Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Học


.. ... .

 
 

Những Dòng Sữa Mẹ

Tập 2

HT Thích Huyền Vi

---o0o---

03

11. Tam Pháp Ấn

Cùng toàn thể Tăng Ni và Phật Tử hiện diện :

Hôm nay là ngày 8/6/2000, tức là ngày 7/5 năm Canh Thìn, Phật Lịch 2544. Trong thời pháp hôm nay, Thầy sẽ đặc biệt giảng về Tam Pháp Ấn trong Kinh Điển của Phật giáo. Tại sao phải học về Tam Pháp Ấn và Tam Pháp Ấn là gì?

Ấn là một khuôn dấu được dùng để xác nhận sự đích thực, chính thống, được đóng trên một văn kiện hay một mệnh lệnh. Thí dụ như Ấn của nhà Vua (được gọi là Ngự Ấn) được đóng trên một chiếu chỉ để xác nhận chiếu chỉ đó là đích thực của Vua ban ra.

Trong đạo Phật, Pháp Ấn được hiểu là những lời giảng dạy trong Kinh Điển, đích thực từ kim khẩu của Đức Phật, nói về chân lý, đúng với sự thật, không thể sai lầm hay nhầm lẫn với những giáo lý của ngoại đạo.

Sau khi thành đạo, Đức Phật đã đi truyền bá giáo lý của Ngài. Một số Đạo Sĩ ngoại đạo, vì muốn lôi kéo Ngài về tôn giáo của họ, nên thường rêu rao rằng Đức Phật đã lấy giáo lý của họ làm căn bản cho giáo lý của Ngài, nên nhiều lần, các Đạo Sĩ ngoại đạo đến chất vấn Ngài về Giáo Lý mà Ngài đang truyền bá. Đức Phật chỉ đáp một cách vắn tắt như sau : "Như Lai chỉ giảng dạy về Khổ và Con Đường Diệt Khổ". Pháp Ấn của Đức Phật là chân lý về khổ con đường diệt khổ.

Tam Pháp Ấn là gì ? Nói một cách đầy đủ, Phật dạy :

"Chư Hạnh Vô Thường,

Chư Pháp Vô Ngã,

Niết Bàn Tịch Tịnh."

Pháp Ấn thứ nhất Pháp Ấn thứ hai, gọi tắt là Vô Thường Vô Ngã; Đức Phật giảng về thế giới hiện tượng mà con người đang sống. Vì nhận thức sai lầm về những hiện tượng này mà con người chìm đắm trong đau khổ và trôi lăn mãi trong sinh tử. Nhận thức được chân lý của Luật Vô Thường và bản thể Vô Ngã của thế giới hiện tượng là hiểu được con đường hay phương pháp diệt khổ mà Đức Phật muốn giảng dạy.

Pháp Ấn thứ ba, gọi tắt là niết bàn, là sự chỉ dẫn của Đức Phật về một trạng thái vô vi của thế giới bản thể chân thật (một thế giới, trong đó, mọi đau khổ, phiền não đã bị tiêu diệt và không còn Sanh Diệt, Sinh Tử). Muốn đạt được trạng thái niết bàn, con người phải chuyên tâm tu tập, buông xả những vọng tình và phiền não, để trở về với bản thể như lai tự tánh của mình.

Chúng ta hãy lần lượt xét đến những nhận thức sai lầm về vô thường mà con người hay mắc phải :

1. Thân Vô Thường :  Khi có cái thân, con người thường chấp cái thân này là một vật quý báu, và muốn nó thường còn mãi mãi, nên lúc nào cũng muốn giữ nó, cũng muốn làm cho nó đẹp, cung cấp đầy đủ tiện nghi cho nó. Khi nó có bệnh hay có chuyện gì xảy ra cho nó thì liền cảm thấy đau khổ.

Nên biết rằng cái thân con người là do tứ đại (đất, nước, gió, lửa) hòa hợp mà có. Tứ đại còn hòa hợp thì thân thể còn được khỏe mạnh. Tứ đại xung khắc thì thân thể sẽ bị thay đổi hay tật bệnh. Con người chỉ biết có cái thân, chớ không thể làm chủ được tứ đại, mà tứ đại thì vô thường, cho nên, người ta ví tứ đại của thân như bốn con rắn nằm trong một cái bị, khi chúng hòa thuận thì tất cả đều yên vui, khi chúng cắn xé nhau thì lập tức có đau khổ. Cái thân này vô thường vì có các hiện tượng sanh, già, bệnh, chết mà không ai tránh khỏi.

Những hiện tượng này là chân lý của thế giới hiện tượng, không thay đổi được và các hiện tượng này lại có thể tới bất cứ lúc nào, không có kỳ hẹn. Người ta cảm thấy đau khổ vì không hiểu được cái chân lý vô thường này. Lão Tử đã nói :

"Ngô hữu đại hoạn vị ngô hữu thân,

Ngô nhược vô thân, hà hữu chi hoạn ?".

Tạm dịch là :

"Tôi có cái lo lớn, vì tôi có cái thân. Nếu không có thân thì làm gì có lo !"

Thiền Sư Vạn Hạnh cũng than thở cho cái thân vô thường như sau :

"Thân như bóng chớp chiều tà,

Cỏ cây Xuân tốt, Thu qua rụng rời,

Sá chi suy thịnh cuộc đời,

Thịnh suy như giọt sương lơi đầu cành!".

Nhiều Phật tử muốn tu hành, nhưng lại không hiểu cái chân lý vô thường, vốn không có kỳ hẹn, mà cứ lần lựa cho rằng mình còn trẻ, đợi vài năm sau mới tu cũng chưa muộn gì. Than ôi ! Khi vô thường tới thì làm gì cũng không còn kịp nữa; đành ôm cái nghiệp đã tạo mà tái sanh vào ba đường dữ, không có hy vọng ngày nào giải thoát khỏi luân hồi sanh tử.

2. Tâm vô thường : Tâm thuộc về phần tinh thần của con người, được hình thành bởi bốn uẩn : Thọ, tưởng, hành và thức. Từ cái tâm này, con người đã có những cảm thọ, hiểu biết sai lầm về chính mình và những hiện tượng xảy ra chung quanh mình. Đức Phật gọi cái tâm này là vọng tâm. Vì là vọng nên những cảm thọ, tri giác của tâm cũng là vọng, cũng sai lầm.

Người đời, vì không biết tâm là vọng, nên cứ chấp chặt lấy những sản phẩm của vọng tâm mà sống theo nó. Khi phải đối diện với sự thật vô thường của tâm, liền thấy không được như ý, và khổ đau có mặt ngay. Vì sống theo những vọng tâm và vọng tình thế gian hỷ, nộ, ai, lạc, ái, ố và dục, mà vọng tâm thì thay đổi mỗi giây, mỗi phút, phút trước muốn tu, phút sau giải đãi; lúc nhỏ nghĩ khác, lúc già  lại suy nghĩ khác. Phật nhắc nhở hoài là đừng có tin cái vọng tâm vì vọng tâm vô thường nên là nguồn gốc của phiền não, đau khổ và khiến ta lặn ngụp trong sinh tử luân hồi đời đời, kiếp kiếp. Phải tu cho tới khi chứng được quả vị A La Hớn thì vọng tâm mới dứt (đó là lời Phật dạy trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương).

3. Hoàn cảnh vô thường : Đức Phật cũng đã chỉ cho chúng ta, những hiện tượng bên ngoài thân và tâm cũng không ra khỏi cái luật vô thường : Thành, trụ, hoại, không, của vũ trụ. Thiền Sư Mãn Giác, đời Nhà Lý đã cảm thán về tính vô thường của cảnh, bằng mấy câu thơ tuyệt tác như sau :

    Xuân khứ bách hoa lạc,

    Xuân đáo bách hoa khai,

    Sự trục nhãn tiền quá,

    Lão tùng đầu thượng lai,

    Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận,

    Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Tạm dịch là :

    Xuân đi trăm hoa rụng,

    Xuân đến trăm hoa cười,                  

    Trước mắt việc đi mãi,

    Trên đầu già đến rồi,

    Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng hết,

    Đêm qua sân trước một cành mai.

Để diễn tả cái cảnh cũng vô thường, Cổ đức cũng nói : "Thương hải biến vi tang điền, tang điền biến vi thương hải."  Có nghĩa là hôm nay là biển, ngày mai đã biến thành ruộng dâu hay ngược lại.

Cuộc sống của con người cũng không thể nhất định mãi mãi ở trong cùng một hoàn cảnh. Ngày nay giàu có, tiền rừng bạc biển, chỉ cần một ngọn lửa cũng đủ làm thay đổi hoàn cảnh giàu có trở thành trắng tay. Không thiếu gì chuyện đổi thay cái hoàn cảnh trong thế gian. Lúc còn giàu có thì gia đình êm ấm, lúc nghèo hèn thì gia  đình có chuyện lục đục ngay.

Ngày xưa có một chàng thư sinh vác lều chõng lên Kinh Đô ứng thí. Nửa đường dừng chân tại một quán trọ, nhờ bà chủ quán trọ nấu giùm nồi cháo. Trong khi chờ đợi cháo chín, chàng thư sinh chợp mắt ngủ trưa, mộng thấy, hoàn cảnh của chàng trong hơn 50 năm qua, thay đổi như bóng chớp. Khi tỉnh dậy cảm tác một bài thơ :

"...Vinh hoa phú quý

Ngũ thập dư niên, bất quá phiến thùy,

Mộng lý huỳnh lương du dị thục..."

Có nghĩa là : Đờì người, chẳng qua cũng như một giấc mộng ban ngày, hơn 50 năm (những cảnh trong giấc mộng) trôi qua mà nồi cháo kê vẫn chưa chín...

Cổ đức cũng đã nói: "Nhân gian phú quý hoa giang lộ, thế thượng công danh thủy thượng âu...". Công danh phú quý trong nhân gian cũng tỷ như giọt sương nằm giữa lòng hoa hay như cái bọt nổi trên mặt nước, chỉ một luồng gió là tan mất.

Trong Pháp Ấn Chư Hạnh Vô Thường, Đức Phật đã giảng dạy rằng nguồn gốc của cái khổ là do con người không có chánh kiến, chánh tư duy và cái thế giới hiện tượng mà chúng ta đang sống, chỉ là hư ảo, mà cứ chấp chặt lấy cái thân và những hoàn cảnh và cho chúng là thường hằng và có thật.

Trong Kinh văn có một câu như sau: "Tất cả muôn sự muôn vật đều vô thường. Khi nào, người nào có cái trí hiểu biết như vậy, thì lúc đó mới giải tỏa được cái khổ vì những biến chuyển của cuộc đời". Đó là con đường thanh tịnh mà Phật đã dạy. Nguyên văn bài kệ bằng tiếng Pali như sau:

    Sabbe Sankhàra aniccàti,

    Yadà pannaya passati,

    atha nibbindali dukkha,

    esa maggo visuddhyà."

Bây giờ nói đến Pháp Ấn thứ hai là Chư Pháp Vô Ngã. Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy: "Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng" nghĩa là bất cứ vật gì hay hiện tượng gì mà có hình tướng, đều là giả dối. Chấp chặt lấy cái giả dối và cho đó là thật, là nguồn gốc của khổ đau và phiền não, trôi lăn mãi trong vòng sanh diệt. Các hiện tượng như thân ta, những cái của ta, những sự vật hiện diện chung quanh ta đều do nhân duyên tổ hợp lại mà thành. Không có cái gì có thật tánh (cũng gọi là Bản Ngã).

Khi những yếu tố hiện tượng được kết hợp bởi nhân duyên thành tựu, người ta tạm đặt cho nó một cái tên để gọi, để nhận biết nó mà thôi. Khi tách rời từng yếu tố ra thì cái vật đó không còn được mang cái tên mà người ta tạm đặt cho nó. Cái vật này, do đó mà được nói là không có bản ngã, hay dễ hiểu hơn, vật này không thật. Vì con người không nhận thức được cái tính chất "không thật" của cái được gọi là Ta (Nhân) và những hiện tượng chung quanh Ta (Pháp) nên đã sống một cách hết sức mê lầm, đau khổ.

Nhân vô ngã là thế nào? Nhân vô ngã là chỉ cho cái thân này là do tứ đại (đất, nước, gió, lửa) nhờ hội đủ nhân duyên mà được kết hợp, mà thành tựu. Cái thân này muốn sống được cũng lại phải nhờ vào các điều kiện (nhân duyên) của tứ đại bên ngoài thân, thí dụ như bắp thịt là phần thuộc về yếu tố đất bên trong thân; muốn bắp thịt được nẩy nở thì phải có điều kiện từ ngoài thân là thức ăn để giúp cho nó nẩy nở.

Vì vậy mà cái thân này không có thật tánh hay tự nó "không thật". Nếu lấy từng phần của cái thân ra, thí dụ như cái đầu, rồi hỏi cái đầu có gọi là thân không thì câu trả lời chắc chắn phải là "không", riêng cái mình hay riêng tứ chi, cũng không thể được gọi là thân. Chỉ có thể gọi là thân khi có sự tổ hợp của các chi phần của thân, bên ngoài là 5 giác quan; và các phần bên trong (lục phủ, ngũ tạng). Khi những bộ phận đó, hết nhân duyên, không hòa hợp với nhau nữa, thì con người sẽ bị hủy diệt; Các yếu tố của tứ đại lại trở về với tứ đại bên ngoài thân. Do đó, con người không phải là thật ngã, vì thế nó không có bản ngã hay nói con người là vô ngã (Nhân Vô Ngã). Người ta, vì không hiểu được tính vô ngã của con người mà cứ cho cái thân giả tạm này là mình (Ngã) thật, nên lúc nào cũng lo bảo vệ và cung phụng, chiều chuộng nó mà tạo không biết bao nhiêu nghiệp ác để làm vừa ý cho cái thân.

Thế nào là Pháp Vô Ngã? Pháp là chỉ cho những hiện tượng ngoài cái thân, thí dụ như cái nhà, cái xe v.v... Những hiện tượng này cũng chỉ do nhân duyên hòa hợp mà có. Cái nhà mà có cũng là do sự hòa hợp của các điều kiện không phải là cái nhà, như gạch ngói, vôi đá, gỗ, công thợ mộc, thợ nề v.v... mà có. Lấy riêng những điều kiện đó ra, thì cái mà được gọi là Nhà, không còn được gọi là nhà nữa. Đức Phật cũng nói : Cái gì mà có tướng thì cái đó không phải là thật, không có tự tánh. Vì vậy mà nói là Pháp Vô Ngã. Con người vì vô minh, cứ cho những hiện tượng đó là thật, nên mới sinh ra mọi sự cố chấp khổ sở.

Trong Kinh Pàli có bài kệ nói về vô ngã như sau: Pháp Ấn Vô Thường và vô ngã của giáo lý nhà Phật là chân lý mà Đức Phật giảng dạy trong tất cả Kinh Điển. Phật Giáo Nguyên Thủy chủ trương Tam Pháp Ấn là vô thường, khổ và vô ngã nên thường tu pháp môn quán Tứ Niệm Xứ : Quán thân bất tịnh, Quán tâm vô thường, Quán pháp vô ngã và Quán thọ thị khổ. Nói một cách rốt ráo, vô thường và vô ngã không nhất thiết là nguồn gốc của mọi khổ đau. Chính sự hiểu lầm, không liễu tri được chân lý vô thường và vô ngã mà con người trở nên đau khổ, tạo biết bao nhiêu nghiệp để mãi mãi trôi lăn trong luân hồi, chịu đọa vào ba đường dữ của lục đạo. Nếu hiểu rõ được chân lý của Pháp Ấn Vô Thường và Vô Ngã, thì con người có thể chuyển hóa đối tượng của vô thường và vô ngã để đạt được trạng thái của Pháp Ấn thứ ba : niết bàn.

Trong Giáo Lý Duyên Sinh của nhà Phật, Đức Phật đã nói "Thử hữu, bỉ hữu" (Cái này có thì cái kia có). Vậy khi có vô thường tất nhiên phải có cái chân thường, đã có vô ngã tất nhiên phải có chân ngã. Như vậy, trong Pháp Ấn Vô Thường và Vô Ngã, Đức Phật đã đồng thời chỉ cho ta hai đặc tánh của niết bàn là (Chân) Thường và (Chân) Ngã. Muốn tìm được hai đặc tánh còn lại (Chân Lạc và Chân Tịnh) chúng ta phải chuyên tâm tu hành, tham thiền và quán chiếu về những hiện tượng sanh diệt trong thế giới hiện tượng, liễu tri được chân lý vô thường và vô ngã là chúng ta thấy ngay Pháp Ấn Thứ Ba : Chân Lý Niết Bàn. Có một bài kệ trong Kinh Pàli nói về Pháp Ấn như sau:

    Anicca vata sankhàra,

    Uppàda vaya dhammino,

    Uppajjittvà nirujjhanti,

    Tesam vùpasamo sukho.

Dịch là:

    Chư hành vô thường,

    Thị sanh diệt pháp,

    Sanh diệt diệt dĩ,

    Tịch diệt vi lạc.

Hiểu được chân lý vô thường và vô ngã là pháp hữu vi, là khái niệm sanh diệt và lìa được cái khái niệm sanh diệt đó, thì chấm dứt mọi đau khổ và đạt được trạng thái vô vi của thế giới bản thể : Tịch Diệt Vi Lạc. Trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật cũng dạy : "Chư Pháp tùng bản lai, thường tự tịch diệt tướng" nghĩa là các Pháp tự nó đã có tự tánh tịch diệt (vắng lặng). Tịch Diệt là tính của bản thể, có tịch diệt thì có chân lạc và chân tịnh của niết bàn.

Tu theo Tam Pháp Ấn, các Vị Thanh Văn sẽ đạt được Thánh Vị A La Hớn, chấm dứt sinh tử. Ngay trong đời này có thể đạt được Hữu Dư Y Niết Bàn. Còn muốn tiến xa hơn nữa trong thánh vị, như thành Phật và Bồ Tát thì phải thấu triệt về Nhất Thật Tướng Ấn mà Thầy sẽ khai thị trong tuần tới.

Trước khi chấm dứt thời pháp hôm nay, Thầy muốn nhắc nhở quý vị, hãy chuyên tâm tu hành, nếu không về được cõi Phật thì cũng đạt được Hữu Dư Y Niết Bàn trong cuộc sống hiện tại, rồi từ đó tiến tu đạo nghiệp, đặng đạo quả viên mãn mà đồng với chư Phật nhập vào Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn. Thầy tặng quý vị Tăng Ni một bài Thơ, coi như bài Thơ Khuyến Tu sau đây :

          "Chớ bỏ trôi qua uổng tháng ngày,

          Tu hành gắng lấy, để cầm tay,

          Bến mê lánh khỏi trăm phần khó,

          Cửa Pháp nương nhờ lắm chuyện may !

          Nợ trước bốn ơn, lo gắng trả,

          Thân sau ba cõi, nguyện đừng vay,

          Vô thường niệm niệm xin ghi nhớ,

          Chớ bỏ trôi qua uổng tháng ngày!"

Thầy mong quý vị hãy tư duy sâu xa về bài thơ này và luôn luôn nhớ rằng vô thường tấn tốc, lúc nào cũng rình rập ngay bên cạnh ta. Đừng có chần chờ, giải đãi. Nên biết "Nhất thất nhân thân, vạn kiếp nan phục". Không biết tiến tu để giải thoát thì thân này mất đi rồi, biết đến bao giờ mới có cơ hội được tu để giải thoát sanh tử nữa.

Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát. 

 

12. Nhứt Thật Tướng Ấn

(Mùa An Cư năm 2000)

Cùng toàn thể Đại Chúng Tăng Ni và Phật Tử thân mến.

Tuần trước, Thầy đã khai thị về Tam Pháp Ấn. Quý vị nên nhớ là Tam Pháp Ấn, đức Phật nói trong những thời pháp đầu tiên nay còn được ghi lại trong kinh tạng Thuộc Nguyên Thỉ hay Nam Tông Phật Giáo.

Đức Phật nói lên cái sự thật, chân lý của cả toàn tạng kinh chỉ nằm ở trong Tam Pháp Ấn đó là: Chư hành vô thường; chư Pháp vô ngã; Niết Bàn tịch tĩnh. Mọi sự vật, có hình tướng, có hành động và có sanh diệt đều gọi là "Vô Thường"; tất cả muôn sự muôn vật không có một sự vật nào có chủ tể, hay thật ngã của nó hết. Tất cả đều là giả ngã nên gọi là "Vô Ngã".

Tuy vậy, nó có một cái gọi là "Niết Bàn tịch tĩnh", tức là trạng thái khi tâm chúng ta giải tỏa được sáu căn bản phiền não (tham, sân, si, mạng, nghi và ác kiến), thì tự nhiên tâm được tịch tịnh, an lạc, thường còn vĩnh viễn. Đây chỉ đề cập đến cái tạm gọi là "Niết bàn" của Thanh Văn khi tất cả phiền não được tận diệt, tức là chứng được vô ngã, thông thường còn gọi là Hữu Dư Y Niết Bàn (khi còn tại thế) và Vô Dư Y Niết Bàn (khi bỏ thân). Song ngoài ra, theo Đại Thừa Phật Giáo có Vô Trụ Xứ Niết Bàn, Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn khi ngã pháp đều không thì Nhất Thật Tướng Ấn hiển hiện. Quý vị gắng nhớ!

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni ra đời chính là một đại sự nhân duyên, mà cái đại sự nhân duyên ấy là gì? Ngài dùng đủ mọi cách, mọi phương tiện để khai mở cho chúng sanh biết mỗi người, mỗi chúng sanh cũng đều có Phật tri kiến, đây là tên khác của nhứt thật tướng ấn. Chúng sanh được chia ra làm hai loại : Hữu tình vô tình. Hữu tình là những chúng sanh có tình thức có linh giác, và vô tình chúng sanh như cỏ, cây, sắt, đá v.v... Tuy vậy nó cũng có cái linh quang và đều có cái sức sanh trưởng của nó. Cho nên, trong nhà Phật nói các loài hữu tình thì có Phật tánh, trong khi vô tình chúng sanh thì có Pháp tánh. Thật ra, Phật tánh và pháp tánh cũng gần như nhau, chứ không khác. Là Phật tánh thì nó linh động và pháp tánh thì nó không linh động thôi.

Định nghĩa chữ chúng sanh là : "Hợp chúng duyên nhi sanh, cố viết chúng sanh". Nghĩa là hợp các duyên mà sanh ra cái vật đó, cho nên gọi là chúng sanh, như vậy, con người và các loài hữu tình chúng sanh đều do nhiều yếu tố hợp thành, và gọi là có tình thức. Nhưng cỏ, cây, sắt, đá v.v... các loại thuộc thực vật hay khoáng vật cũng do duyên hợp và được gọi là vô tình, vậy thì không có chúng sanh nào tự nhiên mà có. Nói chúng sanh hữu tình có Phật tánh và nếu tu đúng phương pháp và tinh tấn hành trì thì thành Phật, không có nghi, nhưng nói chúng sanh vô tình cũng được thành Phật thì thế nào? chúng ta hãy cùng nhau khai thông vấn đề ở đoạn sau.

Đức Phật, trong 49 năm trường, luôn chuyển bánh xe pháp, Ngài vì phương tiện căn cơ mà giải thích giáo lý cho bậc thường, bậc trung và bậc thượng hay là Đại Thừa, trên 300 pháp hội, mà mục đích tối hậu là để giải thích hay khai (mở) chúng sanh Phật tri kiến hay là nhất thật tướng ấn ở nơi mọi người.

Thí dụ các kinh Đại thừa như : kinh Lăng Nghiêm thì chỉ cho chúng ta cái chân tâm. Kinh Hoa Nghiêm thì nói về pháp giới tánh trùng trùng duyên khởi. Kinh Lăng Già (Lankara) chỉ cho lăng già tâm ấn. Kinh Kim Cương chỉ cho cái đặc chất kim cương bất hoại tâm v.v... Tất cả những kinh điển Đại Thừa đều chỉ cái nhất thật tướng ấn, như thế gọi là thị (chỉ). Nếu mỗi mỗi chúng sanh biết rõ ràng và nhận được nhất thật tướng ấn thì gọi vị ấy là ngộ (nhận ra) Phật tri kiến và cuối cùng là làm sao mà luôn luôn sống được với nó, gọi đó nhập (hằng sống) Phật tri kiến.

Khi mình làm được như vậy, thì ngay đó tức thân thành Phật. Chính đây là cái tinh hoa của đạo, mình phải học đạo để biết được lẽ sống, thế nào là sống với Phật tánh hay là nhất thật tướng và phải cố gắng luôn luôn sống với nó, và thế nào là sống với phàm tánh ? Cũng một việc thôi mà khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm, vì vậy phải hết lòng, hết dạ tầm sư học đạo để hiểu tường tận cái tinh túy của đạo, chân lý tuyệt đối đó là nhất thật tướng ấn và đây là tướng chân thật cho nên nó là vô tướng, không thể nào chỉ, nói hay suy nghĩ được. Nên mới nói thật tướng, vô tướng vi diệu pháp môn, nếu có hình tướng thì sẽ bị hoại diệt. Từ tướng có sanh diệt để nhận thấy cái tướng không sanh diệt, chính đây là thật tướng. Nói cách khác nương vào tướng và dụng mà nhận ra được bản thể.

Đức Phật tìm ra chân lý, chân lý này chính là nhất thật tướng ấn, suốt 49 năm trường Ngài dùng vô số phương tiện dạy trong năm thời, tám giáo đều nhằm mục đích tối hậu là muốn tất cả chúng sanh đều nhận ra cái nhất thật tướng và sống với nó mà thôi. Chúng sanh sở dĩ đau khổ vì lầm nhận giả cho là thật, rồi sanh lòng ái nhiễm, sự khổ đau của chúng sanh không ngần mé, nối tiếp nhau từ kiếp này sang kiếp khác chưa từng gián đoạn. Đức Phật vì lòng từ bi mà nói vô số kinh để chỉ cho chúng sanh tất cả sự vật đều là vô thường và vô ngã để từ đó nhận được cái chân thường và chân ngã, thường quán như vậy thì tất cả khổ đau của chúng sanh lần lần tiêu diệt.

Một điểm cực kỳ quan trọng mà người con Phật cần minh tâm là, khi Ngài hoát nhiên đại ngộ dưới cội Bồ Đề, trở thành vô thượng chánh đẳng chánh giác, thì Ngài quan sát lại hết tất cả phương thế giới, thấy rằng Ngài đã giác ngộ từ nơi tự tâm mình, chứ không có một ông Phật nào ở ngoài nhập vào để mà thành Phật. Giả sử có sự nhập vào từ bên ngoài thì tức là không phải thật, là vọng, là tà.

Sau khi giác ngộ tự tâm Ngài tuyên bố cho tam thiên đại thiên thế giới biết rằng "Kỳ tai, kỳ tai nhất thiết chúng sanh cụ hữu Như Lai trí tuệ, đức tướng; kỳ tai kỳ tai nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh v.v..." Đó là cái nhất thật tướng ấn mà Ngài tìm ra tự ở nơi mình, tất cả chúng sanh đều có bản tánh sáng suốt giác ngộ. Trong các kinh điển Đại Thừa đều ghi rõ ràng là "Phật là chúng sanh đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành". Thành có nghĩa là trở về với nhất thật tướng, tức là trở về với cái tướng chân thật.

Nhứt Thật Tướng Ấn, nói ngắn gọn, dễ hiểu là một cái tướng chân thật. Mà cái tướng chân thật ấy là gì? Thật tướng mà là vô tướng, cái tướng chân thật, nó không có hình tướng, bởi vì nó không có hình tướng, nên được gọi là cái tướng chân thật. Sự vật có hình tướng nên nó bị hoại diệt theo thời gian. Nó không có cái tướng chân thật được. Khi nói về cái tướng chân thật tức là chỉ cái tâm của chúng ta đấy. Chữ Ấn ở đây là vì được đức Phật ấn chứng, chắc chắn là điều ấy không bao giờ sai, lệch.

Trong Pháp Hoa huyền nghĩa có giải chữ nhất thật tướng ấn như sau : "Nhất thật tướng nghĩa là cái lý chân thật, bất di, bất dịch; bất sanh, bất diệt...tiền tiền vô thỉ, hậu hậu vô chung". Tướng chân thật đó không phải đồng mà không phải khác, nhưng khi nói đến nhất, là nói cho chúng sanh còn vọng tưởng, vọng niệm, chứ đến khi mà chúng sanh hết các vọng tưởng, vọng niệm rồi, thì con số một cũng không nói được nữa. Trên phương diện của tục đế mà gượng nói có một tướng thật mà thôi.

Chúng sanh lìa được các tướng hư vọng, để chân tâm hiển hiện, nghĩa là tức vọng qui chơn. Ấn tức là Tín vậy, ví như một công văn, bức thơ mà được đóng con dấu ấn chứng thì đó là cái tin chắc thật, một sự thật, còn nếu không có con dấu thì sẽ bị nghi ngờ, không phải là thật. Các công văn được đóng dấu tức là "đắc ấn khả tín’’ để cho người tin tưởng chắc chắn và đây là bằng chứng cụ thể. Như Lai đã nói các kinh, luật và luận Đại Thừa đều dùng cái nhất thật tướng để mà ấn định những lời Ngài thuyết giảng tức là giáo thể, làm như thế là để ngăn chặn lại thuyết của chúng ngoại đạo, cũng như các hàng thiên ma không thể xen tạp hay phá hoại được, nên dùng chữ "Ấn". Để chúng sanh đời sau nhận thức đứng đắn hơn và có thể phân biệt rõ ràng thế nào chánh tà, hư ngụy, chân lý và phi chân lý không bị lạc vào đường ác, thì chúng ta hãy lấy nhất thật tướng ấn làm qui cũ để phân biệt được kinh nào là Phật nói và kinh nào là ngoại đạo. Kinh không có nhất thật tướng tức là ma nói, nên trong kinh có câu: "Đức Thế Tôn nói cái thật đạo, tức là cái chân lý tuyệt đối, và thiên ma ba tuần không thể nói được cái lý này", tướng chân thật cũng tức là bản tâm của chúng sanh.

Ngài Bàng Long Uẩn nói kệ như sau diễn tả Nhất Thật Tướng Ấn:

"Thập phương đồng tụ hội,

Cá cá học vô vi,

Thử thị tuyển Phật trường,

Tâm không cập đệ qui".

Nghĩa là mười phương các nơi kẻ phương Đông, người phương Tây đồng tụ hội. Để học pháp vô vi tức là học tâm của mình; đó là cái trường thi tuyển để làm Phật và sau cùng là bản tâm của mỗi người bây giờ trở  lại với tâm thanh tịnh, sáng suốt, không còn mảy may vô minh phiền não. Khi tâm về với chân không rồi thì tức là thi đậu và tên mình được ghi trên bảng vàng. Phàm chúng ta hiện bây giờ hành đạo, học đạo, làm tất cả những công việc Phật sự, tu phước, tu huệ hay tu tất cả các pháp môn khác như tu thiền, tu tịnh, tu mật, đều chỉ nhằm dứt hẳn các vọng tưởng để trở về với chơn tánh, cuối cùng là không ngoài một việc "tức vọng qui chơn". Nhất thật tướng ấn chỉ hiển lộ khi tâm hết các vô minh phiền não, chứ không thể tìm ra nhất thật tướng qua màu xanh, vàng, đỏ, trắng hay bất cứ hình tướng nào, khi tâm còn chấp các tướng sanh diệt là thật có.

Chúng ta có thể nhận ra các pháp sanh diệt tức là phần vọng hay là giả có, qua các hiện tượng sự vật. Hằng ngày, để chúng ta có thể tìm ra và sống với cái Phật tánh của mình, thì nhất cử nhất động chúng ta làm đều nhắm đến sự giác ngộ, đại ngã (Phật tánh) và với tâm bình đẳng, tuyệt đối không vì tiểu ngã tức là chỉ vì mình (ngã) và người thân (ngã sở) mà làm các sự lợi ích. Chỉ cần chúng ta hành sự với tâm giác ngộ thì bản thân mình đã nhận và sống được cái vô ngã, vô thường ấy; đó cũng là cốt tủy Phật giáo không phân biệt ở Tông phái nào hay ở quốc độ nào. Mọi việc làm của chúng ta bấy giờ đều là Phật Pháp, đều là đúng với chân lý, hợp với sự thật.

