Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Học


.. ... .

 
 

Những Dòng Sữa Mẹ

Tập 2

HT Thích Huyền Vi

---o0o---

Phần II

06. Đường lên Quả vị Thập Trụ 

Hôm nay sang tuần thứ 2 trong mùa an cư nhập hạ, Thầy sẽ khai thị cho đại chúng về quả vị Thập Trụ. Muốn đạt được quả vị Thập Trụ này, tức là có mười (10) điểm phải trụ, phải nắm vững trong tâm của mình. Nói một cách khác là có mười (10) cá tánh nhấp nhô liên tục trong cuộc sống của mình và phải làm thế nào cho chúng được an định ?  Chữ trụ ở đây được hiểu an định, là ngự trị, không cho lay động, không cho loạn. Nếu tâm không trụ, bị giao động, là sẽ gây rắc rối cho con đường tu chứng của chúng ta.

Nghĩa đen chữ trụ là ở an nhiên bền chắc một nơi nào đó, một địa điểm nào, nhưng ở đây nghĩa bóng của Thập Trụ tức là mười loại chơn tâm của chính mình. Cái định nằm trong cái định, chớ không phải cái định tương đối  với cái loạn. Trong an định mà còn đối với thiền định đối với tán loạn là cái định ấy còn yếu lắm. Định là không tán loạn ngay trong cái loạn, mới thật là định.

1. Phát tâm trụ: Tâm chúng ta lúc nào cũng rộng mở vào cửa thiện, sáng suốt làm việc lành, gọi là phát tâm bồ đề. Làm việc gì cũng nên nói:A Di Đà Phật cám ơn huynh, chúng ta phát bồ đề tâm để mà lo việc đó. Định nghĩa chữ phát tâm này là cởi mở tâm thiện để làm việc lành, ngõ hầu an ở, trụ vào cho được quả vị Phật, tức là tìm được sự giác ngộ hoàn toàn. Cũng có nghĩa là ở trong cái trụ đó, nó không còn có một cái gì gọi là sai lầm si mê.

Tuy vậy con đường trụ đó vẫn chưa thật hoàn toàn sáng suốt, mà ta còn phải tiến lên cho đến Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác, cuối cùng là Viên Giác. Chúng ta nên phát tâm thật sự để tu hành, chứ không nên  phát tâm tìm cầu phước báo ở cõi người, cõi trời, cho đến không còn cái tâm tìm cầu chứng A La Hán,Thanh Văn, Duyên Giác, hay Quyền Thừa Bồ Tát, Chỉ nên phát tâm Bồ Đề tới tối Thượng Thừa, tức là nguyện cho tất cả chúng sanh đồng đạt được vô thượng Chánh Đẳng, Chánh Giác (Anuttara Samyak- sambuddha). Rộng mở tâm như vậy mới được gọi là phát tâm Phật.

Không muốn làm Thanh Văn, Duyên Giác và cũng không muốn tu để tìm cầu phước báo ở cõi người, hoặc ở cõi trời, ấy là phát tâm trụ.

Ở trong mỗi loài, mỗi người, cái tánh giác hay linh giác tiến lên hoặc trở thành giác ngộ hoàn toàn tức là địa vị Chánh Đẳng, Chánh Giác, thì tâm mình bình đẳng một cách hết sức trung trực. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, mình phải hiểu và nhận định cho rõ ràng để đưa mình thực hành đến chỗ siêu việt, mà điểm này không thể nói được, không thể giải thích được. Chẳng hạn như vạn vật  cỏ, cây, sắt, đá, cũng có tánh giác, mặc dầu thấy đó là vật vô tri. Nói như thế thì khó có ai hiểu, khó có ai tin, nhưng đó là chơn lý, khi con người mình hoàn toàn sáng suốt giác ngộ thì mới biết tâm trụ nơi đâu.

2- Trị Địa Trụ: Phật tánh của chúng ta, chơn tâm của chúng ta luôn luôn đối trị với tâm vọng tưởng. Bất cứ giờ phút nào cái tâm vọng cũng có thể nổi lên bởi vì mình còn mang tâm  chúng sanh, tâm phàm, tâm chưa giác ngộ. Do đó mà mỗi ngày Thầy thường nhắc nhở Tăng, Ni trong Tự Viện, hễ một khi chợt nhận biết được một vọng tâm nào nổi lên, là chúng ta phải chiến đấu đến cùng, và phải chiến đấu như thế nào ? Nghĩa là quý vị phải nhất tâm niệm Phật, niệm đến khi nào không còn thấy mình niệm mà miệng vẫn niệm, tai vẫn nghe tiếng niệm. Được như vậy mới diệt được những làn sóng vọng tưởng trùng trùng điệp điệp trào lên. Nói thì dễ nhưng áp dụng cho đúng mức thì không phải là dễ. Tuy nhiên khó, mà thực hành được thì mới thật là vi diệu, và phải thường xuyên thực hành cho đến khi nào mình hàng phục được hết các tâm phiền não, tâm vọng tưởng, thì tự nhiên tâm chánh niệm, tâm chơn chánh hiễn lộ. Lúc đó mình mới bước vào được Trị Địa Trụ.

3- Tu Hành Trụ: Tức là thật hành liên tục khi thấy sóng vọng tâm dấy lên xao xuyến, buồn buồn, nghi ngờ chuyện gì đó là liền niệm Phật ngay. Nếu tâm của mình có chiều hướng ngã mạn cống cao thì phải niệm Phật ngay, hoặc giả mỗi khi làm việc gì đều cho là mình hay hơn những vị khác, không ai có thể làm được việc này ngoài mình mà thôi, kể cả trong chuyện tu hành cũng thế, không chịu nghe lời huynh đệ chỉ dẫn, mà ngay cả Thầy Tổ dạy bảo khuyên lơn cũng không nghe. Bất cứ làm việc gì cũng chấp chặt cái ý kiến của mình, người như vậy chưa phải là tu hành trụ, mình phải chịu khó sửa ba nghiệp (thân, miệng và ý) cho được nhất như thì tu ở đâu, trụ ở đâu, hành ở đâu cũng thanh tịnh, đó mới gọi là tu hành trụ.

4- Sanh Quý Trụ: Sanh tức là sinh ra, nảy nở luôn luôn, quý là tôn quý, trụ là ở một nơi an ổn vững chắc. Sanh quý trụ là phát tâm Bồ Đề cao thượng, tâm Phật, tâm sáng suốt của mình luôn luôn phát triển từ những nơi cao quý như:Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác, Viên Giác. Những điều cao quý phát triển luôn luôn ở trong tánh giác của mỗi chúng ta từng ngày, từng giờ, từng phút, từng mỗi sát na. Phải làm cho tâm an trụ, nẩy nở chơn tánh.  Có như vậy đó mới gọi là chơn không diệu hữu. Tâm của mình nằm trong quả vị Thập Trụ coi như tối tôn quý. 

Phát tâm trụ, trị địa trụ, tu hành trụ, sanh quý trụ là bốn quả vị trụ được gọi là Nhập Thánh Thai, tức là vào trong thai thánh. Nói về sanh quý trụ thầy nhắc cho quý vị thêm ở điểm này là tâm lúc nào cũng trụ ở trong cái gọi là phát triển luôn luôn để ngộ nhập với Như Lai Tạng tánh của mỗi người, làm sao cho nó trụ được một nơi và thể nhập với Phật tánh là một.

5 - Phương tiện cụ túc trụ: Mình còn đang tu, còn mang thân tứ đại, cần giữ cái tâm sáng để mà trụ vào công việc làm coi như là phương tiện cụ túc. Trong tất cả những phật sự mà có hình thức này nọ đều là phương tiện không phải rốt ráo; nhưng phi phương tiện bất thành cứu cánh, cho nên cần phải cố gắng làm sao cho đi đúng với đạo lý để được sáng suốt giác ngộ giải thoát. Khi ra làm đạo mà thiếu phương tiện thì khó thành công trên mọi mặt, mà muốn dùng phương tiện để độ sanh thì điều trước tiên Thầy khuyên quý vị phải tu hành cho được rốt ráo, phải có đầy đủ trí tuệ, đầy đủ khả năng hành đạo lúc đó mới giải quyết được tất cả mà không phải vấp ngã.

