Những Dòng Sữa Mẹ
Tập 2
HT Thích Huyền Vi
---o0o---
Phần II
06. Đường lên Quả vị Thập Trụ
Hôm
nay sang tuần thứ 2 trong mùa an cư nhập hạ, Thầy sẽ khai thị cho đại
chúng về quả vị Thập Trụ. Muốn đạt được quả vị Thập Trụ này, tức là có
mười
(10)
điểm phải trụ, phải nắm vững trong tâm của mình. Nói một cách khác là có
mười
(10)
cá tánh
nhấp nhô liên tục trong cuộc sống của mình và phải làm thế nào cho chúng
được an định ? Chữ trụ ở đây được hiểu an định, là ngự trị, không
cho lay động, không cho loạn. Nếu tâm không trụ, bị giao động, là sẽ gây
rắc rối cho con đường tu chứng của chúng ta.
Nghĩa đen chữ trụ là
ở an nhiên bền chắc một nơi nào đó, một địa điểm nào, nhưng ở đây nghĩa
bóng của Thập Trụ tức là mười loại chơn tâm của chính mình. Cái định nằm
trong cái định, chớ không phải cái định tương đối với cái loạn. Trong an
định mà còn đối với thiền định đối với tán loạn là cái định ấy còn yếu
lắm. Định là không tán loạn ngay trong cái loạn, mới thật là định.
1. Phát tâm trụ:
Tâm chúng
ta lúc nào cũng rộng mở vào cửa thiện, sáng suốt làm việc lành, gọi là
phát tâm bồ đề. Làm việc gì cũng nên nói:A Di Đà Phật cám ơn huynh, chúng
ta phát bồ đề tâm để mà lo việc đó. Định nghĩa chữ phát tâm này là cởi mở
tâm thiện để làm việc lành, ngõ hầu an ở, trụ vào cho được quả vị Phật,
tức là tìm được sự giác ngộ hoàn toàn. Cũng có nghĩa là ở trong cái trụ
đó, nó không còn có một cái gì gọi là sai lầm si mê.
Tuy vậy con đường trụ
đó vẫn chưa thật hoàn toàn sáng suốt, mà ta còn phải tiến lên cho đến Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác, cuối cùng là Viên
Giác. Chúng ta nên phát tâm thật sự để tu hành, chứ không nên phát tâm
tìm cầu phước báo ở cõi người, cõi trời, cho đến không còn cái tâm tìm cầu
chứng A La Hán,Thanh Văn, Duyên Giác, hay Quyền Thừa Bồ Tát, Chỉ nên phát
tâm Bồ Đề tới tối Thượng Thừa, tức là nguyện cho tất cả chúng sanh đồng
đạt được vô thượng Chánh Đẳng, Chánh Giác (Anuttara Samyak- sambuddha).
Rộng mở tâm như vậy mới được gọi là phát tâm Phật.
Không muốn làm Thanh
Văn, Duyên Giác và cũng không muốn tu để tìm cầu phước báo ở cõi người,
hoặc ở cõi trời, ấy là phát tâm trụ.
Ở trong mỗi loài, mỗi
người, cái tánh giác hay linh giác tiến lên hoặc trở thành giác ngộ hoàn
toàn tức là địa vị Chánh Đẳng, Chánh Giác, thì tâm mình bình đẳng một cách
hết sức trung trực. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, mình phải hiểu và
nhận định cho rõ ràng để đưa mình thực hành đến chỗ siêu việt, mà điểm này
không thể nói được, không thể giải thích được. Chẳng hạn như vạn vật cỏ,
cây, sắt, đá, cũng có tánh giác, mặc dầu thấy đó là vật vô tri. Nói như
thế thì khó có ai hiểu, khó có ai tin, nhưng đó là chơn lý, khi con người
mình hoàn toàn sáng suốt giác ngộ thì mới biết tâm trụ nơi đâu.
2- Trị Địa Trụ:
Phật tánh
của chúng ta, chơn tâm của chúng ta luôn luôn đối trị với tâm vọng tưởng.
Bất cứ giờ phút nào cái tâm vọng cũng có thể nổi lên bởi vì
mình còn mang tâm chúng sanh, tâm phàm, tâm chưa giác ngộ. Do đó mà mỗi
ngày Thầy thường nhắc nhở Tăng, Ni trong Tự Viện, hễ một khi chợt nhận
biết được một vọng tâm nào nổi lên, là chúng ta phải chiến đấu đến cùng,
và phải chiến đấu như thế nào ? Nghĩa là quý vị phải nhất tâm niệm Phật,
niệm đến khi nào không còn thấy mình niệm mà miệng vẫn niệm, tai vẫn nghe
tiếng niệm. Được như vậy mới diệt được những làn sóng vọng tưởng trùng
trùng điệp điệp trào lên. Nói thì dễ nhưng áp dụng cho đúng mức thì không
phải là dễ. Tuy nhiên khó, mà thực hành được thì mới thật là vi diệu, và
phải thường xuyên thực hành cho đến khi nào mình hàng phục được hết các
tâm phiền não, tâm vọng tưởng, thì tự nhiên tâm chánh niệm, tâm chơn chánh
hiễn lộ. Lúc đó mình mới bước vào được Trị Địa Trụ.
3- Tu Hành Trụ:
Tức là
thật hành liên tục khi thấy sóng vọng tâm dấy lên xao xuyến, buồn buồn,
nghi ngờ chuyện gì đó là liền niệm Phật ngay. Nếu tâm của mình có chiều
hướng ngã mạn cống cao thì phải niệm Phật ngay, hoặc giả mỗi khi làm việc
gì đều cho là mình hay hơn những vị khác, không ai có thể làm được việc
này ngoài mình mà thôi, kể cả trong chuyện tu hành cũng thế, không chịu
nghe lời huynh đệ chỉ dẫn, mà ngay cả Thầy Tổ dạy bảo khuyên lơn cũng
không nghe. Bất cứ làm việc gì cũng chấp chặt cái ý kiến của mình, người
như vậy chưa phải là tu hành trụ, mình phải chịu khó sửa ba nghiệp
(thân, miệng và ý) cho được nhất như thì tu ở đâu, trụ ở đâu, hành ở
đâu cũng thanh tịnh, đó mới gọi là tu hành trụ.
4- Sanh Quý Trụ:
Sanh tức
là sinh ra, nảy nở luôn luôn, quý là tôn quý, trụ là ở một nơi an ổn vững
chắc. Sanh quý trụ là phát tâm Bồ Đề cao thượng, tâm Phật, tâm sáng suốt
của mình luôn luôn phát triển từ những nơi cao quý như:Thập Tín, Thập Trụ,
Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác, Viên Giác.
Những điều cao quý phát triển luôn luôn ở trong tánh giác của mỗi chúng ta
từng ngày, từng giờ, từng phút, từng mỗi sát na. Phải làm cho tâm an trụ,
nẩy nở chơn tánh. Có như vậy đó mới gọi là chơn không diệu hữu. Tâm của
mình nằm trong quả vị Thập Trụ coi như tối tôn quý.
Phát tâm trụ, trị địa
trụ, tu hành trụ,
và sanh quý trụ
là bốn quả vị trụ được gọi là Nhập Thánh Thai, tức là vào trong thai
thánh. Nói về sanh quý trụ thầy nhắc cho quý vị thêm ở điểm này là tâm lúc
nào cũng trụ ở trong cái gọi là phát triển luôn luôn để ngộ nhập với Như
Lai Tạng tánh của mỗi người, làm sao cho nó trụ được một nơi và thể nhập
với Phật tánh là một.
5 - Phương tiện cụ
túc trụ:
Mình còn đang tu, còn mang thân tứ đại, cần giữ cái tâm sáng để mà trụ vào
công việc làm coi như là phương tiện cụ túc. Trong tất cả những phật sự mà
có hình thức này nọ đều là phương tiện không phải rốt ráo; nhưng phi
phương tiện bất thành cứu cánh, cho nên cần phải cố gắng làm sao cho đi
đúng với đạo lý để được sáng suốt giác ngộ giải thoát. Khi ra làm đạo mà
thiếu phương tiện thì khó thành công trên mọi mặt, mà muốn dùng phương
tiện để độ sanh thì điều trước tiên Thầy khuyên quý vị phải tu hành cho
được rốt ráo, phải có đầy đủ trí tuệ, đầy đủ khả năng hành đạo lúc đó mới
giải quyết được tất cả mà không phải vấp ngã.
Vì sao? Vì người có
trí tuệ làm bất cứ việc cũng đều có suy nghĩ, cân nhắc đắn đo kỹ lưỡng,
lúc nào cũng sợ lợi mình hại người, rủi ro vô thường có đến mình không kịp
trả thì phải mang nợ đến kiếp sau, hoặc kiếp sau nữa thì là một tai hại
lớn cho người xuất gia. Thế cho nên dù cho có bá thiên phương tiện độ đời
cũng đừng để bị kẹt vào gút mắc. Đừng nên chấp chặt một việc gì rồi đôi
khi trở thành tâm bệnh mà không hay, do đó không thể nào độ được người
khác. Làm gì cũng tùy trường hợp, tùy căn cơ mình đáp ứng, phải tính toán
xem hoàn cảnh như thế nào để mình ứng phó cho thích hợp cả đôi bên, thì đó
mới gọi là ra làm đạo độ sanh. Kết quả mới đi đến cụ túc viên mãn, và
chúng ta hãy cố gắng dùng cái văn (nghe) huệ sẵn có của mình. Muốn
có văn huệ thì nên chịu khó xem sách, nghe giảng pháp hoặc đến tận nơi có
giảng sư thuyết pháp, hoặc nghe băng cassette, và đọc sách tức là tự mình
học, nhờ như thế mới giúp cho chúng ta tiến lên được trên đường Thập Trụ.
Cho nên trong bài này
Thầy giảng cho quý vị biết chữ phương tiện cụ túc là như
thế, làm gì thì làm nhưng việc học, việc tu Thầy muốn quý vị xếp nó vào
hàng đầu. Có học mới có pháp để giảng dạy, không học thì làm gì có vốn
liếng chữ nghĩa mà ra giảng giải đạo lý, cũng như có tu thì tâm mới thanh
tịnh, an trụ và giác ngộ, mới giúp được cho chúng sanh tiến trên con đường
giải thoát giống như chúng ta vậy.
6 - Chánh Tâm Trụ:
Tâm trụ đã
là chánh, mà chánh ở trong cái chánh, trụ ở trong cái trụ, mỗi ngày, mỗi
giờ, mỗi phút, mỗi giây, tâm luôn luôn ở trong ba điểm chính. Tuy nói là
ba nhưng là một, một mà ba, có nghĩa là tâm luôn luôn chí thành, lúc nào
cũng phát nguyện rộng lớn ở trong các sự việc, và đem hết tâm nguyện làm
thì việc đó sẽ thành công viên mãn, gọi đó là chánh tâm trụ.
Chẳng hạn như việc
trồng cây cũng thế. Chúng ta phải ra sức trồng cho đúng phương pháp, đúng
cách thức đâu ra đó đàng hoàng thì bông hoa mới có thể nở đẹp, đâm cành
nảy lá xum xuê, còn bằng ngược lại mình không chăm sóc cho kỹ lưỡng thì
sẽ bị sâu ăn, rầy phá hư hại. Trong những việc tầm thường như vậy, mà mình
không thể làm được thì đừng nói đến chánh tâm trụ để mà hành trì hay tu
hành chi khác.
Bất cứ làm việc gì
cũng phải nhất tâm, kể cả sự tu niệm cũng vậy. Khi niệm Phật ta biết ta
niệm Phật, đó là nhất tâm, khi tham thiền cũng phải định tâm để tham
thiền, đó cũng gọi là nhất tâm tham thiền. Quý vị cố gắng làm sao hạ thủ
công phu tu hành cho trí tuệ mỗi ngày, mỗi ngày được tăng trưởng mới luôn
luôn (nhật tân, nhật tân hựu nhật tân). Quả vị nầy đòi hỏi chúng ta giữ
chánh niệm từ mọi sự việc thường thường trước mắt hàng ngày cho đến việc
tu hành đều phải có tâm chí thành, còn gọi chánh tâm để được nhất như
trước sau như một.
7
- Bất Thoái Trụ:
Không bao giờ để cho chánh tâm của mình lay động, thoái chuyển, thì ở
trong quả vị bất thoái trụ này có chia ra ba điểm nhỏ giải nghĩa rõ ràng.
a- Vị
bất thoái.
b- Hành
bất thoái và,
c- Niệm
bất thoái.
a - Vị bất thoái:
Tâm mình sáng suốt tới mức độ nào, tinh tấn tới cở nào đó thì nên cố
gắng giữ luôn như vậy đừng cho nó thoái chuyển, và hàng ngày chúng ta càng
phải làm cho nó tăng tiến thêm lên. Có được như vậy thì mới gọi là quả
vị bất thoái chuyển.
Trong kinh A Di Đà có
chữ A Bệ Bạt Trí (Avaivartika) tức là người nào được sanh về nước
Cực Lạc của Phật A Di Đà là không bao giờ thoái chuyển, lúc nào cũng có
tâm niệm tiến lên dù cho có làm người dân ở cõi Phật A Di Đà, rồi nhờ thần
lực đó mà tu hành thêm cho đúng mức để đi lên tới Hạ Phẩm Hạ Sanh, Hạ Phẩm
Trung Sanh, Hạ Phẩm Thượng Sanh, Trung Phẩm Hạ Sanh, Trung Phẩm Trung
Sanh, Trung Phẩm Thượng Sanh, đến phần cuối cùng sẽ đạt được Thượng Phẩm
Hạ Sanh, Thượng Phẩm Trung Sanh, Thượng Phẩm Thượng Sanh, như vậy gọi là
bất thoái chuyển.
b- Hành bất thoái:
Hành là công hạnh, hay là thực hành không bao giờ thoái chuyển. Chỉ có
làm cho tăng chứ không có thoái, nhưng quý vị ở đây khổ lắm, có lúc thì
coi như hành được quá, mặc dầu là chưa tới cái rốt ráo ở chuyện hành,
nhưng mà làm một đổi rồi quen, chuông mõ đánh được rồi, tụng niệm coi bộ
được rồi, thì bắt đầu sanh tâm làm biếng rồi còn nói lý, "mình tu đâu
phải chỉ là chuyện tụng kinh, mình tu cho giác ngộ chớ tụng kinh làm gì
ngồi cho đau lưng nhưng cũng chẳng được gì hết".
Quý vị nghĩ như vậy
là đi sai lệch hết. Thầy thường hay nói mỗi một việc gì cũng phải làm cho
nhất tâm từ việc lớn cho đến việc nhỏ, kể cả việc dùng điểm tâm sáng, hay
độ ngọ vào buổi trưa. Mỗi khi bưng chén cơm lên phải nghĩ đến ta đang sống
trong pháp hội đạo tràng, phải ăn trong thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung
mãn thì mới đạt được quả vị giác ngộ, và luôn luôn phải hành bất thoái
chuyển. Chớ đừng nghĩ như chuyện thế gian ăn cho no qua ngày mà thôi người
tu mà suy nghĩ không đúng là sẽ đi sai với đạo pháp.
c - Niệm bất thoái:
Niệm là
một lúc nhớ tưởng niệm. Trong câu nầy phải hiểu là đừng bao giờ cho chánh
niệm thoái chuyển. Nhất tâm niệm làm sao cho được thành Phật, hay tối
thiểu cũng thành một vị Bồ Tát dầu cho khổ đến đâu có tan xương nát thịt
cũng đừng thoái chuyển đó mới gọi là niệm bất thoái, cũng như bây giờ đây
chúng ta thọ giáo pháp của Phật, người thọ Sadi mười giới (10), người thọ
Thức Xoa Ma Na Ni 296 giới, người thọ Tỳ Kheo 250 giới, Tỳ Kheo Ni 348
giới. Tại sao phải thọ như vậy để làm gì? Vì Đức Phật đã dạy người tu lúc
nào cũng cần giữ chánh niệm.
Trong khi đi, đứng,
nằm, ngồi oai nghi cần phải nghiêm trang thanh tịnh. Trong đạo tràng và
ngoài đạo tràng cũng thế, những công việc gì có ý định làm là bất cứ lúc
nào cũng suy nghĩ cho đúng chánh pháp, làm cho đúng chánh pháp, hợp sự
thật thì đó là niệm bất thoái chuyển. Tâm Bồ Đề không bao giờ bị
thoái chuyển lay động, không bao giờ bị lu mờ giải đãi biếng nhác, đó gọi
là tâm Phật, tâm bất thoái trụ.
8- Đồng Chơn Trụ:
Tâm luôn
luôn lúc nào cũng giữ cho thanh tịnh như như. Hai chữ đồng chơn này có
nghĩa là vô phân biệt. Sống trong cuộc đời này tâm chúng ta lúc nào cũng
phân biệt quá nhiều thành ra cứ sống trong điên đảo, vọng tưởng, theo
duyên phân biệt. Thường thường chữ đồng được hiểu là con, đồng nam, đồng
nữ ; bởi vì trẻ con sống trong hồn nhiên, trong sạch, ngây thơ, chưa vướng
bụi trần nên không có phân biệt, cho nên việc tu hành của những vị đồng tử
này dễ tu dễ chứng, thế mới được gọi là đồng chơn nhập đạo. (Đây chỉ
cho những vị ấu niên chưa từng lập gia đình mới được gọi là đồng chơn nhập
đạo, còn như quý vị lớn tuổi đã từng có gia thất, sau mới vào tu, thì gọi
đó là bán thế xuất gia). Tâm vì bị vướng mắc phân biệt rất nhiều, vì
thế sự tu hành khó đạt được kết quả mong muốn. Những vị này bị cái trí thế
gian xen tạp nhiều quá, trong đạo còn gọi trí này là thế trí biện thông
nạn, làm cho người đó khó tu hành, vậy phải làm sao chuyển trí thế gian
nầy thành ra trí xuất thế gian thì mới giúp ích được cho đạo pháp, giúp
ích cho chúng sanh, mà chính bản thân mình mới tu tiến được.
Đã là người xuất
gia, hãy cố gắng giữ cho cái tâm bất nhiễm thế duyên, thì không còn phân
biệt nữa. Đừng bao giờ nghĩ người này là đáng thương, người kia là đáng
ghét, cái này tốt, cái kia xấu, cái này đẹp, cái kia không đẹp, như vậy
mới được gọi là đồng chơn trụ.
9- Pháp Vương Tử Trụ:
Là cái tâm
trụ giống như người con của đấng giác ngộ rồi coi như là tu hành cũng khá
cao, cho nên ở trong sách phân tách thì đến cái trụ thứ chín (9) này gọi
là xuất thánh thai, tức là giác ngộ hoàn toàn. Đây chỉ cho Phật mà Phật là
đấng giác ngộ hoàn toàn, cho nên mới có cái quả vị mang tên là Pháp
Vương Tử Trụ. Vì vậy nói cái tâm của mình lúc nào cũng như là con ruột
của Phật đó, mới được gọi là Phật tử, vì người cha giác ngộ, người con
cũng giác ngộ theo.
Tử
nghĩa
là con, con của giòng họ Thích là phải sáng suốt chiến đấu với phiền não
trong con người của mình, phải chuyển phiền não thành bồ đề, lúc nào cũng
chuẩn bị sẵn sàng cái gươm trí tuệ để chặt đứt những cơn sân hận, giận
tức, phiền não. Do vậy trong đạo Phật có chữ sát sanh, nghĩa đúng là vậy
đó, chứ không phải sát sanh là giết hại sinh vật. Nhờ sát sanh đúng nghĩa
như vậy, cho nên những cơn phiền não giảm thiểu dần dần. Nếu chúng ta
không tự biết để điều phục sát hại được phiền não, giận tức thì phải nhờ
đến huynh đệ, Thầy Tổ giúp dùm.
