Những Dòng Sữa Mẹ
Tập 2
HT Thích Huyền Vi
---o0o---
03
11.
Tam Pháp Ấn
Cùng
toàn thể Tăng Ni và Phật Tử hiện diện :
Hôm nay là
ngày 8/6/2000, tức là ngày 7/5 năm Canh Thìn, Phật Lịch 2544. Trong thời
pháp hôm nay, Thầy sẽ đặc biệt giảng về Tam Pháp Ấn trong Kinh Điển của
Phật giáo. Tại sao phải học về Tam Pháp Ấn và Tam Pháp Ấn là gì?
Ấn
là một khuôn dấu được
dùng để xác nhận sự đích thực, chính thống, được đóng trên một văn kiện
hay một mệnh lệnh. Thí dụ như Ấn của nhà Vua (được gọi là Ngự Ấn)
được đóng trên một chiếu chỉ để xác nhận chiếu chỉ đó là đích thực của Vua
ban ra.
Trong đạo Phật, Pháp
Ấn được hiểu là những lời giảng dạy trong Kinh Điển, đích thực từ kim khẩu
của Đức Phật, nói về chân lý, đúng với sự thật, không thể sai lầm hay nhầm
lẫn với những giáo lý của ngoại đạo.
Sau khi thành đạo,
Đức Phật đã đi truyền bá giáo lý của Ngài. Một số Đạo Sĩ ngoại đạo, vì
muốn lôi kéo Ngài về tôn giáo của họ, nên thường rêu rao rằng Đức Phật đã
lấy giáo lý của họ làm căn bản cho giáo lý của Ngài, nên nhiều lần, các
Đạo Sĩ ngoại đạo đến chất vấn Ngài về Giáo Lý mà Ngài đang truyền bá. Đức
Phật chỉ đáp một cách vắn tắt như sau : "Như Lai chỉ giảng dạy về
Khổ và Con Đường Diệt Khổ". Pháp Ấn của Đức Phật là chân lý
về khổ và con đường diệt khổ.
Tam Pháp Ấn là gì ?
Nói một cách đầy đủ, Phật dạy :
"Chư Hạnh Vô
Thường,
Chư Pháp Vô
Ngã,
Niết Bàn Tịch
Tịnh."
Pháp Ấn thứ nhất
và Pháp
Ấn thứ hai, gọi tắt là Vô Thường và Vô Ngã; Đức Phật
giảng về thế giới hiện tượng mà con người đang sống. Vì nhận thức sai lầm
về những hiện tượng này mà con người chìm đắm trong đau khổ và trôi lăn
mãi trong sinh tử. Nhận thức được chân lý của Luật Vô Thường và bản
thể Vô Ngã của thế giới hiện tượng là hiểu được con đường hay
phương pháp diệt khổ mà Đức Phật muốn giảng dạy.
Pháp Ấn thứ ba,
gọi tắt là niết bàn, là sự chỉ dẫn của Đức Phật về một trạng thái vô vi
của thế giới bản thể chân thật (một thế giới, trong đó, mọi đau khổ,
phiền não đã bị tiêu diệt và không còn Sanh Diệt, Sinh Tử). Muốn đạt
được trạng thái niết bàn, con người phải chuyên tâm tu tập, buông xả những
vọng tình và phiền não, để trở về với bản thể như lai tự tánh của mình.
Chúng ta hãy lần lượt
xét đến những nhận thức sai lầm về vô thường mà con người hay mắc
phải :
1. Thân Vô Thường :
Khi có
cái thân, con người thường chấp cái thân này là một vật quý báu, và muốn
nó thường còn mãi mãi, nên lúc nào cũng muốn giữ nó, cũng muốn làm cho nó
đẹp, cung cấp đầy đủ tiện nghi cho nó. Khi nó có bệnh hay có chuyện gì xảy
ra cho nó thì liền cảm thấy đau khổ.
Nên biết rằng cái
thân con người là do tứ đại (đất, nước, gió, lửa) hòa hợp mà có. Tứ
đại còn hòa hợp thì thân thể còn được khỏe mạnh. Tứ đại xung khắc thì thân
thể sẽ bị thay đổi hay tật bệnh. Con người chỉ biết có cái thân, chớ không
thể làm chủ được tứ đại, mà tứ đại thì vô thường, cho nên, người ta ví tứ
đại của thân như bốn con rắn nằm trong một cái bị, khi chúng hòa thuận thì
tất cả đều yên vui, khi chúng cắn xé nhau thì lập tức có đau khổ. Cái thân
này vô thường vì có các hiện tượng sanh, già, bệnh, chết mà không ai tránh
khỏi.
Những hiện tượng này
là chân lý của thế giới hiện tượng, không thay đổi được và các hiện tượng
này lại có thể tới bất cứ lúc nào, không có kỳ hẹn. Người ta cảm thấy đau
khổ vì không hiểu được cái chân lý vô thường này. Lão Tử đã nói :
"Ngô hữu đại
hoạn vị ngô hữu thân,
Ngô nhược vô
thân, hà hữu chi hoạn ?".
Tạm dịch là :
"Tôi có cái lo
lớn, vì tôi có cái thân. Nếu không có thân thì làm gì có lo !"
Thiền Sư Vạn Hạnh
cũng than thở cho cái thân vô thường như sau :
"Thân như
bóng chớp chiều tà,
Cỏ cây Xuân
tốt, Thu qua rụng rời,
Sá chi suy
thịnh cuộc đời,
Thịnh suy
như giọt sương lơi đầu cành!".
Nhiều Phật
tử muốn tu hành, nhưng lại không hiểu cái chân lý vô thường, vốn không có
kỳ hẹn, mà cứ lần lựa cho rằng mình còn trẻ, đợi vài năm sau mới tu cũng
chưa muộn gì. Than ôi ! Khi vô thường tới thì làm gì cũng không còn kịp
nữa; đành ôm cái nghiệp đã tạo mà tái sanh vào ba đường dữ, không có hy
vọng ngày nào giải thoát khỏi luân hồi sanh tử.
2. Tâm vô thường :
Tâm
thuộc về phần tinh thần của con người, được hình thành bởi bốn uẩn : Thọ,
tưởng, hành và thức. Từ cái tâm này, con người đã có những cảm thọ, hiểu
biết sai lầm về chính mình và những hiện tượng xảy ra chung quanh mình.
Đức Phật gọi cái tâm này là vọng tâm. Vì là vọng nên những cảm thọ, tri
giác của tâm cũng là vọng, cũng sai lầm.
Người đời, vì không
biết tâm là vọng, nên cứ chấp chặt lấy những sản phẩm của vọng tâm mà sống
theo nó. Khi phải đối diện với sự thật vô thường của tâm, liền thấy không
được như ý, và khổ đau có mặt ngay. Vì sống theo những vọng tâm và vọng
tình thế gian hỷ, nộ, ai, lạc, ái, ố và dục, mà vọng tâm thì thay đổi mỗi
giây, mỗi phút, phút trước muốn tu, phút sau giải đãi; lúc nhỏ nghĩ khác,
lúc già lại suy nghĩ khác. Phật nhắc nhở hoài là đừng có tin cái vọng tâm
vì vọng tâm vô thường nên là nguồn gốc của phiền não, đau khổ và khiến ta
lặn ngụp trong sinh tử luân hồi đời đời, kiếp kiếp. Phải tu cho tới khi
chứng được quả vị A La Hớn thì vọng tâm mới dứt (đó là lời Phật dạy
trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương).
3. Hoàn cảnh vô
thường :
Đức Phật cũng đã chỉ
cho chúng ta, những hiện tượng bên ngoài thân và tâm cũng không ra khỏi
cái luật vô thường : Thành, trụ, hoại, không, của vũ trụ. Thiền Sư Mãn
Giác, đời Nhà Lý đã cảm thán về tính vô thường của cảnh, bằng mấy câu thơ
tuyệt tác như sau :
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai,
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai,
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc
tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi
mai.
Tạm dịch là :
Xuân đi
trăm hoa rụng,
Xuân
đến trăm hoa cười,
Trước
mắt việc đi mãi,
Trên
đầu già đến rồi,
Đừng
tưởng Xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua
sân trước một cành mai.
Để diễn tả cái cảnh
cũng vô thường, Cổ đức cũng nói : "Thương hải biến vi tang điền, tang
điền biến vi thương hải." Có nghĩa là hôm nay là biển, ngày mai đã
biến thành ruộng dâu hay ngược lại.
Cuộc sống của con
người cũng không thể nhất định mãi mãi ở trong cùng một hoàn cảnh. Ngày
nay giàu có, tiền rừng bạc biển, chỉ cần một ngọn lửa cũng đủ làm thay đổi
hoàn cảnh giàu có trở thành trắng tay. Không thiếu gì chuyện đổi thay cái
hoàn cảnh trong thế gian. Lúc còn giàu có thì gia đình êm ấm, lúc nghèo
hèn thì gia đình có chuyện lục đục ngay.
Ngày xưa có một chàng
thư sinh vác lều chõng lên Kinh Đô ứng thí. Nửa đường dừng chân tại một
quán trọ, nhờ bà chủ quán trọ nấu giùm nồi cháo. Trong khi chờ đợi cháo
chín, chàng thư sinh chợp mắt ngủ trưa, mộng thấy, hoàn cảnh của chàng
trong hơn 50 năm qua, thay đổi như bóng chớp. Khi tỉnh dậy cảm tác một bài
thơ :
"...Vinh hoa phú quý
Ngũ thập dư niên, bất quá
phiến thùy,
Mộng lý huỳnh lương du dị
thục..."
Có nghĩa là : Đờì
người, chẳng qua cũng như một giấc mộng ban ngày, hơn 50 năm (những
cảnh trong giấc mộng) trôi qua mà nồi cháo kê vẫn chưa chín...
Cổ đức cũng đã nói:
"Nhân gian phú quý hoa giang lộ, thế thượng công danh thủy thượng
âu...". Công danh phú quý trong nhân gian cũng tỷ như giọt sương nằm
giữa lòng hoa hay như cái bọt nổi trên mặt nước, chỉ một luồng gió là tan
mất.
Trong Pháp Ấn Chư
Hạnh Vô Thường, Đức Phật đã giảng dạy rằng nguồn gốc của cái khổ là do
con người không có chánh kiến, chánh tư duy và cái thế giới hiện tượng mà
chúng ta đang sống, chỉ là hư ảo, mà cứ chấp chặt lấy cái thân và những
hoàn cảnh và cho chúng là thường hằng và có thật.
Trong Kinh văn có một
câu như sau: "Tất cả muôn sự muôn vật đều vô thường. Khi nào, người nào
có cái trí hiểu biết như vậy, thì lúc đó mới giải tỏa được cái khổ vì
những biến chuyển của cuộc đời". Đó là con đường thanh tịnh mà Phật đã
dạy. Nguyên văn bài kệ bằng tiếng Pali như sau:
Sabbe Sankhàra aniccàti,
Yadà pannaya
passati,
atha
nibbindali dukkha,
esa maggo
visuddhyà."
Bây giờ nói đến
Pháp Ấn thứ hai là Chư Pháp Vô Ngã. Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy:
"Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng" nghĩa là bất cứ vật gì hay hiện
tượng gì mà có hình tướng, đều là giả dối. Chấp chặt lấy cái giả dối và
cho đó là thật, là nguồn gốc của khổ đau và phiền não, trôi lăn mãi trong
vòng sanh diệt. Các hiện tượng như thân ta, những cái của ta, những sự vật
hiện diện chung quanh ta đều do nhân duyên tổ hợp lại mà thành. Không có
cái gì có thật tánh (cũng gọi là Bản Ngã).
Khi những yếu tố hiện
tượng được kết hợp bởi nhân duyên thành tựu, người ta tạm đặt cho nó một
cái tên để gọi, để nhận biết nó mà thôi. Khi tách rời từng yếu tố ra thì
cái vật đó không còn được mang cái tên mà người ta tạm đặt cho nó. Cái vật
này, do đó mà được nói là không có bản ngã, hay dễ hiểu hơn, vật này không
thật. Vì con người không nhận thức được cái tính chất "không thật" của cái
được gọi là Ta (Nhân) và những hiện tượng chung quanh
Ta (Pháp) nên đã sống một cách hết sức mê lầm, đau
khổ.
Nhân vô ngã là thế
nào? Nhân vô ngã là chỉ cho cái thân này là do tứ đại (đất, nước, gió,
lửa) nhờ hội đủ nhân duyên mà được kết hợp, mà thành tựu. Cái thân này
muốn sống được cũng lại phải nhờ vào các điều kiện (nhân duyên) của
tứ đại bên ngoài thân, thí dụ như bắp thịt là phần thuộc về yếu tố đất bên
trong thân; muốn bắp thịt được nẩy nở thì phải có điều kiện từ ngoài thân
là thức ăn để giúp cho nó nẩy nở.
Vì vậy mà cái thân
này không có thật tánh hay tự nó "không thật". Nếu lấy từng phần của cái
thân ra, thí dụ như cái đầu, rồi hỏi cái đầu có gọi là thân không thì câu
trả lời chắc chắn phải là "không", riêng cái mình hay riêng tứ chi, cũng
không thể được gọi là thân. Chỉ có thể gọi là thân khi có sự tổ hợp của
các chi phần của thân, bên ngoài là 5 giác quan; và các phần bên trong
(lục phủ, ngũ tạng). Khi những bộ phận đó, hết nhân duyên, không hòa
hợp với nhau nữa, thì con người sẽ bị hủy diệt; Các yếu tố của tứ đại lại
trở về với tứ đại bên ngoài thân. Do đó, con người không phải là thật ngã,
vì thế nó không có bản ngã hay nói con người là vô ngã (Nhân Vô Ngã).
Người ta, vì không hiểu được tính vô ngã của con người mà cứ cho cái thân
giả tạm này là mình (Ngã) thật, nên lúc nào cũng lo bảo vệ và cung
phụng, chiều chuộng nó mà tạo không biết bao nhiêu nghiệp ác để làm vừa ý
cho cái thân.
Thế nào là Pháp Vô Ngã? Pháp là chỉ cho những hiện tượng
ngoài cái thân, thí dụ như cái nhà, cái xe v.v... Những hiện tượng này
cũng chỉ do nhân duyên hòa hợp mà có. Cái nhà mà có cũng là do sự hòa hợp
của các điều kiện không phải là cái nhà, như gạch ngói, vôi đá, gỗ, công
thợ mộc, thợ nề v.v... mà có. Lấy riêng những điều kiện đó ra, thì cái mà
được gọi là Nhà, không còn được gọi là nhà nữa. Đức Phật cũng nói : Cái gì
mà có tướng thì cái đó không phải là thật, không có tự tánh. Vì vậy mà nói
là Pháp Vô Ngã. Con người vì vô minh, cứ cho những hiện tượng đó là thật,
nên mới sinh ra mọi sự cố chấp khổ sở.
Trong Kinh Pàli có
bài kệ nói về vô ngã như sau: Pháp Ấn Vô Thường và vô ngã của giáo lý nhà
Phật là chân lý mà Đức Phật giảng dạy trong tất cả Kinh Điển. Phật Giáo
Nguyên Thủy chủ trương Tam Pháp Ấn là vô thường, khổ và vô ngã nên thường
tu pháp môn quán Tứ Niệm Xứ : Quán thân bất tịnh, Quán tâm vô thường, Quán
pháp vô ngã và Quán thọ thị khổ. Nói một cách rốt ráo, vô thường và vô ngã
không nhất thiết là nguồn gốc của mọi khổ đau. Chính sự hiểu lầm, không
liễu tri được chân lý vô thường và vô ngã mà con người trở nên đau khổ,
tạo biết bao nhiêu nghiệp để mãi mãi trôi lăn trong luân hồi, chịu đọa vào
ba đường dữ của lục đạo. Nếu hiểu rõ được chân lý của Pháp Ấn Vô Thường và
Vô Ngã, thì con người có thể chuyển hóa đối tượng của vô thường và vô ngã
để đạt được trạng thái của Pháp Ấn thứ ba : niết bàn.
Trong Giáo Lý Duyên
Sinh của nhà Phật, Đức Phật đã nói "Thử hữu, bỉ hữu" (Cái này có thì
cái kia có). Vậy khi có vô thường tất nhiên phải có cái chân thường,
đã có vô ngã tất nhiên phải có chân ngã. Như vậy, trong Pháp Ấn Vô
Thường và Vô Ngã, Đức Phật đã đồng thời chỉ cho ta hai đặc tánh của niết
bàn là (Chân) Thường và (Chân) Ngã. Muốn tìm được hai đặc
tánh còn lại (Chân Lạc và Chân Tịnh) chúng ta phải chuyên tâm tu
hành, tham thiền và quán chiếu về những hiện tượng sanh diệt trong thế
giới hiện tượng, liễu tri được chân lý vô thường và vô ngã là chúng ta
thấy ngay Pháp Ấn Thứ Ba : Chân Lý Niết Bàn. Có một bài kệ trong
Kinh Pàli nói về Pháp Ấn như sau:
Anicca vata sankhàra,
Uppàda vaya dhammino,
Uppajjittvà nirujjhanti,
Tesam vùpasamo sukho.
Dịch là:
Chư hành vô thường,
Thị
sanh diệt pháp,
Sanh
diệt diệt dĩ,
Tịch
diệt vi lạc.
Hiểu được chân lý vô
thường và vô ngã là pháp hữu vi, là khái niệm sanh diệt và lìa được cái
khái niệm sanh diệt đó, thì chấm dứt mọi đau khổ và đạt được trạng thái vô
vi của thế giới bản thể : Tịch Diệt Vi Lạc. Trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật
cũng dạy : "Chư Pháp tùng bản lai, thường tự tịch diệt tướng" nghĩa
là các Pháp tự nó đã có tự tánh tịch diệt (vắng lặng). Tịch Diệt là
tính của bản thể, có tịch diệt thì có chân lạc và chân tịnh của niết bàn.
Tu theo Tam Pháp Ấn, các Vị Thanh Văn sẽ đạt được Thánh Vị
A La Hớn, chấm dứt sinh tử. Ngay trong đời này có thể đạt được Hữu Dư Y
Niết Bàn. Còn muốn tiến xa hơn nữa trong thánh vị, như thành Phật và Bồ
Tát thì phải thấu triệt về Nhất Thật Tướng Ấn mà Thầy sẽ khai thị trong
tuần tới.
Trước khi chấm dứt thời pháp hôm nay, Thầy muốn nhắc nhở
quý vị, hãy chuyên tâm tu hành, nếu không về được cõi Phật thì cũng đạt
được Hữu Dư Y Niết Bàn trong cuộc sống hiện tại, rồi từ đó tiến tu đạo
nghiệp, đặng đạo quả viên mãn mà đồng với chư Phật nhập vào Tự Tánh Thanh
Tịnh Niết Bàn. Thầy tặng quý vị Tăng Ni một bài Thơ, coi như bài Thơ
Khuyến Tu sau đây :
"Chớ bỏ trôi qua uổng tháng ngày,
Tu hành gắng lấy, để cầm tay,
Bến mê lánh khỏi trăm phần khó,
Cửa Pháp nương nhờ lắm chuyện may !
Nợ trước bốn ơn, lo gắng trả,
Thân sau ba cõi, nguyện đừng vay,
Vô thường niệm niệm xin ghi nhớ,
Chớ bỏ trôi qua uổng tháng ngày!"
Thầy mong quý vị hãy tư duy sâu xa về bài thơ này và luôn
luôn nhớ rằng vô thường tấn tốc, lúc nào cũng rình rập ngay bên cạnh ta.
Đừng có chần chờ, giải đãi. Nên biết "Nhất thất nhân thân, vạn kiếp nan
phục". Không biết tiến tu để giải thoát thì thân này mất đi rồi, biết
đến bao giờ mới có cơ hội được tu để giải thoát sanh tử nữa.
Nam Mô Thường Tinh
Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát.
(Mùa An Cư năm 2000)
Cùng
toàn thể Đại Chúng Tăng Ni và Phật Tử thân mến.
Tuần trước, Thầy đã khai thị về Tam Pháp Ấn. Quý vị nên
nhớ là Tam Pháp Ấn, đức Phật nói trong những thời pháp đầu tiên nay còn
được ghi lại trong kinh tạng Thuộc Nguyên Thỉ hay Nam Tông Phật Giáo.
Đức Phật nói lên cái
sự thật, chân lý của cả toàn tạng kinh chỉ nằm ở trong Tam Pháp Ấn đó là:
Chư hành vô thường; chư Pháp vô ngã; Niết Bàn tịch tĩnh. Mọi sự
vật, có hình tướng, có hành động và có sanh diệt đều gọi là "Vô
Thường"; tất cả muôn sự muôn vật không có một sự vật nào có chủ tể,
hay thật ngã của nó hết. Tất cả đều là giả ngã nên gọi là "Vô Ngã".
Tuy vậy, nó có một
cái gọi là "Niết Bàn tịch tĩnh", tức là trạng thái khi tâm chúng ta
giải tỏa được sáu căn bản phiền não (tham, sân, si, mạng, nghi và ác
kiến), thì tự nhiên tâm được tịch tịnh, an lạc, thường còn vĩnh viễn.
Đây chỉ đề cập đến cái tạm gọi là "Niết bàn" của Thanh Văn khi tất cả
phiền não được tận diệt, tức là chứng được vô ngã, thông thường còn gọi là
Hữu Dư Y Niết Bàn (khi còn tại thế) và Vô Dư Y Niết Bàn (khi bỏ
thân). Song ngoài ra, theo Đại Thừa Phật Giáo có Vô Trụ Xứ Niết
Bàn, Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn khi ngã pháp đều không thì Nhất Thật
Tướng Ấn hiển hiện. Quý vị gắng nhớ!
Đức Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni ra đời chính là một đại sự nhân duyên, mà cái đại sự nhân duyên ấy
là gì? Ngài dùng đủ mọi cách, mọi phương tiện để khai mở cho chúng sanh
biết mỗi người, mỗi chúng sanh cũng đều có Phật tri kiến, đây là tên khác
của nhứt thật tướng ấn. Chúng sanh được chia ra làm hai loại :
Hữu tình và vô tình. Hữu tình là những chúng sanh có tình thức
có linh giác, và vô tình chúng sanh như cỏ, cây, sắt, đá v.v... Tuy vậy nó
cũng có cái linh quang và đều có cái sức sanh trưởng của nó. Cho nên,
trong nhà Phật nói các loài hữu tình thì có Phật tánh, trong khi vô tình
chúng sanh thì có Pháp tánh. Thật ra, Phật tánh và pháp tánh cũng gần như
nhau, chứ không khác. Là Phật tánh thì nó linh động và pháp tánh thì nó
không linh động thôi.
Định nghĩa chữ chúng
sanh là : "Hợp chúng duyên nhi sanh, cố viết chúng sanh". Nghĩa là
hợp các duyên mà sanh ra cái vật đó, cho nên gọi là chúng sanh, như vậy,
con người và các loài hữu tình chúng sanh đều do nhiều yếu tố hợp thành,
và gọi là có tình thức. Nhưng cỏ, cây, sắt, đá v.v... các loại thuộc thực
vật hay khoáng vật cũng do duyên hợp và được gọi là vô tình, vậy thì không
có chúng sanh nào tự nhiên mà có. Nói chúng sanh hữu tình có Phật tánh và
nếu tu đúng phương pháp và tinh tấn hành trì thì thành Phật, không có
nghi, nhưng nói chúng sanh vô tình cũng được thành Phật thì thế nào? chúng
ta hãy cùng nhau khai thông vấn đề ở đoạn sau.
Đức Phật, trong 49
năm trường, luôn chuyển bánh xe pháp, Ngài vì phương tiện căn cơ mà giải
thích giáo lý cho bậc thường, bậc trung và bậc thượng hay là Đại Thừa,
trên 300 pháp hội, mà mục đích tối hậu là để giải thích hay khai (mở)
chúng sanh Phật tri kiến hay là nhất thật tướng ấn ở nơi
mọi người.
Thí dụ các kinh Đại
thừa như : kinh Lăng Nghiêm thì chỉ cho chúng ta cái chân tâm. Kinh
Hoa Nghiêm thì nói về pháp giới tánh trùng trùng duyên khởi. Kinh
Lăng Già (Lankara) chỉ cho lăng già tâm ấn. Kinh Kim Cương chỉ cho
cái đặc chất kim cương bất hoại tâm v.v... Tất cả những kinh điển
Đại Thừa đều chỉ cái nhất thật tướng ấn, như thế gọi là thị
(chỉ). Nếu mỗi mỗi chúng sanh biết rõ ràng và nhận được nhất thật
tướng ấn thì gọi vị ấy là ngộ (nhận ra) Phật tri kiến và
cuối cùng là làm sao mà luôn luôn sống được với nó, gọi đó nhập
(hằng sống) Phật tri kiến.
Khi mình làm được như
vậy, thì ngay đó tức thân thành Phật. Chính đây là cái tinh hoa của đạo,
mình phải học đạo để biết được lẽ sống, thế nào là sống với Phật tánh hay
là nhất thật tướng và phải cố gắng luôn luôn sống với nó, và thế nào là
sống với phàm tánh ? Cũng một việc thôi mà khéo tu thì nổi vụng tu thì
chìm, vì vậy phải hết lòng, hết dạ tầm sư học đạo để hiểu tường tận cái
tinh túy của đạo, chân lý tuyệt đối đó là nhất thật tướng ấn và đây là
tướng chân thật cho nên nó là vô tướng, không thể nào chỉ, nói hay suy
nghĩ được. Nên mới nói thật tướng, vô tướng vi diệu pháp môn, nếu có hình
tướng thì sẽ bị hoại diệt. Từ tướng có sanh diệt để nhận thấy cái tướng
không sanh diệt, chính đây là thật tướng. Nói cách khác nương vào tướng và
dụng mà nhận ra được bản thể.
Đức Phật tìm ra chân
lý, chân lý này chính là nhất thật tướng ấn, suốt 49 năm trường
Ngài dùng vô số phương tiện dạy trong năm thời, tám giáo đều nhằm mục đích
tối hậu là muốn tất cả chúng sanh đều nhận ra cái nhất thật tướng và sống
với nó mà thôi. Chúng sanh sở dĩ đau khổ vì lầm nhận giả cho là thật, rồi
sanh lòng ái nhiễm, sự khổ đau của chúng sanh không ngần mé, nối tiếp nhau
từ kiếp này sang kiếp khác chưa từng gián đoạn. Đức Phật vì lòng từ bi mà
nói vô số kinh để chỉ cho chúng sanh tất cả sự vật đều là vô thường và vô
ngã để từ đó nhận được cái chân thường và chân ngã, thường quán như vậy
thì tất cả khổ đau của chúng sanh lần lần tiêu diệt.
Một điểm cực kỳ quan
trọng mà người con Phật cần minh tâm là, khi Ngài hoát nhiên đại ngộ dưới
cội Bồ Đề, trở thành vô thượng chánh đẳng chánh giác, thì Ngài quan sát
lại hết tất cả phương thế giới, thấy rằng Ngài đã giác ngộ từ nơi tự tâm
mình, chứ không có một ông Phật nào ở ngoài nhập vào để mà thành Phật. Giả
sử có sự nhập vào từ bên ngoài thì tức là không phải thật, là vọng, là tà.
Sau khi giác ngộ tự
tâm Ngài tuyên bố cho tam thiên đại thiên thế giới biết rằng "Kỳ tai, kỳ
tai nhất thiết chúng sanh cụ hữu Như Lai trí tuệ, đức tướng; kỳ tai kỳ tai
nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh v.v..." Đó là cái nhất thật tướng
ấn mà Ngài tìm ra tự ở nơi mình, tất cả chúng sanh đều có bản tánh sáng
suốt giác ngộ. Trong các kinh điển Đại Thừa đều ghi rõ ràng là "Phật là
chúng sanh đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành". Thành có nghĩa là trở
về với nhất thật tướng, tức là trở về với cái tướng chân thật.
Nhứt Thật Tướng Ấn,
nói ngắn gọn, dễ hiểu là một cái tướng chân thật. Mà cái tướng chân thật
ấy là gì? Thật tướng mà là vô tướng, cái tướng chân thật, nó không có hình
tướng, bởi vì nó không có hình tướng, nên được gọi là cái tướng chân thật.
Sự vật có hình tướng nên nó bị hoại diệt theo thời gian. Nó không có cái
tướng chân thật được. Khi nói về cái tướng chân thật tức là chỉ cái tâm
của chúng ta đấy. Chữ Ấn ở đây là vì được đức Phật ấn chứng, chắc chắn là
điều ấy không bao giờ sai, lệch.
Trong Pháp Hoa
huyền nghĩa có giải chữ nhất thật tướng ấn như sau : "Nhất
thật tướng nghĩa là cái lý chân thật, bất di, bất dịch; bất sanh, bất
diệt...tiền tiền vô thỉ, hậu hậu vô chung". Tướng chân thật đó không
phải đồng mà không phải khác, nhưng khi nói đến nhất, là nói cho chúng
sanh còn vọng tưởng, vọng niệm, chứ đến khi mà chúng sanh hết các vọng
tưởng, vọng niệm rồi, thì con số một cũng không nói được nữa. Trên phương
diện của tục đế mà gượng nói có một tướng thật mà thôi.
Chúng sanh
lìa được các tướng hư vọng, để chân tâm hiển hiện, nghĩa là tức vọng qui
chơn. Ấn tức là Tín vậy, ví như một công văn, bức thơ mà được đóng con dấu
ấn chứng thì đó là cái tin chắc thật, một sự thật, còn nếu không có con
dấu thì sẽ bị nghi ngờ, không phải là thật. Các công văn được đóng dấu tức
là "đắc ấn khả tín’’ để cho người tin tưởng chắc chắn và đây là bằng chứng
cụ thể. Như Lai đã nói các kinh, luật và luận Đại Thừa đều dùng cái nhất
thật tướng để mà ấn định những lời Ngài thuyết giảng tức là giáo thể, làm
như thế là để ngăn chặn lại thuyết của chúng ngoại đạo, cũng như các hàng
thiên ma không thể xen tạp hay phá hoại được, nên dùng chữ "Ấn". Để
chúng sanh đời sau nhận thức đứng đắn hơn và có thể phân biệt rõ ràng thế
nào chánh tà, hư ngụy, chân lý và phi chân lý không bị lạc vào đường ác,
thì chúng ta hãy lấy nhất thật tướng ấn làm qui cũ để phân biệt được kinh
nào là Phật nói và kinh nào là ngoại đạo. Kinh không có nhất thật tướng
tức là ma nói, nên trong kinh có câu: "Đức Thế Tôn nói cái thật đạo,
tức là cái chân lý tuyệt đối, và thiên ma ba tuần không thể nói được cái
lý này", tướng chân thật cũng tức là bản tâm của chúng sanh.
Ngài Bàng Long Uẩn
nói kệ như sau diễn tả Nhất Thật Tướng Ấn:
"Thập phương đồng
tụ hội,
Cá cá học vô vi,
Thử
thị tuyển Phật trường,
Tâm không cập đệ
qui".
Nghĩa là mười phương
các nơi kẻ phương Đông, người phương Tây đồng tụ hội. Để học pháp vô vi
tức là học tâm của mình; đó là cái trường thi tuyển để làm Phật và sau
cùng là bản tâm của mỗi người bây giờ trở lại với tâm thanh tịnh, sáng
suốt, không còn mảy may vô minh phiền não. Khi tâm về với chân không rồi
thì tức là thi đậu và tên mình được ghi trên bảng vàng. Phàm chúng ta hiện
bây giờ hành đạo, học đạo, làm tất cả những công việc Phật sự, tu phước,
tu huệ hay tu tất cả các pháp môn khác như tu thiền, tu tịnh, tu mật, đều
chỉ nhằm dứt hẳn các vọng tưởng để trở về với chơn tánh, cuối cùng là
không ngoài một việc "tức vọng qui chơn". Nhất thật tướng ấn chỉ
hiển lộ khi tâm hết các vô minh phiền não, chứ không thể tìm ra nhất thật
tướng qua màu xanh, vàng, đỏ, trắng hay bất cứ hình tướng nào, khi tâm còn
chấp các tướng sanh diệt là thật có.
Chúng ta
có thể nhận ra các pháp sanh diệt tức là phần vọng hay là giả có, qua các
hiện tượng sự vật. Hằng ngày, để chúng ta có thể tìm ra và sống với cái
Phật tánh của mình, thì nhất cử nhất động chúng ta làm đều nhắm đến sự
giác ngộ, đại ngã (Phật tánh) và với tâm bình đẳng, tuyệt đối không
vì tiểu ngã tức là chỉ vì mình (ngã) và người thân (ngã sở)
mà làm các sự lợi ích. Chỉ cần chúng ta hành sự với tâm giác ngộ thì bản
thân mình đã nhận và sống được cái vô ngã, vô thường ấy; đó cũng là cốt
tủy Phật giáo không phân biệt ở Tông phái nào hay ở quốc độ nào. Mọi việc
làm của chúng ta bấy giờ đều là Phật Pháp, đều là đúng với chân lý, hợp
với sự thật.