Vì sao? Vì người có trí tuệ làm bất cứ việc cũng đều có suy nghĩ, cân nhắc đắn đo kỹ lưỡng, lúc nào cũng sợ lợi mình hại người, rủi ro vô thường có đến mình không kịp trả thì phải mang nợ đến kiếp sau, hoặc kiếp sau nữa thì là một tai hại lớn cho người xuất gia. Thế cho nên dù cho có bá thiên phương tiện độ đời cũng đừng để bị kẹt vào gút mắc. Đừng nên chấp chặt một việc gì rồi đôi khi trở thành tâm bệnh mà không hay, do đó không thể nào độ được người khác. Làm gì cũng tùy trường hợp, tùy căn cơ mình đáp ứng, phải tính toán xem hoàn cảnh như thế nào để mình ứng phó cho thích hợp cả đôi bên, thì đó mới gọi là ra làm đạo độ sanh. Kết quả mới đi đến cụ túc viên mãn, và chúng ta hãy cố gắng dùng cái văn (nghe) huệ sẵn có của mình. Muốn có văn huệ thì nên chịu khó xem sách, nghe giảng pháp hoặc đến tận nơi có giảng sư thuyết pháp, hoặc nghe băng cassette, và đọc sách tức là tự mình học, nhờ như thế mới giúp cho chúng ta tiến lên được trên đường Thập Trụ.

Cho nên trong bài này Thầy giảng cho quý vị biết chữ phương tiện cụ túc là như thế, làm gì thì làm nhưng việc học, việc tu Thầy muốn quý vị xếp nó vào hàng đầu. Có học mới có pháp để giảng dạy, không học thì làm gì có vốn liếng chữ nghĩa mà ra giảng giải đạo lý, cũng như có tu thì tâm mới thanh tịnh, an trụ và giác ngộ, mới giúp được cho chúng sanh tiến trên con đường giải thoát giống như chúng ta vậy.

6 - Chánh Tâm Trụ: Tâm trụ đã là chánh, mà chánh ở trong cái chánh, trụ ở trong cái trụ, mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây, tâm luôn luôn ở trong ba điểm chính. Tuy nói là ba nhưng là một, một mà ba, có nghĩa là tâm luôn luôn chí thành, lúc nào cũng phát nguyện rộng lớn ở trong các sự việc, và đem hết tâm nguyện làm thì việc đó sẽ thành công viên mãn,  gọi đó là chánh tâm trụ.

Chẳng hạn như việc trồng cây cũng thế. Chúng ta phải ra sức trồng cho đúng phương pháp, đúng cách thức đâu ra đó đàng hoàng thì bông hoa mới có thể nở đẹp, đâm cành nảy lá xum xuê, còn bằng ngược lại mình không chăm  sóc cho kỹ lưỡng thì sẽ bị sâu ăn, rầy phá hư hại. Trong những việc tầm thường như vậy, mà mình không thể làm được thì đừng nói đến chánh tâm trụ để mà hành trì hay tu hành chi khác.

Bất cứ làm việc gì cũng phải nhất tâm, kể cả sự tu niệm cũng vậy. Khi niệm  Phật ta biết ta niệm Phật, đó là nhất tâm, khi tham thiền cũng phải định tâm để tham thiền, đó cũng gọi là nhất tâm tham thiền. Quý vị cố gắng làm sao hạ thủ công phu tu hành cho trí tuệ mỗi ngày, mỗi ngày được tăng trưởng mới luôn luôn (nhật tân, nhật tân hựu nhật tân). Quả vị nầy đòi hỏi chúng ta giữ chánh niệm từ mọi sự việc thường thường trước mắt hàng ngày cho đến việc tu hành đều phải có tâm chí thành, còn gọi chánh tâm để được nhất như trước sau như một.

7 - Bất Thoái Trụ: Không bao giờ để cho chánh tâm của mình lay động, thoái chuyển, thì ở trong quả vị bất thoái trụ này có chia ra ba điểm nhỏ giải nghĩa rõ ràng.

              a- Vị bất thoái.

              b- Hành bất thoái và,

              c- Niệm bất thoái.

a - Vị bất thoái: Tâm mình sáng suốt tới mức độ nào, tinh tấn tới cở nào đó thì nên cố gắng giữ luôn như vậy đừng cho nó thoái chuyển, và hàng ngày chúng ta càng phải làm cho nó tăng tiến thêm lên. Có được như vậy thì mới gọi là quả vị bất thoái chuyển.

Trong kinh A Di Đà có chữ A Bệ Bạt Trí (Avaivartika) tức là người nào được sanh về nước Cực Lạc của Phật A Di Đà là không bao giờ thoái chuyển, lúc nào cũng có tâm niệm tiến lên dù cho có làm người dân ở cõi Phật A Di Đà, rồi nhờ thần lực đó mà tu hành thêm cho đúng mức để đi lên tới Hạ Phẩm Hạ Sanh, Hạ Phẩm Trung Sanh, Hạ Phẩm Thượng Sanh, Trung Phẩm Hạ Sanh, Trung Phẩm Trung Sanh, Trung Phẩm Thượng Sanh, đến phần cuối cùng sẽ đạt được Thượng Phẩm Hạ Sanh, Thượng Phẩm Trung Sanh, Thượng Phẩm Thượng Sanh, như vậy gọi là bất thoái chuyển.

b- Hành bất thoái: Hành là công hạnh, hay là thực hành không bao giờ thoái chuyển. Chỉ có làm cho tăng chứ không có thoái, nhưng quý vị ở đây khổ lắm, có lúc thì coi như hành được quá, mặc dầu là chưa tới cái rốt ráo ở chuyện hành, nhưng mà làm một đổi rồi quen, chuông mõ đánh được rồi, tụng niệm coi bộ được rồi, thì bắt đầu sanh tâm làm biếng rồi còn nói lý, "mình tu đâu phải chỉ là chuyện tụng kinh, mình tu cho giác ngộ chớ tụng kinh làm gì ngồi cho đau lưng nhưng cũng chẳng được gì hết".

 Quý vị nghĩ như vậy là đi sai lệch hết. Thầy thường hay nói  mỗi một việc gì cũng phải làm cho nhất tâm từ việc lớn cho đến việc nhỏ, kể cả việc dùng điểm tâm sáng, hay độ ngọ vào buổi trưa. Mỗi khi bưng chén cơm lên phải nghĩ đến ta đang sống trong pháp hội đạo tràng, phải ăn trong thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn thì mới đạt được quả vị giác ngộ, và luôn luôn phải hành bất thoái chuyển. Chớ đừng nghĩ như chuyện thế gian ăn cho no qua ngày mà thôi người tu mà suy nghĩ không đúng là sẽ đi sai với đạo pháp.    

c - Niệm bất thoái: Niệm là một lúc nhớ tưởng niệm. Trong câu nầy phải hiểu là đừng bao giờ cho chánh niệm thoái chuyển. Nhất tâm niệm làm sao cho được thành Phật, hay tối thiểu cũng thành một vị Bồ Tát dầu cho khổ đến đâu có tan xương nát thịt cũng đừng thoái chuyển đó mới gọi là niệm bất thoái, cũng như bây giờ đây chúng ta thọ giáo pháp của Phật, người thọ Sadi mười giới (10), người thọ Thức Xoa Ma Na Ni 296 giới, người thọ Tỳ Kheo 250 giới, Tỳ Kheo Ni 348 giới. Tại sao phải thọ như vậy để làm gì? Vì Đức Phật đã dạy người tu lúc nào cũng cần giữ chánh niệm. 

Trong khi đi, đứng, nằm, ngồi oai nghi cần phải nghiêm trang thanh tịnh. Trong đạo tràng và ngoài đạo tràng cũng thế, những công việc gì có ý định làm là bất cứ lúc nào cũng suy nghĩ cho đúng chánh pháp, làm cho đúng chánh pháp, hợp sự thật thì đó là niệm bất thoái chuyển. Tâm Bồ Đề không bao giờ bị thoái chuyển lay động, không bao giờ bị lu mờ giải đãi biếng nhác, đó gọi là tâm Phật, tâm bất thoái trụ.