Người thực hành được như vậy, chính thống là người có chánh tri kiến. Bản thể của tâm rộng khắp không ngần mé, cho nên từ cái tư tưởng cho đến lời nói và việc làm cần phải cho hợp và thuận với cái chân tâm, tức là: thể thì không sanh diệt, tướng thì rộng trùm cả hư không và dụng thì lợi lạc khắp cả pháp giới.

Theo kinh Kim Cang Bát Nhã diễn tả, làm Phật sự nhưng không chấp vào bốn tướng đó là : Ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng và thọ giả tướng, thì mỗi giây phút ấy là mình đã tự chuyển nghiệp. Song, Phật chế luật cốt yếu làm cho mọi người qui về cái "nhất luật" (tướng và dụng), tương tợ với cái nhất thật tướng ấn, bởi thế nếu chúng ta nghiêm khắc sống theo luật của Phật chế, tức là ta tự trở về với cái chân lý (bản thể) đấy. Ngược lại, sống với tâm phàm tức là phá giới luật thì mỗi giây, mỗi phút là chúng ta tạo nghiệp bất thiện, vì mọi việc mình làm đều nuôi dưỡng bản ngã thêm lớn và càng ngày càng xa với Phật tánh của mình.

Để mỗi ngày chúng ta tiến gần với cái nhất thật tướng, thì chúng ta thường thực tập hồi hướng (hồi tự hướng tha, hồi nhân hướng quả, hồi tướng hướng tánh, hồi tiểu hướng đại) các công đức lành cho pháp giới chúng sanh bởi ta là phần tử trong pháp giới, vì tất cả đều nằm trong một bản thể, không rời pháp giới mà có ta. Chư vị giác ngộ hằng sống trong chơn ngã, trong bản thể giác ngộ, khác xa với những chúng sanh mê lầm luôn luôn vì trưởng dưỡng giả ngã, vì bản thân và quyến thuộc mà làm những sự lợi ích. Bản tâm chúng ta vốn rộng lớn bao la nhưng vì ái nhiễm nên bị giới hạn trong phạm vi nhỏ hẹp. Tuy là vậy, giác là Phật và mê là chúng sanh. Hai trạng thái đối nghịch, nhưng nó cũng cùng chung một bản thể, song nhất thật tướng ấn chỉ hiển lộ ở nơi người giác ngộ qua tướng và dụng, còn khi mê thì dù cho danh từ cũng không hiểu, nói chi là mong biết được nhất thật tướng là gì.

Nhất thật tướng cũng có rất nhiều tên gọi khác nhau như là: chân tâm, chân tánh, Phật tánh, pháp giới tánh, bản lai diện mục, viên giác diệu tâm, diệu tánh v.v... tùy theo kinh mà dùng cho hợp với công dụng của cái tâm mà cưỡng lập danh. Thành ra, là vị chân tu, nhứt nhứt khi bắt đầu làm việc gì phải tự hỏi mình, làm cho người hay chỉ cho cá nhân mình (giả ngã), cái nhân ta gieo hôm nay, thì mai sau quả thế nào ? Khi hoàn thành một việc thiện gì  đều hồi hướng công đức cho khắp chúng sanh trong pháp giới đều sớm thành quả Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Chính tâm này, qui hướng chúng ta về cái nhất thật tướng ấn, vì hành động này thuận với cái thể của chân tâm.

Chư Phật trong ba đời không ngoài tâm và chúng sanh mà có nên có câu ‘’tâm Phật cập chúng sanh thị tam vô sai biệt’’, tất cả đều ở trong cùng một bản thể không rời một, mà có kia. Được sớm trở về sống với cái bản thể nhứt như hay là nhứt thật tướng ấn, thì từ cách đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, uống... mọi việc làm hằng ngày, đều phải sáng suốt, giác ngộ. Làm được như vậy thì tự mình đã có phần giác và đồng thời sự trang nghiêm, thanh tịnh của mình chính là cái pháp thân Phật nên được người qui y, đây thuộc về thân giáo và cũng là một trong nhiều cách giáo hóa chúng sanh.

Tuy vậy, cũng không nên cố ý trang điểm vẻ trang nghiêm bề ngoài để làm người kính phục cho là đạo mạo, đây là một hình thức lừa gạt không thực, mà việc làm ấy là hoàn toàn hướng ngoại về nội dụng thực chất thì rỗng tuếch. Nhân như thế thì quả rốt cuộc chỉ tìm thấy đạo bên ngoài. Nếu cũng một công việc ấy, mà hành giả nghĩ về sự trang nghiêm bên trong nội tâm, thì đây là một đại nguyện, trong nhứt cử nhất động với tâm thanh tịnh, thì việc tự độ và độ tha đều viên mãn, và trí tuệ vô sư sẽ hiển lộ. Làm được như vậy sẽ có sự mầu nhiệm không thể nghĩ bàn. "Xứng tánh tác Phật sự" là như vậy đó.

Ngược dòng lịch sử, sau khi đức Phật đã tìm ra chân lý, Ngài trao lại nhất thật tướng ấn cho Sơ tổ Ma Ha Ca Diếp trên pháp hội Linh Sơn, hiện giờ là tiểu bang Bhiha, Ấn Độ. Khi đức Phật đương giảng pháp cho hằng hà sa số thính chúng, trong lúc ấy, Ngài đưa lên cành hoa sen, mà chỉ có ngài Ma ha ca diếp Tôn giả biết được cái tâm của đức Phật và hớn hở mỉm cười "phá nhan vi tiếu". Ở đây được nhiều chỗ gọi là đức Phật truyền tâm ấn cho ngài Ma Ha Ca Diếp, tức là tâm của Phật và tâm của ngài Ma Ha Ca Diếp đồng hòa với nhau, nên có sự giao cảm không thể nghĩ bàn.

Lúc ấy, đức Phật truyền trao cái nhất thật tướng cho tất cả thính chúng, nhưng chỉ có ngài Ca-diếp lãnh hội được, vì thế đức Phật ấn chứng cho Ngài đã chứng đạo và được làm Sơ tổ nên có câu: "Niêm hoa ngộ chỉ, tổ đạo sơ hưng." Đồng thời Ngài cũng được đức Phật truyền trao cho "Chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, Thật tướng vô tướng, Vi diệu pháp môn." hay là nhất thật tướng ấn. Từ đấy Ngài truyền trao cho Nhị Tổ là Ngài A Nan và đến vị tổ thứ hai mươi tám tức Bồ Đề Đạt Ma vì thế có câu : Miên diễn tứ thất (4 x 7 = 28) diễn chơn thừa... Có nghĩa là Tổ Tổ tương truyền diễn tiến cho tới hai mươi tám đời tổ, đều truyền thừa cái diệu lý chánh tôn hay chánh pháp nhãn tạng cũng gọi là cái nhất thật tướng ấn. Rồi sau đấy tổ Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa để truyền cho Nhị Tổ là ngài Huệ Khả và cho tới Lục tổ Huệ Năng nên tiếp câu trên là: "...Lục đại diễn truyền đăng, diệc diệp tương thừa, chánh pháp vĩnh xương minh".

Nghĩa là khi Ngài Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa truyền đăng cho Nhị tổ là Huệ Khả và chánh pháp này được Tổ Tổ truyền thừa cho tới Ngài Lục tổ Huệ Năng; "Nhất hoa khai ngũ diệp, kết quả tự nhiên thành". Từ Ngài Lục Tổ trở về sau thiền được đại chúng hóa và gây ảnh hưởng lớn cho nền văn hóa đương thời. Chánh pháp hay nhất thật tướng ấn càng sáng tỏ và trở nên rạng rỡ hơn.

Đức Phật đã tuyên bố trước đại chúng trên Pháp Hội Linh-Sơn rằng : "Ta nay có Chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, Thật tướng vô tướng, Vi diệu pháp môn", nay truyền cho Ma Ha Ca Diếp". Mười sáu chữ này là hoàn toàn nói lên cái nhất thật tướng ấn.

Chánh pháp nhãn tạng chỉ cho cái kho tàng sáng suốt của chánh pháp, là chơn tâm hay Niết Bàn. Niết bàn diệu tâm, tức là bất sanh, giải thoát, tịch diệt diệu tâm tức là chơn tâm. Thật tướng vô tướng là cái tướng chân thật, nên không có hình tướng, thật tướng nên hiểu là thật tánh, vì thế nên tánh thì không thể nào diệt được. Nếu có hình tướng thì nó là giả tướng chứ không phải thật tướng vì nó sẽ bị vô thường biến chuyển. Vi diệu pháp môn là pháp môn không thể nói được, cũng gọi là nhất thật tướng ấn.

Chơn tâm chúng ta không bao giờ chết, không bao giờ hoại diệt, vì thế khi thân này mất thì lúc bấy giờ tùy nghiệp thọ báo. Có 4 loại nghiệpẠ.

Dư nghiệp của đời này (tiền ấm) sẽ theo thân trung ấm mà thọ báo vào thân đời sau tức (hậu ấm).  Tùy nghiệp thọ báo là nói về phần sự tướng, phần hiện tượng tức là có thân thọ quả, nhưng khi đứng về góc độ của lý tánh là tùy theo tâm mà thọ báo, cảnh giới sẽ do tâm biến hiện cho tương ưng (chánh báo và y báo).

Bởi tâm chúng ta có sức mạnh rất mãnh liệt và dù nghiệp quả có tới đối với các bậc chứng đạo cũng coi như không. Không còn pháp, không còn ngã, cũng có nghĩa là không có người thọ nhận, cũng không có quả để nhận. Vì thế, dù nghiệp thiện hay ác có đến cũng chẳng can phạm gì với các bậc chứng đạo. Trong Chứng Đạo Ca của ngài Vĩnh gia Huyền Giác có câu : ‘’Chứng thật tướng vô nhân pháp, sát na diệt khước a tỳ nghiệp, nhược tương vọng ngữ cuống chúng sanh, tự chiêu bạt thiệt trần sa kiếp’’. Sức mạnh của chân tâm sẽ thắng được cái nghiệp quả hoặc thiện hoặc ác. Vì tất cả nghiệp báo đều là thuộc loại hữu vi mà tất cả hữu vi pháp được sanh ra và hiện hữu từ nơi cái bản tâm tức là vô vi pháp. Tâm tạo ra tất cả cảnh giới trong sáu đường nên có câu : Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Nếu còn là chúng sanh chưa nhập được vô vi pháp thì nghiệp quả như hình với bóng, nên phải cần sám hối để tiêu nghiệp.

Bình nhật khi tâm chúng ta ở trạng thái của cực tham, cực sân và cực si thì lúc bấy giờ cảnh bên ngoài sẽ bị ô nhiễm và ảnh hưởng tâm của những người chung quanh bởi có câu : Tâm bình tức thị cảnh bình và ngược lại. Bởi thế, tu là một quá trình thanh lọc tâm hay tịnh hóa nhân tâm để đạt đến chỗ Chân, Thiện và Mỹ, tự chủ cho ba nghiệp được thanh tịnh. Còn trái lại, cố chấp những vọng tưởng thì càng ngày càng huân tập nghiệp bất thiện. Tuy thân người có sanh diệt, diệt sanh về hình tướng nhưng phần chân tâm vẫn giữ nguyên vẹn không tăng, giảm, không cấu, tịnh...

Ngược lại phần vọng tâm có sanh diệt và tăng giảm tùy theo lúc hiện đời tích lũy chủng tử thiện ác. Sự tăng giảm của phần ô nhiễm đặt nặng trên căn bản của sự hành trì giới luật, mà Phật và chư tổ đã truyền trao.  Hiển nhiên, nếu tâm tích tụ nhiều phần vọng nhiễm và chúng ta xuôi tay để nó hoành hành, thì nhất thật tướng, chân tâm sáng suốt tròn đầy không bao giờ hiển lộ.

Thật ra, chân tâm không bao giờ tạm có hay tạm không, không sanh không diệt, không cấu không tịnh, không hề thay đổi. Khẳng định như vậy, để chúng ta hăng hái tinh tấn tu giới, định huệ để giải tỏa các nghiệp hoặc, phiền não chướng và sở tri chướng. Giải tỏa chúng càng sớm thì nhất thật tướng càng sớm hiển lộ tức là phá một phần vô minh, chứng một phần pháp thân. Vì thế một bài kinh, một thời giảng pháp của Phật giáo nói chung và Phật giáo phát triển nói riêng đều xưng dương tán thán cái chân tâm của mọi người cùng mọi loài và luôn luôn nhắc nhở chúng sanh làm sao phải sống với cái chân và cái sáng và đừng sống với cái vọng hay là cái Tôi, đều là giả ngã.

Để hằng ngày chúng ta sống với cái chân tâm hay thật ngã thì không cách nào hơn là chúng ta phải gia công tu tập, bằng cách học luật để hiểu và giữ giới cho nghiêm ngặt, học kinh cho thông lý để thực hành thiền na và thường tư duy những luận lý của chư Tổ để lại, để trí tuệ phát sanh. Có được giới định huệ thì đạo nghiệp sẽ thành tựu.

Đây là điểm thiết yếu nhất, mà chúng ta cần lưu tâm và cần hiểu cái ẩn ý là những cái phiền não đã có sẵn thì ta nên lần lượt hóa giải, nếu không thể ngay lập tức phá trừ hết tất cả, mặt khác phải nhận không lầm về những chủng tử thuộc về thanh tịnh, nhiễm ô, thiện, ác, hữu lậu hay vô lậu v.v... để có thể gạn lọc và huân tập những chủng tử có công năng giúp chúng ta tiến gần tới quả toàn chân.

Tóm lại, các nghiệp đã tạo do vô minh, nay cần tu giới để ngăn ngừa sự huân tập thêm các chủng tử bất thiện; cần tu định để khi chúng hiện hành ta có thể nhận diện kỹ về phát xuất điểm cũng như chủng loại và thời gian, nhân duyên hiện hành, và tu huệ để nhận rõ các thiện pháp và thật tướng của các pháp.

Nhất thật tướng ấn là tướng chân thật, là phật tánh cũng là cái chánh pháp nhãn tạng mà đức Phật trao cho Ngài Ma Ha Ca Diếp là vị Tổ đầu tiên tại Ấn Độ và nguồn diệu lý ấy được truyền cho đến Tổ thứ hai mươi bảy tức là Bát Nhã Da La Già Ca. Lúc bấy giờ, qua hiện tượng Ngài thấy sự suy đồi về giáo pháp của đức Phật tại Ấn Độ. Vì muốn duy trì và truyền bá mạch nguồn, nên Ngài khai thị cho Tổ thứ hai mươi tám tức là Tổ Bổ Đề Đạt Ma là phải ‘’Hàng hải nhi lai đông độ’’, nghĩa là phải đi sang phương Đông để truyền pháp lợi sanh. Tổ Bồ Đề theo lời phú chúc ấy nên sang phương Đông để truyền pháp cứu mê tình. Ngài có làm bài kệ sau :

"Ngô bổn lai tư độ,

Truyền pháp cứu mê tình,

Nhất hoa khai ngũ diệp,

Kết quả tự nhiên thành."

Giáo pháp được Ngài truyền trao cho Nhị Tổ và cứ thế Tổ truyền Tổ cho đến vị Tổ thứ sáu tức là Tổ Huệ Năng, cũng là Tổ cuối cùng được truyền y bát. Ngài Huệ Năng do nghe một cư sĩ trì kinh Kim Cang mà ngộ. Từ đó, vì Ngài luôn luôn sống thuận với chân lý, nên chẳng cần học mà thông hiểu những yếu nghĩa trong tam tạng kinh điển.

Thời nay, đa số phải cần học giới, học định và học huệ, vì không phải là những bậc lợi căn lợi trí, nên khi học kinh, nghe kinh phải cần qua ba giai đoạn tức văn, tư và tu.

Trong Phật giáo gọi là "tiệm tu". Phần đông căn cơ chúng sanh trong thời mạt pháp (mạt pháp không phải là không có giáo pháp mà là hiếm có người nhận được nhất thật tướng ấn mà Đức Phật nói ra trong Tam Tạng kinh). Nói khác là, chúng sanh không biết cách chuyển hóa những giáo lý đã học, đã nghe, đã đọc từ những vị Tổ, Thánh Tăng, cao tăng, hiền triết thành chất bổ để cuộc sống của mình và người và thiên nhiên thành một thật thể bất khả phân ly,

Thiền Sư Trí Thiền nói "... tùy duyên lập đạo tràng ..." Thế mà, lại có vô số người học đạo rồi chấp vào chữ nghĩa, danh tự rồi trụ vào đó và cho đó là chân lý, gián tiếp tâm bị thâu hẹp lại và bị trụ trước, nên không giải thoát được. Hôm nay, chúng ta vẫn còn thừa hưởng những giáo lý hay những pháp môn vi diệu cũng là nhờ vào sự truyền thừa chánh pháp nhãn tạng mà đức Thế Tôn đã trao cho Ngài Ma Ha Ca Diếp trên pháp hội Linh-Sơn.

Sau đây là những bài kệ được trích ra trong kinh điển và những bậc Tổ Sư chứng ngộ nói về nhất thật tướng ấn. Kinh Hoa Nghiêm có câu :

Tâm như công họa sư,

Họa chủng chủng ngũ ấm,

Nhứt thiết thế giới trung,

Vô pháp nhi bất tạo (họa).

Nghĩa là khi chúng ta sống với chân tâm, và tâm ấy như là một ông họa sư đại tài, có thể họa tất cả núi, sông, đất liền, cỏ cây, hoa lá, thế giới, vũ trụ, nhân sinh v.v... Chân tâm hay là nhất thật tướng, đều tạo ra tất cả, nên có câu "nhất thiết duy tâm tạo".

Thật vậy, nhất thật tướng là bản thể không sanh diệt, mà thường ngày chúng sanh không sống với nó, mà toàn là sống với cái hiện tượng, vọng động, sanh diệt và trở thành nhất giả tướng ấn. Tức nhận giặc làm con, nhận giả cho là chân, nên cái thật chơn không thể nào hiển lộ được, dù cho cái chân thật ấy hiện ra sờ sờ đó cũng không nhận ra được và bị điên đảo vọng tưởng. Tâm mình họa ra tất cả ngũ ấm là sắc, thọ, tưởng, hành và thức, gồm có sắc thuộc về phần vật chất (hữu sắc) và thọ, tưởng, hành và thức thuộc về tinh thần (danh). Thân người và vạn loại hữu tình và vô tình, thế giới đều là năm ấm hình thành, nên gọi là "họa chủng chủng ngũ ấm". Tất cả, tất cả các vật có hình tướng và không hình tướng trong thế giới từ người cho đến nhân sinh và vũ trụ. Không có một pháp nào mà vị họa sư ấy không họa được, nên gọi là "vô pháp nhi bất tạo (họa)". Vị họa sư ấy không ai xa lạ chính là dụ cho cái nhất thật tướng ấn hay cái chân tâm của mỗi người chúng ta.

Công dụng của chân tâm thì không thể nào diễn tả bằng ngôn ngữ hay cái ý thức bình thường mà suy nghĩ, vậy thì vọng tâm là như thế nào ? Một thí dụ của vọng tâm được kinh điển diễn tả vô cùng tinh vi về sự luân hồi qua thân trung ấm.

Thần thức của chúng sanh bị vô minh mà đi thọ báo, khi gặp một cái ánh sáng của dâm dục, giao hợp âm dương chớp, nếu hội đủ nhân duyên thì ngay lập tức nhập vào để hòa lẫn phụ tinh mẫu huyết rồi hình thành một hỗn hợp (hình như hột đậu) tạm gọi là thai tạng. Khi thành thai tạng thì thần thức (thân trung ấm) không còn mà đổi thành trạng thái của thức A lại da (Alaiya) gồm chứa cả phần tịnh và nhiễm. Nếu là vì hạnh nguyện của Bồ Tát thị hiện, phần tịnh làm chủ tiến trình phát triển, nhưng đa số là phần nhiễm làm chủ, vì kinh có câu "A la hán cách ấm còn muội và Bồ Tát cách ấm còn mê". Sự phát triển thay đổi của bào thai là do hoạt động của vọng tâm trong mỗi sát na rất tế nhị và tích cực duy trì theo bản năng bảo trì sự sinh tồn của Alaiya. Mỗi bảy ngày thì có sự thay đổi về hình tướng mỗi lúc thì rõ ràng hơn. Cứ chuyển đổi như thế, cho đến bốn mươi thất (9 tháng 10 ngày) thì hiện nguyên hình, tức có danh sắc đầy đủ, từ lục phủ, ngũ tạng bên trong cho tới hình vóc bên ngoài, và các căn đều do cái vọng tâm biến hóa, chứ không có một ông thần thánh nào vào đó để nắn thành thai tạng.

Đây chỉ mới nói một thí dụ của nhiều thí dụ về sự linh động của vọng tâm. Còn chân tâm thì mầu nhiệm, cao quí, uy nghi không thể nghĩ bàn. Vì thế kinh có câu "ngôn ngữ đạo đoạn", hễ nói tới đạo (chân lý tuyệt đối) là phải ly ngôn thuyết tướng, ly danh tự tướng, ly tâm duyên tướng, bởi thế phải ly tất cả, vì tất cả phương tiện chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng, chớ không phải là mặt trăng "Nhứt thiết tu đa la giáo như tiêu nguyệt chỉ". Tuy vậy, mà cũng có câu "Vạn hạnh môn trung, bất xả nhất pháp, Phi phương tiện bất thành cứu cánh." Dùng cái vọng tâm mà diễn tả chân tâm thì không thể nào được, Chỉ có cái tâm sáng suốt mới có thể hình dung được, mà nói ra trở thành vọng, như là bóng tối tới và ánh sáng phải lui. Bởi thế, nhiều vị không thích nói nhiều, nhưng đấy chỉ nói về khía cạnh thụ động mà thôi, chứ Chánh Pháp thì phải tích cực mà xiển dương bằng nhiều phương tiện; vì vậy Tông Môn không thể lìa Giáo Môn và ngược lại.  

Điểm này chúng ta có thể chắc chắn không có nghi ngờ, tuy có câu "...trực chỉ chân tâm kiến tánh thành Phật. Giáo ngoại biệt truyền..." nhưng đức Phật đã tuyên bố cho đại chúng trước pháp hội Linh-Sơn sau khi Ngài Ma Ha Ca Diếp ngộ được chân tâm, vì có sự tuyên bố (lập giáo), nên giáo không thể rời tông và tông cũng không rời giáo. Vì thế độ sanh qua sự giáo hóa bằng lời là phương tiện thù thắng nhất. Nhưng mà gọi chân tâm là cái gì thì cũng sai, vì nó tùy duyên mà bất biến, bất biến tùy duyên "accord with conditions, but do not change. Not changing accord with conditions." (Hòa Thượng Tuyên Hóa)

Kế nữa là một câu kệ trong kinh sách cũng đồng thời đề cao Nhất Thật Tướng Ấn :

"Hữu vật tiên thiên địa,

Vô hình bản tịch liêu,

Năng vi vạn tượng chủ

Bất trục tứ thời điêu."

 Bài kệ trên chỉ cho nhất thật tướng ấn hay là chân tâm của chúng ta. Có một vật nó có trước trời đất. Vật ấy không có hình tướng, mà bản chất vẫn là vắng lặng nó linh động và siêu việt vô cùng. Nó làm chủ trong muôn hình tượng, nếu vì một đại nguyện cần ứng vào hình tượng nào tức là làm chủ hình tượng ấy.

Ví dụ, như khi nhập thai ở loài người thì nó làm chủ mọi suy nghĩ mọi hành động và mọi lời nói; nếu nó vào loài ngạ quỉ hay là súc sanh hoặc là trời v.v... đều bị nó điều khiển hoàn toàn. Dù thời gian xuân, hạ, thu, đông hay dù có bốn mùa tám tiết, dù thời gian thì hữu tận, không gian hữu cùng, nhưng bản chất của tánh linh thì vẫn như vậy thôi và không bao giờ hoại diệt. Bởi thế, nói thì bị vọng động, thì sai, nhưng ở quốc độ này không nói thì không được, không chỉ thì làm sao người biết đường đâu tu. Nói rằng chúng sanh có Phật tánh, nếu không nói và chỉ thì làm sao có thể khai triển và phát huy Phật tánh ấy. Nên Kinh Lăng Nghiêm có câu :

Thử phương chơn giáo thể,

Thanh tịnh tại âm văn,

Dục Thủ Tam ma đề,

Tất dĩ văn trung nhập.

Đây chỉ miễn cưỡng mà lập danh, thật tướng không có cách diễn tả cho được. Khi chúng ta hiểu được như vậy rồi thì chúng ta hãy nhứt tâm, nhứt đức mà tiến tu để mau trở về với chỗ sáng suốt giác ngộ ấy. Một điều tối quan trọng quý vị phải hiểu rõ về cái lý đạo để mà tu hành, nhứt là vì chúng ta đang hướng về Đại Thừa Phật Giáo. Khi nói về lý đạo tu hành, thì tất cả tất cả đều qui về lại cái chân tâm. Biết được như vậy, thì mỗi người phải làm sao khai triển cái tâm của mình để ‘’tiến lên, tiến lên, tiến lên mãi; tiến lên đến cái chỗ không còn thấy tiến lên nữa, tức là nhập diệu, tức là nhập vào tánh không Bát Nhã".

Thầy sẽ chỉ ra một điểm rất là cụ thể để quý vị thấy, tại sao những buổi lễ hay những thời Khai Thị, mà ta phải đăng chúc huy hoàng, chuông trống Bát Nhã. Chỗ tôn thờ, chỗ ngồi nghe pháp, nói chung là hoàn cảnh phải được chuẩn bị trang nghiêm về hình thức đó?

Những hình thức ấy đều có dụng ý, là mỗi người đều qui lại với cái Nhất Thật Tướng Ấn, tức là cái tướng chân thật. Cái tướng chân thật ấy chính là chân không diệu hữu. Diệu hữu tức nhiên là hễ khi muốn có thì nó có tất cả những sự nhiệm mầu vô cùng tận, nói không hết, không thể dùng lời nói được những điểm mầu nhiệm đó. Từ chân không mà có các pháp một cách nhiệm mầu và trang nghiêm, nói một cách dễ hiểu là khi chúng ta còn sống trong thế giới của tương đối, thì chúng ta phải nhận cho rõ thế nào là chánh tà hư ngụy, đúng sai... Làm được như vậy thì cái tuyệt đối cũng không rời cái tương đối mà có, chính ngay khi ấy chúng ta trở về với cái diệu hữu. Còn mà chúng ta chưa nhận ra thế nào là vọng chân, hư ngụy, phải quấy, vụng về hay trang nghiêm... thì không thể nào nhận ra cái nhất thật tướng ấn. 

Khi chúng ta trở về với cái nhiệm mầu đó tức là trở lại cái chân tâm của mỗi người, bởi thế, trang nghiêm đạo tràng mục đích là qui hướng mỗi người về cái nhứt thể hay là nhất thật tướng ấn. Khi đạo tràng được trang nghiêm thanh tịnh, có nghĩa là thân cùng một xứ; miệng cùng đọc gọi là "cú cú tùng tâm lưu xuất", và hòa trong tiếng mõ không lớn không nhỏ và nhịp nhàng; ý cùng tập trung vào một việc và tâm đồng qui một hướng, thì lúc bấy giờ một tức là tất cả, và tất cả tức là một, không còn có người và ta vì nó hòa nhập trở thành nhứt thể, còn gọi là nhứt thật tướng ấn. Trạng thái nầy không còn tối tăm, không lăng xăng, tạp loạn, chính lúc ấy, yến sáng giác ngộ hiển lộ. Sự lý được viên dung và thể tướng dụng cũng được viên minh, trạng thái thanh tịnh mà chiếu soi, hay là như câu "...linh linh bất muội liễu liễu thường minh..." Quý vị, gắng hiểu cho được cái thâm nghĩa này, trừng tâm đế thính, tư duy thâm nhập. Song, tất cả những Phật sự mà chúng ta đang làm cũng vậy. Phật có nghĩa là giác ngộ và sự tức là sự việc hay công việc làm. Phật sự có nghĩa là làm trong sự tỉnh thức giác ngộ, hết lòng vì chúng sanh, vì chân lý (đại ngã) mà làm gọi là "xứng chân tánh, tác Phật sự...", quyết không vì tham sân si của mình mà làm. Thiết nghĩ đây là điểm quan yếu mà đa số người bị đọa lạc và tự trói mình vào một bản ngã (thô, tế) của chính mình, nên  không nhận thức được, muốn nhận ra nó phải cần sự phản quang sâu sắc, vì nó chính là anh lừa gạt hay nhất có thể biện hộ ở bất kỳ cương vị, tình huống nào. Nó làm ta lầm nhận cái giả ngã ấy cho là mình, là tôi, nhưng trong nhất kỳ và sát na vô thường thì cái tôi đó chẳng phải là tôi. Nếu không có sự quán tâm thật kỹ thì tha hồ tạo tác mà vẫn cho là làm đúng, cái Tôi lúc bấy giờ che cả bầu trời. Một bản ngã linh động vô hình nhưng là gốc của mọi suy nghĩ, mọi hành động, mọi lời nói, mọi sự biến chuyển.

Chính cái Tôi thế này, Tôi thế khác là nguồn gốc của sanh tử. Nếu có trí huệ để xét soi thì phải tự kiểm điểm và hỏi câu hỏi thành thật: Có phải vì để trưởng dưỡng cái Tôi mà làm? Yếu tố để trưởng dưỡng cái tôi đó chính là Ngũ Dục Lạc mà tham ái (tự ái và tha ái) là cội gốc. Người Phật tử phải biết tôn trọng sự thật, phải có Trực Tâm, hầu có thể nếm một phần nào giải thoát, và chính Trực Tâm ấy là căn bản để phát triển Thâm Tâm và Bồ đề tâm. Quan trọng là cố gắng làm cho trọn vẹn công việc, mà không chấp vào nó (bốn tướng chúng sanh). Hành xả bốn tướng ấy được, thì đạt được đến chỗ nhứt thật tướng ấn.

Khi giác ngộ thì phật tánh và pháp tánh cũng chung một thể, nên mới có câu "tình dữ vô tình đồng thành Phật đạo." Nói một cách khác khi mê, thì có phân biệt mình và vật nhưng khi giác thì sống với bản thể, nên không còn ngăn ngại mình và vật. Chính mình có trong vạn vật và vạn vật, từ vi trần, cho đến rộng trùm cả hư không đều có trong tâm chúng ta. Kinh có câu : Tưởng trừng thành quốc độ, tri giác nãi chúng sanh; thân chúng ta là do hỗn hợp của bốn đại, khi tánh giác không còn tức là trở thành quốc độ (y báo), khi còn giác tri thì có phân biệt mình (năng phân biệt) và vật (tức là sở phân biệt), lúc bấy giờ thì có tất cả căn thân và khí giới. Nhưng nhất thật tướng ấn vượt ra khỏi sự phân biệt, năng sở không còn, mà cũng chẳng phải là vật vô tri vô giác kia. Nhất thật tướng bao trùm cả mười phương cõi, luôn cả chư Phật trong mười cũng không ngoài chân tâm. Nên kinh có câu "...thâu lai tại nhất vi trần tán tác phổ châu (triêm) sa giới..." (thâu lại tất cả trong hạt bụi, phóng ra thì bao trùm cả tam thiên). Câu kệ được trích ra trong Kinh Hoa Nghiêm như sau :

"Nhược nhân dục liễu tri,

Tam thế nhất thiết Phật,

Ưng quán Pháp giới tánh,

Nhất thiết duy tâm tạo."

Tạm dịch :

''Nếu người muốn rõ biết,

Ba đời tất cả Phật,

Phải quán pháp giới tánh,

Tất cả do tâm tạo. ''

Yến sáng ở đây là chỉ cho cái nhất thật tướng ấn, thì phải quán pháp giới tánh, có nghĩa là phải đem cái tâm quán tất cả pháp giới tánh, tức là chân tâm, chân tánh hay là Phật tánh mà luôn luôn quán sát và sống với pháp giới tánh đó. Vậy mới thấy biết được tất cả đều do tâm tạo. Tâm mình là chánh báo, và tam giới và lục đạo và cõi Phật là y báo. Thí dụ, hàng ngày chúng ta sống và hành Bồ Tát Đạo, hành lục độ ba la mật, ấy là nhân Bồ Tát, khi hạnh được công viên quả mãn thì quả Phật không cầu mà vẫn được.