Người thực
hành được như vậy, chính thống là người có chánh tri kiến. Bản thể của tâm
rộng khắp không ngần mé, cho nên từ cái tư tưởng cho đến lời nói và việc
làm cần phải cho hợp và thuận với cái chân tâm, tức là: thể thì
không sanh diệt, tướng thì rộng trùm cả hư không và dụng thì
lợi lạc khắp cả pháp giới.
Theo kinh
Kim Cang Bát Nhã diễn tả, làm Phật sự nhưng không chấp vào bốn
tướng đó là : Ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng và thọ giả tướng,
thì mỗi giây phút ấy là mình đã tự chuyển nghiệp. Song, Phật chế luật
cốt yếu làm cho mọi người qui về cái "nhất luật" (tướng và dụng),
tương tợ với cái nhất thật tướng ấn, bởi thế nếu chúng ta nghiêm khắc sống
theo luật của Phật chế, tức là ta tự trở về với cái chân lý (bản thể)
đấy. Ngược lại, sống với tâm phàm tức là phá giới luật thì mỗi giây,
mỗi phút là chúng ta tạo nghiệp bất thiện, vì mọi việc mình làm đều nuôi
dưỡng bản ngã thêm lớn và càng ngày càng xa với Phật tánh của mình.
Để mỗi ngày chúng ta
tiến gần với cái nhất thật tướng, thì chúng ta thường thực tập hồi hướng
(hồi tự hướng tha, hồi nhân hướng quả, hồi tướng hướng tánh, hồi tiểu
hướng đại) các công đức lành cho pháp giới chúng sanh bởi ta là phần
tử trong pháp giới, vì tất cả đều nằm trong một bản thể, không rời pháp
giới mà có ta. Chư vị giác ngộ hằng sống trong chơn ngã, trong bản thể
giác ngộ, khác xa với những chúng sanh mê lầm luôn luôn vì trưởng dưỡng
giả ngã, vì bản thân và quyến thuộc mà làm những sự lợi ích. Bản tâm chúng
ta vốn rộng lớn bao la nhưng vì ái nhiễm nên bị giới hạn trong phạm vi nhỏ
hẹp. Tuy là vậy, giác là Phật và mê là chúng sanh. Hai trạng thái đối
nghịch, nhưng nó cũng cùng chung một bản thể, song nhất thật tướng ấn chỉ
hiển lộ ở nơi người giác ngộ qua tướng và dụng, còn khi mê thì dù cho danh
từ cũng không hiểu, nói chi là mong biết được nhất thật tướng là gì.
Nhất thật tướng
cũng có
rất nhiều tên gọi khác nhau như là: chân tâm, chân tánh, Phật tánh, pháp
giới tánh, bản lai diện mục, viên giác diệu tâm, diệu tánh v.v... tùy theo
kinh mà dùng cho hợp với công dụng của cái tâm mà cưỡng lập danh. Thành
ra, là vị chân tu, nhứt nhứt khi bắt đầu làm việc gì phải tự hỏi mình, làm
cho người hay chỉ cho cá nhân mình (giả ngã), cái nhân ta gieo hôm
nay, thì mai sau quả thế nào ? Khi hoàn thành một việc thiện gì đều hồi
hướng công đức cho khắp chúng sanh trong pháp giới đều sớm thành quả Vô
Thượng Chánh Đẳng Giác. Chính tâm này, qui hướng chúng ta về cái nhất thật
tướng ấn, vì hành động này thuận với cái thể của chân tâm.
Chư Phật trong ba đời
không ngoài tâm và chúng sanh mà có nên có câu ‘’tâm Phật cập chúng
sanh thị tam vô sai biệt’’, tất cả đều ở trong cùng một bản thể không
rời một, mà có kia. Được sớm trở về sống với cái bản thể nhứt như hay là
nhứt thật tướng ấn, thì từ cách đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, uống... mọi việc
làm hằng ngày, đều phải sáng suốt, giác ngộ. Làm được như vậy thì tự mình
đã có phần giác và đồng thời sự trang nghiêm, thanh tịnh của mình chính là
cái pháp thân Phật nên được người qui y, đây thuộc về thân giáo và cũng là
một trong nhiều cách giáo hóa chúng sanh.
Tuy vậy, cũng không
nên cố ý trang điểm vẻ trang nghiêm bề ngoài để làm người kính phục cho là
đạo mạo, đây là một hình thức lừa gạt không thực, mà việc làm ấy là hoàn
toàn hướng ngoại về nội dụng thực chất thì rỗng tuếch. Nhân như thế thì
quả rốt cuộc chỉ tìm thấy đạo bên ngoài. Nếu cũng một công việc ấy, mà
hành giả nghĩ về sự trang nghiêm bên trong nội tâm, thì đây là một đại
nguyện, trong nhứt cử nhất động với tâm thanh tịnh, thì việc tự độ và độ
tha đều viên mãn, và trí tuệ vô sư sẽ hiển lộ. Làm được như vậy sẽ có sự
mầu nhiệm không thể nghĩ bàn. "Xứng tánh tác Phật sự" là như vậy
đó.
Ngược dòng lịch sử,
sau khi đức Phật đã tìm ra chân lý, Ngài trao lại nhất thật tướng ấn cho
Sơ tổ Ma Ha Ca Diếp trên pháp hội Linh Sơn, hiện giờ là tiểu bang Bhiha,
Ấn Độ. Khi đức Phật đương giảng pháp cho hằng hà sa số thính chúng, trong
lúc ấy, Ngài đưa lên cành hoa sen, mà chỉ có ngài Ma ha ca diếp Tôn giả
biết được cái tâm của đức Phật và hớn hở mỉm cười "phá nhan vi tiếu".
Ở đây được nhiều chỗ gọi là đức Phật truyền tâm ấn cho ngài Ma Ha Ca Diếp,
tức là tâm của Phật và tâm của ngài Ma Ha Ca Diếp đồng hòa với nhau, nên
có sự giao cảm không thể nghĩ bàn.
Lúc ấy, đức Phật
truyền trao cái nhất thật tướng cho tất cả thính chúng, nhưng chỉ có ngài
Ca-diếp lãnh hội được, vì thế đức Phật ấn chứng cho Ngài đã chứng đạo và
được làm Sơ tổ nên có câu: "Niêm hoa ngộ chỉ, tổ đạo sơ hưng." Đồng
thời Ngài cũng được đức Phật truyền trao cho "Chánh pháp nhãn tạng,
Niết Bàn diệu tâm, Thật tướng vô tướng, Vi diệu pháp môn." hay là
nhất thật tướng ấn. Từ đấy Ngài truyền trao cho Nhị Tổ là Ngài A Nan
và đến vị tổ thứ hai mươi tám tức Bồ Đề Đạt Ma vì thế có câu : Miên diễn
tứ thất (4 x 7 = 28) diễn chơn thừa... Có nghĩa là Tổ Tổ tương truyền diễn
tiến cho tới hai mươi tám đời tổ, đều truyền thừa cái diệu lý chánh tôn
hay chánh pháp nhãn tạng cũng gọi là cái nhất thật tướng ấn. Rồi sau đấy
tổ Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa để truyền cho Nhị Tổ là ngài Huệ Khả và cho
tới Lục tổ Huệ Năng nên tiếp câu trên là: "...Lục đại diễn truyền đăng,
diệc diệp tương thừa, chánh pháp vĩnh xương minh".
Nghĩa là khi Ngài Bồ
Đề Đạt Ma sang Trung Hoa truyền đăng cho Nhị tổ là Huệ Khả và chánh pháp
này được Tổ Tổ truyền thừa cho tới Ngài Lục tổ Huệ Năng; "Nhất hoa khai
ngũ diệp, kết quả tự nhiên thành". Từ Ngài Lục Tổ trở về sau thiền
được đại chúng hóa và gây ảnh hưởng lớn cho nền văn hóa đương thời. Chánh
pháp hay nhất thật tướng ấn càng sáng tỏ và trở nên rạng rỡ hơn.
Đức Phật đã tuyên bố
trước đại chúng trên Pháp Hội Linh-Sơn rằng : "Ta nay có Chánh pháp
nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, Thật tướng vô tướng, Vi diệu pháp môn",
nay truyền cho Ma Ha Ca Diếp". Mười sáu chữ này là hoàn toàn nói lên cái
nhất thật tướng ấn.
Chánh pháp nhãn tạng
chỉ cho
cái kho tàng sáng suốt của chánh pháp, là chơn tâm hay Niết Bàn. Niết
bàn diệu tâm, tức là bất sanh, giải thoát, tịch diệt diệu tâm tức là
chơn tâm. Thật tướng vô tướng là cái tướng chân thật, nên không có
hình tướng, thật tướng nên hiểu là thật tánh, vì thế nên tánh thì không
thể nào diệt được. Nếu có hình tướng thì nó là giả tướng chứ không phải
thật tướng vì nó sẽ bị vô thường biến chuyển. Vi diệu pháp môn là
pháp môn không thể nói được, cũng gọi là nhất thật tướng ấn.
Chơn tâm chúng ta
không bao giờ chết, không bao giờ hoại diệt, vì thế khi thân này mất thì
lúc bấy giờ tùy nghiệp thọ báo. Có 4 loại nghiệpẠ.
Dư nghiệp của đời này
(tiền ấm) sẽ theo thân trung ấm mà thọ báo vào thân đời sau tức
(hậu ấm). Tùy nghiệp thọ báo là nói về phần sự tướng, phần hiện tượng
tức là có thân thọ quả, nhưng khi đứng về góc độ của lý tánh là tùy theo
tâm mà thọ báo, cảnh giới sẽ do tâm biến hiện cho tương ưng (chánh báo
và y báo).
Bởi tâm chúng ta có
sức mạnh rất mãnh liệt và dù nghiệp quả có tới đối với các bậc chứng đạo
cũng coi như không. Không còn pháp, không còn ngã, cũng có nghĩa là không
có người thọ nhận, cũng không có quả để nhận. Vì thế, dù nghiệp thiện hay
ác có đến cũng chẳng can phạm gì với các bậc chứng đạo. Trong Chứng Đạo Ca
của ngài Vĩnh gia Huyền Giác có câu : ‘’Chứng thật tướng vô nhân pháp,
sát na diệt khước a tỳ nghiệp, nhược tương vọng ngữ cuống chúng sanh, tự
chiêu bạt thiệt trần sa kiếp’’. Sức mạnh của chân tâm sẽ thắng được
cái nghiệp quả hoặc thiện hoặc ác. Vì tất cả nghiệp báo đều là thuộc loại
hữu vi mà tất cả hữu vi pháp được sanh ra và hiện hữu từ nơi cái bản tâm
tức là vô vi pháp. Tâm tạo ra tất cả cảnh giới trong sáu đường nên có câu
: Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Nếu còn là chúng sanh chưa
nhập được vô vi pháp thì nghiệp quả như hình với bóng, nên phải cần sám
hối để tiêu nghiệp.
Bình nhật khi tâm
chúng ta ở trạng thái của cực tham, cực sân và cực si thì lúc bấy giờ cảnh
bên ngoài sẽ bị ô nhiễm và ảnh hưởng tâm của những người chung quanh bởi
có câu : Tâm bình tức thị cảnh bình và ngược lại. Bởi thế, tu là
một quá trình thanh lọc tâm hay tịnh hóa nhân tâm để đạt đến chỗ Chân,
Thiện và Mỹ, tự chủ cho ba nghiệp được thanh tịnh. Còn trái lại, cố chấp
những vọng tưởng thì càng ngày càng huân tập nghiệp bất thiện. Tuy thân
người có sanh diệt, diệt sanh về hình tướng nhưng phần chân tâm vẫn giữ
nguyên vẹn không tăng, giảm, không cấu, tịnh...
Ngược lại phần vọng
tâm có sanh diệt và tăng giảm tùy theo lúc hiện đời tích lũy chủng tử
thiện ác. Sự tăng giảm của phần ô nhiễm đặt nặng trên căn bản của sự hành
trì giới luật, mà Phật và chư tổ đã truyền trao. Hiển nhiên, nếu tâm tích
tụ nhiều phần vọng nhiễm và chúng ta xuôi tay để nó hoành hành, thì nhất
thật tướng, chân tâm sáng suốt tròn đầy không bao giờ hiển lộ.
Thật ra, chân tâm
không bao giờ tạm có hay tạm không, không sanh không diệt, không cấu không
tịnh, không hề thay đổi. Khẳng định như vậy, để chúng ta hăng hái tinh tấn
tu giới, định và huệ để giải tỏa các nghiệp hoặc,
phiền não chướng và sở tri chướng. Giải tỏa chúng càng sớm thì nhất thật
tướng càng sớm hiển lộ tức là phá một phần vô minh, chứng một phần pháp
thân. Vì thế một bài kinh, một thời giảng pháp của Phật giáo nói chung và
Phật giáo phát triển nói riêng đều xưng dương tán thán cái chân tâm của
mọi người cùng mọi loài và luôn luôn nhắc nhở chúng sanh làm sao phải sống
với cái chân và cái sáng và đừng sống với cái vọng hay là cái Tôi, đều là
giả ngã.
Để hằng ngày chúng ta
sống với cái chân tâm hay thật ngã thì không cách nào hơn là chúng ta phải
gia công tu tập, bằng cách học luật để hiểu và giữ giới cho nghiêm ngặt,
học kinh cho thông lý để thực hành thiền na và thường tư duy những luận lý
của chư Tổ để lại, để trí tuệ phát sanh. Có được giới định huệ thì đạo
nghiệp sẽ thành tựu.
Đây là điểm thiết yếu
nhất, mà chúng ta cần lưu tâm và cần hiểu cái ẩn ý là những cái phiền não
đã có sẵn thì ta nên lần lượt hóa giải, nếu không thể ngay lập tức phá trừ
hết tất cả, mặt khác phải nhận không lầm về những chủng tử thuộc về thanh
tịnh, nhiễm ô, thiện, ác, hữu lậu hay vô lậu v.v... để có thể gạn lọc và
huân tập những chủng tử có công năng giúp chúng ta tiến gần tới quả toàn
chân.
Tóm lại, các nghiệp
đã tạo do vô minh, nay cần tu giới để ngăn ngừa sự huân tập thêm các chủng
tử bất thiện; cần tu định để khi chúng hiện hành ta có thể nhận diện kỹ về
phát xuất điểm cũng như chủng loại và thời gian, nhân duyên hiện hành, và
tu huệ để nhận rõ các thiện pháp và thật tướng của các pháp.
Nhất thật tướng ấn là
tướng chân thật, là phật tánh cũng là cái chánh pháp nhãn tạng mà đức Phật
trao cho Ngài Ma Ha Ca Diếp là vị Tổ đầu tiên tại Ấn Độ và nguồn diệu lý
ấy được truyền cho đến Tổ thứ hai mươi bảy tức là Bát Nhã Da La Già Ca.
Lúc bấy giờ, qua hiện tượng Ngài thấy sự suy đồi về giáo pháp của đức Phật
tại Ấn Độ. Vì muốn duy trì và truyền bá mạch nguồn, nên Ngài khai thị cho
Tổ thứ hai mươi tám tức là Tổ Bổ Đề Đạt Ma là phải ‘’Hàng hải nhi lai
đông độ’’, nghĩa là phải đi sang phương Đông để truyền pháp lợi sanh.
Tổ Bồ Đề theo lời phú chúc ấy nên sang phương Đông để truyền pháp cứu mê
tình. Ngài có làm bài kệ sau :
"Ngô bổn lai tư độ,
Truyền pháp cứu mê tình,
Nhất hoa khai ngũ diệp,
Kết quả tự nhiên thành."
Giáo pháp được Ngài
truyền trao cho Nhị Tổ và cứ thế Tổ truyền Tổ cho đến vị Tổ thứ sáu tức là
Tổ Huệ Năng, cũng là Tổ cuối cùng được truyền y bát. Ngài Huệ Năng do nghe
một cư sĩ trì kinh Kim Cang mà ngộ. Từ đó, vì Ngài luôn luôn sống thuận
với chân lý, nên chẳng cần học mà thông hiểu những yếu nghĩa trong tam
tạng kinh điển.
Thời nay, đa số phải
cần học giới, học định và học huệ, vì không phải là
những bậc lợi căn lợi trí, nên khi học kinh, nghe kinh phải cần qua ba
giai đoạn tức văn, tư và tu.
Trong Phật giáo gọi
là "tiệm tu". Phần đông căn cơ chúng sanh trong thời mạt pháp (mạt pháp
không phải là không có giáo pháp mà là hiếm có người nhận được nhất
thật tướng ấn mà Đức Phật nói ra trong Tam Tạng kinh). Nói
khác là, chúng sanh không biết cách chuyển hóa những giáo lý đã học, đã
nghe, đã đọc từ những vị Tổ, Thánh Tăng, cao tăng, hiền triết thành chất
bổ để cuộc sống của mình và người và thiên nhiên thành một thật thể bất
khả phân ly,
Thiền Sư Trí Thiền
nói "... tùy duyên lập đạo tràng ..." Thế mà, lại có vô số người
học đạo rồi chấp vào chữ nghĩa, danh tự rồi trụ vào đó và cho đó là chân
lý, gián tiếp tâm bị thâu hẹp lại và bị trụ trước, nên không giải thoát
được. Hôm nay, chúng ta vẫn còn thừa hưởng những giáo lý hay những pháp
môn vi diệu cũng là nhờ vào sự truyền thừa chánh pháp nhãn tạng mà đức Thế
Tôn đã trao cho Ngài Ma Ha Ca Diếp trên pháp hội Linh-Sơn.
Sau đây là những bài
kệ được trích ra trong kinh điển và những bậc Tổ Sư chứng ngộ nói về nhất
thật tướng ấn. Kinh Hoa Nghiêm có câu :
Tâm như công họa sư,
Họa chủng chủng ngũ ấm,
Nhứt thiết thế giới trung,
Vô pháp nhi bất tạo (họa).
Nghĩa là khi chúng ta
sống với chân tâm, và tâm ấy như là một ông họa sư đại tài, có thể họa tất
cả núi, sông, đất liền, cỏ cây, hoa lá, thế giới, vũ trụ, nhân sinh v.v...
Chân tâm hay là nhất thật tướng, đều tạo ra tất cả, nên có câu "nhất
thiết duy tâm tạo".
Thật vậy, nhất thật
tướng là bản thể không sanh diệt, mà thường ngày chúng sanh không sống với
nó, mà toàn là sống với cái hiện tượng, vọng động, sanh diệt và trở thành
nhất giả tướng ấn. Tức nhận giặc làm con, nhận giả cho là chân, nên cái
thật chơn không thể nào hiển lộ được, dù cho cái chân thật ấy hiện ra sờ
sờ đó cũng không nhận ra được và bị điên đảo vọng tưởng. Tâm mình họa ra
tất cả ngũ ấm là sắc, thọ, tưởng, hành và thức, gồm có sắc thuộc về phần
vật chất (hữu sắc) và thọ, tưởng, hành và thức thuộc về tinh thần
(danh). Thân người và vạn loại hữu tình và vô tình, thế giới đều là
năm ấm hình thành, nên gọi là "họa chủng chủng ngũ ấm". Tất cả, tất
cả các vật có hình tướng và không hình tướng trong thế giới từ người cho
đến nhân sinh và vũ trụ. Không có một pháp nào mà vị họa sư ấy không họa
được, nên gọi là "vô pháp nhi bất tạo (họa)". Vị họa
sư ấy không ai xa lạ chính là dụ cho cái nhất thật tướng ấn hay cái
chân tâm của mỗi người chúng ta.
Công dụng của chân tâm thì không thể nào diễn tả bằng ngôn
ngữ hay cái ý thức bình thường mà suy nghĩ, vậy thì vọng tâm là như thế
nào ? Một thí dụ của vọng tâm được kinh điển diễn tả vô cùng tinh vi về sự
luân hồi qua thân trung ấm.
Thần thức của chúng
sanh bị vô minh mà đi thọ báo, khi gặp một cái ánh sáng của dâm dục, giao
hợp âm dương chớp, nếu hội đủ nhân duyên thì ngay lập tức nhập vào để hòa
lẫn phụ tinh mẫu huyết rồi hình thành một hỗn hợp (hình như hột đậu)
tạm gọi là thai tạng. Khi thành thai tạng thì thần thức (thân trung
ấm) không còn mà đổi thành trạng thái của thức A lại da (Alaiya)
gồm chứa cả phần tịnh và nhiễm. Nếu là vì hạnh nguyện của Bồ Tát thị
hiện, phần tịnh làm chủ tiến trình phát triển, nhưng đa số là phần nhiễm
làm chủ, vì kinh có câu "A la hán cách ấm còn muội và Bồ Tát cách ấm
còn mê". Sự phát triển thay đổi của bào thai là do hoạt động của vọng
tâm trong mỗi sát na rất tế nhị và tích cực duy trì theo bản năng bảo trì
sự sinh tồn của Alaiya. Mỗi bảy ngày thì có sự thay đổi về hình tướng mỗi
lúc thì rõ ràng hơn. Cứ chuyển đổi như thế, cho đến bốn mươi thất
(9
tháng 10 ngày)
thì hiện nguyên hình, tức có danh sắc đầy đủ, từ lục phủ, ngũ tạng bên
trong cho tới hình vóc bên ngoài, và các căn đều do cái vọng tâm biến hóa,
chứ không có một ông thần thánh nào vào đó để nắn thành thai tạng.
Đây chỉ mới nói một
thí dụ của nhiều thí dụ về sự linh động của vọng tâm. Còn chân tâm thì mầu
nhiệm, cao quí, uy nghi không thể nghĩ bàn. Vì thế kinh có câu "ngôn
ngữ đạo đoạn", hễ nói tới đạo (chân lý tuyệt đối) là phải ly
ngôn thuyết tướng, ly danh tự tướng, ly tâm duyên tướng, bởi thế phải ly
tất cả, vì tất cả phương tiện chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng, chớ không
phải là mặt trăng "Nhứt thiết tu đa la giáo như tiêu nguyệt chỉ".
Tuy vậy, mà cũng có câu "Vạn hạnh môn trung, bất xả nhất pháp, Phi
phương tiện bất thành cứu cánh." Dùng cái vọng tâm mà diễn tả chân tâm
thì không thể nào được, Chỉ có cái tâm sáng suốt mới có thể hình dung
được, mà nói ra trở thành vọng, như là bóng tối tới và ánh sáng phải lui.
Bởi thế, nhiều vị không thích nói nhiều, nhưng đấy chỉ nói về khía cạnh
thụ động mà thôi, chứ Chánh Pháp thì phải tích cực mà xiển dương bằng
nhiều phương tiện; vì vậy Tông Môn không thể lìa Giáo Môn và ngược lại.
Điểm này chúng ta có
thể chắc chắn không có nghi ngờ, tuy có câu "...trực chỉ chân tâm kiến
tánh thành Phật. Giáo ngoại biệt truyền..." nhưng đức Phật đã tuyên bố
cho đại chúng trước pháp hội Linh-Sơn sau khi Ngài Ma Ha Ca Diếp ngộ được
chân tâm, vì có sự tuyên bố (lập giáo), nên giáo không thể rời tông
và tông cũng không rời giáo. Vì thế độ sanh qua sự giáo hóa bằng lời là
phương tiện thù thắng nhất. Nhưng mà gọi chân tâm là cái gì thì cũng sai,
vì nó tùy duyên mà bất biến, bất biến tùy duyên "accord with
conditions, but do not change. Not changing accord with conditions." (Hòa
Thượng Tuyên Hóa)
Kế nữa là một câu kệ
trong kinh sách cũng đồng thời đề cao Nhất Thật Tướng Ấn :
"Hữu vật tiên thiên địa,
Vô hình bản tịch liêu,
Năng vi vạn tượng chủ
Bất trục tứ thời điêu."
Bài kệ trên chỉ cho
nhất thật tướng ấn hay là chân tâm của chúng ta. Có một vật
nó có trước trời đất. Vật ấy không có hình tướng, mà bản chất vẫn là vắng
lặng nó linh động và siêu việt vô cùng. Nó làm chủ trong muôn hình tượng,
nếu vì một đại nguyện cần ứng vào hình tượng nào tức là làm chủ hình tượng
ấy.
Ví dụ, như khi nhập thai ở loài người thì nó làm chủ mọi
suy nghĩ mọi hành động và mọi lời nói; nếu nó vào loài ngạ quỉ hay là súc
sanh hoặc là trời v.v... đều bị nó điều khiển hoàn toàn. Dù thời gian
xuân, hạ, thu, đông hay dù có bốn mùa tám tiết, dù thời gian thì hữu tận,
không gian hữu cùng, nhưng bản chất của tánh linh thì vẫn như vậy thôi và
không bao giờ hoại diệt. Bởi thế, nói thì bị vọng động, thì sai, nhưng ở
quốc độ này không nói thì không được, không chỉ thì làm sao người biết
đường đâu tu. Nói rằng chúng sanh có Phật tánh, nếu không nói và chỉ thì
làm sao có thể khai triển và phát huy Phật tánh ấy. Nên Kinh Lăng Nghiêm
có câu :
Thử phương chơn giáo thể,
Thanh tịnh tại âm văn,
Dục Thủ Tam ma đề,
Tất dĩ văn trung nhập.
Đây chỉ miễn cưỡng mà
lập danh, thật tướng không có cách diễn tả cho được. Khi chúng ta hiểu
được như vậy rồi thì chúng ta hãy nhứt tâm, nhứt đức mà tiến tu để mau trở
về với chỗ sáng suốt giác ngộ ấy. Một điều tối quan trọng quý vị phải hiểu
rõ về cái lý đạo để mà tu hành, nhứt là
vì chúng
ta đang hướng về Đại Thừa Phật Giáo. Khi nói về lý đạo tu hành, thì tất cả
tất cả đều qui về lại cái chân tâm. Biết được như vậy, thì mỗi người phải
làm sao khai triển cái tâm của mình để ‘’tiến lên, tiến lên, tiến lên
mãi; tiến lên đến cái chỗ không còn thấy tiến lên nữa, tức là nhập diệu,
tức là nhập vào tánh không Bát Nhã".
Thầy sẽ chỉ ra một điểm rất là cụ thể để quý vị thấy, tại
sao những buổi lễ hay những thời Khai Thị, mà ta phải đăng chúc huy hoàng,
chuông trống Bát Nhã. Chỗ tôn thờ, chỗ ngồi nghe pháp, nói chung là hoàn
cảnh phải được chuẩn bị trang nghiêm về hình thức đó?
Những hình thức ấy đều có dụng ý, là mỗi người đều qui lại
với cái Nhất Thật Tướng Ấn, tức là cái tướng chân thật. Cái tướng chân
thật ấy chính là chân không diệu hữu. Diệu hữu tức nhiên là hễ khi muốn có
thì nó có tất cả những sự nhiệm mầu vô cùng tận, nói không hết, không thể
dùng lời nói được những điểm mầu nhiệm đó. Từ chân không mà có các pháp
một cách nhiệm mầu và trang nghiêm, nói một cách dễ hiểu là khi chúng ta
còn sống trong thế giới của tương đối, thì chúng ta phải nhận cho rõ thế
nào là chánh tà hư ngụy, đúng sai... Làm được như vậy thì cái tuyệt đối
cũng không rời cái tương đối mà có, chính ngay khi ấy chúng ta trở về với
cái diệu hữu. Còn mà chúng ta chưa nhận ra thế nào là vọng chân, hư ngụy,
phải quấy, vụng về hay trang nghiêm... thì không thể nào nhận ra cái nhất
thật tướng ấn.
Khi chúng ta trở về
với cái nhiệm mầu đó tức là trở lại cái chân tâm của mỗi người, bởi thế,
trang nghiêm đạo tràng mục đích là qui hướng mỗi người về cái nhứt thể hay
là nhất thật tướng ấn. Khi đạo tràng được trang nghiêm thanh tịnh, có
nghĩa là thân cùng một xứ; miệng cùng đọc gọi là "cú cú tùng tâm lưu
xuất", và hòa trong tiếng mõ không lớn không nhỏ và nhịp nhàng; ý cùng
tập trung vào một việc và tâm đồng qui một hướng, thì lúc bấy giờ một
tức
là tất cả, và tất cả tức là một, không còn có người và ta vì nó hòa nhập
trở thành nhứt thể, còn gọi là nhứt thật tướng ấn. Trạng thái nầy không
còn tối tăm, không lăng xăng, tạp loạn, chính lúc ấy, yến sáng giác ngộ
hiển lộ. Sự lý được viên dung và thể tướng dụng cũng được viên minh, trạng
thái thanh tịnh mà chiếu soi, hay là như câu "...linh linh bất muội
liễu liễu thường minh..." Quý vị, gắng hiểu cho được cái thâm nghĩa
này, trừng tâm đế thính, tư duy thâm nhập.
Song, tất cả những
Phật sự mà chúng ta đang làm cũng vậy. Phật có nghĩa là giác ngộ và sự tức
là sự việc hay công việc làm. Phật sự có nghĩa là làm trong sự tỉnh thức
giác ngộ, hết lòng vì chúng sanh, vì chân lý (đại ngã) mà làm gọi
là "xứng chân tánh, tác Phật sự...", quyết không vì tham sân si của
mình mà làm. Thiết nghĩ đây là điểm quan yếu mà đa số người bị đọa lạc và
tự trói mình vào một bản ngã (thô, tế) của chính mình, nên không
nhận thức được, muốn nhận ra nó phải cần sự phản quang sâu sắc, vì nó
chính là anh lừa gạt hay nhất có thể biện hộ ở bất kỳ cương vị, tình huống
nào. Nó làm ta lầm nhận cái giả ngã ấy cho là mình, là tôi, nhưng trong
nhất kỳ và sát na vô thường thì cái tôi đó chẳng phải là tôi. Nếu không có
sự quán tâm thật kỹ thì tha hồ tạo tác mà vẫn cho là làm đúng, cái Tôi lúc
bấy giờ che cả bầu trời. Một bản ngã linh động vô hình nhưng là gốc của
mọi suy nghĩ, mọi hành động, mọi lời nói, mọi sự biến chuyển.
Chính
cái Tôi thế này, Tôi thế khác là nguồn gốc của sanh tử. Nếu có
trí huệ để xét soi thì phải tự kiểm điểm và hỏi câu hỏi thành thật: Có
phải vì để trưởng dưỡng cái Tôi mà làm? Yếu tố để trưởng dưỡng cái tôi đó
chính là Ngũ Dục Lạc mà tham ái (tự ái và tha ái) là cội gốc. Người
Phật tử phải biết tôn trọng sự thật, phải có Trực Tâm, hầu có thể nếm một
phần nào giải thoát, và chính Trực Tâm ấy là căn bản để phát triển Thâm
Tâm và Bồ đề tâm. Quan trọng là cố gắng làm cho trọn vẹn công việc, mà
không chấp vào nó (bốn tướng chúng sanh). Hành xả bốn tướng ấy
được, thì đạt được đến chỗ nhứt thật tướng ấn.
Khi giác ngộ thì phật
tánh và pháp tánh cũng chung một thể, nên mới có câu "tình dữ vô tình đồng
thành Phật đạo." Nói một cách khác khi mê, thì có phân biệt mình và vật
nhưng khi giác thì sống với bản thể, nên không còn ngăn ngại mình và vật.
Chính mình có trong vạn vật và vạn vật, từ vi trần, cho đến rộng trùm cả
hư không đều có trong tâm chúng ta. Kinh có câu : Tưởng trừng thành
quốc độ, tri giác nãi chúng sanh; thân chúng ta là do hỗn hợp
của bốn đại, khi tánh giác không còn tức là trở thành quốc độ (y báo),
khi còn giác tri thì có phân biệt mình (năng phân biệt) và vật
(tức là sở phân biệt), lúc bấy giờ thì có tất cả căn thân và khí giới.
Nhưng nhất thật tướng ấn vượt ra khỏi sự phân biệt, năng sở không còn, mà
cũng chẳng phải là vật vô tri vô giác kia. Nhất thật tướng bao trùm cả
mười phương cõi, luôn cả chư Phật trong mười cũng không ngoài chân tâm.
Nên kinh có câu "...thâu lai tại nhất vi trần tán tác phổ châu (triêm)
sa giới..." (thâu lại tất cả trong hạt bụi, phóng ra thì bao trùm
cả tam thiên). Câu kệ được trích ra trong Kinh Hoa Nghiêm như sau :
"Nhược nhân dục liễu tri,
Tam thế nhất thiết Phật,
Ưng quán Pháp giới tánh,
Nhất thiết duy tâm tạo."
Tạm dịch :
''Nếu người
muốn rõ biết,
Ba đời tất
cả Phật,
Phải quán
pháp giới tánh,
Tất cả do
tâm tạo. ''
Yến sáng ở đây là chỉ cho cái nhất thật tướng ấn, thì phải
quán pháp giới tánh, có nghĩa là phải đem cái tâm quán tất cả pháp giới
tánh, tức là chân tâm, chân tánh hay là Phật tánh mà luôn luôn quán sát và
sống với pháp giới tánh đó. Vậy mới thấy biết được tất cả đều do tâm tạo.
Tâm mình là chánh báo, và tam giới và lục đạo và cõi Phật là y báo. Thí
dụ, hàng ngày chúng ta sống và hành Bồ Tát Đạo, hành lục độ ba la mật, ấy
là nhân Bồ Tát, khi hạnh được công viên quả mãn thì quả Phật không cầu mà
vẫn được.