8- Đồng Chơn Trụ: Tâm luôn luôn lúc nào cũng giữ cho thanh tịnh như như. Hai chữ đồng chơn này có nghĩa là vô phân biệt. Sống trong cuộc đời này tâm chúng ta lúc nào cũng phân biệt quá nhiều thành ra cứ sống trong điên đảo, vọng tưởng, theo duyên phân biệt. Thường thường chữ đồng được hiểu là con, đồng nam, đồng nữ ; bởi vì trẻ con sống trong hồn nhiên, trong sạch, ngây thơ, chưa vướng bụi trần nên không có phân biệt, cho nên việc tu hành của những vị đồng tử này dễ tu dễ chứng, thế mới được gọi là đồng chơn nhập đạo. (Đây chỉ cho những vị ấu niên chưa từng lập gia đình mới được gọi là đồng chơn nhập đạo, còn như quý vị lớn tuổi đã từng có gia thất, sau mới vào tu, thì gọi đó là bán thế xuất gia). Tâm  vì bị vướng mắc phân biệt rất nhiều, vì thế sự tu hành khó đạt được kết quả mong muốn. Những vị này bị cái trí thế gian xen tạp nhiều quá, trong đạo còn gọi trí này là thế trí biện thông nạn, làm cho người đó khó tu hành, vậy phải làm sao chuyển trí thế gian nầy thành ra trí xuất thế gian thì mới giúp ích được cho đạo pháp, giúp ích cho chúng sanh, mà chính bản thân mình mới tu tiến được.

Đã là người xuất  gia, hãy cố gắng giữ cho cái tâm bất nhiễm thế duyên, thì không còn phân biệt nữa. Đừng bao giờ nghĩ người này là đáng thương, người kia là đáng ghét, cái này tốt, cái kia xấu, cái này đẹp, cái kia không đẹp, như vậy mới được gọi là đồng chơn trụ.

9- Pháp Vương Tử Trụ: Là cái tâm trụ giống như người con của đấng giác ngộ rồi coi như là tu hành cũng khá cao, cho nên ở trong sách phân tách thì đến cái trụ thứ chín (9) này gọi là xuất thánh thai, tức là giác ngộ hoàn toàn. Đây chỉ cho Phật mà Phật là đấng giác ngộ hoàn toàn, cho nên mới có cái quả vị mang tên là Pháp Vương Tử Trụ. Vì vậy nói cái tâm của mình lúc nào cũng như là con ruột của Phật đó, mới được gọi là Phật tử, vì người cha giác ngộ, người con cũng giác ngộ theo.

Tử nghĩa là con, con của giòng họ Thích là phải sáng suốt chiến đấu với phiền não trong con người của mình, phải chuyển phiền não thành bồ đề, lúc nào cũng chuẩn bị sẵn sàng cái gươm trí tuệ để chặt đứt những cơn sân hận,  giận tức, phiền não. Do vậy trong đạo Phật có chữ sát sanh, nghĩa đúng là vậy đó, chứ không phải sát sanh là giết hại sinh vật. Nhờ sát sanh đúng nghĩa  như vậy, cho nên những cơn phiền não giảm thiểu dần dần. Nếu chúng ta không tự biết để điều phục sát hại được  phiền não, giận tức thì phải nhờ đến huynh đệ, Thầy Tổ giúp dùm.

Quý vị phải có kim cang tâm để đập mạnh nó may ra mới đạt được sự mầu nhiệm, mới có thể nhập vào quả vị cuối cùng của Thập Trụ là Quán đảnh trụ.

10- Quán Đảnh Trụ:  Nghĩa đen là rưới nước cam lồ trên đầu, hay là ma đảnh thọ ký, hay xoa trên đầu ; nhưng nghĩa đạo thì lại là cái tâm của mình lúc bấy giờ coi như là chắc chắn, như Thầy đã nói là đạt được chánh đạo thật sự chứ không phải đạt cái ma chướng đạo, đó mới gọi là quán đảnh.

Cũng như hồi xưa bên Ấn Độ hễ mỗi lần có một vị hoàng tử lên ngôi thì họ phải làm lễ quán đảnh. Quán đảnh có nghĩa là tuyên dương và làm phép rưới nước, hay là một vị Bà La Môn giáo chánh tông đến để làm lễ quán đảnh rưới nước. Sau này đạo Phật của chúng ta đổi chữ quán đảnh lại là thọ ký, vì thọ ký nghe dễ hiểu hơn là quán đảnh nhưng ý nghĩa cũng giống như vậy.

Thọ ký nói cho đủ là thọ bồ đề chi ký, tức là trao lại để mà ghi nhớ cái giác ngộ ở ngay thời điểm đó, coi như là hoàn toàn giác ngộ. Vì vậy cho nên  quán đảnh trụ, giống như là thọ ký ở đầu, như Phật thọ ký ở trong kinh Pháp Hoa khi Đức Phật thọ ký cho 1250 vị Tỳ Kheo, hoặc là thọ ký cho 500 vị A La Hán v.v.....

Còn nghĩa chữ thọ ký ở đây tức là mình biết khi mình tu có sự giác ngộ, sự đạt đạo trong thời gian nào, hoặc là kiếp số nào lúc đó hoàn toàn giác ngộ. Như đức Phật thọ ký cho Ngài Xá Lợi Phất tới một a tăng kỳ kiếp nào đó sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai, thọ mười hai tiểu kiếp, cõi nước tên Ly Cấu, đất bằng lưu ly có tám đường giao thông, dây bằng vàng ròng giăng 2 bên đường. Mé đường có hàng cây bảy báu, nhân dân nước đó thọ tám tiểu kiếp.

Sau khi Phật Hoa Quang diệt độ chánh pháp trụ lại trong đời ba mươi hai tiểu kiếp, tượng pháp trụ đời cũng ba mươi hai tiểu kiếp, hay là các vị khác cũng vậy. Nơi đây nếu chúng ta hiểu sâu vào lý thì không phải chỉ có một đức Phật hay là có một vị thầy hoặc xoa trên đầu, hoặc rưới nước trên đầu để thọ ký, mà chính nhờ vào cái sự tu hành của mình thì có thể đoán được trong thời gian nào số kiếp nào mình cũng sẽ có sáng suốt giác ngộ để độ chúng sanh ở cái quốc độ nào, ở cõi nước nào.

Còn như bây giờ đây nói thực tế cũng là thọ ký. Chẳng hạn như quý vị đây, khi tu tập được một thời gian mà thầy tổ thấy rằng quý vị có khả năng ra làm đạo, đi độ sanh ở quốc độ này hay quốc độ kia, thì tự nhiên thầy sẽ nhắc nhở quý vị cho ra trụ trì một ngôi chùa để thượng hoằng Phật đạo, hạ hóa chúng sanh. Đây cũng là một điểm thọ ký, nhưng mà thọ ký hiện tại, còn thọ ký mầu nhiệm là do tự tâm của mình tu hành mà đạt được, đó mới gọi là quả vị Thập Trụ, có nghĩa là cái tâm của mình sẽ giác ngộ trong đó là có tha tâm thông, hoặc là túc mạng thông, biết được tất cả những cái gì thì đó kêu là lý đạo cũng gọi là thọ ký.

Nói tóm lại quả vị thập trụ là một trong năm quả vị thập tín và chỉ cần đem  lòng chánh tín mà tin. Qua thập trụ tức là bước vào Phật tánh, rồi mới bước lên thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa tức là Bồ Tát, Đẳng Giác, Diệu Giác, Viên Giác.  

Tóm lại mười quả vị này tuy chia làm mười chớ thiệt là chỉ có một, vì nếu nói một thì khó thấy thế nào là quả vị. Tuy nhiên quả vị mà mình còn nói mười, nói một được thì quả vị đó còn trong tương đối, không phải là quả vị giác ngộ tuyệt đối. Tuy mình không chính thức nhờ vào quả vị, mà nhờ vào cái giảng giải nghe, suy nghĩ, tu, để cho cái của mình nương theo đó mà thâm nhập mới tiến tới chỗ chứng ngộ đạo quả. Vậy cho nên mới phải chia ra nhiều thập và địa vị. Nói về đốn giáo, thì không có chia ra nhiều bậc gì hết, coi như nghe rồi là tâm tỏ ngộ, tâm bừng sáng giác ngộ hoàn toàn.

Biết như thế để quý vị cố gắng trong thời gian chín tuần cấm túc, ba tháng an cư mỗi ngày làm sao quý vị sống với mấy cái tâm thập trụ, sống được như vậy thì thời gian chúng ta tu tập cửu tuần cấm túc, tam ngoạt an cư (chín tuần ở một chỗ, ba tháng ở một nơi) thì có thể mình biết được mình tu tới đâu và tới một mức độ nào, sang năm cũng vào ba tháng mùa hạ  quý vị cố gắng làm sao điều phục thân tâm cho được nhất như hơn năm cũ, Thầy bảo đảm là trong thời gian ngắn quý vị sẽ đạt được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Ngày xưa thời Đức Phật còn tại thế đa số đều là Thánh Tăng cho nên những vị nầy khi nghe Phật giảng pháp có một lần là được chứng ngộ liền không cần biên chép gì cả (đó là thời chánh pháp) một câu văn, ngàn người ngộ.

