại để khất thực. Ông Bà la môn đứng đậy chỉ
trích: “Chúng tôi làm ruộng, chúng tôi có đất, có hạt giống, có cày, có
bò, chúng tôi cày ruộng, bừa ruộng, gieo hạt giống, cấy mạ, vun bón rồi
chúng tôi mới ăn. Các ông không có đất, không có cày, các ông không tưới,
không làm gì hết mà các ông cũng đòi ăn là nghĩa làm sao? Bụt mỉm cười
nói: “Thưa ông, có chứ, chúng tôi có đất, có hạt giống, chúng tôi có cày
bừa, có trâu bò, chúng tôi có gieo hạt, chăm sóc và chúng tôi ăn”. Ông Bà
la môn nói: “Thầy nói vậy làm sao tôi tin được. Đất của Thầy đâu, hạt
giống của Thầy đâu, bò của Thầy đâu, cày của Thầy đâu mà Thầy dám nói rằng
Thầy là người cày ruộng?” Bụt liền đọc một bài kệ như sau:
Đức tin là hạt giống
Công phu mưa phải thời
Chánh niệm là lưỡi cày
Tinh tấn là sức kéo
Cán cày là trí tuệ
Dây cột là ý căn
Rễ ách nạn nhổ lên
Quả Niết Bàn thu hoạch.
Như vậy có nghĩa tâm ta là đất ruộng, và những hạt
giống mà ta gieo trên đó là hạt giống của đức tin, đức tin nơi Pháp môn
của Bụt, nơi Giáo Pháp và nơi Tăng đoàn. Hạt giống đó cùng với đất tâm là
vốn liếng của người làm ruộng tâm.
Kinh này cho ta thấy rằng tu hành cũng giống như làm
ruộng. Khi tu tập, ta biết tâm mình là ruộng đất, chánh pháp là những hạt
giống tốt và chánh niệm là lưỡi cày để phá đất. Chúng ta phải vun bón,
phải chăm sóc thì mới có sự thu hoạch tình thương tức là có lòng từ bi. Có
trí tuệ, có tình thương thì có vững chải và thảnh thơi, hai đặc tính của
Niết Bàn. Vì vậy mà Bụt nói “Quả Niết Bàn thu hoạch”.
Theo truyền thống đạo Bụt Đại thừa, ta thường gọi tâm là đất. Tâm của
chúng ta có nhiều tác dụng, nhưng thường thường chúng ta chỉ nói tới hai
tác dụng chính của tâm.
Tác dụng thứ nhất gọi là Tàng
và tác dụng thứ hai gọi là Ý. Tâm có thể được tượng trưng bằng một
vòng tròn với một dây cung chia vòng đó làm hai phần. Phần dưới tượng
trưng cho tàng thức, phần trên tượng trưng cho ý thức.

Tàng ở đây là đất và đồng thời là những hạt giống.
Những hạt giống dưới (tàng) có thể mọc lên thành hoa trái ở phía trên (ý).
Nếu người làm ruộng phải làm việc với đất thì người tu phải làm việc
với tàng thức. Nếu chỉ làm việc với ý thức thôi thì ta sẽ không thành
công, vì ý thức chỉ là người làm ruộng còn tàng thức mới chính là đất. Tất
cả những hạt giống đều nằm trong tàng thức và chính tàng thức mới cống
hiến được những hoa trái của sự hiểu biết, của sự thương yêu, và của sự
giác ngộ. Cho nên nếu ta không tu tập thì đất tâm sẽ đưa lên những quả khổ
đau, giận hờn, vô minh, và kỳ thị. Vì vậy ý niệm đất rất là quan trọng vì
đất luôn luôn cất giữ những hạt giống. Có đất là có hạt giống.
Nếu đã tụng Kinh Địa Tạng, chắc quí vị còn nhớ một câu trong bài tựa: “Địa
ngôn kiên hậu quảng hàm tàng”. Địa có nghĩa là vững chải, là sâu
dày, và chứa đựng được rất nhiều; kiên là chắc chắn; hậu là
dầy, là có chiều sâu, là chắc chắn. Tính chất thứ ba của đất là quảng hàng
tàng. Quảng là rộng rãi, tàng là chứa đựng, quảng hàm
tàng là có khả năng bao gồm và chứa đựng rất rộng rãi.
Vì vậy chữ tàng thức rất có ý nghĩa: tàng thức là một cái thức
chứa đủ tất cả các hạt giống, nó có tính cách vững chải và sâu dày. Hạt
giống ở tàng thức có đủ loại: hạt giống xấu, hạt giống tốt, hạt giống của
ma và hạt giống của Bụt. hạt giống của khổ đau có mặt mà hạt giống của
hạnh phúc cũng có mặt. Vì vậy tàng thức có khi được gọi là nhất thiết
chủng thức, tức là cái tâm thức có đầy đủ tất cả các loại hạt giống.