Còn ngược lại, hành động ngũ nghịch hay mười ác thì chắc chắn hiện đời tuy mang thân người nhưng tâm đã và đang thọ nhiều khổ đau, tương ưng với ba đường ác (địa ngục, ngạ quỉ và súc sanh), vì thế khi bỏ báo thân này lập tức sanh về ba đường ấy. Như vậy, quán lại tâm niệm hiện tiền, sẽ biết được tánh của pháp giới. Nhứt thiết duy tâm tạo là như vậy đó. Muốn quán được cái yến sáng của ba đời chư Phật thì chúng ta phải trở lại mà quán chiếu chính cái chân tâm của mình. Phàm thì chúng ta cần biết cái vọng tâm của mình cho thật rõ, vì chính vọng  tâm  ấy nên nó tạo ra có sơn, hà, đại, địa nhân sinh vũ trụ v.v... Chính vì do chi phần vô minh vọng động, mà làm cho chúng sanh nhận lầm giả thật, niệm niệm tương tục nên sanh ra vạn vật hữu hình và vô hình. Nên có vị Thiền Sư nói :

''Tác hữu trần sa hữu,

Vi không nhất thiết không,

Hữu không như thủy nguyệt,

Vật trước hữu không không''.

Tạm dịch:

"Có thì có tự mảy may,

Không thì cả thế gian này cũng không,

Cho hay bóng nguyệt dòng sông,

Ai hay cái có, có không là gì".

Giờ đây chúng ta nhận thức được như vậy rồi, thì từ nay nguyện lìa hẳn những cái vọng ấy và phải gia công học đạo, học luật, học kinh, học luận. Chúng ta học nhiều không ngoài mục đích là nhận cái nào là vọng tâm, như trong Duy Thức phân tích rất rõ ràng thế nào là thiện và bất thiện tâm sở, quan trọng hơn là phương pháp lìa hay đoạn ác tâm để thiện tâm hiển hiện "Tức vọng qui chơn". Phật tâm hay chơn tâm chỉ hiễn lộ khi chúng ta thuần sống với tâm thiện, tức là thân, khẩu và ý được thanh tịnh. Vì lợi lạc chúng sanh quên mình, thì hiện đời thành Phật không có gì mà phải chờ kiếp này hay kiếp khác.

Sau đây, là bài kệ của Nho Giáo bị ảnh hưởng trực tiếp bởi Phật Giáo, diễn tả chữ Tâm. Chính Nho Giáo không thể nào diễn tả được Nhất Thật Tướng Ấn.

"Tam điểm như tinh tượng,

Hoành câu tợ nguyệt tà,

Phi mao tùng thử đắc, (đới giác)

Tổ (Tác) Phật giả do tha."

Tạm dịch:

''Ba điểm như sao sáng,

Móc ngay tợ trăng tà,

Đọa Sa hay thành Phật,

Cũng tâm này mà ra".

Trên đây, diễn tả cái tâm viết theo chữ Hán trên có ba chấm, hình như ba ngôi sao, dưới có nét móc nằm ngang, giống như trăng lưỡi liềm. Mang lông đội sừng trong các đường khổ như địa ngục, ngạ quỉ hay súc sanh đều do đây và làm Phật hay làm Tổ cùng từ nơi tâm của chúng ta mà thành. Bởi thế, chúng ta cần phải theo lời đức Phật, các vị tổ và các tiền bối đức trọng mà hằng ngày cố gắng tiến lên để diệt tham, sân, si và luôn luôn tiến đạo nghiêm thân, để chóng thành đạo quả.

Là một vị xuất gia thì ít nhất cũng phải đoạn tận tất cả phiền não, mới không uổng một đời làm vị Sa Môn thọ dụng của đàn na tín thí. Chúng ta phải phát nguyện trước Tam Bảo là mỗi ngày phải trừ một chút vô minh và không tạo thêm những phiền não cho người.

Khi tự tâm chúng ta khởi những vọng niệm mà gốc là tham, sân và si thì ngay lúc ấy phải biết và đổi tham thành nguyện hay còn gọi thiện dục, phải nghĩ về chúng sanh muôn loài để phá cái tiểu ngã, mà trở về với cái đại ngã; sân tâm nổi lên xuất phát từ lòng tham không được toại nguyện, nói cách khác là vì muốn duy trì bản ngã, chấp thân tâm là thật ngã.

Bởi thế chúng phải luôn luôn hiền hòa, nhã nhặn, tươi mát, tích cực, nhưng không phải nhu nhược, không hiểu gì cả, và thực hành được như vậy thì tức là chuyển phiền não thành bồ đề, tức vọng qui chơn. Si mê là những thứ mà không biết được rõ ràng về tánh tướng, sự lý, hiển mật, nhân quả, thiện ác, trắng đen, sáng tối, giác mê v.v... vì thế làm việc không thành công viên mãn.

Bởi thế, chúng ta cần học kinh tức học định, luật tức học giới và học luận tức là học huệ (văn, tư và tu). Phải tầm sư học đạo, mới có thể giải tỏa được những si mê mờ tối nằm trong mọi địa hạt nên có câu rằng : "vô minh thì vô tận mà vô bất tận" cho nên chúng ta lúc nào cũng phải đề phòng bằng cách luôn luôn sống với trí huệ để nhất thật tướng ấn lần hồi hiển lộ.

Người đã nhận được cái nhất thật tướng thì lúc nào cũng sống với cái tâm giác hay là tâm đại từ, đại bi, đại hỷ và đại xả mà hành sự, nhất cử, nhất động đều nằm trong mục đích giải thoát.

Muốn được như vậy, thì trước phải nhận cho rõ ràng cái giả tướng bằng cách quán Tam Pháp Ấn cho thuần thục rồi mọi sự việc trở thành sáng suốt vì, lúc bấy giờ ngã chấp không còn, kế đó là quán không và sau đó nhận biết được bản thể là chơn không diệu hữu, còn gọi là pháp môn bất nhị. Khi sống được với cái không và dùng tam pháp ấn để đối ngoại, hành sự tướng bên ngoài nhưng tâm không mảy may dính mắc, tức là nhất thật tướng ấn hiển lộ hay còn gọi là trung đạo, ngã chấp và pháp chấp tự không còn, vì không năng và sở thì các pháp sẽ không hiện hữu.

Sau đây Thầy có bài kệ nói lên cái nhất thật tướng ấn như sau :

"Nhứt như tâm thể đại đồng,

Thật tánh vô thỉ vô thân tận cùng,

Tướng quang linh diệu sơn trung,

Ấn chứng lý đạo vương cung thăng tòa".

Khi nói về cái nguồn tâm vắng lặng của mình, thiệt ra chỉ có một chớ không có hai, ba đâu. Tâm chúng ta thể nó luôn vắng lặng nhưng bị một vọng niệm vô minh (si) phát khởi và bị cuốn theo cái vọng đó, từ đó có sơn, hà, đại địa, thế giới chúng sanh. Từ vô thỉ kiếp cho đến bây giờ, lặn hụp trong biển khổ, sông mê. Hạnh phúc thay! giờ đây chúng ta được gặp Phật Pháp, được nghe Phật pháp, đó là một phước đức rất lớn, mình phải làm sao để tìm lại cái nguồn chân vắng lặng đó, và trở lại sống với nó.

Thật ra, nó chẳng đâu xa, ở tại lòng ta, ở tại tâm ta, khi mà tất cả những giả tâm hay vọng niệm được giải tỏa thì chơn tâm hiện, tức là thật tướng ngự trị, đó là yến sáng giác ngộ. Thật tánh của mọi người có từ vô thỉ, không có đầu mối và vẫn còn đó cho tới bây giờ và cho đến vô tận cùng thời gian về sau, tâm ấy chỉ tùy duyên mà bất biến và bất biến tùy duyên. Nó tùy theo nghiệp mà hưởng quả báo tương ứng.

Vì thế, người có trí biết được như vậy, thì mỗi việc hoặc tốt hoặc xấu đều tự mình tạo ở kiếp trước do mình vụng hay khéo tu mà thôi. Ông bà, cha, mẹ, gia đình, xã hội, cùng với những yếu tố bên ngoài, hiển nhiên cũng có ảnh hưởng không kém. ‘Tướng quang linh diệu sơn trung, tức là cái yến sáng giác ngộ của cái thật tướng, nó linh diệu vô cùng, nó ẩn trong núi Linh là chỉ bản tâm thanh tịnh còn đang bị vô minh che phủ và lý của Linh Sơn tức là chỉ cho cái linh quang trực vãng hay còn gọi là bản tâm. Vương cung thăng tòa tức là bước lên con đường giải thoát giác ngộ, cũng là thăng tòa thuyết pháp lợi sanh, tục Phật huệ mạng...

Thì hôm nay, thầy muốn nhấn mạnh ở chỗ là trong chúng ta, ai ai cũng có cái nhất thật tướng cũng gọi là chân tâm Phật tánh, biết được như vậy, thì chúng ta phải gắng mà tu để trở lại tánh chân ấy để mà thành Phật, tác Tổ để độ chúng sanh đến bờ giác gọi là "kế mãn khai lai, tục Phật huệ mạng". Là người con Phật ai nấy đều có khả năng và có trách nhiệm như ngài Ma Ha Ca Diếp để truyền thừa chánh Pháp cho đến vô tận thời gian về sau. Còn nếu chúng ta chỉ biết và đình chỉ sự tu ở Tam Pháp Ấn thì sẽ không thể trở về với cái "Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn" hay "Vô Trụ Xứ Niết Bàn" được. Đây là một trong bốn quả niết bàn của hệ phái Bắc Tông Phật giáo, còn hệ phái Nguyên Thủy Phật giáo thì chỉ có hai loại niết bàn đó là hữu dư y và vô dư y niết bàn. Thành ra, sau mỗi thời pháp chúng ta phải tiến lên, vượt lên nên có câu "y nhân, y đạo giai thành Thánh đạo".

Hãy cố gắng mà hành trì, chớ đừng có hời hợt thì uổng lắm. Phải quyết tâm mà dẹp sáu căn bản phiền não hay nói cách khác là đoạn được ngã chấp, pháp chấp và danh ngôn chấp thì nhất thật tướng ấn tự nhiên hiển hiện.

  

13. Bát tướng thành đạo 

Hôm nay, chúng ta vân tập về Tự Viện Linh-Sơn và long trọng cử hành lễ kỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo. Nhân dịp này Thầy sẽ giảng cho quý vị về sự thành đạo của chư Phật để buổi lễ có đầy đủ ý nghĩa hơn.

Theo truyền thống của Phật giáo Bắc tông, thì cứ mỗi giai đoạn quan trọng trong đời sống của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni, chúng ta đều làm lễ kỷ niệm. Thí dụ như Lễ Phật Đản là để kỷ niệm ngày ra đời của Ngài; Lễ Phật thành đạo là kỷ niệm ngày Ngài đạt được đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và lễ Phật nhập niết bàn là kỷ niệm ngày Ngài, sau khi hoàn thành viên mãn công việc đem chánh pháp giáo hóa cứu độ chúng sanh muôn loài tại thế giới Ta Bà, thị hiện nhập diệt.

Theo truyền thống Phật giáo Nam tông thì người ta chỉ tổ chức lễ kỷ niệm cả ba giai đoạn quan trọng đó vào trong một ngày gọi là Lễ Tam Hợp hay là Lễ Kỷ Niệm Vesak.

Trong buổi lễ hôm nay, theo truyền thống Bắc Tông, Thầy sẽ nói cho quý vị rõ hơn, ý nghĩa và những lý đạo của ngày Thành Đạo và cũng như nói về những giai đoạn thị hiện thành đạo của Đức Thích Ca Mâu Ni mà lịch sử Phật Giáo gọi là Bát Tướng Thành Đạo.

Theo tư tưởng và Kinh Điển Đại Thừa, bất cứ một vị Phật nào ra đời để cứu độ chúng sanh và trước khi thành tựu đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cũng phải thị hiện tám tướng hay tám hiện tượng, dẫn tới việc đạt được đạo quả thành Phật. Chư Phật trong quá khứ cũng đã từng thị hiện đầy đủ tám tướng. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm ngày thành đạo của Đức Thích Ca, nên Thầy sẽ nói về tám tướng thị hiện của Ngài, mà trong lịch sử Phật Giáo chỉ mới ghi chép lịch sử của Đức Thích Ca, quý vị mới có thể theo dõi và hiểu được.

Trước khi nói tới "Tám Tướng Thành Đạo", Thầy muốn giảng cho quý vị rõ ràng cái lý đạo của hai chữ Thành Đạo. Có hiểu được cái lý đạo của hai chữ thành đạo, quý vị mới thấy được cái ý nghĩa của những buổi lễ kỷ niệm mà Phật tử chúng ta tổ chức hàng năm.

Trước hết, chúng ta phải hiểu chữ đạo ở đây. Chữ đạo trong từ ngữ thành đạo này để chỉ cho cái tột cùng, rốt ráo của cái Tánh Biết mà ngôn ngữ thế gian chỉ có thể tạm gọi là chân lý. Nói tới hai chữ chân lý thì cũng phải dùng ngôn ngữ hạn cuộc của thế gian để giảng giải, nhưng Thầy cũng phải nói trước là, muốn giảng cách nào chăng nữa cũng không thể hết cái ý nghĩa của chân lý.

Vậy thì chúng ta hãy tạm giải thích như sau : Chân Lý là tư tưởng, triết thuyết, sự thật, hiện tượng, trạng thái của tâm v.v... mà lúc nào cũng đúng với lẽ thật, lúc nào cũng nhất như, không thể sai chạy được, dù ở trong thời quá khứ, hiện tại hay vị lai. Chân lý là cái thể vốn đã sẵn có trong thiên nhiên, không ai có thể tạo ra được và cũng không thể tiêu diệt được, giống như hư không. Bằng bất cứ cách thức nào, người ta cũng phải sống trong hư không, tất cả mọi hiện tượng dù hữu hình hay vô hình đều không thể nằm ngoài phạm vi của hư không. Không một siêu lực nào có thể sống ngoài hư không hay cắt một mảnh hư không từ chỗ này đem đến chỗ khác vì tính chất của hư không là bao trùm, thể của nó rộng lớn đến độ không có biên giới, ngằn mé. Cũng thế, chân lý cũng có cái thể bao trùm và rộng lớn như vậy. Không ai có thể đem chân lý ở thế giới này sang thế giới khác mà tính chất thật của nó có thể bị biến đổi. Trong các loài chúng sinh, chân lý được thể hiện dưới ngôn từ chân tâm.

Cổ Đức đã diễn tả chân tâm hay chân lý như sau:

Hữu vật tiên thiên địa,

Vô hình bản tịch liêu,

Năng vi vạn tượng chủ,

Bất trục tứ thời diêu.

Tạm dịch là :

‘Có một vật trước trời đất,

Không có hình tướng, vốn rất vắng lặng,

Hay làm chủ muôn loài,

Không thay đổi theo bốn mùa’.

Nói là tạm dịch vì hai chữ ‘Hữu vật’ được dịch là ‘Có một vật’. Hiểu theo chân đế thì nói ‘Có một vật’ đã là không đúng lẽ thật. Lục Tổ Huệ Năng đã trực ngộ được chân lý cũng phải nói ‘Bản lai vô nhất vật’. Vậy thì cái ‘Hữu vật’ và cái ‘Vô Nhất Vật’ ở đây chỉ có thể dùng tuệ giác mà trực ngộ. Đi xa thêm nữa, chúng ta sẽ mắc vào cái lỗi ‘vạch lá tìm cành’.

Chữ đạo trong hai chữ thành đạo chính là chân lý hay chân tâm của chúng sanh muôn loài.

Còn chữ thành là thế nào?  Cũng như Thầy đã giảng về chữ đạo, chữ thành ở đây không phải là một sự tạo tác mà có hay do một cuộc tìm kiếm mà thấy, như người ta vẫn thường nói : "Đi tìm chân lý". Nói đi tìm chân lý hay đi cầu đạo chỉ để diễn tả cái quyết tâm tu hành, học hỏi, thiền định, quán sát để trí tuệ có thể trực nhận được chân lý, trực ngộ được đạo. Tổ Vĩnh Gia đã nói : "Khi còn đi tìm thì biết ông không thấy". Sau này, Thái Tử Tất Đạt Đa cũng phải mất một thời gian dài "đi tìm" và đi "cầu đạo" từ các bậc thầy rồi cũng không tìm ra chân lý, đành phải quay về quán sát những cái mình đã ‘sẵn có’ bên trong mà đạt được giác tánh.

Vậy thành đạo không phải là tìm ra chân lý như chúng ta thường nghĩ. Vì Chân Lý vốn sẵn có khắp mọi nơi, trong mọi loài chúng sinh hữu tình và vô tình; nên không cần phải đi tìm mà chỉ cần Biết và Thấy (Đức Phật gọi là Tri Kiến) được nó mà thôi. Bên trong chúng ta vốn đã sẵn có chân lý, tức là chân tâm. Nếu chúng ta đi tìm tức là đi tìm kiếm một cái gì ở bên ngoài thì càng ngày ta càng rời xa cái chân lý bên trong chúng ta. Như vậy làm sao mà thấy được ? Vậy Đức Thích Ca thành đạo là thành như thế nào?

Lịch sử Phật giáo chép rằng sau khi Thái Tử Tất Đạt Đa đã học hết sở học của hai vị Thầy lỗi lạc đương thời là đạo sĩ Alamara Kalama và Uddaka Ramaputa mà vẫn chưa thấy được chân lý, Ngài bèn quay trở về tìm về cái ở bên trong và  sau thấy được chân lý. Vậy chữ thành ở đây, chúng ta phải hiểu là Đức Phật đã trực ngộ được cái chân lý sẵn có bên trong của Ngài và đã hòa tan (thể nhập) cái Biết của Ngài vào cái Chân lý bên trong cũng như bên ngoài.

Thật ra chân lý không có biên giới (như hư không) nên không có bên trong và bên ngoài. Và khi đã thể nhập được cái biết (tâm) của Ngài cùng với chân lý thì lúc đó Ngài chính là chân lý và chân lý cũng chính là Ngài. Đối với Ngài, cũng như với hư không, không có một trạng thái nào, một hiện tượng nào còn làm ngăn ngại cái biết và cái thấy của Ngài.

Trong lịch sử, người ta viết: ‘Trong đêm thành đạo, vào canh một, Ngài đắc được thiên nhãn minh và đã thấy được tam thiên đại thiên thế giới. Hào quang (tuệ giác và tuệ nhãn) của Ngài đã phóng suốt hằng hà sa quốc độ của chư Phật mười phương. Theo ý Thầy, diễn tả cái minh như vậy cũng còn là hạn cuộc, tuy nhiên, ngôn ngữ thế gian cũng không còn chữ nào khác hơn để diễn tả chữ minh (là sự sáng suốt). Quý vị muốn thâm nhập cái đạo ở đây, thì đừng lầm thiên nhãn minh với thiên nhãn thông (một trong sáu phép thần thông). Sử dụng thần thông thì phải vận dụng tới lực để phát khởi, như vậy là động. Còn minh là sự sáng suốt, trí tuệ.

Sự sáng suốt ấy bao trùm vũ trụ (tiếng nhà Phật còn gọi là tròn đồng thái hư), không ngăn ngại; trí tuệ hòa nhập với mọi Pháp nên vạn Pháp tự hiện bày, nên cái biết và thấy thấu suốt, vắng lặng. Đặc tính của minh là ‘tĩnh lặng’, còn động tức là còn vọng, không thể đạt được minh. Tâm không dấy khởi một niệm mà tam thiên thế giới đều tự hiện bày. Đó là trạng thái thể nhập ‘bất khả tư nghì’ vào hiện tượng của vũ trụ. Thời Đức Phật còn tại thế, nói tới một thế giới khác ngoài trái đất, đã là một chuyện "hoang đường", huống chi là nói tới hằng hà sa thế giới khác.

Sau khi Đức Phật hòa nhập vào chân lý của vũ trụ, qua canh ba, Ngài lại thể nhập vào sự sáng suốt để biết thấy được mạng sống tiền kiếp liên tục từ vô thỉ, của chính Ngài và của chúng sanh trong vòng luân hồi và nguyên nhân tái sanh của những kiếp sống đó cũng tự hiện bày trước tuệ giác và tuệ nhãn của Ngài, giống như một người đứng trên lầu cao, nhìn xuống ngã tư đường và thấy người đi lên Bắc, kẻ xuống Nam, người rẽ phương Đông, kẻ quẹo phương Tây. Lịch Sử nói giây phút đó, Ngài đã thể nhập vào chân lý của thế giới nhân sinh và đắc túc mạng minh.

Qua canh năm, thì tất cả trạng thái phiền não, vọng tưởng, hiện tượng ngăn ngại dầu nhỏ như hạt bụi trong không khí đều được thanh lọc khỏi tâm của Ngài. Tâm thể của Ngài không một mảy may vẩn đục. Lúc đó, Ngài đã được cái tuệ giác thứ ba : Lậu Tận Minh.

Vừa lúc đó, sao Mai vừa ló dạng. Đức Thích Ca đã hoàn toàn thể nhập vào chân lý của vũ trụ, nhân sinh và đã trở về với Tâm Thể Bản Nhiên rỗng suốt, vắng lặng và đắc đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Từ giây phút đó, Ngài là vũ trụ, Ngài là nhân sinh, Ngài là ánh sáng. Một ánh sáng kỳ diệu vắng lặng và chiếu rọi, không còn ngăn ngại. Ngài đã đạt được trí tuệ của Bậc Toàn Tri, Toàn Giác. Tâm thể của Ngài đã trở về với cái tâm Ngài đã có sẵn, trong suốt như lưu ly và vắng lặng như hư không. Chư Phật, chư Thiên, các hàng Thiên Long Bát Bộ đều rung động phóng hào quang, trổi nhạc Trời, rải mưa hoa, ca ngợi và tắm gội trong cái yến sáng giác ngộ kỳ diệu của một vị Phật vừa thành tựu đạo quả Vô Thượng.

Đó cũng là cái ý nghĩa mà chúng ta phải thâm nhập của buổi Lễ Kỷ Niệm hôm nay. Báo thân và hóa thân của Đức Phật tuy không còn tại thế, nhưng pháp thân Tỳ Lô Giá Na của Ngài vẫn hằng tỏa yến sáng che chở và chiếu rọi cho chúng sanh muôn loài. Chúng ta làm lễ kỷ niệm sự thành đạo của Ngài, phải làm với tâm nguyện được tắm gội trong cái yến sáng đó, nương nhờ hào quang của chân lý đó mà phát huy được tuệ giác sẵn có trong chúng ta, như Ngài.

Sau khi đã giảng yếu lý của hai chữ thành đạo, bây giờ Thầy sẽ nói về tám tướng dẫn tới sự thành đạo mà Đức Thích Ca đã thị hiện. Chúng ta phải ôn lại lịch sử cuộc đời của Đức Thích Ca và tìm xem tám tướng thị hiện ấy là những tướng gì và tìm hiểu cái ‘Ý’ mà Đức Phật muốn giáo hóa trong khi thị hiện tám tướng đó.

Trước hết, ta hãy tìm hiểu tại sao chư Phật lại phải dùng Tướng Thị Hiện?

Cái chân lý mà Đức Thích Ca cùng Chư Phật đã thể nhập (thành tựu đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác), như Thầy đã giảng ở trên, vốn đã sẵn có ở bên trong chư Phật, cũng có bên trong chúng sanh muôn loài. Mục đích của sự thị hiện là chỉ cho chúng sanh đều có khả năng thành tựu đạo quả như chư Phật. (Kinh : Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng. Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn ...) Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni, trong vô lượng kiếp xa xưa, trước khi thị hiện hóa thân Thái Tử Tất Đạt Đa, có thể cũng đã là một vị Phật ở thế giới Vô Thắng.

Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật đã nói: ‘Này Thiện Nam Tử! Về Phương Tây cách cõi Ta Bà này bốn mươi hai hằng hà sa cõi Phật, có thế giới tên là Vô Thắng. Những sự trang nghiêm, xinh đẹp trong cõi đó đều bình đẳng như cõi Cực Lạc, như cõi Mãn Nguyệt. Hiện tại Ta xuất hiện trong cõi Vô Thắng đó. Vì hóa độ chúng sanh nên Ta thị hiện chuyển pháp luân nơi Diêm Phù Đề này ....’

Hai ngàn năm trăm năm trước đây, tại cõi thế giới Ta Bà, chúng sinh đã phải chịu nhiều đau khổ vì đã quên mất chân lý, chân tâm hằng hữu trong thân mình. Nhiều tôn giáo thờ ma, thờ thần, thờ quỷ đã ra đời làm tay sai cho dục vọng của Ma Vương Mara, dẫn dắt con người đi sâu vào đường ác như : Sát hại sinh linh làm vật tế thần,  không có tình nhân đạo, thiếu đạo đức; nói năng lếu láo, không đúng sự thật, suy nghĩ viễn vông, hại mạng người, hại mạng vật để thỏa mãn dục vọng của mình. Cái thể tánh vốn trong sáng (chân tâm), càng ngày càng bị bao phủ bởi những giáo điều bí ẩn đó nên càng ngày, con người càng bị đắm chìm trong sông mê bể khổ, lên xuống trong sáu nẻo luân hồi, không có hy vọng gì giải thoát.

Vì lòng thương xót chúng sanh, như mẹ thương con đỏ, nên Ngài phải thị hiện xuống cõi Ta Bà đầy uế trược này để cứu độ, để chỉ dẫn cho chúng sanh 1 nẻo ra. Trong Túc Sanh Truyện, Đức Thích Ca đã kể lại chuyện tiền thân của Ngài, lúc lên khi xuống trong luân hồi. Ngài đã quá thấu rõ những khổ đau của sanh tử trong khi Ngài vẫn thường tinh tấn tu Đạo Bồ Tát. Dù đã được Đức Phật Nhiên Đăng thọ ký sau này thành Phật, hiệu Thích Ca Mâu Ni, nhưng không vì thế mà Ngài buông lãng sự tu hành. Trong tiền thân, dù trong dạng thân người, Trời, hay súc sanh v.v... Ngài vẫn không hề quên phát Tâm Bồ Đề "Thượng cầu Phật Đạo, hạ hóa chúng sanh" cho nên dầu đắc quả Phật, Ngài cũng không đành an trụ nơi quốc độ Vô Thắng, mà đã trở về Đâu Xuất Nội Điện với báo thân Bồ Tát Hộ Minh, rồi giáng trần cứu độ chúng sanh.

Chỉ vì lòng thương xót chúng sanh mà chư Phật trong quá khứ cũng đã từng dùng tướng thị hiện xuống thế gian, như Ngài, để cứu độ muôn loài, khai thị cho chúng sanh biết rằng Phật và chúng sanh đều có đồng một thể tánh, nhưng chỉ vì một vọng vô minh bất giác, phải chịu trầm luân trong sinh tử luân hồi. Trong mỗi tướng thị hiện của Phật đều ẩn dụ phương thức giáo hóa chúng sanh tu hành để trở về được với cái Phật tâm, Phật tánh sẵn có của mình.

Bây giờ chúng ta trở lại với tám tướng thị hiện thành đạo của Đức Từ Phụ Thích Ca. Ở mỗi tướng, Thầy sẽ nói về cái lý ẩn dụ cho sự thành đạo. Quý vị cần tư duy và hiểu cho được những ẩn dụ đó; nếu không thì chỉ thấy một bài học ôn về lịch sử Đức Phật mà chẳng thâu hoạch được chút lợi lạc nào cho công phu tu hành của quý vị.

1. Đâu Xuất Lai Nghi Tướng nghĩa là tướng thị hiện từ cung trời Đâu Xuất giáng trần : Lịch sử Phật giáo Bắc tông chép rằng : ‘Hoàng Hậu Ma Da, một hôm ngủ trưa, nằm mộng. Trong giấc mộng, Hoàng Hậu thấy một vị Bồ Tát cưỡi con voi trắng sáu ngà từ trên trời bay xuống, len vào hông bên hữu của bà. Hoàng Hậu giật mình thức giấc và cảm thấy mình thọ thai’. Ta hãy tìm hiểu những dấu hiệu tượng trưng cho sự đạt đạo trong tướng thị hiện thứ nhất :

a. Là một vị Thập Trụ Bồ Tát, xuống trần để thực hiện lời nguyện ‘Hạ hóa chúng sanh’ nên Ngài phải thị hiện dưới hóa thân phàm phu như chúng sanh loài người. Nhưng vì đã chứng đắc đạo quả nên Ngài có được pháp du hý thần thông, tự do lựa chọn cha mẹ thế gian, và nhân duyên sự lựa chọn này là Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Da   đã từng là phụ mẫu của Ngài trong nhiều kiếp.

b. Ngài đã hóa hiện Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà để giáng trần. Voi trắng tượng trưng cho bạch tịnh nghiệp, Ngài giáng trần vì lời nguyện của một vị Bồ Tát đắc đạo. Nghiệp của Bồ Tát đã hoàn toàn thanh tịnh, trong trắng như đóa bạch liên hoa, không phải như phàm phu tái sanh do nghiệp dẫn dắt. Voi có sáu ngà tượng trưng cho hạnh tu lục độ đã đầy đủ. Bồ Tát giáng sanh đầy đủ lục độ vạn hạnh để sau này sẽ thành đạo, cứu độ muôn loài. Người đời sau đã ca tụng sự giáng trần của Bồ Tát như sau :

Ma Da mộng ứng niềm hoan lạc,

Voi trắng quỳ dâng đóa bạch liên,

Âm nhạc bốn phương lừng cát địa,

Vang lời chúc tụng hội quần tiên,

Giáng sanh ngày ấy không xa nữa,

Là một tin vui khắp mọi miền.

Chiếu rạng tưng bừng xua bóng tối,

Rồi đây sẽ có đạo vàng thiêng

c. Vậy tướng thị hiện thứ nhất là tướng hồi nhập Ta Bà của Bồ Tát Hộ Minh. Vì lòng thương xót chúng sanh nên phải thị hiện làm thân chúng sanh mà cứu độ. Lòng thương xót chúng sanh là tâm đại từ đại bi của Bồ Tát. Chúng ta tu theo đạo Ngài, cũng thọ Bồ Tát Giới như Ngài thì cũng phải thực hành cái hạnh của Ngài mà đem tâm đại từ đại bi trải khắp cho những người đang đau khổ chung quanh chúng ta; và thương xót cứu độ đến những chúng sanh, vì nghiệp sâu dày, còn đang phải mang thân súc sanh quả báo. Bồ Tát Hộ Minh trong tiền thân đã nhiều lần bố thí cả tài sản, vợ con và thân mình để cầu Phật đạo nên Ngài mới được thành Phật. Chúng ta cũng phải cố gắng theo được cái hạnh Bồ Tát vì Bồ Tát là nấc thang cuối cùng phải vượt để trở thành Phật.

2. Lâm Tỳ Ni Viên Thị Hiện Đản Sanh Tướng, nghĩa là tướng thị hiện ra đời tại vườn Lâm Tỳ Ni : 

Sử chép rằng: ‘Khi sắp đến ngày nở nhụy khai hoa, theo tục lệ quốc gia, Hoàng Hậu Ma Da phải trở về quê cha mẹ mình để chờ ngày sanh nở. Trên đường về, Hoàng Hậu ghé qua nghỉ ngơi tại khu vuờn hoa  Lâm Tỳ Ni. Đương khi ấy, Hoàng Hậu thấy có cây Vô Ưu, tuy không phải đúng mùa, mà lại trổ đầy hoa tươi ngát (tương truyền rằng cây Vô Ưu mấy ngàn năm mới trổ hoa một lần và chỉ trổ hoa khi có Thánh Nhân ra đời), vừa giơ tay lên hái thì Hoàng Hậu lâm bồn, hạ  sanh một hoàng nam từ hông bên phải.