Qua thời tượng pháp thì cũng còn hơn phân nửa, hàng Thánh Tăng khi nghe Phật giảng pháp thì được chứng thánh quả liền.

Bây giờ là thời mạt pháp, rất hiếm có người được chứng quả thánh như vậy, phải dùng phương tiện thu băng nghe đi nghe lại nhiều lần mới có thể thực hành đúng được. Có điểm nào chưa hiểu phải hỏi lại Thầy Tổ cho rõ ràng, thính vấn (nghe, hỏi) Phật Pháp nhân duyên, chớ nghe sơ qua một lần bỏ đó rồi một năm sau mới đem ra nghe lại thì biết đến bao giờ mới hành cho đúng để mà đạt được quả thánh.

Thầy nói cho quý vị biết, nếu như quý vị không lần lượt đi từ phát tâm trụ, trị địa trụ, tu hành trụ, rồi sanh quý trụ, cuối cùng là phương tiện cụ túc trụ, thì khó tiến lên được. Thầy lúc nào cũng nhắc nhở quý vị từng giây, từng phút luôn luôn phải điều phục thân tâm xem chừng coi con "trâu nghiệp" của mình đi tới đâu rồi? Nó có thuần thục nghe lời chủ chưa hay thỉnh thoảng vẫn còn đi lạc đường. Những lúc như vậy quý vị phải niệm Phật liền liền, điều phục cho tâm an ổn lại. Khi đó hành giả mới biết được mình giác ngộ tới đâu, và sự tu hành của mình đi đến đâu.

Nói tóm lại nếu đạt được quả vị Thập Trụ này thì hành giả có thể tiến lên thêm một bậc nữa đó là Thập Hạnh. 

 

07. Tiến lên quả vị thập hạnh 

Đây là bài khai thị thứ ba trong mùa An Cư Kiết Hạ năm nay, Thầy sẽ mở bày cho hàng thất chúng  một phương cách phát triển công năng tu hành để đạt đạo, để tiến đến quả vị Thập Hạnh.

Thập Hạnh là mười cái hạnh lành, và làm sao mà chứng cho được mười  cái hạnh lành này, để tiến lên quả vị Thập Hồi Hướng, rồi cuối cùng vào được quả vị Thập địa.

Những điểm cốt yếu nói về hạnh thì chỉ có một pháp môn dễ vô cùng, nhưng nếu không hành thì nó cũng khó vô song. Dĩ nhiên người con Phật dù xuất gia hay tại gia gì cũng vậy, nhưng chủ yếu là người xuất gia giờ nào, phút nào giây nào cũng giữ cho tâm an bình, khi thấy việc gì đến hơi bất an, hoặc bất bình, thì nên dùng câu niệm Phật để đáp ứng liền, và phải chí thành niệm Phật. Bởi vì niệm Phật là niệm tâm, tức là chỉ thẳng vào cái tâm của mình để chuyển phiền não thành bồ đề.

Niệm Nam Mô A Di Đà Phật là chúng ta trở về với ông Phật sẵn có của chính chúng ta, đó là tánh giác của chính mình. Nam Mô có nghĩa là quy mạng, trở về. A Di Đà là ở trong Phật tánh của mình có đủ vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng công đức. Công năng diệu dụng của cái vô lượng này giúp cho chúng ta chống lại nội ma, ngoại chướng để trở lại bản tâm thanh tịnh sẵn có của chúng ta. Lúc ấy chúng ta có thể đi lên những quả vị khác một cách thật dễ dàng, mà không phải nhọc công mệt sức. Sau đây thầy sẽ giảng cho quý vị mười công năng của Thập hạnh. 

1. Hoan Hỷ Hạnh: Là mình tu hành làm sao lúc nào cũng như lúc nào cũng giai đại hoan hỷ, đừng có buồn, đừng có giận, đừng có tức, làm gì cũng nên giữ tâm hoan hỷ thì sự đạt đạo không khó gì cả. Còn khi người ta đánh đập hoặc giết hại thân mạng mình, cái đó không ăn thua gì hết, nếu mà trong tâm mình luôn luôn giữ được hoan hỷ, vì vậy trong sách có câu:"Thiên hoan hỷ, địa hoan hỷ, phát bồ đề tâm", tức là:(Trời vui mừng, đất vui mừng, phát tâm bồ đề dõng mãnh), nếu mọi sự ở trong thế gian này có đến với mình, mình đều giữ tâm hoan hỷ (dù việc đó vui hay buồn), đừng có bận tâm, lay động gì hết thì mới phát được tâm giác ngộ. Hoan hỷ được chuyện buồn phiền, hoan hỷ theo cái niệm đạo, chớ hoan hỷ theo cái niệm đời thì nó dẫn dắt mình đi xuống một cách nhanh chóng. Phải an lạc luôn luôn thì mới gọi là giai đại hoan hỷ.

Thực hành được như vậy đó thì mình đạt được sơ quả, tức là lên được một nấc thang về tâm linh. Hoan hỷ là ở chỗ đó, chớ không phải hoan hỷ là mừng rở cười, đùa quá trớn. Cho nên khi tu hành mà có những chuyện gì tác động tức là hơi bất an, chúng ta có cười có mừng đi nữa cũng chỉ cười vi tiếu một chút mà thôi, chớ đừng nên cười ra tiếng, hay là tỏ ra sắc mặt tràn đầy hân hoan. Giữ tâm hoan hỷ trong nhà Phật là ở chỗ đó. Làm sao đừng cho cái phiền não nó khởi lên, dĩ nhiên là không phải dễ dàng, vì thế mình phải trì chí, phải lấy một cái móc trì giới hoặc những yếu tố khác để mà giải tỏa chớ phiền não khó trừ lắm. Phiền não chướng, sở tri chướng, và báo chướng là những cái khó diệt trừ vô cùng chớ không phải đơn giản, vì vậy cho nên phải thọ trì đọc tụng luôn luôn, phải thực hành thiền định, bái sám, hành đạo luôn luôn để mà giải tỏa chúng lần lần, trừ những bậc gọi là thượng căn thượng trí, những bậc gọi là tái sanh, trước đã có tu chứng rồi đời này người ta tu chỉ coi như còn một bước nữa là chứng quả, những hạng nầy thật hiếm hoi; còn bình thường là bị nghiệp lực chi phối, dẫn dắt đi đầu sanh.   

Mình biết được đạo rồi mình phải sống làm sao để trở về lại cái tâm thiệt của mình, chơn tâm của mình, chớ không thôi mình sống với cái vọng tâm. Khi mà tâm chúng ta chưa thiệt bình, chưa thiệt an thì chúng ta sống toàn với cảnh vọng. Hễ vọng tưởng thì điên đảo đủ kiểu, thử hỏi làm sao tâm mình an bình cho được. Do đó cho nên cái quả vị thập hạnh, đầu tiên là hoan hỷ hạnh làm sao quý vị giữ trọn lời Thầy giảng như trên là mình chứng được hạnh đầu của mười hạnh.

2. Nhiêu Ích Hạnh: Tâm hạnh của hành giả tu hành luôn luôn nghĩ đến việc làm lợi cho chúng sanh, không nghĩ đến cái việc lợi ích cho mình đó mới gọi là nhiêu ích hạnh. Cho nên phần chánh yếu trong Bồ Tát giới là "Nhiếp luật nghi giới", nghĩa là một cái gì vọng động, một cái gì xấu dù cho nhỏ cũng không bao giờ dám làm. "Nhiếp thiện pháp giới" là chuyện tốt, chuyện coi như là có lợi ích cho chúng sanh, dầu là một việc rất nhỏ cũng không dám bỏ, để đúc kết thành nhiêu ích hữu tình giới là việc làm luôn luôn lợi ích cho chúng sanh. Hạnh tu như vậy đó là vì người, không vì mình ; tâm hạnh như vậy là tâm hạnh đi lên.