Quý vị
phải có kim cang tâm để đập mạnh nó may ra mới đạt được sự mầu
nhiệm, mới có thể nhập vào quả vị cuối cùng của Thập Trụ là Quán đảnh trụ.
10- Quán Đảnh Trụ:
Nghĩa đen
là rưới nước cam lồ trên đầu, hay là ma đảnh thọ ký, hay xoa trên
đầu ; nhưng nghĩa đạo thì lại là cái tâm của mình lúc bấy giờ coi như là
chắc chắn, như Thầy đã nói là đạt được chánh đạo thật sự chứ không
phải đạt cái ma chướng đạo, đó mới gọi là quán đảnh.
Cũng như hồi xưa bên
Ấn Độ hễ mỗi lần có một vị hoàng tử lên ngôi thì họ phải làm lễ quán đảnh.
Quán đảnh có nghĩa là tuyên dương và làm phép rưới nước, hay là một vị Bà
La Môn giáo chánh tông đến để làm lễ quán đảnh rưới nước. Sau này đạo Phật
của chúng ta đổi chữ quán đảnh lại là thọ ký, vì thọ ký nghe dễ hiểu hơn
là quán đảnh nhưng ý nghĩa cũng giống như vậy.
Thọ ký nói cho đủ là
thọ bồ đề chi ký, tức là trao lại để mà ghi nhớ cái giác ngộ ở ngay
thời điểm đó, coi như là hoàn toàn giác ngộ. Vì vậy cho nên quán đảnh
trụ, giống như là thọ ký ở đầu, như Phật thọ ký ở trong kinh Pháp Hoa khi
Đức Phật thọ ký cho 1250 vị Tỳ Kheo, hoặc là thọ ký cho 500 vị A La Hán
v.v.....
Còn nghĩa chữ thọ
ký ở đây tức là mình biết khi mình tu có sự giác ngộ, sự đạt đạo trong
thời gian nào, hoặc là kiếp số nào lúc đó hoàn toàn giác ngộ. Như đức Phật
thọ ký cho Ngài Xá Lợi Phất tới một a tăng kỳ kiếp nào đó sẽ thành Phật
hiệu là Hoa Quang Như Lai, thọ mười hai tiểu kiếp, cõi nước tên Ly Cấu,
đất bằng lưu ly có tám đường giao thông, dây bằng vàng ròng giăng 2 bên
đường. Mé đường có hàng cây bảy báu, nhân dân nước đó thọ tám tiểu kiếp.
Sau khi Phật Hoa
Quang diệt độ chánh pháp trụ lại trong đời ba mươi hai tiểu kiếp, tượng
pháp trụ đời cũng ba mươi hai tiểu kiếp, hay là các vị khác cũng vậy. Nơi
đây nếu chúng ta hiểu sâu vào lý thì không phải chỉ có một đức Phật hay là
có một vị thầy hoặc xoa trên đầu, hoặc rưới nước trên đầu để thọ ký, mà
chính nhờ vào cái sự tu hành của mình thì có thể đoán được trong thời gian
nào số kiếp nào mình cũng sẽ có sáng suốt giác ngộ để độ chúng sanh ở cái
quốc độ nào, ở cõi nước nào.
Còn như bây giờ đây
nói thực tế cũng là thọ ký. Chẳng hạn như quý vị đây, khi tu tập được một
thời gian mà thầy tổ thấy rằng quý vị có khả năng ra làm đạo, đi độ sanh ở
quốc độ này hay quốc độ kia, thì tự nhiên thầy sẽ nhắc nhở quý vị cho ra
trụ trì một ngôi chùa để thượng hoằng Phật đạo, hạ hóa chúng sanh. Đây
cũng là một điểm thọ ký, nhưng mà thọ ký hiện tại, còn thọ ký mầu nhiệm là
do tự tâm của mình tu hành mà đạt được, đó mới gọi là quả vị Thập Trụ, có
nghĩa là cái tâm của mình sẽ giác ngộ trong đó là có tha tâm thông, hoặc
là túc mạng thông, biết được tất cả những cái gì thì đó kêu là lý đạo cũng
gọi là thọ ký.
Nói tóm lại quả vị
thập trụ là một trong năm quả vị thập tín và chỉ cần đem lòng chánh tín
mà tin. Qua thập trụ tức là bước vào Phật tánh, rồi mới bước lên thập
hạnh, thập hồi hướng, thập địa tức là Bồ Tát, Đẳng Giác, Diệu Giác, Viên
Giác.
Tóm lại mười quả vị
này tuy chia làm mười chớ thiệt là chỉ có một, vì nếu nói một thì khó thấy
thế nào là quả vị. Tuy nhiên quả vị mà mình còn nói mười, nói một được thì
quả vị đó còn trong tương đối, không phải là quả vị giác ngộ tuyệt đối.
Tuy mình không chính thức nhờ vào quả vị, mà nhờ vào cái giảng giải nghe,
suy nghĩ, tu, để cho cái của mình nương theo đó mà thâm nhập mới tiến tới
chỗ chứng ngộ đạo quả. Vậy cho nên mới phải chia ra nhiều thập và địa
vị. Nói về đốn giáo, thì không có chia ra nhiều bậc gì hết, coi như
nghe rồi là tâm tỏ ngộ, tâm bừng sáng giác ngộ hoàn toàn.
Biết như thế để quý
vị cố gắng trong thời gian chín tuần cấm túc, ba tháng an cư mỗi ngày làm
sao quý vị sống với mấy cái tâm thập trụ, sống được như vậy thì thời gian
chúng ta tu tập cửu tuần cấm túc, tam ngoạt an cư (chín tuần ở một chỗ,
ba tháng ở một nơi) thì có thể mình biết được mình tu tới đâu và tới
một mức độ nào, sang năm cũng vào ba tháng mùa hạ quý vị cố gắng làm sao
điều phục thân tâm cho được nhất như hơn năm cũ, Thầy bảo đảm là trong
thời gian ngắn quý vị sẽ đạt được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Ngày xưa thời Đức
Phật còn tại thế đa số đều là Thánh Tăng cho nên những vị nầy khi nghe
Phật giảng pháp có một lần là được chứng ngộ liền không cần biên chép gì
cả (đó là thời chánh pháp) một câu văn, ngàn người ngộ.
Qua thời tượng
pháp thì cũng còn hơn phân nửa, hàng Thánh Tăng khi nghe Phật giảng
pháp thì được chứng thánh quả liền.
Bây giờ là thời
mạt pháp, rất hiếm có người được chứng quả thánh như vậy, phải dùng
phương tiện thu băng nghe đi nghe lại nhiều lần mới có thể thực hành đúng
được. Có điểm nào chưa hiểu phải hỏi lại Thầy Tổ cho rõ ràng, thính vấn
(nghe, hỏi) Phật Pháp nhân duyên, chớ nghe sơ qua một lần bỏ đó rồi
một năm sau mới đem ra nghe lại thì biết đến bao giờ mới hành cho đúng để
mà đạt được quả thánh.
Thầy nói cho quý vị
biết, nếu như quý vị không lần lượt đi từ phát tâm trụ, trị địa trụ,
tu hành trụ, rồi sanh quý trụ, cuối cùng là phương tiện cụ
túc trụ, thì khó tiến lên được. Thầy lúc nào cũng nhắc nhở quý vị
từng giây, từng phút luôn luôn phải điều phục thân tâm xem chừng coi con
"trâu nghiệp" của mình đi tới đâu rồi? Nó có thuần thục nghe lời chủ chưa
hay thỉnh thoảng vẫn còn đi lạc đường. Những lúc như vậy quý vị phải niệm
Phật liền liền, điều phục cho tâm an ổn lại. Khi đó hành giả mới biết được
mình giác ngộ tới đâu, và sự tu hành của mình đi đến đâu.
Nói tóm lại nếu đạt
được quả vị Thập Trụ này thì hành giả có thể tiến lên thêm một bậc nữa đó
là Thập Hạnh.
07. Tiến lên quả vị thập hạnh
Đây
là bài khai thị thứ ba trong mùa An Cư Kiết Hạ năm nay, Thầy sẽ mở bày cho
hàng thất chúng một phương cách phát triển công năng tu hành để đạt đạo,
để tiến đến quả vị Thập Hạnh.
Thập Hạnh là mười cái
hạnh lành, và làm sao mà chứng cho được mười cái hạnh lành này, để tiến
lên quả vị Thập Hồi Hướng, rồi cuối cùng vào được quả vị Thập
địa.
Những điểm cốt yếu nói về hạnh thì chỉ có một pháp môn dễ
vô cùng, nhưng nếu không hành thì nó cũng khó vô song. Dĩ nhiên người con
Phật dù xuất gia hay tại gia gì cũng vậy, nhưng chủ yếu là người xuất gia
giờ nào, phút nào giây nào cũng giữ cho tâm an bình, khi thấy việc gì đến
hơi bất an, hoặc bất bình, thì nên dùng câu niệm Phật để đáp ứng liền, và
phải chí thành niệm Phật. Bởi vì niệm Phật là niệm tâm, tức là chỉ thẳng
vào cái tâm của mình để chuyển phiền não thành bồ đề.
Niệm Nam Mô A Di Đà
Phật là chúng ta trở về với ông Phật sẵn có của chính chúng ta, đó là tánh
giác của chính mình. Nam Mô có nghĩa là quy mạng, trở về. A Di Đà là ở
trong Phật tánh của mình có đủ vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng công
đức. Công năng diệu dụng của cái vô lượng này giúp cho chúng ta chống lại
nội ma, ngoại chướng để trở lại bản tâm thanh tịnh sẵn có của chúng ta.
Lúc ấy chúng ta có thể đi lên những quả vị khác một cách thật dễ dàng, mà
không phải nhọc công mệt sức. Sau đây thầy sẽ giảng cho quý vị mười công
năng của Thập hạnh.
1. Hoan Hỷ Hạnh:
Là
mình tu hành làm sao lúc nào cũng như lúc nào cũng giai đại hoan hỷ, đừng
có buồn, đừng có giận, đừng có tức, làm gì cũng nên giữ tâm hoan hỷ thì sự
đạt đạo không khó gì cả. Còn khi người ta đánh đập hoặc giết hại thân mạng
mình, cái đó không ăn thua gì hết, nếu mà trong tâm mình luôn luôn giữ
được hoan hỷ, vì vậy trong sách có câu:"Thiên hoan hỷ, địa hoan hỷ,
phát bồ đề tâm", tức là:(Trời vui mừng, đất vui mừng, phát tâm bồ
đề dõng mãnh), nếu mọi sự ở trong thế gian này có đến với mình, mình
đều giữ tâm hoan hỷ (dù việc đó vui hay buồn), đừng có bận tâm, lay
động gì hết thì mới phát được tâm giác ngộ. Hoan hỷ được chuyện buồn
phiền, hoan hỷ theo cái niệm đạo, chớ hoan hỷ theo cái niệm đời thì nó dẫn
dắt mình đi xuống một cách nhanh chóng. Phải an lạc luôn luôn thì mới gọi
là giai đại hoan hỷ.
Thực hành được như
vậy đó thì mình đạt được sơ quả, tức là lên được một nấc
thang về tâm linh. Hoan hỷ là ở chỗ đó, chớ không phải hoan hỷ là mừng rở
cười, đùa quá trớn. Cho nên khi tu hành mà có những chuyện gì tác động tức
là hơi bất an, chúng ta có cười có mừng đi nữa cũng chỉ cười vi tiếu một
chút mà thôi, chớ đừng nên cười ra tiếng, hay là tỏ ra sắc mặt tràn đầy
hân hoan. Giữ tâm hoan hỷ trong nhà Phật là ở chỗ đó. Làm sao đừng cho cái
phiền não nó khởi lên, dĩ nhiên là không phải dễ dàng, vì thế mình phải
trì chí, phải lấy một cái móc trì giới hoặc những yếu tố khác để mà giải
tỏa chớ phiền não khó trừ lắm. Phiền não chướng, sở tri chướng, và báo
chướng là những cái khó diệt trừ vô cùng chớ không phải đơn giản, vì vậy
cho nên phải thọ trì đọc tụng luôn luôn, phải thực hành thiền định, bái
sám, hành đạo luôn luôn để mà giải tỏa chúng lần lần, trừ những bậc gọi là
thượng căn thượng trí, những bậc gọi là tái sanh, trước đã có tu chứng rồi
đời này người ta tu chỉ coi như còn một bước nữa là chứng quả, những hạng
nầy thật hiếm hoi; còn bình thường là bị nghiệp lực chi phối, dẫn dắt đi
đầu sanh.
Mình biết được đạo rồi mình phải sống làm sao để trở về
lại cái tâm thiệt của mình, chơn tâm của mình, chớ không thôi mình sống
với cái vọng tâm. Khi mà tâm chúng ta chưa thiệt bình, chưa thiệt an thì
chúng ta sống toàn với cảnh vọng. Hễ vọng tưởng thì điên đảo đủ kiểu, thử
hỏi làm sao tâm mình an bình cho được. Do đó cho nên cái quả vị thập hạnh,
đầu tiên là hoan hỷ hạnh làm sao quý vị giữ trọn lời Thầy giảng như trên
là mình chứng được hạnh đầu của mười hạnh.
2. Nhiêu Ích Hạnh:
Tâm hạnh
của hành giả tu hành luôn luôn nghĩ đến việc làm lợi cho chúng sanh, không
nghĩ đến cái việc lợi ích cho mình đó mới gọi là nhiêu ích hạnh. Cho nên
phần chánh yếu trong Bồ Tát giới là "Nhiếp luật nghi giới", nghĩa
là một cái gì vọng động, một cái gì xấu dù cho nhỏ cũng không bao giờ dám
làm. "Nhiếp thiện pháp giới" là chuyện tốt, chuyện coi như là có
lợi ích cho chúng sanh, dầu là một việc rất nhỏ cũng không dám bỏ, để đúc
kết thành nhiêu ích hữu tình giới là việc làm luôn luôn lợi ích cho
chúng sanh. Hạnh tu như vậy đó là vì người, không vì mình ; tâm hạnh như
vậy là tâm hạnh đi lên.
Chúng ta học luật,
trong tỳ ni nhựt dụng, cứ giờ phút nào cũng lo cho chúng sanh. Khi rửa tay
mình đọc bài kệ rửa tay, khi rửa mặt mình cũng đọc bài kệ rửa mặt... lúc
đó là mình đang cầu nguyện cho chúng sanh. Bất cứ làm việc gì, người tu
cũng đều cầu nguyện cho chúng sanh. Khi tụng kinh cũng thế chúng ta quỳ cả
tiếng đồng hồ thành tâm đọc tụng, rồi cuối cùng cũng hồi hướng cho chúng
sanh. Cho đến phần tam tự quy y chúng ta cũng nguyện cho chúng sanh, bởi
vì chúng sanh với mình là một, chúng sanh với Phật là một. "Tâm, Phật
cập chúng sanh, thị tam vô sai biệt", (Tâm, Phật và chúng sanh, ba
cái không sai khác). Tâm của mình có hằng hà sa số chư Phật và cũng có
hằng hà sa số chúng sanh. Bây giờ mình kính mến chư Phật cở nào, thì mình
cũng phải kính mến lo lắng cho chúng sanh thế ấy. Vì vậy cho nên khi còn
một chúng sanh đau khổ là mình còn bổn phận phải lo lắng cứu độ, mình
không thể nào lên tòa sen ngồi một mình được đâu. Chúng ta tu theo Đại
Thừa Giáo là phải nguyện hành hạnh Bồ Tát là vậy đó.
"Như nhứt chúng sanh
vị thành Phật, chung bất ư thử thủ nê hoàn",
nghĩa là khi một
chúng sanh chưa giác ngộ, chưa thành Phật, thì mình không có quyền lên
cảnh Niết Bàn hay lên tòa sen. Ngồi trên tòa sen nhìn xuống thấy chúng
sanh dưới cõi Ta Bà nầy còn đang lặn hụp trong đau khổ, làm sao mà có thể
nào ngồi yên cho được ! Đó là chơn lý muôn đời. Nếu mà tất cả chúng ta
hiểu được điểm đó, thì dù cho cư ngụ tại bất cứ châu nào, thì tất cả đều
có thể trở về con đường chơn lý để tu, để hành. Cho nên nhiêu ích hạnh
là cái hạnh thứ nhì trong Thập Hạnh. Thí dụ như bây giờ chúng
ta đang tu đang tập đang hành sự chuyện nầy chuyện kia, công việc làm có
khi khó có khi dễ nhưng điểm chính yếu vẫn là độ sanh chứ ngoài ra không
có vấn đề gì nữa cả.
Như quí vị thấy, tuy
nói là người xuất gia nhưng qua xứ bên này Thầy cũng phải để hết tâm trí
xem xét từng chút một:Coi còn, coi hết từng cái chén, từng đôi đủa, mọi
việc Thầy cũng phải để tâm lo. Những chuyện lo đó Thầy cũng chỉ quy về một
mục tiêu là độ sanh mà thôi. Nếu không có một đạo tràng trang nghiêm thì
lấy gì độ sanh, độ tử ? Không lẽ ở xứ nầy thầy ra đường làm lễ, tụng niệm
ngoài trời, làm cho cảnh sát tưởng rằng người tu theo đạo Phật là khùng là
điên cần phải đến giải tỏa hay sao ? Thành ra tất cả mọi chuyện, mọi việc
làm cũng như vậy.
Quí vị hành đạo, hằng
ngày có những giờ được gọi là chấp tác, có nghĩa là làm việc để duy trì
ngôi già lam hay cuộc sống của tăng đoàn; tất cả những giờ thiền, tụng
kinh, học đạo lý, quí vị đều biết cả rồi nhưng đôi khi chưa hiểu cái lý,
cái sự cho nó viên dung, vì thế mà thầy cứ phải bận tâm lo lắng hoài.
Nhưng đôi khi lại có những vị không thông suốt lý đạo thì nói tại sao Thầy
phải bận tâm những chuyện đó chi vậy, chính đó là sự độ sanh đấy, như vậy
mới tu hành đến chỗ Tinh Tấn Ba La Mật được. Cho nên mới đúc kết câu
"Phật sự môn trung, bất xả nhất pháp" (Tiến vào đường đạo, không
trừ một pháp nào mà không làm) cái gì mà nó nằm ở trong Phật sự, việc
Phật là việc sáng suốt không bỏ một pháp nào, trừ ra chuyện thế gian không
nói tới làm chi bởi vì thế gian cũng làm để tạo nghiệp kiếm tiền nuôi
thân, còn chuyện mình làm trong đạo là với tâm nhất như của mình làm để
chuyển nghiệp và để độ sanh. Cũng là việc làm đó mà nằm trong nhiêu ích
hữu tình hay là nhiêu ích hạnh, hoặc là tâm hạnh nhiêu ích là làm lợi ích
cho chúng sanh.
Thí dụ như ở ngoài
đời người ta cho chuyện đi làm lau quét nhà tắm, nhà vệ sinh là hèn hạ,
công việc xấu, hèn. Nhưng trong đạo cũng việc làm đó, mà nếu tâm mình an
nhiên tự tại trong lúc làm, thì sẽ có kết quả hưởng một phần công đức,
phước đức như những người được nghe một thời giảng pháp hay là tụng một
thời kinh, chứ đừng nghĩ mình là tu sĩ phải lên bục giảng pháp mới ngon
lành, còn làm những việc khác thì không đúng, mất thể diện của nhà sư vì
sư là Tăng Bảo đại diện cho Phật để hóa độ chúng sanh. Nghĩ như vậy là sai
lầm, mà hễ đã sai lầm thì làm gì có phước hữu lậu, chứ đừng nói chi đến
cái phước vô lậu; vì còn có tâm vướng mắc so sánh việc làm đời đạo, như
vậy không phải là nhiêu ích hạnh.