Theo truyền thuyết Bắc Tông, khi Thái Tử giáng sanh, nhạc trời trổi vang lừng. Có chín con rồng xuất hiện trên không trung phun nước xuống tắm cho Thái Tử. Tắm xong, Thái Tử đột nhiên lớn hẳn lên như một cậu bé 4, 5 tuổi và bắt đầu bước đi về bốn hướng : Đông, Tây, Nam, Bắc. Mỗi hướng 7 bước, đoạn trở lại trung tâm, tay trái chỉ lên trời, tay phải chỉ xuống đất và nói: "Thiên Thượng, Thiên Hạ, Duy Ngã Độc Tôn".  Nói xong, Thái Tử lại trở về hình thể của một trẻ sơ sinh và cũng không biết nói. Đời sau có hai câu thơ ca tụng Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Da như sau:

Thánh Ma Da mộng ứng điềm lành,

Vua Tịnh Phạn phước sinh con thảo.

và ca ngợi tướng thị hiện phi thường tại vườn Lâm Tỳ Ni :

Người cao quý trong người cao quý,

Nguyện ra đời dốc chí độ sanh,

Mỗi phương bảy bước du hành,

Muốn đem diệu pháp chỉ rành quần sanh.

Đường giác ngộ đinh ninh dặn bảo,

Cảnh niết bàn tiếng thảo khuyên sang,

Như Lai chí nguyện đưa đàng,

Thế nên quán sát chu toàn bốn phương.

Gần 20 năm muộn màng, Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Da mới sanh được một Thái Tử có nhiều tướng quý, lạ, như vậy thì lòng nên rất vui mừng. Lịch sử Nam tông chép rằng : Khi Thái Tử vừa được 5 ngày, Vua Tịnh Phạn có tổ chức một buổi lễ đặt tên cho Thái Tử, được gọi là lễ Quán Đảnh. Trước khi lễ Quán Đảnh được tổ chức, có một vị Đạo Sĩ già, tên là A-Tư-Đà (Asita), vốn rất thân cận với nhà Vua,  đang tu luyện trên núi Hy Mã Lạp Sơn; hay tin bèn xuống núi xin hoàng gia  cho phép được thăm Thái Tử.

Khi Thái Tử được bồng ra trước đạo sĩ A-Tư-Đà thì trước sự ngạc nhiên của mọi người, Thái Tử xoay người và đặt hai chân lên đầu Đạo Sĩ lúc đó đang ngồi trên một chiếc ghế bên cạnh Vua. Đạo Sĩ A-Tư-Đà vội đứng dậy, chắp tay xá Thái Tử và tiên tri rằng về sau Thái Tử sẽ trở nên một vĩ nhân cao quý của nhân loại. Trong Lễ Quán Đảnh, có 108 Đạo Sĩ Bà La Môn được mời tới. Các Đạo Sĩ đều tiên tri về sau, Thái Tử, nếu làm Vua, sẽ là một vị Vua vĩ đại nhất trong lịch sử; nếu Thái Tử xuất gia làm đạo sĩ Bà La Môn, Ngài sẽ là một đạo sĩ cao quý nhất trên thế gian. Chỉ riêng có một Đạo Sĩ trẻ tuổi nhất, đã khẳng định : Thái Tử nhứt định sẽ từ bỏ gia đình, ngôi vị, xuất gia và sẽ trở thành một vị Phật...’

Đó là những truyền thuyết lịch sử. Chúng ta hay thử phân tích những tướng Thị Hiện Đản Sanh có những dấu hiệu gì tượng trưng cho sự thành đạo của Đức Phật.

a.    Trước hết là những truyền thuyết về lịch sử của cả Bắc Tông và Nam Tông. Đã gọi là truyền thuyết thì đó là những câu truyện được lưu truyền bằng miệng, từ đời này qua đời khác. Dù có vẻ "hoang đường" nhưng vì sự lưu truyền lâu đời mà người ta chấp nhận như một truyện lịch sử có thật. Cũng như truyền thuyết về lịch sử của dân tộc Việt Nam chúng ta với sự tích Con Rồng, Cháu Tiên; Lạc Long Quân và Âu Cơ sanh ra một bọc trứng nở một trăm con; truyện Sơn Tinh và Thủy Tinh, v.v... Theo Đạo Phật, mặc dầu sau này Đức Phật luôn luôn bác bỏ những chuyện mê tín, dị đoan, sùng bái thần quỷ, không được xây dựng trên căn bản nhân quả; nhưng Ngài lại xác nhận những khả năng thần thông, bất khả tư nghì, khi người tu hành đã thanh tịnh đến mức hoàn toàn dứt sạch các vọng tưởng và làm hiển lộ được chân tâm.

 Ở đây, chúng ta hãy tạm bỏ vấn đề suy luận tin hay không tin những truyền thuyết mà chỉ xét nghiệm các hiện tượng trong tướng thị hiện đản sanh, được ghi chép trong lịch sử để rút ra những ẩn dụ cho sự thành đạo mà Đức Phật muốn để lại làm phương tiện giáo hóa chúng sanh.

b. Cũng như khi Ngài thị hiện giáng trần, nhập vào thai tạng của Hoàng Hậu Ma Da. Sự cấn thai của Hoàng Hậu, không giống như sự cấn thai của những người đàn bà trên thế gian. Hoàng Hậu đã nằm mộng thấy một vị Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà bay xuống ẩn vào hông bên hữu và kết thai. Tới ngày sanh nở, nhân giơ tay với cành hoa Vô Ưu mà Thái Tử được sanh ra, cũng từ hông bên hữu (không qua sản môn như những bà mẹ bình thường sanh con). Lối nhập thai và xuất thai này chứng tỏ Bồ Tát có đầy đủ thần thông tự tại, lựa chọn ngày giáng trần, nơi chốn, thời gian v.v...  Sự nhập thai và xuất thai đều thanh tịnh; mặc dầu có cha mẹ nhưng lại không do sự kết hợp của tinh cha huyết mẹ.

Hơn nữa sau này, khi trở về thành Vương Xá hóa độ cho Vua Tịnh Phạn và Hoàng tộc, đức Phật đã hướng dẫn đệ tử đi trì bình như thường lệ. Vua Tịnh Phạn rất không hài lòng, đi thẳng ra đường phố tìm Đức Phật và nói : ‘Này Thái Tử! Sao con nỡ làm tổn thương thể thống Hoàng Tộc như thế. Cha lấy làm nhục nhã khi thấy con đi khất thực trong cái thành phố mà thường ngày con chỉ ra đường trên chiếc kiệu vàng ! Tại sao con nỡ làm nhục cha như vậy?’ Trước sự ngạc nhiên của Vua Tịnh Phạn, Đức Phật đã điềm tỉnh trả lời: ‘Tâu Đại Vương! (không gọi bằng cha) Như Lai (không xưng bằng con) không hề làm nhục Đại Vương. Đúng là thể thống của dòng dõi Hoàng Gia không bao giờ đi khất thực, nhưng Như Lai đã làm đúng như truyền thống của chư Phật trong quá khứ, vì đó mới là dòng dõi của Như Lai (xác nhận thân Bồ Tát thị hiện).

Đó chứng tỏ rằng : Đức Phật xác nhận việc đầu thai vào gia đình Vua Tịnh Phạn chỉ vì phước đức của Vua và Hoàng Hậu đã từng là phụ mẫu của Ngài trong nhiều tiền kiếp (Túc Sanh Truyện). Thân của Bồ Tát giáng trần vốn rất thanh tịnh và đó là dấu hiệu của sự chứng đạo.

c. Thái Tử là con Vua, dòng dõi Hoàng Gia, mà Ngài lại ra đời giữa một khung cảnh thiên nhiên; sau này, khi trở về thế giới của Chư Phật, lại cũng ở trong một khu rừng hẻo lánh, giữa bốn cây Sa La,  thiên nhiên như thế, mặc dầu nơi đó có rất nhiều tịnh thất, tinh xá  đã được chư thiện tín, vua chúa xây cất lên để cúng dường Ngài và thánh chúng đệ tử của Ngài. Thị hiện đản sanh giữa thiên nhiên và nhập niết bàn giữa thiên nhiên như thế, ý Ngài muốn nói với chúng ta cái gì? ‘Như Lai không từ đâu đến và cũng chẳng có nơi nào để đi’ . Thiên nhiên, vũ trụ, hư không v.v... là nơi thường trú của Ngài vì Ngài chính là thiên nhiên, vũ trụ, và hư không.

d. Ngay sau khi đản sanh, Bồ Tát thị hiện bước 7 bước về mỗi phương hướng, tay chỉ trời, tay chỉ đất mà tuyên bố : ‘Trên trời, dưới đất chỉ có cái Ta (chân thật) duy nhất là cao quý’. Là người tu hành, quý vị đều hiểu chữ ‘Ngã’ trong câu nói này của Đức Phật là để chỉ cho ‘chân ngã’ và cũng là ‘chân lý’. Khi cái ngã (cái bản ngã hư vọng của phàm phu) đã được hoàn toàn thanh tịnh, thì nó "thể nhập" được với chân lý và không còn bị giới hạn bởi không gian và thời gian nữa.

Bản ngã đã trở về với cái ’thể’ vắng lặng và rỗng không của nó. Nó không chứa đựng bất cứ một vật gì, nhưng trong bất cứ một vật gì cũng có nó.

Không như ánh sáng mặt trời, mặt trăng, hay đèn. Những thứ ánh sáng ấy đôi khi còn bị che lấp bởi mây mù hoặc các chướng ngại; ánh sáng của chân ngã dù bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, bên trong thân, hay ngoài thân, trên suốt các cõi Trời Hữu Đảnh, dưới thấu các cõi địa ngục A Tỳ, Đông, Nam, Tây, Bắc, Thượng, Hạ, thập phương chư Phật, chư Bồ Tát quá khứ, hiện tại và vị lai đều được ánh sáng của chân ngã chiếu tới vì chân ngã là chân tâm và cũng là chân lý của vũ trụ, nhân sinh.

Chư Phật mười phương đã nương theo sự thể nhập chân lý bằng trí tuệ ba la mật của chân ngã đó mà thành đạo (Tam thế chư Phật y bát nhã ba la mật đa cố đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề).

3. Tứ môn du hành tướng, nghĩa là tướng thị hiện dạo chơi bốn cửa thành để thấy cái khổ của nhân sinh.

Theo lịch sử thì Thái Tử Tất Đạt Đa đã được nuôi nấng trong một hoàn cảnh tốt đẹp nhất trong ngôi vị một Thái Tử Đông Cung, nghĩa là một vị Hoàng Tử được lựa chọn lên ngôi Quốc Vương kế vị Vua Cha. Từ nhỏ, Thái Tử đã là một cậu bé phi thường, rất khỏe mạnh và khôi ngô, tuấn tú. Quốc Vương Tịnh Phạn đã cho vời tất cả các học giả lỗi lạc, danh tiếng nhất nước, trong mọi lãnh vực kiến thức, vào cung dạy Thái Tử về Văn Học, nhưng chỉ một thời gian ngắn, các vị giáo sư đều xin rút lui vì không còn đủ sức để chỉ dạy Thái Tử. Trình độ lãnh hội của Thái Tử đã làm cho các vị Thầy phải kinh ngạc. Không những Thái Tử đã thâu thập được tất cả kiến thức của các vị ấy mà sự suy luận đã vượt xa khả năng của các bậc Thầy. Về võ học cũng thế, Ngài đã trở thành một cao thủ tuyệt luân, ít người dám sánh.

Một ngày kia, nhân buổi lễ Hạ Điền của Vương Quốc, Thái Tử vừa  7 tuổi, được theo Vua Cha ra khỏi thành để tham dự buổi lễ khai khẩn đất ruộng cho mùa lúa mới. Không như những Vương Tử, Vương Tôn khác, dịp ra ngoài đồng ruộng là để chạy nhảy nô đùa cho thỏa thích; Thái Tử Tất Đạt Đa, ngược lại, đã lặng lẽ theo sát bên Cha để quan sát lễ Hạ Điền. Khi những lưỡi cầy vừa xới tung lớp đất mầu mỡ, đồng thời làm tổn hại nhiều sinh trùng, chúng đang đau đớn quằn quại, thì một đàn chim  quạ, chim sáo xà xuống, tranh nhau mổ nuốt, cắn xé những thân trùng bé nhỏ vô tội kia; nhiều con bị cắp lên những ngọn cây để nuôi những con chim nhỏ. Xa xa ven rừng, người thợ săn sẵn sàng giương cung tên bắn hạ những con chim đang say sưa thưởng thức món ăn bổ béo. Sau những người thợ săn, lảng vảng vài bóng cọp beo đang rình bắt họ.

Một bức tranh sống động, hỗn tạp của tham sân, mạnh hiếp yếu, đảo điên khiến Thái Tử quặn lên mối cảm hoài xót thương cho các loài chúng sanh, vì chỉ bîết bảo vệ cái sống của riêng mình mà sát hại lẫn nhau một cách tự nhiên. Thái Tử lặng lẽ rời bỏ đám đông, tới một gốc cây, xếp chân ngồi trong tư thế tọa thiền, tư duy về sự đau khổ của kiếp nhân sinh. (Lịch sử Phật giáo ghi rằng Thái Tử đã nhập Sơ Thiền trong lúc này). Khi buổi lễ Hạ Điền chấm dứt, Quốc Vương nhìn lại quanh mình, không thấy Thái Tử, bèn cùng các cung nữ, và quần thần tìm kiếm. Tới gốc cây, thấy Thái Tử đang ngồi yên lặng, đôi mắt đăm đăm hướng về một phía xa xăm hầu như không nhìn thấy Quốc Vương và quần thần đang tới đứng trước mặt, Vua Tịnh Phạn thoạt nhìn con đang trầm ngâm như vậy, sanh lòng cung kính cúi đầu xá Thái Tử, và lo lắng liên tưởng đến lời tiên tri của vị Đạo Sĩ trẻ tuổi Kiều Trần Như trong buổi lễ Quán Đảnh năm xưa, e ngại điều đó có thể sẽ trở thành sự thực.

Từ đó, nhà Vua cho xây thêm ba cung điện nguy nga, mục đích để giam chân thái tử trong lầu vàng điện ngọc, cung phi mỹ nữ. Suốt ngày đêm, từ lúc Thái Tử thức giấc cho đến khi đi ngủ, các trò chơi giải trí, đờn địch, ca múa vang lừng. Không một cảnh khổ nào của con người hay con vật được phép xuất hiện trước mắt Thái Tử. Năm 16 tuổi, Thái Tử lại được Vua Cha hỏi cưới Công Chúa Gia Du Đà La, một giai nhân tuyệt sắc, mà cũng là em họ của Thái Tử, về làm vợ để cầm chân Thái Tử, vì hạnh phúc luyến ái là một trong những thú vui dục lạc và ràng buộc cõi thế gian. Nhưng đến một ngày kia, Thái Tử du ngoạn ngoài thành để thăm dân cho biết sự tình.

Trên đường đi, trước khi xe của Thái Tử tới,  người ta đã phải dàn ra những cảnh vui tươi, sung sướng, che dấu tuyệt đối sự thật khổ não của con người, nhưng như một phép lạ xuất hiện, từ đằng sau những thân hình xinh tươi của các nàng vũ nữ đang ca múa đón tiếp Thái Tử, một thân hình gầy gò, lưng còng, lẩy bẩy trên cây gậy, từ từ tiến ra phía trước xe.

Trông thấy hình ảnh lạ lùng của một người như vậy, Thái Tử bèn hỏi Xa Nặc, người phu xe trung thành, và được biết đó đó là hình ảnh biến chuyển của một người đến tuổi già nua. Thái Tử càng ngạc nhiên hơn nữa khi được biết rằng, rồi đây chính Thái Tử cũng sẽ phải tới cái tuổi già như vậy. Vua Cha và nàng Gia Du Đà La xinh đẹp của Thái Tử cũng không tránh khỏi cái cảnh tàn úa của cái tuổi về chiều như thế. Thái Tử ra lệnh cho xe quay về hoàng thành, những cảm giác thoải mái của cuộc du ngoạn đã bị hình ảnh run rẩy, tàn tạ, khổ đau kia thay thế và làm vướng bận, dày vò trong tâm.

Sau đó ít lâu, Thái Tử lại được phép du ngoạn qua các cửa thành khác và dù quan quân có cẩn thận thế nào đi nữa, thì tại cửa thành phía Nam, lại có một người quằn quại, rên la đau đớn vì bệnh hoạn.  Rồi tại cửa thành phía Tây, một cái xác của một người vừa chết, nằm lăn lóc như khúc củi mục, bay quanh loạn xạ là một đàn ruồi tranh nhau rúc đậu lại hiện diện trước mắt Thái Tử.

Ngao ngán hơn nữa là Thái Tử lại được chỉ cho rằng :  Những trạng thái đó rồi cũng sẽ tới với chính Thái Tử, với Vua Cha hiện đương oai vệ, và với nàng Gia Du Đà La sắc nước hương trời và với tất cả mọi người, mọi loài làm xốn xang lòng Thái Tử. Một ngày kia, tại cửa thành phía Bắc, Thái Tử nhìn thấy một vị Sa Môn, uy nghi, bình thản, bước khoan thai nhẹ nhàng thoải mái. Một uy lực siêu thoát tỏa ra từ vị ấy làm cho bầu không khí chung quanh và cho chính Thái Tử sự tươi mát, an lạc, hiền lành như nụ cười hàm tiếu nhẹ điểm trên môi của vị ấy khi đi ngang qua trước xe của Thái Tử. Ngài bỗng thấy như mình bị thu hút theo hướng đi của Vị Sa Môn.

Kể từ giây phút ấy, Thái Tử gần như đã tìm thấy một con đường hạnh phúc, một hướng đi. Ý nghĩ lìa bỏ ngai vàng đîện ngọc, địa vị và sự ràng buộc tình ái đã bắt đầu nhen nhúm trong lòng Thái Tử ...

Trong tướng thị hiện thứ ba này, chúng ta thấy cái nhân Bồ Tát mà Bồ Tát Hộ Minh đã gieo trồng, và tu tập trong nhiều kiếp đã trở lại  dần dần và kết trái trong tâm của Thái Tử Tất Đạt Đa. Tuy còn niên thiếu và được nuôi dưỡng trong môi trường cực sung sướng của một Thái Tử Đông Cung, nhưng Bồ Tát đã sớm nhận thức được cái cảnh khổ mà nhân sanh phải chịu qua sanh, lão, bệnh, tử. Thật là :

Cảnh sanh già bệnh chết gian truân,   

Luống chịu khổ không ngừng gây khổ,

Mê chấp tánh tham, sân, tật đố,

Mãi cùng nhau vầy ổ oan gia,

Nợ trần, hoàn vay trả không xa...

Ngọn lửa đại từ, đại bi, thương xót muôn loài chúng sanh đang mê muội, không người khai sáng, chỉ lối giải thoát, mà cứ mãi đắm chìm trong những kiếp vô minh, từ đời này qua đời khác đã nung nấu trong lòng vị Hoàng Thái Tử.

Không như những vị Vương Tử, Vương Tôn khác, lấy thú vui săn bắn, hại mạng sinh linh làm trò giải trí, và lịch sử chép rằng : Cũng vào thời niên thiếu, Một hôm Thái Tử đang trầm ngâm tản bước trong ngự viên, chợt một con ngỗng trời sa xuống trước mặt Thái Tử, rên xiết trong đau đớn, vì bị mũi tên oan nghiệt xuyên qua cánh. Thái Tử vội ôm ngỗng lên quán sát và rút tên khỏi cánh ngỗng. Đoạn lấy áo choàng quấn ngỗng, định đem về cung chữa trị vết thương, thì vương tử Đề Bà Đạt Đa, em họ Thái Tử, chạy tới, tay còn cầm cung tên và đòi lại con ngỗng vừa bị Y bắn hạ. Thái Tử nhất định không trả lại con ngỗng và việc tranh chấp giữa hai anh em, sau cùng phải đưa đến trước Vua Tịnh Phạn và triều đình.

Sau một hồi lâu bàn thảo, nhà Vua và quần thần chưa biết quyết định xem con ngỗng nên thuộc về ai, thì có một vị Đạo Sĩ già từ ngoài bước tới sân rồng, tâu rằng: "Tâu Đại Vương! Tất cả mọi chúng sanh, loài nào cũng tham sống và cố gắng gìn giữ mạng của mình; con ngỗng cũng thế; do đó con ngỗng phải thuộc về người đã "bảo vệ" mạng sống cho nó. Xin Đại Vương đừng trao nó cho một kẻ chủ tâm "sát hại" nó. Và như thế là con ngỗng được triều đình quyết định trao cho Hoàng Thái Tử Tất Đạt Đa.

Trong câu chuyện này ta có thể nhìn rõ cái Tâm Từ Bi thương xót chúng sinh, dù đó chỉ là loài súc sinh của Thái Tử. Sau khi thành đạo, giáo lý của Đức Phật dạy chúng sinh muôn loài đều Bình Đẳng (đều tham sống sợ chết), và điều đó Đức Phật luôn luôn nhắc nhở các đệ tử cũng như những người quy y theo Ngài. Các điều khổ không thể phủ nhận là Sanh, Lão, Bệnh, Tử được Đức Phật chỉ rõ trong chân lý Tứ Diệu Đế (Khổ Đế, Tập đế, Diệt đế, và Đạo đế). Tâm đại từ đại bi trở thành giáo lý Tứ Vô Lượng Tâm trong pháp tu Bồ Tát Đạo, một giáo lý nền tảng để đạt thành Phật quả. Chúng ta là người xuất gia, mong cầu đạo quả Phật, không thể không phát tâm của Bồ Tát : ‘Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh’, vì tâm từ bi là con đường chánh nghiệp, chánh mạng dẫn ta trở về với chân tâm.

4. Việt Thành Xuất Gia Tầm Đạo Tướng, nghĩa là vượt thành đi khỏi nhà để tìm chân lý.

Sử chép rằng: Sau khi du ngoạn 4 cửa thành, Thái Tử đã nhìn thấy chúng sanh trầm luân trong cảnh khổ khó  thoát. Tất cả những cái vui, cái đẹp của thế gian chỉ là tạm bợ, chỉ xuất hiện trong một thời gian rất ngắn của một kiếp người, vốn đã rất ngắn. Những hình ảnh yêu kiều của Công Chúa Gia Du Đà La, cũng như của đoàn cung nữ bao vây chung quanh Thái Tử, hàng ngày đang hiến dâng lên cho Thái Tử những tiếng hát ngọt ngào, những nụ cười quyến rũ, và điệu múa dịu dàng, rồi một ngày kia không xa, sẽ trở thành những thân hình tàn tạ vì bệnh hoạn và rên xiết trong đau đớn. Những làn da tươi mát, mịn màng kia sẽ trở thành nhăn nhúm, và những thân hình đang căng đầy nhựa sống kia sẽ còng xuống, run lẩy bẩy rồi cuối cùng sẽ nằm lăn lóc bên đường như cây khô, củi mục, vô tri vô giác. Tệ hại hơn nữa là chính Thái Tử, một thanh niên anh tuấn, tài ba  lỗi lạc hơn người sẽ  cũng không tránh khỏi sự tàn phá của thời gian và tử biệt.  Những lâu đài tráng lệ mà Ngài đang ngự, một ngày nào đó cũng không tránh khỏi luật thiên nhiên của vòng thành, trụ dị, diệt. Những ưu tư chán nản đã làm tắt đi, nụ cười vương giả trước những trò vui ca múa chung quanh.

Hình ảnh khoan thai tự tại với nụ cười hiền từ an lạc của Vị Sa Môn mà Thái Tử đã gặp nơi cửa thành phía Bắc mãi vấn vương trong tâm trí.  Thái Tử cảm nhận : Ngoài cái vui giả tạo của cuộc đời, chắc phải có một con đường giải thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của sanh, lão, bệnh, tử và phải có một nơi chốn mà ở đó hạnh phúc và an vui sẽ không bao giờ chấm dứt. Nhìn thấy các vị Đạo Sĩ Bà La Môn, với phong thái tự tại, quần áo giản dị, đến Hoàng Cung và được Vua Cha cùng quần thần đảnh lễ kính trọng, càng làm phát triển mạnh ý tưởng xuất gia tìm chân lý vốn đã như một ngọn lửa âm ỷ, nung nấu tâm can Thái Tử. Nhiều đêm, nghe văng vẳng từ không trung, những lời thúc dục của chư Thiên :

Ngày nay tuổi đã lớn rồi,

Sao không nhớ lại những lời nguyền xưa?

Xin tu chứng đạo chân thừa,

Trần gian vẩn đục say sưa làm gì?

Ngài còn lần lựa thế thì,

Chúng sanh ngu dại ai vì bảo ban?

Mau mau mở lối Niết Bàn,

Khêu đèn Trí Tuệ, phá màn Vô Minh.

 

Một ngày kia, không còn giữ mãi được sự nung nấu của ý tưởng xuất gia, Thái Tử đã tâu lên Phụ Hoàng, xin phép rời bỏ gia đình để đi tìm chân lý cứu mình, cứu người. Vua Tịnh Phạn, đương nhiên, bác bỏ lời cầu xin của Thái Tử và tuyên bố sẽ thỏa mãn tất cả những gì mà Thái Tử muốn, trừ việc xuất gia. Do đó Thái Tử tâu lên 4 lời thỉnh cầu và nếu được thỏa mãn thì Ngài sẽ từ bỏ ý định lìa gia đình đi tìm chân lý. Đó là :

1) Xin cho con  trẻ mãi, không già.

2) Xin cho con khỏe mạnh mãi, không đau.

3) Xin cho con sống mãi, không chết.

4) Xin cho con và thần dân được mãi mãi sung sướng, không bao giờ khổ.

Nghe 4 lời thỉnh cầu của Thái Tử, Vua Tịnh Phạn đã nổi giận mà phán rằng: "Tất Đạt Đa! Con quả là điên khùng mất rồi ! Hãy quên những tư tưởng bệnh hoạn và vô lý đó đi để tiếp tục chuẩn bị lên kế vị cha. Thần dân Ca Tỳ La Vệ đang chờ đón ngày con trưởng thành và thay cha hướng dẫn họ. Nếu Con muốn xuất gia, hãy đợi đến khi con già và có người thừa kế". Thái Tử cương quyết: "Tâu Phụ Vương! Nếu Phụ Vương không thể cứu con khỏi những khổ đau của tuổi già, bệnh tật, cái chết và những phiền não thì xin Phụ Vương hãy cho phép con rời khỏi Hoàng Cung để đi tìm sự giải thoát cho con và cho mọi người". Vua Tịnh Phạn giận dữ, quát lớn: "Hãy canh gác Thái Tử nghiêm mật; các cửa thành phải luôn luôn đóng chặt, không cho Thái Tử bước ra khỏi hoàng thành", rồi Ngài phủi áo bước ra khỏi điện.

Thái Tử đành trở về cung điện riêng, và khi bước qua những hành lang tráng lệ mà lòng càng thêm nỗi chán chường, cho rằng mọi thứ trần thiết quý báu đó đã được xây dựng bằng những giọt mồ hôi lao nhọc của đoàn công nhân và sẽ tan hoại một ngày nào đó. Và khi nhìn những cung nữ tuyệt sắc mà lòng Thái Tử trổi dậy niềm đau, xót thương cho những con người còn mê muội, không biết rằng ngày mai đây nhan sắc mỹ miều kia sẽ tàn phai và thân hình sẽ quằn quại trong đau khổ của già nua, tật bệnh. Tất cả những cảnh tượng xa hoa chung quanh không còn quyến rũ được Thái Tử nữa. Bấy giờ, Ngài chỉ còn thấy một sự thôi thúc mãnh liệt là phải thoát ly ra khỏi chốn này để tìm một con đường giải thoát những ràng buộc khổ đau cho mình và cho nhân loại.

Một đêm kia, có tin vui là công chúa Gia Du Đà La vừa hạ sanh một Vương Tôn rất khôi ngôi, và được Vua Tịnh Phạn đặt tên là La-Hầu-La (Rahula). Nghe tin Thái Tử đã không tỏ vẻ vui mừng như những người Cha khác vừa có con trai đầu lòng, ngược lại, Thái Tử lại thở dài và thầm than : "Lại thêm một ràng buộc". Ý tưởng rời bỏ gia đình lại càng thúc giục Thái Tử hơn bao giờ hết, và, ngay trong đêm ấy, Ngài quyết định rời khỏi hoàng cung.

Kỳ diệu thay, sau bữa cơm chiều, một năng lực bí ẩn đã làm cho các người phục dịch chung quanh Thái Tử chìm vào một giấc ngủ li bì. Vương Phi Gia Du Đà La cũng say sưa ngủ với Vương Tôn La Hầu La còn gối trên tay. Thái Tử bước tới cửa phòng nhìn người vợ xinh đẹp, và đứa con sơ sinh đang nằm trong lòng mẹ; Ngài nghĩ rằng: "Ta muốn bồng đứa con yêu quý của Ta lần cuối, nhưng e sẽ làm Gia Du Đà La thức giấc thì Ta khó mà thoát ly được. Thôi đành! Ta phải rời khỏi nơi đây trong lúc mọi người còn đang ngủ".

Thái Tử vội vàng rời khỏi cung điện, xuống chỗ người đánh xe thân tín là Xa Nặc đang say sưa ngủ, đánh thức hắn dậy và ra lệnh cho hắn thắng yên cương và đem con bạch mã Kiền Trắc tới cho Thái Tử. Tuy rất ngạc nhiên, nhưng Xa Nặc cũng phải tuân lệnh, y như lời dạy. Thái Tử lên yên và Xa Nặc ngồi sau lưng, tiến ra cổng Hoàng Thành, nhưng cửa Hoàng Thành còn đóng chặt, và chú lính canh đang gục đầu trên ngọn giáo, ngủ vùi.

Thái Tử vỗ về con ngựa : ‘Kiền Trắc, đêm nay chúng ta phải vượt khỏi bức tường cao kia đang giam hãm chúng ta. Con hãy cố gắng đưa ta qua bức tường và đừng làm cho quân canh thức giấc’. Lại thêm một sự kỳ diệu nữa, con ngựa Kiền Trắc cất vó nhẹ nhàng như bay bổng lên không trung và vượt khỏi bức tường cao, ra khỏi Hoàng Thành, không một tiếng động. Nhẹ nhàng nhìn Hoàng Cung lần chót và Thái Tử phát lời thề nguyện: "Nếu Ta không tìm được một con đường giải thoát mọi đau khổ cho Ta và cho chúng sanh, Ta thề sẽ không bao giờ trở về Thành Ca Tỳ La Vệ thân yêu này"

Đời sau có thơ nói về đêm Thái Tử Tất Đạt Đa vượt thành ra đi tìm chân lý như sau :

Lời Xa Nặc hỏi khi bị Thái Tử đánh thức dậy :

Trời tối nhân gian mờ mịt quá

Giờ này Thái Tử định đi đâu?

Thái Tử đáp :

Chính đời mờ mịt nên ta phải,

Đi để tìm ra ánh nhiệm mầu.

Xa Nặc than :

Ngày mai sẽ có bao người khóc,

Ly biệt thương Ngài, nỗi khổ đau.

Thái Tử hứa :

Ta sẽ trở về khi thấy Đạo

Giải thoát nhân gian vạn thảm sầu...

Trong Kinh văn cũng có lời tán thán sự vượt thành xuất gia của Thái Tử như sau :

Thái Tử nhủ từ tâm lân mẫn,

Quyết hy sinh độ tận hữu tình,

Đoạn ái ân phú quý riêng mình,

Chọn lối sống quang minh vũ trụ...

Đến đây chúng ta lại suy nghiệm xem trong tướng thị hiện thứ tư này, Đức Phật đã muốn đem lý đạo giáo huấn nhân loại như thế nào?

a./ Mục đích của Chư Phật ra đời là chỉ cho chúng sanh (con người) sự tỉnh thức để nhận rõ rằng cuộc sống tam bợ trên thế gian này là ràng buộc những khổ đau; vì vô minh tạo nghiệp liên hồi để rồi bị nghiệp dẫn dắt hết kiếp này sang kiếp khác trong sáu nẻo luân hồi. Người có trí tuệ phải sớm nhận thức được lý vô thường của cuộc sống. Sanh ra, lớn lên, bệnh hoạn rồi già chết, rồi lại sanh, lại lớn, lại bệnh, lại già, lại chết, cứ như thế mà không bao giờ con người có thể làm chủ được những hiện tượng hay quy luật thiên nhiên ấy. Cái thân không thể mãi mãi thường còn khỏe mạnh như ý mình muốn; những cảnh vui  trên thế gian không phải là hạnh phúc vĩnh cửu. Tiếp theo nụ cười là nước mắt.