Chúng ta học luật, trong tỳ ni nhựt dụng, cứ giờ phút nào cũng lo cho chúng sanh. Khi rửa tay mình đọc bài kệ rửa tay, khi rửa mặt mình cũng đọc bài kệ rửa mặt... lúc đó là mình đang cầu nguyện cho chúng sanh. Bất cứ làm việc gì, người tu cũng đều cầu nguyện cho chúng sanh. Khi tụng kinh cũng thế chúng ta quỳ cả tiếng đồng hồ thành tâm đọc tụng, rồi cuối cùng cũng hồi hướng cho chúng sanh. Cho đến phần tam tự quy y chúng ta cũng nguyện cho chúng sanh, bởi vì chúng sanh với mình là một, chúng sanh với Phật là một. "Tâm, Phật cập chúng sanh, thị tam vô sai biệt", (Tâm, Phật và chúng sanh, ba cái không sai khác). Tâm của mình có hằng hà sa số chư Phật và cũng có hằng hà sa số chúng sanh. Bây giờ mình kính mến chư Phật cở nào, thì mình cũng phải kính mến lo lắng cho chúng sanh thế ấy. Vì vậy cho nên khi còn một chúng sanh đau khổ là mình còn bổn phận phải lo lắng cứu độ, mình không thể nào lên tòa sen ngồi một mình được đâu. Chúng ta tu theo Đại Thừa Giáo là phải nguyện hành hạnh Bồ Tát là vậy đó.

"Như nhứt chúng sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ nê hoàn", nghĩa là khi một chúng sanh chưa giác ngộ, chưa thành Phật, thì mình không có quyền lên cảnh Niết Bàn hay lên tòa sen. Ngồi trên tòa sen nhìn xuống thấy chúng sanh dưới cõi Ta Bà nầy còn đang lặn hụp trong đau khổ, làm sao mà có thể nào ngồi yên cho được ! Đó là chơn lý muôn đời. Nếu mà tất cả chúng ta hiểu được điểm đó, thì dù cho cư ngụ tại bất cứ châu nào, thì tất cả đều có thể trở về con đường chơn lý để tu, để hành. Cho nên nhiêu ích hạnh là cái hạnh thứ nhì trong Thập Hạnh. Thí dụ như bây giờ chúng ta đang tu đang tập đang hành sự chuyện nầy chuyện kia, công việc làm có khi khó có khi dễ nhưng điểm chính yếu vẫn là độ sanh chứ ngoài ra không có vấn đề gì nữa cả.

Như quí vị thấy,  tuy nói là người xuất gia nhưng qua xứ bên này Thầy cũng phải để hết tâm trí xem xét từng chút một:Coi còn, coi hết từng cái chén, từng đôi đủa, mọi việc Thầy cũng phải để tâm lo. Những chuyện lo đó Thầy cũng chỉ quy về một mục tiêu là độ sanh mà thôi. Nếu không có một đạo tràng trang nghiêm thì lấy gì độ sanh, độ tử ? Không lẽ ở xứ nầy thầy ra đường làm lễ, tụng niệm ngoài trời, làm cho cảnh sát tưởng rằng người tu theo đạo Phật là khùng là điên cần phải đến giải tỏa hay sao ? Thành ra tất cả mọi chuyện, mọi việc làm cũng như vậy.

Quí vị hành đạo, hằng ngày có những giờ được gọi là chấp tác, có nghĩa là làm việc để duy trì ngôi già lam hay cuộc sống của tăng đoàn; tất cả những giờ thiền, tụng kinh, học đạo lý, quí vị đều biết cả rồi nhưng đôi khi chưa hiểu cái lý, cái sự cho nó viên dung, vì thế mà thầy cứ phải bận tâm lo lắng hoài. Nhưng đôi khi lại có những vị không thông suốt lý đạo thì nói tại sao Thầy phải bận tâm những chuyện đó chi vậy, chính đó là sự độ sanh đấy, như vậy mới tu hành đến chỗ Tinh Tấn Ba La Mật được. Cho nên mới đúc kết câu "Phật sự môn trung, bất xả nhất pháp" (Tiến vào đường đạo, không trừ một pháp nào mà không làm) cái gì mà nó nằm ở trong Phật sự, việc Phật là việc sáng suốt không bỏ một pháp nào, trừ ra chuyện thế gian không nói tới làm chi bởi vì thế gian cũng làm để tạo nghiệp kiếm tiền nuôi thân, còn chuyện mình làm trong đạo là với tâm nhất như của mình làm để chuyển nghiệp và để độ sanh. Cũng là việc làm đó mà nằm trong nhiêu ích hữu tình hay là nhiêu ích hạnh, hoặc là tâm hạnh nhiêu ích là làm lợi ích cho chúng sanh.

Thí dụ như ở ngoài đời người ta cho chuyện đi làm lau quét nhà tắm, nhà vệ sinh là hèn hạ, công việc xấu, hèn. Nhưng trong đạo cũng việc làm đó, mà nếu tâm mình an nhiên tự tại trong lúc làm, thì sẽ có kết quả hưởng một phần công đức, phước đức như những người được nghe một thời giảng pháp hay là tụng một thời kinh, chứ đừng nghĩ mình là tu sĩ phải lên bục giảng pháp mới ngon lành, còn làm những việc khác thì không đúng, mất thể diện của nhà sư vì sư là Tăng Bảo đại diện cho Phật để hóa độ chúng sanh. Nghĩ như vậy là sai lầm, mà hễ đã sai lầm thì làm gì có phước hữu lậu, chứ đừng nói chi đến cái phước vô lậu; vì còn có tâm  vướng mắc so sánh việc làm đời đạo, như vậy không phải là nhiêu ích hạnh.

Chẳng hạn bây giờ đây mình tu một mình trong ngôi chùa, trong ngôi Tam Bảo,  không người phụ giúp, chẳng lẽ để cho nhà bếp, nhà cầu bẩn thỉu hay sao?  khách thập phương đến lễ Phật họ sẽ thấy sân chùa đầy cỏ rác, trong chùa thì chỗ nào cũng bê bối thì thử hỏi: Như vậy thì làm sao có sự trang nghiêm cho được ? Việc ở ngoài không trang nghiêm thì tâm mình cũng không trang nghiêm giống như vậy. Những người tu như thế đó, biết đến bao giờ mới thấy tâm Phật sẵn có trong người mình? Trái lại còn làm cho Phật tử thoái bồ đề tâm không đến chùa nữa, như vậy thì làm sao độ sanh nói chi  độ tử. Vì vậy trong luật Tổ có ghi mấy câu để lại cho chúng ta học:

"Cần tảo già lam địa,

Thời thời phước huệ sanh,

Tuy vô tân khách chí,

Diệc hữu thánh nhơn hành ".

tạm dịch :

Siêng năng quét đọn chùa chiền,

Bao nhiêu nghiệp chướng não phiền tiêu tan,

Dù rằng khách tục chẳng qua,

Thánh hiền thường đến chớ mà dễ ngươi !

Người nào thành tâm  quét dọn sạch sẽ, trang nghiêm chốn già lam, nơi có kiết giới là thuộc vùng đất chùa ; mỗi thời gian, mỗi thời gian đều như vậy là phước huệ được trang nghiêm. Trong thì sạch, ngoài thì tươm tất. Tuy không có khách đến, nói chung là Phật tử hoặc bổn đạo đi qua lại, nhưng lúc nào cũng có các vị thiên long bát bộ, hộ trì Phật pháp tuần hành, bảo hộ chốn trang nghiêm. Cho nên quí vị thấy giờ nào rảnh rảnh, yên yên Thầy cũng phải đi xem chỗ này một chút chỗ kia một chút. Thầy phải để mắt vô xem thử coi ra làm sao, chứ đừng nói đến chư vị Hộ Pháp, Long Thần. Các Ngài ấy thính hơn thầy nhiều, còn hiểu luôn trong tâm niệm nữa. Mình làm như vậy mới gọi là nhiêu ích hạnh, tức là lợi ích cho chúng sanh mà hễ nói đến chúng sanh là có mình ở trong đó rồi. "Tâm, Phật cập chúng sanh thị tam vô sai biệt", tâm của mình với Chư Phật cộng với  chúng sanh không sai khác, bởi vì nó không sai khác cho nên mình phải có bổn phận lo. Nếu mình chỉ lo cho mình mà bỏ chúng sanh là trật, là sai vì chúng sanh và mình là một.

Đầu tiên phải lo cho chúng sanh quy hướng về Phật pháp, từ từ chúng ta dùng đủ mọi phương tiện hầu giúp họ chuyển tâm trở lại; tuy vậy phải tùy nhân duyên từng cá nhân một. Bổn phận chúng ta là người ở chùa phải tạo nhân duyên, hội đủ phương tiện chỉ vì một mục tiêu chính đáng đó mà thôi.