Chẳng hạn
bây giờ đây mình tu một mình trong ngôi chùa, trong ngôi Tam Bảo, không
người phụ giúp, chẳng lẽ để cho nhà bếp, nhà cầu bẩn thỉu hay sao? khách
thập phương đến lễ Phật họ sẽ thấy sân chùa đầy cỏ rác, trong chùa thì chỗ
nào cũng bê bối thì thử hỏi: Như vậy thì làm sao có sự trang nghiêm cho
được ? Việc ở ngoài không trang nghiêm thì tâm mình cũng không trang
nghiêm giống như vậy. Những người tu như thế đó, biết đến bao giờ mới thấy
tâm Phật sẵn có trong người mình? Trái lại còn làm cho Phật tử thoái bồ đề
tâm không đến chùa nữa, như vậy thì làm sao độ sanh nói chi độ tử. Vì vậy
trong luật Tổ có ghi mấy câu để lại cho chúng ta học:
"Cần tảo già lam
địa,
Thời thời phước
huệ sanh,
Tuy vô tân khách
chí,
Diệc hữu thánh
nhơn hành ".
tạm dịch :
Siêng năng
quét đọn chùa chiền,
Bao nhiêu
nghiệp chướng não phiền tiêu tan,
Dù rằng
khách tục chẳng qua,
Thánh hiền
thường đến chớ mà dễ ngươi !
Người nào thành tâm
quét dọn sạch sẽ, trang nghiêm chốn già lam, nơi có kiết giới là thuộc
vùng đất chùa ; mỗi thời gian, mỗi thời gian đều như vậy là phước huệ được
trang nghiêm. Trong thì sạch, ngoài thì tươm tất. Tuy không có khách đến,
nói chung là Phật tử hoặc bổn đạo đi qua lại, nhưng lúc nào cũng có các vị
thiên long bát bộ, hộ trì Phật pháp tuần hành, bảo hộ chốn trang nghiêm.
Cho nên quí vị thấy giờ nào rảnh rảnh, yên yên Thầy cũng phải đi xem chỗ
này một chút chỗ kia một chút. Thầy phải để mắt vô xem thử coi ra làm sao,
chứ đừng nói đến chư vị Hộ Pháp, Long Thần. Các Ngài ấy thính hơn thầy
nhiều, còn hiểu luôn trong tâm niệm nữa. Mình làm như vậy mới gọi là
nhiêu ích hạnh, tức là lợi ích cho chúng sanh mà hễ nói đến chúng sanh
là có mình ở trong đó rồi. "Tâm, Phật cập chúng sanh thị tam vô sai biệt",
tâm của mình với Chư Phật cộng với chúng sanh không sai khác, bởi vì nó
không sai khác cho nên mình phải có bổn phận lo. Nếu mình chỉ lo cho mình
mà bỏ chúng sanh là trật, là sai vì chúng sanh và mình là một.
Đầu tiên phải lo cho
chúng sanh quy hướng về Phật pháp, từ từ chúng ta dùng đủ mọi phương tiện
hầu giúp họ chuyển tâm trở lại; tuy vậy phải tùy nhân duyên từng cá nhân
một. Bổn phận chúng ta là người ở chùa phải tạo nhân duyên, hội đủ phương
tiện chỉ vì một mục tiêu chính đáng đó mà thôi.
3. Vô sân hận hạnh:
Tức
là cái hạnh tu không bao giờ giận, không bao giờ hờn nó mới đạt quả vị
thập hạnh nầy. Tu mà động đến một chút là hờn nóng, hờn mát, giận tức.
Trong lúc đó mà muốn đạt đạo quả, mình cần phải dẹp cái tâm đó sớm chừng
nào hay chừng ấy, được như vậy đó thì mới trang trải cái lòng từ bi, tức
là ban vui cứu khổ. Nếu mình buồn mình giận thì làm sao ban vui cứu khổ
được cho mình, chứ đừng nói chi đến chuyện ban vui cứu giúp chúng sanh,
cho nên người tu phải sống với hai chữ Từ Bi. Từ là ban vui, bi là cứu
khổ; còn giận là khổ rồi chứ làm sao vui cho được. Chúng ta phải làm sao
giữ cho được cái hạnh vô sân hận, cố gắng sao đừng cho lòng giận lòng sân
nổi lên, chứ không thì nó đốt hết đám rừng công đức.
Tại sao đừng nên sân
hận ? Vì lửa sân nổi lên thì chúng ta không thể tu hành gì được cả. Muốn
giải tỏa cái tâm sân hận này thì phải có tâm giới, định, huệ. Nhơn giữ
giới sanh định, nhơn định phát huệ, có huệ mới giải tỏa nổi những cái khác
được. Không tham không si đó là cái hạnh vô sân hận. Lúc nào cũng giữ cho
tâm an bình thì thập hạnh mới được hiển lộ, bất cứ là hạnh nào cũng được
hiển lộ cả. Tuy nhiên phải cẩn thận, đôi khi bề ngoài thấy như là an nhưng
bên trong nó sôi sùng sục, như vậy cũng chưa được. Cái tâm sân hận vẫn
còn nằm ngấm ngầm ờ trong.
Mình đã là Thích tử
hay Thích Nữ, là con của đấng Thế Tôn, vị cha lành đã giác ngộ sáng suốt,
mà chính mình mãi còn u tối, sân hận hoài, làm sao dám tự xưng là con Phật
được ! Phải tỏ ra xứng đáng trong những việc nan hành, năng hành. Phải
nhiệt tâm vì đạo. Phải nan nhẫn, năng nhẫn mới giải tỏa được tất cả những
cái triền phược. Đó là nhẫn được cái khó nhẫn đó mới là cao quý. Cái khó
làm mà làm được mới ngon lành, chứ chuyện dễ làm mình mới làm được thì đâu
có giá trị gì. Thí dụ như có ai cầm dao đến giết, cũng chẳng có sợ sệt gì
cả; nhưng phải cho họ biết là oan gia giữa tôi và anh từ đời trước đến đây
là chấm dứt, chúng ta đừng kéo dài đến đời sau nữa. Phải giải tỏa ngay từ
bây giờ, đó mới là tâm hạnh thánh nhơn. Khi hiển thánh thì tâm họ hiển
thánh liền.
Nếu không tu thì
không biết từ vô lượng kiếp trước mình có tạo cái nhân xấu gì ở đâu thì
bây giờ lỡ nó đến mình sẵn sàng trả cho xong. Nghiệp đến mình vẫn giữ tâm
an bình để giải tỏa vấn đề buồn phiền, giận, dỗi. Oan gia nghi giải,
bất nghi kiết, sống trong gia đình hay sống trong chúng cũng vậy. Tại
sao có những vị mình mới nghe tên chưa thấy mặt mà cũng đã có cảm tình,
rồi tại sao có những vị mình thấy mặt, nghe tên hằng ngày mà lại ghét cay
ghét đắng, thậm chí muốn ăn thua đủ với họ nữa. Đây là đạo lý nhân quả ba
đời trong nhà Phật, không có gì tự nhiên mà có. Khi đã hiểu đạo rồi thì
thản nhiên thôi, đâu có gì phải bận tâm suy nghĩ cho mệt. Đã không gieo
duyên này mà bảo có duyên thì làm sao có được.
4. Vô tận hạnh:
Hạnh
nầy rốt ráo với hạnh ở trên kia thì vô sân hận hạnh chỉ có giận hờn thôi;
còn ở đây vô tận hạnh là cái tâm hạnh lành. Tức là đối với chiều
thuận, đối với cảnh nghịch, đối với cảnh lạc, đối với cảnh khổ v.v... coi
như bát phong thổi không động. Tất cả những chuyện coi như là tám ngọn
gió độc thổi không bao giờ lay động. Thế mới gọi là vô tận hạnh là
diệt trừ hết mấy cái tâm niệm thường của người đời.
Con người ta sống
ngoài đời nhất cử nhất động là hiện lên sân, si, ái, ố triền miên. Bất cứ
giờ phút nào cũng có thể nổi giận lên được luôn luôn nằm trong cảnh si mê
không biết đâu là đúng, đâu là sai, đâu là tà, đâu là chánh. Mỗi khi đụng
đến cái gì hạp nhãn hạp tình là ái tối đa, muốn chuyện đó cho bằng
được, còn chuyện gì không thích là ố, tức là ghét cay ghét đắng.
Muốn chứng quả thập
hạnh này mình phải sống với tứ vô lượng tâm mà thường gọi là từ, bi, hỷ,
xả, tức là bốn tâm vô lượng ở trong con người của mình. Nghĩa là
lòng từ, lòng bi, lòng hỷ và lòng xả không còn cân lường được, coi như đã
tới quả Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Như Đức Quán Thế Âm lúc nào
Ngài cũng ban vui cứu khổ cho chúng sanh, và tất cả chúng ta, ai muốn đạt
được quả thập hạnh này thì cũng phải bắt buộc học cái hạnh giống như Ngài.
Được như vậy mới gọi là con Phật, mới gọi là người xuất gia, là trưởng tử
của Như Lai. Tiếp đến sẽ tiến lên Ly Si Loạn Hạnh.
5. Ly Si Loạn Hạnh:
Tâm
hạnh phải lìa những sự si loạn. Đã ngu si mà còn loạn động nữa. Muốn lìa
si loạn động nầy thì không thể nói lý thuyết sơ sơ, mà mình phải hiểu và
biết xa lìa ngũ dục lạc. Mỗi ngày bỏ một chút tức nhiên xa lìa được cái si
loạn ngũ dục. Đó là:Tài, sắc, danh, thực, thùy.
Tài là của cải, tài
vật, phải xa lìa nó, phải chuyển nó thành "Thất thánh tài".Ạ Nếu
vị nào có tâm Phật thì người đó xem tiền tài không nằm trong ngũ dục lạc.
Vì sao? Vì họ dùng đồng tiền đó làm lợi ích cho chúng sanh. Đó là đồng
tiền thanh tịnh để vun bón gốc cây bồ đề, tỏa nguồn tươi mát, an lạc đến
cho chúng sanh. Phải có tịnh tài chúng ta mới có thể tiến tới ngôi thế
gian trụ trì Tam Bảo, có tịnh tài để tiếp tăng độ chúng và làm lợi ích cho
chúng sanh. Chuyện đó nhất định là nên có. Còn nếu người tu mà lo tiền tài
để riêng cho mình, lo cho đoàn thể của mình, lo cho gia đình mình, như vậy
không thể gọi là thất thánh tài, mà phải làm sao cố gắng biến tâm đời
thành tâm Phật, tiền tài ngoài đời thành tiền tài của Phật. Người nào làm
được như vậy thì mới xa lìa được dục lạc thế gian mới gọi là thất thánh
tài.
Kế đến là Sắc. Mắt
mình mà nhìn đến cái gì đẹp là ôi thôi chết mê, chết mệt, mong muốn làm
sao cho chiếm được vật đó. Những cảnh tượng như thế chúng ta phải làm sao
khắc phục được tâm để xa lìa nó, đừng nên chạy theo bén gót cái gọi là si
loạn động này.
Rồi đến Danh. Đừng
nên làm vì cái danh, cái tướng cho dù chúng ta có xây năm bảy cảnh chùa
hay đúc một vài quả chuông cũng đừng vì danh vì tướng, vì
tiếng khen mà làm. Nên nghĩ rằng ta làm vì chúng sanh, có chúng sanh ta
mới trải thân ra làm đạo.
Sau đến Thực. Thực là
về sự ăn uống. Thức ăn uống đừng nên dùng cao lương mỹ vị quá sẽ khó tu
hành. Chỉ cần cho vừa đủ để chúng ta có sức khỏe mà làm đạo là được rồi,
kẻo không thì cái si loạn trong thân mình nổi lên rồi không kềm chế, hàng
phục nổi..
Đến cái cuối cùng là
Thùy, tức là ngủ nghỉ. Ngủ cũng vừa phải mà thôi, đừng nên ngủ quá
nhiều, bởi vì ngủ nghỉ nhiều sẽ đem lại sự mờ tối si mê. Người biết tu đôi
khi người ta phải ngủ ngồi. Ngủ ngồi dễ kiểm soát con người mình hơn, ít
bị chiêm bao mộng mị. Nếu lìa được ngũ dục lạc là chúng ta đắc được ly
si loạn hạnh, và việc tu hành của chúng ta sẽ tiến thêm một bậc nữa
đó là thiện hiện hạnh.
6. Thiện Hiện Hạnh:
Thiện
hiện tức là hiện ra những cái hạnh lành mà cái lành đó tức là phá trừ ngã
tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Đó là bốn tướng thế
gian.
Bốn tướng đó hằng
ngày mà mình phá trừ được thì mình sẽ đạt đến hạnh thiện, còn được gọi là
thiện hiện. Danh từ thiện hạnh này được dịch ra từ cái tên của Ngài Tu Bồ
Đề, mà Ngài Tu Bồ Đề là bậc, giải không đệ nhất cho nên mới gọi là Tu Bồ
Đề. Đó là lý Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Muốn đạt được tánh kim cang, mỗi
người phải tự phá trừ bốn loại tướng thế gian đó. Chẳng những vậy mà bốn
cái tướng của Phật pháp (sanh, trụ, dị, diệt - Sanh, già, bệnh, chết)
cũng phải phá trừ dù cho đó là ngã tướng và ngã pháp của xuất thế gian.
Cho đến Ngũ ấm, Lục nhập, Thập nhị xứ, Thập pháp giới v.v... Biết rồi cũng
dẹp nữa chớ đừng có nên chạy theo nó, cũng như chứng được sơ quả, nhị quả,
tam quả, tứ quả, chúng ta cũng đều giải tỏa hết, tức nhiên là đừng có chấp
ta đã chứng A la Hớn rồi. Khi còn chấp vào cái chứng của mình tức nhiên là
chưa chứng gì hết.
Trong lý Kim Cang
đã nói như vậy người mà muốn đạt cho được cái hạnh thiện hiện là phải
phá trừ ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Phải biết
rằng hình tướng của mình là do tứ đại giả hợp mà thành cho nên không ăn
thua gì cả, đối với người khác cũng vậy có cái gì đâu là thiệt của mình.
Nó chỉ là những yếu tố hợp lại rồi đặt thành ra một cái tên vậy thôi,
không hiểu thì còn vướng mắc chứ khi đã thông suốt rồi thì buông bỏ tất
cả. Cũng như quả địa cầu có trước mình bao nhiêu triệu năm, cũng chỉ là
nhân duyên hợp lại mà thành, vì là nhân duyên nên có ngày cũng bị di sơn
đảo hải sẽ bị thành, trụ, hoại, không chi phối. Làm sao cố gắng đạt cho
được quả nầy thì chúng ta mới có cơ hội tiến lên một bậc nữa là Vô trước
hạnh.
7. Vô Trước Hạnh:
Là tâm
hạnh làm bất cứ một chuyện gì dù lớn hay nhỏ, trong hay ngoài cũng phải
chánh niệm với công chuyện của mình làm. Đừng bao giờ để cho vọng tâm,
hoặc trước tướng cầu danh ngự trị. Người đời làm cũng coi không được chứ
đừng nói chi đến người tu đầu tròn áo vuông. Nếu còn trước tướng cầu danh
là không đạt được quả này. Quả vô trước hạnh nầy có nghĩa là, làm gì xong
rồi cũng phải bỏ qua hết, chuyện làm thì phải làm, dù cho có thành công
hay thất bại cũng vậy, chúng ta phải thản nhiên, chứ đừng thấy thành công
thì vội vàng ưỡn ngực ta đây; còn thất bại thì chán nãn ê chề. Ai mà có
tánh như vậy thì không thể nào ra làm đạo được hết, vì ra làm đạo có trăm
ngàn chông gai trước mặt, mình phải cố gắng vươn hết sức để vượt qua. Phải
luôn luôn an trụ trong tâm không cầu danh, cầu tướng trong bất cứ một
chuyện gì, người nào hằng tâm niệm như vậy mới có thể đi đến chỗ Ba La Mật
và rốt ráo đạt được vô trước hạnh ; lúc ấy mới có thể tiến lên đến
quả tôn trọng hạnh.
8. Tôn Trọng Hạnh
là
luôn luôn tôn trọng tâm hạnh Phật tánh của chính mình và cái tâm hạnh Phật
tánh của chúng sanh "Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh" có nghĩa là
(Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh bình đẳng). Mình phải tôn trọng
cái Phật tánh của người khác, đó cũng chính là tôn trọng Phật tánh của
mình. Mình phải làm sao cho muôn loài chúng sanh hiển lộ được Phật tánh
sẵn có của họ tức là nhập Phật tri kiến. Trong kinh đức Phật có dạy, Phật
tánh là tánh sáng, tánh giác ngộ của từng cá nhân một. Phật tánh có chia
ra như sau:
1. Chánh nhơn Phật
tánh,
2. Duyên nhơn Phật
tánh,
3. Liễu nhơn Phật tánh.
Chánh nhơn
tức là Phật tánh
của chính mình, rồi cộng thêm hạt giống duyên nhơn hợp lại thì Phật
tánh đó mới có kết quả tốt mới đi tới chỗ hoàn toàn giác ngộ là đem lại
thắng duyên tu hành rồi thì tiến lên liễu nhơn Phật tánh tức là cái
tánh trở về nhập Phật tri kiến. Bởi thế cho nên chúng ta phải tôn trọng
Phật tánh của mình, và tôn trọng Phật tánh của người.
Thí dụ như tiếng hay
của mỗi cây đàn gọi là liễu nhơn Phật tánh ; còn cái chánh nhơn Phật tánh
là tiếng hay sẵn có ở trong cây đàn. Nếu chỉ có chánh nhơn, liễu nhơn mà
không có duyên nhơn thì làm sao phát ra tiếng hay đó được ?
Duyên nhơn là gì? Là
ngón tay của người nhạc sĩ khảy đàn. Có ngón tay mà không có người đánh
đàn giỏi thì những bản nhạc dù hay cũng không được kết quả mỹ mãn, cho nên
mới có ba yếu tố là tam nhơn Phật tánh vậy.
Người ta còn đưa ra
thêm một thí dụ nữa như là: Trong cây có lửa nhưng đâu ai tin, và còn nói
rằng cây thì làm sao có lửa cho được? Nếu có lửa thì nó sẽ cháy từ trong
ruột cây cháy ra hay sao? Nhưng thật sự và chắc chắn rằng trong cây vốn
sẵn có lửa, Chúng ta thử đem hai cây cọ xát lại với nhau một lúc lâu, đến
khi độ nóng đã có thì những làn khói bắt đầu xuất hiện bay ra. Đó là hiện
tượng sẽ có lửa, cũng như Phật tánh nếu chúng ta biết khai thác thì nó
cũng hiển hiện rõ rệt như vậy.
Vì thế người tu phải
lấy "sanh tử đại sự" để đứng hàng đầu có như thế mới tinh tấn tu hành đến
chỗ ba la mật. Mình phải tu tiến làm sao để khỏi phụ cái tánh linh của
mình. Thật ra những người không biết tu, chỉ cạo đầu vào chùa rồi ngồi
không hưởng của đàn na tín thí không làm lợi ích cho ai được cả. Không tự
lợi được thì lấy gì mà lợi tha, tu như vậy thì thật là mê lầm hoàn toàn vô
dụng. Phải làm sao có lợi ích cho tánh linh của mình và lợi ích cho tánh
linh của người, tu như thế thì mới đi đến quả tôn trọng hạnh.