Ở Làng Mai, đứng trên đồi nhìn xuống, ta thấy những
ruộng nho, những đồi mận rất đẹp. Ta nên biết rằng những vùng đất đó đã
được cày bừa rất kỹ lưỡng. Tại Xóm Hạ, đất ở các vường trồng rau trong nhà
mặt trời đã được chuẩn bị thật kỹ cho nên ta mới có các loại rau mọc lên
rất mạnh và tốt tươi. Sư cô Bảo Nghiêm và sư cô Chân Vị là hai người đã để
ra rất nhiều thì giờ và công phu để chăm sóc những vườn rau ở Xóm Hạ. Các
sư cô biết rất rõ nếu không xới, không nhổ cỏ, không làm cho đất mềm, đất
nhuyễn thì không thể nào trồng rau được. Tâm của ta cũng vậy, nếu tâm của
ta không được điều phục, không được uốn nắn, không được bảo hộ thì tâm của
ta sẽ gây ra đau khổ và không thể nào tạo được hạnh phúc cho mình và cho
người.
BA TÂM SỞ MỚI TRONG ĐẠO BỤT NAM TÔNG
Trong khóa tu mùa Xuân vừa qua chúng ta đã học về 51
Tâm sở một cách khá kỹ lưỡng. Pháp tướng Duy Thức học và 51 Tâm sở đã trở
thành quen thuộc với chúng ta. Nhưng khi đi vào lảnh vực của Nam tông, ta
khám phá ra những tâm sở mới không có mặt trong số 51 tâm sở thường được
nhắc đến. Hôm nay chúng ta sẽ kể tên ba tâm sở mà chúng ta chưa được học
trong số những tâm sở thiện của Đạo Bụt Bắc truyền.
Trước hết là Tâm sở nhu nhuyễn, tiếng Phạn là
Cittamudutà. Nhu nhuyễn là mềm. Tâm nhu nhuyễn dễ làm việc lắm, còn nếu
tâm cứng ngắc thì rất khó làm việc. Đất cứng mà không cày thì không trồng
trọt gì được. Hãy lấy một cành cây khô mà ta lượm ở Pháp Thân Tạng làm ví
dụ. Khi ta uốn cành cây khô này thì nó gãy. Trong khi đó với một cành tre
non hay một dây mây, ta có thể uốn nắm một cách rất dễ dàng. Sự khác nhau
giữa cành cây khô và sợi dây mây là ở chỗ một bên có sự nhu nhuyễn, một
bên không có sự nhu nhuyễn. Tâm của ta cũng vậy, có khi nó cứng ngắc, cố
chấp đủ thứ, dù có người muốn giúp, cố nói cho ta nghe một điều gì đó
nhưng tâm ta nó vẫn trơ trơ, vẫn không chuyển lay. Tâm đó gọi là tâm không
nhu nhuyễn.
Một tâm sở khác là Tâm thích ứng
(Cittakarmannata). Ngày xưa dịch là Tâm thích nghiệp, vì trong đó có chữ
karma, nhưng dịch là tâm thích ứng thì dễ hiểu hơn. Tâm thích ứng là tâm
uyển chuyển, tâm có thể chấp nhận được những hoàn cảnh mà ta không chờ đợi
trước. Ví dụ ta có một ý niệm về Làng Mai, nghĩ rằng Làng Mai là thế này
hoặc thế kia, nhưng khi về tới Làng thì thấy Làng Mai không giống như
những điều mà ta đã vẽ ra, đã suy nghĩ đến, vì không bỏ được cái ý niệm
trước của ta về Làng Mai nên ta không thích ứng được. Kết quả là ta cảm
thấy thời gian ở Làng Mai không hạnh phúc vì những điều ta mong đợi đã
không xảy ra. Tâm đó gọi là tâm không thích ứng. Trong khi đó, tâm thích
ứng là tâm dễ hội nhập vói hoàn cảnh trong hiện tại. Hội nhập ở đây không
có nghĩa là ta phải bỏ cái của ta và hoàn toàn đi theo cái của người khác.
Hội nhập ở đây là ta hòa chung với hoàn cảnh và tìm cách để đem những điểm
tích cực của mình ra cống hiến và phối hợp với cái tích cực của địa
phương, khiến cho hai cái tốt được pối hợp với nhau. Mình không đánh mất
cái tốt của mình mà địa phương cũng không đánh mất cái đẹp của địa phương.
Đó gọi là thích ứng. Ví dụ các sư chị ở Việt Nam có cái đẹp, cái hay của
truyền thống. Sang Làng Mai các sư chị thấy các sư em thỉnh thoảng thiếu
những cái hay đó của truyền thống, nhưng đồng thời các sư chị lại thấy các
em có những cái hay của Tây Phương, của “những cái không truyền thống”.
Nếu các sư chị thích ứng thì các sư chị chấp nhận hoàn cảnh mới rồi từ từ
trao truyền những cái hay, cái đẹp truyền thống cho các sư em, đồng thời
học những cái hay cái đẹp mà các em có, tại vì mỗi nền văn hóa đều có
những nét đặc thù khác nhau. Nếu các sư chị bó tay và nghĩ là mình phải về
lại Việt Nam, còn nếu ở lại thì mình sẽ không làm được gì hết, đó là vì
các sư chị không có tâm thích ứng.