Sau này, khi đi giáo hóa chánh pháp, Đức Phật đã thí dụ, nước mắt của chúng ta (con người) từ vô thỉ đến nay còn nhiều hơn nước chứa  trong bốn biển. Trong cái thân phàm phu, Thái Tử Tất Đạt Đa sớm đã thức tỉnh và nhận ra những tướng vui giả tạo tạm thời như vậy chỉ dẫn tới phiền não và khổ đau, nên Thái Tử đã cương quyết đi tìm chân lý để giải thoát cho chính mình (Tự độ) và cho nhân loại (độ tha). Thái Tử cũng sớm nhận ra rằng, những ràng buộc của gia đình, vợ đẹp, con khôn; những sự giàu sang, uy quyền vương giả cũng chỉ là những thứ tạm bợ, chướng ngại, phải từ bỏ trước khi quá muộn. Sự từ bỏ tất cả ràng buộc thế gian, sau này, trong Giáo Lý của Ngài, gọi là Buông Xả. Thái Tử đã buông xả cái Ta (một Thái Tử Đông Cung) và cái của Ta (uy quyền, ngai vàng, gia đình v.v...). Chính nhờ sự buông xả này, đã giúp Ngài thể nhập được vào chân lý như giáo lý mà Ngài dạy trong Kinh Kim Cương : Buông xả cho đến khi không còn thấy buông xả, không còn thấy năng, thấy sở, không còn thấy nhân, thấy ngã, thấy chúng sanh, thấy thọ giả.

b.   Theo truyền thuyết thì khi Ngài quyết tâm vượt thành đi tìm chân lý, Ngài đã được Tứ Thiên Vương ủng hộ bằng cách làm cho quân canh, thị nữ, cung nhân đều say ngủ và nâng bốn vó con ngựa Kiền Trắc lên khỏi bức tường thành. Đối với chúng ta, từ bỏ gia đình và những thú vui thế gian để xuất gia cầu đạo, cũng phải có quyết tâm,  mà cũng không phải ai cũng có thể có cái quyết tâm ấy và có thể xuất gia được. Thầy tốt, bạn lành trong chốn già lam chính là Tứ Thiên Vương đối với chúng ta. Đã có lý tưởng (chánh pháp) để tu học, giới luật để phòng hộ, thầy tốt bạn lành làm thiện tri thức, có vào được chân lý như Thái Tử Tất Đạt Đa hay không chỉ còn trông cậy nơi chính mình có thối chuyển hay không mà thôi. 

5. Lục Niên Khổ Hạnh Lâm Tướng, nghĩa là tướng thị hiện sáu năm tu khổ hạnh trong rừng già. Kinh sách có câu :

Lục Niên Khổ Hạnh Thích Ca Tôn,

Ca Diếp hân hoan diệu lý chơn....

là để nói về tướng khổ hạnh suốt sáu năm trường, Thái Tử Tất Đạt Đa đã kinh nghiệm để tìm ra Chân Lý rồi sau này trao tryền cho người đệ tử xứng đánh nhất là Ngài Ma Ha Ca Diếp. Phật sử chép rằng :

Sau khi rời bỏ hoàng cung, Thái Tử đã băng rừng tới bên dòng sông Anoma. Tại đây, Thái Tử đã trao cho Sa Nặc tất cả y phục Hoàng Gia và con ngựa Kiền Trắc đem trả về cho Hoàng Tộc. Ngài dùng gươm cắt bộ tóc mượt mà và đánh đổi với người tiều phu, chiếc áo choàng quý giá cuối cùng còn trên người, lấy chiếc áo vá bạc mầu, rồi từ đó bắt đầu một cuộc đời không nhà cửa, không tiền bạc của một nhà tu hành khất sĩ.

Ngài đi lang thang trong rừng để tìm kiếm một vị Thầy lỗi lạc đương thời là Alarama Kalama, đã được các đạo sĩ Bà La Môn giới thiệu. Chẳng bao lâu, Ngài chứng ngộ và thành đạt cảnh giới Vô Sở Hữu Xứ Thiên như Thầy, nhưng sự chứng ngộ này không giúp Ngài thấu triệt được những vấn đề mà Ngài muốn tìm kiếm.

Chưa được toại nguyện, Ngài từ giã Đạo Sĩ Kalama để đi tìm một Đạo Sư danh tiếng khác. Đó là Uddaka Ramaputa, nhưng rồi cũng chẳng bao lâu sau đó, Thái Tử đã lại học hết giáo lý của Ramaputa và đạt được cảnh giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng. Đây là cảnh giới định cao nhất của Tam Giới (Thiền Vô Sắc), nhưng Ngài vẫn cảm thấy chưa được hoàn toàn giải thoát. Ngài nhận ra rằng, trên đời, không còn ai có đủ khả năng để dẫn dắt Ngài ra khỏi vòng vô minh và ngộ được chân lý tối thượng.

Ngài lại từ giã Đạo Sĩ Ramaputa và nghĩ rằng: "Hay ta chưa đủ nghị lực để tu khổ hạnh vì đã bao năm qua Ta đã quen sống trong nhung lụa. Từ nay Ta phải quyết tâm sống khổ hạnh và quay về tìm trong nội tâm, như Ta đã nhập Sơ Thiền hồi còn niên thiếu (trong buổi lễ Hạ Điền), may ra Ta có thể tìm ra con đường giải thoát mọi khổ đau". Ngài đã lang thang đây đó, để tìm ra một nơi thích hợp cho cuộc sống khổ hạnh. Một ngày kia, tìm được một khu rừng bên cạnh một giòng sông và Ngài quyết định dừng tại đó để bắt đầu cuộc sống khổ hạnh.

Khi hay tin Thái Tử Tất Đạt Đa đã từ bỏ cung điện để ra đi tìm chân lý, Kiều Trần Như, vị đạo sĩ trẻ tuổi đã tiên tri khẳng định là Thái Tử sẽ rời bỏ ngôi vị đi tìm đạo và sẽ đắc quả Phật trong buổi lễ Quán Đảnh, cùng với bốn người em họ đi tìm Ngài để cùng nhau tu học.

Trong khi tu hành, Đạo Sĩ Cồ Đàm đã không để ý gì đến những đòi hỏi hay những cảm thọ của thân. Những lúc ngồi tọa thiền hết giờ này qua giờ khác, Ngài cố gắng chịu đựng sự đau đớn bởi khí huyết không được lưu thông, thêm vào đó, sự ăn uống lại chỉ có vài hạt mè và những trái cây nhỏ bị gió thổi bay vào lòng Ngài. Vì thiếu dinh dưỡng, Ngài đã trở nên gầy ốm. Những nét tuấn tú của vị Thái Tử phong độ đã dần dần biến mất; da đã sạm đen và mất hết sinh khí.

Phật sử chép rằng, Ngài đã bị hao mòn đến độ khi sờ vào bụng thì da bụng dính vào cột xương sống ở sau lưng. Tuy thế, tinh thần Ngài vẫn sáng suốt và tiếp tục chịu đựng để tu hành. Cứ như thế suốt sáu năm trời, thân thể  tiều tụy, khô đét, sức lực kiệt quệ và cái chết đã gần kề. Lúc ấy Ngài chợt nghĩ : "Dầu các Đạo Sĩ hay các nhà tu khổ hạnh trong quá khứ đã chịu những cảm giác nhức nhối, đau đớn dữ dội hay xót xa như thế nào thì cũng chỉ đến mức này là cùng không thể hơn nữa. Dầu các Đạo Sĩ hay các nhà tu khổ hạnh trong tương lai sẽ chịu những cảm giác nhức nhối, đau đớn dữ dội hay xót xa như thế nào thì cũng đến mức này là cùng không thể hơn nữa. Tuy đã trải qua bao nhiêu khắc khổ, khó khăn và đau đớn mà Ta vẫn không đạt được điều chi tốt đẹp, xứng đáng với sự giác ngộ cao thượng và trí tuệ vượt hẳn những trạng thái của loài người. Hay là còn con đường nào khác dẫn đến sự chứng ngộ cao thượng chăng?"

Nghĩ như vậy xong, Ngài đã quyết định thay đổi đường lối tu hành. Đường lối lợi dưỡng với tất cả sự đầy đủ chỉ làm nô lệ cho những đòi hỏi của xác thân. Đường lối khổ hạnh, như Ngài đã từng kinh nghiệm trong sáu năm vừa qua, chỉ là dày vò xác thân. Những đau đớn có ảnh hưởng rất nhiều đến phát triển trí tuệ. Ngài cũng đã khổ hạnh tới mức cùng cực. Vậy thì con đường đưa đến chân lý phải là con đường thứ ba : Không lợi dưỡng và cũng không khổ hạnh.

Ngài đứng dậy, xuống sông tắm rửa nhưng vì quá yếu nên Ngài đã té ngã, suýt bị chết chìm.  Gắng sức hơi tàn, Ngài quờ quạng lết vào bờ tịnh dưỡng, thì vào lúc ấy, một người phụ nữ tên Sujata, tay bưng bát sữa đi vào rừng với mục đích cúng dường bát sữa cho chư thần mà nàng tin tưởng đã phù hộ cho nàng sanh một đứa con khỏe mạnh.

Thấy một vị Đạo Sĩ gầy còm, nhưng nét mặt rạng rỡ, đang ngồi bên bờ sông; nàng nghĩ, hẳn đây là một vị Thần của rừng cây mà nàng đang tìm kiếm. Nàng tiến tới đặt bát sữa trước mặt vị Đạo Sĩ. Ngài từ từ mở đôi mắt và mỉm một nụ cười, đoạn bưng bát sữa lên uống. Uống xong bát sữa,  thần diệu thay, thân thể Ngài dần dần hồi phục, thịt da lại nẩy nở và tươi sáng. Ngài đặt bát xuống và mỉm cười, nói với nàng Sujata : "Bà tưởng Ta là một vị thần linh phải không? Không! Ta chỉ là một người bình thường đang đi tìm chân lý để cứu vớt nhân loại khỏi đau khổ. Bát sữa của Bà đã làm cho Ta hồi phục sức khoẻ. Bà sẽ có nhiều phước đức vì sự cúng dường hôm nay. Ta xin cảm ơn Bà".

Năm  anh em Kiều Trần Như thấy Đạo Sĩ Cồ Đàm đã từ bỏ cuộc sống khổ hạnh, bèn tỏ vẻ thất vọng. Họ nói với nhau: ‘Đạo Sĩ Cồ Đàm đã bỏ cuộc và trở về với đời sống lợi dưỡng. Chúng ta không nên sống gần con người dễ dàng bỏ cuộc như vậy’ và họ đã ra đi.

Đạo Sĩ Cồ Đàm đứng dậy, lội qua dòng sông Ni Liên Kiền và tới một gốc cây Pipala, mà sau này được gọi là cây Bồ Đề, bắt đầu cuộc tu thiền định. Sau khi đã trải cỏ làm tọa cụ, Ngài ngồi xuống và phát một lời thề: "Dù thân này có chết, thịt này có rã, xương này có tan; nếu không tìm ra chân lý, Ta quyết không bao giờ đứng dậy".

Đó là câu chuyện được kể trong lịch sử về cuộc tu hành khổ hạnh của Đức Phật. Từ cái tướng thị hiện sáu năm khổ hạnh này, chúng ta nhìn thấy được ý nghĩa gì ?

a. Ngài đã tìm đạo từ những vị Thầy danh tiếng nhất và chứng đắc được tất cả những cảnh giới mà các bậc Thầy đã chứng, nhưng sự chứng đắc đó không làm Ngài toại nguyện. Đi tìm chân lý từ phía ngoài thân không thể nào được, Ngài đã quyết định quay vào tìm chân lý từ bên trong nội tâm, và đã kết quả. Đó là đường lối tu hành dẫn Ngài đắc Đạo quả và đạo quả chứng đắc mà không nhờ sự dạy dỗ của ông Thầy nào.

Sau này, trước khi nhập Niết Bàn, Ngài đã nhắn nhủ các đệ tử: "Các Con hãy tự thắp đuốc mà đi, hãy tự làm hải đảo cho mình nương náu". Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật cũng đã dạy: "Các Đấng Như Lai chỉ là người chỉ đường". Suốt cuộc đời giáo hóa, Đức Phật luôn luôn khuyến khích các đệ tử phải dành tất cả thì giờ vào sự phát triển trí tuệ và tránh những cuộc hý luận, tạp thoại vô ích.

b. Ngài đã tìm ra con đường tu thứ ba, sau này được gọi là Con Đường Trung Đạo. Ngài đã sống khổ hạnh hơn bất cứ một Đạo Sĩ đương thời nào; rốt cuộc, đời sống khổ hạnh chỉ đem lại sự đau đớn thể xác và làm suy giảm ý chí. Ngài đã chỉ cho chúng ta thấy một quan niệm, một tâm hồn thánh thiện không thể có ở trong một thân thể bệnh hoạn.

Cũng trong tướng thị hiện này, Đức Phật đã phá cái tà kiến ‘Giới Cấm Thủ’ của ngoại đạo là nhất định phải dày vò xác thân cho đến mức cùng kiệt. Sau này, khi giáo hóa các đệ tử, Ngài luôn luôn áp dụng con đường trung đạo. Ngài thí dụ về cây đàn. Khi một vị đệ tử đến hỏi Ngài lý do tại sao ông ta không đạt được Thánh quả, mặc dầu đã khổ công tu hành đến mức tối đa. Đức Phật nói: "Sự tu hành và trì giới cũng giống như sợi dây đàn, chùng quá thì không ra tiếng, căng quá thì tiếng chát chúa, khó nghe". Đó là con đường Trung Đạo để phá hai cái chấp cực đoan : Lợi dưỡng và khổ hạnh.

c. Lý đạo thứ ba trong tướng thị hiện này là không nên vì nghe thấy khó thực hành mà không tu. Muốn biết mình có thể làm được hay không, cần phải thực hành với tất cả khả năng và thiện chí của mình trước đã. Vì muốn làm gương cho chúng sanh mà Đức Phật đã phải thị hiện hạnh kham nhẫn khổ hạnh tới sáu năm mà không đạt được mục đích, rồi phải từ bỏ. Chỉ có từ sự thực hành, mới gặp những khó khăn và mới thu thập được kinh nghiệm để sửa đổi lề lối tu tập.

Chúng ta ngày nay tu hành, đa số đều thiếu đức tin kiên cố và lòng kiên trì đối với pháp môn mình đã lựa chọn. Nhiều người đang tu Tịnh Độ, nghe nói tu Thiền mới đạt được ‘Minh Tâm Kiến Tánh’ và là môn tu của bậc Thượng Căn Thượng Trí thì bắt đầu khởi tâm tu Thiền, rồi bỏ hay khinh thường pháp môn Tịnh Độ. Sau một thời gian tu Thiền, không có kết quả, lại quay trở về pháp môn Tịnh Độ. Những người này, thật sự, đã không thâm nhập được lý đạo của Thiền và của Tịnh Độ. Vì thiếu sự thâm nhập và thiếu lòng kiên nhẫn nên họ luôn luôn chạy theo vọng tưởng mà lạc vào lối tu sai lầm vì những ảo giác của vọng tâm. Những ảo giác này, đôi khi, rất nguy hiểm cho người tu. Những ảo giác này thường là những biến hiện của tâm bị dồn ép, đè nén, nên sanh ra những cảnh giới lạ lùng hay những cảm giác hoan hỷ. Vì những cảnh giới đó, cảm giác đó, người tu dễ bị dẫn dắt vào ma chướng mà người ta thường gọi là ngũ ấm ma.

Trong sáu năm khổ hạnh, Đạo Sĩ Cồ Đàm thường gặp những ma chướng muốn làm Ngài thối chí, nhưng với sự kiên trì trong 49 ngày cuối cùng, Ngài đã đại thắng ma chướng mà thành đạo. Đó là tướng thị hiện thứ sáu mà Thầy sắp nói tới.

6. Hàng Phục Chúng Ma Tướng, nghĩa là tướng thị hiện diệt trừ tất cả những Ma Chướng từ bên ngoàiẠ và từ bên trong.

    Sử chép rằng : Sau khi Đạo Sĩ Cồ Đàm phát một lời thề như đã nói ở trên; Ngài đã ngồi thiền định dưới gốc cây Pipala (cây Bồ Đề), và nhập Sơ Thiền, rồi tới Nhị Thiền, Tam Thiền và Tứ Thiền ... Trí tuệ của Ngài trở nên sáng suốt, tâm thể vắng lặng nhờ sự quán sát tận nguốn gốc của mọi cảm thọ và buông xả tất cả những đòi hỏi của ái dục.

Lúc đó, Ma Vương Mara rất sợ hãi và giận dữ. Mara là tên Ấn Độ để gọi những ma chướng chuyên gây đau khổ, phiền não và tội lỗi cho loài người. Mara chính là tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến.

 Khi Mara nhận thấy Đạo Sĩ Cồ Đàm đang nhập vào các bậc Thiền và diệt trừ dần những cám dỗ mà hắn thường gieo rắc trong tâm loài người; hắn đã triệu tập con cháu (những nguồn gốc của phiền não và cám dỗ) lại và nói : ‘Này các con, hãy trông Đạo Sĩ Cồ Đàm đang tọa Thiền dưới gốc cây kia. Ông ta đang tìm phương pháp loại trừ chúng ta ra khỏi tâm ý của Ông ta và tìm cách chấm dứt những đau khổ và phiền não mà chúng ta thường gieo rắc để sai khiến loài Người. Nếu Ông ta thành công và đem phương pháp ấy phổ biến thì chúng ta sẽ hết đất sống. Loài người có thể dễ dàng nhận diện chúng ta và loại trừ chúng ta khỏi tâm ý của họ. Vậy còn ai mà chiều đãi, cung phụng chúng ta nữa. Bằng mọi giá, chúng ta phải ngăn cản cho kỳ được cái ý định chấm dứt phiền não và đau khổ của loài người đó’.

Và Mara cùng bộ hạ của ác pháp xúm nhau lại tấn công Đạo Sĩ Cồ Đàm. Thoạt đầu, chúng tạo ra những trận mưa gió dữ dội và những sấm sét kinh hoàng, hướng về phía Đạo Sĩ Cồ Đàm đang tọa thiền. Cây cối chung quanh Ngài gẫy đổ, bật gốc ầm ầm, nhưng kỳ lạ thay, cành lá của cây Pipala lại bất động và vẫn xòe rộng tàng lá che chở cho Ngài. Mara thấy trận đầu đã thất bại, bèn tập họp quân đội xung phong và ào ào bắn những mũi tên độc vào mình vị Đạo Sĩ.

Một lần nữa, sự kỳ diệu lại diễn ra, tiếng la hét của chúng ma hầu như chìm vào trong biển cả của im lặng, các mũi tên độc biến thành những cánh hoa sen rơi lả tả chung quanh Đạo Sĩ Cồ Đàm. Mara thấy rằng những khí giới từ bên ngoài không làm hại được Đạo Sĩ Cồ Đàm; hắn đổi chiến thuật, tấn công bằng những khí giới bên trong là sự cám dỗ của ái và dục. Hắn cho ba người con gái của hắn tới trước mặt Đạo Sĩ Cồ Đàm, dùng tất cả những âm thanh ngọt ngào, và khêu gợi tình dục để quyến rũ Ngài. Thậm chí, chúng đã thi triển thần thông biến hiện ra cả nàng Gia Du Đà La xinh đẹp và các cung nữ, nhạc công biểu diễn những vũ điệu mà ngày xưa đã làm Thái Tử Tất Đạt Đa ham thích. Nhưng giờ đây, những hình ảnh đó đã trở thành hoàn toàn vô dụng. Ngài vẫn bình thản trong thiền định với nét mặt rạng rỡ, đôi mắt rực sáng nhìn thẳng vào chúng và làm khả năng thần thông của chúng bị tê liệt, trong khi trên môi của Ngài vẫn giữ một nụ cười từ ái.

Mara đã kiệt quệ khả năng và hắn cố tập trung vào một đòn chót. Hắn hiện thân Ma Vương trước mặt Đạo Sĩ Cồ Đàm và nói bằng một giọng diễu cợt: ‘Này Tất Đạt Đa! ông tưởng ông vĩ đại lắm sao? Biết bao nhiêu Đạo Sĩ Bà La Môn trước ông, đã từng có ý định chấm dứt đau khổ và đã ngồi tọa Thiền như ông đang làm và tất cả đều thất bại. Hãy từ bỏ ý định điên rồ của ông đi và trở về ngôi vị Hoàng Thái Tử. Sau này, khi lên ngôi Vua, ông thiếu gì tiền bạc, oai quyền và cơ hội làm tốt cho thần dân của Ông. Lúc ấy, sự nghèo đói và đau khổ sẽ chấm dứt’.

Đạo Sĩ Cồ Đàm chỉ mỉm cười và trả lời: "Này Mara, con người quỷ quyệt! Ngươi là nguồn gốc của mọi tội lỗi và lười biếng. Ngươi đến đây chỉ vì lợi ích riêng của ngươi. Ngươi chỉ muốn nhân loại phải luôn luôn cúi đầu phục tòng mệnh lệnh của ngươi mà thôi. Ta đã biết rất rõ các đạo binh của ngươi là tham dục (Kama), bất mãn (Arati), đói khát (Khuppipasa), ái dục (Tanha), hôn trầm (Thina-Middha), sợ hãi (Bhaya), hoài nghi (Vicikiccha), phỉ báng và cố chấp (Makkha-Thamba), lợi lộc (Labha), khen tặng (Siloka), vinh dự (Sakkara) và thanh danh bất chánh (Yasa), kiêu mạn và khinh rẻ kẻ khác (Attukkamsanapa Ravambhana). Này Mara, ta đã chế ngự được các đạo binh ấy của ngươi vì ta biết rất rõ ràng bản chất của quân đội của Ngươi, nên âm mưu của Ngươi đều thất bại đối với ta. Sau này, người nào biết cách chế ngự các đạo binh ấy của ngươi, cũng sẽ tìm ra hạnh phúc chân chánh".

Ma Vương nghe xong, hắn biết rõ ràng là đã hoàn toàn thất bại. Hắn biến đi như một cơn ác mộng.

Sau khi đã chiến thắng được Ma Vương và quyến thuộc của hắn; Đạo Sĩ Cồ Đàm lặng lẽ trở về với thiền định và mọi hiện tượng về vũ trụ, nhân sinh dần dần phơi bày trước mắt Ngài. Đó là đêm thứ 48, kể từ ngày Ngài cất lời thề phải tìm ra chân lý hay là chết, bên bờ sông Ni Liên Thiền.

Sách chép rằng : Canh một, ánh sáng trí tuệ của Ngài đã soi thấu các cõi Trời và địa ngục. Bốn phương, tám hướng đều hiện rõ ràng khi Ngài phóng tầm mắt về hướng ấy. Không một chướng ngại nào có thể ngăn che được cái Thấy của Ngài. Ngài đã chứng đắc Thiên Nhãn Minh.

Rồi Ngài tiếp tục đi sâu vào thiền định, qua canh ba, Ngài hướng tư tưởng về tiền kiếp của mình; đầu tiên một kiếp, rồi hai kiếp, ba kiếp, cho đến vô lượng kiếp cứ lần lượt hiện rõ trong tuệ giác của Ngài, rồi đến cả sự vận hành của vũ trụ và nhân sinh từ vô thỉ cũng lần lượt hiển bày. Ngài đã nhìn rõ trong từng kiếp của Ngài, tên gì, vui thích và đau khổ thế nào, chết đi cách nào, tái sinh ra sao. Không những Ngài chỉ biết về tiền thân của Ngài mà Ngài còn  nhìn thấy chúng sanh chết từ kiếp này, tái sanh vào kiếp khác. Ngài đã nhìn rõ được cả những nguyên nhân sâu xa (nghiệp) dẫn dắt chúng sanh vào những kiếp của sáu nẻo trong luân hồi. Lúc đó, không còn một bí mật gì về nhân sinh và vũ trụ có thể trốn lánh được tuệ giác của Ngài và Ngài đã chứng đắc Túc Mạng Minh.

Ngài lại tiếp tục đi sâu vào tận cùng của Định Vô Thức (Diệt Tận Định), Ngài đã nhận thức : ‘Đây là phiền não; đây là nguồn gốc của mọi phiền não; đây là trạng thái chấm dứt mọi phiền não và đây là con đường dẫn tới sự chấm dứt phiền não’. Cũng với tuệ giác ấy, Ngài đã nhận thức: ‘Đây là ô nhiễm của tâm; đây là nguồn gốc làm tâm bị ô nhiễm; đây là trạng thái của tâm không còn ô nhiễm và đây là con đường dẫn tới sự thanh lọc mọi ô nhiễm’. Đến đây, tâm thể của Ngài đã hoàn toàn thanh lọc các dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Ngài đã chứng đắc Tuệ Giác thứ ba : Lậu Tận Minh.

Đầu canh năm, khi sao Mai vừa lố dạng, tâm thể của Đạo Sĩ Cồ Đàm đã trở thành một vùng ánh sáng mà không có thứ ánh sáng nào, người ta đã từng biết, từng thấy có thể so sánh được với cái ánh sáng của tâm thể Ngài. Mọi hiện tượng trong Vũ Trụ, gần, xa, đều bị bao trùm bởi vùng yến sáng đó. Mọi sự thật không còn bị che dấu vì màn vô minh đã hoàn toàn bị quét sạch. Đạo Sĩ Cồ Đàm đã thể nhập được vào cái mà ta tạm gọi là chân lý (lẽ thật) và trở thành một vị Phật. Ngài đã hòa mình vào các hiện tượng của nhân sinh và vũ trụ. Ngài biết rõ từng cụm mây đã được cấu tạo ra sao vì chính Ngài là cụm mây. Ngài biết rõ những cảm thọ buồn phiền từ đâu tới và tới cách nào vì chính Ngài là những cảm thọ. Ngài biết Ngài đã giải thoát khỏi sanh diệt và chứng quả vô sanh pháp nhẫn.

Ngay khi ấy, tuyên ngôn đầu tiên của Ngài trong trạng thái hoàn toàn giải thoát là : ‘Lạ thay! lạ thay! thì ra tất cả mọi chúng sanh đều có đủ Trí Tuệ và Đức Tướng của Như Lai’ (Kỳ tai! kỳ tai! Nhất thiết chúng sinh cụ hữu Như Lai Trí Tuệ Đức Tướng). Sự phát triển của Tuệ Giác tới mức không ngằn mé như vậy và ánh sáng tâm linh đã như ngọn đèn xua đuổi bóng tối ngàn năm trong một căn nhà như vậy, được trời và người gọi là Sự Thành Đạo’.

Trong tất cả 8 tướng thành đạo, tướng thứ sáu này là quan trọng nhất vì trong giai đoạn thị hiện này, chúng sanh hữu tình Tất Đạt Đa đã giải thoát tướng phàm phu để trở thành một vị Phật. Có hai lý đạo quan trọng trong tướng thị hiện này, Thầy muốn quý vị tư duy, thâm nhập vì nó chính là mục đích cho cả cuộc đời tu hành của quý vị.

a. Đức Phật đã chỉ rất rõ ràng những ma chướng thường làm trở ngại cho những người xuất gia mà thiếu tâm bồ đề kiên cố và làm cách nào Ngài đã chiến thắng được ma vương ? Sau này, trong cuộc đời hoằng đạo, Ngài đã dạy trong Kinh Pháp Cú về  lý đạo này:

‘Thắng ngàn vạn quân địch, chưa thể gọi là thắng. Tự thắng được mình mới là chiến công oanh liệt nhất’ (Câu 103).

‘Tự thắng mình còn vẻ vang hơn thắng kẻ khác. Muốn thắng mình phải luôn luôn chế ngự lòng tham dục’ (Câu 104).

‘Làm dữ bởi ta, mà nhiễm ô cũng bởi ta. Làm lành cũng bởi ta mà thanh tịnh cũng bởi ta. Tịnh hay bất tịnh cũng bởi ta, chứ không ai có thể làm cho ai thanh tịnh được’ (Câu 165).

Ba câu Phật dạy trong Kinh Pháp Cú kể trên có thể nói là toàn bộ phương pháp mà Ngài đã dùng để chiến thắng ma vương. Ta hãy xếp loại các ma chướng mà Đức Phật gọi là các đạo quân của ma vương xem chúng từ đâu mà ra. Nếu xếp loại được (biết được vì đâu mà có) thì việc diệt trừ không còn là một chướng ngại cho công cuộc tu hành của chúng ta nữa :

Đạo quân thứ nhất : Tham dục (Kàma) ta có thể xếp loại là sản phẩm của sắc uẩn, hành uẩn thức uẩn.

Đạo quân thứ hai : Bất Mãn (Arati) là sản phẩm của thức uẩn.

Đạo quân thứ ba : Đói và Khát (Khuppipàsà) là sản phẩm của sắc uẩn thọ uẩn.

Đạo quân thứ tư : Ái Dục (Tanhà) là sản phẩm của tưởng, hành uẩn thức uẩn.

Đạo quân thứ năm : Hôn Trầm Dã Dượi (Thìna-Middha) là sản phẩm của hành uẩn thức uẩn.

Đạo quân thứ sáu : Sợ Hãi (Bhaya) là sản phẩm của tưởng uẩn.

Đạo quân thứ bảy : Hoài Nghi (Vicikicchà) là sản phẩm của thức uẩn.

Đạo quân thứ tám : Phỉ Báng và Cố Chấp (Makkha-Thambha) là sản phẩm của hành uẩn thức uẩn.

Đạo quân thứ chín : Lợi lộc (Làbha), Khen tặng (Siloka), Vinh dự (Sakkàra) và Thanh danh bất chính (Yasa) là sản phẩm của tưởng uẩn.

Đạo quân thứ mười: Đánh giá mình quá cao và khinh rẻ kẻ khác (Attukkamsanaparavambhana) là sản phẩm của tưởng uẩn thức uẩn.

Tất cả những đạo quân (ma chướng) của Ma Vương vừa nói ở trên đều phát sinh từ cái thân ngũ uẩn của con người, nên chúng được gọi là ngũ ấm ma. Ngũ ấm ma là loại ma chướng khó diệt trừ nhất. Nguyên do chính là con người thường chấp cái thân ngũ uẩn này là thật có và thường còn. Ít có người nào có được cái trí tuệ của Đức Phật, nhìn thấu suốt tới cái bản thể của sự vật, hoặc nghe theo lời chỉ dạy của Đức Phật về tính chất như huyễn của vạn vật mà sống với cái nhận thức như huyễn đó. Vì chấp cái thân ngũ uẩn là một vật có thật nên các ma mới có chỗ trú ngụ để gieo rắc phiền não và đau khổ và để sai xử con người. Đó chính là lý do tại sao các nhà tu khổ hạnh phải đày đọa cái thân cho đến mức tiều tụy.

Đức Phật, vì lòng thương xót chúng ta phải chịu khổ đau trong đời sống khổ hạnh mà vẫn không đạt được mục đích giải thoát nên Ngài đã phải thị hiện dùng thân ngũ uẩn của phàm phu mà sống theo lối khổ hạnh tới sáu năm dài, khổ hạnh tới mức không một ai trong quá khứ hay trong vị lai có thể khổ hạnh hơn nữa có thể đạt được giải thoát, để chỉ cho chúng ta cái lý do mà Ngài bác bỏ cái cực đoan phải khổ hạnh. Vậy chúng ta cũng không cần phải bàn tới khổ hạnh, nhưng cũng phải luôn luôn nhớ lời cảnh giác của Đức Phật là sống một cách tỉnh thức để biết rằng cái thân này chỉ là giả tạm; có cung phụng cho nó đến mấy đi nữa thì cũng không bao giờ nó chịu thỏa mãn và sẽ bỏ chúng ta mà trở về với nguyên thể đất, nước, gió, lửa của nó.