9. Thiện Pháp Hạnh:
Tâm
hạnh thực hành Phật pháp hết sức khôn khéo đi đến cái chỗ gọi là ba la
mật. Muốn chứng pháp hạnh nầy chúng ta phải thực hành Lục Độ là bố thí,
trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Những độ nầy phải đạt
đến chỗ Ba La Mật, có nghĩa là chúng ta làm mà không thấy làm, làm với tâm
rốt ráo sẵn có trong người của chúng ta, mà phải sáng suốt đâu là đúng,
đâu là sai. Phải có tâm niệm rằng ta làm vì lợi ích cho chúng sanh thì
việc làm sẽ đến chỗ ba la mật, khi đó quả thiện pháp hạnh sẽ nằm
trong tay của quý vị. Từ đó có thể tiến lên quả cuối cùng dễ dàng là chơn
thật hạnh.
10. Chơn Thật Hạnh:
Tâm
hạnh của mình chơn thật thể nhập với chơn lý Phật tánh. coi như là liễu
nhơn Phật tánh. Liễu nhơn Phật tánh hiển lộ ra từ từ để tiến đến chơn
thật hạnh.
Thầy muốn giải thích
cho quý vị nghe là chúng ta luôn luôn đi thẳng vào chơn như Phật tánh của
chính trong người mình. Làm được như vậy mới là xứng tánh tác Phật sự,
phổ huân chư chúng sanh, giai phát Bồ đề Tâm... Kết quả cho chúng ta
thấy là sau khi mình thể hiện được trong người mình có tánh giác hoàn toàn
an vui giải thoát một cách rốt ráo, đó gọi là chơn thật hạnh.
08. Tiến đến quả vị Thập Hồi
Hướng
Từ
khi vào Hạ đến giờ thầy đã khai thị cho quý vị nghe cả thảy là được ba
thời pháp đó là: Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, bây giờ tới bài Thập
Hồi Hướng.
Khi mỗi chúng ta có
chánh tín tu hành đi sâu vào, thành tâm phát nguyện thì sẽ đạt được quả vị
Thập Tín, rồi mới bước lên một tầng nữa tức là Thập Trụ, nghĩa là mười
điểm trụ vào cái chơn tâm của chúng ta, và làm sao phải sống đúng với
những cái trụ đó thì mới có thể bước lên một bậc nữa tức là chứng về Thập
Hạnh. Đây là mười cái hạnh tu hành làm lợi tha cho muôn loài chúng sanh.
Nói đến Thập Hồi
Hướng thì chúng ta cũng cần nên tìm hiểu yếu tố nào đưa đến những quả nầy.
Đây là tiệm tu còn được gọi là tiệm giáo, nghĩa là cách tu từ từ. Còn đốn
tu tức là nhất văn thiên ngộ, vì có người mới tu là đốn ngộ liền,
không phải trải qua các đường lối tu chứng của tiệm giáo, đưa thẳng đến
Đẳng Giác, Diệu Giác, Viên Giác. Viên giác là giác ngộ một cách tròn đầy
đó là tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, cũng như Đẳng Giác là thấp,
Diệu Giác là trung bình, Viên giác mới là quả vị Phật. Đó là đường lối tu
chứng và quí vị cần nương theo đó mà tu. Vị nào có thượng căn thượng trí
thì nhất văn thiên ngộ gọi là đốn giáo, trái lại thì mình cũng phải
đi từ từ mà thôi, gọi là tiệm giáo.
Hai chữ Hồi Hướng,
quí vị đã từng nghe qua rất nhiều khi mới bước vào cửa chùa. Làm cái gì
cũng hồi hướng, có khi hồi hướng cho tứ thân phụ mẫu, cùng thân bằng quyến
thuộc, cho đàn na tín thí và hồi hướng cho pháp giới chúng sanh đồng thành
Phật đạo, đó mới là đúng nghĩa quả vị hồi hướng. Phải tu làm sao để đạt
cho được quả vị thập hồi hướng.
Chữ hồi là thu
hồi công đức mà mình đã tạo trong lúc tu hành; còn hướng là trải công đức
đã thu hồi, hướng về mọi người và cho mọi người, hay nói rộng ra là cho
pháp giới chúng sanh. Nếu giải rộng ra là hồi tự hướng tha, hồi nhơn
hướng quả, hồi sự hướng lý, hồi tướng hướng tánh.
Nghĩa chữ hồi hướng
rất là sâu rộng. Nói một cách nôm na để cho quý vị dễ hiểu cũng như mình
để dành tiền rồi đem ra bố thí cho chúng hữu tình vì mình muốn cho tất cả
chúng sanh sớm thành Chánh Đẳng, Chánh Giác. Đó mới là tâm Bồ Tát. Cũng
như trong lúc tụng kinh tuy chưa đạt được đúng mức siêu thoát nhưng chắc
chắn trong thời tụng kinh đó ta cũng có chút công đức, rồi cuối cùng trước
khi chấm dứt thời khóa tụng là ta hồi hướng công đức đó cho chúng sanh;
còn nếu chỉ hồi hướng cho cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc thì công
đức đó rất là hạn hẹp. Giống như chúng ta làm việc bố thí mà còn phân chia
kẻ thân người sơ, kẻ thương người ghét, còn biên giới tức là hữu biên.
Việc làm còn hạn hẹp thì không thể nào đi đến thù thắng vì sự hồi hướng đó
chưa đến chỗ "vô biên thắng phước đều hồi hướng" được.
Vị nào muốn hồi hướng
một cách thù thắng vô biên như vậy thì phải hồi hướng hết lòng, đừng giữ
trong tâm và phân chia gì cả, xong rồi mới "Khắp nguyện chúng sanh
trong pháp giới, đều được vãng sanh về Cực Lạc". Nguyện cầu cho hết
thảy chúng sanh đều trở về cảnh giới của Phật A Di Đà, hay là có những câu
khác mà quý vị thường tụng mỗi ngày gọi là "hồi hướng lương duyên Tam
Thế Phật, Văn Thù Phổ Hiền Quán Tự Tại, Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha
Bát Nhã Ba La Mật". Có nghĩa là gần tụng kinh xong mình hồi hướng cái
duyên lành, duyên thù thắng, duyên tốt, duyên siêu xuất thế gian, hay còn
gọi là duyên an vui giải thoát lên cho mười phương chư Phật để đền đáp ơn
sâu đến ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Tự Tại tức là Quán Âm và còn hồi
hướng cho các vị Bồ Tát lớn, tôn quý như Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát. Mỗi vị
phải mang trí tuệ rốt ráo, trí tuệ ba la mật của mình giống như trí tuệ Ba
La Mật của chư Phật, chư Bồ Tát vậy. Đạt được đến chỗ Ba La Mật gọi là đáo
bỉ ngạn.
Đức Phật đã vạch rõ
cho quý vị con đường thoát khổ để ra khỏi luân hồi sanh tử ở quả vị Thập
Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, còn chuyện kết quả tốt, xấu là do nơi mình thực
hành hằng ngày, cũng như hôm nay Thầy giảng cho quý vị bài Thập Hồi Hướng,
trong đó chia ra làm mười quả vị khác nhau. Thầy mong sao trong ba tháng
hạ này quý vị nhận rõ được "Tâm như thái hư, lượng châu sa giới",
nghĩa là độ lượng viên dung của mình được trải rộng ra khắp pháp giớiẠ.
Những gì là mười quả vị hồi hướng ?
1. Cứu hộ chúng
sanh,
ly chúng sanh
tướng hồi hướng
Danh từ này rất là đặc biệt cần phải lưu ý tối đa để nhận
ra và làm cho nó thấm nhuần, tươi nhuận, lợi lạc cho tâm hồn, còn nếu mình
không thấm nhuần thì tâm mình sẽ khô khan, cằn cỗi rồi sanh ra đủ thứ khổ,
đủ thứ bệnh.
Người ta thường ưa
nói câu dễ hiểu là : "Giáo pháp của Phật mà mình nhận được thì giống
như uống được vị nước cam lồ" ; nó thấm nhuần, mát mẻ, và trong tâm
chúng ta được an vui tự tại, giải thoát. Ở địa vị Thập Tín, Thập Trụ, Thập
Hạnh, thì còn trong quả Thanh Văn, Duyên Giác. Lên đến quả Thập Hồi Hướng,
Thập Địa mới vào được quả vị Bồ Tát, mà hễ nói đến Bồ Tát là cái tâm phải
hành giống như ngài Quán Thế Âm, Đại thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền v.v...
Tâm Bồ Tát ở sẵn
trong mỗi chúng ta. Nó thường hiện ra tâm từ bi, thương người, thương vật,
nhưng đôi khi cũng biểu lộ ra những cái ích kỷ nào đó thì khi đó tâm Bồ
Tát bị bệnh nặng lắm, vì sao? Vì lòng thương ích kỷ đó nó biểu lộ một cách
rõ rệt, không có lợi tha, không có hồi hướng cho ai cả cho nên cứu hộ
chúng sanh ly chúng sanh tướng hồi hướng nghĩa là chúng sanh với mình
vốn đồng một bản thể, vì vậy bất cứ làm cái gì cũng nghĩ đến chúng sanh
trước nhất, mà hễ nói đến chúng sanh là có mình trong đó. Mình là một
trong những chúng sanh, thân nhân của mình cũng là một trong những chúng
sanh đó, cho nên hồi hướng này gọi là cứu hộ chúng sanh.
Cứu về hình thức và
cứu về tinh thần. Nên nhớ một điều là, mình phải lìa tướng thì mới không
thấy mình làm việc đó, nhờ thế mà mình mới làm được mãi mãi; còn nếu trong
tâm nghĩ rằng mình đã có giúp cho chúng sanh nhiều quá rồi bây giờ tới lúc
phải nghĩ xả hơi, tâm như vậy gọi là tâm giải đãi thì không thể nào gọi là
cứu hộ chúng sanh mà ly chúng sanh tướng được. Lý do là còn thấy có
tướng nên còn thấy có mình làm. Thí dụ như người xuất gia có bổn phận học
đạo để hoằng truyền chánh pháp của Phật là giảng giải cho chúng sanh nghe
những câu kinh, những bài kệ, nhưng đừng nên nghĩ rằng vì có mình giảng
bài đó nên người ta mới hiểu. Vị nào nghĩ như vậy là còn có danh có tướng,
còn chúng sanh tâm, mà còn gọi là chúng sanh tâm thì làm sao thoát ra khỏi
vòng sanh tử luân hồi cho được. Không chừng còn làm cho mình tăng thêm cái
ngã mạn của mình nữa là khác, do vậy mà trở thành thế gian pháp, chứ không
phải là Phật pháp.
Cho nên cứu hộ chúng
sanh phải ly chúng sanh tướng hồi hướng là lìa hết các tướng chúng sanh,
hay là chúng ta bố thí cái vô úy cho chúng sanh, vì chúng sanh thường khi
sợ đau, sợ bệnh, sợ già, sợ chết người thố lộ tâm tư đó cho mình nghe, sau
khi nghe xong liền giảng cho họ một bài pháp để cho họ an tâm không còn sợ
sệt nữa, chứ đừng có nghĩ nhờ có mình nói pháp vô úy mà họ mới được an tâm
vui vẻ trở lại. Nhớ nghĩ như vậy gọi là tâm phàm phu chớ không phải tâm
siêu xuất thế gian.
Bây giờ thầy chỉ cho
quý vị thấy tại sao nó có ý nghĩ như vậy ? Vì họ chưa giác ngộ được sự tu
chứng của mình, chưa có tâm lượng Bồ Tát thật sự thành ra làm bất cứ việc
gì cũng nghĩ là có mình trong đó thì công việc đó mới thành công viên mãn.
Người như vậy gọi là người mê, nhưng khi giác ngộ rồi thì không còn nghĩ
tưởng nữa, đó là Phật, tâm mê làm chúng sanh, tâm giác ngộ làm Phật.
Vì thế mà chí nguyện
của người xuất gia là phải thượng cầu Phật Đạo, hạ hóa chúng sanh có nghĩa
là trên cầu cho được cái chơn lý giác ngộ, dưới giúp cho chúng sanh thoát
cơn mê lầm, chúng sanh còn mê lầm đau khổ là người xuất gia chúng ta phải
cố gắng giúp đưa chúng sanh ra khỏi sông mê mới thôi, như thế mới gọi là
cứu hộ chúng sanh .
2. Bất Hoại Hồi
Hướng
Tâm hồi hướng của
chúng ta đừng bao giờ cho nó hư hoại, lúc nào cũng nghĩ tưởng cứu giúp
chúng sanh, vì vậy mà sau giờ ăn sáng là chúng ta phải đọc những câu thánh
nguyện như là "Tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ" v.v... Chữ
độ ở đây có nghĩa là chuyên chở bằng đò. Dùng con đò bát nhã, hay dùng trí
huệ sáng suốt chở chúng sanh qua biển luân hồi.
"Tự tánh phiền não
thệ nguyên đoạn"
mỗi ngày mình phải độ
cái tánh của mình một chút, có nghĩa là mình phải sửa tánh nết cho trang
nghiêm, mỗi ngày mình phải đoạn cái phiền não của mình một chút, dần dần
cũng phải hết. Nếu mình không đủ khả năng khai triển trí sáng suốt cao
thượng để đoạn, thì ít nhất cũng tự chuyển cho mình qua biển sanh tử. Đừng
để cho tánh mình tăng trưởng về phần thế gian pháp. Phải tự soi xét, sửa
chữa được cho mình rồi kế tiếp mới
"Chúng sanh vô biên
thệ nguyện độ"
vì chúng sanh cang
cường có nhiều cá tánh bệnh tật khác nhau khó giáo hóa, khó độ, mình phải
cố gắng gần gũi chỉ bảo cho được mới gọi là người tu, nhưng phải cẩn thận
nếu không, coi chừng chúng sanh độ ngược lại mình.
Trong kinh Phật có
dạy : "Tùy thuận chúng sanh là cúng dường mười phương chư Phật",
nhưng tùy thuận theo phương thức nào đây ?
Tùy thuận theo chiều
sáng suốt để đưa chúng sanh đến chổ giác ngộ như Phật, chứ không phải tùy
thuận theo chúng sanh đi xuống. Chúng sanh đòi chi ta cũng làm nấy, rồi
làm một đổi là đi sai với chánh pháp, đi sai chơn lý, không đúng sự thật,
thế là chúng sanh có dịp độ ngược lại mình. Họ nói gì mình cũng phải chiều
theo, nghe theo, bảo làm gì cũng làm mà không biết việc làm đó đúng hay
sai. Đức Phật có 84 000 pháp môn vô lượng diệu nghĩa, người tu phải phát
nguyện để học mới có sáng suốt cứu giúp chúng sanh, mới đúng nghĩa
"Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ".
Thật ra
thì người tu chúng ta cũng cần biết sơ qua những pháp môn khác. Thí dụ :
Ai nói tới Mật Tông mình cũng biết, ai nói tới Nam Tông mình cũng biết,
Bắc Tông, Thiền Định, Trì Chú, Niệm Phật, Quán Tưởng, chúng ta cần phải
biết để mà tìm cách hướng dẫn họ đi cho đúng phương hướng để dễ dàng trong
sự tu chứng. Trong tất cả các pháp môn tu chúng ta cần phải chọn cho mình
một pháp môn nào thích hợp với trình độ tu hành, từ đó mình mới cảm thấy
thích nghi tu học, thích nghi hành sự, thì sự tu mới đạt đến kết quả viên
mãn.
Theo như Thầy nhận
thấy trong thời buổi này chỉ có pháp môn "Niệm Phật" là dễ dàng đáp ứng
cho tất cả mọi trình độ tu hành, chỉ cần chúng ta nhất tâm niệm Phật cho
đến chỗ nhất như thì khi bỏ báo thân này sẽ được vãng sanh về cõi Phật A
Di Đà (trong kinh A Di Đà có dạy). Tâm nguyện của những vị xuất gia
là luôn luôn lúc nào cũng tự lợi, lợi tha để cứu độ chúng sanh "Bá
nhơn bá bụng bá bao tử" không ai giống ai, cho nên Đức Phật mới
nói ra nhiều pháp môn. Đức Phật biết tâm chúng sanh đòi hỏi đủ kiểu, cho
nên điểm thứ hai này kêu là bất hoại hồi hướng là đừng làm
cho tâm mình hư hoại cái công đức hồi hướng. Bất cứ làm việc gì rồi cũng
đem ra hồi hướng cho tất cả chúng sanh, vì thế cho nên cái hạnh nguyện của
Đức Phổ Hiền Bồ Tát có dạy :"Tùy hỷ sám hối chư thiện căn, hồi
hướng chúng sanh cập Phật đạo".
Luôn luôn mình lấy
cái đức tính tùy hỷ sám hối (nếu tội phạm thật sự ăn năn, hối cãi)
để độ chúng sanh, kể cả huynh đệ sống chung trong chùa mình cũng tùy hỷ,
kẻ làm được việc này, người làm được việc nọ, mỗi người có một năng khiếu
riêng biệt, chúng ta phải lấy lòng tùy hỷ trong công việc làm đó, chứ đừng
dùng tâm ganh ghét khi thấy ai hơn mình, còn như ai thua mình thì mình
khinh khi ra mặt, tâm những vị như vậy là tâm chúng sanh, tâm đời.
Còn tâm đạo không
phải như thế, vị nào có tâm đố kỵ như vậy thì còn lâu lắm mới lên được quả
thánh. Bất cứ làm gì xong rồi cũng đem hồi hướng cho chúng sanh và còn cầu
nguyện cho chúng sanh sớm thành Phật đạo, nếu nói cho dễ hiểu hơn là chúng
ta hồi hướng cho chúng sanh với đạo Phật, chớ thật ra Phật đạo nằm trong
con người của mình, là Phật tánh của mình. Vì Phật là sáng suốt hoàn toàn,
còn đạo là chơn lý, là lý tánh tuyệt đối, là bản thể, tức là mình hồi
hướng lại cho chúng sanh, hồi hướng lại cho cái chơn tâm của mình.
Phải làm sao cho sự
hồi hướng không hoại, vì một là sau khi làm xong thì mình quên hồi hướng,
hai là mình chỉ hồi hướng cho thân bằng quyến thuộc của mình mà thôi, còn
người quen sơ thì mình không bao giờ nghĩ tới ; cũng như chỉ hồi hướng cho
những người thân, thuận, chớ đối với người nghịch thì không bao giờ hồi
hướng cho họ. Thầy chắc chắn rằng những việc hồi hướng như vậy là sẽ bị
hoại căn tánh liền. Những việc hồi hướng nầy chúng ta cố gắng làm sao cho
nó trở lại nằm ở trong bản tâm thanh tịnh của mình nên được gọi là bất
hoại hồi hướng, đó mới là công lao tu chứng. Được như vậy mới tiến lên
thêm một bậc nữa là Đẳng Nhất Thiết chư Phật Hồi Hướng.
3. Đẳng Nhất Thiết
Chư Phật Hồi Hướng.
Đẳng là bình đẳng,
nhất thiết chư Phật hồi hướng, nghĩa là trước kia chư Phật tu nhất nhất
mỗi việc làm xong là Ngài hồi hướng cho chúng sanh, bây giờ chúng ta cũng
noi gương của Ngài, có nghĩa là chúng ta phải bình đẳng đối với các đấng
giác ngộ và còn được gọi là Như Lai xuất triền, chúng sanh là Như Lai tại
triền, chúng sanh cũng mang cái Phật tánh ở trong đó. Vì thế mà Thầy mới
nói tới "Đẳng nhất thiết Chư Phật hối hướng".
Bình đẳng, vì tất cả
Chư Phật và chúng sanh cũng nằm trong đó ; chớ đừng có nghĩ tới tán thán,
khen ngợi hồi hướng lên Chư Phật mà chúng sanh thì mình không có nghĩ tới.