3. Vô sân hận hạnh: Tức là cái hạnh tu không bao giờ giận, không bao giờ hờn nó mới đạt quả vị thập hạnh nầy. Tu mà động đến một chút là hờn nóng, hờn mát, giận tức. Trong lúc đó mà muốn đạt đạo quả, mình cần phải dẹp cái tâm đó sớm chừng nào hay chừng ấy, được như vậy đó thì mới trang trải cái lòng từ bi, tức là ban vui cứu khổ. Nếu mình buồn mình giận thì làm sao ban vui cứu khổ được cho mình, chứ đừng nói chi đến chuyện ban vui cứu giúp chúng sanh, cho nên người tu phải sống với hai chữ Từ Bi. Từ là ban vui, bi là cứu khổ; còn giận là khổ rồi chứ làm sao vui cho được. Chúng ta phải làm sao giữ cho được cái hạnh vô sân hận, cố gắng sao đừng cho lòng giận lòng sân nổi lên, chứ không thì nó đốt hết đám rừng công đức.

Tại sao đừng nên sân hận ? Vì lửa sân nổi lên thì chúng ta không thể tu hành gì được cả. Muốn giải tỏa cái tâm sân hận này thì phải có tâm giới, định, huệ. Nhơn giữ giới sanh định, nhơn định phát huệ, có huệ mới giải tỏa nổi những cái khác được. Không tham không si đó là cái hạnh vô sân hận. Lúc nào cũng giữ cho tâm an bình thì thập hạnh mới được hiển lộ, bất cứ là hạnh nào cũng được hiển lộ cả. Tuy nhiên phải cẩn thận, đôi khi bề ngoài thấy như là an nhưng bên trong nó sôi sùng sục, như vậy cũng chưa được. Cái tâm  sân hận vẫn còn nằm ngấm ngầm ờ trong.

Mình đã là Thích tử hay Thích Nữ, là con của đấng Thế Tôn, vị cha lành đã giác ngộ sáng suốt, mà chính mình mãi còn u tối, sân hận hoài, làm sao dám tự xưng là con Phật được ! Phải tỏ ra xứng đáng trong những việc nan hành, năng hành. Phải nhiệt tâm vì đạo. Phải nan nhẫn, năng nhẫn mới giải tỏa được tất cả những cái triền phược. Đó là nhẫn được cái khó nhẫn đó mới là cao quý. Cái  khó làm mà làm được mới ngon lành, chứ chuyện dễ làm mình mới làm được thì đâu có giá trị gì. Thí dụ như có ai cầm dao đến giết, cũng chẳng có sợ sệt gì cả; nhưng phải cho họ biết là oan gia giữa tôi và anh từ đời trước đến đây là chấm dứt, chúng ta đừng kéo dài đến đời sau nữa. Phải giải tỏa ngay từ bây giờ, đó mới là tâm hạnh thánh nhơn. Khi hiển thánh thì tâm họ hiển thánh liền.

Nếu không tu thì không biết từ vô lượng kiếp trước mình có tạo cái nhân xấu gì ở đâu thì bây giờ lỡ nó đến mình sẵn sàng trả cho xong. Nghiệp đến mình vẫn giữ tâm an bình để giải tỏa vấn đề buồn phiền, giận, dỗi. Oan gia nghi giải, bất nghi kiết, sống trong gia đình hay sống trong chúng cũng vậy. Tại sao có những vị mình mới nghe tên chưa thấy mặt mà cũng đã có cảm tình, rồi tại sao có những vị mình thấy mặt, nghe tên hằng ngày mà lại ghét cay ghét đắng, thậm chí muốn ăn thua đủ với họ nữa. Đây là đạo lý nhân quả ba đời trong nhà Phật, không có gì tự nhiên mà có. Khi đã hiểu đạo rồi thì thản nhiên thôi, đâu có gì phải bận tâm suy nghĩ cho mệt. Đã không gieo duyên này mà bảo có duyên thì làm sao có được.

4. Vô tận hạnh: Hạnh nầy rốt ráo với hạnh ở trên kia thì vô sân hận hạnh chỉ có giận hờn thôi; còn ở đây vô tận hạnh là cái tâm hạnh lành. Tức là đối với chiều thuận, đối với cảnh nghịch, đối với cảnh lạc, đối với cảnh khổ v.v... coi như bát phong  thổi không động. Tất cả những chuyện coi như là tám ngọn gió độc thổi không bao giờ lay động. Thế mới gọi là vô tận hạnh là diệt trừ  hết mấy cái tâm niệm thường của người đời.

    Con người ta sống ngoài đời nhất cử nhất động là hiện lên sân, si, ái, ố triền miên. Bất cứ giờ phút nào cũng có thể nổi giận lên được luôn luôn nằm trong cảnh si mê không biết đâu là đúng, đâu là sai, đâu là tà, đâu là chánh. Mỗi khi đụng đến cái gì hạp nhãn hạp tình là ái tối đa, muốn chuyện đó cho bằng được, còn chuyện gì không thích là , tức là ghét cay ghét đắng.

Muốn chứng quả thập hạnh này mình phải sống với tứ vô lượng tâm mà thường gọi là từ, bi, hỷ, xả, tức là bốn tâm vô lượng ở trong con người của mình. Nghĩa là lòng từ, lòng bi, lòng hỷ và lòng xả không còn cân lường được, coi như đã tới quả Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Như Đức Quán Thế Âm lúc nào Ngài cũng ban vui cứu khổ cho chúng sanh, và tất cả chúng ta, ai muốn đạt được quả thập hạnh này thì cũng phải bắt buộc học cái hạnh giống như Ngài. Được như vậy mới gọi là con Phật, mới gọi là người xuất gia, là trưởng tử của Như Lai.  Tiếp đến sẽ tiến lên Ly Si Loạn Hạnh.

5. Ly Si Loạn Hạnh: Tâm hạnh phải lìa những sự si loạn. Đã ngu si mà còn loạn động nữa. Muốn lìa si loạn động nầy thì không thể nói lý thuyết sơ sơ, mà mình phải hiểu và biết xa lìa ngũ dục lạc. Mỗi ngày bỏ một chút tức nhiên xa lìa được cái si loạn ngũ dục. Đó là:Tài, sắc, danh, thực, thùy.

Tài là của cải, tài vật, phải xa lìa nó,  phải chuyển nó thành "Thất thánh tài".Ạ Nếu vị nào có tâm Phật thì người đó xem tiền tài không nằm trong ngũ dục lạc. Vì sao? Vì họ dùng đồng tiền đó làm lợi ích cho chúng sanh. Đó là đồng tiền thanh tịnh để vun bón gốc cây bồ đề, tỏa nguồn tươi mát, an lạc đến cho chúng sanh. Phải có tịnh tài chúng ta mới có thể tiến tới ngôi thế gian trụ trì Tam Bảo, có tịnh tài để tiếp tăng độ chúng và làm lợi ích cho chúng sanh. Chuyện đó nhất định là nên có. Còn nếu người tu mà lo tiền tài để riêng cho mình, lo cho đoàn thể của mình, lo cho gia đình mình, như vậy không thể gọi là thất thánh tài, mà phải làm sao cố gắng biến tâm đời thành tâm Phật, tiền tài ngoài đời thành tiền tài của Phật. Người nào làm được như vậy thì mới xa lìa được dục lạc thế gian mới gọi là thất thánh tài.

Kế đến là Sắc. Mắt mình mà nhìn đến cái gì đẹp là ôi thôi chết mê, chết mệt, mong muốn làm sao cho chiếm được vật đó. Những cảnh tượng như thế chúng ta phải làm sao khắc phục được tâm để xa lìa nó, đừng nên chạy theo bén gót cái gọi là si loạn động này.

Rồi đến Danh.  Đừng nên làm vì cái danh, cái tướng cho dù chúng ta có xây năm bảy cảnh chùa hay đúc một vài quả chuông cũng đừng vì danh tướng, vì tiếng khen mà làm. Nên nghĩ rằng ta làm vì chúng sanh, có chúng sanh ta mới trải thân ra làm đạo.

Sau đến Thực. Thực là về sự ăn uống. Thức ăn uống đừng nên dùng cao lương mỹ vị quá sẽ khó tu hành. Chỉ cần cho vừa đủ để chúng ta có sức khỏe mà làm đạo là được rồi, kẻo không thì cái si loạn trong thân mình nổi lên rồi không kềm chế, hàng phục nổi..