Sau khi đã chỉ cho chúng ta nguồn gốc của ma chướng, Ngài cũng lại đã chỉ dạy cho chúng ta phương pháp mà Ngài đã thực hành để chế ngự những ma chướng đó. Đó là Tám Nẻo Chân Chính (Bát Chánh Đạo). Tám nẻo chân chính này là phương pháp mà Ngài đã áp dụng giáo hóa chánh pháp lần đầu tiên trong bài Kinh Chuyển Pháp Luân. và năm anh em ông Kiều Trần Như, nhờ hấp thụ được và thực hành đúng như phương pháp được chỉ dạy, nên đều đắc quả Thánh, trở thành Tăng Bảo, là những thánh chúng đệ tử đầu tiên của Đức Phật.

b.Thường thường, khi nói tới Khai, Thị, Ngộ, Nhập, người ta nghĩ đến Kinh Diệu Pháp Liên Hoa bởi vì chúng ta thường được nghe thuyết giảng rằng mục đích (hay đại sự nhân duyên) của Đức Phật ra đời là để khai, thị, ngộ, nhập, Phật tri kiến cho chúng sinh như Ngài đã thuyết giảng Bộ Kinh Pháp Hoa. Chúng ta cũng phải nên biết rằng Khai, Thị, Ngộ, Nhập, là một phương pháp thuyết giảng mà Đức Phật đã dùng để giáo hóa quần sinh ngay từ bài Kinh đầu tiên tại vườn Lộc Uyển. Một đức tính cao quý mà nhân loại kính ngưỡng Đức Phật là : ‘Không bao giờ Ngài chỉ nói mà không tự mình thực nghiệm và không bao giờ Ngài giảng dạy những điều mà Ngài chưa tự mình thực nghiệm và chứng đắc’. Đó là điều mà  Đức Phật ân cần nhắc nhở các đệ tử trong hầu hết các Kinh : "Này các Tỳ Kheo! Hãy tin những lời Như Lai nói. Như Lai không bao giờ nói dối".

Trong tướng thị hiện thứ sáu này, Đức Phật đã khai mở cho con người một trạng thái, mà con người chưa từng được nghe và được biết : Trạng thái niết bàn. Ở trong trạng thái này, mọi đau khổ và phiền não đã bị chấm dứt. Ngài đã hé mở (thị) cánh cửa niết bàn bằng sự không thỏa mãn với các trạng thái tứ thiền bát định mà Ngài đã học được từ hai vị Thầy Bà La Môn đầu tiên. Ngài đã dẫn dắt chúng ta ngộ (gặp và nhận ra) tri kiến Phật bằng sự phân tách bản chất 10 đạo quân của Ma Vương Mara. Cuối cùng, Ngài dẫn chúng ta nhập Phật Tri Kiến bằng cách dùng Tri Kiến (sự quán sát và hiểu biết tận gốc rễ) để diệt trừ các loại ma chướng.

Trong Kinh Văn, người ta đã tán thán chiến công lẫy lừng (tự chiến thắng mình) diệt trừ ma chướng của Đức Phật như sau :

Tâm quang rực rỡ,

Chứng sáu thần thông,

Đạo thành Chánh Giác,

Tọa Bồ Đề Tòa đại phá Ma quân

Nhất độ minh tinh, đạo thành.....

Đức Phật đã Thành Đạo ngay sau khi Ngài đã diệt trừ tận gốc và chấm dứt các phiền não, đau khổ. Sự thể nhập chân lý của Ngài, giản dị và bình thường ở chỗ Ngài nhận thấy cái khả năng chấm dứt đau khổ đó cũng hằng hữu và tiềm tàng trong mọi chúng sinh. Ngài đã tuyên bố một câu đã được lưu truyền từ ngày Ngài Thành Đạo cho tới ngày nay và thời vị lai: "Như Lai là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành".

Chánh Pháp của Đức Phật đã được lưu truyền từ đó và chắc chắn sẽ mãi mãi, không bao giờ cùng tận. Từ đó, trong cõi Ta Bà này.....

Hào quang chiếu diệu,

Sáng tỏ muôn phương,

Ngộ lý chân thường,

Phá màn hôn ám....

Cánh cửa Vô Sanh Bất Diệt đã mở cho chúng sanh. Hãy để cho ai muốn nghe (Chánh Pháp) đặt trọn niềm tin tưởng. (Apãrutã tesain amatassa drãvã - ye sotavantã pamunca tu saddhain). (Kinh A-Hàm) .

7.  Đáo Lộc Giả Uyển Tướng, thuyết pháp độ sanh tướng, nghĩa là tướng thị hiện sự tuyên dương chánh pháp cứu độ chúng sanh tại vườn Nai.

Phật sử chép rằng : Sau khi Đức Phật thành đạo; Ngài lại ngồi tham thiền dưới gốc Bồ Đề : "Giáo pháp mà ta đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không thể dùng luận lý và đo lường, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu. Nếu ta truyền dạy Giáo Pháp mà kẻ khác không thể thấu hiểu được thì thật phí công, vô ích".

Lúc ấy có một vị Phạm Chí sợ Ngài không truyền bá giáo pháp và thế gian sẽ phải chịu diệt vong vì mãi sống trong đêm dài vô minh, không người chỉ dạy con đường giải thoát,  nên hiện thân tới thỉnh Đức Phật như sau :

‘Bạch Đức Thế Tôn! Giáo pháp của Ngài quả là cao siêu, thế gian chưa từng nghe. Xin Thế Tôn hoan hỷ mở rộng cửa vô sanh bất tử mà truyền bá giáo pháp. Sẽ có người lãnh hội được giáo pháp của Ngài’

Vị Phạm Chí phải thành tâm cung thỉnh đến ba lần, Đức Phật mới hứa khả và Ngài bắt đầu tuyển chọn xem ai là người xứng đáng lãnh hội được Giáo Pháp của Ngài lần đầu tiên. Ngài nghĩ đến hai vị Thầy đầu tiên là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta, nhưng cả hai người đều vừa qua đời.

Ngài bèn nghĩ tới 5 vị Đạo Sĩ đã cùng với Ngài năm xưa, tu pháp môn khổ hạnh, bèn phóng tầm tuệ nhãn quán sát thấy 5 anh em Kiều Trần Như đang còn tu ở Vườn Lộc Uyển, thành Ba-La-Nại. Ngài liền rời gốc cây Bồ Đề đến vườn Nai để bắt đầu cuộc giáo hóa độ sanh. Trên đường đi tới Ba La Nại, Ngài gặp một Đạo Sĩ. Vì này thấy dáng dấp uy nghi của Ngài nên đã cung kính đón đường để hỏi về pháp tu và trình độ tu chứng của Ngài. Khi được biết Ngài đã chứng được quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác (là bậc Toàn Giác) và quả vị Vô Sanh Bất Tử, thì vị  Đạo Sĩ lại tỏ vẻ nghi ngờ lời nói của Ngài và bỏ đi. Đó là cái trở ngại đầu tiên trong cuộc đời hoằng dương Chánh Pháp của đức Phật.

Khi gặp năm anh em Ông Kiều Trần Như, một lần nữa, Đức Phật lại chạm phải cái khó khăn khác, vì năm anh em ông này không tin rằng một người tu hành từ bỏ lối tu khổ hạnh lại có thể thành công. Phải đến lần thứ ba, Đức Phật lập lại rằng Ngài đã đạt Phật quả và chính năm người này cũng có thể chứng ngộ được như Ngài, nếu họ hành trì đúng lời chỉ dẫn của Ngài. Bấy giờ, năm anh em ông Kiều Trần Như mới chịu tin lời Đức Phật và ngồi xuống yên lặng để nghe giáo lý cao quý.

Bài Kinh cực kỳ quan trọng được Đức Phật giảng lần đầu tiên ấy được gọi là bài Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakha). Trong bài pháp đầu tiên này Ngài đã bác bỏ hai cực đoan : Lợi dưỡng và khổ hạnh, trong đường lối tu hành. Đức Phật đã giải thích rất cặn kẽ về con đường Trung Đạo mà Ngài đã tìm ra. Ngài khuyên anh em ông Kiều Trần Như nên xa lánh hai lối tu Lợi Dưỡng và Khổ Hạnh. Lợi Dưỡng cản trở tiến bộ tinh thần, khổ hạnh làm suy giảm trí tuệ. Ngài đã nhấn mạnh chính bản thân Ngài đã tích cực sống theo hai cực đoan ấy và rút kết quả rằng cả hai đều không đưa tới quả vị Vô Thượng.

Sau khi được nghe về Con Đường Trung Đạo, năm anh em Ông Kiều Trần Như lại được nghe giảng về Bốn Sự Thật Cao Quý (Tứ Diệu Đế).

Đức Phật đã giảng rất rõ về bốn Sự Thật Cao Quý đó mà cho đến  nay (hơn 2500 năm sau) vẫn không có một lý luận nào có thể tìm thấy sự sai lầm trong Bốn Sự Thật đó.

Sự Thật Thứ Nhất: Khổ Đế. Trong sự thật về Khổ, Đức Phật đã phân loại tất cả mọi đau khổ của con người trên Thế Gian này làm 8 loại : Có 5 loại khổ của thân là sanh, già, bệnh, chết và sự lên xuống của 5 Ấm; và 3 loại khổ của tâm là phải xa lìa người mình thương yêu, phải gần gũi người hay vật mình ghét và mong cầu mà không được toại nguyện.

Sự Thật Thứ Hai: Tập Đế. Đức Phật giảng về nguyên nhân của các loại Khổ: Đó là ái dục hay luyến ái. Kinh Pháp Cú có ghi lời dạy của Đức Phật: ‘Do Ái Dục sanh phiền não. Do Ái Dục sanh sợ sệt. Người đã hoàn toàn chấm dứt ái dục, không còn phiền não và ít sợ sệt’.

Sự Thật Thứ Ba: Diệt Đế. Đức Phật đề cập đến phương pháp diệt khổ và trạng thái an lạc của niết bàn sau khi sự đau khổ chấm dứt.

Sự Thật Thứ Tư: Đạo Đế. Trong sự thật thứ tư này, Đức Phật chỉ dạy con đường phải đi, có thể nói là con đường duy nhất, dẫn tới sự chấm dứt đau khổ. Con đường đó là Bát Chánh Đạo.

Sau khi đã giảng dạy kỹ lưỡng Bốn Sự Thật Cao Quý đó, Đức Phật lại tóm tắt như sau đối với mỗi sự thật, mà trong Kinh Điển Phật Giáo gọi là Chuyển Pháp Luân. Chuyển Pháp Luân được thực hiện qua 3 giai đoạn, thường được gọi là Tam Chuyển:

Giai đoạn Một gọi là Thị Chuyển, tức là chỉ rõ trạng thái của mỗi sự thật.

Giai Đoạn Hai gọi là Khuyến Chuyển. Trong giai đoạn này, Đức Phật kể lại cái Thấy và cái Biết của Ngài và khuyến khích các đệ tử phải Thấy và Biết như vậy.

Và Giai Đoạn Ba gọi là Chứng Chuyển. Trong giai đoạn này Đức Phật nói về phương pháp được Ngài áp dụng và nhờ đó đạt được Giác Ngộ:

Thị chuyển :

Này các vị Tỳ Kheo !

Đây là sự thật về khổ.

Đây là sự thật về nguồn gốc của khổ.

Đây là sự thật về trạng thái chấm đứt khổ.

Đây là sự thật về con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ.

Khuyến chuyển :

Này các vị Tỳ Kheo !

Đây là sự thật về khổ, cần được nhận thức.

Đây là sự thật về nguồn gốc của khổ, cần được nhận thức.

Đây là sự thật về trạng thái chấm dứt khổ đau, cần được nhận thức.

Đây là sự thật về con đường dẫn đến chấm dứt khổ đau, cần được nhận thức.

Chứng Chuyển :

Này các Vị Tỳ Kheo !

Đây là sự thật về khổ đã được thấu triệt.

Đây là sự thật về nguồn gốc của khổ đã được thấu triệt.

Đây là sự thật về trạng thái chấm dứt khổ đã được thấu triệt.

Đây là sự thật về con đường dẫn đến chấm dứt khổ đau  đã được thấu triệt.

Đức Phật đã kết luận bài pháp "Chuyển Pháp Luân" tại Lộc Uyển như sau:

Hỡi các Tỳ Kheo! Ngày nào mà tri kiến tuyệt đối như thực của Như Lai về bốn pháp Thánh Đế, dưới 3 sắc thái và mười hai phương thức chưa được hoàn toàn sáng tỏ thì cho đến chừng ấy Như Lai không xác nhận là Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác"

Đức Phật giảng xong bài Kinh Chuyển Pháp Luân, thì Ngài Kiều Trần Như chứng quả A La Hán, các anh em của Ngài đắc quả Tu Đà Hoàn và sau này nhờ tu pháp Tứ Đế cũng đều đắc quả A La Hán.

Từ đó trong Phật Giáo có Tam Bảo : Phật Bảo (Đức Thích Ca), Pháp Bảo (pháp Tứ Diệu Đế) và Tăng Bảo (Thánh chúng đệ tử đầu tiên của Phật).

Quay trở lại tìm cái lý đạo trong tướng thị hiện này, ta có thể có nhận thức gì ?

a. Phật pháp rất cao siêu, khó hiểu, khó tu, khó chứng ngộ. Người muốn tu phải có thành tâm, thiện chí cầu đạo thì mới có thể ngộ được phần nào chân lý. Nếu gặp ai cũng đem ra giảng nói là khinh rẻ, là hủy báng tính chất cao quý của chánh pháp và thiếu sự tôn kính đối với Đức Phật. Vì vậy, Đức Phật phải đợi vị Phạm Thiên cung thỉnh đến ba lần Ngài mới đồng ý truyền bá giáo pháp của Ngài. Sau  này, trước khi thuyết những Kinh quan trọng như Kinh Pháp Hoa, Ngài cũng đợi các đệ tử cung thỉnh đến ba lần rồi mới chịu nói.

b. Đức Phật muốn hóa độ người nào, Ngài phải dùng tuệ nhãn quán sát căn cơ của người đó có khả năng lãnh hội giáo pháp không; và khi đã quán sát xong thì Ngài đi đến tận nơi và dùng hạnh nhẫn nhục để hóa độ, như trường hợp của năm anh em ông Kiều Trần Như, ba anh em tôn giả Ma Ha Ca Diếp, tôn giả Vô Não (Angulimala) v.v...Ngài đã biết không phải người nào cũng đủ phước đức và trí tuệ để lãnh hội Phật Pháp nên Ngài không phải là gặp ai cũng giảng pháp. Thí dụ điển hình là vị Đạo Sĩ Bà La Môn mà Ngài gặp trên đường đi đến vườn Nai. Vì biết người Đạo Sĩ này không thể lãnh hội được Phật Pháp nên Ngài đã để mặc ông ta  bỏ đi. Chính vì sự sáng suốt và thận trọng này mà thời Đức Phật tại thế được gọi là thời Chánh Pháp, mười người tu, mười người chứng.

c. Đạo Phật là kết tinh kinh nghiệm của Đức Phật. Dù là bậc đại trí, Ngài cũng không dùng trí tuệ suy luận làm phương tiện giáo hóa mà Ngài đem cái THẤY và chính sự tinh tấn tu hành của Ngài làm phương tiện giáo hóa.

Đây chính là một đặc điểm mà chúng ta thời nay, ngay cả tại những quốc gia rất tiến bộ về khoa học, đã tỏ ra tôn sùng ngôi vị Giáo Chủ của Ngài. Không bao giờ ta thấy Đức Phật chỉ dạy cho đệ tử bất cứ vấn đề gì mà chính bản thân Ngài chưa kinh nghiệm. Chính vì thế, Kinh đã nói: "Chư Phật ba đời không bao giờ nói dối". Sau này, khi đi thuyết pháp độ sanh, Đức Phật cũng khuyên mọi người đừng vội tin những gì Ngài nói. Hãy suy nghĩ và thực hành; nếu có lợi lạc cho mình thì phải nỗ lực thực hiện sự tu hành cho đến khi đạt được đạo quả. Đó là phương pháp Văn (nghe), Tư (suy nghĩ) và Tu (tinh tấn thực hành) trong đạo Phật.

d. Giáo Pháp của Đức Phật vượt khỏi phạm vi luận lý bằng kiến thức thế gian. Đạo của Phật chỉ có thể Chứng Ngộ bằng tuệ giác và nỗ lực thực hành. Không bao giờ Ngài nói giáo pháp của Ngài là một triết lý. Ngài cho những luận bàn mà không một kinh nghiệm thực hành là  hý luận, không giúp ích gì cho người tu hành và không bao giờ có thể đạt được giải thoát. (Ngoại trừ trường hợp dùng lý luận để bác bỏ tà kiến của ngoại đạo như những lý luận Ngài đã dùng để nói các Kinh trong hệ thống Kinh A-Hàm). Đức Phật cũng không bao giờ đích thân nói chỉ có Phật Pháp mới là chánh kiến, mặc dầu sự thật rõ ràng là như thế, như trong trường hợp của Tứ Diệu Đế; và để tránh những xô xát, xích mích tôn giáo; Ngài luôn luôn dạy đệ tử phải tôn trọng đức tin của những tôn giáo khác đương thời.

Có một lần, một vị hiền triết đến hỏi Đức Phật rằng giáo lý của Ngài dạy về vô ngã hay hữu ngã. Đức Phật chỉ im lặng, không trả lời. Sau khi thấy không thể ép Đức Phật xác nhận một bên nào, nhà hiền triết đứng lên ra về. Tôn Giả A-Nan liền bạch Phật : "Bạch Thế Tôn, vì nhân duyên gì Đức Thế Tôn không trả lời cho ông ta như Đức Thế Tôn vẫn dạy chúng con?" Đức Phật nói: "Ông ta đến đây muốn Như Lai nói lên một triết thuyết. Này A Nan, từ trước tới nay, Như Lai chỉ giảng về Khổ và Con Đường Diệt Khổ". Đức Phật chủ trương đạt được quả Giải Thoát, không phải là chỉ học những triết lý cao siêu mà là do thực hành những lời giảng về Tứ Diệu Đế.

đ. Và sau cùng, muốn hoàn toàn giải thoát, người tu hành phải biết buông xả tất cả mọi tri kiến đã học được. Kinh nói: "Khi đáo bỉ ngạn thì Chánh Pháp cũng phải bỏ". Cũng vì vậy, trước khi nhập niết bàn, Đức Phật đã tuyên bố: "Trong hơn 40 năm qua, Như Lai không nói một lời nào". Ta phải hiểu cái "lời" mà Đức Phật không nói ra được lại là cái "lời có thể dẫn đến sự thể nhập chân lý". Nhưng cái "lời" đó lại không thể diễn dịch được bằng ngôn ngữ của cái thế giới hiện tượng này thì làm sao có thể nói lên được.

Những lời Đức Phật đã nói : Trong hơn 40 năm thuyết pháp độ sanh chỉ là những phương tiện mà thôi. Không thể chấp phương tiện để đạt được cứu cánh. Đạt được cứu cánh phải là giáo ngoại biệt truyền như giữa Đức Phật và tôn giả Ma Ha Ca Diếp.

8. Sa La Song Thọ Thị Hiện Niết Bàn Tướng, nghĩa là tại giữa hai cây Sa La, Đức Phật thị hiện tướng nhập niết bàn.

Khi ấy, Đức Phật đã được 80 tuổi thọ. Tuy là một nhân vật phi thường, Ngài vẫn còn mang xác thân ngũ uẩn, mà đã là ngũ uẩn thì phải có bệnh hoạn, già yếu và tịch diệt như bất cứ chúng sanh nào trên thế gian. Ngài thường nói với môn đồ là thân xác của Ngài lúc này, giống như một chiếc xe đã quá cũ và Ngài đã báo tin đó ba tháng trước, đồng thời lựa chọn khu rừng Kusinara  làm nơi nhập diệt.

Nghe Đức Phật sắp nhập niết bàn, Ngài A Nan kêu khóc thảm thiết và hỏi Đức Phật có chỉ định vị đệ tử nào thay thế Ngài lãnh đạo giáo đoàn chăng? Đức Phật đáp: "Này A Nan, Như Lai không nghĩ rằng phải có một người nào lãnh đạo giáo đoàn các Tỳ Kheo, hoặc giáo đoàn phải tùy thuộc nơi người nào. Này A Nan, các con hãy tự coi chính mình là hải đảo, là chỗ nương tựa cho chính mình. Không nên tìm nương tựa vào bất cứ ai bên ngoài. Hãy lấy Giới Luật Giáo Pháp của Như Lai làm Thầy của các con".

Khi Đức Phật đến rừng Kusinara, nhìn thấy những cây Sa La trổ bông và các đệ tử lễ bái tôn sùng Ngài; Ngài đã giáo huấn như sau: "Này A Nan, không phải lễ bái như vậy là tôn trọng, kính cẩn, sùng bái và làm vẻ vang Như Lai đâu. Bất luận người nào thực hành đúng lời giáo huấn, phẩm hạnh trang nghiêm, sống một cuộc đời chân chánh, là người tôn trọng, kính cẩn, sùng bái là làm vẻ vang Như Lai một cách cao thượng nhất".

Đến giờ nhập diệt, Đức Phật còn dạy bảo các đệ tử một lời tối hậu: "Hãy nghe đây, các đệ tử! Như Lai khuyên các con. Tất cả các Pháp Hữu Vi đều vô thường. Hãy tận lực liên tục chuyên cần".

Rồi Ngài nằm xuống chiếc võng mắc giữa hai cây Sa La, đầu hướng về phía Bắc gối lên bàn tay phải, nghiêng mình trên hông bên mặt, chân trái gác dài trên chân phải, tâm hoàn toàn tỉnh giác và nhập Đại Niết Bàn. Hôm đó là ngày trăng tròn của tháng hai.

Chúng ta lại xem về ý nghĩa thành đạo trong tướng Thị Hiện Niết Bàn.

a. Như lúc đản sanh, lúc nhập niết bàn, Đức Phật cũng lựa chọn một phong cảnh thiên nhiên, mặc dầu lúc đó có nhiều tinh xá được xây cất và cúng dường cho giáo đoàn, để nói lên sự thể nhập thiên nhiên của Ngài.

Thời sanh tiền, Đức Phật đã từng nói:"Dù chư Phật có ra đời hay không, chân lý (Phật pháp) đó vẫn có". Chư Phật ra đời để chỉ cho loài người biết cái gì là chân lý mà thôi. Người nào muốn ngộ được chân Lý như chư Phật, tất nhiên phải tu hành tinh tấn, giữ gìn giới hạnh, hành trì giáo pháp của chư Phật. Không thể có con đường nào khác hơn để đạt được giác ngộ và giải thoát. Tám mươi năm tại thế, trong thân thể ngũ uẩn của một người bình thường, Ngài đã để lại cho chúng sanh lịch sử cuộc đời Ngài từ lúc sơ sanh đến lúc nhập diệt, không có một cái gì có thể gọi là  bí mật, hay không có một thời gian nào trong 80 năm đó mà người ta không biết Ngài ở đâu và làm gì.

Ngài đã tuyên bố rất rõ ràng trước ngày nhập diệt: "Này A Nan, Giáo hội các đệ tử còn mong mỏi gì ở Như Lai? Như Lai đã truyền dạy giáo pháp không có sự phân biệt nào giữa giáo lý bí truyền và giáo lý công truyền. Về chân lý, Như Lai không khi nào có bàn tay nắm lại của một ông Thầy". Ngài từ thiên nhiên tới, và cũng từ thiên nhiên đi, giáo pháp truyền dạy cũng là những điều thiên nhiên sẵn có. Tâm Ngài không bao giờ lưu giữ bất cứ cái gì, hoặc tình thương riêng biệt cho người nào, nên Ngài cũng không còn có một chút tham luyến gì nơi cõi Ta Bà. Đó là một sự Siêu Thoát hoàn toàn thanh tịnh.

b. Lời nhắn nhủ :"Các con hãy tự làm hải đảo cho chính mình nương tựa" là lời nhắn nhủ rất thân tình. Ngài đã nhắc cho đệ tử và những người tu theo giáo pháp của Ngài sau này, không nên trông cậy vào bất một ai hay bất cứ một năng lực nào đến từ bên ngoài dù là từ một nhân vật siêu thế nào, để cầu mong một sự ban phước giáng họa.

c. Lời dạy dỗ:"Bất luận người nào hành trì đúng giáo pháp của chư Phật và sống một đời sống chân chánh, phẩm hạnh trang nghiêm là người tôn kính, sùng bái Như Lai một cách cao thượng nhất" là Ngài muốn nói đến Pháp Thân của chư Phật. Cái pháp thân đã hòa nhập vào thiên nhiên, vũ trụ và chân lý nên trở thành bất diệt, luôn luôn thường còn. Tướng niết bàn (nhập diệt) chỉ là tướng thị hiện sự sanh diệt hữu vi mà thôi.

d. Và cuối cùng, Đức Thích Ca nhập diệt, đầu hướng về phương Bắc, mặt ngoảnh về phương Tây... Phải chăng Đức Thích Ca cũng chính là Đức Di Đà ở Tây Phương Thế Giới Cực Lạc, vì lời  nguyện độ khắp chúng sanh mà thị hiện nơi chốn Ta Bà, nay nguyện lực đã viên mãn, Ngài trở về nhà ? Phải chăng như Chư Phật mười phương hoan hỷ hộ niệm giáo pháp của Đức Thích Ca tại chính quốc độ của mình, Đức Phật A Di Đà cũng đang chờ đón cuộc viếng thăm Tây Phương Cực Lạc của Bậc Đại Đạo Sư ?       

Chư Tăng Ni và quý vị Phật Tử thân mến :

Trong hơn  một tiếng đồng hồ vừa qua, Thầy đã cùng quý vị ôn lại lịch sử của Đấng Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni và cuộc đời tu hành cùng công đức hoằng truyền Chánh pháp của Ngài.

Là một nhân vật phi thường, hàng vạn năm mới xuất hiện một người, giáng trần cứu độ nhân loại và muôn loài chúng sanh hữu tình. Như trong phần mở đầu Thầy đã nói, không phải  nhờ sự giáng trần xuống quốc gia Ấn Độ hơn 2500 năm trước đây, Ngài mới tu hành và đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Sự thật là Ngài đã tu hành từ vô luợng kiếp và đắc quả Phật như đã được kể lại trong Túc Sanh Truyện. Nay vì tâm nguyện cứu độ quần sanh và cũng là nhân duyên đúng thời, đúng lúc của nhân loại, Ngài hóa hiện giáng trần để đem ánh sáng của Chân tâm, trí tuệ chiếu rọi, thức tỉnh chúng ta mau trở về với tự tánh bản nhiên của mỗi chúng ta, vốn đã sẵn có, để ra khỏi cảnh trầm luân, tìm đường thoát khỏi sáu nẻo luân hồi. Ngài đã hoàn thành viên mãn tâm nguyện Hạ Hóa Chúng Sanh của một vị Bồ Tát. Sanh thân của Ngài tuy không còn, nhưng pháp thân Tỳ Lô Giá Na vẫn luôn luôn hòa nhập cùng hư không và linh linh thường chiếu.

Hôm nay, tại đạo tràng này, chúng ta cử hành lễ kỷ niệm ngày Ngài đắc quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chúng ta phải tự nguyện chuyên tâm tìm về với pháp thân của Ngài đang luôn luôn ở trong chúng ta. Như trong Kinh Pháp Hoa nói, chúng ta là những cùng tử, vì mê muội mà chúng ta đã bỏ cha, bỏ quê hương, đi lang thang lần hồi kiếm ăn, chịu cảnh cùng khốn, nổi trôi đến nỗi quên cả đường về. Chỉ có chúng ta bỏ Phật chứ Phật có bao giờ nỡ xa lìa chúng ta. Đấng Từ Phụ của chúng ta sẽ hoan hỷ biết bao nhiêu, mỗi lần đón nhận một đứa con thân yêu biết tìm đường trở về nhà.

Con đường đó, Ngài đã mất 80 năm trong cõi Ta Bà uế trược này, làm thân phàm phu để nhắc nhở, chỉ vẽ cho chúng ta. Công đức ấy non nào sánh kịp, biển nào chứa đủ ? Chúng ta là những kẻ có cơ duyên được chút xíu ánh sáng của Ngài chiếu tới, phải biết nương theo ánh sáng đó, như người mù vừa được chữa mắt, dù còn thấy lờ mờ, cũng phải lần mò theo luồng hào quang của Ngài đã chiếu rọi mà trở về với Đấng Cha Lành.

Những buổi lễ như thế này, chỉ là hình thức. Ngài đã từ bỏ cung vàng điện ngọc, ngôi vị Đế Vương cao sang để tìm cho chúng ta một con đường sáng, thì buổi lễ dù có long trọng cách nào chăng nữa cũng chẳng đủ báo đền công đức hy sinh của Ngài. Thầy muốn toàn thể quý vị hãy luôn luôn nhắc nhở tới bản hoài của Ngài "Thượng cầu Phật Đạo, Hạ Hóa Chúng Sanh" mà dõng mãnh phát tâm Bồ Đề để biến cái quốc độ uế trược này thành một cõi trang nghiêm Tịnh Độ của Ngài. Mong tất cả hãy cố gắng !

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

14. Tu Tâm và Dưỡng Tánh

 

Cùng chư Tăng Ni và quý Phật tử thân mến :

Sách đại học của nhà nho có câu :

‘Dục bình thiên hạ, tiên trị kỳ quốc.

Dục trị kỳ quốc, tiên tề kỳ gia.

Dục tề kỳ gia, tiên tu kỳ thân.

Dục tu kỳ thân, tiên chánh kỳ tâm’.

Nghĩa là :

‘Muốn cho thiên hạ được hòa bình thì trước hết, mỗi nước phải được thạnh trị.

Muốn cho mỗi nước được thạnh trị, trước hết mỗi gia đình phải được hòa thuận.

Muốn cho mỗi gia đình được hòa thuận thì trước hết phải sửa đổi những hành vi bất chánh nơi thân mình.

Muốn sửa đổi những hành vi bất chánh nơi thân mình, trước hết phải tu sửa cho Tâm mình được đoan chánh, ngay thẳng’.

Sách nho chỉ dạy cách học làm người thế gian, tức là làm người phàm phu, mà còn dùng phương pháp ‘chánh tâm’ làm căn bản; lẽ nào chúng ta, những người tu hành, đang học đạo làm Thánh, làm Phật với mục đích cao thượng  hơn nhiều, là giải thoát sanh tử luân hồi, lại thờ ơ trong việc tu tâm được?

Người phàm phu nơi thế gian thường nói : ‘Tu Phật là tu tâm, đâu cần phải ở chùa, tụng kinh, gõ mõ, ăn chay, niệm Phật, mới là tu’. Câu đó đúng, nhưng chỉ đúng với các bậc đã giác ngộ, đã nhận chân lý, đã thấu rõ luật nhân quả huyền vi. Hạng phàm phu tục tử mà cũng dám học đòi, nói câu đó thì chỉ giống như con vẹt học nói tiếng người. Khi được hỏi đến tâm là gì? Tâm ở đâu? thì nói đông nói tây, cưỡng từ đoạt lý, chỉ nam chỉ bắc mà thật sự chẳng hiểu tâm là gì? Tâm từ đâu đến? Tại sao biết có tâm?

Đạo Phật là đạo của tâm, dùng tâm làm cứu cánh cho mục đích giải thoát sanh tử; nên chúng ta, những người tu hành, vì mục đích cuối cùng đó, càng phải biết rõ về tâm. Không biết rõ về tâm thì sự tu hành của chúng ta không bao giờ đạt được kết quả, trở thành bậc giác ngộ, độ được cho mình và độ được cho người.

Trong thời mạt pháp hiện nay, đa phần những người xuất gia, mặc dầu đã thọ Đại Y giải thoát, cũng vẫn tiếp tục tạo nghiệp, tu hành buông lung cạn cợt, chỉ vì không biết rõ về tâm và tánh. Tổ Sư đã gọi những người này là hạng ‘Thử tức, điểu không’. ‘Thử tức, điểu không’ nghĩa là khi nghe nói ‘Phật tức tâm, tâm tức Phật’ thì cũng chỉ biết lải nhải theo như con chuột kêu ‘tức tức...’, nghe nói ‘Vạn pháp giai không’ cũng chẳng hiểu cái ‘tánh không’ là thế nào, mà lúc nào cũng giống như con chim học nói tiếng người, suốt ngày chỉ biết bắt chước mà kêu réo ‘không không...’.

Do đó, trong thời pháp khai thị hôm nay, Thầy sẽ giảng cho quý vị rõ về tâm và tánh, vì tâm và tánh giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc tu hành của quý vị. Dù quý vị tu hành theo pháp môn nào, thiền, tịnh hay mật, cũng phải lấy tâm và tánh làm tông chỉ tu hành. Có biết rõ tâm thì mới tu, mới sửa được tâm. Biết rõ tánh thì mới nuôi  dưỡng được tánh.