Một tâm sở khác gọi là Tâm hữu năng
(Cittapãgunnatà), có khi dịch là Tâm tinh luyện hay Tâm xảo diệu.
Tâm xảo diệu là tâm có khả năng làm được những việc mà những tâm khác
không thể làm được. Người có tâm đó thì rất khéo léo, khéo léo như hai bàn
tạy của một cô Y tá khi chích thuốc hay băng bó. Phải tập luyện lắm mới có
được hai bàn tay của cô y tá. Ai muốn biết hai bàn tay của cô y tá như thế
nào thì hỏi sư chị Bảo Nghiêm hay sư chị Minh Tánh. Tâm của mình cũng vậy,
khi tâm của mình xảo diệu thì mình có thể đối cơ, đối cảnh và độ đời được
một cách rất dễ dàng. Mình có thể sống với các sư em, sư anh, sư chị một
cách rất hạnh phúc, còn nếu không có tâm xảo diệu, nếu cứng ngắc và không
biết thích ứng thì mình chỉ chịu chết thôi.
Tất cả những tâm sở và tâm hành này đều có hạt giống ở
trong tàng thức. Nếu thực tập chuyện cày ruộng, thực tập chuyện tu học
hàng ngày thì hạt giống của tâm nhu nhuyễn, của tâm thích ứng và của tâm
xảo diệu sẽ tưới tẩm và ta sẽ trở thành một người sống có hạnh phúc trong
bất cứ hoàn cảnh nào. Vì vậy mỗi khi giận, buồn, hoặc thất vọng ê chề, ta
thối thất muốn bỏ đi, muốn trốn tránh xã hội loài người thì ta phải biết
rằng cái tâm của ta đang còn là một miếng đất hoang, chưa được cày bừa,
chưa được tu tập. Bụt dạy rằng tâm không tu tập sẽ đem lại rất nhiều khổ
đau cho mình và cho người, tâm được tu tập sẽ đem lại hạnh phúc cho mình
và cho người. Vì vậy đối với người tu hành, công việc hàng ngày là cày cấy
mảnh đất tâm của mình. Khi ngồi thiền mình cày ruộng tâm của mình. Khi đi
thiền hành mình cũng cày ruộng tâm của mình. Khi nghe chuông, khi thở, khi
ăn cơm đều là những lúc mình cày ruộng tâm của mình cả. Cũng vậy, khi lượm
mận, làm mứt, nấu cơm, đều là những lúc ta cày miếng đất của ta. Đừng nghĩ
rằng tu hành chỉ xảy ra trong khi mình ngồi thiền hay nghe thuyết Pháp mà
thôi. Cái tâm của mình phải luôn luôn được tu tập. Theo danh từ Hán Việt,
tu là làm cho đẹp, làm cho tốt, làm cho nó có thể sử dụng được như trong
danh từ tu bổ. Tiếng Phạn, Bhavana (tu) có nghĩa là cày bừa, trồng trọt.
Tiếng Pháp là culture, tiếng Anh là cultivation. Ví dụ như tu Từ Bi có thể
dịch là The cultivation of Compassion and Loving Kindness. Ta phải cày bừa
đất, phải gieo hạt giống, phải tưới tẩm, đó là tu tập. Bhavana là như vậy.
Cố nhiên khi muốn trồng thì ta phải có đất mà đất thì đã có rồi. Nhưng có
thể đất của ta còn hoang cho nên ta phải dùng cày, dùng bừa, phải tưới
tẩm, phải vun bón, phải gieo hạt giống, và phải trừ diệt cỏ. Tất cả những
công việc đó đều thuộc vào phạm vi tu tập. Vì những phiền não hàng ngày
quấy động và vì ta có hạt giống từ dưới chiều sâu của tàng thức, nên nếu
không tu tập thì chúng sẽ lăng xăng, trỗi dậy và làm cho quang cảnh của ý
thức tiêu điều. Ý thức là phòng khách của chúng ta, còn tàng thức là kho
chứa. Khi kho chứa đầy khổ đau thì thỉnh thoảng khổ đau đẩy cửa vào ngồi
chểm chệ trong phòng khách của ta. Nếu không tu tập thì ta không có khả
năng đuổi chúng đi, không có khả năng chuyển hóa chúng được. Ý thức là
người làm vườn; người làm vườn phải biết điều phục khu vườn của mình, phải
biết cày bừa, phải biết nhổ cỏ, phải biết chọn hạt giống, phải biết vun
bón, phải biết tưới tẩm thì mới có những hoa trái của hạnh phúc, của
thương yêu và của giác ngộ.
(1) Trong Văn hệ
Pali, Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikaya) viết tắt là S.. Vì vậy khi thấy chữ
S.. ta biết đó là Tương Ưng Bộ; khi thấy chữ M., ta biết đó là Trung Bộ
(Majjhima Nikaya); thấy chữ A. là Tăng Nhất (Anguttara Nikaya); và thấy
chữ D. là Trường Bộ (Digha Nikaya).
---o0o---
[ Mục Lục
] [
Chương 1] [
Chương 2
] [Chương
3] [
Chương 4]
---o0o---
Vi tính: Cao Thân
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-03-2006