Còn ngược lại, hành
động ngũ nghịch hay mười ác thì chắc chắn hiện đời tuy mang thân người
nhưng tâm đã và đang thọ nhiều khổ đau, tương ưng với ba đường ác (địa
ngục, ngạ quỉ và súc sanh), vì thế khi bỏ báo thân này lập tức sanh về
ba đường ấy. Như vậy, quán lại tâm niệm hiện tiền, sẽ biết được tánh của
pháp giới. Nhứt thiết duy tâm tạo là như vậy đó. Muốn quán được cái yến
sáng của ba đời chư Phật thì chúng ta phải trở lại mà quán chiếu chính cái
chân tâm của mình. Phàm thì chúng ta cần biết cái vọng tâm của mình cho
thật rõ, vì chính vọng tâm ấy nên nó tạo ra có sơn, hà, đại, địa nhân
sinh vũ trụ v.v... Chính vì do chi phần vô minh vọng động, mà làm cho
chúng sanh nhận lầm giả thật, niệm niệm tương tục nên sanh ra vạn vật hữu
hình và vô hình. Nên có vị Thiền Sư nói :
''Tác hữu
trần sa hữu,
Vi không nhất
thiết không,
Hữu không như
thủy nguyệt,
Vật trước hữu
không không''.
Tạm dịch:
"Có thì có
tự mảy may,
Không thì
cả thế gian này cũng không,
Cho hay
bóng nguyệt dòng sông,
Ai hay cái
có, có không là gì".
Giờ đây chúng ta nhận
thức được như vậy rồi, thì từ nay nguyện lìa hẳn những cái vọng ấy và phải
gia công học đạo, học luật, học kinh, học luận. Chúng ta học nhiều không
ngoài mục đích là nhận cái nào là vọng tâm, như trong Duy Thức phân tích
rất rõ ràng thế nào là thiện và bất thiện tâm sở, quan trọng hơn là phương
pháp lìa hay đoạn ác tâm để thiện tâm hiển hiện "Tức vọng qui chơn".
Phật tâm hay chơn tâm chỉ hiễn lộ khi chúng ta thuần sống với tâm thiện,
tức là thân, khẩu và ý được thanh tịnh. Vì lợi lạc chúng sanh quên mình,
thì hiện đời thành Phật không có gì mà phải chờ kiếp này hay kiếp khác.
Sau đây, là bài kệ
của Nho Giáo bị ảnh hưởng trực tiếp bởi Phật Giáo, diễn tả chữ Tâm. Chính
Nho Giáo không thể nào diễn tả được Nhất Thật Tướng Ấn.
"Tam điểm như
tinh tượng,
Hoành câu tợ
nguyệt tà,
Phi mao tùng
thử đắc, (đới giác)
Tổ (Tác) Phật
giả do tha."
Tạm dịch:
''Ba điểm
như sao sáng,
Móc ngay tợ
trăng tà,
Đọa Sa hay
thành Phật,
Cũng tâm
này mà ra".
Trên đây, diễn tả cái tâm viết theo chữ Hán
trên có ba chấm, hình như ba ngôi sao, dưới có nét móc nằm
ngang, giống như trăng lưỡi liềm. Mang lông đội sừng trong các đường khổ
như địa ngục, ngạ quỉ hay súc sanh đều do đây và làm Phật hay làm Tổ cùng
từ nơi tâm của chúng ta mà thành. Bởi thế, chúng ta cần phải theo lời đức
Phật, các vị tổ và các tiền bối đức trọng mà hằng ngày cố gắng tiến lên để
diệt tham, sân, si và luôn luôn tiến đạo nghiêm thân, để chóng thành đạo
quả.
Là một vị xuất gia thì ít nhất cũng phải đoạn tận tất cả
phiền não, mới không uổng một đời làm vị Sa Môn thọ dụng của đàn na tín
thí. Chúng ta phải phát nguyện trước Tam Bảo là mỗi ngày phải trừ một chút
vô minh và không tạo thêm những phiền não cho người.
Khi tự tâm chúng ta khởi những vọng niệm mà gốc là tham,
sân và si thì ngay lúc ấy phải biết và đổi tham thành nguyện hay còn gọi
thiện dục, phải nghĩ về chúng sanh muôn loài để phá cái tiểu ngã, mà trở
về với cái đại ngã; sân tâm nổi lên xuất phát từ lòng tham không được toại
nguyện, nói cách khác là vì muốn duy trì bản ngã, chấp thân tâm là thật
ngã.
Bởi thế chúng phải luôn luôn hiền hòa, nhã nhặn, tươi mát,
tích cực, nhưng không phải nhu nhược, không hiểu gì cả, và thực hành được
như vậy thì tức là chuyển phiền não thành bồ đề, tức vọng qui chơn. Si mê
là những thứ mà không biết được rõ ràng về tánh tướng, sự lý, hiển mật,
nhân quả, thiện ác, trắng đen, sáng tối, giác mê v.v... vì thế làm việc
không thành công viên mãn.
Bởi thế, chúng ta cần
học kinh tức học định, luật tức học giới và học luận tức là học huệ
(văn, tư và tu). Phải tầm sư học đạo, mới có thể giải tỏa được những
si mê mờ tối nằm trong mọi địa hạt nên có câu rằng : "vô minh thì vô
tận mà vô bất tận" cho nên chúng ta lúc nào cũng phải đề phòng bằng
cách luôn luôn sống với trí huệ để nhất thật tướng ấn lần hồi hiển lộ.
Người đã nhận được
cái nhất thật tướng thì lúc nào cũng sống với cái tâm giác hay là tâm đại
từ, đại bi, đại hỷ và đại xả mà hành sự, nhất cử, nhất động đều nằm trong
mục đích giải thoát.
Muốn được như vậy,
thì trước phải nhận cho rõ ràng cái giả tướng bằng cách quán Tam Pháp Ấn
cho thuần thục rồi mọi sự việc trở thành sáng suốt vì, lúc bấy giờ ngã
chấp không còn, kế đó là quán không và sau đó nhận biết được bản thể là
chơn không diệu hữu, còn gọi là pháp môn bất nhị. Khi sống được với cái
không và dùng tam pháp ấn để đối ngoại, hành sự tướng bên ngoài nhưng tâm
không mảy may dính mắc, tức là nhất thật tướng ấn hiển lộ hay còn gọi là
trung đạo, ngã chấp và pháp chấp tự không còn, vì không năng và sở thì các
pháp sẽ không hiện hữu.
Sau đây Thầy có bài
kệ nói lên cái nhất thật tướng ấn như sau :
"Nhứt như tâm
thể đại đồng,
Thật tánh vô
thỉ vô thân tận cùng,
Tướng quang
linh diệu sơn trung,
Ấn chứng lý
đạo vương cung thăng tòa".
Khi nói về
cái nguồn tâm vắng lặng của mình, thiệt ra chỉ có một chớ không có hai, ba
đâu. Tâm chúng ta thể nó luôn vắng lặng nhưng bị một vọng niệm vô minh
(si) phát khởi và bị cuốn theo cái vọng đó, từ đó có sơn, hà, đại địa, thế
giới chúng sanh. Từ vô thỉ kiếp cho đến bây giờ, lặn hụp trong biển khổ,
sông mê. Hạnh phúc thay! giờ đây chúng ta được gặp Phật Pháp, được nghe
Phật pháp, đó là một phước đức rất lớn, mình phải làm sao để tìm lại cái
nguồn chân vắng lặng đó, và trở lại sống với nó.
Thật ra,
nó chẳng đâu xa, ở tại lòng ta, ở tại tâm ta, khi mà tất cả những giả tâm
hay vọng niệm được giải tỏa thì chơn tâm hiện, tức là thật tướng ngự trị,
đó là yến sáng giác ngộ. Thật tánh của mọi người có từ vô thỉ, không có
đầu mối và vẫn còn đó cho tới bây giờ và cho đến vô tận cùng thời gian về
sau, tâm ấy chỉ tùy duyên mà bất biến và bất biến tùy duyên. Nó tùy theo
nghiệp mà hưởng quả báo tương ứng.
Vì thế,
người có trí biết được như vậy, thì mỗi việc hoặc tốt hoặc xấu đều tự mình
tạo ở kiếp trước do mình vụng hay khéo tu mà thôi. Ông bà, cha, mẹ, gia
đình, xã hội, cùng với những yếu tố bên ngoài, hiển nhiên cũng có ảnh
hưởng không kém. ‘Tướng quang linh diệu sơn trung, tức là cái yến sáng
giác ngộ của cái thật tướng, nó linh diệu vô cùng, nó ẩn trong núi Linh là
chỉ bản tâm thanh tịnh còn đang bị vô minh che phủ và lý của Linh Sơn tức
là chỉ cho cái linh quang trực vãng hay còn gọi là bản tâm. Vương cung
thăng tòa tức là bước lên con đường giải thoát giác ngộ, cũng là thăng tòa
thuyết pháp lợi sanh, tục Phật huệ mạng...
Thì hôm nay, thầy
muốn nhấn mạnh ở chỗ là trong chúng ta, ai ai cũng có cái nhất thật tướng
cũng gọi là chân tâm Phật tánh, biết được như vậy, thì chúng ta phải gắng
mà tu để trở lại tánh chân ấy để mà thành Phật, tác Tổ để độ chúng sanh
đến bờ giác gọi là "kế mãn khai lai, tục Phật huệ mạng". Là người
con Phật ai nấy đều có khả năng và có trách nhiệm như ngài Ma Ha Ca Diếp
để truyền thừa chánh Pháp cho đến vô tận thời gian về sau. Còn nếu chúng
ta chỉ biết và đình chỉ sự tu ở Tam Pháp Ấn thì sẽ không thể trở về với
cái "Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn" hay "Vô Trụ Xứ Niết Bàn"
được. Đây là một trong bốn quả niết bàn của hệ phái Bắc Tông Phật giáo,
còn hệ phái Nguyên Thủy Phật giáo thì chỉ có hai loại niết bàn đó là hữu
dư y và vô dư y niết bàn. Thành ra, sau mỗi thời pháp chúng ta phải tiến
lên, vượt lên nên có câu "y nhân, y đạo giai thành Thánh đạo".
Hãy cố gắng mà hành
trì, chớ đừng có hời hợt thì uổng lắm. Phải quyết tâm mà dẹp sáu căn bản
phiền não hay nói cách khác là đoạn được ngã chấp, pháp chấp và danh ngôn
chấp thì nhất thật tướng ấn tự nhiên hiển hiện.
Hôm
nay, chúng ta vân tập về Tự Viện Linh-Sơn và long trọng cử hành lễ kỷ niệm
ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo. Nhân dịp này Thầy sẽ giảng cho
quý vị về sự thành đạo của chư Phật để buổi lễ có đầy đủ ý nghĩa hơn.
Theo truyền thống của Phật giáo Bắc tông, thì cứ mỗi giai
đoạn quan trọng trong đời sống của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni, chúng ta
đều làm lễ kỷ niệm. Thí dụ như Lễ Phật Đản là để kỷ niệm ngày ra đời của
Ngài; Lễ Phật thành đạo là kỷ niệm ngày Ngài đạt được đạo quả Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác và lễ Phật nhập niết bàn là kỷ niệm ngày Ngài, sau
khi hoàn thành viên mãn công việc đem chánh pháp giáo hóa cứu độ chúng
sanh muôn loài tại thế giới Ta Bà, thị hiện nhập diệt.
Theo truyền thống
Phật giáo Nam tông thì người ta chỉ tổ chức lễ kỷ niệm cả ba giai đoạn
quan trọng đó vào trong một ngày gọi là Lễ Tam Hợp hay là Lễ Kỷ Niệm
Vesak.
Trong buổi lễ hôm
nay, theo truyền thống Bắc Tông, Thầy sẽ nói cho quý vị rõ hơn, ý nghĩa và
những lý đạo của ngày Thành Đạo và cũng như nói về những giai đoạn
thị hiện thành đạo của Đức Thích Ca Mâu Ni mà lịch sử Phật Giáo gọi là
Bát Tướng Thành Đạo.
Theo tư
tưởng và Kinh Điển Đại Thừa, bất cứ một vị Phật nào ra đời để cứu độ chúng
sanh và trước khi thành tựu đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cũng
phải thị hiện tám tướng hay tám hiện tượng, dẫn tới việc đạt được đạo quả
thành Phật. Chư Phật trong quá khứ cũng đã từng thị hiện đầy đủ tám tướng.
Hôm nay, chúng ta kỷ niệm ngày thành đạo của Đức Thích Ca, nên Thầy sẽ nói
về tám tướng thị hiện của Ngài, mà trong lịch sử Phật Giáo chỉ mới ghi
chép lịch sử của Đức Thích Ca, quý vị mới có thể theo dõi và hiểu được.
Trước khi nói tới "Tám
Tướng Thành Đạo", Thầy muốn giảng cho quý vị rõ ràng cái lý đạo
của hai chữ Thành Đạo. Có hiểu được cái lý đạo của hai chữ thành
đạo, quý vị mới thấy được cái ý nghĩa của những buổi lễ kỷ niệm mà Phật tử
chúng ta tổ chức hàng năm.
Trước hết, chúng ta
phải hiểu chữ đạo ở đây. Chữ đạo trong từ ngữ thành đạo này để chỉ
cho cái tột cùng, rốt ráo của cái Tánh Biết mà ngôn ngữ thế gian
chỉ có thể tạm gọi là chân lý. Nói tới hai chữ chân lý thì cũng
phải dùng ngôn ngữ hạn cuộc của thế gian để giảng giải, nhưng Thầy cũng
phải nói trước là, muốn giảng cách nào chăng nữa cũng không thể hết cái ý
nghĩa của chân lý.
Vậy thì chúng ta hãy
tạm giải thích như sau : Chân Lý là tư tưởng, triết thuyết, sự thật, hiện
tượng, trạng thái của tâm v.v... mà lúc nào cũng đúng với lẽ
thật, lúc nào cũng nhất như, không thể sai chạy được, dù ở
trong thời quá khứ, hiện tại hay vị lai. Chân lý là cái thể vốn đã
sẵn có trong thiên nhiên, không ai có thể tạo ra được và cũng không thể
tiêu diệt được, giống như hư không. Bằng bất cứ cách thức nào, người ta
cũng phải sống trong hư không, tất cả mọi hiện tượng dù hữu hình
hay vô hình đều không thể nằm ngoài phạm vi của hư không. Không một siêu
lực nào có thể sống ngoài hư không hay cắt một mảnh hư không từ chỗ này
đem đến chỗ khác vì tính chất của hư không là bao trùm, thể
của nó rộng lớn đến độ không có biên giới, ngằn mé. Cũng thế, chân lý cũng
có cái thể bao trùm và rộng lớn như vậy. Không ai có thể đem chân
lý ở thế giới này sang thế giới khác mà tính chất thật của nó có
thể bị biến đổi. Trong các loài chúng sinh, chân lý được thể hiện dưới
ngôn từ chân tâm.
Cổ Đức đã diễn tả
chân tâm hay chân lý như sau:
Hữu vật tiên thiên
địa,
Vô hình bản tịch
liêu,
Năng vi vạn tượng
chủ,
Bất trục tứ thời
diêu.
Tạm dịch là :
‘Có một vật trước
trời đất,
Không có hình tướng,
vốn rất vắng lặng,
Hay làm chủ muôn
loài,
Không thay đổi theo
bốn mùa’.
Nói là tạm dịch vì
hai chữ ‘Hữu vật’ được dịch là ‘Có một vật’. Hiểu theo chân
đế thì nói ‘Có một vật’ đã là không đúng lẽ thật. Lục Tổ Huệ
Năng đã trực ngộ được chân lý cũng phải nói ‘Bản lai vô nhất vật’.
Vậy thì cái ‘Hữu vật’ và cái ‘Vô Nhất Vật’ ở đây chỉ có thể dùng tuệ
giác mà trực ngộ. Đi xa thêm nữa, chúng ta sẽ mắc vào cái lỗi ‘vạch lá
tìm cành’.
Chữ đạo trong
hai chữ thành đạo chính là chân lý hay chân tâm của
chúng sanh muôn loài.
Còn chữ thành
là thế nào? Cũng như Thầy đã giảng về chữ đạo, chữ thành ở đây không phải
là một sự tạo tác mà có hay do một cuộc tìm kiếm mà thấy, như người ta vẫn
thường nói : "Đi tìm chân lý". Nói đi tìm chân lý hay đi cầu đạo chỉ để
diễn tả cái quyết tâm tu hành, học hỏi, thiền định, quán sát để trí tuệ có
thể trực nhận được chân lý, trực ngộ được đạo. Tổ Vĩnh Gia đã nói : "Khi
còn đi tìm thì biết ông không thấy". Sau này, Thái Tử Tất Đạt Đa cũng phải
mất một thời gian dài "đi tìm" và đi "cầu đạo" từ các bậc thầy rồi cũng
không tìm ra chân lý, đành phải quay về quán sát những cái mình đã ‘sẵn
có’ bên trong mà đạt được giác tánh.
Vậy thành đạo
không phải là tìm ra chân lý như chúng ta thường nghĩ. Vì Chân Lý vốn
sẵn có khắp mọi nơi, trong mọi loài chúng sinh hữu tình và vô tình; nên
không cần phải đi tìm mà chỉ cần Biết và Thấy (Đức Phật gọi là
Tri Kiến) được nó mà thôi. Bên trong chúng ta vốn đã sẵn có chân lý,
tức là chân tâm. Nếu chúng ta đi tìm tức là đi tìm kiếm một
cái gì ở bên ngoài thì càng ngày ta càng rời xa cái chân lý bên trong
chúng ta. Như vậy làm sao mà thấy được ? Vậy Đức Thích Ca thành đạo là
thành như thế nào?
Lịch sử Phật giáo
chép rằng sau khi Thái Tử Tất Đạt Đa đã học hết sở học của hai vị Thầy lỗi
lạc đương thời là đạo sĩ Alamara Kalama và Uddaka Ramaputa mà vẫn chưa
thấy được chân lý, Ngài bèn quay trở về tìm về cái ở bên trong
và sau thấy được chân lý. Vậy chữ thành ở đây, chúng ta phải hiểu
là Đức Phật đã trực ngộ được cái chân lý sẵn có bên trong của Ngài
và đã hòa tan (thể nhập) cái Biết của Ngài vào cái Chân lý bên
trong cũng như bên ngoài.
Thật ra chân lý không
có biên giới (như hư không) nên không có bên trong và bên ngoài. Và khi đã
thể nhập được cái biết (tâm) của Ngài cùng với chân lý thì lúc đó
Ngài chính là chân lý và chân lý cũng chính là Ngài. Đối với Ngài, cũng
như với hư không, không có một trạng thái nào, một hiện tượng nào còn làm
ngăn ngại cái biết và cái thấy của Ngài.
Trong lịch sử, người
ta viết: ‘Trong đêm thành đạo, vào canh một, Ngài đắc được thiên nhãn minh
và đã thấy được tam thiên đại thiên thế giới. Hào quang (tuệ giác
và tuệ nhãn) của Ngài đã phóng suốt hằng hà sa quốc độ của chư Phật mười
phương. Theo ý Thầy, diễn tả cái minh như vậy cũng còn là hạn cuộc,
tuy nhiên, ngôn ngữ thế gian cũng không còn chữ nào khác hơn để diễn tả
chữ minh (là sự sáng suốt). Quý vị muốn thâm nhập cái đạo ở
đây, thì đừng lầm thiên nhãn minh với thiên nhãn thông (một trong sáu
phép thần thông). Sử dụng thần thông thì phải vận dụng tới lực để phát
khởi, như vậy là động. Còn minh là sự sáng suốt, trí tuệ.
Sự sáng suốt ấy bao
trùm vũ trụ (tiếng nhà Phật còn gọi là tròn đồng thái hư), không
ngăn ngại; trí tuệ hòa nhập với mọi Pháp nên vạn Pháp tự hiện bày, nên cái
biết và thấy thấu suốt, vắng lặng. Đặc tính của minh là ‘tĩnh
lặng’, còn động tức là còn vọng, không thể đạt được minh. Tâm
không dấy khởi một niệm mà tam thiên thế giới đều tự hiện bày. Đó là trạng
thái thể nhập ‘bất khả tư nghì’ vào hiện tượng của vũ trụ. Thời Đức Phật
còn tại thế, nói tới một thế giới khác ngoài trái đất, đã là một chuyện
"hoang đường", huống chi là nói tới hằng hà sa thế giới khác.
Sau khi Đức Phật hòa
nhập vào chân lý của vũ trụ, qua canh ba, Ngài lại thể nhập vào sự sáng
suốt để biết và thấy được mạng sống tiền kiếp liên tục từ vô
thỉ, của chính Ngài và của chúng sanh trong vòng luân hồi và nguyên nhân
tái sanh của những kiếp sống đó cũng tự hiện bày trước tuệ giác và tuệ
nhãn của Ngài, giống như một người đứng trên lầu cao, nhìn xuống ngã tư
đường và thấy người đi lên Bắc, kẻ xuống Nam, người rẽ phương Đông, kẻ
quẹo phương Tây. Lịch Sử nói giây phút đó, Ngài đã thể nhập vào chân lý
của thế giới nhân sinh và đắc túc mạng minh.
Qua canh năm, thì tất
cả trạng thái phiền não, vọng tưởng, hiện tượng ngăn ngại dầu nhỏ như hạt
bụi trong không khí đều được thanh lọc khỏi tâm của Ngài. Tâm thể của Ngài
không một mảy may vẩn đục. Lúc đó, Ngài đã được cái tuệ giác thứ ba : Lậu
Tận Minh.
Vừa lúc đó, sao Mai
vừa ló dạng. Đức Thích Ca đã hoàn toàn thể nhập vào chân lý của vũ trụ,
nhân sinh và đã trở về với Tâm Thể Bản Nhiên rỗng suốt, vắng
lặng và đắc đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Từ giây phút
đó, Ngài là vũ trụ, Ngài là nhân sinh, Ngài là ánh sáng. Một ánh sáng kỳ
diệu vắng lặng và chiếu rọi, không còn ngăn ngại. Ngài đã đạt được trí tuệ
của Bậc Toàn Tri, Toàn Giác. Tâm thể của Ngài đã trở về với cái tâm
Ngài đã có sẵn, trong suốt như lưu ly và vắng lặng như hư không. Chư Phật,
chư Thiên, các hàng Thiên Long Bát Bộ đều rung động phóng hào quang, trổi
nhạc Trời, rải mưa hoa, ca ngợi và tắm gội trong cái yến sáng giác ngộ kỳ
diệu của một vị Phật vừa thành tựu đạo quả Vô Thượng.
Đó cũng là cái ý
nghĩa mà chúng ta phải thâm nhập của buổi Lễ Kỷ Niệm hôm nay. Báo thân và
hóa thân của Đức Phật tuy không còn tại thế, nhưng pháp thân Tỳ Lô Giá Na
của Ngài vẫn hằng tỏa yến sáng che chở và chiếu rọi cho chúng sanh muôn
loài. Chúng ta làm lễ kỷ niệm sự thành đạo của Ngài, phải làm với tâm
nguyện được tắm gội trong cái yến sáng đó, nương nhờ hào quang của chân lý
đó mà phát huy được tuệ giác sẵn có trong chúng ta, như Ngài.
Sau khi đã giảng yếu
lý của hai chữ thành đạo, bây giờ Thầy sẽ nói về tám tướng dẫn tới sự
thành đạo mà Đức Thích Ca đã thị hiện. Chúng ta phải ôn lại lịch sử cuộc
đời của Đức Thích Ca và tìm xem tám tướng thị hiện ấy là những tướng gì và
tìm hiểu cái ‘Ý’ mà Đức Phật muốn giáo hóa trong khi thị hiện tám tướng
đó.
Trước hết,
ta hãy tìm hiểu tại sao chư Phật lại phải dùng Tướng Thị Hiện?
Cái chân lý mà Đức
Thích Ca cùng Chư Phật đã thể nhập (thành tựu đạo quả Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác), như Thầy đã giảng ở trên, vốn đã sẵn có ở bên
trong chư Phật, mà cũng có bên trong chúng sanh muôn loài. Mục
đích của sự thị hiện là chỉ cho chúng sanh đều có khả năng thành tựu đạo
quả như chư Phật. (Kinh : Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng.
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn ...) Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni,
trong vô lượng kiếp xa xưa, trước khi thị hiện hóa thân Thái Tử Tất Đạt
Đa, có thể cũng đã là một vị Phật ở thế giới Vô Thắng.
Trong Kinh Đại Bát
Niết Bàn, Đức Phật đã nói: ‘Này Thiện Nam Tử! Về Phương Tây cách
cõi Ta Bà này bốn mươi hai hằng hà sa cõi Phật, có thế giới tên là Vô
Thắng. Những sự trang nghiêm, xinh đẹp trong cõi đó đều bình đẳng như cõi
Cực Lạc, như cõi Mãn Nguyệt. Hiện tại Ta xuất hiện trong cõi Vô Thắng đó.
Vì hóa độ chúng sanh nên Ta thị hiện chuyển pháp luân nơi Diêm Phù Đề này
....’
Hai ngàn năm trăm năm
trước đây, tại cõi thế giới Ta Bà, chúng sinh đã phải chịu nhiều đau khổ
vì đã quên mất chân lý, chân tâm hằng hữu trong thân mình. Nhiều tôn giáo
thờ ma, thờ thần, thờ quỷ đã ra đời làm tay sai cho dục vọng của Ma Vương
Mara, dẫn dắt con người đi sâu vào đường ác như : Sát hại sinh linh làm
vật tế thần, không có tình nhân đạo, thiếu đạo đức; nói năng lếu láo,
không đúng sự thật, suy nghĩ viễn vông, hại mạng người, hại mạng vật để
thỏa mãn dục vọng của mình. Cái thể tánh vốn trong sáng (chân tâm),
càng ngày càng bị bao phủ bởi những giáo điều bí ẩn đó nên càng ngày, con
người càng bị đắm chìm trong sông mê bể khổ, lên xuống trong sáu nẻo luân
hồi, không có hy vọng gì giải thoát.
Vì lòng thương xót
chúng sanh, như mẹ thương con đỏ, nên Ngài phải thị hiện xuống cõi Ta Bà
đầy uế trược này để cứu độ, để chỉ dẫn cho chúng sanh 1 nẻo ra. Trong Túc
Sanh Truyện, Đức Thích Ca đã kể lại chuyện tiền thân của Ngài, lúc lên khi
xuống trong luân hồi. Ngài đã quá thấu rõ những khổ đau của sanh tử trong
khi Ngài vẫn thường tinh tấn tu Đạo Bồ Tát. Dù đã được Đức Phật Nhiên Đăng
thọ ký sau này thành Phật, hiệu Thích Ca Mâu Ni, nhưng không vì thế mà
Ngài buông lãng sự tu hành. Trong tiền thân, dù trong dạng thân người,
Trời, hay súc sanh v.v... Ngài vẫn không hề quên phát Tâm Bồ Đề
"Thượng cầu Phật Đạo, hạ hóa chúng sanh" cho nên dầu đắc quả Phật,
Ngài cũng không đành an trụ nơi quốc độ Vô Thắng, mà đã trở về Đâu Xuất
Nội Điện với báo thân Bồ Tát Hộ Minh, rồi giáng trần cứu độ chúng sanh.
Chỉ vì lòng thương
xót chúng sanh mà chư Phật trong quá khứ cũng đã từng dùng tướng thị hiện
xuống thế gian, như Ngài, để cứu độ muôn loài, khai thị cho chúng sanh
biết rằng Phật và chúng sanh đều có đồng một thể tánh, nhưng chỉ vì một
vọng vô minh bất giác, phải chịu trầm luân trong sinh tử luân hồi. Trong
mỗi tướng thị hiện của Phật đều ẩn dụ phương thức giáo hóa chúng sanh tu
hành để trở về được với cái Phật tâm, Phật tánh sẵn có của mình.
Bây giờ
chúng ta trở lại với tám tướng thị hiện thành đạo của Đức Từ Phụ Thích Ca.
Ở mỗi tướng, Thầy sẽ nói về cái lý ẩn dụ cho sự thành đạo. Quý vị cần tư
duy và hiểu cho được những ẩn dụ đó; nếu không thì chỉ thấy một bài học ôn
về lịch sử Đức Phật mà chẳng thâu hoạch được chút lợi lạc nào cho công phu
tu hành của quý vị.
1. Đâu Xuất Lai Nghi
Tướng
nghĩa là tướng thị hiện từ cung trời Đâu Xuất giáng trần : Lịch sử Phật
giáo Bắc tông chép rằng : ‘Hoàng Hậu Ma Da, một hôm ngủ trưa, nằm mộng.
Trong giấc mộng, Hoàng Hậu thấy một vị Bồ Tát cưỡi con voi trắng sáu ngà
từ trên trời bay xuống, len vào hông bên hữu của bà. Hoàng Hậu giật mình
thức giấc và cảm thấy mình thọ thai’. Ta hãy tìm hiểu những dấu hiệu tượng
trưng cho sự đạt đạo trong tướng thị hiện thứ nhất :
a. Là một vị Thập Trụ Bồ Tát, xuống trần để thực hiện lời
nguyện ‘Hạ hóa chúng sanh’ nên Ngài phải thị hiện dưới hóa thân phàm phu
như chúng sanh loài người. Nhưng vì đã chứng đắc đạo quả nên Ngài có được
pháp du hý thần thông, tự do lựa chọn cha mẹ thế gian, và nhân duyên sự
lựa chọn này là Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Da đã từng là phụ mẫu của
Ngài trong nhiều kiếp.
b. Ngài đã hóa hiện
Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà để giáng trần. Voi trắng tượng trưng cho
bạch tịnh nghiệp, Ngài giáng trần vì lời nguyện của một vị Bồ Tát đắc đạo.
Nghiệp của Bồ Tát đã hoàn toàn thanh tịnh, trong trắng như đóa bạch liên
hoa, không phải như phàm phu tái sanh do nghiệp dẫn dắt. Voi có sáu ngà
tượng trưng cho hạnh tu lục độ đã đầy đủ. Bồ Tát giáng sanh đầy đủ lục độ
vạn hạnh để sau này sẽ thành đạo, cứu độ muôn loài. Người đời sau đã ca
tụng sự giáng trần của Bồ Tát như sau :
Ma Da mộng ứng niềm
hoan lạc,
Voi trắng quỳ dâng
đóa bạch liên,
Âm nhạc bốn phương
lừng cát địa,
Vang lời chúc tụng
hội quần tiên,
Giáng sanh ngày ấy
không xa nữa,
Là một tin vui khắp
mọi miền.
Chiếu rạng tưng bừng
xua bóng tối,
Rồi đây sẽ có đạo
vàng thiêng
c. Vậy
tướng thị hiện thứ nhất là tướng hồi nhập Ta Bà của Bồ Tát Hộ Minh. Vì
lòng thương xót chúng sanh nên phải thị hiện làm thân chúng sanh mà cứu
độ. Lòng thương xót chúng sanh là tâm đại từ đại bi của Bồ Tát. Chúng ta
tu theo đạo Ngài, cũng thọ Bồ Tát Giới như Ngài thì cũng phải thực hành
cái hạnh của Ngài mà đem tâm đại từ đại bi trải khắp cho những người đang
đau khổ chung quanh chúng ta; và thương xót cứu độ đến những chúng sanh,
vì nghiệp sâu dày, còn đang phải mang thân súc sanh quả báo. Bồ Tát Hộ
Minh trong tiền thân đã nhiều lần bố thí cả tài sản, vợ con và thân mình
để cầu Phật đạo nên Ngài mới được thành Phật. Chúng ta cũng phải cố gắng
theo được cái hạnh Bồ Tát vì Bồ Tát là nấc thang cuối cùng phải vượt để
trở thành Phật.
2. Lâm Tỳ Ni Viên Thị
Hiện Đản Sanh Tướng,
nghĩa là tướng thị
hiện ra đời tại vườn Lâm Tỳ Ni :
Sử chép rằng: ‘Khi
sắp đến ngày nở nhụy khai hoa, theo tục lệ quốc gia, Hoàng Hậu Ma Da phải
trở về quê cha mẹ mình để chờ ngày sanh nở. Trên đường về, Hoàng Hậu ghé
qua nghỉ ngơi tại khu vuờn hoa Lâm Tỳ Ni. Đương khi ấy, Hoàng Hậu thấy có
cây Vô Ưu, tuy không phải đúng mùa, mà lại trổ đầy hoa tươi ngát (tương
truyền rằng cây Vô Ưu mấy ngàn năm mới trổ hoa một lần và chỉ trổ hoa khi
có Thánh Nhân ra đời), vừa giơ tay lên hái thì Hoàng Hậu lâm bồn, hạ
sanh một hoàng nam từ hông bên phải.