Làm như vậy là không được, vì chúng sanh với Phật là một (Phật từ chúng
sanh mà thành) cho nên có câu "Phật chúng sanh tánh thường rỗng
lặng" có nghĩa là tánh giác ngộ như nhau, (mê là chúng sanh, ngộ là
thành Phật) mà tại vì chúng sanh mê muội cho nên cứ mang nhãn hiệu
chúng sanh mãi mãi, ngày giờ nào mà có chúng sanh giác ngộ thì chúng sanh
đó thành Phật, nhưng trước hết phải làm sao cho có một cái tâm bình đẳng
để tu tập. Môn nào cũng vậy, khi tu tập xong là phải hồi hướng đến nhất
thiết chư Phật đối thượng, đối hạ và nhất thiết chúng sanh cũng đều thành
Phật, vì vậy mới gọi là bình đẳng mới đạt được quả vị hồi hướng này. Nếu
như chúng ta chưa có tâm bình đẳng thì không thể nào đạt được quả gì hết.
Đừng nói đâu xa, nội
trong chùa đây, sống chung với huynh đệ học cùng một Thầy, ăn cùng một
mâm, làm việc cùng một lúc vậy mà còn chưa nhất thiết bình đẳng đại chúng
được chứ đừng nói chi xa xôi, vì còn có tâm phân biệt thương, ghét, thân,
sơ, đôi khi chỉ nhìn nhau bằng nửa con mắt, thử hỏi có những vị làm như
thế đó thì làm thế nào đi đến bình đẳng nhất thiết chư Phật hồi hướng, vậy
mà mỗi ngày lên chánh điện nhìn Phật đọc bài kinh nọ câu kệ kia rồi không
cảm thấy mắc cở xấu hổ, đối với mười phương chư Phật cũng như đối với
chúng sanh lương tâm hay sao?
Vậy, chúng ta phải
hết lòng coi nhau như một chứ đừng chia ra hai, ba gì cả. Đừng sanh tâm
nhơn, ngã, bỉ, thử. Giả sử như có vấn đề đó thì chúng ta nên quán là
nghiệp này ta đã gieo từ tiền kiếp, nay quả chín mùi ta phải trả nếu không
trả vốn thì phải trả lời còn khổ hơn thế này nữa. Tốt hơn là nên vui vẻ mà
trả kiếp này cho xong. Nếu tất cả ai cũng quán xét được như vậy để đi đến
sự giải thoát cho mình và cho người thì thầy bảo đảm rằng trong sự tu hành
hằng ngày, hoặc ra làm đạo không bị vấp ngã việc gì cả. Còn như trong đại
gia đình mà biết cách cư xử như vậy thì không bao giờ đưa đến sự anh, chị,
em chia rẽ, chẳng những thế mà còn gây oán thù.
Nói chung lại thì làm
việc gì xong rồi là phải xả bỏ liền, và đều hồi hướng cho khắp nhất thiết
Chư Phật, và đồng hồi hướng cho tất cả chúng sanh trọn thành Phật đạo.
4 - Trí nhất thiết
xứ hồi hướng
Câu nầy để chỉ cái
trí nhất thiết của chúng ta dù đi đến một chỗnào, nơi nào mình hành đạo
hoặc tu học xong rồi là phải hồi hướng liền cho tất cả nhất thiết xứ. Phải
dùng tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả của mình để hồi hướng đừng có giữ cái
tâm từ bi đó trong con người mình. Nếu mình nắm giữ thì nó không còn có
công đức bao la rộng lớn nữa, cho nên trí hồi hướng là vậy đó. Nghĩa là
đến tất cả chỗ lòng thành làm tất cả rồi hồi hướng.
Dĩ nhiên chúng ta ai
cũng làm việc đạo hết do đó có câu gọi là "Nguyện tương dĩ thử thắng
công đức, hồi hướng vô thượng chơn pháp giới", nghĩa là làm cái gì rồi
mỗi chỗ mỗi chỗ nhất thiết xứ đem công đức thù thắng đó để mình hồi hướng
lên vô thượng chơn pháp giới. Chơn pháp giới đây là Phật tánh của từng
người. Phải đem cái lý hồi hướng đó thể nhập vào chơn tâm của mình, hồi
hướng vô thượng. Vô thượng nghĩa là không có gì trên cái chơn tâm
của mình được, để đạt quả vị giác ngộ quả vị Phật, có nghĩa là Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác thì không có sự giác ngộ nào hơn nữa hết.
Những ai được như vậy
đó là được hoàn toàn sáng suốt giác ngộ. Hồi hướng vô thượng chơn pháp
giới tức nhiên là pháp giới ở trong cái nguồn chơn mà nguồn chơn là
chỉ cho tâm thật của chúng ta, còn hiện bây giờ ta đang sống đây là
vọng tâm, nhưng mọi người đều lầm đó là chơn tâm.
Chơn tâm của chúng ta
thật bao la, rộng lớn. Trong lý Bát Nhã là bất cấu, bất tịnh, bất
tăng, bất giảm vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt
thân ý, vô sắc thinh hương vị xúc pháp nó không có cái gì tất cả
mới gọi là chơn pháp giới. Hồi hướng vô thượng chơn pháp giới và
được như vậy thì mình làm việc gì là trí nhất thiết xứ hồi hướng
hết việc ấy. Cần phải tiến tu đạo nghiệp cho nhiều thì mới đạt được quả
thập hồi hướng nầy. Điểm cần thiết là phải giữ cho tâm mình tịch nhiên giờ
nào cũng như giờ nào đừng bao giờ nghĩ đến phước cho mình hay nghĩ đến
nhân quả tốt để mình hưởng, làm sao giải tỏa được nó thì mới chuyển được
những cái triền phược bị ràng buộc.
Bây giờ thầy nhắc
trong đại chúng từ lớn đến nhỏ, nếu mình chưa quên cái ý nghĩ đó được thì
mình cũng cố gắng giữ cho tâm thanh tịnh nhưng đừng chấp chặt vào nó quá,
rồi hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sanh liền, có nghĩa là mình đã giác
ngộ thì tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.
Mới nghe qua thì thấy
nó rất tầm thường, nhưng thật sự nó rất cao siêu mầu nhiệm vô cùng tận chớ
không phải ít đâu. Tức là mình đã sáng suốt và đem cái yến sáng giác ngộ
đó giúp lại cho người khác để cho họ cũng sáng suốt giống như mình, đó gọi
là giác tha. Đó là trí nhất thiết xứ hồi hướng.
5. Vô Tận Công Đức
Tạng Hồi Hướng
Bao nhiêu công đức mà
mình làm, đương nhiên nó đã nhập vào Như Lai Tạng rồi. Tạng đây là Như Lai
Tạng tánh, vô tận, vô tận, vì nó không bao giờ cùng tận đâu. Nhưng phải
làm sao cho nó thể nhập được cái công đức của những việc mình tu và hành,
những công đức bố thí vô tướng, hạnh nguyện lợi tha là điều cốt
yếu.
Thí dụ : Chúng ta
phát lời nguyện để tụng một bộ kinh Pháp Hoa hay một bộ kinh
Lương Hoàng Sám hoặc Từ Bi Thủy Sám phải nhất tâm nhất đức thọ
trì tụng niệm cho đúng mức thì đó gọi là công đức, rồi từ đó triển khai
công đức đó cho thể nhập với Như Lai Tạng tánh là cái tánh thật của mình
xuất triền, gọi là ra khỏi ràng buộc. Hiện bây giờ mỗi người trong chúng
ta, ai cũng có Như Lai Tạng tánh nhưng bị ràng buộc, tại triền bởi phiền
não, vô minh, nghiệp lực, ác chướng, báo chướng che lấp v.v..., cho nên
không giải tỏa được.
Do đó chúng ta mang
cái như lai tạng tánh tại triền, luôn luôn bị ràng buộc cột chặt.
Từ những sự việc bên ngoài cho đến cái công đức bất cứ làm việc gì, như
dâng cúng Phật một bình hoa, thắp một cây nhang cúng Phật mà gọi là xứng
với cái tánh Phật của mình mà làm thì đó gọi là công đức. Tiếp đó mình
phải hồi hướng cho pháp giới tánh tức là cái Như Lai Tạng tánh. Như Lai
Tạng tánh chung và Như Lai Tạng tánh riêng cho từng cá nhân của mỗi chúng
ta nó vô tận vô tận mãi mãi cho đến khi nào đắc quả vị chánh đẳng chánh
giác mới thôi, tức là không cùng tận. Như vậy mới gọi là vô tận công
đức tạng hồi hướng.
Làm được như vậy rồi,
tâm vẫn an nhiên, bao la như bình thường. Đừng nghĩ đến cái sự hạn hẹp,
có nghĩa là tháng này mình phát nguyện tụng một bộ Kinh Pháp Hoa
nhưng đừng bao giờ nghĩ tới mình đã tụng rồi, thì tháng tới mình sẽ tiếp
tục tụng như vậy; còn bằng ngược lại ghi nhớ trong đầu mình đã phát nguyện
rồi thì hay thoái bồ đề tâm và bị hạn cuộc trong sự tu hành, mà bị hạn
cuộc như vậy thì làm sao nó vô công đức tạng được.
Công đức này là công
đức của như lai tạng tánh của mỗi người trong chúng ta, nói tên
khác đó là Phật tánh của mình chứ không đâu xa, chỉ khác ở danh từ mà
thôi. Vì chúng ta không làm chủ được cho chính bản thân mình nên hết
nghiệp lực nọ đến nghiệp lực kia vây quanh mãi mãi cứ xoay trong vòng sanh
tử luân hồi triền miên mà không hay biết gì cả, vừa mới thoát ra khỏi
triền phược thế gian, để vào xuất thế gian nhưng nào ngờ đâu triền phược
của thế gian quá mạnh sự tu hành của chúng ta quá kém cho nên lại bị lôi
trở xuống, vì thế khó thể nhập được quả vị thập hồi hướng. Không thể nhập
thì đâu có gọi là vô tận công đức tạng hồi hướng,Thầy khuyên quý vị làm gì
cũng nhất tâm, nhất đức một lòng, một dạ thì việc làm đó mới có thể đi kết
quả là trực nhập với cái Như Lai Tạng tánh của mình được.
Cứ như vậy thì thế
nào cũng đạt đến quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đó mới gọi là
vô tận công đức tạng hồi hướng.
6. Tùy thuận bình
đẳng thiện căn hồi hướng
Điểm thứ sáu này
nhắc Thầy nhớ đến câu "tùy thuận chúng sanh vô quái ngại, niết bàn sanh
tử đẳng không hoa".
Nghĩa tất cả chúng
sanh nào có cái tâm niệm thiện thì mình phải tùy thuận, tùy hỷ đừng chống
báng lại. Vẫn biết rằng trong cái thuận có cái nghịch, hoặc trong cái
nghịch có cái thuận, mình phải hiểu rằng tâm chúng sanh lúc nào cũng có sự
ganh ghét, đố kỵ luôn luôn là sợ người khác hơn mình.
Thí dụ như thấy huynh
đệ mình tu hành dạo nầy có vẻ tiến lên một chút thì sanh tâm không bằng
lòng đó gọi là tùy nghịch. Thấy kẻ làm thiện thì tán thán đưa họ lên
khuyên họ cố gắng tinh tấn hơn nữa, đó là mình tùy thuận trong cái Phật
tánh bình đẳng của mỗi chúng sanh. Tùy thuận ở nơi tất cả cái căn lành dù
cho mình thấy họ tạo được một chút ít căn lành mình cũng phải tùy thuận,
cũng như mình khuyến khích để cho mình cũng như những vị khác có thể noi
theo hầu có thể cùng nhau đồng đăng bỉ ngạn, đồng thành chánh giác; chớ
đừng bao giờ khởi lên cái ý xấu nào cả.
Thầy nói rõ nghĩa tùy
thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng là như vậy đó. Phải tùy thuận chúng
sanh vô quái ngại, chớ còn thấy người ta làm sai là mình chỉ trích, hoặc
rầy la. Như thế là không được ! Phải chỉ dẫn một cách ôn hòa, từ tốn, dù
họ biết rằng họ làm sai nhưng không thể nào buồn mình được, kẻo không họ
sanh tâm oán hận thì coi như là thù nghịch, mà mang trong lòng mối oán thù
rồi thì khó mà gần gũi độ họ được. Kể cả huynh đệ đây cũng phải tùy thuận
như tùy thuận chúng sanh vậy. Được như thế mới thể nhập được pháp lục hòa,
vì Đức Phật đã dạy là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh bình đẳng.
Cho nên chúng ta cố
gắng làm sao cho thuận thảo, giúp nhau khai triển cái Phật tánh cho nhau,
chớ trái nghịch Phật tánh là chỉ gây thêm phiền não, rồi trở thành vô
minh. Tánh sáng suốt không còn lưu lộ nữa thì cuộc đời tu hành của mình
trở thành màu tối ảm đạm u buồn, vậy chúng ta luôn luôn nương đúng theo
chánh pháp, sáng suốt, tùy thuận bình đẳng thiện căn để cho mỗi việc từ
nhỏ đến lớn, từ trong ra ngoài, từ chuyện thế gian đến chuyện xuất thế
gian cho được dung hòa, xuôi thuận.
Điểm này trong sách
có nói "Như thị vô lượng công đức hải, ngã kim giai tất tận hồi hướng"
có nghĩa là: Công đức này vô lượng vô biên như biển, con nguyện đem
hồi hướng khắp pháp giới chúng sanh. Quý vị phải cố gắng làm sao cho dung
hòa giữa Phật tử với người xuất gia cũng giống như cái biển công đức bao
la không có chỗ nào ngăn ngại che lấp. Được như thế chúng ta mới chuyển
hóa hết tất cả tâm tánh thù nghịch từ tiền kiếp, vô lượng kiếp cho đến đời
hiện tại và vị lai đều được tiêu trừ.
Thầy nói cho quý vị
biết tất cả công việc gì trước khi quyết định làm mình đều có ý nghĩ phát
nguyện là làm công việc này tôi sẽ hồi hướng cho chúng sanh, vì trong khi
làm đôi lúc có sự bị lệch lạc, hay lầm lẫn gì đó thì mình cũng đã có hồi
hướng cho chúng sanh rồi, hồi hướng đây là hồi hướng với cái tâm thành của
mình, và nhờ vào cái thành tâm đó mà chúng ta cố gắng thêm lên dù
cho công việc thế gian hay xuất thế gian đều được kết quả viên mãn. Được
như thế thầy tin chắc rằng quý vị sẽ tiến lên thêm một quả nữa đó là :
Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh hồi hướng.
7. Tùy thuận đẳng
quán nhất thiết
chúng sanh hồi hướng
Tức là thuận theo cái
bình đẳng thuận theo phép quán cho nó tới nơi tới chốn. Thí dụ quý vị đang
nghe Ngũ Đình Tâm Quán, nghĩa là trong lúc nghe mình phải nhận chân, thuận
theo bài học cho nó đúng lý của nó để hồi hướng cho khắp tất cả chúng sanh
vì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh bình đẳng như nhau. Khi tu mình cần
quán như vậy để đạt được quả vị thập hồi hướng, vì tùy thuận đẳng quán
nhất thiết chúng sanh là lúc nào quan sát đến tất cả muôn loài, đều bình
đẳng.
Chúng sanh với mình
là một, cho nên ở trong những bài kệ Tỳ Ni, hay những câu kinh, câu kệ bên
đại thừa giáo đều có cầu cho chúng sanh, thí dụ như sáng sớm mới ngủ dậy
chúng ta phải đọc "Ngủ nghĩ mới thức, cầu cho chúng sanh..." đến
lúc mặc áo cũng vậy "Khi mặc áo trên, cầu cho chúng sanh....",
trong khi rửa mặt cũng thế "Dùng nước rửa mặt, cầu cho chúng sanh, được
pháp thanh tịnh, thường không nhơ bẩn". Trước khi chấm dứt thời tụng
kinh chúng ta đọc bài tam quy y "Tự quy y Phật, đương nguyện chúng
sanh...Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh... Tự quy y Tăng, đương
nguyện chúng sanh...." mình với chúng sanh là một cho nên chuyện gì
cũng phải nghĩ đến chúng sanh trước nhất, đó mới gọi là tâm Bồ Tát, bởi vì
Bồ Tát không bao giờ nghĩ lo cho mình trước.
Người đời mới vào tu
lúc nào cũng lo cho mình trước vì tâm của họ còn sơ cơ, nên cứ lo sợ mất
phần công đức tu tập. Phải nhận rõ rằng : hồi hướng cho chúng sanh, mà
trong chúng sanh có mình. Những chuyện gần sát mình nhiều nhất là huynh đệ
hằng ngày tu chung và cũng là thiện hữu tri thức với nhau mình phải làm
sao cho có được một tâm niệm tùy hỷ, tùy thuận, thanh tịnh, nhu nhuyến
luôn luôn để mà đi tới quả vị tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh
hồi hướng, tùy thuận bình đẳng Phật tánh, tùy thuận những phép quán
tu. Mình phải đạt cho được cái đó trước, rồi sau để mà hồi hướng cho pháp
giới chúng sanh.
8. Chơn như tướng
hồi hướng
Chơn như tướng đây là
tướng chơn như. Làm sao cho mỗi việc, mỗi việc, trong cuộc sống
hằng ngày đây, nhất cử, nhất động đều được uy nghi khi đi đứng nằm ngồi,
hành, trụ, tọa, ngọa. Bốn oai nghi, chúng ta phải trở về cái chơn
thật, chơn như tướng. Cái tướng chân như tức là mình trở về chơn tâm, Phật
tánh đó mới gọi là Như Lai Tạng tánh, hoặc tùy theo mỗi nơi mà người ta
giải thích mỗi danh từ khác nhau. Thật ra các danh từ đó đều nằm trên văn
tự mà thôi, tất cả cũng chỉ vào chơn tâm của mình, đó mới là điểm then
chốt tu hành.
Làm một
việc gì từ thân, từ miệng, từ ý, đều phải trở về với cái tướng chân thật,
chơn như, bản tánh của mỗi người. Đừng cho lệch lạc, đừng cho sai, đừng
cho vọng động, đừng cho điên đảo, đừng cho phiền não ! Có như vậy là mới
đúng nghĩa trọn vẹn vào chơn như tướng, xứng tánh tác Phật sự, xứng với
tánh tu niệm hành sự hằng ngày, đó là cái đặc biệt.
Thí dụ quý vị đi,
đứng ,nằm, ngồi, cũng phải giữ làm sao sống với cái tướng chơn như đúng
với hành, trụ, tọa, ngọa, tứ oai nghi trong bất cứ lúc nào, khi làm
một việc gì cần phải cẩn thận để cho nó trực nhập với chơn như tướng, tức
là cái sự việc của mình làm đó thích ứng, thể nhập với cái chơn như, có
nghĩa là chơn thật, không hư vọng. Còn nếu mà các việc làm đó mà từ thân,
miệng, ý không thể nhập được cái chơn như thì lấy cái gì đâu gọi là công
đức để hồi hướng cho chúng sanh ? Làm việc gì cũng phải đúng chân lý hợp
sự thật, lời nói hợp việc làm, là thể nhập được tướng chân như rồi hồi
hướng ở trong cái không cũng hồi hướng. Cái chơn không cũng không nên giữ
lại trong tâm linh mình để làm gì, nghĩa là đem cái đó hồi hướng cho pháp
giới chúng sanh. Việc làm đó tuy khó hiểu khó làm nhưng một khi mình hiểu
được và làm được mới là chơn như.