Đến cái cuối cùng là Thùy, tức là ngủ nghỉ. Ngủ cũng vừa phải mà thôi, đừng nên ngủ quá nhiều, bởi vì ngủ nghỉ nhiều sẽ đem lại sự mờ tối si mê. Người biết tu đôi khi người ta phải ngủ ngồi. Ngủ ngồi dễ kiểm soát con người mình hơn, ít bị chiêm bao mộng mị. Nếu lìa được ngũ dục lạc là chúng ta đắc được ly si loạn hạnh, và  việc tu hành của chúng ta sẽ tiến thêm một bậc nữa đó là thiện hiện hạnh.

6. Thiện Hiện Hạnh: Thiện hiện tức là hiện ra những cái hạnh lành mà cái lành đó tức là phá trừ ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng,  thọ giả tướng. Đó là bốn tướng thế gian.

Bốn tướng đó hằng ngày mà mình phá trừ được thì mình sẽ đạt đến hạnh thiện,  còn được gọi là thiện hiện. Danh từ thiện hạnh này được dịch ra từ cái tên của Ngài Tu Bồ Đề, mà Ngài Tu Bồ Đề là bậc, giải không đệ nhất cho nên mới gọi là Tu Bồ Đề. Đó là lý Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Muốn đạt được tánh kim cang, mỗi người phải tự phá trừ bốn loại tướng thế gian đó. Chẳng những vậy mà bốn cái tướng của Phật pháp (sanh, trụ, dị, diệt - Sanh, già, bệnh, chết) cũng phải phá trừ dù cho đó là ngã tướng và ngã pháp của xuất thế gian. Cho đến Ngũ ấm, Lục nhập, Thập nhị xứ, Thập pháp giới v.v... Biết rồi cũng dẹp nữa chớ đừng có nên chạy theo nó, cũng như chứng được sơ quả, nhị quả, tam quả, tứ quả, chúng ta cũng đều giải tỏa hết, tức nhiên là đừng có chấp ta đã chứng A la Hớn rồi. Khi còn chấp vào cái chứng của mình tức nhiên là chưa chứng gì hết.

Trong lý Kim Cang đã nói như vậy người mà muốn đạt cho được cái hạnh thiện hiện là phải phá trừ ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Phải biết rằng hình tướng của mình là do tứ đại giả hợp mà thành cho nên không ăn thua gì cả, đối với người khác cũng vậy có cái gì đâu là thiệt của mình. Nó chỉ là những yếu tố hợp lại rồi đặt thành ra một cái tên vậy thôi, không hiểu thì còn vướng mắc chứ khi đã thông suốt rồi thì buông bỏ tất cả. Cũng như quả địa cầu có trước mình bao nhiêu triệu năm, cũng chỉ là nhân duyên hợp lại mà thành, vì là nhân duyên nên có ngày cũng bị di sơn đảo hải sẽ bị thành, trụ, hoại, không chi phối. Làm sao cố gắng đạt cho được quả nầy thì chúng ta mới có cơ hội tiến lên một bậc nữa là Vô trước hạnh.

7. Vô Trước Hạnh: Là tâm hạnh làm bất cứ một chuyện gì dù lớn hay nhỏ, trong hay ngoài cũng phải chánh niệm với công chuyện của mình làm. Đừng bao giờ để cho vọng tâm, hoặc trước tướng cầu danh ngự trị. Người đời làm cũng coi không được chứ đừng nói chi đến người tu đầu tròn áo vuông. Nếu còn trước tướng cầu danh là không đạt được quả này. Quả vô trước hạnh nầy có nghĩa là, làm gì xong rồi cũng phải bỏ qua hết, chuyện làm thì phải làm, dù cho có thành công hay thất bại cũng vậy, chúng ta phải thản nhiên, chứ đừng thấy thành công thì vội vàng ưỡn ngực ta đây; còn thất bại thì chán nãn ê chề. Ai mà có tánh như vậy thì không thể nào ra làm đạo được hết, vì ra làm đạo có trăm ngàn chông gai trước mặt, mình phải cố gắng vươn hết sức để vượt qua. Phải luôn luôn an trụ trong tâm không cầu danh, cầu tướng trong bất cứ một chuyện gì, người nào hằng tâm niệm như vậy mới có thể đi đến chỗ Ba La Mật và rốt ráo đạt được vô trước hạnh ;  lúc ấy mới có thể tiến lên đến quả tôn trọng hạnh.

8. Tôn Trọng Hạnh  là luôn luôn tôn trọng tâm hạnh Phật tánh của chính mình và cái tâm hạnh Phật tánh của chúng sanh "Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh" có nghĩa là (Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh bình đẳng). Mình phải tôn trọng cái Phật tánh của người khác, đó cũng chính là tôn trọng Phật tánh của mình. Mình phải làm sao cho muôn loài chúng sanh hiển lộ được Phật tánh sẵn có của họ tức là nhập Phật tri kiến. Trong kinh đức Phật có dạy, Phật tánh là tánh sáng, tánh giác ngộ của từng cá nhân một. Phật tánh có chia ra như sau: 

  1. Chánh nhơn Phật tánh,

2. Duyên nhơn Phật tánh,

3. Liễu nhơn Phật tánh.

Chánh nhơn tức là Phật tánh của chính mình, rồi cộng thêm hạt giống duyên nhơn hợp lại thì Phật tánh đó mới có kết quả tốt mới đi tới chỗ hoàn toàn giác ngộ là đem lại thắng duyên tu hành rồi thì tiến lên liễu nhơn Phật tánh tức là cái tánh trở về nhập Phật tri kiến. Bởi thế cho nên chúng ta phải tôn trọng Phật tánh của mình, và tôn trọng Phật tánh của người.

Thí dụ như tiếng hay của mỗi  cây đàn gọi là liễu nhơn Phật tánh ; còn cái chánh nhơn Phật tánh là tiếng hay sẵn có ở trong cây đàn. Nếu chỉ có chánh nhơn, liễu nhơn mà không có duyên nhơn thì làm sao phát ra tiếng hay đó được ?

Duyên nhơn là gì? Là ngón tay của người nhạc sĩ khảy đàn. Có ngón tay mà không có người đánh đàn giỏi thì những bản nhạc dù hay cũng không được kết quả mỹ mãn, cho nên mới có ba yếu tố là tam nhơn Phật tánh vậy.

Người ta còn đưa ra thêm một thí dụ nữa như là: Trong cây có lửa nhưng đâu ai tin, và còn nói rằng cây thì làm sao có lửa cho được? Nếu có lửa thì nó sẽ cháy từ trong ruột cây cháy ra hay sao? Nhưng thật sự và chắc chắn rằng trong cây vốn sẵn có lửa, Chúng ta thử đem hai cây cọ xát lại với nhau một lúc lâu, đến khi độ nóng đã có thì những làn khói bắt đầu xuất hiện bay ra. Đó là hiện tượng sẽ có lửa, cũng như Phật tánh nếu chúng ta biết khai thác thì nó cũng hiển hiện rõ rệt như vậy.

Vì thế người tu phải lấy "sanh tử đại sự"  để đứng hàng đầu có như thế mới tinh tấn tu hành đến chỗ ba la mật.  Mình phải tu tiến làm sao để khỏi phụ cái tánh linh của mình. Thật ra những người không biết tu, chỉ cạo đầu vào chùa rồi ngồi không hưởng của đàn na tín thí không làm lợi ích cho ai được cả. Không tự lợi được thì lấy gì mà lợi tha, tu như vậy thì thật là mê lầm hoàn toàn vô dụng. Phải làm sao có lợi ích cho tánh linh của mình và lợi ích cho tánh linh của người, tu như thế thì mới đi đến quả tôn trọng hạnh.

9. Thiện Pháp Hạnh: Tâm hạnh thực hành Phật pháp hết sức khôn khéo đi đến cái chỗ gọi là ba la mật. Muốn chứng pháp hạnh nầy chúng ta phải thực hành Lục Độ là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Những độ nầy phải đạt đến chỗ Ba La Mật, có nghĩa là chúng ta làm mà không thấy làm, làm với tâm rốt ráo sẵn có trong người của chúng ta, mà phải sáng suốt đâu là đúng, đâu là sai. Phải có tâm niệm rằng ta làm vì lợi ích cho chúng sanh thì việc làm sẽ đến chỗ ba la mật, khi đó quả thiện pháp hạnh sẽ nằm trong tay của quý vị. Từ đó có thể tiến lên quả cuối cùng dễ dàng là chơn thật hạnh.