Theo truyền thuyết
Bắc Tông, khi Thái Tử giáng sanh, nhạc trời trổi vang lừng. Có chín con
rồng xuất hiện trên không trung phun nước xuống tắm cho Thái Tử. Tắm xong,
Thái Tử đột nhiên lớn hẳn lên như một cậu bé 4, 5 tuổi và bắt đầu bước đi
về bốn hướng : Đông, Tây, Nam, Bắc. Mỗi hướng 7 bước, đoạn trở lại trung
tâm, tay trái chỉ lên trời, tay phải chỉ xuống đất và nói: "Thiên
Thượng, Thiên Hạ, Duy Ngã Độc Tôn". Nói xong, Thái Tử lại trở về hình
thể của một trẻ sơ sinh và cũng không biết nói. Đời sau có hai câu thơ ca
tụng Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Da như sau:
Thánh Ma Da mộng ứng
điềm lành,
Vua Tịnh Phạn phước
sinh con thảo.
và ca ngợi tướng thị
hiện phi thường tại vườn Lâm Tỳ Ni :
Người cao quý trong
người cao quý,
Nguyện ra đời dốc chí
độ sanh,
Mỗi phương bảy bước
du hành,
Muốn đem diệu pháp
chỉ rành quần sanh.
Đường giác ngộ đinh
ninh dặn bảo,
Cảnh niết bàn tiếng
thảo khuyên sang,
Như Lai chí nguyện
đưa đàng,
Thế nên quán sát chu
toàn bốn phương.
Gần 20 năm muộn màng, Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Da mới
sanh được một Thái Tử có nhiều tướng quý, lạ, như vậy thì lòng nên rất vui
mừng. Lịch sử Nam tông chép rằng : Khi Thái Tử vừa được 5 ngày, Vua Tịnh
Phạn có tổ chức một buổi lễ đặt tên cho Thái Tử, được gọi là lễ Quán Đảnh.
Trước khi lễ Quán Đảnh được tổ chức, có một vị Đạo Sĩ già, tên là A-Tư-Đà
(Asita), vốn rất thân cận với nhà Vua, đang tu luyện trên núi Hy Mã Lạp
Sơn; hay tin bèn xuống núi xin hoàng gia cho phép được thăm Thái Tử.
Khi Thái Tử được bồng ra trước đạo sĩ A-Tư-Đà thì trước sự
ngạc nhiên của mọi người, Thái Tử xoay người và đặt hai chân lên đầu Đạo
Sĩ lúc đó đang ngồi trên một chiếc ghế bên cạnh Vua. Đạo Sĩ A-Tư-Đà vội
đứng dậy, chắp tay xá Thái Tử và tiên tri rằng về sau Thái Tử sẽ trở nên
một vĩ nhân cao quý của nhân loại. Trong Lễ Quán Đảnh, có 108 Đạo Sĩ Bà La
Môn được mời tới. Các Đạo Sĩ đều tiên tri về sau, Thái Tử, nếu làm Vua, sẽ
là một vị Vua vĩ đại nhất trong lịch sử; nếu Thái Tử xuất gia làm đạo sĩ
Bà La Môn, Ngài sẽ là một đạo sĩ cao quý nhất trên thế gian. Chỉ riêng có
một Đạo Sĩ trẻ tuổi nhất, đã khẳng định : Thái Tử nhứt định sẽ từ bỏ gia
đình, ngôi vị, xuất gia và sẽ trở thành một vị Phật...’
Đó là
những truyền thuyết lịch sử. Chúng ta hay thử phân tích những tướng Thị
Hiện Đản Sanh có những dấu hiệu gì tượng trưng cho sự thành đạo của Đức
Phật.
a.
Trước hết là những truyền thuyết về lịch sử của cả Bắc Tông và Nam Tông.
Đã gọi là truyền thuyết thì đó là những câu truyện được lưu truyền bằng
miệng, từ đời này qua đời khác. Dù có vẻ "hoang đường" nhưng vì sự lưu
truyền lâu đời mà người ta chấp nhận như một truyện lịch sử có thật. Cũng
như truyền thuyết về lịch sử của dân tộc Việt Nam chúng ta với sự tích Con
Rồng, Cháu Tiên; Lạc Long Quân và Âu Cơ sanh ra một bọc trứng nở một trăm
con; truyện Sơn Tinh và Thủy Tinh, v.v... Theo Đạo Phật, mặc dầu sau này
Đức Phật luôn luôn bác bỏ những chuyện mê tín, dị đoan, sùng bái thần quỷ,
không được xây dựng trên căn bản nhân quả; nhưng Ngài lại xác nhận những
khả năng thần thông, bất khả tư nghì, khi người tu hành đã thanh tịnh đến
mức hoàn toàn dứt sạch các vọng tưởng và làm hiển lộ được chân tâm.
Ở đây, chúng ta hãy tạm bỏ vấn đề suy luận tin hay không
tin những truyền thuyết mà chỉ xét nghiệm các hiện tượng trong tướng thị
hiện đản sanh, được ghi chép trong lịch sử để rút ra những ẩn dụ cho sự
thành đạo mà Đức Phật muốn để lại làm phương tiện giáo hóa chúng sanh.
b. Cũng như khi Ngài
thị hiện giáng trần, nhập vào thai tạng của Hoàng Hậu Ma Da. Sự cấn thai
của Hoàng Hậu, không giống như sự cấn thai của những người đàn bà trên thế
gian. Hoàng Hậu đã nằm mộng thấy một vị Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà bay
xuống ẩn vào hông bên hữu và kết thai. Tới ngày sanh nở, nhân giơ tay với
cành hoa Vô Ưu mà Thái Tử được sanh ra, cũng từ hông bên hữu (không qua
sản môn như những bà mẹ bình thường sanh con). Lối nhập thai và xuất
thai này chứng tỏ Bồ Tát có đầy đủ thần thông tự tại, lựa chọn ngày giáng
trần, nơi chốn, thời gian v.v... Sự nhập thai và xuất thai đều thanh
tịnh; mặc dầu có cha mẹ nhưng lại không do sự kết hợp của tinh cha huyết
mẹ.
Hơn nữa sau này, khi
trở về thành Vương Xá hóa độ cho Vua Tịnh Phạn và Hoàng tộc, đức Phật đã
hướng dẫn đệ tử đi trì bình như thường lệ. Vua Tịnh Phạn rất không hài
lòng, đi thẳng ra đường phố tìm Đức Phật và nói : ‘Này Thái Tử! Sao con nỡ
làm tổn thương thể thống Hoàng Tộc như thế. Cha lấy làm nhục nhã khi thấy
con đi khất thực trong cái thành phố mà thường ngày con chỉ ra đường trên
chiếc kiệu vàng ! Tại sao con nỡ làm nhục cha như vậy?’ Trước sự ngạc
nhiên của Vua Tịnh Phạn, Đức Phật đã điềm tỉnh trả lời: ‘Tâu Đại Vương!
(không gọi bằng cha) Như Lai (không xưng bằng con)
không hề làm nhục Đại Vương. Đúng là thể thống của dòng dõi Hoàng
Gia không bao giờ đi khất thực, nhưng Như Lai đã làm đúng như truyền thống
của chư Phật trong quá khứ, vì đó mới là dòng dõi của Như Lai (xác
nhận thân Bồ Tát thị hiện).
Đó chứng tỏ rằng :
Đức Phật xác nhận việc đầu thai vào gia đình Vua Tịnh Phạn chỉ vì phước
đức của Vua và Hoàng Hậu đã từng là phụ mẫu của Ngài trong nhiều tiền kiếp
(Túc Sanh Truyện). Thân của Bồ Tát giáng trần vốn rất thanh tịnh và đó là
dấu hiệu của sự chứng đạo.
c. Thái Tử là con
Vua, dòng dõi Hoàng Gia, mà Ngài lại ra đời giữa một khung cảnh thiên
nhiên; sau này, khi trở về thế giới của Chư Phật, lại cũng ở trong một khu
rừng hẻo lánh, giữa bốn cây Sa La, thiên nhiên như thế, mặc dầu nơi đó có
rất nhiều tịnh thất, tinh xá đã được chư thiện tín, vua chúa xây cất lên
để cúng dường Ngài và thánh chúng đệ tử của Ngài. Thị hiện đản sanh giữa
thiên nhiên và nhập niết bàn giữa thiên nhiên như thế, ý Ngài muốn nói với
chúng ta cái gì? ‘Như Lai không từ đâu đến và cũng chẳng có nơi nào để
đi’ . Thiên nhiên, vũ trụ, hư không v.v... là nơi thường trú của Ngài
vì Ngài chính là thiên nhiên, vũ trụ, và hư không.
d. Ngay sau khi đản
sanh, Bồ Tát thị hiện bước 7 bước về mỗi phương hướng, tay chỉ trời, tay
chỉ đất mà tuyên bố : ‘Trên trời, dưới đất chỉ có cái Ta (chân
thật) duy nhất là cao quý’. Là người tu hành, quý vị đều hiểu chữ
‘Ngã’ trong câu nói này của Đức Phật là để chỉ cho ‘chân ngã’ và cũng là
‘chân lý’. Khi cái ngã (cái bản ngã hư vọng của phàm phu) đã được hoàn
toàn thanh tịnh, thì nó "thể nhập" được với chân lý và không còn bị giới
hạn bởi không gian và thời gian nữa.
Bản ngã
đã trở về với cái
’thể’ vắng lặng và rỗng không của nó. Nó không chứa đựng bất cứ một
vật gì, nhưng trong bất cứ một vật gì cũng có nó.
Không như ánh sáng mặt trời, mặt trăng, hay đèn. Những thứ ánh sáng ấy đôi
khi còn bị che lấp bởi mây mù hoặc các chướng ngại; ánh sáng của chân ngã
dù bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, bên trong thân, hay ngoài thân, trên suốt
các cõi Trời Hữu Đảnh, dưới thấu các cõi địa ngục A Tỳ, Đông, Nam, Tây,
Bắc, Thượng, Hạ, thập phương chư Phật, chư Bồ Tát quá khứ, hiện tại và vị
lai đều được ánh sáng của chân ngã chiếu tới vì chân ngã là chân tâm và
cũng là chân lý của vũ trụ, nhân sinh.
Chư Phật mười phương
đã nương theo sự thể nhập chân lý bằng trí tuệ ba la mật của chân ngã đó
mà thành đạo (Tam thế chư Phật y bát nhã ba la mật đa cố đắc a nậu đa
la tam miệu tam bồ đề).
3. Tứ môn du hành
tướng,
nghĩa là tướng thị
hiện dạo chơi bốn cửa thành để thấy cái khổ của nhân sinh.
Theo lịch sử thì Thái Tử Tất Đạt Đa đã được nuôi nấng
trong một hoàn cảnh tốt đẹp nhất trong ngôi vị một Thái Tử Đông Cung,
nghĩa là một vị Hoàng Tử được lựa chọn lên ngôi Quốc Vương kế vị Vua Cha.
Từ nhỏ, Thái Tử đã là một cậu bé phi thường, rất khỏe mạnh và khôi ngô,
tuấn tú. Quốc Vương Tịnh Phạn đã cho vời tất cả các học giả lỗi lạc, danh
tiếng nhất nước, trong mọi lãnh vực kiến thức, vào cung dạy Thái Tử về Văn
Học, nhưng chỉ một thời gian ngắn, các vị giáo sư đều xin rút lui vì không
còn đủ sức để chỉ dạy Thái Tử. Trình độ lãnh hội của Thái Tử đã làm cho
các vị Thầy phải kinh ngạc. Không những Thái Tử đã thâu thập được tất cả
kiến thức của các vị ấy mà sự suy luận đã vượt xa khả năng của các bậc
Thầy. Về võ học cũng thế, Ngài đã trở thành một cao thủ tuyệt luân, ít
người dám sánh.
Một ngày kia, nhân buổi lễ Hạ Điền của Vương Quốc, Thái Tử
vừa 7 tuổi, được theo Vua Cha ra khỏi thành để tham dự buổi lễ khai khẩn
đất ruộng cho mùa lúa mới. Không như những Vương Tử, Vương Tôn khác, dịp
ra ngoài đồng ruộng là để chạy nhảy nô đùa cho thỏa thích; Thái Tử Tất Đạt
Đa, ngược lại, đã lặng lẽ theo sát bên Cha để quan sát lễ Hạ Điền. Khi
những lưỡi cầy vừa xới tung lớp đất mầu mỡ, đồng thời làm tổn hại nhiều
sinh trùng, chúng đang đau đớn quằn quại, thì một đàn chim quạ, chim sáo
xà xuống, tranh nhau mổ nuốt, cắn xé những thân trùng bé nhỏ vô tội kia;
nhiều con bị cắp lên những ngọn cây để nuôi những con chim nhỏ. Xa xa ven
rừng, người thợ săn sẵn sàng giương cung tên bắn hạ những con chim đang
say sưa thưởng thức món ăn bổ béo. Sau những người thợ săn, lảng vảng vài
bóng cọp beo đang rình bắt họ.
Một bức tranh sống
động, hỗn tạp của tham sân, mạnh hiếp yếu, đảo điên khiến Thái Tử quặn lên
mối cảm hoài xót thương cho các loài chúng sanh, vì chỉ bîết bảo vệ cái
sống của riêng mình mà sát hại lẫn nhau một cách tự nhiên. Thái Tử lặng lẽ
rời bỏ đám đông, tới một gốc cây, xếp chân ngồi trong tư thế tọa thiền, tư
duy về sự đau khổ của kiếp nhân sinh. (Lịch sử Phật giáo ghi rằng Thái
Tử đã nhập Sơ Thiền trong lúc này). Khi buổi lễ Hạ Điền chấm dứt, Quốc
Vương nhìn lại quanh mình, không thấy Thái Tử, bèn cùng các cung nữ, và
quần thần tìm kiếm. Tới gốc cây, thấy Thái Tử đang ngồi yên lặng, đôi mắt
đăm đăm hướng về một phía xa xăm hầu như không nhìn thấy Quốc Vương và
quần thần đang tới đứng trước mặt, Vua Tịnh Phạn thoạt nhìn con đang trầm
ngâm như vậy, sanh lòng cung kính cúi đầu xá Thái Tử, và lo lắng liên
tưởng đến lời tiên tri của vị Đạo Sĩ trẻ tuổi Kiều Trần Như trong buổi lễ
Quán Đảnh năm xưa, e ngại điều đó có thể sẽ trở thành sự thực.
Từ đó, nhà Vua cho
xây thêm ba cung điện nguy nga, mục đích để giam chân thái tử trong lầu
vàng điện ngọc, cung phi mỹ nữ. Suốt ngày đêm, từ lúc Thái Tử thức giấc
cho đến khi đi ngủ, các trò chơi giải trí, đờn địch, ca múa vang lừng.
Không một cảnh khổ nào của con người hay con vật được phép xuất hiện trước
mắt Thái Tử. Năm 16 tuổi, Thái Tử lại được Vua Cha hỏi cưới Công Chúa Gia
Du Đà La, một giai nhân tuyệt sắc, mà cũng là em họ của Thái Tử, về làm vợ
để cầm chân Thái Tử, vì hạnh phúc luyến ái là một trong những thú vui dục
lạc và ràng buộc cõi thế gian. Nhưng đến một ngày kia, Thái Tử du ngoạn
ngoài thành để thăm dân cho biết sự tình.
Trên đường đi, trước khi xe của Thái Tử tới, người ta đã
phải dàn ra những cảnh vui tươi, sung sướng, che dấu tuyệt đối sự thật khổ
não của con người, nhưng như một phép lạ xuất hiện, từ đằng sau những thân
hình xinh tươi của các nàng vũ nữ đang ca múa đón tiếp Thái Tử, một thân
hình gầy gò, lưng còng, lẩy bẩy trên cây gậy, từ từ tiến ra phía trước xe.
Trông thấy hình ảnh
lạ lùng của một người như vậy, Thái Tử bèn hỏi Xa Nặc, người phu xe trung
thành, và được biết đó đó là hình ảnh biến chuyển của một người đến tuổi
già nua. Thái Tử càng ngạc nhiên hơn nữa khi được biết rằng, rồi đây chính
Thái Tử cũng sẽ phải tới cái tuổi già như vậy. Vua Cha và nàng Gia Du Đà
La xinh đẹp của Thái Tử cũng không tránh khỏi cái cảnh tàn úa của cái tuổi
về chiều như thế. Thái Tử ra lệnh cho xe quay về hoàng thành, những cảm
giác thoải mái của cuộc du ngoạn đã bị hình ảnh run rẩy, tàn tạ, khổ đau
kia thay thế và làm vướng bận, dày vò trong tâm.
Sau đó ít lâu, Thái
Tử lại được phép du ngoạn qua các cửa thành khác và dù quan quân có cẩn
thận thế nào đi nữa, thì tại cửa thành phía Nam, lại có một người quằn
quại, rên la đau đớn vì bệnh hoạn. Rồi tại cửa thành phía Tây, một cái
xác của một người vừa chết, nằm lăn lóc như khúc củi mục, bay quanh loạn
xạ là một đàn ruồi tranh nhau rúc đậu lại hiện diện trước mắt Thái Tử.
Ngao ngán hơn nữa là
Thái Tử lại được chỉ cho rằng : Những trạng thái đó rồi cũng sẽ tới với
chính Thái Tử, với Vua Cha hiện đương oai vệ, và với nàng Gia Du Đà La sắc
nước hương trời và với tất cả mọi người, mọi loài làm xốn xang lòng Thái
Tử. Một ngày kia, tại cửa thành phía Bắc, Thái Tử nhìn thấy một vị Sa Môn,
uy nghi, bình thản, bước khoan thai nhẹ nhàng thoải mái. Một uy lực siêu
thoát tỏa ra từ vị ấy làm cho bầu không khí chung quanh và cho chính Thái
Tử sự tươi mát, an lạc, hiền lành như nụ cười hàm tiếu nhẹ điểm trên môi
của vị ấy khi đi ngang qua trước xe của Thái Tử. Ngài bỗng thấy như mình
bị thu hút theo hướng đi của Vị Sa Môn.
Kể từ giây phút ấy,
Thái Tử gần như đã tìm thấy một con đường hạnh phúc, một hướng đi. Ý nghĩ
lìa bỏ ngai vàng đîện ngọc, địa vị và sự ràng buộc tình ái đã bắt đầu nhen
nhúm trong lòng Thái Tử ...
Trong tướng thị hiện
thứ ba này, chúng ta thấy cái nhân Bồ Tát mà Bồ Tát Hộ Minh đã gieo
trồng, và tu tập trong nhiều kiếp đã trở lại dần dần và kết trái trong
tâm của Thái Tử Tất Đạt Đa. Tuy còn niên thiếu và được nuôi dưỡng trong
môi trường cực sung sướng của một Thái Tử Đông Cung, nhưng Bồ Tát đã sớm
nhận thức được cái cảnh khổ mà nhân sanh phải chịu qua sanh, lão, bệnh,
tử. Thật là :
Cảnh sanh già bệnh
chết gian truân,
Luống chịu khổ không
ngừng gây khổ,
Mê chấp tánh tham,
sân, tật đố,
Mãi cùng nhau vầy ổ
oan gia,
Nợ trần, hoàn vay trả
không xa...
Ngọn lửa đại từ, đại
bi, thương xót muôn loài chúng sanh đang mê muội, không người khai sáng,
chỉ lối giải thoát, mà cứ mãi đắm chìm trong những kiếp vô minh, từ đời
này qua đời khác đã nung nấu trong lòng vị Hoàng Thái Tử.
Không như những vị Vương Tử, Vương Tôn khác, lấy thú vui
săn bắn, hại mạng sinh linh làm trò giải trí, và lịch sử chép rằng : Cũng
vào thời niên thiếu, Một hôm Thái Tử đang trầm ngâm tản bước trong ngự
viên, chợt một con ngỗng trời sa xuống trước mặt Thái Tử, rên xiết trong
đau đớn, vì bị mũi tên oan nghiệt xuyên qua cánh. Thái Tử vội ôm ngỗng lên
quán sát và rút tên khỏi cánh ngỗng. Đoạn lấy áo choàng quấn ngỗng, định
đem về cung chữa trị vết thương, thì vương tử Đề Bà Đạt Đa, em họ Thái Tử,
chạy tới, tay còn cầm cung tên và đòi lại con ngỗng vừa bị Y bắn hạ. Thái
Tử nhất định không trả lại con ngỗng và việc tranh chấp giữa hai anh em,
sau cùng phải đưa đến trước Vua Tịnh Phạn và triều đình.
Sau một hồi lâu bàn
thảo, nhà Vua và quần thần chưa biết quyết định xem con ngỗng nên thuộc về
ai, thì có một vị Đạo Sĩ già từ ngoài bước tới sân rồng, tâu rằng: "Tâu
Đại Vương! Tất cả mọi chúng sanh, loài nào cũng tham sống và cố gắng gìn
giữ mạng của mình; con ngỗng cũng thế; do đó con ngỗng phải thuộc về người
đã "bảo vệ" mạng sống cho nó. Xin Đại Vương đừng trao nó cho một kẻ chủ
tâm "sát hại" nó. Và như thế là con ngỗng được triều đình quyết định trao
cho Hoàng Thái Tử Tất Đạt Đa.
Trong câu chuyện này
ta có thể nhìn rõ cái Tâm Từ Bi thương xót chúng sinh, dù đó chỉ là loài
súc sinh của Thái Tử. Sau khi thành đạo, giáo lý của Đức Phật dạy chúng
sinh muôn loài đều Bình Đẳng (đều tham sống sợ chết), và
điều đó Đức Phật luôn luôn nhắc nhở các đệ tử cũng như những người quy y
theo Ngài. Các điều khổ không thể phủ nhận là Sanh, Lão, Bệnh, Tử được Đức
Phật chỉ rõ trong chân lý Tứ Diệu Đế (Khổ Đế, Tập đế, Diệt đế, và Đạo
đế). Tâm đại từ đại bi trở thành giáo lý Tứ Vô Lượng Tâm trong pháp tu
Bồ Tát Đạo, một giáo lý nền tảng để đạt thành Phật quả. Chúng ta là người
xuất gia, mong cầu đạo quả Phật, không thể không phát tâm của Bồ Tát :
‘Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh’, vì tâm từ bi là con đường
chánh nghiệp, chánh mạng dẫn ta trở về với chân tâm.
4. Việt Thành Xuất
Gia Tầm Đạo Tướng,
nghĩa là vượt thành
đi khỏi nhà để tìm chân lý.
Sử chép rằng: Sau khi
du ngoạn 4 cửa thành, Thái Tử đã nhìn thấy chúng sanh trầm luân trong cảnh
khổ khó thoát. Tất cả những cái vui, cái đẹp của thế gian chỉ là tạm bợ,
chỉ xuất hiện trong một thời gian rất ngắn của một kiếp người, vốn đã rất
ngắn. Những hình ảnh yêu kiều của Công Chúa Gia Du Đà La, cũng như của
đoàn cung nữ bao vây chung quanh Thái Tử, hàng ngày đang hiến dâng lên cho
Thái Tử những tiếng hát ngọt ngào, những nụ cười quyến rũ, và điệu múa dịu
dàng, rồi một ngày kia không xa, sẽ trở thành những thân hình tàn tạ vì
bệnh hoạn và rên xiết trong đau đớn. Những làn da tươi mát, mịn màng kia
sẽ trở thành nhăn nhúm, và những thân hình đang căng đầy nhựa sống kia sẽ
còng xuống, run lẩy bẩy rồi cuối cùng sẽ nằm lăn lóc bên đường như cây
khô, củi mục, vô tri vô giác. Tệ hại hơn nữa là chính Thái Tử, một thanh
niên anh tuấn, tài ba lỗi lạc hơn người sẽ cũng không tránh khỏi sự tàn
phá của thời gian và tử biệt. Những lâu đài tráng lệ mà Ngài đang ngự,
một ngày nào đó cũng không tránh khỏi luật thiên nhiên của vòng thành, trụ
dị, diệt. Những ưu tư chán nản đã làm tắt đi, nụ cười vương giả trước
những trò vui ca múa chung quanh.
Hình ảnh khoan thai
tự tại với nụ cười hiền từ an lạc của Vị Sa Môn mà Thái Tử đã gặp nơi cửa
thành phía Bắc mãi vấn vương trong tâm trí. Thái Tử cảm nhận : Ngoài cái
vui giả tạo của cuộc đời, chắc phải có một con đường giải thoát khỏi cái
vòng luẩn quẩn của sanh, lão, bệnh, tử và phải có một nơi chốn mà ở đó
hạnh phúc và an vui sẽ không bao giờ chấm dứt. Nhìn thấy các vị Đạo Sĩ Bà
La Môn, với phong thái tự tại, quần áo giản dị, đến Hoàng Cung và được Vua
Cha cùng quần thần đảnh lễ kính trọng, càng làm phát triển mạnh ý tưởng
xuất gia tìm chân lý vốn đã như một ngọn lửa âm ỷ, nung nấu tâm can Thái
Tử. Nhiều đêm, nghe văng vẳng từ không trung, những lời thúc dục của chư
Thiên :
Ngày nay tuổi đã lớn
rồi,
Sao không nhớ lại
những lời nguyền xưa?
Xin tu chứng đạo chân
thừa,
Trần gian vẩn đục say
sưa làm gì?
Ngài còn lần lựa thế
thì,
Chúng sanh ngu dại ai
vì bảo ban?
Mau mau mở lối Niết
Bàn,
Khêu đèn Trí Tuệ, phá
màn Vô Minh.
Một ngày kia, không còn giữ mãi được sự nung nấu của ý
tưởng xuất gia, Thái Tử đã tâu lên Phụ Hoàng, xin phép rời bỏ gia đình để
đi tìm chân lý cứu mình, cứu người. Vua Tịnh Phạn, đương nhiên, bác bỏ lời
cầu xin của Thái Tử và tuyên bố sẽ thỏa mãn tất cả những gì mà Thái Tử
muốn, trừ việc xuất gia. Do đó Thái Tử tâu lên 4 lời thỉnh cầu và nếu được
thỏa mãn thì Ngài sẽ từ bỏ ý định lìa gia đình đi tìm chân lý. Đó là :
1) Xin cho con trẻ
mãi, không già.
2) Xin cho con khỏe
mạnh mãi, không đau.
3) Xin cho con sống
mãi, không chết.
4) Xin cho con và
thần dân được mãi mãi sung sướng, không bao giờ khổ.
Nghe 4 lời thỉnh cầu
của Thái Tử, Vua Tịnh Phạn đã nổi giận mà phán rằng: "Tất Đạt Đa! Con quả
là điên khùng mất rồi ! Hãy quên những tư tưởng bệnh hoạn và vô lý đó đi
để tiếp tục chuẩn bị lên kế vị cha. Thần dân Ca Tỳ La Vệ đang chờ đón ngày
con trưởng thành và thay cha hướng dẫn họ. Nếu Con muốn xuất gia, hãy đợi
đến khi con già và có người thừa kế". Thái Tử cương quyết: "Tâu Phụ
Vương! Nếu Phụ Vương không thể cứu con khỏi những khổ đau của tuổi già,
bệnh tật, cái chết và những phiền não thì xin Phụ Vương hãy cho phép con
rời khỏi Hoàng Cung để đi tìm sự giải thoát cho con và cho mọi người".
Vua Tịnh Phạn giận dữ, quát lớn: "Hãy canh gác Thái Tử nghiêm mật; các
cửa thành phải luôn luôn đóng chặt, không cho Thái Tử bước ra khỏi hoàng
thành", rồi Ngài phủi áo bước ra khỏi điện.
Thái Tử đành trở về cung điện riêng, và khi bước qua những
hành lang tráng lệ mà lòng càng thêm nỗi chán chường, cho rằng mọi thứ
trần thiết quý báu đó đã được xây dựng bằng những giọt mồ hôi lao nhọc của
đoàn công nhân và sẽ tan hoại một ngày nào đó. Và khi nhìn những cung nữ
tuyệt sắc mà lòng Thái Tử trổi dậy niềm đau, xót thương cho những con
người còn mê muội, không biết rằng ngày mai đây nhan sắc mỹ miều kia sẽ
tàn phai và thân hình sẽ quằn quại trong đau khổ của già nua, tật bệnh.
Tất cả những cảnh tượng xa hoa chung quanh không còn quyến rũ được Thái Tử
nữa. Bấy giờ, Ngài chỉ còn thấy một sự thôi thúc mãnh liệt là phải thoát
ly ra khỏi chốn này để tìm một con đường giải thoát những ràng buộc khổ
đau cho mình và cho nhân loại.
Một đêm kia, có tin
vui là công chúa Gia Du Đà La vừa hạ sanh một Vương Tôn rất khôi ngôi, và
được Vua Tịnh Phạn đặt tên là La-Hầu-La (Rahula). Nghe tin Thái Tử đã
không tỏ vẻ vui mừng như những người Cha khác vừa có con trai đầu lòng,
ngược lại, Thái Tử lại thở dài và thầm than : "Lại thêm một ràng buộc".
Ý tưởng rời bỏ gia đình lại càng thúc giục Thái Tử hơn bao giờ hết, và,
ngay trong đêm ấy, Ngài quyết định rời khỏi hoàng cung.
Kỳ diệu thay, sau bữa
cơm chiều, một năng lực bí ẩn đã làm cho các người phục dịch chung quanh
Thái Tử chìm vào một giấc ngủ li bì. Vương Phi Gia Du Đà La cũng say sưa
ngủ với Vương Tôn La Hầu La còn gối trên tay. Thái Tử bước tới cửa phòng
nhìn người vợ xinh đẹp, và đứa con sơ sinh đang nằm trong lòng mẹ; Ngài
nghĩ rằng: "Ta muốn bồng đứa con yêu quý của Ta lần cuối, nhưng e sẽ
làm Gia Du Đà La thức giấc thì Ta khó mà thoát ly được. Thôi đành! Ta phải
rời khỏi nơi đây trong lúc mọi người còn đang ngủ".
Thái Tử vội vàng rời
khỏi cung điện, xuống chỗ người đánh xe thân tín là Xa Nặc đang say sưa
ngủ, đánh thức hắn dậy và ra lệnh cho hắn thắng yên cương và đem con bạch
mã Kiền Trắc tới cho Thái Tử. Tuy rất ngạc nhiên, nhưng Xa Nặc cũng phải
tuân lệnh, y như lời dạy. Thái Tử lên yên và Xa Nặc ngồi sau lưng, tiến ra
cổng Hoàng Thành, nhưng cửa Hoàng Thành còn đóng chặt, và chú lính canh
đang gục đầu trên ngọn giáo, ngủ vùi.
Thái Tử vỗ về con
ngựa : ‘Kiền Trắc, đêm nay chúng ta phải vượt khỏi bức tường cao kia đang
giam hãm chúng ta. Con hãy cố gắng đưa ta qua bức tường và đừng làm cho
quân canh thức giấc’. Lại thêm một sự kỳ diệu nữa, con ngựa Kiền Trắc cất
vó nhẹ nhàng như bay bổng lên không trung và vượt khỏi bức tường cao, ra
khỏi Hoàng Thành, không một tiếng động. Nhẹ nhàng nhìn Hoàng Cung lần chót
và Thái Tử phát lời thề nguyện: "Nếu Ta không tìm được một con đường
giải thoát mọi đau khổ cho Ta và cho chúng sanh, Ta thề sẽ không bao giờ
trở về Thành Ca Tỳ La Vệ thân yêu này"
Đời sau có thơ nói về
đêm Thái Tử Tất Đạt Đa vượt thành ra đi tìm chân lý như sau :
Lời Xa Nặc hỏi khi bị
Thái Tử đánh thức dậy :
Trời tối nhân gian mờ
mịt quá
Giờ này Thái Tử định
đi đâu?
Thái Tử đáp :
Chính đời mờ mịt nên ta phải,
Đi để tìm ra ánh
nhiệm mầu.
Xa Nặc than :
Ngày mai sẽ có bao
người khóc,
Ly biệt thương Ngài,
nỗi khổ đau.
Thái Tử hứa :
Ta
sẽ trở về khi thấy Đạo
Giải thoát nhân gian
vạn thảm sầu...
Trong Kinh văn cũng
có lời tán thán sự vượt thành xuất gia của Thái Tử như sau :
Thái Tử nhủ từ tâm
lân mẫn,
Quyết hy sinh độ tận
hữu tình,
Đoạn ái ân phú quý
riêng mình,
Chọn lối sống quang
minh vũ trụ...
Đến đây
chúng ta lại suy nghiệm xem trong tướng thị hiện thứ tư này, Đức Phật đã
muốn đem lý đạo giáo huấn nhân loại như thế nào?
a./ Mục đích của Chư
Phật ra đời là chỉ cho chúng sanh (con người) sự tỉnh thức để nhận
rõ rằng cuộc sống tam bợ trên thế gian này là ràng buộc những khổ đau; vì
vô minh tạo nghiệp liên hồi để rồi bị nghiệp dẫn dắt hết kiếp này sang
kiếp khác trong sáu nẻo luân hồi. Người có trí tuệ phải sớm nhận thức được
lý vô thường của cuộc sống. Sanh ra, lớn lên, bệnh hoạn rồi già chết, rồi
lại sanh, lại lớn, lại bệnh, lại già, lại chết, cứ như thế mà không bao
giờ con người có thể làm chủ được những hiện tượng hay quy luật thiên
nhiên ấy. Cái thân không thể mãi mãi thường còn khỏe mạnh như ý mình muốn;
những cảnh vui trên thế gian không phải là hạnh phúc vĩnh cửu. Tiếp theo
nụ cười là nước mắt.