Phàm là chúng sanh hữu tình, loài nào cũng có tâm và có tánh. Riêng loài người là loài tối linh ư vạn vật, thì cái tâm và cái tánh được hiển lộ dưới thiên hình vạn trạng, rất khó điều dưỡng. Tâm tánh con người có thể đưa con người trở nên các bậc Thánh, nên nói con người có Phật tánh, linh tánh. Trong loài vật, tâm và tánh hiển lộ rất hạn chế, không có khả năng sửa đổi, tu dưỡng nên nói là vật thì có Pháp tánh.

Nhưng con người, dù là tối linh ư vạn vật, nhưng không phải ai cũng là Thánh. Vì nghiệp thức và công năng tu tâm dưỡng tánh mà có Thánh có Phàm. Người có tâm tánh rộng lớn, có lòng thương xót, lợi ích đến chúng sinh mọi loài, chu biến pháp giới, không từ bỏ loài nào mà không thương xót thì sẽ trở thành Thánh. Người có tâm tánh nhỏ hẹp, chỉ bo bo ôm lấy cái tính ích kỷ, chỉ biết làm lợi ích cho mình, coi thường những tổn hại đến người khác, loài khác thì thuộc loại phàm phu.

Mặc dầu tâm vốn không khác; không tăng ở hàng Thánh, không giảm ở loài sâu kiến, côn trùng, nhưng sở dĩ có lớn có nhỏ, có rộng có hẹp là do công năng tu luyện phát triển, làm cho tâm đến chỗ toàn chân, toàn thiện và toàn mỹ; hoặc để cho vọng tình, vọng tưởng, tham dục thế gian làm ô nhiễm. Vì vậy, có tâm nhưng phải biết tu, có tánh cũng phải biết dưỡng. Sách có câu :

Người đời sớm phải tri cơ,

Gương lu vì bụi, trăng lờ vì mây,

Chở che nhờ đức cao dầy,

Dẫu tu cho mấy không tầy tu tâm.

Con người sinh ra, dẫu sẵn có cái tâm tánh của Thánh, bản nhiên thanh tịnh đồng như chư Phật, nhưng vì nghiệp thức mà cái tâm Phật, tánh Phật đó ví như tấm gương trong sáng bị bụi bậm bám lên, như mặt trăng hằng chiếu rọi nhưng bị mây che lấp nên gương và trăng không hiển lộ, chiếu rọi được bản tánh trong sáng. Muốn đạt được tâm tánh sáng suốt đồng chư Phật, phải biết lau chùi cho hết bụi phủ trên gương, phải biết làm như gió, thổi tan đám mây mờ che lấp mặt trăng.

Để quý vị có thể hiểu rõ hơn, Thầy sẽ định nghĩa từng chữ trong từ ngữ Tu Tâm Dưỡng Tánh.

Tu là sửa đổi, tu tập, luyện tập. Sách Nho gọi đó là  ‘Chánh kỳ Tâm’. Người tu tâm phải nhận biết sự vật đúng như tự tánh của chúng. Đối nghịch với chánh là tà vạy, là điên đảo, là cong quẹo, lợi mình hại người. Đức Phật đã chỉ bày cho chúng ta biết phương thức đi vào ‘chánh tâm’ bằng con đường thực hành Bát Chánh Đạo. Từ hành động, lời nói, ý nghĩ, từ mạng sống, nghề nghiệp, phải có nhận thức cho đúng đắn.

Muốn sửa cho tâm ngay thẳng, con người phải biết tôn trọng và thương yêu người khác, loài khác vì chính mình cũng muốn được người khác và loài khác tôn trọng và thương yêu. Phải hiểu rõ rằng sự hiện diện của mỗi loài, mỗi người, trên trái đất này cũng quan trọng như sự hiện hữu của mình. Những hành động, lời nói hay tư tưởng gây đau khổ, phiền não cho người khác, loài khác đều là hành động, lời nói, tư tưởng không chân chính, không ngay thẳng.

Trước khi làm việc gì, nói lời gì hay suy nghĩ gì đều phải đặt sự lợi ích của người khác, loài khác làm đề mục tư duy, đừng để cho cái Ta và cái lợi cho Ta, sản phẩm của Mạt Na Thức, chi phối. Như vậy gọi là sửa đổi, tu tập hay tu luyện.

Chữ tu trong đạo Phật còn có ý nghĩa tích cực, cao cả hơn. Đạo Phật không chủ trương mưu cầu an lạc, hạnh phúc riêng cho mình, dù là không tổn hại đến người khác, loài khác, mà người tu theo Phật, phải đem lại sự an vui, hạnh phúc cho mọi người, mọi loài khác. Đức Phật cho rằng, nếu chỉ có một mình mình được sống an vui, hạnh phúc trong một quốc độ đầy dẫy sợ hãi, đau khổ, thì cái an vui và hạnh phúc của mình không trọn vẹn, không an ninh.

Ví như một người giàu có sống giữa một xã hội đầy bất công, nghèo đói, khổ sở thì sự giàu có của người đó khó mà được bảo đảm vì lúc nào cũng lo sợ bị ăn trộm, ăn cướp. Không phải chỉ riêng của cải có thể bị trộm cướp, ngay cả tính mạng cũng không an toàn. Đã có lo sợ thì hạnh phúc, an vui không được trọn vẹn. Quan niệm này được thấy rất rõ khi Đức Phật còn là Thái Tử Tất Đạt Đa, dạo chơi ngoài hoàng thành, nhìn thấy những đau khổ của con người, sanh lòng lo sợ cho chính mình và thương xót cho thân phận con người qua những chu kỳ già, bệnh và chết. Cũng vì thấy rằng, trong ngôi vị Thái Tử và Quân Vương, tuy Ngài có thể có đầy đủ hạnh phúc và sung sướng vật chất thế gian, nhưng hạnh phúc đó được tạo ra bằng mồ hôi, nước mắt của những người hầu hạ, và rồi Ngài cũng sẽ già, sẽ bệnh và sẽ chết, không mang theo được sự sung sướng vật chất đó, nên cái hạnh phúc Ngài đang có không phải là cái hạnh phúc trọn vẹn, lâu bền. Ý chí đi tìm một con đường giải thoát lo sợ, khổ đau cho chính mình và cho loài người, loài vật, đã đè nặng tâm tư của Ngài và thúc giục Ngài từ bỏ cái an vui tạm bợ thế gian để đi tìm cái an vui đích thực, trọn vẹn, an toàn và vĩnh cửu cho mình và cho chúng sanh.

Trong pháp tu Tứ Chánh Cần là bốn phép tu siêng năng tinh tấn thì hai phép đầu là :

Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sanh, và Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sanh có tính chất tự lợi, tiêu cực.

Hai phép sau : 

Tinh tấn phát triển những điều lành chưa phát sanh, Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đã phát sanh,  là pháp môn tu tập có tính chất lợi tha, tích cực.

Trong pháp tu Thập Thiện là dứt trừ những việc bất thiện của thân, miệng và ý là pháp tu tự lợi. Tích cực phát triển những việc thiện của thân, miệng và ý là pháp tu lợi tha.

Cho nên trong chữ tu của đạo Phật, bao gồm phần tiêu cực là tự sửa đổi tâm tánh không ngay thẳng của mình và phần tích cực là luôn luôn đặt lợi ích của chúng sanh lên hàng đầu, nhà Phật gọi là nhiêu ích hữu tình. Đó cũng là bản hoài của chư Phật, chư Bồ Tát thị hiện giáng trần. Các Ngài không an hưởng niết bàn mà phát nguyện nhập thế độ sanh. Quý vị tu theo đạo Phật thì phải theo hạnh độ sanh của chư Phật, của chư Bồ Tát. Như thế mới gọi là thực hành đúng nghĩa chữ tu của người con Phật.

Bây giờ, chúng ta hãy tìm hiểu tâm (tiếng Phạn là Citta) là gì? Tâm được định nghĩa là sự hiểu biết, phân biệt, là tâm linh, linh tánh v.v... Tâm còn là căn cứ phát khởi hành động, cảm thọ. Nói cách khác, tâm là phần tinh thần của loài hữu tình.

Trong Kinh Pháp Cú (Dhammapada), Đức Phật dạy : ‘Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm là chủ, tâm tạo tác tất cả...’. Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật giảng cho Ngài A Nan và Vua Ba Tư Nặc : Tâm là cái thấy nhưng cái thấy này khác với cái thấy của con mắt. Con mắt có thể bị mù, nhưng cái thấy không bị mất. Cái thấy (tâm) không già, không trẻ, không sanh, không diệt. Người chết rồi, tâm bỏ thân này, thọ thân khác. Hòa Thượng Thích Thiện Hoa định nghĩa : Tâm là ‘cái hiểu biết, phân biệt’ cũng gọi là phần tinh thần của con người. Tâm không có hình tướng dài, ngắn, vuông, tròn hay có màu sắc xanh, đỏ, trắng, vàng gì. Không thể dùng con mắt mà thấy được tâm; không thể dùng lỗ tai mà nghe được tâm; cũng không thể dùng tay chân mà rờ đụng được tâm; chỉ do thấy cái tác dụng của nó mà biết có tâm.

Duy Thức Học lại nói : Tâm gồm tám thức tâm vương và 51 tâm sở.

Tâm được định nghĩa qua Kinh và Luận bao gồm thiên hình vạn trạng như thế. Ngôn ngữ thế gian không đủ để tả cái mà Đức Phật gọi là ‘chơn tâm’.

Để quý vị khỏi bị rối loạn về nghĩa của tâm, Thầy cũng miễn cưỡng, tóm tắt  định nghĩa về tâm như sau :

Tâm là sự hiểu biết, phân biệt, chủ tể của vạn pháp. Tâm không hình, không tướng, không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch. Trên, nơi Phật Thánh, không tăng; dưới, nơi côn trùng, không giảm. Lớn như Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, nhỏ như hạt bụi trần gian, vô hình như ba cõi, chín địa; hữu hình như chén nước, cọng rau; chỗ nào cũng có tâm, cái gì cũng là tâm. Từ vô thỉ, loài hữu tình sanh ra đã sẵn có tâm. Tâm không từ đâu đến (vô lai), chẳng có chỗ đi (bất khứ). Tâm không ở một chỗ nhứt định nào (ưng vô sở trụ) mà chỗ nào cũng có tâm (nhi sanh kỳ tâm)’. 

Trong phần sau, khi nói tới các loại tâm, quý vị sẽ hiểu rõ hơn.

Dưỡng là gì ? Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường nghe đến hai chữ tu dưỡng đi đôi với nhau, và tưởng như hai chữ này là một động từ kép để nói lên sự sửa đổi tánh nết con người.  

Thật ra, mỗi chữ có nghĩa riêng của nó. Tu là sửa đổi, có ý nghĩa là diệt trừ cái xấu, chuyển cái xấu thành cái tốt; trong khi dưỡng không có ý nghĩa sửa đổi hay diệt trừ. Dưỡng là hành động đi sau hành động tu, nghĩa là sau khi cái xấu đã được chuyển hóa thành cái tốt rồi, thì dưỡng là hành động lựa chọn phương pháp để phát triển cái tốt vừa được chuyển hóa, hành động này gọi là điều dưỡng; hoặc làm cho cái tốt được tồn tại, không biến trở lại thành cái xấu. Hành động này gọi là bảo dưỡng; hoặc làm cho cái tốt được phát triển thành tốt hơn, gọi là nuôi dưỡng. Thí dụ như trong phép tu Tứ  Chánh  Cần.

Ba phép đầu :

- Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sanh.

- Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sanh.

- Tinh tấn phát triển những điều lành chưa phát sanh là hành động tu.

Phép thứ tư :

- Tinh tấn phát triển những điều lành đã phát sanh.  là hành động dưỡng.

Nói cách khác, tu có tính chất tiêu cực, tự lợi. Dưỡng có tính chất tích cực, lợi tha. Hòa Thượng Thích Thiện Hoa nói : Tu là trừ mà dưỡng là cộng. Trong nhà Phật, khi nói đến hai chữ dưỡng tánh, chúng ta nên hiểu cái tánh được nuôi dưỡng không chỉ có ý nghĩa cạn cợt là những tánh nết tốt trong đạo làm người thế gian, mà còn có ý nghĩa cao cả hơn và siêu xuất thế gian là nuôi dưỡng và phát triển Phật tánh sẵn có đang tiềm tàng trong mỗi chúng ta.

Tánh, tiếng Phạn là Cetasika, có nghĩa là tánh tình, tức là trạng thái, hành động phát sinh bởi tình cảm của loài hữu tình, thí dụ như tánh ủy mị, tánh nóng nảy, tánh kiêu căng v.v... Tánh cũng có nghĩa là tánh căn. Các thức (bát thức và tâm sở) tiếp xúc với trần hay cảnh, nương theo trần, cảnh mà phát sinh ra.

Thí dụ như tánh yêu ghét, tánh phân biệt v.v... và cũng có nghĩa là tánh đức. Tánh đức là tánh của Phật, của Thánh, của bậc Giác Ngộ v.v.... Giữa tâm và tánh không khác nhau bao nhiêu, thật ra, cũng chỉ là một. Tánh cũng là ‘cái hiểu biết và phân biệt’ của tâm, được huân tập, hiển lộ (hiếu động). So sánh tâm và tánh cũng giống như so sánh nước và sóng. Ta có thể nói tâm như nước (tướng yên lặng) và tánh như sóng (tướng chuyển động). Tướng có khác, nhưng thể không khác. Tâm và tánh là một như nước với sóng là một.

Bây giờ, chúng ta hãy tìm hiểu tâm có mấy thứ? Trước khi nói về các thứ tâm và tánh, Thầy muốn mở một dấu ngoặc ở đây để nói về phạm vi bài giảng hôm nay. Trong mục đích giúp quý vị tìm hiểu, quán sát cái tâm và tánh thường hiển lộ hàng ngày, trong lúc quý vị tu hành để giải thoát khỏi thất tình lục dục của phàm phu mà bước lên mức độ siêu thoát của hàng Thánh, hàng Phật. Thầy không có ý phân tách cái tâm và tánh như Duy Thức Học.

Thế nên, quý vị hãy tạm rời bỏ những phân tích, giải thích tâm và tánh của Duy Thức. Hôm nay, Thầy chỉ muốn nêu lên sự khác biệt về tâm và tánh giữa phàm phu như chúng ta và hàng Thánh như các bậc đã giác ngộ.

Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu về hai thứ Tâm: Phàm Tâm Thánh Tâm. Thế nào gọi là Phàm Tâm và thế nào gọi là Thánh Tâm?

Phàm Tâm có mấy loại ? Qua Kinh điển, Thầy phân loại phàm tâm thành ba loại :

1)      Thức Tâm.

2)      Viên Tâm và

3)      Cấu Tâm

1.      Thức tâm là gì?

Là cái tâm nương theo sự hiểu biết của tám thức: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức a lại da thức. Đức Phật gọi cái tâm này là vọng tâm, nghĩa là cái tâm u mê, mờ tối. Có hiểu biết nhưng là cái hiểu biết hư dối. Những hiểu biết của thức, vì có nhân vô minh nên sanh ra chuyện này chuyện khác. Kinh có câu : ‘Vạn pháp duy Thức’. Vì cái hiểu biết của thức là cái hiểu biết bị màn vô minh che lấp, cái hiểu biết bị gió nghiệp chi phối, không hiểu lẽ huyền vi của luật nhân quả và lý duyên sanh, nên tâm nương theo cái hiểu biết si mê đó mà cho là có, là thiệt. Những hành động do thức tâm phát khởi chỉ là những hành động tạo nghiệp, dẫn dắt con người đắm chìm trong đau khổ và phiền não mà lưu chuyển trong sanh tử luân hồi.

2.      Viên tâm :

Viên là con vượn. Viên tâm là tâm hay giao động như con vượn hay nhảy từ cành này qua cành khác, lăng xăng, thay đổi luôn luôn. Sáng quyết định tinh tấn tu hành, chiều lại thối chí sợ lâu, ngại khó. Tuy có tọa thiền, nhưng chỉ tọa được cái thân, còn cái tâm thì khởi nghĩ hết chuyện này tới chuyện khác, chuyện quá khứ, hình ảnh xa xôi v.v... không lúc nào yên. Niệm Phật mà tâm không gắn liền vào câu niệm Phật, mắt nhìn ngang nhìn dọc. Cái tâm lăng xăng, như con vượn chuyền cành này, là một chướng ngại trong việc tu hành.

Điển hình cho cái tâm lăng xăng này là câu chuyện của Đại Sư Thần Quang cầu đạo. Mặc dầu Thần Quang Đại Sư đã là một vị cao tăng, chân tu và có ý chí dõng mãnh, chịu đứng suốt đêm dưới mưa tuyết và chịu chặt cánh tay để tỏ sự quyết tâm cầu đạo của mình, nhưng vẫn không giữ được cái tâm cho an định. Thế nên, ngay câu đầu tiên xin Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền đạo là xin được truyền phép an tâm. Hiển nhiên, Đại Sư đã có chướng ngại trong việc tu hành vì tâm không an. Chỉ đến khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma bảo Ngài đem cái tâm ra để Tổ an cho, Thần Quang Đại Sư mới đắc đại ngộ và đạo nghiệp mới được khai mở để đưa Ngài lên địa vị Tổ thứ hai của Phật Giáo Đông Độ với pháp hiệu Huệ Khả.

3.      Cấu tâm là gì ?

Cấu tâm là cái tâm bị ô nhiễm của phàm phu. Cấu tâm làm cho con người chấp cái thân là thiệt, là thường còn, nên lúc nào cũng lo cho cái thân được hưởng thụ. Cái tâm lúc nào cũng đắm chìm trong ngũ dục : Tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. Suốt đời chỉ lo cho cái thân vật chất và tạo tác những hành động, lời nói và tư tưởng với mục đích vị kỷ. Chính cái cấu tâm là nguồn gốc của đau khổ và phiền não trong cuộc sống hàng ngày vì bị cái thân đòi hỏi, chi phối, không lúc nào biết đủ.

Tóm lại, cái tâm phàm phu là cái tâm ích kỷ, nhỏ hẹp và gây chướng ngại trong sự tu hành của quý vị. Hàng ngày, chúng ta cứ sống bằng cái tâm phàm phu nên không lúc nào cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thoát. Mặc dầu quý vị cũng theo đủ các thời khóa lễ, cũng tụng kinh, niệm Phật và tưởng rằng như thế là tu. Quý vị hãy thử tự quán sát xem cái tâm nó có để cho quý vị được yên ổn không? Trước khoá lễ, quý vị có dành đủ thì giờ để chuẩn bị cho thân tâm thanh tịnh không? Trong khoá lễ, quý vị có để cho ý thức dẫn dắt quý vị vào những suy nghĩ mông lung gì khác ngoài việc tụng Kinh không? Mỗi lần xướng hồng danh Phật, quý vị có quán tưởng đến tướng hảo quang minh của chư Phật không? Quý vị có cảm thấy hồi hộp, khó chịu thi thấy câu Kinh mình đọc không hòa được với nhịp mõ không? Quý vị có để ý tới người bên cạnh, đằng trước, đằng sau xem người ta có trang nghiêm giống như mình không? Quý vị có ý định nói cho người ta biết sau khóa lễ không? Sau thời Kinh, quý vị có cảm thấy nhẹ nhàng thanh thoát không?

Những câu hỏi đó đều là những phân tách chướng ngại để quý vị tự quán sát xem mình có nhất tâm chưa? Chỉ có chính quý vị mới tự quán xét và sửa đổi được. Nếu quý vị còn cảm thấy nặng nề, còn suy lường so sánh, còn lo sợ Thầy quở, bạn chê, còn lăng xăng suy nghĩ thì quý vị phải tự lo liệu mà tìm cách sửa đổi cho tâm được nhẹ nhàng thanh thoát. Thầy cũng không sửa giùm quý vị được, bạn cũng không làm giúp quý vị được. Như thế gọi là tu, nghĩa là lúc nào cũng tỉnh thức trong mỗi hành động, mỗi lời nói, mỗi suy nghĩ chỉ có tánh chất hướng thượng và viên mãn. Như thế mới gọi là tu.

Bây giờ chúng ta hãy bước qua phần tìm hiểu về cái tâm của các bậc Thánh. Các bậc Thánh ở đây, Thầy muốn nói đến các vị đã đắc được các quả vị A La Hớn, Duyên Giác, Bích Chi và Bồ Tát. Các vị này đã đắc được quả vị Vô Sanh, có cái trí vô lậu; tuy có thể còn mang cái thân phàm phu như chúng ta, nhưng tâm của các ngài, trừ quả vị A La Hớn chủ trương giải thoát phiền não, đã vượt khỏi hệ lụy thế gian, giải quyết sanh tử và an hưởng niết bàn, là cái tâm rộng lớn, lúc nào cũng mang nguyện cứu độ chúng sanh.

Chư vị Bồ Tát vì đại nguyện mà thị hiện xuống thế gian, mượn cái thân phàm phu làm phương tiện hóa độ, mang cuộc đời tu hành tinh tấn của các Ngài, cũng trải qua những chu kỳ sanh, trụ, dị, diệt của định luật thiên nhiên, cũng trải qua những tai kiếp trần gian, làm phương tiện để chỉ cho chúng sanh phương pháp tu hành đạt Thánh quả. Cuộc đời của các Ngài là phương tiện thân giáo, là những bài học, những tấm gương quý báu cho người đời noi theo và để chứng minh lời dạy của Đức Thế Tôn : ‘Trong mỗi chúng sanh đều có Phật Tánh’ ‘Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành’.

Cũng như đã nói về phàm tâm, Thầy cũng phân Thánh tâm thành ba loại :

1)      Chí thành tâm.

2)      Thâm tâm và 

3)      Hồi hướng phát nguyện tâm. 

1) Chí thành tâm là thế nào?  Người có tâm chí thành là người có cái tâm thành thực, tuyệt đối không bao giờ hư dối trong việc làm, lời nói và tư tưởng. Phàm làm việc gì cũng đem tất cả khả năng của mình để thực hành cho đến viên mãn. Người có tâm chí thành luôn luôn hành động theo chiều hướng : Hướng đi lên, hướng Thánh thiện, hướng đạo đức, hướng giải thoát và hướng xuất thế gian. Trong Kinh có câu : ‘Độ tận chúng sanh, đạo ta mới thành’. Đó là cái Tâm chí thành của chư Thánh, chư Bồ Tát. Trong Kinh Sám Nhật Tụng, quý vị hàng ngày đọc tụng tứ hoằng thệ nguyện :

     ‘Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,

     Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,

     Pháp môn vô lượng thệ thệ nguyện học,

     Phật đạo vô lượng thệ nguyện thành’.

hoặc lời nguyện của A Nan Tôn Giả trong Kinh Lăng Nghiêm :

     ‘Thuấn nhã đa tánh khả tiêu vong,

     Thước ca ra tâm vô động chuyển’.

Đó là những thí dụ điển hình cho tâm chí thành của các bậc Thánh. Trong cuộc sống hàng ngày của quý vị, nhất nhất mọi hành động, lời nói, tư tưởng đều phải nên thực hiện với cái tâm chí thành đó. Mỗi việc làm, phải đem tất cả khả năng mà làm cho tới khi viên mãn, không để một kẽ hở nào cho người ta còn có thể thấy và phê bình là mình đã làm công việc một cách thiếu thành thực. Nếu công việc mình làm bị phê bình là dở, là không đẹp, là không hay v.v... thì trước hết mình phải có cái thiện chí học hỏi, sau khi đã tận dụng khả năng, để có thể thành tựu tốt đẹp hơn; sau đó là tự khảo sát cái công việc đó có được thực hiện với tất cả sự thành thực của mình hay chưa? Phải nên coi những lời phê bình, chỉ trích như những sự khảo xét trong ‘Tuyển Phật Trường’. Thực hành được một cách viên mãn là quý vị đã chuyển được cái hiểu biết hữu lậu của tiền ngũ thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) thành cái hiểu biết (trí hay tâm) vô lậu  thành Sở Tác Trí.

2. Thâm tâm : Thâm là sâu sắc. Tâm là cái hiểu biết.  Thâm tâm là hiểu biết sâu sắc, hiểu biết đến tận cùng nguồn gốc tự tánh của các pháp và phát khởi lòng tin kiên cố, không lay chuyển.  

Chỉ khi nào quý vị biết được tận cùng bản thể của các Pháp, quý vị mới có thể phát khởi được tín tâm hay thâm tâm kiên cố. Thế nào là lòng tin kiên cố? Xưa Mã Tổ có một vị đệ tử là Ngài Hoàng Mai.

Hoàng Mai Đại Sư, một hôm hỏi Mã Tổ : ‘Phật là gì?’.

Mã Tổ đáp : ‘Phật tức tâm’.

Hoàng Mai Đại Sư đại ngộ và từ biệt Thầy, về núi Mai Tử ẩn tu.

Vài năm sau, có một đệ tử khác của Mã Tổ tìm đến viếng Hoàng Mai Đại Sư và hỏi : ‘Đại Sư được pháp gì của Mã Tổ?’

Sư đáp : ‘Phật tức tâm’.

Vị đệ tử nói : ‘Gần đây, Mã Tổ thường dạy ‘Phi tâm phi Phật’, ý Đại Sư thế nào?’.

Sư cười và đáp : ‘Mặc cho ông già nói gì thì nói, Ta chỉ biết một điều Phật tức tâm’.

Người đệ tử về trình lên Mã Tổ. Mã Tổ ha hả cười và nói : ‘Trái mai đã chín’.

Qua câu chuyện trên, cái tín tâm kiên cố là cái thâm tâm của bậc Thánh. Sau khi đã nhận thức được cái bản thể của Pháp và đã phát khởi lòng tin, dù ông Thầy mình có nói khác cũng không thay đổi được thâm tâm của mình.

Khi còn tại thế, Đức Phật không muốn người đời tin lời Ngài một cách nông cạn và vội vàng nên Ngài đã nói : ‘Đừng vội tin những lời Như Lai nói. Hãy đem về suy nghĩ kỹ càng và thực nghiệm trong đời sống. Nếu thấy lời của Như Lai là đúng với sự thật, mang lại hạnh phúc cho mình và cho người, bấy giờ hãy nên tin. Bởi vì các người chỉ có thể tin sâu đậm sau khi đã thực nghiệm với chính bản thân. Sau khi đã có lòng tin, hãy tinh tấn thực hành lời của Như Lai. (Kinh Cho Người Kalamas).

Thâm tâm của các bậc Thánh là căn bản phát khởi tín tâm kiên cố. Tín tâm cũng là một trong ba điều kiện cốt tủy (tín, nguyện, hành) của Tịnh Độ tông. Trong khi tu luyện thâm tâm, quý vị cũng cần quán sát các pháp cho thật thâm sâu và phải phát khởi tín Tâm kiên cố, bất thối chuyển. Chúng ta hãy xem các bậc trí giả đã có thâm tâm kiên cố vào những điều gì?

1) Tin kiên cố rằng Chư Phật ba đời không hề nói dối.

2) Tin vào chánh pháp. Những lời của Đức Thích Ca dạy trong suốt 49 năm giáo hoá chúng sinh là những phương pháp hữu hiệu, thực tiễn nhằm giúp chúng sinh sống một cuộc sống không còn lo sợ, bớt đau khổ, phiền não và hướng dẫn những người xuất gia tu hành tìm lại được cái bản thể thanh tịnh và thoát khỏi Sinh Tử Luân Hồi.

3) Tin Tăng là các bậc chân tu, là những người đem giáo lý của Phật tới ban cho chúng sanh.

4) Tin vào chân lý là Pháp Tứ Diệu Đế, tức là bốn sự thật cao quý.

5) Tin rằng thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, do Đức Thích Ca giới thiệu, là hiện hữu và cầu vãng sanh.

6) Tin vào lý ‘Tự Tánh Di Đà, Duy Tâm Tịnh Độ’. Chỉ cần trở về được với chân tâm thì thế giới Cực Lạc hiện tiền.

7) Tin vào tánh bình đẳng và bất biến của luật Nhân Quả, Nghiệp Báo.

8) Tin vào lý Duyên Sanh. Các hiện tượng đều là giả hợp, không có tự tánh cố định. Các pháp hữu lậu đều vô thường.

9) Tin Bát Chánh Đạo là con đường duy nhất dẫn tới giác Ngộ, Giải Thoát.

10) Tin vào lời dạy của Đức Thích Ca : Mọi người đều sẵn có đầy đủ Phật tánh và khả năng thành Phật.

Trên đây, Thầy chỉ lược kể những đức tin căn bản của các bậc trí. Quý vị tu hành, muốn bước lên hàng Thánh, phải dùng cái Tâm sâu sắc để quán sát và phát khởi lòng tin, thực hành triệt để những điều mình đã tin. Khi đã phát khởi được tín tâm hay thâm tâm là quý vị đã chuyển được cái thức thứ sáu (ý thức) hữu lậu của phàm phu thành cái trí hay cái thâm tâm vô lậu của hàng Thánh giả : Diệu Quán Sát Trí và chuyển thức thứ bảy (Mạt Na Thức) thành Bình Đẳng Tánh Trí.

3. Hồi hướng phát nguyện tâm : Đây là bản hoài của chư Phật ba đời. Trong Kinh Sám Hối Hồng Danh có câu : ‘...Hoặc tu tịnh hạnh, căn lành đã có, tu hạnh bồ đề, căn lành đã có và trí vô thượng, căn lành đã có. Tất cả hợp lại, so sánh trù tính, đều hồi hướng cho quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng, Chánh Giác. Như các Đức Phật đời quá khứ, hiện tại và vị lai đã làm việc hồi hướng....’ Tâm phát nguyện hồi hướng là tâm của chư Phật ba đời. Đây chính là tư tưởng của đại thừa Phật giáo. Các bậc Thánh, sau khi đã đắc quả vị Thánh, đều phát nguyện hồi hướng để dẫn dắt chúng sinh cùng tu hành để ‘đồng thành Phật đạo’.

Tâm phát nguyện hồi hướng là tâm của bậc Thánh, lúc nào cũng thương xót chúng sanh muôn loài, chỉ nghĩ đến lợi ích của chúng sanh mà thị hiện xuống thế gian để hóa độ muôn loài. Chúng ta hàng ngày đọc tụng Kinh Sám của các Vị Tổ Sư đều thấy cái tâm phát nguyện hồi hướng của chư Tổ. Như trong Sám Quy Mạng của Tổ Qui Sơn, có câu : ‘... nhiên hậu bất xả pháp giới, biến nhập trần lao...’ hoặc trong Sám Khể Thủ của Tổ Vân Thê : ‘...nhiên hậu bất vi an dưỡng, hồi nhập Ta Bà, phân thân vô số...’. Đó là cái tâm phát nguyện hồi hướng của các bậc đã giác ngộ, sau khi đắc đạo, không an trụ nơi thánh vị, thụ hưởng niết bàn mà đều phát nguyện trở lại trần gian cứu vớt  chúng sanh.

Đến đây, Thầy đã cùng quý vị khảo sát các loại tâm của phàm phu và tâm của các bậc Thánh. Thầy trích dẫn lời của Đức Phật Thích Ca trong Kinh Pháp Cú về tâm phàm và tâm Thánh để quý vị tư duy thâm nhập, lấy đó làm đề mục mà tiến tu đạo nghiệp :

...Tâm kẻ phàm phu thường xao động biến hóa, rất khó chế phục, gìn giữ; nhưng kẻ trí lại chế phục tâm mình, làm cho chánh trực một cách dễ dàng, như thợ khéo uốn nắn mũi tên’ (câu 33).

...Tâm phàm phu cứ xoay vần theo ngũ dục, biến hóa u ẩn, khó thấy, nhưng người trí lại thường phòng hộ tâm mình, và được yên vui, nhờ sự phòng hộ ấy’ (câu 36).

...Người Tâm không an định, không hiểu biết chánh pháp, không tín tâm kiên cố, thì không thể thành tựu trí huệ cao siêu’ (câu 38).

...Thân này thật là ngắn ngủi ! Nó sẽ ngủ một giấc ngủ dài dưới ba thước đất, vô ý thức, bị vất bỏ như khúc cây khô vô dụng’ (câu 41). 