Thí dụ bây
giờ quý vị thọ trì đọc tụng một thời kinh đúng phương pháp, đúng chơn lý
hợp sự thật, đó là quý vị đã nhập vào thật tướng chân như, cũng như quý vị
tọa thiền ngồi kiết già thì chân trái để lên bắp vế chân phải, rồi chân
phải để lên bắp vế chân trái sau, hoặc giả ngồi bán già thì chân phải để
lên trên chân trái, tay phải luôn luôn để lên tay trái, hai đầu ngón tay
cái đụng vào nhau, mắt nhìn hơi xuống không cách xa lắm, sửa mình, đầu,
lưng cho ngay thẳng, thở ra hít vào trong sự điều hòa không để cho vọng
tưởng xen vô làm náo loạn tâm mình đó mới gọi là đúng cách đúng phương
pháp tọa thiền mới gọi là chơn như tướng.
Cái tướng hành thiền
đó đúng mức thì thể hiện chơn như. Lấy chơn như này đem hồi hướng cho
chúng sanh thì trở thành tâm chơn như (thái hư) lượng
châu sa giới. Đừng nhớ nghĩ lăng xăng, đừng để cho bất cứ cái gì xen
vô làm chủ. Trong kinh Lăng Nghiêm có nói vì do một niệm vọng động bất
giác nổi lên mới sanh ra sơn hà đại địa, thế giới chúng sanh.
Chơn như tướng hồi
hướng khi mà trực nhập được là sao ? Thí dụ quý vị thực hành từ phút hô
chuông. Hô cho đúng ba thời, đánh cho sung mãn là đánh cho nó hiện chơn
như tướng; chứ đừng đánh kiểu đầu voi đuôi chuột. Lúc mới khởi đánh vài ba
tiếng thì còn coi đở đở một lát thành ra trật bậy trật bạ cho nên không
còn nhìn thấy chơn như tướng ở đâu nữa cả.
Bài kệ hô chuông cũng
thế cố gắng phải làm cho nó đúng phương pháp, vì vậy mà thầy kêu gọi quý
vị phải học tập hoài đừng để nó đi vào quên lãng, thì uổng phí cuộc đời.
Tuy nó giống như chuyện giả dối, giống như chuyện hình tướng, nhưng không
thể khinh thường nó được "Hữu vi tuy ngụy, xả chi tắc Phật đạo nan
thành".
Những việc hữu vi
mình làm coi ra vẻ có hình tướng, giống như ngụy chớ không phải chơn,
nhưng mà bỏ nó đi thì chuyện sáng suốt, con đường giác ngộ Phật đạo, ở vị
giác ngộ giải thoát không thành. Vì vậy cho nên người ta học tập phải tới
nơi tới chốn là vậy đó.
Bất cứ là chuyện gì
cũng phải học cho đúng mức, phải làm cho đúng mức thì mới đi đến chơn như
tướng. Chẳng hạn như trước bàn Phật quý vị quì gối tụng kinh chắp tay ngay
ngắn đàng hoàng nhất cử nhất động tâm hướng về Phật không một vọng niệm
xen vào thì đó gọi là tướng chơn như. Đừng nên làm theo kiểu thế
gian thì nó sẽ trở thành cái pháp thế gian, đồng thời cũng sự việc đó nếu
mà đúng pháp thì được gọi là Phật pháp bất ly thế gian pháp, thể nhập
thành chơn như (nếu làm đúng) gọi đó là siêu xuất thế gian "Phật
sự môn trung, bất xả nhứt pháp". Tóm lại trong tất cả mọi Phật sự thì
mình phải làm cho nó rốt ráo, đi tới cái chỗ gọi là chơn như tướng hồi
hướng, làm xong rồi thì hồi hướng cho pháp giới chúng sanh đồng thành
Phật đạo.
9. Vô phược giải
thoát hồi hướng
Vô phược tức là không
ràng buộc, mà không ràng buộc tức là giải thoát thành hai danh từ đó để
chúng ta thấy hình như là dư mà không phải là dư. Vô phược là không ràng
buộc, giải thoát cũng là không ràng buộc. Nghĩa chung của bốn chữ Vô
Phược Giải Thoát là : Không cái vô phược là đừng có ràng buộc ở nơi
việc làm tức là đừng làm theo kiểu hình tướng nầy nọ, phải cố gắng làm sao
cho nó đừng bị ràng buộc, và tức nhiên là giải thoát tâm hồn đừng cho
vướng bận.
Giải thoát thuộc về
tâm hồn, vô phược đứng về hình thức
để chấp trược bên
ngoài. Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi khắc, mỗi giây, chúng ta luôn luôn giữ cho
tâm hồn tịch mặc tự tại. Thí dụ như chúng ta có đào ao thả sen đi nữa, thì
công việc nặng nhọc đó cũng đừng để cho nó ràng buộc trong tâm. Đừng cho
nó ràng buộc trong cái khó, cái khổ. Được như vậy tâm hồn mới giải thoát
mới là vô phược (không ràng buộc). Về điểm này ở trong kinh Phật có
dạy : "Như thị tứ pháp quảng vô biên, nguyện kim hồi hướng diệc như
thị" Có nghĩa là nó luôn luôn không ràng buộc, được giải thoát, trong
bốn phápẠ. Nó rộng vô biên mà từ xưa có câu "như thị tứ pháp
quảng vô biên", từ xưa đến giờ bốn thứ này đứng vào hàng đầu về
phương diện mê lầm. Tối tăm nguy hiểm cho con đường luân hồi của chúng
sanh.
Nguyện kim hồi hướng
diệc như thị,
nghĩa là hiện nay
mình biết là làm xong rồi coi như là hồi hướng, đừng để cho nó ràng buộc
một cái gì hết. Hư không là như vậy đó mình cũng đừng có nghĩ quanh quẫn
từ hư không cho đến chúng sanh, đến nghiệp lực, và phiền não. Những pháp
đó coi như là hồi hướng hết, dẹp hết cho cõi lòng thường thanh tịnh thì
chúng ta mới thấy hai chữ "Tịch mặc". Cũng như diệt phiền não, để
cõi lòng thường thanh tịnh hay cõi lòng thường tịch mặc cũng vậy.
Đó là thanh tịnh rồi, (Dẹp bỏ buồn rầu, để lòng thường an vui), do
đó cho nên không có ràng buộc giải thoát coi như giải tỏa tất cả các
nghiệp chúng sanh phiền não.
Còn những vi tế phiền
não sót lại cũng dẹp luôn, cũng như mình bỏ được cái buồn giận thô, nhưng
trong lòng vẫn còn nghĩ chút chút, buồn chút chút đó gọi là vi tế cũng
phải dẹp ngay. Đó mới gọi là không ràng buộc, để tâm hồn cho giải thoát,
rồi đem cái không ràng buộc giải thoát đó cũng hồi hướng cho tất cả chúng
sanh. Khi đã hồi hướng rồi thì cũng đừng có nghĩ đến bây giờ mình không
còn ràng buộc nữa, mình bây giờ là giải thoát rồi, không nên nghĩ đến cái
đó nữa mới gọi là giải thoát thật sự, chứ còn nghĩ đến ta đã giải thoát
rồi, thì đó là chưa được giải thoát ; cũng như người tu chứng thì không
bao giờ dám nói là mình tu chứng, vì còn thấy có tu có chứng tức nhiên là
không tu chứng gì cả.
Ví như một quốc gia
nào đó đang bị đô hộ bởi một quốc gia khác, họ cố vùng vẫy tranh đấu để
được độc lập, nhưng sự độc lập chưa đến mà cứ tuyên bố quốc gia chúng tôi
đã được độc lập rồi, sự thật thì không có gì cả, còn khi nào độc lập thật
sự thì tự nhiên những quốc gia khác liền biết và công nhận nơi đó só sự
độc lập thật sự. Có như vậy thì mới thiệt là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác, lúc đó mới có thể tiến lên quả vị thứ mười là pháp giới vô lượng
hồi hướng.
10. Pháp Giới Vô
Lượng Hồi Hướng
Tất cả những gì mình
tu tập trong giới pháp là :
Chúng sanh vô biên
thệ nguyện độ,
Phiền não vô lượng
thệ nguyện đoạn,
Pháp môn tu vô
lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng
thệ nguyện hành..
Bây giờ coi như là
mình giải tỏa hết tức là hồi hướng hết, mình làm tất cả những chuyện đó
nhưng không bao giờ nghĩ tới.
Chẳng hạn như Đức Bổn
Sư Thích Ca của chúng ta đã trải qua nhiều kiếp số tu hành khổ hạnh, bao
nhiêu kiếp đã từng làm Bồ Tát đi cứu độ tất cả chúng sanh không ngại gian
lao khó nhọc. Đây là kiếp cuối cùng của Ngài, khi mà ngồi dưới cội cây Bồ
Đề là Ngài phải giải tỏa hết không còn nghĩ gì đến những chuyện tiền kiếp.
Ta tu khổ như thế nào, ta hành Bồ Tát đạo như thế nào v.v...,
Tất cả đều giải tỏa
hết, cuối cùng Ngài hoát nhiên đại ngộ mới chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác tức là Viên Giác, là người giác ngộ hoàn toàn. Pháp giới vô
lượng, hồi hướng vô lượng khi mà ta đạt được tâm cảnh nhất như rồi thì
"Nhất tâm bất sanh, vạn pháp câu tức". (Một vọng tâm đừng cho phát
sanh, thì không còn một pháp gì hết), vì còn cái nọ cái kia hơn
thua phải trái, rộng hẹp là vì cái vọng tâm mình còn, muôn vật muôn sự đều
dứt hết thì tâm không còn vọng động nữa.
Tóm lại trên con
đường tu mà quý vị nghĩ cái nầy, nghĩ cái kia có đôi khi nghĩ càng nhiều
thì càng vô ích. Càng suy nghĩ thì nó bắt mình phải suy nghĩ hoài, những
khi trong đầu đang muốn suy nghĩ như vậy, thì ta liền đổi sang câu niệm
Phật ngay. Được như vậy thì sự tu tập mỗi ngày thêm dễ dàng cho chúng ta,
đó mới là tự độ mình, rồi sau mới có thể độ tha được. Để giải tỏa những
cái vô ích đó, Thầy chỉ cho quý vị một phương pháp là đừng nên để cái lăng
xăng nó xen vào tâm mình.
Hồi xưa những bậc
thượng căn, thượng trí, bất luận khi đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, nói giao
thiệp, qua lại đều giữ tâm thiền hết ; còn bây giờ quý vị tu theo pháp
môn Tịnh Độ không phải chuyên tâm thiền quán, mình không biết cách thức
làm sao thiền quán cho nó giải tỏa thì phải thay thế bằng câu niệm Phật
tam muội (niệm Phật thiền định). Có như thế thì lúc nào tâm của
mình và Phật tánh của mình cũng giống như tâm Phật thì đó mới gọi là nhất
như.
Hãy ngồi lại yên
lặng, rồi tự hỏi rằng : Tại sao hôm nay tâm ta vọng động lăng xăng quá vậy
? Cứ nghĩ hết chuyện nọ, thế kia mãi mãi ! Mình phải đặt câu hỏi đó cho
chính mình ! Theo Thầy thấy con người mình mà thiếu chánh niệm thì luôn
luôn bị chuyện nọ chuyện kia xen vào như dòng suối chảy khó mà ngừng nghĩ
được lắm, vì thế mà lúc nào Thầy cũng khuyên tất cả quý vị khi làm bất cứ
một chuyện gì, dù Phật sự khó hay Phật sự dễ quý vị cũng cần phải giữ
chánh niệm luôn luôn thì việc làm của quý vị mới cao quý tốt đẹp và còn đi
đến viên mãn.
Làm lợi ích cho mình và cho chúng sanh được hàm triêm lợi
lạc. Đó là nhiệm vụ của người xuất gia đi hoằng truyền chánh pháp để báo
đền ơn Phật, ơn Thầy Tổ, cũng như một người mới vào tu thọ Sadi giới, phải
làm sao cho hai chữ Sadi sự lý tánh tướng dung thông.
Chữ Sadi nghĩa là
tức từ (tức ác hành từ, tức thế nhiễm nhi, từ tế chúng sanh)
dứt các việc xấu làm các việc tốt đó là cứu giúp chúng sanh, đưa chúng
sanh đến bờ giác ngộ giải thoát cũng như mình vậy dù cho vật đổi sao dời
chúng ta lúc nào cũng giữ vững lời phát nguyện cứu giúp chúng sanh không
lay chuyển.
Còn như các vị Tỳ
Kheo, Tỳ Kheo Ni cũng đã làm giống như vậy, vì chữ Tỳ Kheo có ba nghĩa :
Khất sĩ, phá ác, và bố ma. Mình phải làm sao cho đúng với câu "Thượng
khất chư Phật chư pháp, Hạ khất đàn việt chi thực", có nghĩa là
trên thì cầu xin cho mình học, mình hiểu, mình thâu nhận giáo pháp của
Phật, dưới là xin những vật thực của đàn việt để mà sống. Bởi vì nếu
là Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni lăng xăng quá cả ngày chỉ lo chuyện sanh nhai ăn
uống không còn thì giờ để thượng khất chư Phật chư pháp, vì thế
phải đi khất thực của đàn na tín thí, ai cho gì mình ăn nấy không khen
cũng không chê, nhờ đó mà có thời gian tu tập, tọa thiền học Kinh, Luật,
Luận.
Kế đến là phá ác,
phá những cái xấu, cái ác, cái dở của chính mình, phải dẹp
liền tức khắc.
Còn bố ma là
phải làm sao cho mấy con ma ngũ ấm của mình, ma phiền não, ma tử, ma quân
nó phải sợ hãi trốn đi mất như vậy mới gọi là chánh niệm, còn như ngược
lại gọi là vọng niệm. Chẳng hạn như quý vị làm hương đăng thì làm sao cho
phần nghi lễ từ trên xuống tới dưới tất cả những gì nằm trong đại điện thờ
phượng đều được thanh tịnh trang nghiêm, sạch sẽ, tinh khiết, đừng cho
khuyết một chỗ nào hết đó gọi là giữ chánh niệm. Mỗi nơi, mỗi người, mỗi
sự việc phải lo chu đáo, đúng bổn phận mình.
Nói tóm lại Thầy
giảng quả vị Thập Hồi Hướng này là lúc nào cũng tự lợi và lợi tha, tất cả
những chuyện gì dù khó khăn nặng nhọc đến đâu nếu chúng ta nhất tâm nhất
đức thì đều vượt qua được tất cả, và từ đó chúng ta sẽ tiến lên được quả
vị Thập Địa, đó là hành Bồ Tát Đạo.
9. Đường lên Thập Địa
Hôm nay là bài khai thị thứ năm
trong mùa An Cư Kiết Hạ năm 1999 này, bốn quả vị trước thầy đã chỉ cho quý
vị thấy cái tâm nguyện và bổn phận của người xuất gia phải thực hành như
thế nào cho đúng, mỗi quả vị có mười (10) phương pháp khác nhau, nhưng
chung qui cũng chỉ là một mà thôi.
Bài học nào thầy cũng chỉ cho
quý vị về tâm linh, vì người thế gian phần đông chỉ lo cho thân; lúc nào
cũng nghĩ đến mua miếng ngon vật lạ để bổ dưỡng cung phụng cho cái thân
được no đủ, chớ ít ai nghĩ đến cái tâm linh của mình, vì chúng sanh cho
cái thân này là thiệt, là tồn tại vĩnh viễn mãi mãi. Theo chỗ thầy biết
hiếm có người biết được thân này do tứ đại giả hợp mà thành, mà còn có
người sợ biết sự thật nữa. Vì sao? Người đời đầu tiên là sợ già, sợ "chết"
đó là thế gian pháp, còn người đã hiểu đạo rồi thì lúc nào cũng lo cho
nhân quả, đó là xuất thế gian, nhưng dù cho quả tốt hay quả xấu cũng đừng
nên bao giờ nghĩ đến, mỗi quả vị đều lồng cái tâm của mình trong đó. Tâm
từ thô đến tế rồi từ tế sẽ thể nhập được cái phần vị sáng suốt giác ngộ
giải thoát ở nơi tâm linh.
Hôm nay đây, nói về Thập Địa
tức là mười cái tâm địa cũng chỉ về tâm tất cả. Nói một cách dễ hiểu
là tu hành sửa đổi lần lần cái tâm của mình cho nó thanh tịnh, nhẹ nhàng.
Phải sửa đổi từ thô đến tế, từ cái nặng đến cái nhẹ ở trong tâm hồn của
mình. Thí dụ như : Chuyện ở bên ngoài thì mình phải mượn phương pháp bên
ngoài để mà chỉ dẫn, để mà giảng giải chớ thật ra cuối cùng đều quy về nơi
tâm địa của mình.
Mười tâm địa này là tâm địa đưa
đến quả vị Bồ Tát. Phần trước, Thập Tín là chánh tín, còn Thập Trụ là cái
tâm an trụ để tu tiến chứng ngộ, tuy chia ra mười chớ thật ra mười mà là
một, một là mười. Thập Hạnh cũng giống như vậy, hạnh là để chỉ tâm hành
cũng đi từ một đến mười, mỗi người chúng ta thể nhập để cho tâm mình tiến
đến từng quả vị.
Thập Hồi Hướng cũng vậy, tâm
mình khá khai thông, nghĩa là tu tập hành sự làm những gì nhứt cử nhứt
động là mình đều hồi hướng, làm việc gì xong rồi cũng đem hồi hướng cho
chúng sanh, là lúc nào cũng hướng về bên ngoài cho pháp giới chúng sanh,
cho tam thiên đại thiên thế giới, hồi hướng cho hết không để nơi mình chút
nào, như vậy là bắt đầu Bồ Tát tâm rồi đó.
Đến Thập Địa coi như là cái tâm
địa Bồ Tát, tâm địa của giác hữu tình, tâm địa lợi ích cho chúng sanh, tâm
địa hoàn toàn độ tận chúng sanh. Muốn trụ vững mười cái tâm địa này thì tự
nhiên mỗi vị mỗi chúng ta phải diệt trừ ba chướng ngại của mỗi người mà
khó có ai tránh khỏi được, tức là làm sao dẹp cho được cái phiền não
chướng, nghiệp chướng và báo chướng ở trong mỗi chúng ta. Khi mang thân
này là không ai tránh khỏi hết, dù cho quý vị có thị hiện xuống cũng không
sao tránh được cái phiền não, cái nghiệp chướng, cái báo chướng. Ba chướng
ngại này trên con đường tu hành lúc nào cũng bị gặp phải, nhưng chúng ta
tu theo hạnh Bồ Tát thì phải dẹp bỏ nó đi.
1. Phiền não chướng
tức là cái phiền não đến từ bên
ngoài và từ bên trong, mà hễ cái gì làm cho cái tâm của mình bị ngăn trở
hay là khó khăn, thắc mắc đó là phiền não. Những cái gì mà bất như ý đều
là nằm trong phiền não cho nên người tu tập phải làm sao dẹp từ thô cho
đến tế. Chúng ta phải dẹp cái đó được rồi thì thực hành Bồ Tát hạnh mới có
kết quả viên mãn.
2. Nghiệp chướng
là những hành động tạo tác về
ý, những hành động tạo tác từ miệng, từ thân, từ ý phải làm sao dẹp bỏ nó
đi. Luôn luôn giữ ba nghiệp thân, miệng và ý cho được thanh tịnh là điều
quan trọng nhất. Cho nên có câu "Ba nghiệp hằng thanh tịnh, đồng phật
vãng Tây phương". Nếu ba nghiệp của mỗi người trong chúng ta mà được
yên ổn thì đồng với các đức Phật, được về cõi Phật.