Sau này, khi đi giáo
hóa chánh pháp, Đức Phật đã thí dụ, nước mắt của chúng ta (con người)
từ vô thỉ đến nay còn nhiều hơn nước chứa trong bốn biển. Trong cái
thân phàm phu, Thái Tử Tất Đạt Đa sớm đã thức tỉnh và nhận ra những tướng
vui giả tạo tạm thời như vậy chỉ dẫn tới phiền não và khổ đau, nên Thái Tử
đã cương quyết đi tìm chân lý để giải thoát cho chính mình (Tự độ)
và cho nhân loại (độ tha). Thái Tử cũng sớm nhận ra rằng, những
ràng buộc của gia đình, vợ đẹp, con khôn; những sự giàu sang, uy quyền
vương giả cũng chỉ là những thứ tạm bợ, chướng ngại, phải từ bỏ trước khi
quá muộn. Sự từ bỏ tất cả ràng buộc thế gian, sau này, trong Giáo Lý của
Ngài, gọi là Buông Xả. Thái Tử đã buông xả cái Ta (một Thái Tử
Đông Cung) và cái của Ta (uy quyền, ngai vàng, gia đình v.v...).
Chính nhờ sự buông xả này, đã giúp Ngài thể nhập được vào chân lý như
giáo lý mà Ngài dạy trong Kinh Kim Cương : Buông xả cho đến khi không còn
thấy buông xả, không còn thấy năng, thấy sở, không còn thấy nhân, thấy
ngã, thấy chúng sanh, thấy thọ giả.
b. Theo truyền thuyết thì khi
Ngài quyết tâm vượt thành đi tìm chân lý, Ngài đã được Tứ Thiên Vương ủng
hộ bằng cách làm cho quân canh, thị nữ, cung nhân đều say ngủ và nâng bốn
vó con ngựa Kiền Trắc lên khỏi bức tường thành. Đối với chúng ta, từ bỏ
gia đình và những thú vui thế gian để xuất gia cầu đạo, cũng phải có quyết
tâm, mà cũng không phải ai cũng có thể có cái quyết tâm ấy và có thể xuất
gia được. Thầy tốt, bạn lành trong chốn già lam chính là Tứ Thiên Vương
đối với chúng ta. Đã có lý tưởng (chánh pháp) để tu học, giới luật
để phòng hộ, thầy tốt bạn lành làm thiện tri thức, có vào được chân lý như
Thái Tử Tất Đạt Đa hay không chỉ còn trông cậy nơi chính mình có thối
chuyển hay không mà thôi.
5. Lục Niên Khổ Hạnh
Lâm Tướng,
nghĩa là tướng thị
hiện sáu năm tu khổ hạnh trong rừng già. Kinh sách có câu :
Lục Niên Khổ Hạnh
Thích Ca Tôn,
Ca Diếp hân hoan diệu
lý chơn....
là để nói về tướng
khổ hạnh suốt sáu năm trường, Thái Tử Tất Đạt Đa đã kinh nghiệm để tìm ra
Chân Lý rồi sau này trao tryền cho người đệ tử xứng đánh nhất là Ngài Ma
Ha Ca Diếp. Phật sử chép rằng :
Sau khi rời bỏ hoàng
cung, Thái Tử đã băng rừng tới bên dòng sông Anoma. Tại đây, Thái Tử đã
trao cho Sa Nặc tất cả y phục Hoàng Gia và con ngựa Kiền Trắc đem trả về
cho Hoàng Tộc. Ngài dùng gươm cắt bộ tóc mượt mà và đánh đổi với người
tiều phu, chiếc áo choàng quý giá cuối cùng còn trên người, lấy chiếc áo
vá bạc mầu, rồi từ đó bắt đầu một cuộc đời không nhà cửa, không tiền bạc
của một nhà tu hành khất sĩ.
Ngài đi lang thang trong rừng để tìm kiếm một vị Thầy lỗi
lạc đương thời là Alarama Kalama, đã được các đạo sĩ Bà La Môn giới thiệu.
Chẳng bao lâu, Ngài chứng ngộ và thành đạt cảnh giới Vô Sở Hữu Xứ Thiên
như Thầy, nhưng sự chứng ngộ này không giúp Ngài thấu triệt được những vấn
đề mà Ngài muốn tìm kiếm.
Chưa được toại
nguyện, Ngài từ giã Đạo Sĩ Kalama để đi tìm một Đạo Sư danh tiếng khác. Đó
là Uddaka Ramaputa, nhưng rồi cũng chẳng bao lâu sau đó, Thái Tử đã lại
học hết giáo lý của Ramaputa và đạt được cảnh giới Phi Tưởng Phi Phi
Tưởng. Đây là cảnh giới định cao nhất của Tam Giới (Thiền Vô Sắc),
nhưng Ngài vẫn cảm thấy chưa được hoàn toàn giải thoát. Ngài nhận ra rằng,
trên đời, không còn ai có đủ khả năng để dẫn dắt Ngài ra khỏi vòng vô minh
và ngộ được chân lý tối thượng.
Ngài lại từ giã Đạo
Sĩ Ramaputa và nghĩ rằng: "Hay ta chưa đủ nghị lực để tu khổ hạnh vì đã
bao năm qua Ta đã quen sống trong nhung lụa. Từ nay Ta phải quyết tâm sống
khổ hạnh và quay về tìm trong nội tâm, như Ta đã nhập Sơ Thiền hồi còn
niên thiếu (trong buổi lễ Hạ Điền), may ra Ta có thể tìm ra con
đường giải thoát mọi khổ đau". Ngài đã lang thang đây đó, để tìm ra một
nơi thích hợp cho cuộc sống khổ hạnh. Một ngày kia, tìm được một khu rừng
bên cạnh một giòng sông và Ngài quyết định dừng tại đó để bắt đầu cuộc
sống khổ hạnh.
Khi hay tin Thái Tử
Tất Đạt Đa đã từ bỏ cung điện để ra đi tìm chân lý, Kiều Trần Như, vị đạo
sĩ trẻ tuổi đã tiên tri khẳng định là Thái Tử sẽ rời bỏ ngôi vị đi tìm đạo
và sẽ đắc quả Phật trong buổi lễ Quán Đảnh, cùng với bốn người em họ đi
tìm Ngài để cùng nhau tu học.
Trong khi tu hành,
Đạo Sĩ Cồ Đàm đã không để ý gì đến những đòi hỏi hay những cảm thọ của
thân. Những lúc ngồi tọa thiền hết giờ này qua giờ khác, Ngài cố gắng chịu
đựng sự đau đớn bởi khí huyết không được lưu thông, thêm vào đó, sự ăn
uống lại chỉ có vài hạt mè và những trái cây nhỏ bị gió thổi bay vào lòng
Ngài. Vì thiếu dinh dưỡng, Ngài đã trở nên gầy ốm. Những nét tuấn tú của
vị Thái Tử phong độ đã dần dần biến mất; da đã sạm đen và mất hết sinh
khí.
Phật sử chép rằng,
Ngài đã bị hao mòn đến độ khi sờ vào bụng thì da bụng dính vào cột xương
sống ở sau lưng. Tuy thế, tinh thần Ngài vẫn sáng suốt và tiếp tục chịu
đựng để tu hành. Cứ như thế suốt sáu năm trời, thân thể tiều tụy, khô
đét, sức lực kiệt quệ và cái chết đã gần kề. Lúc ấy Ngài chợt nghĩ :
"Dầu các Đạo Sĩ hay các nhà tu khổ hạnh trong quá khứ đã chịu những
cảm giác nhức nhối, đau đớn dữ dội hay xót xa như thế nào thì cũng chỉ đến
mức này là cùng không thể hơn nữa. Dầu các Đạo Sĩ hay các nhà tu khổ hạnh
trong tương lai sẽ chịu những cảm giác nhức nhối, đau đớn dữ dội
hay xót xa như thế nào thì cũng đến mức này là cùng không thể hơn nữa. Tuy
đã trải qua bao nhiêu khắc khổ, khó khăn và đau đớn mà Ta vẫn không đạt
được điều chi tốt đẹp, xứng đáng với sự giác ngộ cao thượng và trí tuệ
vượt hẳn những trạng thái của loài người. Hay là còn con đường nào khác
dẫn đến sự chứng ngộ cao thượng chăng?"
Nghĩ như vậy xong,
Ngài đã quyết định thay đổi đường lối tu hành. Đường lối lợi dưỡng với tất
cả sự đầy đủ chỉ làm nô lệ cho những đòi hỏi của xác thân. Đường lối khổ
hạnh, như Ngài đã từng kinh nghiệm trong sáu năm vừa qua, chỉ là dày vò
xác thân. Những đau đớn có ảnh hưởng rất nhiều đến phát triển trí tuệ.
Ngài cũng đã khổ hạnh tới mức cùng cực. Vậy thì con đường đưa đến chân lý
phải là con đường thứ ba : Không lợi dưỡng và cũng không khổ hạnh.
Ngài đứng dậy, xuống sông tắm rửa nhưng vì quá yếu nên
Ngài đã té ngã, suýt bị chết chìm. Gắng sức hơi tàn, Ngài quờ quạng lết
vào bờ tịnh dưỡng, thì vào lúc ấy, một người phụ nữ tên Sujata, tay bưng
bát sữa đi vào rừng với mục đích cúng dường bát sữa cho chư thần mà nàng
tin tưởng đã phù hộ cho nàng sanh một đứa con khỏe mạnh.
Thấy một vị Đạo Sĩ
gầy còm, nhưng nét mặt rạng rỡ, đang ngồi bên bờ sông; nàng nghĩ, hẳn đây
là một vị Thần của rừng cây mà nàng đang tìm kiếm. Nàng tiến tới đặt bát
sữa trước mặt vị Đạo Sĩ. Ngài từ từ mở đôi mắt và mỉm một nụ cười, đoạn
bưng bát sữa lên uống. Uống xong bát sữa, thần diệu thay, thân thể Ngài
dần dần hồi phục, thịt da lại nẩy nở và tươi sáng. Ngài đặt bát xuống và
mỉm cười, nói với nàng Sujata : "Bà tưởng Ta là một vị thần linh phải
không? Không! Ta chỉ là một người bình thường đang đi tìm chân lý để cứu
vớt nhân loại khỏi đau khổ. Bát sữa của Bà đã làm cho Ta hồi phục sức
khoẻ. Bà sẽ có nhiều phước đức vì sự cúng dường hôm nay. Ta xin cảm ơn
Bà".
Năm anh em Kiều Trần
Như thấy Đạo Sĩ Cồ Đàm đã từ bỏ cuộc sống khổ hạnh, bèn tỏ vẻ thất vọng.
Họ nói với nhau: ‘Đạo Sĩ Cồ Đàm đã bỏ cuộc và trở về với đời sống lợi
dưỡng. Chúng ta không nên sống gần con người dễ dàng bỏ cuộc như vậy’ và
họ đã ra đi.
Đạo Sĩ Cồ Đàm đứng
dậy, lội qua dòng sông Ni Liên Kiền và tới một gốc cây Pipala, mà sau này
được gọi là cây Bồ Đề, bắt đầu cuộc tu thiền định. Sau khi đã trải cỏ làm
tọa cụ, Ngài ngồi xuống và phát một lời thề: "Dù thân này có chết, thịt
này có rã, xương này có tan; nếu không tìm ra chân lý, Ta quyết không bao
giờ đứng dậy".
Đó là câu chuyện được
kể trong lịch sử về cuộc tu hành khổ hạnh của Đức Phật. Từ cái tướng thị
hiện sáu năm khổ hạnh này, chúng ta nhìn thấy được ý nghĩa gì ?
a.
Ngài đã tìm
đạo từ những vị Thầy danh tiếng nhất và chứng đắc được tất cả những cảnh
giới mà các bậc Thầy đã chứng, nhưng sự chứng đắc đó không làm Ngài toại
nguyện. Đi tìm chân lý từ phía ngoài thân không thể nào được, Ngài
đã quyết định quay vào tìm chân lý từ bên trong nội tâm, và đã kết
quả. Đó là đường lối tu hành dẫn Ngài đắc Đạo quả và đạo quả chứng đắc mà
không nhờ sự dạy dỗ của ông Thầy nào.
Sau này, trước khi
nhập Niết Bàn, Ngài đã nhắn nhủ các đệ tử: "Các Con hãy tự thắp đuốc mà
đi, hãy tự làm hải đảo cho mình nương náu". Trong Kinh Pháp Cú, Đức
Phật cũng đã dạy: "Các Đấng Như Lai chỉ là người chỉ đường". Suốt
cuộc đời giáo hóa, Đức Phật luôn luôn khuyến khích các đệ tử phải dành tất
cả thì giờ vào sự phát triển trí tuệ và tránh những cuộc hý luận, tạp
thoại vô ích.
b. Ngài đã tìm ra con
đường tu thứ ba, sau này được gọi là Con Đường Trung Đạo. Ngài đã
sống khổ hạnh hơn bất cứ một Đạo Sĩ đương thời nào; rốt cuộc, đời sống khổ
hạnh chỉ đem lại sự đau đớn thể xác và làm suy giảm ý chí. Ngài đã chỉ cho
chúng ta thấy một quan niệm, một tâm hồn thánh thiện không thể có ở trong
một thân thể bệnh hoạn.
Cũng trong tướng thị
hiện này, Đức Phật đã phá cái tà kiến ‘Giới Cấm Thủ’ của ngoại đạo là nhất
định phải dày vò xác thân cho đến mức cùng kiệt. Sau này, khi giáo hóa các
đệ tử, Ngài luôn luôn áp dụng con đường trung đạo. Ngài thí dụ về cây đàn.
Khi một vị đệ tử đến hỏi Ngài lý do tại sao ông ta không đạt được Thánh
quả, mặc dầu đã khổ công tu hành đến mức tối đa. Đức Phật nói: "Sự tu
hành và trì giới cũng giống như sợi dây đàn, chùng quá thì không ra tiếng,
căng quá thì tiếng chát chúa, khó nghe". Đó là con đường Trung Đạo để
phá hai cái chấp cực đoan : Lợi dưỡng và khổ hạnh.
c. Lý đạo thứ ba trong tướng thị hiện này là không nên vì
nghe thấy khó thực hành mà không tu. Muốn biết mình có thể làm được hay
không, cần phải thực hành với tất cả khả năng và thiện chí của mình trước
đã. Vì muốn làm gương cho chúng sanh mà Đức Phật đã phải thị hiện hạnh
kham nhẫn khổ hạnh tới sáu năm mà không đạt được mục đích, rồi phải từ bỏ.
Chỉ có từ sự thực hành, mới gặp những khó khăn và mới thu thập được kinh
nghiệm để sửa đổi lề lối tu tập.
Chúng ta ngày nay tu hành, đa số đều thiếu đức tin kiên cố
và lòng kiên trì đối với pháp môn mình đã lựa chọn. Nhiều người đang tu
Tịnh Độ, nghe nói tu Thiền mới đạt được ‘Minh Tâm Kiến Tánh’ và là môn tu
của bậc Thượng Căn Thượng Trí thì bắt đầu khởi tâm tu Thiền, rồi bỏ hay
khinh thường pháp môn Tịnh Độ. Sau một thời gian tu Thiền, không có kết
quả, lại quay trở về pháp môn Tịnh Độ. Những người này, thật sự, đã không
thâm nhập được lý đạo của Thiền và của Tịnh Độ. Vì thiếu sự thâm nhập và
thiếu lòng kiên nhẫn nên họ luôn luôn chạy theo vọng tưởng mà lạc vào lối
tu sai lầm vì những ảo giác của vọng tâm. Những ảo giác này, đôi khi, rất
nguy hiểm cho người tu. Những ảo giác này thường là những biến hiện của
tâm bị dồn ép, đè nén, nên sanh ra những cảnh giới lạ lùng hay những cảm
giác hoan hỷ. Vì những cảnh giới đó, cảm giác đó, người tu dễ bị dẫn dắt
vào ma chướng mà người ta thường gọi là ngũ ấm ma.
Trong sáu năm khổ hạnh, Đạo Sĩ Cồ Đàm thường gặp những ma
chướng muốn làm Ngài thối chí, nhưng với sự kiên trì trong 49 ngày cuối
cùng, Ngài đã đại thắng ma chướng mà thành đạo. Đó là tướng thị hiện thứ
sáu mà Thầy sắp nói tới.
6. Hàng Phục Chúng Ma
Tướng,
nghĩa là tướng thị
hiện diệt trừ tất cả những Ma Chướng từ bên ngoàiẠ và từ bên trong.
Sử chép rằng :
Sau khi Đạo Sĩ Cồ Đàm phát một lời thề như đã nói ở trên; Ngài đã ngồi
thiền định dưới gốc cây Pipala (cây Bồ Đề), và nhập Sơ Thiền, rồi
tới Nhị Thiền, Tam Thiền và Tứ Thiền ... Trí tuệ của Ngài trở nên sáng
suốt, tâm thể vắng lặng nhờ sự quán sát tận nguốn gốc của mọi cảm thọ và
buông xả tất cả những đòi hỏi của ái dục.
Lúc đó, Ma Vương Mara
rất sợ hãi và giận dữ. Mara là tên Ấn Độ để gọi những ma chướng chuyên gây
đau khổ, phiền não và tội lỗi cho loài người. Mara chính là tham, sân, si,
mạn, nghi và ác kiến.
Khi Mara nhận thấy
Đạo Sĩ Cồ Đàm đang nhập vào các bậc Thiền và diệt trừ dần những cám dỗ mà
hắn thường gieo rắc trong tâm loài người; hắn đã triệu tập con cháu
(những nguồn gốc của phiền não và cám dỗ) lại và nói : ‘Này các con,
hãy trông Đạo Sĩ Cồ Đàm đang tọa Thiền dưới gốc cây kia. Ông ta đang tìm
phương pháp loại trừ chúng ta ra khỏi tâm ý của Ông ta và tìm cách chấm
dứt những đau khổ và phiền não mà chúng ta thường gieo rắc để sai khiến
loài Người. Nếu Ông ta thành công và đem phương pháp ấy phổ biến thì chúng
ta sẽ hết đất sống. Loài người có thể dễ dàng nhận diện chúng ta và loại
trừ chúng ta khỏi tâm ý của họ. Vậy còn ai mà chiều đãi, cung phụng chúng
ta nữa. Bằng mọi giá, chúng ta phải ngăn cản cho kỳ được cái ý định chấm
dứt phiền não và đau khổ của loài người đó’.
Và Mara cùng bộ hạ
của ác pháp xúm nhau lại tấn công Đạo Sĩ Cồ Đàm. Thoạt đầu, chúng tạo ra
những trận mưa gió dữ dội và những sấm sét kinh hoàng, hướng về phía Đạo
Sĩ Cồ Đàm đang tọa thiền. Cây cối chung quanh Ngài gẫy đổ, bật gốc ầm ầm,
nhưng kỳ lạ thay, cành lá của cây Pipala lại bất động và vẫn xòe rộng tàng
lá che chở cho Ngài. Mara thấy trận đầu đã thất bại, bèn tập họp quân đội
xung phong và ào ào bắn những mũi tên độc vào mình vị Đạo Sĩ.
Một lần nữa, sự kỳ diệu lại diễn ra, tiếng la hét của
chúng ma hầu như chìm vào trong biển cả của im lặng, các mũi tên độc biến
thành những cánh hoa sen rơi lả tả chung quanh Đạo Sĩ Cồ Đàm. Mara thấy
rằng những khí giới từ bên ngoài không làm hại được Đạo Sĩ Cồ Đàm; hắn đổi
chiến thuật, tấn công bằng những khí giới bên trong là sự cám dỗ của ái và
dục. Hắn cho ba người con gái của hắn tới trước mặt Đạo Sĩ Cồ Đàm, dùng
tất cả những âm thanh ngọt ngào, và khêu gợi tình dục để quyến rũ Ngài.
Thậm chí, chúng đã thi triển thần thông biến hiện ra cả nàng Gia Du Đà La
xinh đẹp và các cung nữ, nhạc công biểu diễn những vũ điệu mà ngày xưa đã
làm Thái Tử Tất Đạt Đa ham thích. Nhưng giờ đây, những hình ảnh đó đã trở
thành hoàn toàn vô dụng. Ngài vẫn bình thản trong thiền định với nét mặt
rạng rỡ, đôi mắt rực sáng nhìn thẳng vào chúng và làm khả năng thần thông
của chúng bị tê liệt, trong khi trên môi của Ngài vẫn giữ một nụ cười từ
ái.
Mara đã kiệt quệ khả
năng và hắn cố tập trung vào một đòn chót. Hắn hiện thân Ma Vương trước
mặt Đạo Sĩ Cồ Đàm và nói bằng một giọng diễu cợt: ‘Này Tất Đạt Đa! ông
tưởng ông vĩ đại lắm sao? Biết bao nhiêu Đạo Sĩ Bà La Môn trước ông, đã
từng có ý định chấm dứt đau khổ và đã ngồi tọa Thiền như ông đang làm và
tất cả đều thất bại. Hãy từ bỏ ý định điên rồ của ông đi và trở về ngôi vị
Hoàng Thái Tử. Sau này, khi lên ngôi Vua, ông thiếu gì tiền bạc, oai quyền
và cơ hội làm tốt cho thần dân của Ông. Lúc ấy, sự nghèo đói và đau khổ sẽ
chấm dứt’.
Đạo Sĩ Cồ Đàm chỉ mỉm
cười và trả lời: "Này Mara, con người quỷ quyệt! Ngươi là nguồn gốc của
mọi tội lỗi và lười biếng. Ngươi đến đây chỉ vì lợi ích riêng của ngươi.
Ngươi chỉ muốn nhân loại phải luôn luôn cúi đầu phục tòng mệnh lệnh của
ngươi mà thôi. Ta đã biết rất rõ các đạo binh của ngươi là tham dục
(Kama), bất mãn (Arati), đói khát (Khuppipasa), ái dục (Tanha), hôn trầm
(Thina-Middha), sợ hãi (Bhaya), hoài nghi (Vicikiccha), phỉ báng và cố
chấp (Makkha-Thamba), lợi lộc (Labha), khen tặng (Siloka), vinh dự
(Sakkara) và thanh danh bất chánh (Yasa), kiêu mạn và khinh rẻ kẻ khác
(Attukkamsanapa Ravambhana). Này Mara, ta đã chế ngự được các đạo binh ấy
của ngươi vì ta biết rất rõ ràng bản chất của quân đội của Ngươi, nên âm
mưu của Ngươi đều thất bại đối với ta. Sau này, người nào biết cách chế
ngự các đạo binh ấy của ngươi, cũng sẽ tìm ra hạnh phúc chân chánh".
Ma Vương nghe xong,
hắn biết rõ ràng là đã hoàn toàn thất bại. Hắn biến đi như một cơn ác
mộng.
Sau khi đã chiến
thắng được Ma Vương và quyến thuộc của hắn; Đạo Sĩ Cồ Đàm lặng lẽ trở về
với thiền định và mọi hiện tượng về vũ trụ, nhân sinh dần dần phơi bày
trước mắt Ngài. Đó là đêm thứ 48, kể từ ngày Ngài cất lời thề phải tìm ra
chân lý hay là chết, bên bờ sông Ni Liên Thiền.
Sách chép rằng : Canh
một, ánh sáng trí tuệ của Ngài đã soi thấu các cõi Trời và địa ngục. Bốn
phương, tám hướng đều hiện rõ ràng khi Ngài phóng tầm mắt về hướng ấy.
Không một chướng ngại nào có thể ngăn che được cái Thấy của Ngài.
Ngài đã chứng đắc Thiên Nhãn Minh.
Rồi Ngài tiếp tục đi
sâu vào thiền định, qua canh ba, Ngài hướng tư tưởng về tiền kiếp của
mình; đầu tiên một kiếp, rồi hai kiếp, ba kiếp, cho đến vô lượng kiếp cứ
lần lượt hiện rõ trong tuệ giác của Ngài, rồi đến cả sự vận hành của vũ
trụ và nhân sinh từ vô thỉ cũng lần lượt hiển bày. Ngài đã nhìn rõ trong
từng kiếp của Ngài, tên gì, vui thích và đau khổ thế nào, chết đi cách
nào, tái sinh ra sao. Không những Ngài chỉ biết về tiền thân của Ngài mà
Ngài còn nhìn thấy chúng sanh chết từ kiếp này, tái sanh vào kiếp khác.
Ngài đã nhìn rõ được cả những nguyên nhân sâu xa (nghiệp) dẫn dắt
chúng sanh vào những kiếp của sáu nẻo trong luân hồi. Lúc đó, không còn
một bí mật gì về nhân sinh và vũ trụ có thể trốn lánh được tuệ giác của
Ngài và Ngài đã chứng đắc Túc Mạng Minh.
Ngài lại tiếp tục đi
sâu vào tận cùng của Định Vô Thức (Diệt Tận Định), Ngài đã nhận
thức : ‘Đây là phiền não; đây là nguồn gốc của mọi phiền não; đây là trạng
thái chấm dứt mọi phiền não và đây là con đường dẫn tới sự chấm dứt phiền
não’. Cũng với tuệ giác ấy, Ngài đã nhận thức: ‘Đây là ô nhiễm của tâm;
đây là nguồn gốc làm tâm bị ô nhiễm; đây là trạng thái của tâm không còn ô
nhiễm và đây là con đường dẫn tới sự thanh lọc mọi ô nhiễm’. Đến đây, tâm
thể của Ngài đã hoàn toàn thanh lọc các dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.
Ngài đã chứng đắc Tuệ Giác thứ ba : Lậu Tận Minh.
Đầu canh năm, khi sao Mai vừa lố dạng, tâm thể của Đạo Sĩ
Cồ Đàm đã trở thành một vùng ánh sáng mà không có thứ ánh sáng nào, người
ta đã từng biết, từng thấy có thể so sánh được với cái ánh sáng của tâm
thể Ngài. Mọi hiện tượng trong Vũ Trụ, gần, xa, đều bị bao trùm bởi vùng
yến sáng đó. Mọi sự thật không còn bị che dấu vì màn vô minh đã hoàn toàn
bị quét sạch. Đạo Sĩ Cồ Đàm đã thể nhập được vào cái mà ta tạm gọi là chân
lý (lẽ thật) và trở thành một vị Phật. Ngài đã hòa mình vào các hiện tượng
của nhân sinh và vũ trụ. Ngài biết rõ từng cụm mây đã được cấu tạo ra sao
vì chính Ngài là cụm mây. Ngài biết rõ những cảm thọ buồn phiền từ đâu tới
và tới cách nào vì chính Ngài là những cảm thọ. Ngài biết Ngài đã giải
thoát khỏi sanh diệt và chứng quả vô sanh pháp nhẫn.
Ngay khi ấy, tuyên
ngôn đầu tiên của Ngài trong trạng thái hoàn toàn giải thoát là : ‘Lạ
thay! lạ thay! thì ra tất cả mọi chúng sanh đều có đủ Trí Tuệ và Đức Tướng
của Như Lai’ (Kỳ tai! kỳ tai! Nhất thiết chúng sinh cụ hữu Như Lai
Trí Tuệ Đức Tướng). Sự phát triển của Tuệ Giác tới mức không ngằn mé
như vậy và ánh sáng tâm linh đã như ngọn đèn xua đuổi bóng tối ngàn năm
trong một căn nhà như vậy, được trời và người gọi là Sự Thành Đạo’.
Trong tất cả 8 tướng
thành đạo, tướng thứ sáu này là quan trọng nhất vì trong giai đoạn thị
hiện này, chúng sanh hữu tình Tất Đạt Đa đã giải thoát tướng phàm phu để
trở thành một vị Phật. Có hai lý đạo quan trọng trong tướng thị hiện này,
Thầy muốn quý vị tư duy, thâm nhập vì nó chính là mục đích cho cả cuộc đời
tu hành của quý vị.
a. Đức Phật đã chỉ
rất rõ ràng những ma chướng thường làm trở ngại cho những người xuất gia
mà thiếu tâm bồ đề kiên cố và làm cách nào Ngài đã chiến thắng được ma
vương ? Sau này, trong cuộc đời hoằng đạo, Ngài đã dạy trong Kinh Pháp Cú
về lý đạo này:
‘Thắng ngàn vạn quân
địch, chưa thể gọi là thắng. Tự thắng được mình mới là chiến công oanh
liệt nhất’ (Câu 103).
‘Tự thắng mình còn vẻ
vang hơn thắng kẻ khác. Muốn thắng mình phải luôn luôn chế ngự lòng
tham dục’ (Câu 104).
‘Làm dữ bởi ta, mà
nhiễm ô cũng bởi ta. Làm lành cũng bởi ta mà thanh tịnh cũng bởi ta. Tịnh
hay bất tịnh cũng bởi ta, chứ không ai có thể làm cho ai thanh tịnh được’
(Câu 165).
Ba câu Phật dạy trong
Kinh Pháp Cú kể trên có thể nói là toàn bộ phương pháp mà Ngài đã dùng để
chiến thắng ma vương. Ta hãy xếp loại các ma chướng mà Đức Phật gọi là các
đạo quân của ma vương xem chúng từ đâu mà ra. Nếu xếp loại được (biết
được vì đâu mà có) thì việc diệt trừ không còn là một chướng ngại cho
công cuộc tu hành của chúng ta nữa :
Đạo quân thứ nhất :
Tham dục (Kàma) ta có thể xếp loại là sản phẩm của sắc uẩn, hành
uẩn và thức uẩn.
Đạo quân thứ hai :
Bất Mãn (Arati) là sản phẩm của thức uẩn.
Đạo quân thứ ba :
Đói và Khát (Khuppipàsà) là sản phẩm của sắc uẩn và thọ uẩn.
Đạo quân thứ tư :
Ái Dục (Tanhà) là sản phẩm của tưởng, hành uẩn và thức uẩn.
Đạo quân thứ năm :
Hôn Trầm Dã Dượi (Thìna-Middha) là sản phẩm của hành uẩn và
thức uẩn.
Đạo quân thứ sáu :
Sợ Hãi (Bhaya) là sản phẩm của tưởng uẩn.
Đạo quân thứ bảy :
Hoài Nghi (Vicikicchà) là sản phẩm của thức uẩn.
Đạo quân thứ tám :
Phỉ Báng và Cố Chấp (Makkha-Thambha) là sản phẩm của hành uẩn
và thức uẩn.
Đạo quân thứ chín :
Lợi lộc (Làbha), Khen tặng (Siloka), Vinh dự
(Sakkàra) và Thanh danh bất chính (Yasa) là sản phẩm của tưởng
uẩn.
Đạo quân thứ mười:
Đánh giá mình quá cao và khinh rẻ kẻ khác (Attukkamsanaparavambhana)
là sản phẩm của tưởng uẩn và thức uẩn.
Tất cả những đạo quân
(ma chướng) của Ma Vương vừa nói ở trên đều phát sinh từ cái thân
ngũ uẩn của con người, nên chúng được gọi là ngũ ấm ma. Ngũ ấm ma là loại
ma chướng khó diệt trừ nhất. Nguyên do chính là con người thường chấp
cái thân ngũ uẩn này là thật có và thường còn. Ít có người nào có được
cái trí tuệ của Đức Phật, nhìn thấu suốt tới cái bản thể của sự vật, hoặc
nghe theo lời chỉ dạy của Đức Phật về tính chất như huyễn của vạn
vật mà sống với cái nhận thức như huyễn đó. Vì chấp cái thân ngũ uẩn là
một vật có thật nên các ma mới có chỗ trú ngụ để gieo rắc phiền não và đau
khổ và để sai xử con người. Đó chính là lý do tại sao các nhà tu khổ hạnh
phải đày đọa cái thân cho đến mức tiều tụy.
Đức Phật, vì lòng
thương xót chúng ta phải chịu khổ đau trong đời sống khổ hạnh mà vẫn không
đạt được mục đích giải thoát nên Ngài đã phải thị hiện dùng thân ngũ uẩn
của phàm phu mà sống theo lối khổ hạnh tới sáu năm dài, khổ hạnh tới mức
không một ai trong quá khứ hay trong vị lai có thể khổ hạnh hơn nữa có thể
đạt được giải thoát, để chỉ cho chúng ta cái lý do mà Ngài bác bỏ cái cực
đoan phải khổ hạnh. Vậy chúng ta cũng không cần phải bàn tới khổ
hạnh, nhưng cũng phải luôn luôn nhớ lời cảnh giác của Đức Phật là sống một
cách tỉnh thức để biết rằng cái thân này chỉ là giả tạm; có cung
phụng cho nó đến mấy đi nữa thì cũng không bao giờ nó chịu thỏa mãn và sẽ
bỏ chúng ta mà trở về với nguyên thể đất, nước, gió, lửa của nó.
Sau khi đã chỉ cho
chúng ta nguồn gốc của ma chướng, Ngài cũng lại đã chỉ dạy cho chúng ta
phương pháp mà Ngài đã thực hành để chế ngự những ma chướng đó. Đó là
Tám Nẻo Chân Chính (Bát Chánh Đạo). Tám nẻo chân chính này là
phương pháp mà Ngài đã áp dụng giáo hóa chánh pháp lần đầu tiên trong bài
Kinh Chuyển Pháp Luân. và năm anh em ông Kiều Trần Như, nhờ hấp thụ được
và thực hành đúng như phương pháp được chỉ dạy, nên đều đắc quả Thánh, trở
thành Tăng Bảo, là những thánh chúng đệ tử đầu tiên của Đức Phật.
b.Thường thường, khi
nói tới Khai, Thị, Ngộ, Nhập, người ta nghĩ đến Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa bởi vì chúng ta thường được nghe thuyết giảng rằng mục đích (hay
đại sự nhân duyên) của Đức Phật ra đời là để khai, thị, ngộ, nhập,
Phật tri kiến cho chúng sinh như Ngài đã thuyết giảng Bộ Kinh Pháp Hoa.