Bây giờ, nói về tánh (Cetadika). Củng như nói về tâm, Thầy cũng sẽ nói về hai loại tánh : Phàm tánh và Thánh tánh. Trong Phàm tánh cũng có ba loại : 

A) Chúng sanh tánh.

B) Dục tánh và

C) Ác tánh.   

A)    Chúng Sanh Tánh :

Là những tánh thường có của phàm phu. Đó là tánh tham lam, tánh sân hận, tánh si mê, tánh cống cao ngã mạn, tánh nghi ngờ và những nhận thức mê lầm, gọi chung là ác kiến. Trong Duy Thức Học gọi các tánh này là 6 món căn bản phiền não. Chúng ta hãy lần lượt nghiên cứu về 6 cái chúng sanh tánh sau đây:  

1) Tham lam : Người có tánh tham lam thường thích chiếm hữu. Thấy cái gì đẹp, cái gì hay của người khác, dù có cần tới hay không, cũng muốn có, cũng muốn chiếm hữu và không bao giờ muốn chia xẻ cho ai những vật dụng thuộc về mình. Con người sinh ra, hầu như ai cũng có tánh này. Vì đã sanh ra bởi nghiệp và tánh tham lam là cái tánh tạo nghiệp nên cứ bị nghiệp dẫn dắt trong sinh tử luân hồi, không bao giờ thoát khỏi nếu không sớm biết tu sửa. Trong bốn tánh tội, sát, đạo, dâm, vọng đều từ cái tánh tham lam mà phát khởi. Vì là tánh tội nên rất khó diệt trừ. Tánh tham lam xuất hiện dưới nhiều hình thức từ thô đến tế. Thô như tính trộm cắp, tế như tánh tham danh, tham lợi, tham sắc v.v...

Người tham lam luôn luôn đau khổ, phiền não vì không bao giờ bằng lòng với những thứ họ đã có và luôn luôn bày mưu tính kế để chiếm đoạt cho được những vật của người khác mà họ ưa thích. Họ đau khổ vì lúc nào cũng cảm thấy thèm khát, thiếu thốn. Tục ngữ có câu : ‘Bể kia dễ lấp, túi tham khó đầy’. Cũng chỉ vì tánh tham lam, thích chiếm hữu mà thế giới ngày nay đã xảy ra bao nhiêu cuộc chiến tranh xâm lăng hay nội chiến, tàn sát sinh mạng nhân loại. Người tu hành có tánh tham lam thì không bao giờ chịu nhường nhịn, rất khó mà thực hiện tinh thần lục hòa trong Tăng chúng.  

2) Sân hận : Sân là nóng nảy. Người có tánh nóng nảy thường gây thù chuốc oán. Gặp việc trái ý là phát khởi tâm bực tức, nóng nảy và hành động không cần suy nghĩ đến hậu quả hay nghĩ đến quyền lợi của người khác. Nguy hiểm hơn nữa là tánh nóng nảy (sân) có thể dẫn đến lòng thù hận, sẵn sàng hại đến sinh mạng của người khác. Trong Kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy : ‘Nhứt niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai’ nghĩa là một niệm lòng giận nổi lên, thì trăm ngàn cửa chướng ngại được mở ra. Người tu hành mà không diệt trừ được tánh sân hận, không thể nào đạt được đạo.

Trong chuyện nhà Phật có thuật lại một câu chuyện của một nhà tu hành khổ hạnh, rất chăm chỉ là ông Uất Đầu Lam Phất. Trong khi ông tu khổ hạnh trong rừng, nhưng thường bị những con quạ đến đậu trên ngọn cây, nơi ông ngồi tọa thiền, mà kêu réo om sòm, khiến ông không thể nào định tâm được. Ông nổi giận mà phát lời nguyền khi đắc đạo sẽ dùng thần thông để bắt giết những con quạ đã làm phiền ông. Vì giận dữ mà phát lời nguyền như thế nên ông không đạt được quả giải thoát mà còn bị đọa làm súc sinh thành con phi ly (chồn biết bay, để đuổi bắt loài quạ). Kinh khác cũng nói : ‘Nhất sân chi hỏa năng thiêu vạn khoảnh công đức chi sơn’ nghĩa là, một đốm lửa sân có thể đốt cháy hàng vạn núi công đức. 

3) Si mê : Si là mờ tối, mê là u mê. Trong nhà Phật còn gọi si mê là vô minh (không sáng suốt). Si mê, theo quan điểm của Phật giáo, không phải là người không có học hành, không có kiến thức; mà si mê là chỉ người không có trí tuệ giác ngộ.

Người si mê là người thiếu óc phán đoán và luôn luôn ích kỷ, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến ta và của ta. Ngoài đời, tánh si mê khiến cho người ta có những hành động mờ ám, không biết tôn trọng người sống cùng trong một đoàn thể, cộng đồng xã hội và là động lực thúc đẩy tánh tham và sân.

Trong ba tánh tham, sân si thì tánh si mê được coi là quan trọng nhất, độc hại nhất. Kinh văn có câu: ‘Bất úy tham, sân khởi, duy khủng tự giác trì’ nghĩa là, không sợ tánh tham và sân nổi lên mà chỉ e giác ngộ chậm trễ. Nếu con người sớm tỉnh thức (tự giác), thì tánh tham lam và sân hận không có cơ hội phát triển. Sự thiếu hiểu biết và ích kỷ dẫn dắt người đời đến những hành động phạm pháp.

Đức Phật nói : "Vô minh thúc đẩy con người tạo nghiệp chất chồng mà kết quả là bị đọa vào ba đường ác, súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục". Người tu hành có tánh si mê là người không biết học hỏi nơi Thầy giỏi, bạn tốt; không hiểu biết rõ ràng về luật Nhân Quả và lý Nghiệp Báo, căn cơ ám độn. Nhà Phật gọi tham, sân si là ba thứ độc hại, cần phải diệt trừ tận gốc mới có hy vọng viên thành đạo quả, chỉ khi nào diệt trừ được ba chúng sanh tánh gây nên chướng ngại này ta mới có thể khai mở trí tuệ và chân tâm sáng suốt mới hiển lộ được.

Người tu theo đạo Phật, dầu Tăng hay Tục, cũng cần luôn luôn ghi nhớ rằng trong con người mình, lúc nào cũng mang pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật. Không hiểu được ông Phật trong mình, sẽ đưa chúng ta vào mê tín, hạ thấp giá trị của Phật Tánh và tỏ lòng bất kính đối với bậc Đại Giác Ngộ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Chúng ta phải cố gắng học hỏi để thoát khỏi cái màn vô minh đang bao trùm cái linh tánh Phật của mình.  

4) Cống cao ngã mạn : Cống cao ngã mạn là tánh kiêu căng, tự cao, tự đại, tự cho mình hơn người mà sanh lòng khinh rẻ những người kém may mắn, kém hiểu biết, yếu ớt hơn mình. Đối với những người tài giỏi hơn mình, giàu có hơn mình, quyền thế hơn mình thì đem lòng sợ sệt và luôn luôn tìm cách bươi móc những cái xấu của người ta ra để tỏ ra rằng mình vẫn hơn người. Những người có tánh cống cao ngã mạn thường không chịu học hỏi thêm những điều hay và luôn luôn chấp cái ta và cái của ta là thiệt, là mới đáng quý, đáng trọng ; còn người khác và của người khác đều là giả, là hào nháng bề ngoài.

Cũng vì cái Ta mà thường hay lén lút bợ đỡ người trên và lấn lướt kẻ dưới, hoặc vì tánh kiêu căng mà gây ra những cuộc tranh chấp đến máu đổ, thịt rơi, vẫn chưa vừa lòng. Người tu hành có tánh cống cao ngã mạn không bao giờ chịu học hỏi từ những người bạn lành đồng tu vì trong thâm tâm, không bao giờ cho ý kiến của người khác là điều đáng học hỏi. Đó là một chướng ngại rất lớn trong sự tinh tấn tiến tu đạo nghiệp. Những người tu hành này rất dễ vì danh và lợi mà thoái tâm tu hành. 

5) Nghi ngờ : Nghi ngờ là không bao giờ tin tưởng vào sự việc gì hay bất cứ ai, kể cả chính mình. Ngoài đời, người có tánh nghi ngờ, thường gọi là tánh đa nghi, là người không thể thành tựu việc lớn. Thí dụ như một vị Lãnh Tụ có tánh nghi ngờ thường không có người phụ tá giỏi vì ông luôn luôn lo sợ người ta sẽ phản mình hay mưu đồ tranh đoạt quyền lợi, địa vị của mình. Trong đạo, người có tánh nghi ngờ thường thiếu quyết tâm tu hành, mau chán và thường thay đổi ý kiến trong vấn đề lựa chọn pháp môn tu hợp với căn cơ của mình. Tánh nghi ngờ thường biểu lộ dưới ba hình thức :

a) Nghi mình : Tánh nghi ngờ phát sanh lòng e ngại khó khăn vì nghi ngờ chính khả năng của mình. Không bao giờ tin tưởng rằng mình đủ kiên nhẫn để tu tập cho đến khi thành tựu. Nghe nói pháp môn nào hay, pháp môn nào dễ là theo ngay, nhưng chỉ một thời gian sau, không lâu, vì không thấy kết quả như ý mình mong muốn, liền cho là không thích hợp với khả năng của mình, lại bắt đầu đi tìm kiếm pháp môn khác. Cứ như thế nên không khi nào đạt được cái gì.

b) Nghi người : Vì tánh đa nghi nên không tin người nào, dù là Thầy hay bạn, hết lòng chỉ vẽ cho mình. Vì không chịu kiên nhẫn nên khi chưa đạt được kết quả gì liền nghĩ ngay rằng Thầy hay bạn còn điều gì  giấu mình.

c) Nghi pháp : Khi thấy người hay làm ác lại giàu có sang trọng, bèn nghi ngờ luật Nhân Quả không đúng, dẫn dắt đến sự thối tâm học đạo. Nhiều khi còn tệ hại hơn nữa là quay lại chê bai hủy báng đạo pháp và người hành trì đạo pháp.

Tóm lại, người tu hành có tánh nghi ngờ, không thể có thành tựu viên mãn vì thiếu lòng tin. 

6) Ác kiến : Chữ ác ở đây không có nghĩa đồng như ác độc mà chỉ có nghĩa là những nhận thức (ý kiến) sai lầm về những sự vật, hiện tượng. Ác kiến gồm có 5 loại nhận thức sai lầm :

a) Thân kiến : Nhận thức rằng cái thân này là thiệt, không hiểu biết về lý duyên sanh, nên lúc nào cũng chỉ lo cho cái thân được đầy đủ, no ấm. Sự sai lầm thân kiến khiến người ta sanh lòng tham lam và ích kỷ.

b) Biên kiến : Nhận thức một bên, một chiều: Hoặc có nhận thức rằng kiếp người là thường còn, chết đi thì lại tái sanh làm người trở lại trong kiếp sau, nên không cần sớm tu hành, kiếp nào muốn thành Phật, lúc đó tu hành cũng chưa muộn. Nhận thức này, nhà Phật gọi là thường kiến của ngoại đạo. Hoặc có người nhận thức ngược lại rằng, chỉ có một đời, không có tái sanh, chết rồi là hết, thật sự không còn gì. Vì chấp như vậy nên cho rằng tu hành là vô ích. Sống đời này thì chỉ biết đời nay nên luôn luôn chạy theo những dục vọng, hưởng những tiện nghi, lợi dưỡng vì e sợ chết rồi thì không còn hưởng thụ được nữa. Nhận thức này, nhà Phật gọi là đoạn kiến của ngoại đạo.

c) Kiến thủ : Người có tánh này lúc nào cũng bo bo bảo vệ ý kiến của mình, không chịu sửa đổi, dù thấy ý kiến người khác cũng có lý, nhưng lại thấy ý kiến của mình thích hợp hơn.

d) Giới cấm thủ : Người có tánh này người đời gọi là cố chấp hay mê tín vì lúc nào cũng chấp vào những giới cấm của ngoại đạo một cách máy móc, cuồng nhiệt, dù giới cấm đó có làm tổn thương đến sinh mạng của chúng sanh khác. Thí dụ như tục lệ giết trâu bò, gà vịt, thậm chí giết cả người để cúng tế thần linh.

e) Tà kiến : Người có tà kiến thường tin theo thần, quỷ và tin tuởng thần quỷ có thể làm cho mình trở nên giàu có, hạnh phúc, yên ổn.

Tóm lại, chúnh sanh tánh, như Thầy vừa phân tách, là những tánh xấu, tánh bất thiện, thường có của người phàm phu. Chúng ta là người tu hành, đi tìm một con đường sống thánh thiện với mục đích cao cả hơn thì phải dần dần xa lánh những tánh đó cho đến khi diệt trừ hẳn những chúng sanh tánh để bước sang lối sống của bậc Thánh nhân, bậc Giác Ngộ và liễu sanh thoát tử. 

B) Dục Tánh :

Như quý vị học đạo đều đã biết : Thế giới Ta Bà của Đức Phật Thích Ca hay nói cách khác là trong cái vũ trụ hay thế giới mà chúng ta đang sống, được phân ra làm ba cõi : Cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô Sắc.

Đức Phật Thích Ca là giáo chủ của thế giới Ta Bà, cũng như Đức Phật A Di Đà là giáo chủ của thế giới Cực Lạc. Mỗi thế giới đều có nhân dân. Theo giáo lý của Đức Thích Ca, thế giới Ta Bà là thế giới nhiều uế trược hơn cả, và trong thế giới này thì cõi Dục là cõi xấu xa nhất. Nhân dân trong cõi này nhiễm nhiều tội lỗi nên Ngài rất thương xót, phải thị hiện xuống để hóa độ, cứu vớt.

Dục là tánh ham muốn và mọi người hay chúng sanh thường sống theo dục tánh tầm thường và ích kỷ. Tuy nhiên, nhờ sự giáo hoá của Đức Thích Ca, trong thời này dù được gọi là thời kỳ Mạt Pháp, cũng có các vị Thánh đã thoát vòng sanh tử, nhưng vì lời đại nguyện thương xót chúng sanh trong khi tu hành mà hồi nhập trở lại để cứu vớt, hóa độ. Cũng có các vị tu hành đắc đạo mà chúng ta thường gọi là Thánh Tăng và cũng có các vị đang tu hành, gieo trồng nhân lành giải thoát, đoạn trừ nghiệp chướng, như quý vị đây, hy vọng một ngày trong hiện đời sẽ thành tựu đạo quả, tuy còn mang thân phàm phu nhưng tâm tánh là tâm tánh của Thánh nhân. Vì vậy, cõi Dục này được gọi là Cõi Phàm Thánh đồng cư.

Trong phạm vi phân tách các dục tánh, Thầy muốn nói đến những tâm tánh phàm nhân, chỉ biết sống theo ngũ dục lạc tầm thường, thấp hèn và ích kỷ. Ngũ dục lạc là năm cái vui của tánh ham muốn, gồm có : Tài là tiền bạc.  Sắc là vẻ đẹp. Danh là tiếng tăm. Thực là sự ăn uống và Thùy là sự ngủ nghỉ.

Con người phàm phu chỉ nhìn thấy cái vui vẻ và hạnh phúc trong năm cái ham muốn đó, mà không biết rằng, những cái vui vẻ đó chỉ là giả tạo và không lâu bền. Dù có đạt được trong chốc lát cũng cảm thấy khoái lạc và tưởng rằng hay muốn tưởng rằng những khoái lạc đó sẽ là vĩnh viễn. Vì thế nên người ta lúc nào cũng cố gắng tìm kiếm cho được cái khoái lạc đó và không bao giờ biết đầy đủ và như ý.

Khi gặp hoàn cảnh không như ý thì cái khoái lạc đó liền biến thành cái đau khổ. Thí dụ như có người ham muốn cái vui của tài (tiền bạc); nhưng giàu có đến thế nào đi nữa, khi nhìn chung quanh lại vẫn thấy có người giàu có hơn mình và bắt đầu phiền não, khởi tâm ganh ghét rồi suốt đời lo mưu tính kế làm sao cho mình kiếm ra cho được nhiều tiền hơn mới chịu. Cứ thế, dù có kiếm được hơn lại vẫn thấy mình chưa phải là giàu có nhất, không bao giờ ngừng được cái tánh ham muốn về tiền bạc. Các tánh ham muốn khác như ham muốn sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ cũng đem lại những phiền não, ganh ghét người khác như vậy.

Nhà trước tác Ngô Thừa Ân bên Trung Hoa, khi viết bộ tiểu thuyết nổi tiếng, được xếp vào hạng một trong Ngũ Tài Tử của Văn Học Trung Hoa, là bộ truyện Tây Du Ký, tiểu thuyết hóa giáo lý nhà Phật và những gian truân của Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang đời nhà Đường đi thỉnh Kinh Phật bên Thiên Trúc (Ấn Độ). Nhân vật lịch sử chính là Ngài Huyền Trang và những nỗi khổ nhọc, nguy hiểm trên bước đường đi thỉnh Kinh là chuyện thật, nhưng những vai trò của Tôn Ngộ Không, Chư Bát Giới, Sa Tăng và con Long Mã là những vai trò được đặt ra để làm điển hình cho những tâm tánh phàm phu của Ngài Huyền Trang khi chưa đắc đạo.

Để diễn tả cái ngũ dục tánh của phàm nhân, Ngô Thừa Ân đã đặt ra đoạn truyện Tôn Ngộ Không đấu phép với Đức Phật. Đức Phật xòe bàn tay và thách đố Tôn Ngộ Không nhảy ra khỏi bàn tay của Ngài. Tôn Ngộ Không cậy mình có phép cưỡi mây (cân đẩu vân), nhảy một cái có thể xa cả ngàn vạn dậm nên nhận lời thách đố của Đức Phật. Đức Phật dùng thần thông làm bàn tay lớn ra rồi mời Tôn Ngộ Không nhảy lên. Khi nhảy lên bàn tay, Tôn Ngộ Không chỉ nhìn thấy một vùng trời đất bao la, khói mây mù mịt. Tôn Ngộ Không dùng phép Cân Đẩu Vân nhảy vài cái và tới một vùng hoang vu vắng vẻ, chỉ có năm ngọn núi cao vút tận trời xanh. Tin chắc mình đã nhảy khỏi bàn tay của Đức Phật từ lâu, nhưng sợ khi trở về nói cho Đức Phật biết thì không có bằng chứng, bèn làm dấu bằng cách tiểu tiện vào một gốc cây dưới chân một ngọn núi; rồi nhảy trở về.

Sau khi Đức Phật thâu phép lại thì Tôn Ngộ Không thấy mình đứng trước Đức Phật, bèn nói về chỗ mình đã nhảy tới và đã làm dấu rồi thách thức Đức Phật theo mình tới chỗ đó. Đức Phật mỉm cười, xoè bàn tay và bảo Tôn Ngộ Không lại ngửi một ngón tay của Ngài xem có nhận ra dấu tích mình đã để lại không? Tôn Ngộ Không ngửi lại bàn tay của Phật và nhận ra mùi nước tiểu của mình. Lúc đó mới biết là mình chưa ra khỏi bàn tay của Phật...

Trong đoạn truyện này, tác giả Ngô Thừa Ân đã dùng nhân vật Tôn Ngộ Không làm điển hình cho cái tánh chúng sanh, ngông cuồng, ngạo mạn, vọng tưởng. Năm ngón tay của Phật tượng trưng cho ngũ dục lạc của thế gian, bàn tay của Phật tượng trưng cho lòng ham muốn nơi cõi Dục. Con người còn bám víu vào cõi Dục thì dù có tài năng đến mấy mà thiếu sự sáng suốt của trí tuệ, cũng không có cách gì thoát khỏi cái thiên la địa võng, trùng trùng điệp điệp của ngũ dục lạc. Người xuất gia như chúng ta phải làm cách nào dùng cái trí tuệ, linh tánh sáng suốt mà vượt qua được cái dục tánh của phàm phu thì mới hy vọng đạt thành Đạo quả.  

4) Ác tánh :

Ác tánh là loại Phàm tánh thứ ba. Ác tánh là 10 cái tánh tội hay tánh bất thiện của phàm phu tạo ra bằng hành động (thân nghiệp), lời nói (khẩu nghiệp) và ý nghĩ (ý nghiệp). Gồm có :

1) Tánh hay sát hại sinh mạng của chúng sanh hữu tình khác.

2) Tánh hay trộm cắp, tham lam chiếm hữu vật không phải của mình.

3) Tánh hay làm chuyện tà dâm, đồi phong bại tục.

4) Tánh hay nói dối để che giấu lầm lỗi của mình hay để làm lợi ích cho mình.

5) Tánh hay nói thêu dệt để gây chia rẽ người khác.

6) Tánh hay nói hai chiều để hại người, lợi mình.

7) Tánh hay nói những lời hung ác để nhục mạ người khác.

8) Tánh tham lam, lấn lướt, cái gì cũng ham có.

9) Tánh nóng nảy, ưa giận dữ, mua thù chuốc oán.

10) Tánh mê muội, không chịu học hỏi và không tin Chánh Pháp.

Người tu hành phải biết chuyển những ác tánh của phàm phu thành những thiện tánh mà Thầy sẽ đề cập tới trong phần giải thích về Thánh tánh sau đây.

Cũng như đã phân loại Phàm tánh, Thánh tánh cũng được phân thành 3 loại :

1)      Thiện tánh.

2)      Đức tánh và

3)      Giác tánh. 

1.           Thiện Tánh : Thiện tánh là tánh lành, ngược lại với 10 ác tánh của phàm phu mà Thầy vừa nói ở trên, nghĩa là :

a) Không sát sanh

b) Không trộm cắp.

c) Không tà dâm.

d) Không nói dối.

e) Không nói lời thêu dệt.

f) Không nói đôi chiều.

g) Không nói lời hung ác.

h) Không tham lam.

i) Không sân hận và

j) Không mê lầm chánh pháp.

Mười tánh thiện này, trong nhà Phật gọi là Thập Thiện Nghiệp và là một pháp môn tu căn bản để tiến lên quả vị Tam Thặng (Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát). Người tu pháp môn Thập Thiện, theo tư tưởng Đại Thừa, không những tự mình phải chuyển ác tánh thành thiện tánh mà còn phải tiến xa hơn một bậc nữa là tìm cách ngăn ngừa, khuyên bảo người khác đừng làm điều ác và đừng để cho cho điều ác được có cơ hội phát triển.

Kinh Thập Thiện Nghiệp nói người tu pháp môn thập thiện sẽ được nhiều pháp lành như không lo sợ (vô úy đức), sáu căn mắt, tai mũi, lưỡi, thân và ý được đầy đủ, vẹn toàn, linh hoạt, trí tuệ được thù thắng, và Trời, người tôn kính. Mọi người tín cẩn, kính trọng, và nhiều phước báu, mặc dầu không cầu. Tâm tánh nhu hoà, phước trí tăng trưởng. Vì lẽ đó, người ta nói Thập Thiện là cội gốc của tất cả các pháp lành thế gian và xuất thế gian.  

2. Đức tánh : Đức tánh là những tánh thiện lành giúp cho người tu hành tích tụ phước báu, thí dụ như tánh từ bi, tánh nhẫn nhục, tánh lợi tha (bố thí), tánh hỷ xả. Phát triển Đức tánh là phát triển đời sống vị tha, hướng thượng và đạo đức. Người tu hành biết phát triển đức tánh chắc chắn sẽ không bị đọa vào ba đường dữ là súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục, mà sẽ được sinh về cõi trời, người để tiếp tục trưởng dưỡng căn lành tiến lên quả vị xuất thế gian. 

3. Giác tánh : Giác Tánh là những đức tánh nhờ giác ngộ mà được phát triển và giúp cho người tu hành tăng trưởng trí tuệ. Muốn trở thành Thánh nhân hay đạt Thánh vị, chúng ta phải có công năng tích tụ đầy đủ phước và huệ. Đức Phật Thích Ca thành Phật vì Ngài có phước và huệ vẹn toàn vì vậy mà được tôn xưng là bậc Lưỡng Túc Tôn. Giác tánh là những tánh lành như trí tuệ, tinh tấn, bình đẳng, kiên trì, thanh tịnh v.v...

Tóm lại, tu tâm dưỡng tánh để làm gì? Người phàm phu cũng cần tu tâm dưỡng tánh để trở nên một người đạo đức, được người đời kính trọng và gieo trồng nhân lành để đời sau được tái sanh làm người hay làm bậc cao quý nơi cõi Trời. Tuy chưa thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi nhưng sẽ không bị đọa vào ba đường dữ, mới có thể tiếp tục tu dưỡng. Người xuất gia lấy lý tưởng giải thoát sanh tử làm cứu cánh, càng phải chú trọng và tích cực tu tâm dưỡng tánh hơn để thành tựu những nấc thang căn bản hầu giải tỏa nghiệp chướng và giải tỏa sanh tử luân hồi. Vậy tu tâm dưỡng tánh như thế nào? Có 3 giai đoạn cần tinh tấn thực hành : 

1.      Chuyển lục căn : Người tu Phật phải biết chuyển mắt, tai, mũi, luỡi, thân và nhất là ý thành những căn thanh tịnh. Mắt tránh nhìn những hình ảnh xấu xa, tai không tìm nghe những âm thanh khêu gợi dục vọng, mũi không ngửi những hương thơm giả tạo hấp dẫn của thế gian, lưỡi không nếm những vị ngon ngọt, nồng nặc, thân không xúc chạm những vật êm ái và ý không tán loạn vì vọng tưởng. Nuôi dưỡng các căn lành cho sự hiểu biết của các thức được trong sạch và hướng thượng hầu chuyển các thức thành trí tuệ vô lậu.  

2. Diệt lục trần : Trần hay cảnh là những hiện tượng thường làm ô nhiễm và phát khởi ác tánh, vọng tâm. Diệt lục trần không phải là phá hủy hết những hiện tượng bên ngoài vì không ai có khả năng làm được việc đó. Trần và cảnh là những hiện tượng tự nhiên hay thiên nhiên. Diệt ở đây có nghĩa là thu liễm lục căn đừng để cho lục thức hay Tâm chạy theo hoặc tham luyến nơi trần và cảnh. Trong Kinh Udana, Đức Phật dạy về sự thu liễm  lục căn và diệt lục trần như sau:

‘Người kia đã xa lánh mọi điều xấu xa tội lỗi, đã thanh lọc ô nhiễm, thu phục lục căn, thông suốt các pháp học và đã chơn chánh sống đời phạm hạnh thiêng liêng, người ấy được coi là Thánh nhơn. Đối với người ấy không còn có sự bồng bột, dầu ở nơi nào trên thế gian. Đối với hạng người biết tri túc, người đã nghe đến chơn lý và đã thấy, thì sống ẩn dật là hạnh phúc. Trên thế gian, người có tâm lành, người biết thu thúc, đối với mọi chúng sanh, là hạnh phúc. Không luyến ái, vượt lên khỏi dục vọng là hạnh phúc. Phá được cái ‘ngã chấp’ quả thật là hạnh phúc tối thượng’. (Trích Đức Phật và Phật pháp). 

Pháp môn tu căn bản và hữu hiệu nhất để diệt lục trần là pháp tu Tứ Niệm Xứ, gồm có :

· Quán thân bất tịnh,

· Quán thọ thị khổ,

· Quán tâm vô thường,

· Quán pháp vô ngã.

3. Hành Lục Độ : Diệt lục trần là hành động căn bản và tiêu cực. Hành lục độ là hành động mạnh mẽ và tích cực hơn để người tu hành vượt khỏi các pháp thế gian mà nhập vào dòng Thánh (siêu phàm nhập thánh). Lục độ gồm có bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Người tu hành phải thực hành từng giây, từng phút những phép tu này và nuôi dưỡng sự thực hành cho đến khi hành động thực tập trở thành giác tánh. Làm mà không còn thấy mình làm, đắc mà không thấy có gì để đắc, mới gọi là tiến tới mức độ Ba La Mật tức là ‘đáo bỉ ngạn’. Lúc đó không còn có thể trở thành cái gì khác hơn là... Phật.

Chư Phật, từ vô thỉ, trải qua nhiều a tăng kỳ kiếp, ra vào sáu nẻo để hoá độ chúng sinh; mang thân phàm phu mà không biết nhàm chán sự tinh tấn tu hành, đắc quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chư Tổ chuyển lục thức, diệt lục trần, tu Phật tâm, dưỡng Thánh tánh mà đạt đạo; chúng ta cũng có linh tánh đồng như chư Phật, chư Tổ, nay vẫn còn là hạng phàm phu chỉ vì mê ngộ không đồng mà thôi.

Tổ Quy Sơn dạy : ‘Phù nghiệp hệ thọ thân, vị miễn hình lụy....’ nghĩa là ‘vì Nghiệp mà phải mang cái thân này, chưa ai thoát khỏi cái lụy của hình hài...’. Chúng ta, từ lâu đời nhiều kiếp, không nhận ra cái thiện căn, thiện tánh của chúng ta để nuôi dưỡng nên cứ phải mang cái hình hài từ tinh cha, huyết mẹ ô uế mà làm phàm nhân; không thể trở về được với cái bản thể uyên nguyên đồng như chư Phật. Trong nhân gian có câu :

Đã mang lấy nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa,

Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

(Kiều - Nguyễn Du)

Lời tuy mộc mạc nhưng ý thật là siêu thoát và hợp lý đạo; nhắc nhở đến Phật tâm, Thánh tánh lúc nào cũng ở trong ta. Người mê muội mới oán trách ông Trời đã sanh ra ta để phải chịu những thống khổ của cuộc đời. Người tỉnh thức biết cái giá trị của tâm, của bản thể chân như.

Quý vị Tăng Ni, Phật tử :

Trong hơn một tiếng đồng hồ, Thầy đã giảng giải, phân tách, chỉ bày cho quý vị Tâm là gì? Tánh là gì? Phàm tâm, phàm tánh khác với Thánh tâm, Thánh tánh ra sao? Chúng ta, hàng ngày tu tập, phải tinh tấn sáng suốt tư duy để nhận ra tâm tánh của mình mới có thể tu, mới có thể dưỡng được. Tu Tâm Dưỡng Tánh là làm sao cho mỗi ngày có sự tiến bộ trong đời sống cá nhân, có sự nhu hòa trong đời sống cộng đồng và sau cùng là tiến tới chỗ tâm tánh trở nên nhất như, nghĩa là không còn có phân biệt người và ta.

Tục ngữ nước ta có câu : ‘Thương người như thể thương thân’ chính là chỗ tâm tánh nhất như vậy. Đối với vọng tình, vọng tưởng thế gian, ta vẫn giữ được cái tâm thanh tịnh, không bị ô nhiễm và tham luyến. Kinh nói: ‘Nhất tâm bất sinh, vạn pháp câu tức’ có nghĩa là khi cái tâm tánh được tu dưỡng đến mức trở về được cái bản thể thanh tịnh, không khởi một niệm dầu thiện dầu ác thì các pháp (vọng tâm) lập tức chấm dứt. Lúc đó, quý vị có thể ngang nhiên tuyên bố như Đức Phật đã tuyên bố :

‘Này hỡi người thợ làm nhà (dụ cho ái dục, cái nhà là dụ cho thân thể), Như Lai đã tìm được ngươi (nhận ra được tự tánh của ái dục để tận diệt). Từ đây, ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa (không còn thọ nghiệp sanh tử luân hồi).

Kết luận cho thời pháp hôm nay, Thầy để lại cho quý vị mấy câu thơ để quý vị tư duy và dùng làm kim chỉ nam trong việc Tu Tâm Dưỡng Tánh :

Tu tâm dưỡng tánh chuyên cần,

Đắc thành đạo quả là phần tự nhiên,

Tâm như nước chảy từ nguồn,

Tánh như sóng bủa theo luồng bát phong,

Tâm phàm luân chuyển long đong,

Tánh phàm tám thức khó mong xuất trần.

Tâm Phật giác ngộ toàn phần,

Tánh Phật rộng lớn trong ngần lợi tha,

Tâm tánh lên xuống một nhà,

Tâm chánh là Phật, tánh tà là ma.

Thầy mong quý vị tinh tấn tối đa. 

Nam Mô Độ Nhân Sư  Bồ Tát Ma Ha Tát

 

---o0o---

[ Mục Lục ] [ 01] [02] [03]

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01-03-2005


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544