3. Báo chướng
tức những cái chướng ngại đến
với mình, thì mình phải hiểu và tự giải tỏa. Có những cái nhơn mà mình tạo
nhiều đời nhiều kiếp, bây giờ quả chín thì phải nhận lấy chứ đừng nên than
vãn vô ích mà thôi (hễ quả nào chín trước thì phải rụng trước). Là
người học Phật thì biết đó là như vậy để dể dàng giải tỏa tất cả mọi báo
chướng khó khăn trong cuộc đời của mình. Cố gắng làm sao đừng có gây thêm
cái nhơn nữa, cũng có những trường hợp người ngoài họ gây nhơn đó chứ
không phải mình nhưng việc đó có liên can đến mình thì mình phải có tâm
giải tỏa liền đừng chấp nhận cho gieo nhân thêm, bởi vì chấp nhận cho gieo
nhơn, thì kiếp sau sẽ có quả.
"Nhơn nào thì quả đấy". Khi
báo chướng đến, thì phải biết ngay là nhân đời trước mình gieo, bây giờ
vui lòng mà trả quả. Quả nhỏ, quả trung, quả lớn, hoặc kiểu nào đi nữa
chúng ta vẫn sẳn sàng vui vẻ trả và còn cầu nguyện không bao giờ gây tạo
nhân mới. Nếu ai cố tình gây tạo cho mình, khi biết đạo rồi cũng xin xả bỏ
tất cả, nghĩa là đừng bao giờ nhào vô để cùng tạo tội, đó mới là người
biết đạo biết tu.
Cho nên muốn thực hành hạnh Bồ
Tát hay con đường của Bồ Tát đi, trước hết phải phát nguyện mỗi ngày chứ
không phải chỉ có chữ tín không đâu và còn phải nguyện tiêu ba chướng
trừ phiền não (Nghiệp chướng, báo chướng và phiền não chướng).
Bài kinh này chúng ta đọc hàng ngày, khi nào mà giải được ba cái chướng đó
thì lúc bấy giờ mới mong sao cho trí tuệ được tăng trưởng và hiển lộ. Được
như vậy thì con đường tu chứng mới được dễ dàng.
"Nguyện cho trí tuệ thường sáng
tỏ", nghĩa là mong
muốn làm sao cho cái ánh sáng trí tuệ về tâm linh nhứt cử, nhứt động đều
được sáng suốt giác ngộ mãi mãi, đặng thể nhập với Tuệ Bát Nhã Thánh Trí,
lúc ấy sự tu chứng không có gì gọi là khó khăn như nhìn một hoa trái
trong lòng bàn tay.
Chẳng những chúng ta cầu nguyện
cho mình, cho những người xung quanh và cho tất cả muôn loài chúng sanh
(nếu nói rộng ra) bởi vì mình với muôn loài chúng sanh cùng sống chung
ở giữa cõi đời nầy. Thực tế mà nói, không ai có thể sống cá biệt được
cả, cũng không có một vật gì có thể đứng một mình mà tồn tại được. Con
người cũng vậy, lúc nào cũng có liên quan mật thiết với nhau, vì thế quý
vị nên cầu nguyện cho tội chướng của mình và của người được tiêu trừ.
Nguyện bao tội chướng được tiêu
trừ, tội chướng,
nghiệp chướng, báo chướng nó nằm ở trong ba chướng. Chúng rất vi tế và sâu
sắc nên cần phải trừ cho hết, lúc bấy giờ chúng ta mới Đời đời thường
hành Bồ Tát Đạo. Mỗi đời, mỗi thời gian mới thật hành được con đường
của Bồ Tát, con đường của Bồ Tát tức nhiên con đường của Giác Hữu Tình
luôn luôn để giác ngộ cho chúng sanh vì chúng sanh với mình đồng một bản
thể, và chúng sanh với Phật cũng đồng một bản thể. Bởi vậy nên có câu
"Tâm, Phật và chúng sanh, ba cái không sai biệt", ba cái này lý thể
không sai khác. Chính lý do đó cho nên chư Phật và chư Bồ Tát thay phiên
nhau ra đời, kể cả chư Tổ ra đời cũng đều một cùng một mục đích là độ tận
chúng sanh. Mỗi chúng sanh đều có điển quang, linh quang và cái tánh biết,
tánh giác, tánh Phật.
Do đó quý vị cố gắng tiến lên
mãi, cuối cùng làm cho giác ngộ hoàn toàn để được thành Phật. Quả vị Thập
Địa nầy là mười cái tên đưa đến siêu thoát giác ngộ và cũng là quả vị Bồ
Tát.
1. Hoan Hỷ Địa :
Giữ tâm luôn luôn hoan
hỷ, dầu cho gặp cảnh thuận hay nghịch cũng giữ tâm hoan hỷ, nhứt như đối
với chúng sanh.
2. Ly Cấu Địa :
Tâm địa phải lìa những trần
cấu, lìa những vi tế phiền não. Phần phiền não thô thiển thì ở mấy quả vị
trước như Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng đã bớt rồi, giải tỏa nhiều rồi, nhưng
phần phiền não vi tế thì ngay những vị đại Bồ Tát cũng vẫn còn. Cho nên
mỗi người tu chứng giải tỏa được kiến hoặc, tư hoặc, rồi mới
đạt được quả vị cao thêm một chút để tiến lên hàng nhị thừa, rồi mới đoạn
trần sa hoặc thì tiến lên hàng Bồ Tát, nhưng phải đoạn cho được cái
vô minh hoặc, tức nhiên là đoạn cái mê lầm tối tăm ở trong mỗi con
người của chúng ta. Xong rồi tiếp tục dẹp bỏ cái vi tế vô minh, hay
là sự mê lầm còn ở nơi cạn cợt một chút. Phần này cũng dễ đoạn trừ nhưng
mà vi tế lắm. Phần ly cấu địa này tức là tâm địa xa lìa cho hết cái vi tế
phiền não ở trong mười cái căn bản phiền não thuộc về phần thô, trọng.
Sau đây là mười vi tế trần cấuẠ.
Mười phần vi tế phải đạt cho được thì mới gọi là đạt được quả vị ly
cấu địa. Tâm địa lúc bấy giờ đã xa lìa trần cấu vi tế vô minh, lìa cái
đó để chèo chống con thuyền Bát Nhã, thuyền trí tuệ để cứu vớt chúng sanh
ra khỏi biển khổ luân hồi, để đến bờ giác ngộ hoàn toàn.
3. Phát Quang Địa :
Tâm địa lúc bấy giờ
lúc nào cũng phát ra yến sáng từ ba nghiệpẠ. Nghiệp thân cũng phát
quang, khi đi, đứng, nằm, ngồi làm sao giữ cho được oai nghi tế hạnh siêu
thoát. Nhìn thấy là liền biết cái thể chất của vị đó "đường đường
tăng tướng, dung mạo khả quan".
Đến nghiệp ý thì lúc nào
ý cũng suy nghĩ điều sáng suốt giác ngộ giải thoát đi lên đừng cho thoái
chuyển.
Cuối cùng là nghiệp miệng,
nói câu nào cũng đều như có hào quang từ trong miệng tủa ra. Là người con
Phật làm sao khi mở miệng ra nói thì nên nói giáo pháp của Phật những
điều hay lẽ phải, nhứt là đừng nên nói chuyện đời vì nói chuyện đời là
vướng thị phi. "Thiệt động thị phi sanh" có nghĩa là khi cái lưỡi
cử động thì tiếng nói xấu, nói tốt sanh ra từ nơi miệng.
Từ cái đó mà chúng ta gặt hái
được ba nghiệp thân, khẩu, ý lành. Tuy là ba, nhưng cuối cùng nó trở thành
một, vì chỉ có tâm linh không ý, chuyển qua tâm ý. Do đó phát ra hiện ra
lời nói, ý nghĩ những hành động sáng suốt giác ngộ hoàn toàn. Nếu vị nào
đạt được tâm ý như vậy thì đạt được Phát Quang Địa, nghĩa là phát
ra ánh sáng cũng từ nơi ba nghiệp hằng ngày của mình vậy. Vì thế cho nên
Thầy lúc nào cũng muốn quý vị cố gắng học kinh, học luật, học luận, học
sử, học những gì hay, để biết, để nhớ của đức Phật rồi ra thuyết pháp độ
sanh báo đền công ơn Thầy Tổ và còn gọi là (Hoằng pháp lợi sanh, báo
đền công ơn chư Phật chư Tổ).
Được như vậy thì mới gọi là đạt
phát quang địa. Nói lời nào ra cũng đúng chơn lý hợp sự thật, nói
ra những lời lẽ gì đều để giải tỏa tất cả những tâm bệnh của chúng sanh,
giống như mình là một ông thầy thuốc, một bực y vương. Ý lúc nào cũng suy
nghĩ sáng suốt để tự lợi, lợi tha. Cố gắng làm sao cho lúc nào cũng tỏa
được ra cái ánh sáng giác ngộ, để cho người đời nhìn thấy cử chỉ điệu bộ,
cách đi, cách đứng, cách nằm, cách ngồi, của một vị phát Bồ Tát tâm, một
vị coi như là siêu xuất thế gian. Nếu quý vị được như vậy thì thầy tin
chắc rằng sự chứng ngộ của quý vị không còn xa lắm.
4. Diệm Huệ Địa :
Tâm địa của hành giả
lúc nào cũng phát trí huệ như ánh lửa hừng hực. Giờ phút nào cũng sống
với trí huệ chứ không sống với thức, nhất là chúng sanh hay sống với ý
thức nhiều hơn, mà ý thức thì luôn luôn ích kỷ, lo cho cá nhân,
lúc nào nhỏ hẹp của mình trước tiên. Nếu người mà sống ích kỷ như vậy thì
cái trí của mình không thể phát triển được. Người tu phải chuyển thức
thành trí, rồi từ cái trí đó mới trở thành Trí Huệ Ba La Mật.
Diệm huệ địa tức là trí huệ
chiếu sáng hừng hực, có nghĩa là phải sống với trí huệ luôn luôn thì mới
làm lợi ích cho sự nghiệp tu hành của hành giả. Chúng sanh nan điều nan
phục, (chúng sanh tánh tình cứng cõi, khó nói, khó độ) cho nên, nếu
người xuất gia mà thiếu trí tuệ thì tự mình cũng không thể độ mình chứ
đừng nói tới chuyện ra hoằng pháp lợi sanh.
5. Cực Nan Thắng Địa :
Nan thắng là nhờ
vượt qua. Tâm địa một lòng đi tới để xả mê khai ngộ cho mình chuyển phàm
thành thánh, chuyển tối thành sáng giúp cho mình và cho người. Khó mà làm
được, mà thắng được mới hay. Phải cố gắng hết sức mình đó mới gọi là cực
nan thắng địa, là tâm địa rất là khó mà vượt qua những cái khó đó mới có
thể ra hành đạo được. Đây không phải là việc dễ áp dụng, dễ thực hành mà
quý vị áp dụng được, thực hành được cho đúng mức, thì đó mới gọi là người
học Phật.
Cũng như nói chuyển thức
thành trí, nghe thì dễ mà thực hành đâu phải là dễ, nhưng với tâm địa
này và địa vị này hành giả có thể chuyển một cách dễ dàng. Chẳng những
được dễ dàng mà còn thành công rực rỡ, cho nên mới gọi là cực. Cực
là cùng cực, tuyệt đỉnh, tối hậu hoàn toàn để đi đến chỗ ổn định chắc
chắn, không bị xê dịch. Đó mới gọi được gọi là Cực Nan Thắng Địa.
6. Hiện Tiền Địa :
Tức là tâm địa hiện tại
đầy đủ tự giác, giác tha. Tâm địa đầy đủ tự lợi, lợi tha, tự độ, độ tha
coi như mình và người được sáng suốt giác ngộ. Hiện tiền địa tức là địa vị
liễu ngộ được vô sanh pháp nhẫn. Sanh với pháp hay là
nhơn sanh với vũ trụ mà mình thấu rõ không có cái gì là rắc rối
hết. Cả pháp giới tâm trí mình cũng đều sáng suốt và hiểu biết hết, nhứt
là về hiện tại mình thấy công tu tập của mình tới chỗ tự giác, giác tha,
tự độ, độ tha, tự lợi, lợi tha. Quý vị nên nghĩ rằng lúc nào nó cũng nằm
nhan nhãn trước mắt đó mới gọi là tâm địa hiện tiền lúc nào cũng sáng suốt
giác ngộ, giải thoát cho mình cho người và cho chúng sanh. Đạt được như
vậy mới gọi là Hiện Tiền Địa.
7. Viễn Hành Địa :
Là đi xa. Lý là
đã rời xa khỏi phiền não, không còn phiền não chướng, nghiệp chướng, báo
chướng, nên được gọi là viễn hành. Bây giờ chỉ còn có con đường
giải thoát gần, xa tất cả những con đường coi như là ràng buộc trầm luân
phiền não, nghiệp chướng, báo chướng. Đến quả vị này, quả vị đoạn được vi
tế vô minh, giải tỏa hết không cho chướng ngại gần gũi nữa. Khi còn là
chúng sanh thì cùng chướng ngại phiền não ở một nhà ; các Ngài khá hơn thì
tống ra nhưng ở gần, còn lên địa vị này thì phiền não, chướng ngại đi xa
quá rồi. Các Ngài dùng đủ thần lực chuyển tất cả phiền não thành bồ đề,
chuyển tất cả nghiệp thức xấu xa trở lại thành trí nhiệm mầu cho nên gọi
đó là Viễn Hành Địa.
8. Bất Động Địa :
Tâm địa của mỗi người
không có một chút nào lay động ở nơi thất tình lục dục, như hư không bất
động. Trong sách có bài kệ :
"Như như bất động thị Di Đà,
Giáo lý chơn truyền tự Thích
Ca,
Ca Diếp Tây Thiên vi nhất
tổ,
Đạt Ma Đông Độ thủ tăng già,
Huệ Năng ngộ đạo tồn y bát,
Thần Tú thất truyền triệt
bát sa,
Việt Nam chư tổ hành thiền
tịnh,
Ưng tu thất chúng lục ba la
".
Như như bất động,
có nghĩa là chỉ cho tâm địa mình lúc bấy giờ định cho đến nổi không còn
thấy động, dù trời long đất lỡ cũng không có lay động. Tâm mình không động
thì chuyển nghiệp dễ dàng. Làm sao cho tâm địa trực nhập với lại tâm Phật
của mỗi người, thì đạt được Bồ Tát Bất Động Địa.
9. Thiện Huệ Địa :
Tâm địa lúc bấy giờ
giống như Bát Nhã Thánh Trí hoa khai. Tâm địa của vị nầy giống như là hoa
Thánh Bát Nhã nẩy nở, tức nhiên đó là quả vị giác ngộ, quả vị Phật. Thiện
là khéo léo, cao quý, và thật đặc biệt, cho nên rất khó mà đạt được. Thầy
cũng rất mong, sao cho quý vị mỗi ngày tu hành đạt được Thiện Huệ của
mình.
10. Pháp Vân Địa :
Pháp là vũ trụ bao la,
vân là mây. Áng mây lành che khắp cả trần gian, chúng sanh nhờ đó mà không
có nắng mưa, lạnh nóng. Pháp vân địa chỉ cho Phật tánh, tâm của vị
này lúc bấy giờ le lói sự giác ngộ, sáng suốt giải thoát, chỉ còn chút xíu
nữa là hoàn toàn. Pháp vân chỉ cho "Diệu pháp Bồ Đề khắp trang nghiêm,
tùy nơi chỗ ở thường an lạc". Tức là pháp nhiệm mầu ở trong cái tâm
giác ngộ của mình bây giờ trải khắp tất cả, chỗ nào cũng được coi như là
tự tại, tùy theo ở chổ nào cũng được an lạc hết (tâm bình thế giới cũng
bình). Vì vậy cho nên các vị Bồ Tát vẫn ở nơi cảnh địa ngục như
thường, ở để mà độ sanh chứ không phải ở để mà thọ tội.
Mười quả vị tâm địa này lên tới
cái mức độ gần như là giác ngộ như Phật khá hoàn toàn, cả mười cái tâm địa
hoan hỷ... Địa là tâm địa của mỗi người chúng ta, nếu mọi người trong
chúng ta mà cố gắng đạt cho được quả vị hay là địa vị như nảy giờ thầy
giảng đó tức nhiên là chứng, ngộ được quả vị Thập Địa.
Đẳng Giác
là trực nhận hoàn toàn không có
một mảy may nào nghi ngờ nữa, Phật với chúng sanh coi là bình đẳng như
nhau, trực nhận cho đúng không sai chạy. Chẳng những chỉ có loài hữu tình
mới có trực giác mà loài vô tình cũng có trực giác đồng như Phật vậy.
Còn Diệu Giác tức nhiên
là nhân muôn sự, muôn vật ở giữa chỗ nầy từ phàm đến Thánh, từ nghèo đến
giàu, từ tối tới sáng, có nghĩa là tất cả đều là nhiệm mầu đặc biệt. Trực
nhận là sống với cảnh đó, không phải chỉ hiểu thường thôi đâu mà phải hiểu
một cách cao siêu hơn, được như vậy mới gọi là Diệu Giác.
Còn Viên Giác là người
đã giác ngộ hoàn toàn, không cần phải giải thích nầy nọ hoặc nói năng
nhiều thêm nữa, vì cái hay, cái quý, cái cao, cái sáng, cái đặc biệt nào
đó mà không thể nói lên được. Thí dụ : Ai uống nước thì mới biết
nước đó nóng hay lạnh. Sự tu chứng cũng giống như thế đó,
được sự chứng ngộ này chỉ có chính hành giả mới biết và cũng không thể thố
lộ cùng ai, vì không ai hiểu được sự chứng ngộ này.
Trước khi chấm dứt buổi thuyết
giảng hôm nay, thầy cầu chúc cho toàn thể quý vị hiện đang ngồi trong đạo
tràng này, tu hành nhật tấn, trí huệ nhật tăng và sớm giác ngộ viên
mãn.
Hôm
nay Thầy đăng đàn khai thị cho đại chúng rõ pháp môn tu tiến ngõ hầu trở
thành một vị Bồ Tát Bất Thoái Chuyển, đó là thật hành pháp môn
Thập Độ.
Pháp môn Thập Độ
là một
phương pháp độ sanh mà hàng đệ tử xuất gia cũng như hàng cư sĩ tại gia cần
phải biết để hành trì, đi đúng với câu "Nguyện tiêu ba chướng trừ
phiền não" mà hằng ngày chúng ta thường đọc sau mỗi thời kinh.
Những gì là ba chướng ?
Đó là : Phiền não
chướng, Nghiệp chướng và báo chướng. Và làm sao dẹp được ba cái chướng ấy
trong chính mỗi chúng ta?
a) Phiền não chướng
là những
gì không an không vui trong chính mình thì mình cần phải dẹp liền, dù cho
đối nội đối ngoại, đối thượng, đối hạ. Mỗi niệm, mỗi niệm, bất cứ trong
giờ, phút, giây nào chúng ta cũng phải giải tỏa cho được chứng bệnh trầm
kha này. Đừng để bị vướng mắc mê lầm.
b) Nghiệp chướng
là tất cả
những tâm bệnh nào làm ngăn ngại con đường tu tiến của mình thì phải mau
mau đánh tan ngay, đừng chần chờ đừng cho quên.
c) Báo chướng
là những hoa
trái, kết quả mà chính ta đã gieo từ nhiều đời nhiều kiếp nay còn lưu lại,
và ta phải gánh chịu trong cuộc đời nầy ; cho nên mới có câu "nguyện
tiêu ba chướng trừ phiền não, nguyện đặng trí tuệ thường sáng tỏ".
Chúng ta phải làm sao cho trí tuệ được hiển lộ ra và luôn luôn sống
với trí Bát Nhã tức là trí sáng suốt sẵn có của mình. Khi ấy phiền não
chướng, báo chướng, nghiệp chướng sẽ ra đi một cách tự nhiên.