Chúng ta cũng phải nên biết rằng Khai, Thị, Ngộ, Nhập, là một phương pháp
thuyết giảng mà Đức Phật đã dùng để giáo hóa quần sinh ngay từ bài Kinh
đầu tiên tại vườn Lộc Uyển. Một đức tính cao quý mà nhân loại kính ngưỡng
Đức Phật là : ‘Không bao giờ Ngài chỉ nói mà không tự mình thực
nghiệm và không bao giờ Ngài giảng dạy những điều mà Ngài chưa tự mình
thực nghiệm và chứng đắc’. Đó là điều mà Đức Phật ân cần
nhắc nhở các đệ tử trong hầu hết các Kinh : "Này các Tỳ Kheo! Hãy
tin những lời Như Lai nói. Như Lai không bao giờ nói dối".
Trong tướng thị hiện
thứ sáu này, Đức Phật đã khai mở cho con người một trạng
thái, mà con người chưa từng được nghe và được biết : Trạng thái niết bàn.
Ở trong trạng thái này, mọi đau khổ và phiền não đã bị chấm dứt. Ngài đã
hé mở (thị) cánh cửa niết bàn bằng sự không thỏa mãn với các
trạng thái tứ thiền bát định mà Ngài đã học được từ hai vị Thầy Bà La Môn
đầu tiên. Ngài đã dẫn dắt chúng ta ngộ (gặp và nhận ra)
tri kiến Phật bằng sự phân tách bản chất 10 đạo quân của Ma
Vương Mara. Cuối cùng, Ngài dẫn chúng ta nhập Phật Tri Kiến bằng
cách dùng Tri Kiến (sự quán sát và hiểu biết tận gốc rễ) để diệt
trừ các loại ma chướng.
Trong Kinh Văn, người
ta đã tán thán chiến công lẫy lừng (tự chiến thắng mình) diệt trừ ma
chướng của Đức Phật như sau :
Tâm quang rực rỡ,
Chứng sáu thần
thông,
Đạo thành Chánh
Giác,
Tọa Bồ Đề Tòa đại
phá Ma quân
Nhất độ minh tinh,
đạo thành.....
Đức Phật đã Thành
Đạo ngay sau khi Ngài đã diệt trừ tận gốc và chấm dứt các phiền não,
đau khổ. Sự thể nhập chân lý của Ngài, giản dị và bình thường ở chỗ Ngài
nhận thấy cái khả năng chấm dứt đau khổ đó cũng hằng hữu và tiềm tàng
trong mọi chúng sinh. Ngài đã tuyên bố một câu đã được lưu truyền từ ngày
Ngài Thành Đạo cho tới ngày nay và thời vị lai: "Như Lai là Phật đã
thành, chúng sinh là Phật sẽ thành".
Chánh Pháp của Đức Phật đã được lưu truyền từ đó và chắc
chắn sẽ mãi mãi, không bao giờ cùng tận. Từ đó, trong cõi Ta Bà này.....
Hào quang chiếu diệu,
Sáng tỏ muôn phương,
Ngộ lý chân thường,
Phá màn hôn ám....
Cánh cửa Vô Sanh Bất
Diệt đã mở cho chúng sanh. Hãy để cho ai muốn nghe
(Chánh Pháp) đặt
trọn niềm tin tưởng. (Apãrutã tesain amatassa drãvã - ye sotavantã
pamunca tu saddhain). (Kinh A-Hàm) .
7. Đáo Lộc Giả Uyển
Tướng,
thuyết pháp độ sanh
tướng, nghĩa là tướng thị hiện sự tuyên dương chánh pháp cứu độ chúng sanh
tại vườn Nai.
Phật sử chép rằng :
Sau khi Đức Phật thành đạo; Ngài lại ngồi tham thiền dưới gốc Bồ Đề : "Giáo
pháp mà ta đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội,
vắng lặng, cao siêu, không thể dùng luận lý và đo lường, chỉ có bậc thiện
trí mới thấu hiểu. Nếu ta truyền dạy Giáo Pháp mà kẻ khác không thể thấu
hiểu được thì thật phí công, vô ích".
Lúc ấy có một vị Phạm Chí sợ Ngài không truyền bá giáo
pháp và thế gian sẽ phải chịu diệt vong vì mãi sống trong đêm dài vô minh,
không người chỉ dạy con đường giải thoát, nên hiện thân tới thỉnh Đức
Phật như sau :
‘Bạch Đức Thế Tôn!
Giáo pháp của Ngài quả là cao siêu, thế gian chưa từng nghe. Xin Thế Tôn
hoan hỷ mở rộng cửa vô sanh bất tử mà truyền bá giáo pháp. Sẽ có người
lãnh hội được giáo pháp của Ngài’
Vị Phạm Chí phải
thành tâm cung thỉnh đến ba lần, Đức Phật mới hứa khả và Ngài bắt đầu
tuyển chọn xem ai là người xứng đáng lãnh hội được Giáo Pháp của Ngài lần
đầu tiên. Ngài nghĩ đến hai vị Thầy đầu tiên là Alara Kalama và Uddaka
Ramaputta, nhưng cả hai người đều vừa qua đời.
Ngài bèn nghĩ tới 5
vị Đạo Sĩ đã cùng với Ngài năm xưa, tu pháp môn khổ hạnh, bèn phóng tầm
tuệ nhãn quán sát thấy 5 anh em Kiều Trần Như đang còn tu ở Vườn Lộc Uyển,
thành Ba-La-Nại. Ngài liền rời gốc cây Bồ Đề đến vườn Nai để bắt đầu cuộc
giáo hóa độ sanh. Trên đường đi tới Ba La Nại, Ngài gặp một Đạo Sĩ. Vì này
thấy dáng dấp uy nghi của Ngài nên đã cung kính đón đường để hỏi về pháp
tu và trình độ tu chứng của Ngài. Khi được biết Ngài đã chứng được quả vị
Chánh Đẳng Chánh Giác (là bậc Toàn Giác) và quả vị Vô Sanh Bất Tử,
thì vị Đạo Sĩ lại tỏ vẻ nghi ngờ lời nói của Ngài và bỏ đi. Đó là cái trở
ngại đầu tiên trong cuộc đời hoằng dương Chánh Pháp của đức Phật.
Khi gặp năm anh em Ông Kiều Trần Như, một lần nữa, Đức
Phật lại chạm phải cái khó khăn khác, vì năm anh em ông này không tin rằng
một người tu hành từ bỏ lối tu khổ hạnh lại có thể thành công. Phải đến
lần thứ ba, Đức Phật lập lại rằng Ngài đã đạt Phật quả và chính năm người
này cũng có thể chứng ngộ được như Ngài, nếu họ hành trì đúng lời chỉ dẫn
của Ngài. Bấy giờ, năm anh em ông Kiều Trần Như mới chịu tin lời Đức Phật
và ngồi xuống yên lặng để nghe giáo lý cao quý.
Bài Kinh cực kỳ quan
trọng được Đức Phật giảng lần đầu tiên ấy được gọi là bài Kinh Chuyển
Pháp Luân (Dhammacakha). Trong bài pháp đầu tiên này Ngài đã
bác bỏ hai cực đoan : Lợi dưỡng và khổ hạnh, trong đường lối tu hành. Đức
Phật đã giải thích rất cặn kẽ về con đường Trung Đạo mà Ngài đã tìm ra.
Ngài khuyên anh em ông Kiều Trần Như nên xa lánh hai lối tu Lợi Dưỡng và
Khổ Hạnh. Lợi Dưỡng cản trở tiến bộ tinh thần, khổ hạnh làm suy giảm trí
tuệ. Ngài đã nhấn mạnh chính bản thân Ngài đã tích cực sống theo hai cực
đoan ấy và rút kết quả rằng cả hai đều không đưa tới quả vị Vô Thượng.
Sau khi được nghe về
Con Đường Trung Đạo, năm anh em Ông Kiều Trần Như lại được nghe giảng về
Bốn Sự Thật Cao Quý (Tứ Diệu Đế).
Đức Phật đã giảng rất
rõ về bốn Sự Thật Cao Quý đó mà cho đến nay (hơn 2500 năm sau) vẫn
không có một lý luận nào có thể tìm thấy sự sai lầm trong Bốn Sự Thật đó.
Sự Thật Thứ Nhất: Khổ
Đế. Trong
sự thật về Khổ, Đức Phật đã phân loại tất cả mọi đau khổ của con người
trên Thế Gian này làm 8 loại : Có 5 loại khổ của thân là sanh, già, bệnh,
chết và sự lên xuống của 5 Ấm; và 3 loại khổ của tâm là phải xa lìa người
mình thương yêu, phải gần gũi người hay vật mình ghét và mong cầu mà không
được toại nguyện.
Sự Thật Thứ Hai: Tập
Đế. Đức
Phật giảng về nguyên nhân của các loại Khổ: Đó là ái dục hay luyến ái.
Kinh Pháp Cú có ghi lời dạy của Đức Phật: ‘Do Ái Dục sanh phiền não. Do
Ái Dục sanh sợ sệt. Người đã hoàn toàn chấm dứt ái dục, không còn phiền
não và ít sợ sệt’.
Sự Thật Thứ Ba: Diệt
Đế. Đức
Phật đề cập đến phương pháp diệt khổ và trạng thái an lạc của niết bàn sau
khi sự đau khổ chấm dứt.
Sự Thật Thứ Tư: Đạo
Đế. Trong
sự thật thứ tư này, Đức Phật chỉ dạy con đường phải đi, có thể nói là con
đường duy nhất, dẫn tới sự chấm dứt đau khổ. Con đường đó là Bát Chánh
Đạo.
Sau khi đã giảng dạy
kỹ lưỡng Bốn Sự Thật Cao Quý đó, Đức Phật lại tóm tắt như sau đối với mỗi
sự thật, mà trong Kinh Điển Phật Giáo gọi là Chuyển Pháp Luân.
Chuyển Pháp Luân được thực hiện qua 3 giai đoạn, thường được gọi là Tam
Chuyển:
Giai đoạn Một gọi là
Thị Chuyển,
tức là chỉ rõ trạng
thái của mỗi sự thật.
Giai Đoạn Hai gọi là
Khuyến Chuyển.
Trong giai đoạn này,
Đức Phật kể lại cái Thấy và cái Biết của Ngài và khuyến
khích các đệ tử phải Thấy và Biết như vậy.
Và Giai Đoạn Ba gọi
là Chứng Chuyển.
Trong giai đoạn này
Đức Phật nói về phương pháp được Ngài áp dụng và nhờ đó đạt được Giác Ngộ:
Thị chuyển
:
Này các vị
Tỳ Kheo !
Đây là sự thật về
khổ.
Đây là sự thật về
nguồn gốc của khổ.
Đây là sự thật về
trạng thái chấm đứt khổ.
Đây là sự thật về
con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ.
Khuyến chuyển :
Này các vị Tỳ Kheo !
Đây là sự thật về
khổ, cần được nhận thức.
Đây là sự thật về
nguồn gốc của khổ, cần được nhận thức.
Đây là sự thật về
trạng thái chấm dứt khổ đau, cần được nhận thức.
Đây là sự thật về
con đường dẫn đến chấm dứt khổ đau, cần được nhận thức.
Chứng Chuyển :
Này các Vị
Tỳ Kheo !
Đây là sự thật về
khổ đã được thấu triệt.
Đây là sự thật về
nguồn gốc của khổ đã được thấu triệt.
Đây là sự thật về
trạng thái chấm dứt khổ đã được thấu triệt.
Đây là sự thật về
con đường dẫn đến chấm dứt khổ đau đã được thấu triệt.
Đức Phật đã kết luận
bài pháp "Chuyển Pháp Luân" tại Lộc Uyển như sau:
Hỡi các Tỳ Kheo! Ngày
nào mà tri kiến tuyệt đối như thực của Như Lai về bốn pháp Thánh Đế, dưới
3 sắc thái và mười hai phương thức chưa được hoàn toàn sáng tỏ thì cho đến
chừng ấy Như Lai không xác nhận là Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác"
Đức Phật giảng xong
bài Kinh Chuyển Pháp Luân, thì Ngài Kiều Trần Như chứng quả A La Hán, các
anh em của Ngài đắc quả Tu Đà Hoàn và sau này nhờ tu pháp Tứ Đế cũng đều
đắc quả A La Hán.
Từ đó trong Phật Giáo
có Tam Bảo : Phật Bảo (Đức Thích Ca), Pháp Bảo (pháp Tứ Diệu Đế)
và Tăng Bảo (Thánh chúng đệ tử đầu tiên của Phật).
Quay trở lại tìm cái
lý đạo trong tướng thị hiện này, ta có thể có nhận thức gì ?
a. Phật pháp rất cao
siêu, khó hiểu, khó tu, khó chứng ngộ. Người muốn tu phải có thành tâm,
thiện chí cầu đạo thì mới có thể ngộ được phần nào chân lý. Nếu gặp ai
cũng đem ra giảng nói là khinh rẻ, là hủy báng tính chất cao quý của chánh
pháp và thiếu sự tôn kính đối với Đức Phật. Vì vậy, Đức Phật phải đợi vị
Phạm Thiên cung thỉnh đến ba lần Ngài mới đồng ý truyền bá giáo pháp của
Ngài. Sau này, trước khi thuyết những Kinh quan trọng như Kinh Pháp Hoa,
Ngài cũng đợi các đệ tử cung thỉnh đến ba lần rồi mới chịu nói.
b. Đức Phật muốn hóa
độ người nào, Ngài phải dùng tuệ nhãn quán sát căn cơ của người đó có khả
năng lãnh hội giáo pháp không; và khi đã quán sát xong thì Ngài đi đến tận
nơi và dùng hạnh nhẫn nhục để hóa độ, như trường hợp của năm anh em ông
Kiều Trần Như, ba anh em tôn giả Ma Ha Ca Diếp, tôn giả Vô Não
(Angulimala) v.v...Ngài đã biết không phải người nào cũng đủ phước đức và
trí tuệ để lãnh hội Phật Pháp nên Ngài không phải là gặp ai cũng giảng
pháp. Thí dụ điển hình là vị Đạo Sĩ Bà La Môn mà Ngài gặp trên đường đi
đến vườn Nai. Vì biết người Đạo Sĩ này không thể lãnh hội được Phật Pháp
nên Ngài đã để mặc ông ta bỏ đi. Chính vì sự sáng suốt và thận trọng này
mà thời Đức Phật tại thế được gọi là thời Chánh Pháp, mười người tu, mười
người chứng.
c. Đạo Phật là kết tinh kinh nghiệm của Đức Phật. Dù là
bậc đại trí, Ngài cũng không dùng trí tuệ suy luận làm phương tiện giáo
hóa mà Ngài đem cái THẤY và chính sự tinh tấn tu hành của Ngài làm phương
tiện giáo hóa.
Đây chính là một đặc
điểm mà chúng ta thời nay, ngay cả tại những quốc gia rất tiến bộ về khoa
học, đã tỏ ra tôn sùng ngôi vị Giáo Chủ của Ngài. Không bao giờ ta thấy
Đức Phật chỉ dạy cho đệ tử bất cứ vấn đề gì mà chính bản thân Ngài chưa
kinh nghiệm. Chính vì thế, Kinh đã nói: "Chư Phật ba đời không bao giờ
nói dối". Sau này, khi đi thuyết pháp độ sanh, Đức Phật cũng khuyên
mọi người đừng vội tin những gì Ngài nói. Hãy suy nghĩ và thực
hành; nếu có lợi lạc cho mình thì phải nỗ lực thực hiện sự tu hành cho đến
khi đạt được đạo quả. Đó là phương pháp Văn (nghe), Tư (suy
nghĩ) và Tu (tinh tấn thực hành) trong đạo Phật.
d. Giáo Pháp của Đức
Phật vượt khỏi phạm vi luận lý bằng kiến thức thế gian. Đạo của Phật chỉ
có thể Chứng Ngộ bằng tuệ giác và nỗ lực thực hành. Không bao giờ
Ngài nói giáo pháp của Ngài là một triết lý. Ngài cho những luận
bàn mà không một kinh nghiệm thực hành là hý luận, không giúp ích
gì cho người tu hành và không bao giờ có thể đạt được giải thoát.
(Ngoại trừ trường hợp dùng lý luận để bác bỏ tà kiến của ngoại đạo như
những lý luận Ngài đã dùng để nói các Kinh trong hệ thống Kinh A-Hàm).
Đức Phật cũng không bao giờ đích thân nói chỉ có Phật Pháp mới là chánh
kiến, mặc dầu sự thật rõ ràng là như thế, như trong trường hợp của Tứ Diệu
Đế; và để tránh những xô xát, xích mích tôn giáo; Ngài luôn luôn dạy đệ tử
phải tôn trọng đức tin của những tôn giáo khác đương thời.
Có một
lần, một vị hiền triết đến hỏi Đức Phật rằng giáo lý của Ngài dạy về vô
ngã hay hữu ngã. Đức Phật chỉ im lặng, không trả lời. Sau khi thấy không
thể ép Đức Phật xác nhận một bên nào, nhà hiền triết đứng lên ra về. Tôn
Giả A-Nan liền bạch Phật : "Bạch Thế Tôn, vì nhân duyên gì Đức Thế Tôn
không trả lời cho ông ta như Đức Thế Tôn vẫn dạy chúng con?" Đức Phật nói:
"Ông ta đến đây muốn Như Lai nói lên một triết thuyết. Này A Nan, từ trước
tới nay, Như Lai chỉ giảng về Khổ và Con Đường Diệt Khổ". Đức Phật chủ
trương đạt được quả Giải Thoát, không phải là chỉ học những triết lý cao
siêu mà là do thực hành những lời giảng về Tứ Diệu Đế.
đ. Và sau cùng, muốn
hoàn toàn giải thoát, người tu hành phải biết buông xả tất cả mọi tri kiến
đã học được. Kinh nói: "Khi đáo bỉ ngạn thì Chánh Pháp cũng phải
bỏ". Cũng vì vậy, trước khi nhập niết bàn, Đức Phật đã tuyên bố:
"Trong hơn 40 năm qua, Như Lai không nói một lời nào". Ta
phải hiểu cái "lời" mà Đức Phật không nói ra được lại là cái "lời
có thể dẫn đến sự thể nhập chân lý". Nhưng cái "lời" đó lại
không thể diễn dịch được bằng ngôn ngữ của cái thế giới hiện tượng này thì
làm sao có thể nói lên được.
Những lời Đức Phật đã
nói : Trong hơn 40 năm thuyết pháp độ sanh chỉ là những phương tiện mà
thôi. Không thể chấp phương tiện để đạt được cứu cánh. Đạt được cứu cánh
phải là giáo ngoại biệt truyền như giữa Đức Phật và tôn giả Ma Ha
Ca Diếp.
8. Sa La Song Thọ Thị
Hiện Niết Bàn Tướng,
nghĩa là tại giữa hai
cây Sa La, Đức Phật thị hiện tướng nhập niết bàn.
Khi ấy, Đức Phật đã
được 80 tuổi thọ. Tuy là một nhân vật phi thường, Ngài vẫn còn mang xác
thân ngũ uẩn, mà đã là ngũ uẩn thì phải có bệnh hoạn, già yếu và tịch diệt
như bất cứ chúng sanh nào trên thế gian. Ngài thường nói với môn đồ là
thân xác của Ngài lúc này, giống như một chiếc xe đã quá cũ và Ngài
đã báo tin đó ba tháng trước, đồng thời lựa chọn khu rừng Kusinara làm
nơi nhập diệt.
Nghe Đức Phật sắp
nhập niết bàn, Ngài A Nan kêu khóc thảm thiết và hỏi Đức Phật có chỉ định
vị đệ tử nào thay thế Ngài lãnh đạo giáo đoàn chăng? Đức Phật đáp: "Này
A Nan, Như Lai không nghĩ rằng phải có một người nào lãnh đạo giáo đoàn
các Tỳ Kheo, hoặc giáo đoàn phải tùy thuộc nơi người nào. Này A Nan, các
con hãy tự coi chính mình là hải đảo, là chỗ nương tựa cho chính mình.
Không nên tìm nương tựa vào bất cứ ai bên ngoài. Hãy lấy Giới Luật
và Giáo Pháp của Như Lai làm Thầy của các con".
Khi Đức Phật đến rừng
Kusinara, nhìn thấy những cây Sa La trổ bông và các đệ tử lễ bái tôn sùng
Ngài; Ngài đã giáo huấn như sau: "Này A Nan, không phải lễ bái như vậy
là tôn trọng, kính cẩn, sùng bái và làm vẻ vang Như Lai đâu. Bất luận
người nào thực hành đúng lời giáo huấn, phẩm hạnh trang nghiêm, sống một
cuộc đời chân chánh, là người tôn trọng, kính cẩn, sùng bái là làm vẻ vang
Như Lai một cách cao thượng nhất".
Đến giờ nhập diệt,
Đức Phật còn dạy bảo các đệ tử một lời tối hậu: "Hãy nghe đây, các đệ
tử! Như Lai khuyên các con. Tất cả các Pháp Hữu Vi đều vô thường.
Hãy tận lực liên tục chuyên cần".
Rồi Ngài nằm xuống
chiếc võng mắc giữa hai cây Sa La, đầu hướng về phía Bắc gối lên bàn tay
phải, nghiêng mình trên hông bên mặt, chân trái gác dài trên chân phải,
tâm hoàn toàn tỉnh giác và nhập Đại Niết Bàn. Hôm đó là ngày trăng tròn
của tháng hai.
Chúng ta lại xem về ý nghĩa thành đạo trong tướng Thị Hiện
Niết Bàn.
a. Như lúc đản sanh,
lúc nhập niết bàn, Đức Phật cũng lựa chọn một phong cảnh thiên nhiên, mặc
dầu lúc đó có nhiều tinh xá được xây cất và cúng dường cho giáo đoàn, để
nói lên sự thể nhập thiên nhiên của Ngài.
Thời sanh tiền, Đức
Phật đã từng nói:"Dù chư Phật có ra đời hay không, chân lý (Phật pháp)
đó vẫn có". Chư Phật ra đời để chỉ cho loài người biết cái gì là chân
lý mà thôi. Người nào muốn ngộ được chân Lý như chư Phật, tất nhiên phải
tu hành tinh tấn, giữ gìn giới hạnh, hành trì giáo pháp của chư Phật.
Không thể có con đường nào khác hơn để đạt được giác ngộ và giải thoát.
Tám mươi năm tại thế, trong thân thể ngũ uẩn của một người bình thường,
Ngài đã để lại cho chúng sanh lịch sử cuộc đời Ngài từ lúc sơ sanh đến lúc
nhập diệt, không có một cái gì có thể gọi là bí mật, hay không có một
thời gian nào trong 80 năm đó mà người ta không biết Ngài ở đâu và làm gì.
Ngài đã tuyên bố rất
rõ ràng trước ngày nhập diệt: "Này A Nan, Giáo hội các đệ tử còn mong
mỏi gì ở Như Lai? Như Lai đã truyền dạy giáo pháp không có sự phân biệt
nào giữa giáo lý bí truyền và giáo lý công truyền. Về chân lý, Như Lai
không khi nào có bàn tay nắm lại của một ông Thầy". Ngài từ thiên
nhiên tới, và cũng từ thiên nhiên đi, giáo pháp truyền dạy cũng là những
điều thiên nhiên sẵn có. Tâm Ngài không bao giờ lưu giữ bất cứ cái gì,
hoặc tình thương riêng biệt cho người nào, nên Ngài cũng không còn có một
chút tham luyến gì nơi cõi Ta Bà. Đó là một sự Siêu Thoát hoàn toàn
thanh tịnh.
b. Lời nhắn nhủ :"Các
con hãy tự làm hải đảo cho chính mình nương tựa" là lời nhắn nhủ rất
thân tình. Ngài đã nhắc cho đệ tử và những người tu theo giáo pháp của
Ngài sau này, không nên trông cậy vào bất một ai hay bất cứ một năng lực
nào đến từ bên ngoài dù là từ một nhân vật siêu thế nào, để cầu mong một
sự ban phước giáng họa.
c. Lời dạy dỗ:"Bất
luận người nào hành trì đúng giáo pháp của chư Phật và sống một đời sống
chân chánh, phẩm hạnh trang nghiêm là người tôn kính, sùng bái Như Lai một
cách cao thượng nhất" là Ngài muốn nói đến Pháp Thân của chư
Phật. Cái pháp thân đã hòa nhập vào thiên nhiên, vũ trụ và chân lý nên trở
thành bất diệt, luôn luôn thường còn. Tướng niết bàn (nhập diệt)
chỉ là tướng thị hiện sự sanh diệt hữu vi mà thôi.
d. Và cuối cùng, Đức
Thích Ca nhập diệt, đầu hướng về phương Bắc, mặt ngoảnh về phương Tây...
Phải chăng Đức Thích Ca cũng chính là Đức Di Đà ở Tây Phương Thế Giới Cực
Lạc, vì lời nguyện độ khắp chúng sanh mà thị hiện nơi chốn Ta Bà, nay
nguyện lực đã viên mãn, Ngài trở về nhà ? Phải chăng như Chư Phật
mười phương hoan hỷ hộ niệm giáo pháp của Đức Thích Ca tại chính quốc độ
của mình, Đức Phật A Di Đà cũng đang chờ đón cuộc viếng thăm Tây Phương
Cực Lạc của Bậc Đại Đạo Sư ?
Chư Tăng Ni và quý vị
Phật Tử thân mến :
Trong hơn một tiếng đồng hồ vừa qua, Thầy đã cùng quý vị
ôn lại lịch sử của Đấng Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni và cuộc đời tu hành cùng
công đức hoằng truyền Chánh pháp của Ngài.
Là một nhân vật phi thường, hàng vạn năm mới xuất hiện một
người, giáng trần cứu độ nhân loại và muôn loài chúng sanh hữu tình. Như
trong phần mở đầu Thầy đã nói, không phải nhờ sự giáng trần xuống quốc
gia Ấn Độ hơn 2500 năm trước đây, Ngài mới tu hành và đắc quả vị Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác.
Sự thật là Ngài đã tu
hành từ vô luợng kiếp và đắc quả Phật như đã được kể lại trong Túc Sanh
Truyện. Nay vì tâm nguyện cứu độ quần sanh và cũng là nhân duyên đúng
thời, đúng lúc của nhân loại, Ngài hóa hiện giáng trần để đem ánh sáng của
Chân tâm, trí tuệ chiếu rọi, thức tỉnh chúng ta mau trở về với tự
tánh bản nhiên của mỗi chúng ta, vốn đã sẵn có, để ra khỏi cảnh trầm luân,
tìm đường thoát khỏi sáu nẻo luân hồi. Ngài đã hoàn thành viên mãn tâm
nguyện Hạ Hóa Chúng Sanh của một vị Bồ Tát. Sanh thân của Ngài tuy
không còn, nhưng pháp thân Tỳ Lô Giá Na vẫn luôn luôn hòa nhập cùng hư
không và linh linh thường chiếu.
Hôm nay, tại đạo
tràng này, chúng ta cử hành lễ kỷ niệm ngày Ngài đắc quả Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác, chúng ta phải tự nguyện chuyên tâm tìm về với pháp thân
của Ngài đang luôn luôn ở trong chúng ta. Như trong Kinh Pháp Hoa nói,
chúng ta là những cùng tử, vì mê muội mà chúng ta đã bỏ cha, bỏ quê hương,
đi lang thang lần hồi kiếm ăn, chịu cảnh cùng khốn, nổi trôi đến nỗi quên
cả đường về. Chỉ có chúng ta bỏ Phật chứ Phật có bao giờ nỡ xa lìa chúng
ta. Đấng Từ Phụ của chúng ta sẽ hoan hỷ biết bao nhiêu, mỗi lần đón nhận
một đứa con thân yêu biết tìm đường trở về nhà.
Con đường đó, Ngài đã mất 80 năm trong cõi Ta Bà uế trược
này, làm thân phàm phu để nhắc nhở, chỉ vẽ cho chúng ta. Công đức ấy non
nào sánh kịp, biển nào chứa đủ ? Chúng ta là những kẻ có cơ duyên được
chút xíu ánh sáng của Ngài chiếu tới, phải biết nương theo ánh sáng đó,
như người mù vừa được chữa mắt, dù còn thấy lờ mờ, cũng phải lần mò theo
luồng hào quang của Ngài đã chiếu rọi mà trở về với Đấng Cha Lành.
Những buổi lễ như thế
này, chỉ là hình thức. Ngài đã từ bỏ cung vàng điện ngọc, ngôi vị Đế Vương
cao sang để tìm cho chúng ta một con đường sáng, thì buổi lễ dù có long
trọng cách nào chăng nữa cũng chẳng đủ báo đền công đức hy sinh của Ngài.
Thầy muốn toàn thể quý vị hãy luôn luôn nhắc nhở tới bản hoài của Ngài
"Thượng cầu Phật Đạo, Hạ Hóa Chúng Sanh" mà dõng mãnh phát tâm Bồ Đề
để biến cái quốc độ uế trược này thành một cõi trang nghiêm Tịnh Độ của
Ngài. Mong tất cả hãy cố gắng !
Nam Mô Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật.
14.
Tu Tâm và Dưỡng Tánh
Cùng chư Tăng Ni và quý Phật tử thân mến
:
Sách đại học của nhà nho có câu :
‘Dục bình thiên hạ, tiên trị kỳ quốc.
Dục trị kỳ quốc, tiên tề kỳ gia.
Dục tề kỳ gia, tiên tu kỳ thân.
Dục tu kỳ thân, tiên chánh kỳ tâm’.
Nghĩa là :
‘Muốn cho thiên hạ được hòa bình thì trước hết, mỗi nước phải được thạnh
trị.
Muốn cho mỗi nước được thạnh trị, trước hết mỗi gia đình phải được hòa
thuận.
Muốn cho mỗi gia đình được hòa thuận thì trước hết phải sửa đổi những hành
vi bất chánh nơi thân mình.
Muốn sửa đổi những hành vi bất chánh nơi thân mình, trước hết phải tu sửa
cho Tâm mình được đoan chánh, ngay thẳng’.
Sách nho chỉ dạy cách học làm
người thế gian, tức là làm người phàm phu, mà còn dùng phương pháp
‘chánh tâm’ làm căn bản; lẽ nào chúng ta, những người tu hành, đang
học đạo làm Thánh, làm Phật với mục đích cao thượng hơn nhiều, là giải
thoát sanh tử luân hồi, lại thờ ơ trong việc tu tâm được?
Người phàm phu nơi thế gian
thường nói : ‘Tu Phật là tu tâm, đâu cần phải ở chùa, tụng kinh, gõ mõ,
ăn chay, niệm Phật, mới là tu’. Câu đó đúng, nhưng chỉ đúng với các
bậc đã giác ngộ, đã nhận chân lý, đã thấu rõ luật nhân quả huyền vi. Hạng
phàm phu tục tử mà cũng dám học đòi, nói câu đó thì chỉ giống như con vẹt
học nói tiếng người. Khi được hỏi đến tâm là gì? Tâm ở đâu? thì nói đông
nói tây, cưỡng từ đoạt lý, chỉ nam chỉ bắc mà thật sự chẳng hiểu tâm là
gì? Tâm từ đâu đến? Tại sao biết có tâm?
Đạo Phật là đạo của tâm, dùng
tâm làm cứu cánh cho mục đích giải thoát sanh tử; nên chúng ta, những
người tu hành, vì mục đích cuối cùng đó, càng phải biết rõ về tâm. Không
biết rõ về tâm thì sự tu hành của chúng ta không bao giờ đạt được kết quả,
trở thành bậc giác ngộ, độ được cho mình và độ được cho người.
Trong thời mạt pháp hiện nay, đa
phần những người xuất gia, mặc dầu đã thọ Đại Y giải thoát, cũng vẫn tiếp
tục tạo nghiệp, tu hành buông lung cạn cợt, chỉ vì không biết rõ về tâm và
tánh. Tổ Sư đã gọi những người này là hạng ‘Thử tức, điểu không’.
‘Thử tức, điểu không’ nghĩa là khi nghe nói ‘Phật tức tâm, tâm tức
Phật’ thì cũng chỉ biết lải nhải theo như con chuột kêu ‘tức tức...’,
nghe nói ‘Vạn pháp giai không’ cũng chẳng hiểu cái ‘tánh không’
là thế nào, mà lúc nào cũng giống như con chim học nói tiếng người, suốt
ngày chỉ biết bắt chước mà kêu réo ‘không không...’.
Do đó, trong thời pháp khai thị
hôm nay, Thầy sẽ giảng cho quý vị rõ về tâm và tánh, vì tâm và tánh giữ
vai trò vô cùng quan trọng trong việc tu hành của quý vị. Dù quý vị tu
hành theo pháp môn nào, thiền, tịnh hay mật, cũng
phải lấy tâm và tánh làm tông chỉ tu hành. Có biết rõ tâm thì mới tu, mới
sửa được tâm. Biết rõ tánh thì mới nuôi dưỡng được tánh.
Phàm là chúng sanh hữu tình, loài nào cũng có tâm và có tánh. Riêng loài
người là loài tối linh ư vạn vật, thì cái tâm và cái tánh được hiển lộ
dưới thiên hình vạn trạng, rất khó điều dưỡng. Tâm tánh con người có thể
đưa con người trở nên các bậc Thánh, nên nói con người có Phật tánh, linh
tánh. Trong loài vật, tâm và tánh hiển lộ rất hạn chế, không có khả năng
sửa đổi, tu dưỡng nên nói là vật thì có Pháp tánh.
Nhưng con người, dù là tối linh ư vạn vật, nhưng không phải ai cũng là
Thánh. Vì nghiệp thức và công năng tu tâm dưỡng tánh mà có Thánh có Phàm.
Người có tâm tánh rộng lớn, có lòng thương xót, lợi ích đến chúng sinh mọi
loài, chu biến pháp giới, không từ bỏ loài nào mà không thương xót thì sẽ
trở thành Thánh. Người có tâm tánh nhỏ hẹp, chỉ bo bo ôm lấy cái tính ích
kỷ, chỉ biết làm lợi ích cho mình, coi thường những tổn hại đến người
khác, loài khác thì thuộc loại phàm phu.
Mặc dầu tâm vốn không khác; không tăng ở hàng Thánh, không giảm ở loài sâu
kiến, côn trùng, nhưng sở dĩ có lớn có nhỏ, có rộng có hẹp là do công năng
tu luyện phát triển, làm cho tâm đến chỗ toàn chân, toàn thiện và toàn mỹ;
hoặc để cho vọng tình, vọng tưởng, tham dục thế gian làm ô nhiễm. Vì vậy,
có tâm nhưng phải biết tu, có tánh cũng phải biết dưỡng. Sách có câu :
Người đời sớm phải tri cơ,
Gương lu vì bụi, trăng lờ vì mây,
Chở che nhờ đức cao dầy,
Dẫu tu cho mấy không tầy tu tâm.
Con người sinh ra, dẫu sẵn có
cái tâm tánh của Thánh, bản nhiên thanh tịnh đồng như chư Phật, nhưng vì
nghiệp thức mà cái tâm Phật, tánh Phật đó ví như tấm gương trong sáng bị
bụi bậm bám lên, như mặt trăng hằng chiếu rọi nhưng bị mây che lấp nên
gương và trăng không hiển lộ, chiếu rọi được bản tánh trong sáng. Muốn đạt
được tâm tánh sáng suốt đồng chư Phật, phải biết lau chùi cho hết bụi phủ
trên gương, phải biết làm như gió, thổi tan đám mây mờ che lấp mặt trăng.
Để quý vị có thể hiểu rõ hơn,
Thầy sẽ định nghĩa từng chữ trong từ ngữ Tu Tâm Dưỡng Tánh.
Tu
là sửa đổi, tu tập, luyện tập. Sách Nho gọi đó là ‘Chánh kỳ Tâm’. Người
tu tâm phải nhận biết sự vật đúng như tự tánh của chúng. Đối nghịch với
chánh là tà vạy, là điên đảo, là cong quẹo, lợi mình hại người. Đức Phật
đã chỉ bày cho chúng ta biết phương thức đi vào ‘chánh tâm’ bằng
con đường thực hành Bát Chánh Đạo. Từ hành động, lời nói, ý nghĩ,
từ mạng sống, nghề nghiệp, phải có nhận thức cho đúng đắn.
Muốn sửa cho tâm ngay thẳng, con
người phải biết tôn trọng và thương yêu người khác, loài khác vì chính
mình cũng muốn được người khác và loài khác tôn trọng và thương yêu. Phải
hiểu rõ rằng sự hiện diện của mỗi loài, mỗi người, trên trái đất này cũng
quan trọng như sự hiện hữu của mình. Những hành động, lời nói hay tư tưởng
gây đau khổ, phiền não cho người khác, loài khác đều là hành động, lời
nói, tư tưởng không chân chính, không ngay thẳng.
Trước khi làm việc gì, nói lời
gì hay suy nghĩ gì đều phải đặt sự lợi ích của người khác, loài khác làm
đề mục tư duy, đừng để cho cái Ta và cái lợi cho Ta, sản phẩm của Mạt Na
Thức, chi phối. Như vậy gọi là sửa đổi, tu tập hay tu luyện.
Chữ tu trong đạo Phật còn có ý
nghĩa tích cực, cao cả hơn. Đạo Phật không chủ trương mưu cầu an lạc, hạnh
phúc riêng cho mình, dù là không tổn hại đến người khác, loài khác, mà
người tu theo Phật, phải đem lại sự an vui, hạnh phúc cho mọi người, mọi
loài khác. Đức Phật cho rằng, nếu chỉ có một mình mình được sống an vui,
hạnh phúc trong một quốc độ đầy dẫy sợ hãi, đau khổ, thì cái an vui và
hạnh phúc của mình không trọn vẹn, không an ninh.
Ví như một người giàu có sống
giữa một xã hội đầy bất công, nghèo đói, khổ sở thì sự giàu có của người
đó khó mà được bảo đảm vì lúc nào cũng lo sợ bị ăn trộm, ăn cướp. Không
phải chỉ riêng của cải có thể bị trộm cướp, ngay cả tính mạng cũng không
an toàn. Đã có lo sợ thì hạnh phúc, an vui không được trọn vẹn. Quan niệm
này được thấy rất rõ khi Đức Phật còn là Thái Tử Tất Đạt Đa, dạo chơi
ngoài hoàng thành, nhìn thấy những đau khổ của con người, sanh lòng lo sợ
cho chính mình và thương xót cho thân phận con người qua những chu kỳ già,
bệnh và chết. Cũng vì thấy rằng, trong ngôi vị Thái Tử và Quân Vương, tuy
Ngài có thể có đầy đủ hạnh phúc và sung sướng vật chất thế gian, nhưng
hạnh phúc đó được tạo ra bằng mồ hôi, nước mắt của những người hầu hạ, và
rồi Ngài cũng sẽ già, sẽ bệnh và sẽ chết, không mang theo được sự sung
sướng vật chất đó, nên cái hạnh phúc Ngài đang có không phải là cái hạnh
phúc trọn vẹn, lâu bền. Ý chí đi tìm một con đường giải thoát lo sợ, khổ
đau cho chính mình và cho loài người, loài vật, đã đè nặng tâm tư của Ngài
và thúc giục Ngài từ bỏ cái an vui tạm bợ thế gian để đi tìm cái an vui
đích thực, trọn vẹn, an toàn và vĩnh cửu cho mình và cho chúng sanh.
Trong pháp tu Tứ Chánh Cần
là bốn phép tu siêng năng tinh tấn thì hai phép đầu là :
Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sanh,
và Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sanh có tính chất tự lợi,
tiêu cực.
Hai phép sau :
Tinh tấn phát triển những điều lành chưa phát sanh,
và Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đã phát sanh, là
pháp môn tu tập có tính chất lợi tha, tích cực.
Trong pháp tu Thập Thiện là dứt
trừ những việc bất thiện của thân, miệng và ý là pháp tu tự lợi. Tích cực
phát triển những việc thiện của thân, miệng và ý là pháp tu lợi tha.
Cho nên trong chữ tu của đạo
Phật, bao gồm phần tiêu cực là tự sửa đổi tâm tánh không ngay thẳng của
mình và phần tích cực là luôn luôn đặt lợi ích của chúng sanh lên hàng
đầu, nhà Phật gọi là nhiêu ích hữu tình. Đó cũng là bản hoài của
chư Phật, chư Bồ Tát thị hiện giáng trần. Các Ngài không an hưởng niết bàn
mà phát nguyện nhập thế độ sanh. Quý vị tu theo đạo Phật thì phải theo
hạnh độ sanh của chư Phật, của chư Bồ Tát. Như thế mới gọi là thực hành
đúng nghĩa chữ tu của người con Phật.
Bây giờ, chúng ta hãy tìm hiểu
tâm (tiếng Phạn là Citta) là gì? Tâm được định nghĩa là sự hiểu
biết, phân biệt, là tâm linh, linh tánh v.v... Tâm còn là căn cứ phát khởi
hành động, cảm thọ. Nói cách khác, tâm là phần tinh thần của loài hữu
tình.
Trong Kinh Pháp Cú (Dhammapada), Đức Phật dạy : ‘Trong các pháp, tâm
dẫn đầu, tâm là chủ, tâm tạo tác tất cả...’. Trong Kinh Lăng Nghiêm,
Đức Phật giảng cho Ngài A Nan và Vua Ba Tư Nặc : Tâm là cái thấy nhưng
cái thấy này khác với cái thấy của con mắt. Con mắt có thể bị mù,
nhưng cái thấy không bị mất. Cái thấy (tâm) không
già, không trẻ, không sanh, không diệt. Người chết rồi, tâm bỏ thân này,
thọ thân khác. Hòa Thượng Thích Thiện Hoa định nghĩa : Tâm là ‘cái
hiểu biết, phân biệt’ cũng gọi là phần tinh thần của con người.
Tâm không có hình tướng dài, ngắn, vuông, tròn hay có màu sắc xanh, đỏ,
trắng, vàng gì. Không thể dùng con mắt mà thấy được tâm; không thể dùng lỗ
tai mà nghe được tâm; cũng không thể dùng tay chân mà rờ đụng được tâm;
chỉ do thấy cái tác dụng của nó mà biết có tâm.
Duy Thức Học lại nói : Tâm
gồm tám thức tâm vương và 51 tâm sở.
Tâm được định nghĩa qua Kinh và
Luận bao gồm thiên hình vạn trạng như thế. Ngôn ngữ thế gian không đủ để
tả cái mà Đức Phật gọi là ‘chơn tâm’.
Để quý vị khỏi bị rối loạn về
nghĩa của tâm, Thầy cũng miễn cưỡng, tóm tắt định nghĩa về tâm như sau :
‘Tâm là sự hiểu biết, phân
biệt, chủ tể của vạn pháp. Tâm không hình, không tướng, không sanh, không
diệt, không nhơ, không sạch. Trên, nơi Phật Thánh, không tăng; dưới, nơi
côn trùng, không giảm. Lớn như Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, nhỏ như hạt
bụi trần gian, vô hình như ba cõi, chín địa; hữu hình như chén nước, cọng
rau; chỗ nào cũng có tâm, cái gì cũng là tâm. Từ vô thỉ, loài hữu tình
sanh ra đã sẵn có tâm. Tâm không từ đâu đến (vô lai),
chẳng có chỗ đi (bất khứ). Tâm không ở một chỗ nhứt định
nào (ưng vô sở trụ) mà chỗ nào cũng có tâm (nhi sanh
kỳ tâm)’.
Trong phần sau, khi nói tới các loại tâm, quý vị sẽ hiểu rõ hơn.
Dưỡng là gì ? Trong đời sống
hàng ngày, chúng ta thường nghe đến hai chữ tu dưỡng đi đôi với
nhau, và tưởng như hai chữ này là một động từ kép để nói lên sự sửa đổi
tánh nết con người.
Thật ra, mỗi chữ có nghĩa riêng của nó. Tu là sửa đổi, có ý nghĩa
là diệt trừ cái xấu, chuyển cái xấu thành cái tốt; trong khi dưỡng không
có ý nghĩa sửa đổi hay diệt trừ. Dưỡng là hành động đi sau hành
động tu, nghĩa là sau khi cái xấu đã được chuyển hóa thành cái tốt rồi,
thì dưỡng là hành động lựa chọn phương pháp để phát triển cái tốt vừa được
chuyển hóa, hành động này gọi là điều dưỡng; hoặc làm cho cái tốt được tồn
tại, không biến trở lại thành cái xấu. Hành động này gọi là bảo dưỡng;
hoặc làm cho cái tốt được phát triển thành tốt hơn, gọi là nuôi dưỡng. Thí
dụ như trong phép tu Tứ Chánh Cần.
Ba phép đầu :
- Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sanh.
- Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sanh.
- Tinh tấn phát triển những điều lành chưa phát sanh
là hành động tu.
Phép thứ tư :
- Tinh tấn phát triển những điều lành đã phát sanh.
là hành động dưỡng.
Nói cách khác, tu có tính chất tiêu cực, tự lợi. Dưỡng có
tính chất tích cực, lợi tha. Hòa Thượng Thích Thiện Hoa nói : Tu là trừ
mà dưỡng là cộng. Trong nhà Phật, khi nói đến hai chữ dưỡng tánh,
chúng ta nên hiểu cái tánh được nuôi dưỡng không chỉ có ý nghĩa cạn cợt là
những tánh nết tốt trong đạo làm người thế gian, mà còn có ý nghĩa cao cả
hơn và siêu xuất thế gian là nuôi dưỡng và phát triển Phật tánh sẵn có
đang tiềm tàng trong mỗi chúng ta.
Tánh, tiếng Phạn là Cetasika, có
nghĩa là tánh tình, tức là trạng thái, hành động phát sinh bởi tình cảm
của loài hữu tình, thí dụ như tánh ủy mị, tánh nóng nảy, tánh kiêu căng
v.v... Tánh cũng có nghĩa là tánh căn. Các thức (bát thức và tâm
sở) tiếp xúc với trần hay cảnh, nương theo trần, cảnh mà phát sinh ra.
Thí dụ như tánh yêu ghét, tánh
phân biệt v.v... và cũng có nghĩa là tánh đức. Tánh đức là tánh của
Phật, của Thánh, của bậc Giác Ngộ v.v.... Giữa tâm và tánh không khác nhau
bao nhiêu, thật ra, cũng chỉ là một. Tánh cũng là ‘cái hiểu biết và
phân biệt’ của tâm, được huân tập, hiển lộ (hiếu động). So sánh
tâm và tánh cũng giống như so sánh nước và sóng. Ta có thể nói tâm như
nước (tướng yên lặng) và tánh như sóng (tướng chuyển động).
Tướng có khác, nhưng thể không khác. Tâm và tánh là một như nước với sóng
là một.
Bây giờ, chúng ta hãy tìm hiểu
tâm có mấy thứ? Trước khi nói về các thứ tâm và tánh, Thầy muốn mở một dấu
ngoặc ở đây để nói về phạm vi bài giảng hôm nay. Trong mục đích giúp quý
vị tìm hiểu, quán sát cái tâm và tánh thường hiển lộ hàng ngày, trong lúc
quý vị tu hành để giải thoát khỏi thất tình lục dục của phàm phu mà bước
lên mức độ siêu thoát của hàng Thánh, hàng Phật. Thầy không có ý phân tách
cái tâm và tánh như Duy Thức Học.
Thế nên, quý vị hãy tạm rời bỏ
những phân tích, giải thích tâm và tánh của Duy Thức. Hôm nay, Thầy chỉ
muốn nêu lên sự khác biệt về tâm và tánh giữa phàm phu như chúng ta và
hàng Thánh như các bậc đã giác ngộ.
Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu
về hai thứ Tâm: Phàm Tâm và Thánh Tâm. Thế nào gọi là Phàm
Tâm và thế nào gọi là Thánh Tâm?
Phàm Tâm có mấy loại ? Qua Kinh điển, Thầy phân loại phàm tâm thành ba
loại :
1)
Thức Tâm.
2)
Viên Tâm và
3)
Cấu Tâm
1. Thức
tâm là gì?
Là cái tâm nương theo sự hiểu
biết của tám thức: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức,
ý thức, mạt na thức và a lại da thức. Đức Phật gọi cái tâm này
là vọng tâm, nghĩa là cái tâm u mê, mờ tối. Có hiểu biết nhưng là cái hiểu
biết hư dối. Những hiểu biết của thức, vì có nhân vô minh nên sanh ra
chuyện này chuyện khác. Kinh có câu : ‘Vạn pháp duy Thức’. Vì cái
hiểu biết của thức là cái hiểu biết bị màn vô minh che lấp, cái hiểu biết
bị gió nghiệp chi phối, không hiểu lẽ huyền vi của luật nhân quả và lý
duyên sanh, nên tâm nương theo cái hiểu biết si mê đó mà cho là có, là
thiệt. Những hành động do thức tâm phát khởi chỉ là những hành động tạo
nghiệp, dẫn dắt con người đắm chìm trong đau khổ và phiền não mà lưu
chuyển trong sanh tử luân hồi.
2. Viên
tâm :
Viên là con vượn. Viên tâm là tâm hay giao động như con vượn hay nhảy từ
cành này qua cành khác, lăng xăng, thay đổi luôn luôn. Sáng quyết định
tinh tấn tu hành, chiều lại thối chí sợ lâu, ngại khó. Tuy có tọa thiền,
nhưng chỉ tọa được cái thân, còn cái tâm thì khởi nghĩ hết chuyện này tới
chuyện khác, chuyện quá khứ, hình ảnh xa xôi v.v... không lúc nào yên.
Niệm Phật mà tâm không gắn liền vào câu niệm Phật, mắt nhìn ngang nhìn
dọc. Cái tâm lăng xăng, như con vượn chuyền cành này, là một chướng ngại
trong việc tu hành.
Điển hình cho cái tâm lăng xăng này là câu chuyện của Đại Sư Thần Quang
cầu đạo. Mặc dầu Thần Quang Đại Sư đã là một vị cao tăng, chân tu và có ý
chí dõng mãnh, chịu đứng suốt đêm dưới mưa tuyết và chịu chặt cánh tay để
tỏ sự quyết tâm cầu đạo của mình, nhưng vẫn không giữ được cái tâm cho an
định. Thế nên, ngay câu đầu tiên xin Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền đạo là xin
được truyền phép an tâm. Hiển nhiên, Đại Sư đã có chướng ngại trong việc
tu hành vì tâm không an. Chỉ đến khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma bảo Ngài đem cái tâm
ra để Tổ an cho, Thần Quang Đại Sư mới đắc đại ngộ và đạo nghiệp mới được
khai mở để đưa Ngài lên địa vị Tổ thứ hai của Phật Giáo Đông Độ với pháp
hiệu Huệ Khả.
3. Cấu
tâm là gì ?
Cấu tâm là cái tâm bị ô nhiễm của
phàm phu. Cấu tâm làm cho con người chấp cái thân là thiệt, là thường còn,
nên lúc nào cũng lo cho cái thân được hưởng thụ. Cái tâm lúc nào cũng đắm
chìm trong ngũ dục : Tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. Suốt
đời chỉ lo cho cái thân vật chất và tạo tác những hành động, lời nói và tư
tưởng với mục đích vị kỷ. Chính cái cấu tâm là nguồn gốc của đau khổ và
phiền não trong cuộc sống hàng ngày vì bị cái thân đòi hỏi, chi phối,
không lúc nào biết đủ.
Tóm lại, cái tâm phàm phu là cái
tâm ích kỷ, nhỏ hẹp và gây chướng ngại trong sự tu hành của quý vị. Hàng
ngày, chúng ta cứ sống bằng cái tâm phàm phu nên không lúc nào cảm thấy
nhẹ nhàng, thanh thoát. Mặc dầu quý vị cũng theo đủ các thời khóa lễ, cũng
tụng kinh, niệm Phật và tưởng rằng như thế là tu. Quý vị hãy thử tự quán
sát xem cái tâm nó có để cho quý vị được yên ổn không? Trước khoá lễ, quý
vị có dành đủ thì giờ để chuẩn bị cho thân tâm thanh tịnh không? Trong
khoá lễ, quý vị có để cho ý thức dẫn dắt quý vị vào những suy nghĩ mông
lung gì khác ngoài việc tụng Kinh không? Mỗi lần xướng hồng danh Phật, quý
vị có quán tưởng đến tướng hảo quang minh của chư Phật không? Quý vị có
cảm thấy hồi hộp, khó chịu thi thấy câu Kinh mình đọc không hòa được với
nhịp mõ không? Quý vị có để ý tới người bên cạnh, đằng trước, đằng sau xem
người ta có trang nghiêm giống như mình không? Quý vị có ý định nói cho
người ta biết sau khóa lễ không? Sau thời Kinh, quý vị có cảm thấy nhẹ
nhàng thanh thoát không?
Những câu hỏi đó đều là những
phân tách chướng ngại để quý vị tự quán sát xem mình có nhất tâm chưa? Chỉ
có chính quý vị mới tự quán xét và sửa đổi được. Nếu quý vị còn cảm thấy
nặng nề, còn suy lường so sánh, còn lo sợ Thầy quở, bạn chê, còn lăng xăng
suy nghĩ thì quý vị phải tự lo liệu mà tìm cách sửa đổi cho tâm được nhẹ
nhàng thanh thoát. Thầy cũng không sửa giùm quý vị được, bạn cũng không
làm giúp quý vị được. Như thế gọi là tu, nghĩa là lúc nào cũng tỉnh thức
trong mỗi hành động, mỗi lời nói, mỗi suy nghĩ chỉ có tánh chất hướng
thượng và viên mãn. Như thế mới gọi là tu.
Bây giờ chúng ta hãy bước qua
phần tìm hiểu về cái tâm của các bậc Thánh. Các bậc Thánh ở đây, Thầy muốn
nói đến các vị đã đắc được các quả vị A La Hớn, Duyên Giác, Bích Chi và Bồ
Tát. Các vị này đã đắc được quả vị Vô Sanh, có cái trí vô lậu; tuy
có thể còn mang cái thân phàm phu như chúng ta, nhưng tâm của các ngài,
trừ quả vị A La Hớn chủ trương giải thoát phiền não, đã vượt khỏi hệ lụy
thế gian, giải quyết sanh tử và an hưởng niết bàn, là cái tâm rộng lớn,
lúc nào cũng mang nguyện cứu độ chúng sanh.
Chư vị Bồ Tát vì đại nguyện mà
thị hiện xuống thế gian, mượn cái thân phàm phu làm phương tiện hóa độ,
mang cuộc đời tu hành tinh tấn của các Ngài, cũng trải qua những chu kỳ
sanh, trụ, dị, diệt của định luật thiên nhiên, cũng trải qua những tai
kiếp trần gian, làm phương tiện để chỉ cho chúng sanh phương pháp tu hành
đạt Thánh quả. Cuộc đời của các Ngài là phương tiện thân giáo, là những
bài học, những tấm gương quý báu cho người đời noi theo và để chứng minh
lời dạy của Đức Thế Tôn : ‘Trong mỗi chúng sanh đều có Phật Tánh’
và ‘Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành’.
Cũng như đã nói về phàm tâm,
Thầy cũng phân Thánh tâm thành ba loại :
1)
Chí thành tâm.
2)
Thâm tâm và
3)
Hồi hướng phát nguyện tâm.
1) Chí thành tâm là thế nào?
Người có tâm chí thành là người có cái tâm thành thực, tuyệt đối không bao
giờ hư dối trong việc làm, lời nói và tư tưởng. Phàm làm việc gì cũng đem
tất cả khả năng của mình để thực hành cho đến viên mãn. Người có tâm chí
thành luôn luôn hành động theo chiều hướng : Hướng đi lên, hướng Thánh
thiện, hướng đạo đức, hướng giải thoát và hướng xuất thế gian. Trong Kinh
có câu : ‘Độ tận chúng sanh, đạo ta mới thành’. Đó là cái Tâm chí
thành của chư Thánh, chư Bồ Tát. Trong Kinh Sám Nhật Tụng, quý vị hàng
ngày đọc tụng tứ hoằng thệ nguyện :
‘Chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ thệ nguyện học,
Phật đạo vô lượng thệ
nguyện thành’.
hoặc lời nguyện của A Nan Tôn Giả trong
Kinh Lăng Nghiêm :
‘Thuấn nhã đa tánh khả
tiêu vong,
Thước ca ra tâm vô động chuyển’.
Đó là những thí dụ điển hình cho
tâm chí thành của các bậc Thánh. Trong cuộc sống hàng ngày của quý vị,
nhất nhất mọi hành động, lời nói, tư tưởng đều phải nên thực hiện với cái
tâm chí thành đó. Mỗi việc làm, phải đem tất cả khả năng mà làm cho tới
khi viên mãn, không để một kẽ hở nào cho người ta còn có thể thấy và phê
bình là mình đã làm công việc một cách thiếu thành thực. Nếu công việc
mình làm bị phê bình là dở, là không đẹp, là không hay v.v... thì trước
hết mình phải có cái thiện chí học hỏi, sau khi đã tận dụng khả năng, để
có thể thành tựu tốt đẹp hơn; sau đó là tự khảo sát cái công việc đó có
được thực hiện với tất cả sự thành thực của mình hay chưa? Phải nên coi
những lời phê bình, chỉ trích như những sự khảo xét trong ‘Tuyển Phật
Trường’. Thực hành được một cách viên mãn là quý vị đã chuyển được cái
hiểu biết hữu lậu của tiền ngũ thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân)
thành cái hiểu biết (trí hay tâm) vô lậu thành Sở Tác Trí.
2. Thâm tâm : Thâm
là sâu sắc. Tâm là cái hiểu biết. Thâm tâm
là hiểu biết sâu sắc, hiểu biết đến tận cùng nguồn gốc tự tánh của các
pháp và phát khởi lòng tin kiên cố, không lay chuyển.
Chỉ khi nào quý vị biết được tận
cùng bản thể của các Pháp, quý vị mới có thể phát khởi được tín tâm hay
thâm tâm kiên cố. Thế nào là lòng tin kiên cố? Xưa Mã Tổ có một vị đệ tử
là Ngài Hoàng Mai.
Hoàng Mai Đại Sư, một hôm hỏi Mã
Tổ : ‘Phật là gì?’.
Mã Tổ đáp : ‘Phật tức tâm’.
Hoàng Mai Đại Sư đại ngộ và từ
biệt Thầy, về núi Mai Tử ẩn tu.
Vài năm sau, có một đệ tử khác
của Mã Tổ tìm đến viếng Hoàng Mai Đại Sư và hỏi : ‘Đại Sư được pháp gì của
Mã Tổ?’
Sư đáp : ‘Phật tức tâm’.
Vị đệ tử nói : ‘Gần đây, Mã Tổ
thường dạy ‘Phi tâm phi Phật’, ý Đại Sư thế nào?’.
Sư cười và đáp : ‘Mặc cho ông
già nói gì thì nói, Ta chỉ biết một điều Phật tức tâm’.
Người đệ tử về trình lên Mã Tổ.
Mã Tổ ha hả cười và nói : ‘Trái mai đã chín’.
Qua câu chuyện trên, cái tín tâm
kiên cố là cái thâm tâm của bậc Thánh. Sau khi đã nhận thức được cái bản
thể của Pháp và đã phát khởi lòng tin, dù ông Thầy mình có nói khác cũng
không thay đổi được thâm tâm của mình.
Khi còn tại thế, Đức Phật không muốn người đời tin lời Ngài một cách nông
cạn và vội vàng nên Ngài đã nói : ‘Đừng vội tin những lời Như Lai nói.
Hãy đem về suy nghĩ kỹ càng và thực nghiệm trong đời sống. Nếu thấy lời
của Như Lai là đúng với sự thật, mang lại hạnh phúc cho mình và cho người,
bấy giờ hãy nên tin. Bởi vì các người chỉ có thể tin sâu đậm sau khi đã
thực nghiệm với chính bản thân. Sau khi đã có lòng tin, hãy tinh tấn thực
hành lời của Như Lai. (Kinh Cho Người Kalamas).
Thâm tâm của các bậc Thánh là
căn bản phát khởi tín tâm kiên cố. Tín tâm cũng là một trong ba điều kiện
cốt tủy (tín, nguyện, hành) của Tịnh Độ tông. Trong khi tu luyện
thâm tâm, quý vị cũng cần quán sát các pháp cho thật thâm sâu và phải phát
khởi tín Tâm kiên cố, bất thối chuyển. Chúng ta hãy xem các bậc trí giả đã
có thâm tâm kiên cố vào những điều gì?
1) Tin kiên cố rằng Chư Phật ba
đời không hề nói dối.
2) Tin vào chánh pháp. Những lời
của Đức Thích Ca dạy trong suốt 49 năm giáo hoá chúng sinh là những phương
pháp hữu hiệu, thực tiễn nhằm giúp chúng sinh sống một cuộc sống không còn
lo sợ, bớt đau khổ, phiền não và hướng dẫn những người xuất gia tu hành
tìm lại được cái bản thể thanh tịnh và thoát khỏi Sinh Tử Luân Hồi.
3) Tin Tăng là các bậc chân tu,
là những người đem giáo lý của Phật tới ban cho chúng sanh.
4) Tin vào chân lý là Pháp Tứ
Diệu Đế, tức là bốn sự thật cao quý.
5) Tin rằng thế giới Cực Lạc của
Đức Phật A Di Đà, do Đức Thích Ca giới thiệu, là hiện hữu và cầu vãng
sanh.
6) Tin vào lý ‘Tự Tánh Di Đà,
Duy Tâm Tịnh Độ’. Chỉ cần trở về được với chân tâm thì thế giới Cực
Lạc hiện tiền.
7) Tin vào tánh bình đẳng và bất
biến của luật Nhân Quả, Nghiệp Báo.
8) Tin vào lý Duyên Sanh. Các
hiện tượng đều là giả hợp, không có tự tánh cố định. Các pháp hữu lậu đều
vô thường.
9) Tin Bát Chánh Đạo là con đường
duy nhất dẫn tới giác Ngộ, Giải Thoát.
10) Tin vào lời dạy của Đức Thích Ca : Mọi người đều sẵn có đầy đủ Phật
tánh và khả năng thành Phật.
Trên đây, Thầy chỉ lược kể những
đức tin căn bản của các bậc trí. Quý vị tu hành, muốn bước lên hàng Thánh,
phải dùng cái Tâm sâu sắc để quán sát và phát khởi lòng tin, thực hành
triệt để những điều mình đã tin. Khi đã phát khởi được tín tâm hay thâm
tâm là quý vị đã chuyển được cái thức thứ sáu (ý thức) hữu lậu của phàm
phu thành cái trí hay cái thâm tâm vô lậu của hàng Thánh giả : Diệu
Quán Sát Trí và chuyển thức thứ bảy (Mạt Na Thức) thành Bình
Đẳng Tánh Trí.
3. Hồi hướng phát nguyện tâm :
Đây là bản hoài của chư Phật ba đời.
Trong Kinh Sám Hối Hồng Danh có câu : ‘...Hoặc tu tịnh hạnh, căn lành
đã có, tu hạnh bồ đề, căn lành đã có và trí vô thượng, căn lành đã có. Tất
cả hợp lại, so sánh trù tính, đều hồi hướng cho quả vị Vô Thượng Chánh
Đẳng, Chánh Giác. Như các Đức Phật đời quá khứ, hiện tại và vị lai đã làm
việc hồi hướng....’ Tâm phát nguyện hồi hướng là tâm của chư Phật ba
đời. Đây chính là tư tưởng của đại thừa Phật giáo. Các bậc Thánh, sau khi
đã đắc quả vị Thánh, đều phát nguyện hồi hướng để dẫn dắt chúng sinh cùng
tu hành để ‘đồng thành Phật đạo’.
Tâm phát nguyện hồi hướng là tâm
của bậc Thánh, lúc nào cũng thương xót chúng sanh muôn loài, chỉ nghĩ đến
lợi ích của chúng sanh mà thị hiện xuống thế gian để hóa độ muôn loài.
Chúng ta hàng ngày đọc tụng Kinh Sám của các Vị Tổ Sư đều thấy cái tâm
phát nguyện hồi hướng của chư Tổ. Như trong Sám Quy Mạng của Tổ Qui Sơn,
có câu : ‘... nhiên hậu bất xả pháp giới, biến nhập trần lao...’
hoặc trong Sám Khể Thủ của Tổ Vân Thê : ‘...nhiên hậu bất vi an dưỡng,
hồi nhập Ta Bà, phân thân vô số...’. Đó là cái tâm phát nguyện hồi
hướng của các bậc đã giác ngộ, sau khi đắc đạo, không an trụ nơi thánh vị,
thụ hưởng niết bàn mà đều phát nguyện trở lại trần gian cứu vớt chúng
sanh.
Đến đây, Thầy đã cùng quý vị
khảo sát các loại tâm của phàm phu và tâm của các bậc Thánh. Thầy trích
dẫn lời của Đức Phật Thích Ca trong Kinh Pháp Cú về tâm phàm và tâm Thánh
để quý vị tư duy thâm nhập, lấy đó làm đề mục mà tiến tu đạo nghiệp :
‘...Tâm kẻ phàm phu thường
xao động biến hóa, rất khó chế phục, gìn giữ; nhưng kẻ trí lại chế phục
tâm mình, làm cho chánh trực một cách dễ dàng, như thợ khéo uốn nắn mũi
tên’ (câu 33).
‘...Tâm phàm phu cứ xoay vần
theo ngũ dục, biến hóa u ẩn, khó thấy, nhưng người trí lại thường phòng hộ
tâm mình, và được yên vui, nhờ sự phòng hộ ấy’ (câu 36).
‘...Người Tâm không an định,
không hiểu biết chánh pháp, không tín tâm kiên cố, thì không thể thành tựu
trí huệ cao siêu’ (câu 38).
‘...Thân này thật là ngắn
ngủi ! Nó sẽ ngủ một giấc ngủ dài dưới ba thước đất, vô ý thức, bị vất bỏ
như khúc cây khô vô dụng’ (câu 41).