Nguyện bao tội chướng
được tiêu trừ,
là khắp nguyện cho
tất cả chúng sanh được tiêu trừ nghiệp chướng, tội chướng, báo chướng,
phiền não chướng. Kiếp kiếp thường hành theo con đường Bồ Tát
là cố gắng làm sao mỗi ngày mỗi giờ phải thực hành cho đúng con đường
của Bồ Tát vạch ra, dù cho người xuất gia hay cư sĩ tại gia cũng có thể
làm được. Vì thế mà hôm nay Thầy khai thị cho đại chúng bài Thập Độ. Ấy là
mười (10) phương pháp độ thoát cho chúng sanh, trong đó có chúng ta, và
đây là con đường của Bồ Tát đã đi, nhất là người xuất gia tu theo phương
pháp Đại Thừa thì cần thật hành hạnh bồ tát. Vì sao? Vì theo Đại
Thừa Giáo khi thọ Cụ Túc Giới là phải thọ Bồ Tát giới xuất gia. Nếu không
thọ Bồ Tát giới coi như vị đó tu theo hạnh Thanh Văn Thừa. Nếu ai muốn có
quả vị Bồ Tát thì trước hết phải gieo nhân Bồ Tát, cũng giống như chúng ta
gieo hột giống cây nào thì sẽ hái quả cây đó.
1) Bố thí cúng thí
:
Người mà có tâm niệm cúng thí, bố thí thì độ, trừ được xan tham, bỏn sẻn
nhưng việc làm này làm sao cho được rốt ráo chứ đừng bố thí để gọi là có
tên, như vậy việc làm của mình chỉ cầu chút ít phước báo hữu lậu thì không
làm sao đưa đến chỗ Ba La Mật cho được. Bố thí có ba cách:
1- Tài thí :
Là chúng ta đem
tịnh tài bố thí cho chúng sanh được an cư lạc nghiệp. Tài thí có hai
loại : Đó là nội tài và ngoại tài.
a- Nội tài
là đem những gì
trong thân thể mình như : Mắt, tim, gan, phổi, máu ra bố thí cho người
khác đó gọi là nội tài. Điều này khó thực hiện được khi chúng ta còn sống,
nhưng chúng ta làm được khi vừa mới tắt thở, có nghĩa là khi còn sống đã
ký giấy cam kết cho những bộ phận trong thân thể khi mình vừa chết, giúp
cho người khác được sống như trường hợp ghép tim, ghép thận . v.v ...
b- Ngoại tài
là đem tiền bạc
vật dụng ra bố thí cho người nghèo khó thì đó là ngoại tài, thí cho đến
nổi không thấy mình là người bố thí, không thấy của bố thí có nhiều hay ít
mà cũng không biết người thọ thí đó là ai, được như vậy mới gọi là rốt ráo
đến chỗ ba la mật.
2) Pháp thí :
Là đem giáo pháp
ban bố cho các tầng lớp người, vì sau khi nghe một thời pháp chúng ta có
thể chuyển tâm phiền não thành tâm bồ đề, được sống an lạc, sống hạnh phúc
ngay hiện đời này. Cao hơn nữa là chuyển con đường mê lầm đi sang con
đường sáng suốt giác ngộ, giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử khổ đau
vĩnh viễn muôn kiếp, chuyển phàm thành Thánh.
3) Vô úy thí :
Ở trên đời
này có nhiều cái khổ, nghèo cũng khổ, giàu cũng khổ, đau cũng khổ và chết
cũng khổ, cho nên con người chúng ta luôn luôn lo sợ đủ mọi mặt. Người học
Phật cần nên làm sao giúp cho chúng sanh không còn cái lo sợ như vậy, mình
phải chinh phục sanh tử. Nói đến tử tức là chết, thì ai ai cũng đều lo âu
buồn chán, vì thế người xuất gia cần phải học Phật pháp cho đến nơi đến
chốn, để đem những giáo pháp đặc biệt của Đức Phật mà giảng lại cho người
đời đừng có tâm sợ sệt, lo âu nữa. Do đó có câu :
"Tài, pháp nhị
thí, đẳng vô sai biệt,
Đàn ba la mật, cụ
túc viên mãn".
Chúng ta
đừng phân biệt tài thí với pháp thí. Phải xem hai loại bố
thí này bình đẳng ngang nhau. Nếu bố thí mà đi đến chỗ ba la mật là được
cụ túc viên mãn, tức là đầy đủ. Như trong kinh có dạy : "Tất cả
những phẩm vật cúng dường lên chư Phật Hiền Thánh Tăng và Hiện Tiền Tăng,
chỉ có cúng dường giáo pháp là hơn hết" vì gíáo pháp của chư Phật
có khả năng giáo hóa, hoán chuyển cho tất cả chúng sanh. Vì vậy người xuất
gia phải cố gắng học hỏi cho thông suốt kinh, luật, luận. Kinh, Luật và
Luận là ba kho tàng quý báu của Đạo Phật. Được như thế mới là pháp cúng
dường tối thắng.
2- Trì giới :
Trì giới là
độ hủy giới, hoặc độ phá giới. Gìn giữ giới như gìn giữ viên minh châu,
hoặc tròng con mắt. Trì giới ba la mật nằm trong ba yếu tố chánh bên Đại
Thừa. Đó là :
a- Nhiếp luật nghi
giới :
Không có việc thiện nhỏ nào mà mình bỏ qua.
b- Nhiếp
thiện pháp giới :
Không có
việc lành nào dù nhỏ mà mình không làm.
c- Nhiêu ích hữu tình
giới : Bất
cứ làm việc gì, luôn luôn phải nghĩ đến sự lợi ích cho chúng sanh và phải
làm sao cho chúng sanh nhận được trong chính họ có mang viên Ma Ni Bửu
Châu (đó là phật tánh). Ba điểm này cũng giống trong ba câu,
"Nguyện đoạn nhất
thiết ác,
Nguyện tu nhất thiết
thiện,
Nguyện độ nhất thiết
chúng sanh".
mà mỗi
ngày độ ngọ chúng ta đều phải nhớ đọc.
3) Nhẫn nhục :
Nhẫn nhục ba
la mật là độ sân hận, giận tức. Người nào có lòng nhẫn nhục là không bao
giờ sân hận, nhưng thật rất khó làm. Vì thế trong kinh có câu.
"Nhất niệm sân tâm
khởi,
Bá vạn chướng môn
khai".
Khi một niệm sân giận
nổi lên thì có đến trăm muôn cửa chướng ngại theo sau. Cũng như chúng ta
thường hay nghe "Vi phiền não chi căn. Thị tam đồ chi quả". Giận là
cái gốc phiền não, đây là quả khổ trong ba đường, địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh. Cho nên người con Phật, Thích Tử, Thích Nữ phải dẹp cho được cái
giận tức buồn phiền này thì tu rất là mau tiến. Không ai có thể dẹp cho
mình, chỉ có mình mới tự làm được mà thôi. Nhưng muốn dẹp bỏ cái giận tức
này thì trước tiên cần phải tu hạnh nhẫn nhục ba la mật. Nhẫn cho đến khi
nào không còn thấy mình nhẫn đó mới gọi là ba la mật, cũng như chúng ta
sống hàng ngày đây có ba nghiệp mà cần phải nhẫn đó là : ý nghĩ, lời nói
và hành động. Thánh nhân có câu :
"Nhẫn, nhẫn, nhẫn
trái chủ oan gia tùng thử tận"
Thân, miệng, ý nhẫn
thì bao nhiêu trái chủ oan gia nghiệp báo đều tiêu hết
"Nhiêu, nhiêu, nhiêu,
thiên tai vạn họa nhất tề tiêu"
Thương, thương,
thương ngàn tai muôn họa theo đó mà tiêu tan.
"Mặc, mặc, mặc, vô
hạn thần tiên tùng thử đắc"
Lặng, lặng, lặng,
đừng phát động nổi lên để cho tâm hồn trở lại sống với cảnh thần tiên.
Cho nên
trong kinh Phật có dạy: "Ba nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây
phương".
4) Tinh tấn :
Người có tinh
tấn thì độ được biếng nhác, trễ nải. Phải luôn luôn tinh tấn trong tâm hồn
mình, lúc nào cũng phải tinh tấn hành đạo, học đạo, đừng bao giờ cho nó
giải đãi. Cái nghiệp biếng nhác này đã ăn sâu gốc rễ từ vô thỉ tới bây
giờ. Trong kinh phật có dạy ba cách tinh tấn đó là:
a) Bị giáp tinh tấn,
b) Gia hạnh tinh tấn,
c) Vô hỷ túc tinh
tấn.
a) Bị giáp tinh tấn
là như thế
nào? Giống như người ra mặt trận lúc nào cũng mặc áo giáp để bảo vệ thân
mạng, coi như ngày nào cũng phải chống lại quân giặc. Thí dụ như, mỗi buổi
sáng tới giờ công phu chúng ta hay bị bệnh nhức đầu, đau bụng, đó là con
ma phiền não, con ma làm biếng nổi lên, xui khiến cho tâm giải đãi không
tu không học, ngay lúc đó chúng ta phải làm sao chiến thắng nó, hàng ngày,
hàng giờ, hàng phút mới được ca khúc khải hoàn !
b) Gia hạnh tinh tấn
: Là gia
công tấn hạnh tinh tấn siêng năng luôn luôn làm sao mỗi ngày mỗi đi lên,
cũng như Đức Phật dạy người xuất gia chúng ta mỗi nửa tháng cạo tóc một
lần. Cạo tóc đây có nghĩa là cạo những phiền não trọng trược đã theo chúng
ta từ vô thỉ kiếp.
c) Vô hỷ túc tinh tấn
: Không
bao giờ vui mừng cho việc tu tập của mình là đủ, thí dụ như có những vị
đồng ấu xuất gia khoảng 8, 9 tuổi đến hơn 40 tuổi thì đã cho đó là tu đủ
rồi không chịu tinh tấn thêm lên. Như vậy là không được, vì vô hỷ túc tinh
tấn là không bao giờ thấy là đủ, cho đến khi nào nhận chân được món quà Vô
Thượng Chánh Đẳng, Chánh Giác, chừng đó mới là hỷ túc tinh tấn. Làm sao cố
gắng giữ cho được ba món tinh tấn này đừng cho lui sụt. Vì thế mà chư Hiền
nhơn dạy chúng ta bằng những câu thơ như sau:
"Trên đường
đạo không gì bằng tinh tấn,
Không gì
bằng trí tuệ của đời ta,
Sống điêu
linh trong kiếp sống Ta Bà,
Chỉ có
tinh tấn là vượt qua tất cả".
5) Thiền định :
Tâm
của chúng ta có thiền định ba la mật thì mới độ được tán loạn, phải làm
sao cho tâm mình định đến khi nào không còn thấy mình định mới thôi. Người
mà tâm ý tán loạn thì không làm cách nào để đạt được đạo, không làm sao
phát sanh trí tuệ, bởi vì nhơn định mà phát huệ, mới ngõ hầu thành tựu
được thánh đạo; khỏi cô phụ chí hướng xuất gia của mình. Ngài Khổng Tử
cũng có nói tâm mình lúc nào cũng giữ định tĩnh luôn luôn để "Lập thân
hành đạo, dương danh ư hậu thế, dĩ hiển kỳ phụ mẫu, hiếu chi thỉ dã".
Có nghĩa là tự mình phải hành đạo, cho đắc đạo để lại tiếng thơm cho đời
sau, để làm rạng danh đến cha mẹ sanh mình đó là trả hiếu vậy. Vì thế mà
thầy mong muốn sao cho Tăng Ni lúc nào cũng sống trong thiền định, để
hoằng truyền chánh pháp, đền trả ơn sâu chư Phật, chư Tổ.
6) Bát nhã ba la mật
: Khi
có bát nhã ba la mật là độ được vô minh. Hễ có ánh sáng thì làm sao có
bóng tối, cho nên tâm hồn lúc nào cũng sáng suốt cho đến không còn thấy
mình sáng suốt đó mới gọi là Bát nhã ba la mật. Phần này chia làm ba thể
thức.
a- Bát nhã vô phân
biệt gia hạnh :
Dùng trí bát nhã của
mình ra làm phật sự, không phân biệt làm nhiều làm ít, chuyện cần làm phải
làm vì lợi ích chúng sanh, không còn suy tính. Cứ lấy trí bát nhã ra sử
dụng, luôn luôn phải gia hạnh tinh tấn.
b- Bát nhã vô phân
biệt : Lúc
nào mình cũng sống với trí bát nhã là không bao giờ sai. Đôi khi còn có
những chuyện phải hàng phục chúng sanh, mình phải tỏ ra buồn phiền giận
tức la lối lớn tiếng, nhưng nó vẫn nằm trong Bát Nhã Thánh Trí
(Trường hợp này chỉ sử dụng cho người khi mà hạt giống phiền não không còn
nữa; chỉ còn lại hạt giống Bát Nhã Thánh Trí).
c- Bát nhã vô phân
biệt hậu đắc :
Lấy trí sáng của mình
tu học cho đến khi nào đạt được hậu đắc trí. Hậu đắc trí này đã sẵn có
trong mỗi chúng ta, là trí sau của căn bản trí nhưng lâu ngày bị lu mờ,
bây giờ mình phải làm sao giải tỏa sự lu mờ đó đi thì ánh sáng bát nhã hậu
đắc trí sẽ hiện ra, đây là trí tuệ hoàn toàn sáng suốt tối hậu để giác
ngộ. Cũng như Đức Thích Ca nhờ có căn bản trí cho nên trong thời gian tu
lục niên khổ hạnh và sau thời kỳ thiền định 49 ngày dưới cội bồ đề thì
Ngài mới đạt được cái trí hậu đắc.
7) Phương tiện ba la
mật :
Là để độ lòng người cố chấp, vì trên đời này không có gì là tuyệt đối, mà
muốn lợi ích cho chúng sanh thì cần phải có phương tiện, vì người đời hay
chấp ngã, chấp pháp, chấp danh ngôn, chấp thân này cho là thiệt có cho là
thường còn, vì thế mới có ba loại phương tiện để độ những cái chấp này :
1- Đại từ bi phương
tiện : Lúc
nào cũng dùng tâm đại từ, đại bi của mình nhưng phải có một chút phương
tiện trong đó, đặng giúp cho người đời dễ hiểu, và họ trở lại tâm bình
thường.
2- Đại giác ngộ
phương tiện :
Đây là phương tiện
trong sự đại giác ngộ, chứ không phải giác ngộ trong sự mê lầm, nếu mình
không hiểu biết mà vẫn cố làm thì sẽ đi sai chánh pháp.
3- Chuyển pháp luân
bát nhã phương tiện :
Dùng bánh xe pháp để
giáo hóa không bao giờ thoái chuyển, giống như chuyển pháp luân bất thoái
phương tiện (dù gặp chuyện khó khăn gì cũng đừng nản lòng) mình
phải làm sao cố gắng cho phương tiện này trở thành ba la mật thì mới không
lay chuyển tâm bồ đề.
8) Nguyện ba la mật :
Là
độ tâm tham dục của chúng sanh của chính hành giả cho nên mới có bài thơ :
"Vui trong
tham dục vui là khổ,
Khổ để tu
hành khổ quá vui,
Nếu biết có
vui là có khổ,
Thà rằng
đừng khổ cũng đừng vui,
Mong sao
giữ tánh không vui khổ,
Mới thoát
ra ngoài lối khổ vui".
Người tu
hành muốn có tánh 'cũng đừng vui cũng đừng khổ', thì phải phát
nguyện tu hành ba la mật "Tu hành vô nguyện, đạo quả nan thành" .
Tu hành mà không có phát nguyện thì đạo quả khó thành tựu, nguyện ba la
mật có ba điểm :
1- Chí
thành tâm nguyện :
Phàm làm
việc gì phải đem hết lòng thành để nguyện (chứ không phải nguyện như cái
máy nói, nói xong thì ngừng nghĩ).
2- Thâm tâm nguyện :
Đem cái
tâm sâu sắc vững vàng đi tới, tiến tới luôn luôn để đến chỗ rốt ráo.
3- Hồi hướng phát tâm
nguyện :
Nghĩa là làm được cái gì cũng đều phát tâm nguyện hồi hướng cho chúng
sanh, nếu muốn cho bản nguyện của mình trở thành ba la mật thì cần phải
nhớ vào, bốn câu thệ nguyện mà mỗi buổi ăn sáng Tăng, Ni đều đọc tụng :
Tự tánh chúng sanh
thệ nguyện độ,
Tự tánh phiền não
thệ nguyện đoạn,
Tự tánh pháp môn
thệ nguyện học,
Tự tánh phật đạo
thệ nguyện thành.
Bốn câu trên đây
thuộc về lý phát nguyện :
Chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện
đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện
học,
Phật đạo vô thượng thệ
nguyện thành.
Bốn câu này thuộc về
sự phát nguyện, mỗi ngày chúng ta dứt bỏ một chút để hành theo lý và sự
cho đúng pháp của chư Tổ lưu truyền là đặng thành chánh quả.
9) Lực ba la mật :
Độ
tánh yếu hèn của mỗi người, vì đây là sức mạnh của khả năng từng cá nhân
một, tất cả mọi người ai cũng có khả năng riêng biệt của chính mình. Lực
này có đến năm (5) loại là:
a- Tín lực :
Sức mình tin
tưởng là mình sẽ làm được những chuyện mà bản thân mình muốn làm, nhờ có
lòng tin nên mới thành công.
b- Tấn lực :
Một sức tinh tấn
luôn luôn dõng mãnh trên con đường tu học và con đường hoằng pháp lợi
sanh.
c- Niệm lực :
có một sức mạnh
suy nghĩ sao cho việc tu, việc học và hành đạo của mình luôn luôn trong
chánh niệm .
d- Định lực :
Dù cho trời long
đất lở, chúng ta lúc nào cũng giữ chánh định tự nhiên không lo sợ không
hoảng hốt ...
e- Huệ lực :
Đây là sức trí
huệ ba la mật, trí huệ kim cương, mình phải đạt cho được cái đó. Mà muốn
đạt cho kỳ được cái huệ lực, chúng ta phải thực hành cho đủ ba yếu điểm là
:
1- Giới lực ba la mật
: Sức giữ
giới cho được rốt ráo nghiêm minh.
2- Định lực ba la mật
: Sức
thiền định cho được rốt ráo. Đi, đứng, nằm, ngồi đều phải có định lực dù
cho sắp chết cũng phải có định lực, nhờ như vậy mà thần thức được sáng
suốt, an nhiên tự tại.
3- Huệ lực ba la mật
: Sức điện
trí tuệ Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa bao trùm cả trong và ngoài ba ngàn đại
thiên thế giới.
10) Trí ba la mật :
Có tầm
mức trung trí tuệ, chưa phải là đại trí tuệ, nhưng có thể độ
được tánh ngu si. Đầu tiên cần phải có nhất thiết trí, tất cả mọi sự gì
mình đang sống đây phải tự giác. Kế tiếp là đạo chủng trí, trí tuệ
này liên quan mật thiết đến muôn loài chúng sanh, người đạt được đạo chủng
trí thì có giác tha hoàn toàn.
Cuối cùng đến nhất
thiết chủng trí, tất cả những chuyện thế gian cho đến siêu xuất thế
gian trong vũ trụ ngoài vũ trụ đều hiểu biết hết, thì sẽ được giác hạnh
viên mãn. Sau đây là một bài thơ về trí tuệ :
"Tâm trí tuệ thinh
thinh rộng lớn,
Sáng trong ngần
chẳng bợn mây trần,
Làu làu một tánh
thiên chân,
Bao trùm muôn loại
chẳng phân thánh phàm..."
---o0o---
[
Mục Lục
] [
01]
[02]
[03]
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-03-2005