Bây giờ, nói về tánh
(Cetadika). Củng như nói về tâm, Thầy cũng sẽ nói về hai loại tánh : Phàm
tánh và Thánh tánh. Trong Phàm tánh cũng có ba loại :
A) Chúng sanh tánh.
B) Dục tánh và
C) Ác tánh.
A)
Chúng Sanh Tánh :
Là những tánh thường có của phàm
phu. Đó là tánh tham lam, tánh sân hận, tánh si mê, tánh cống cao ngã mạn,
tánh nghi ngờ và những nhận thức mê lầm, gọi chung là ác kiến. Trong Duy
Thức Học gọi các tánh này là 6 món căn bản phiền não. Chúng ta hãy lần
lượt nghiên cứu về 6 cái chúng sanh tánh sau đây:
1) Tham lam :
Người có tánh tham lam thường thích chiếm hữu. Thấy cái gì đẹp, cái gì hay
của người khác, dù có cần tới hay không, cũng muốn có, cũng muốn chiếm hữu
và không bao giờ muốn chia xẻ cho ai những vật dụng thuộc về mình. Con
người sinh ra, hầu như ai cũng có tánh này. Vì đã sanh ra bởi nghiệp và
tánh tham lam là cái tánh tạo nghiệp nên cứ bị nghiệp dẫn dắt trong sinh
tử luân hồi, không bao giờ thoát khỏi nếu không sớm biết tu sửa. Trong bốn
tánh tội, sát, đạo, dâm, vọng đều từ cái tánh tham lam mà phát
khởi. Vì là tánh tội nên rất khó diệt trừ. Tánh tham lam xuất hiện dưới
nhiều hình thức từ thô đến tế. Thô như tính trộm cắp, tế như tánh tham
danh, tham lợi, tham sắc v.v...
Người tham lam luôn luôn đau khổ, phiền não vì không bao giờ bằng lòng với
những thứ họ đã có và luôn luôn bày mưu tính kế để chiếm đoạt cho được
những vật của người khác mà họ ưa thích. Họ đau khổ vì lúc nào cũng cảm
thấy thèm khát, thiếu thốn. Tục ngữ có câu : ‘Bể kia dễ lấp, túi tham
khó đầy’. Cũng chỉ vì tánh tham lam, thích chiếm hữu mà thế giới ngày
nay đã xảy ra bao nhiêu cuộc chiến tranh xâm lăng hay nội chiến, tàn sát
sinh mạng nhân loại. Người tu hành có tánh tham lam thì không bao giờ chịu
nhường nhịn, rất khó mà thực hiện tinh thần lục hòa trong Tăng chúng.
2) Sân hận :
Sân là nóng nảy. Người có tánh nóng nảy thường gây thù chuốc oán. Gặp việc
trái ý là phát khởi tâm bực tức, nóng nảy và hành động không cần suy nghĩ
đến hậu quả hay nghĩ đến quyền lợi của người khác. Nguy hiểm hơn nữa là
tánh nóng nảy (sân) có thể dẫn đến lòng thù hận, sẵn sàng hại đến
sinh mạng của người khác. Trong Kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy : ‘Nhứt niệm
sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai’ nghĩa là một niệm lòng giận
nổi lên, thì trăm ngàn cửa chướng ngại được mở ra. Người tu hành mà không
diệt trừ được tánh sân hận, không thể nào đạt được đạo.
Trong chuyện nhà Phật có thuật lại một câu chuyện của một nhà tu hành khổ
hạnh, rất chăm chỉ là ông Uất Đầu Lam Phất. Trong khi ông tu khổ hạnh
trong rừng, nhưng thường bị những con quạ đến đậu trên ngọn cây, nơi ông
ngồi tọa thiền, mà kêu réo om sòm, khiến ông không thể nào định tâm được.
Ông nổi giận mà phát lời nguyền khi đắc đạo sẽ dùng thần thông để bắt giết
những con quạ đã làm phiền ông. Vì giận dữ mà phát lời nguyền như thế nên
ông không đạt được quả giải thoát mà còn bị đọa làm súc sinh thành con phi
ly (chồn biết bay, để đuổi bắt loài quạ). Kinh khác cũng nói :
‘Nhất sân chi hỏa năng thiêu vạn khoảnh công đức chi sơn’ nghĩa là,
một đốm lửa sân có thể đốt cháy hàng vạn núi công đức.
3) Si mê :
Si là mờ tối, mê là u mê. Trong nhà Phật còn gọi si mê là vô minh
(không sáng suốt). Si mê, theo quan điểm của Phật giáo, không phải là
người không có học hành, không có kiến thức; mà si mê là chỉ người không
có trí tuệ giác ngộ.
Người si mê là người thiếu óc phán đoán và luôn luôn ích kỷ, lúc nào cũng
chỉ nghĩ đến ta và của ta. Ngoài đời, tánh si mê khiến cho người ta có
những hành động mờ ám, không biết tôn trọng người sống cùng trong một đoàn
thể, cộng đồng xã hội và là động lực thúc đẩy tánh tham và sân.
Trong ba tánh tham, sân si thì tánh si mê được coi là quan trọng nhất, độc
hại nhất. Kinh văn có câu: ‘Bất úy tham, sân khởi, duy khủng tự giác
trì’ nghĩa là, không sợ tánh tham và sân nổi lên mà chỉ e giác ngộ
chậm trễ. Nếu con người sớm tỉnh thức (tự giác), thì tánh tham lam
và sân hận không có cơ hội phát triển. Sự thiếu hiểu biết và ích kỷ dẫn
dắt người đời đến những hành động phạm pháp.
Đức Phật nói : "Vô minh thúc đẩy con người tạo nghiệp chất chồng mà kết
quả là bị đọa vào ba đường ác, súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục". Người
tu hành có tánh si mê là người không biết học hỏi nơi Thầy giỏi, bạn tốt;
không hiểu biết rõ ràng về luật Nhân Quả và lý Nghiệp Báo, căn cơ ám độn.
Nhà Phật gọi tham, sân si là ba thứ độc hại, cần phải diệt trừ tận gốc mới
có hy vọng viên thành đạo quả, chỉ khi nào diệt trừ được ba chúng sanh
tánh gây nên chướng ngại này ta mới có thể khai mở trí tuệ và chân tâm
sáng suốt mới hiển lộ được.
Người tu theo đạo Phật, dầu Tăng hay Tục, cũng cần luôn luôn ghi nhớ rằng
trong con người mình, lúc nào cũng mang pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật. Không
hiểu được ông Phật trong mình, sẽ đưa chúng ta vào mê tín, hạ thấp giá trị
của Phật Tánh và tỏ lòng bất kính đối với bậc Đại Giác Ngộ Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni. Chúng ta phải cố gắng học hỏi để thoát khỏi cái màn vô minh đang
bao trùm cái linh tánh Phật của mình.
4) Cống cao ngã mạn :
Cống cao ngã mạn là tánh kiêu căng, tự cao, tự đại, tự cho mình hơn người
mà sanh lòng khinh rẻ những người kém may mắn, kém hiểu biết, yếu ớt hơn
mình. Đối với những người tài giỏi hơn mình, giàu có hơn mình, quyền thế
hơn mình thì đem lòng sợ sệt và luôn luôn tìm cách bươi móc những cái xấu
của người ta ra để tỏ ra rằng mình vẫn hơn người. Những người có tánh cống
cao ngã mạn thường không chịu học hỏi thêm những điều hay và luôn luôn
chấp cái ta và cái của ta là thiệt, là mới đáng quý, đáng trọng ; còn
người khác và của người khác đều là giả, là hào nháng bề ngoài.
Cũng vì cái Ta
mà thường hay lén lút bợ đỡ người trên và lấn lướt kẻ dưới, hoặc vì tánh
kiêu căng mà gây ra những cuộc tranh chấp đến máu đổ, thịt rơi, vẫn chưa
vừa lòng. Người tu hành có tánh cống cao ngã mạn không bao giờ chịu học
hỏi từ những người bạn lành đồng tu vì trong thâm tâm, không bao giờ cho ý
kiến của người khác là điều đáng học hỏi. Đó là một chướng ngại rất lớn
trong sự tinh tấn tiến tu đạo nghiệp. Những người tu hành này rất dễ vì
danh và lợi mà thoái tâm tu hành.
5) Nghi ngờ :
Nghi ngờ là không bao giờ tin tưởng vào sự việc gì hay bất cứ ai, kể cả
chính mình. Ngoài đời, người có tánh nghi ngờ, thường gọi là tánh đa nghi,
là người không thể thành tựu việc lớn. Thí dụ như một vị Lãnh Tụ có tánh
nghi ngờ thường không có người phụ tá giỏi vì ông luôn luôn lo sợ người ta
sẽ phản mình hay mưu đồ tranh đoạt quyền lợi, địa vị của mình. Trong đạo,
người có tánh nghi ngờ thường thiếu quyết tâm tu hành, mau chán và thường
thay đổi ý kiến trong vấn đề lựa chọn pháp môn tu hợp với căn cơ của mình.
Tánh nghi ngờ thường biểu lộ dưới ba hình thức :
a) Nghi mình
: Tánh nghi ngờ phát sanh lòng e ngại khó khăn vì nghi ngờ chính khả năng
của mình. Không bao giờ tin tưởng rằng mình đủ kiên nhẫn để tu tập cho đến
khi thành tựu. Nghe nói pháp môn nào hay, pháp môn nào dễ là theo ngay,
nhưng chỉ một thời gian sau, không lâu, vì không thấy kết quả như ý mình
mong muốn, liền cho là không thích hợp với khả năng của mình, lại bắt đầu
đi tìm kiếm pháp môn khác. Cứ như thế nên không khi nào đạt được cái gì.
b) Nghi người :
Vì tánh đa nghi nên không tin người nào, dù là Thầy hay bạn, hết lòng chỉ
vẽ cho mình. Vì không chịu kiên nhẫn nên khi chưa đạt được kết quả gì liền
nghĩ ngay rằng Thầy hay bạn còn điều gì giấu mình.
c) Nghi pháp :
Khi thấy người hay làm ác lại giàu có sang trọng, bèn nghi ngờ luật Nhân
Quả không đúng, dẫn dắt đến sự thối tâm học đạo. Nhiều khi còn tệ hại hơn
nữa là quay lại chê bai hủy báng đạo pháp và người hành trì đạo pháp.
Tóm lại, người tu hành có tánh nghi ngờ, không thể có thành tựu viên mãn
vì thiếu lòng tin.
6) Ác kiến :
Chữ ác ở đây không có nghĩa đồng như ác độc mà chỉ có nghĩa là những nhận
thức (ý kiến) sai lầm về những sự vật, hiện tượng. Ác kiến gồm có 5
loại nhận thức sai lầm :
a) Thân kiến :
Nhận thức rằng cái thân này là thiệt, không hiểu biết về lý duyên sanh,
nên lúc nào cũng chỉ lo cho cái thân được đầy đủ, no ấm. Sự sai lầm
thân kiến khiến người ta sanh lòng tham lam và ích kỷ.
b) Biên kiến :
Nhận thức một bên, một chiều: Hoặc có nhận thức rằng kiếp người là thường
còn, chết đi thì lại tái sanh làm người trở lại trong kiếp sau, nên không
cần sớm tu hành, kiếp nào muốn thành Phật, lúc đó tu hành cũng chưa muộn.
Nhận thức này, nhà Phật gọi là thường kiến của ngoại đạo. Hoặc có người
nhận thức ngược lại rằng, chỉ có một đời, không có tái sanh, chết rồi là
hết, thật sự không còn gì. Vì chấp như vậy nên cho rằng tu hành là vô ích.
Sống đời này thì chỉ biết đời nay nên luôn luôn chạy theo những dục vọng,
hưởng những tiện nghi, lợi dưỡng vì e sợ chết rồi thì không còn hưởng thụ
được nữa. Nhận thức này, nhà Phật gọi là đoạn kiến của ngoại đạo.
c) Kiến thủ :
Người có tánh này lúc nào cũng bo bo bảo vệ ý kiến của mình, không chịu
sửa đổi, dù thấy ý kiến người khác cũng có lý, nhưng lại thấy ý kiến của
mình thích hợp hơn.
d) Giới cấm thủ :
Người có tánh này người đời gọi là cố chấp hay mê
tín vì lúc nào cũng chấp vào những giới cấm của ngoại đạo một cách máy
móc, cuồng nhiệt, dù giới cấm đó có làm tổn thương đến sinh mạng của chúng
sanh khác. Thí dụ như tục lệ giết trâu bò, gà vịt, thậm chí giết cả người
để cúng tế thần linh.
e) Tà kiến :
Người có tà kiến thường tin theo thần, quỷ và tin tuởng thần quỷ có thể
làm cho mình trở nên giàu có, hạnh phúc, yên ổn.
Tóm lại, chúnh sanh tánh, như Thầy vừa phân tách, là những tánh xấu, tánh
bất thiện, thường có của người phàm phu. Chúng ta là người tu hành, đi tìm
một con đường sống thánh thiện với mục đích cao cả hơn thì phải dần dần xa
lánh những tánh đó cho đến khi diệt trừ hẳn những chúng sanh tánh để bước
sang lối sống của bậc Thánh nhân, bậc Giác Ngộ và liễu sanh thoát tử.
B) Dục Tánh :
Như quý vị học đạo đều đã biết :
Thế giới Ta Bà của Đức Phật Thích Ca hay nói cách khác là trong cái vũ trụ
hay thế giới mà chúng ta đang sống, được phân ra làm ba cõi : Cõi Dục, cõi
Sắc và cõi Vô Sắc.
Đức Phật Thích Ca là giáo chủ
của thế giới Ta Bà, cũng như Đức Phật A Di Đà là giáo chủ của thế giới Cực
Lạc. Mỗi thế giới đều có nhân dân. Theo giáo lý của Đức Thích Ca, thế giới
Ta Bà là thế giới nhiều uế trược hơn cả, và trong thế giới này thì cõi Dục
là cõi xấu xa nhất. Nhân dân trong cõi này nhiễm nhiều tội lỗi nên Ngài
rất thương xót, phải thị hiện xuống để hóa độ, cứu vớt.
Dục là tánh ham muốn và mọi
người hay chúng sanh thường sống theo dục tánh tầm thường và ích kỷ. Tuy
nhiên, nhờ sự giáo hoá của Đức Thích Ca, trong thời này dù được gọi là
thời kỳ Mạt Pháp, cũng có các vị Thánh đã thoát vòng sanh tử, nhưng vì lời
đại nguyện thương xót chúng sanh trong khi tu hành mà hồi nhập trở lại để
cứu vớt, hóa độ. Cũng có các vị tu hành đắc đạo mà chúng ta thường gọi là
Thánh Tăng và cũng có các vị đang tu hành, gieo trồng nhân lành giải
thoát, đoạn trừ nghiệp chướng, như quý vị đây, hy vọng một ngày trong hiện
đời sẽ thành tựu đạo quả, tuy còn mang thân phàm phu nhưng tâm tánh là tâm
tánh của Thánh nhân. Vì vậy, cõi Dục này được gọi là Cõi Phàm Thánh
đồng cư.
Trong phạm vi phân tách các dục
tánh, Thầy muốn nói đến những tâm tánh phàm nhân, chỉ biết sống theo ngũ
dục lạc tầm thường, thấp hèn và ích kỷ. Ngũ dục lạc là năm cái vui của
tánh ham muốn, gồm có : Tài là tiền bạc. Sắc là vẻ đẹp.
Danh là tiếng tăm. Thực là sự ăn uống và Thùy là sự ngủ
nghỉ.
Con người phàm phu chỉ nhìn thấy
cái vui vẻ và hạnh phúc trong năm cái ham muốn đó, mà không biết rằng,
những cái vui vẻ đó chỉ là giả tạo và không lâu bền. Dù có đạt được trong
chốc lát cũng cảm thấy khoái lạc và tưởng rằng hay muốn tưởng rằng những
khoái lạc đó sẽ là vĩnh viễn. Vì thế nên người ta lúc nào cũng cố gắng tìm
kiếm cho được cái khoái lạc đó và không bao giờ biết đầy đủ và như ý.
Khi gặp hoàn cảnh không như ý
thì cái khoái lạc đó liền biến thành cái đau khổ. Thí dụ như có người ham
muốn cái vui của tài (tiền bạc); nhưng giàu có đến thế nào đi nữa,
khi nhìn chung quanh lại vẫn thấy có người giàu có hơn mình và bắt đầu
phiền não, khởi tâm ganh ghét rồi suốt đời lo mưu tính kế làm sao cho mình
kiếm ra cho được nhiều tiền hơn mới chịu. Cứ thế, dù có kiếm được hơn lại
vẫn thấy mình chưa phải là giàu có nhất, không bao giờ ngừng được cái tánh
ham muốn về tiền bạc. Các tánh ham muốn khác như ham muốn sắc đẹp, danh
vọng, ăn uống, ngủ nghỉ cũng đem lại những phiền não, ganh ghét người khác
như vậy.
Nhà trước tác Ngô Thừa Ân bên
Trung Hoa, khi viết bộ tiểu thuyết nổi tiếng, được xếp vào hạng một trong
Ngũ Tài Tử của Văn Học Trung Hoa, là bộ truyện Tây Du Ký, tiểu thuyết hóa
giáo lý nhà Phật và những gian truân của Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang đời
nhà Đường đi thỉnh Kinh Phật bên Thiên Trúc (Ấn Độ). Nhân vật lịch
sử chính là Ngài Huyền Trang và những nỗi khổ nhọc, nguy hiểm trên bước
đường đi thỉnh Kinh là chuyện thật, nhưng những vai trò của Tôn Ngộ Không,
Chư Bát Giới, Sa Tăng và con Long Mã là những vai trò được đặt ra để làm
điển hình cho những tâm tánh phàm phu của Ngài Huyền Trang khi chưa đắc
đạo.
Để diễn tả cái ngũ dục tánh của
phàm nhân, Ngô Thừa Ân đã đặt ra đoạn truyện Tôn Ngộ Không đấu phép với
Đức Phật. Đức Phật xòe bàn tay và thách đố Tôn Ngộ Không nhảy ra khỏi bàn
tay của Ngài. Tôn Ngộ Không cậy mình có phép cưỡi mây (cân đẩu vân),
nhảy một cái có thể xa cả ngàn vạn dậm nên nhận lời thách đố của Đức
Phật. Đức Phật dùng thần thông làm bàn tay lớn ra rồi mời Tôn Ngộ Không
nhảy lên. Khi nhảy lên bàn tay, Tôn Ngộ Không chỉ nhìn thấy một vùng trời
đất bao la, khói mây mù mịt. Tôn Ngộ Không dùng phép Cân Đẩu Vân nhảy vài
cái và tới một vùng hoang vu vắng vẻ, chỉ có năm ngọn núi cao vút tận trời
xanh. Tin chắc mình đã nhảy khỏi bàn tay của Đức Phật từ lâu, nhưng sợ khi
trở về nói cho Đức Phật biết thì không có bằng chứng, bèn làm dấu bằng
cách tiểu tiện vào một gốc cây dưới chân một ngọn núi; rồi nhảy trở về.
Sau khi Đức Phật thâu phép lại
thì Tôn Ngộ Không thấy mình đứng trước Đức Phật, bèn nói về chỗ mình đã
nhảy tới và đã làm dấu rồi thách thức Đức Phật theo mình tới chỗ đó. Đức
Phật mỉm cười, xoè bàn tay và bảo Tôn Ngộ Không lại ngửi một ngón tay của
Ngài xem có nhận ra dấu tích mình đã để lại không? Tôn Ngộ Không ngửi lại
bàn tay của Phật và nhận ra mùi nước tiểu của mình. Lúc đó mới biết là
mình chưa ra khỏi bàn tay của Phật...
Trong đoạn truyện này, tác giả
Ngô Thừa Ân đã dùng nhân vật Tôn Ngộ Không làm điển hình cho cái tánh
chúng sanh, ngông cuồng, ngạo mạn, vọng tưởng. Năm ngón tay của Phật tượng
trưng cho ngũ dục lạc của thế gian, bàn tay của Phật tượng trưng cho lòng
ham muốn nơi cõi Dục. Con người còn bám víu vào cõi Dục thì dù có tài năng
đến mấy mà thiếu sự sáng suốt của trí tuệ, cũng không có cách gì thoát
khỏi cái thiên la địa võng, trùng trùng điệp điệp của ngũ dục lạc. Người
xuất gia như chúng ta phải làm cách nào dùng cái trí tuệ, linh tánh sáng
suốt mà vượt qua được cái dục tánh của phàm phu thì mới hy vọng đạt thành
Đạo quả.
4) Ác tánh :
Ác tánh là loại Phàm tánh thứ
ba. Ác tánh là 10 cái tánh tội hay tánh bất thiện của phàm phu tạo ra bằng
hành động (thân nghiệp), lời nói (khẩu nghiệp) và ý nghĩ (ý
nghiệp). Gồm có :
1) Tánh hay sát hại sinh mạng của
chúng sanh hữu tình khác.
2) Tánh hay trộm cắp, tham lam
chiếm hữu vật không phải của mình.
3) Tánh hay làm chuyện tà dâm,
đồi phong bại tục.
4) Tánh hay nói dối để che giấu
lầm lỗi của mình hay để làm lợi ích cho mình.
5) Tánh hay nói thêu dệt để gây
chia rẽ người khác.
6) Tánh hay nói hai chiều để hại
người, lợi mình.
7) Tánh hay nói những lời hung
ác để nhục mạ người khác.
8) Tánh tham lam, lấn lướt, cái
gì cũng ham có.
9) Tánh nóng nảy, ưa giận dữ,
mua thù chuốc oán.
10) Tánh mê muội, không chịu học
hỏi và không tin Chánh Pháp.
Người tu hành phải biết chuyển
những ác tánh của phàm phu thành những thiện tánh mà Thầy sẽ đề cập tới
trong phần giải thích về Thánh tánh sau đây.
Cũng như đã phân loại Phàm tánh,
Thánh tánh cũng được phân thành 3 loại :
1)
Thiện tánh.
2)
Đức tánh và
3)
Giác tánh.
1.
Thiện Tánh :
Thiện tánh là tánh lành, ngược lại với 10 ác tánh của phàm phu mà Thầy vừa
nói ở trên, nghĩa là :
a) Không sát sanh
b) Không trộm cắp.
c) Không tà dâm.
d) Không nói dối.
e) Không nói lời thêu dệt.
f) Không nói đôi chiều.
g) Không nói lời hung ác.
h) Không tham lam.
i) Không sân hận và
j) Không mê lầm chánh pháp.
Mười tánh thiện này, trong nhà
Phật gọi là Thập Thiện Nghiệp và là một pháp môn tu căn bản để tiến lên
quả vị Tam Thặng (Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát). Người tu pháp
môn Thập Thiện, theo tư tưởng Đại Thừa, không những tự mình phải chuyển ác
tánh thành thiện tánh mà còn phải tiến xa hơn một bậc nữa là tìm cách ngăn
ngừa, khuyên bảo người khác đừng làm điều ác và đừng để cho cho điều ác
được có cơ hội phát triển.
Kinh Thập Thiện Nghiệp
nói người tu pháp môn thập thiện sẽ được nhiều pháp
lành như không lo sợ (vô úy đức), sáu căn mắt, tai mũi, lưỡi, thân
và ý được đầy đủ, vẹn toàn, linh hoạt, trí tuệ được thù thắng, và Trời,
người tôn kính. Mọi người tín cẩn, kính trọng, và nhiều phước báu, mặc dầu
không cầu. Tâm tánh nhu hoà, phước trí tăng trưởng. Vì lẽ đó, người ta nói
Thập Thiện là cội gốc của tất cả các pháp lành thế gian và xuất thế gian.
2. Đức tánh : Đức tánh là những tánh thiện lành giúp cho người tu
hành tích tụ phước báu, thí dụ như tánh từ bi, tánh nhẫn nhục, tánh lợi
tha (bố thí), tánh hỷ xả. Phát triển Đức tánh là phát triển đời
sống vị tha, hướng thượng và đạo đức. Người tu hành biết phát triển đức
tánh chắc chắn sẽ không bị đọa vào ba đường dữ là súc sanh, ngạ quỷ và địa
ngục, mà sẽ được sinh về cõi trời, người để tiếp tục trưởng dưỡng căn lành
tiến lên quả vị xuất thế gian.
3. Giác tánh :
Giác Tánh là những đức tánh nhờ giác ngộ mà được phát triển và giúp cho
người tu hành tăng trưởng trí tuệ. Muốn trở thành Thánh nhân hay đạt Thánh
vị, chúng ta phải có công năng tích tụ đầy đủ phước và huệ. Đức Phật Thích
Ca thành Phật vì Ngài có phước và huệ vẹn toàn vì vậy mà được tôn xưng là
bậc Lưỡng Túc Tôn. Giác tánh là những tánh lành như trí tuệ, tinh tấn,
bình đẳng, kiên trì, thanh tịnh v.v...
Tóm lại, tu tâm dưỡng tánh để
làm gì? Người phàm phu cũng cần tu tâm dưỡng tánh để trở nên một người đạo
đức, được người đời kính trọng và gieo trồng nhân lành để đời sau được tái
sanh làm người hay làm bậc cao quý nơi cõi Trời. Tuy chưa thoát khỏi vòng
sanh tử luân hồi nhưng sẽ không bị đọa vào ba đường dữ, mới có thể tiếp
tục tu dưỡng. Người xuất gia lấy lý tưởng giải thoát sanh tử làm cứu cánh,
càng phải chú trọng và tích cực tu tâm dưỡng tánh hơn để thành tựu những
nấc thang căn bản hầu giải tỏa nghiệp chướng và giải tỏa sanh tử luân hồi.
Vậy tu tâm dưỡng tánh như thế nào? Có 3 giai đoạn cần tinh tấn thực hành
:
1. Chuyển
lục căn :
Người tu Phật phải biết chuyển mắt, tai, mũi, luỡi, thân và nhất là ý
thành những căn thanh tịnh. Mắt tránh nhìn những hình ảnh xấu xa, tai
không tìm nghe những âm thanh khêu gợi dục vọng, mũi không ngửi những
hương thơm giả tạo hấp dẫn của thế gian, lưỡi không nếm những vị ngon
ngọt, nồng nặc, thân không xúc chạm những vật êm ái và ý không tán loạn vì
vọng tưởng. Nuôi dưỡng các căn lành cho sự hiểu biết của các thức
được trong sạch và hướng thượng hầu chuyển các thức thành trí tuệ vô lậu.
2. Diệt lục trần :
Trần hay cảnh là những hiện tượng thường làm ô
nhiễm và phát khởi ác tánh, vọng tâm. Diệt lục trần không phải là phá hủy
hết những hiện tượng bên ngoài vì không ai có khả năng làm được việc đó.
Trần và cảnh là những hiện tượng tự nhiên hay thiên nhiên. Diệt ở đây có
nghĩa là thu liễm lục căn đừng để cho lục thức hay Tâm chạy theo hoặc tham
luyến nơi trần và cảnh. Trong Kinh Udana, Đức Phật dạy về sự thu
liễm lục căn và diệt lục trần như sau:
‘Người kia đã xa lánh mọi điều xấu xa tội lỗi, đã thanh lọc ô nhiễm, thu
phục lục căn, thông suốt các pháp học và đã chơn chánh sống đời phạm hạnh
thiêng liêng, người ấy được coi là Thánh nhơn. Đối với người ấy không còn
có sự bồng bột, dầu ở nơi nào trên thế gian. Đối với hạng người biết tri
túc, người đã nghe đến chơn lý và đã thấy, thì sống ẩn dật là hạnh phúc.
Trên thế gian, người có tâm lành, người biết thu thúc, đối với mọi chúng
sanh, là hạnh phúc. Không luyến ái, vượt lên khỏi dục vọng là hạnh phúc.
Phá được cái ‘ngã chấp’ quả thật là hạnh phúc tối thượng’.
(Trích Đức Phật và Phật pháp).
Pháp môn tu căn bản và hữu hiệu
nhất để diệt lục trần là pháp tu Tứ Niệm Xứ, gồm có :
·
Quán thân bất tịnh,
·
Quán thọ thị khổ,
·
Quán tâm vô thường,
·
Quán pháp vô ngã.
3. Hành Lục Độ :
Diệt lục trần là hành động căn bản và tiêu cực.
Hành lục độ là hành động mạnh mẽ và tích cực hơn để người tu hành vượt
khỏi các pháp thế gian mà nhập vào dòng Thánh (siêu phàm nhập thánh).
Lục độ gồm có bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí
tuệ. Người tu hành phải thực hành từng giây, từng phút những phép tu này
và nuôi dưỡng sự thực hành cho đến khi hành động thực tập trở thành giác
tánh. Làm mà không còn thấy mình làm, đắc mà không thấy có gì để đắc, mới
gọi là tiến tới mức độ Ba La Mật tức là ‘đáo bỉ ngạn’. Lúc đó không
còn có thể trở thành cái gì khác hơn là... Phật.
Chư Phật, từ vô thỉ, trải qua nhiều a tăng kỳ kiếp, ra vào sáu nẻo để hoá
độ chúng sinh; mang thân phàm phu mà không biết nhàm chán sự tinh tấn tu
hành, đắc quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chư Tổ chuyển lục thức,
diệt lục trần, tu Phật tâm, dưỡng Thánh tánh mà đạt đạo; chúng ta cũng có
linh tánh đồng như chư Phật, chư Tổ, nay vẫn còn là hạng phàm phu chỉ vì
mê ngộ không đồng mà thôi.
Tổ Quy Sơn dạy : ‘Phù nghiệp
hệ thọ thân, vị miễn hình lụy....’ nghĩa là ‘vì Nghiệp mà phải mang
cái thân này, chưa ai thoát khỏi cái lụy của hình hài...’. Chúng ta,
từ lâu đời nhiều kiếp, không nhận ra cái thiện căn, thiện tánh của chúng
ta để nuôi dưỡng nên cứ phải mang cái hình hài từ tinh cha, huyết mẹ ô uế
mà làm phàm nhân; không thể trở về được với cái bản thể uyên nguyên đồng
như chư Phật. Trong nhân gian có câu :
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa,
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ
tài.
(Kiều - Nguyễn Du)
Lời tuy mộc mạc nhưng ý thật là
siêu thoát và hợp lý đạo; nhắc nhở đến Phật tâm, Thánh tánh lúc nào cũng ở
trong ta. Người mê muội mới oán trách ông Trời đã sanh ra ta để phải chịu
những thống khổ của cuộc đời. Người tỉnh thức biết cái giá trị của tâm,
của bản thể chân như.
Quý vị Tăng Ni, Phật tử :
Trong hơn một tiếng đồng hồ,
Thầy đã giảng giải, phân tách, chỉ bày cho quý vị Tâm là gì? Tánh là gì?
Phàm tâm, phàm tánh khác với Thánh tâm, Thánh tánh ra sao? Chúng ta, hàng
ngày tu tập, phải tinh tấn sáng suốt tư duy để nhận ra tâm tánh của mình
mới có thể tu, mới có thể dưỡng được. Tu Tâm Dưỡng Tánh là làm sao
cho mỗi ngày có sự tiến bộ trong đời sống cá nhân, có sự nhu hòa trong đời
sống cộng đồng và sau cùng là tiến tới chỗ tâm tánh trở nên nhất như,
nghĩa là không còn có phân biệt người và ta.
Tục ngữ nước ta có câu :
‘Thương người như thể thương thân’ chính là chỗ tâm tánh nhất như vậy.
Đối với vọng tình, vọng tưởng thế gian, ta vẫn giữ được cái tâm thanh
tịnh, không bị ô nhiễm và tham luyến. Kinh nói: ‘Nhất tâm bất sinh, vạn
pháp câu tức’ có nghĩa là khi cái tâm tánh được tu dưỡng đến mức trở
về được cái bản thể thanh tịnh, không khởi một niệm dầu thiện dầu ác thì
các pháp (vọng tâm) lập tức chấm dứt. Lúc đó, quý vị có thể ngang
nhiên tuyên bố như Đức Phật đã tuyên bố :
‘Này hỡi người thợ làm nhà
(dụ cho ái dục, cái nhà là dụ cho thân thể), Như Lai đã tìm được ngươi
(nhận ra được tự tánh của ái dục để tận diệt). Từ đây, ngươi không
còn cất nhà cho Như Lai nữa (không còn thọ nghiệp sanh tử luân hồi).
Kết luận cho thời pháp hôm nay, Thầy để lại cho quý vị mấy câu thơ để quý
vị tư duy và dùng làm kim chỉ nam trong việc Tu Tâm Dưỡng Tánh :
Tu tâm dưỡng tánh chuyên cần,
Đắc thành đạo quả là phần tự nhiên,
Tâm như nước chảy từ nguồn,
Tánh như sóng bủa theo luồng bát phong,
Tâm phàm luân chuyển long đong,
Tánh phàm tám thức khó mong xuất trần.
Tâm Phật giác ngộ toàn phần,
Tánh Phật rộng lớn trong ngần lợi tha,
Tâm tánh lên xuống một nhà,
Tâm chánh là Phật, tánh tà là ma.
Thầy mong quý vị tinh tấn tối đa.
Nam Mô Độ Nhân Sư Bồ Tát Ma Ha Tát
---o0o---
[
Mục Lục
] [
01]
[02]
[03]
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-03-2005