10. Chơn Thật Hạnh: Tâm hạnh của mình chơn thật thể nhập với chơn lý Phật tánh. coi như là liễu nhơn Phật tánh. Liễu nhơn Phật tánh hiển lộ ra từ từ để tiến đến chơn thật hạnh.

Thầy muốn giải thích cho quý vị nghe là chúng ta luôn luôn đi thẳng vào chơn như Phật tánh của chính trong người mình. Làm được như vậy mới là xứng tánh tác Phật sự, phổ huân chư chúng sanh, giai phát Bồ đề Tâm... Kết quả cho chúng ta  thấy là sau khi mình thể hiện được trong người mình có tánh giác hoàn toàn an vui giải thoát một cách rốt ráo, đó gọi là chơn thật hạnh.   

 

08. Tiến đến quả vị Thập Hồi Hướng 

 

Từ khi vào Hạ đến giờ thầy đã khai thị cho quý vị nghe cả thảy là được ba thời pháp đó là: Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, bây giờ tới bài Thập Hồi Hướng.

Khi mỗi chúng ta có chánh tín tu hành đi sâu vào, thành tâm phát nguyện thì sẽ đạt được quả vị Thập Tín, rồi mới bước lên một tầng nữa tức là Thập Trụ, nghĩa là mười điểm trụ vào cái chơn tâm của chúng ta, và làm sao phải sống đúng với những cái trụ đó thì mới có thể bước lên một bậc nữa tức là chứng về Thập Hạnh. Đây là mười cái hạnh tu hành làm lợi tha cho muôn loài chúng sanh.

Nói đến Thập Hồi Hướng thì chúng ta cũng cần nên tìm hiểu yếu tố nào đưa đến những quả nầy. Đây là tiệm tu còn được gọi là tiệm giáo, nghĩa là cách tu từ từ. Còn đốn tu tức là nhất văn thiên ngộ, vì có người mới tu là đốn ngộ liền, không phải trải qua các đường lối tu chứng của tiệm giáo, đưa thẳng đến Đẳng Giác, Diệu Giác, Viên Giác. Viên giác là giác ngộ một cách tròn đầy đó là tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, cũng như Đẳng Giác là thấp, Diệu Giác là trung bình, Viên giác mới là quả vị Phật. Đó là đường lối tu chứng và quí vị cần nương theo đó mà tu. Vị nào có thượng căn thượng trí thì nhất văn thiên ngộ gọi là đốn giáo, trái lại thì mình cũng phải đi từ từ mà thôi, gọi là tiệm  giáo.

Hai chữ Hồi Hướng, quí vị đã từng nghe qua rất nhiều khi mới bước vào cửa chùa. Làm cái gì cũng hồi hướng, có khi hồi hướng cho tứ thân phụ mẫu, cùng thân bằng quyến thuộc, cho đàn na tín thí và hồi hướng cho pháp giới chúng sanh đồng thành Phật đạo, đó mới là đúng nghĩa quả vị hồi hướng. Phải tu làm sao để đạt cho được quả vị thập hồi hướng.

Chữ hồi là thu hồi công đức mà mình đã tạo trong lúc tu hành; còn hướng là trải công đức đã thu hồi, hướng về mọi người và cho mọi người, hay nói rộng ra là cho pháp giới chúng sanh. Nếu giải rộng ra là hồi tự hướng tha, hồi nhơn hướng quả, hồi sự hướng lý, hồi tướng hướng tánh.

Nghĩa chữ hồi hướng rất là sâu rộng.  Nói một cách nôm na để cho quý vị dễ hiểu cũng như mình để dành tiền rồi đem ra bố thí cho chúng hữu tình vì mình muốn cho tất cả chúng sanh sớm thành Chánh Đẳng, Chánh Giác. Đó mới là tâm Bồ Tát. Cũng như trong lúc tụng kinh tuy chưa đạt được đúng mức siêu thoát nhưng chắc chắn trong thời tụng kinh đó ta cũng có chút công đức, rồi cuối cùng trước khi chấm dứt thời khóa tụng là ta hồi hướng công đức đó cho chúng sanh; còn nếu chỉ hồi hướng cho cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc thì công đức đó rất là hạn hẹp. Giống như chúng ta làm việc bố thí mà còn phân chia kẻ thân người sơ, kẻ thương người ghét, còn biên giới tức là hữu biên. Việc làm còn hạn hẹp thì không thể nào đi đến thù thắng vì sự hồi hướng đó chưa đến chỗ "vô biên thắng phước đều hồi hướng" được.

Vị nào muốn hồi hướng một cách thù thắng vô biên như vậy thì phải hồi hướng hết lòng, đừng giữ trong tâm và phân chia gì cả, xong rồi mới "Khắp nguyện chúng sanh trong pháp giới, đều được vãng sanh về Cực Lạc". Nguyện cầu cho hết thảy chúng sanh đều trở về cảnh giới của Phật A Di Đà, hay là có những câu khác mà quý vị thường tụng mỗi ngày gọi là "hồi hướng lương duyên Tam Thế Phật, Văn Thù Phổ Hiền Quán Tự Tại, Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật". Có nghĩa là gần tụng kinh xong mình hồi hướng cái duyên lành, duyên thù thắng, duyên tốt, duyên siêu xuất thế gian, hay còn gọi là duyên an vui giải thoát lên cho mười phương chư Phật để đền đáp ơn sâu đến ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Tự Tại tức là Quán Âm và còn hồi hướng cho các vị Bồ Tát lớn, tôn quý như Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát. Mỗi vị phải mang trí tuệ rốt ráo, trí tuệ ba la mật của mình giống như trí tuệ Ba La Mật của chư Phật, chư Bồ Tát vậy. Đạt được đến chỗ Ba La Mật gọi là đáo bỉ ngạn.

Đức Phật đã vạch rõ cho quý vị con đường thoát khổ để ra khỏi luân hồi sanh tử ở quả vị Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, còn chuyện kết quả tốt, xấu là do nơi mình thực hành hằng ngày, cũng như hôm nay Thầy giảng cho quý vị bài Thập Hồi Hướng, trong đó chia ra làm mười quả vị khác nhau. Thầy mong sao trong ba tháng hạ này quý vị nhận rõ được "Tâm như thái hư, lượng châu sa giới", nghĩa là độ lượng viên dung của mình được trải rộng ra khắp pháp giớiẠ. Những gì là mười quả vị hồi hướng ?

1. Cứu hộ chúng sanh,

ly chúng sanh tướng hồi hướng

Danh từ này rất là đặc biệt cần phải lưu ý tối đa để nhận ra và làm cho nó thấm nhuần, tươi nhuận, lợi lạc cho tâm hồn, còn nếu mình không thấm nhuần thì tâm mình sẽ khô khan, cằn cỗi rồi sanh ra đủ thứ khổ, đủ thứ bệnh.

Người ta thường ưa nói câu dễ hiểu là : "Giáo pháp của Phật mà mình nhận được thì giống như uống được vị nước cam lồ" ; nó thấm nhuần,  mát mẻ, và trong tâm chúng ta được an vui tự tại, giải thoát. Ở địa vị Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, thì còn trong quả Thanh Văn, Duyên Giác. Lên đến quả Thập Hồi Hướng, Thập Địa mới vào được quả vị Bồ Tát, mà hễ nói đến Bồ Tát là cái tâm phải hành giống như ngài Quán Thế Âm, Đại thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền v.v...

Tâm Bồ Tát ở sẵn trong mỗi chúng ta. Nó thường hiện ra tâm từ bi, thương người, thương vật, nhưng đôi khi cũng biểu lộ ra những cái ích kỷ nào đó thì khi đó tâm Bồ Tát bị bệnh nặng lắm, vì sao? Vì lòng thương ích kỷ đó nó biểu lộ một cách rõ rệt, không có lợi tha, không có hồi hướng cho ai cả cho nên cứu hộ chúng sanh ly chúng sanh tướng hồi hướng nghĩa là chúng sanh với mình vốn đồng một bản thể, vì vậy bất cứ làm cái gì cũng nghĩ đến chúng sanh trước nhất, mà hễ nói đến chúng sanh là có mình trong đó. Mình là một trong những chúng sanh, thân nhân của mình cũng là một trong những chúng sanh đó, cho nên hồi hướng này gọi là cứu hộ chúng sanh.

Cứu về hình thức và cứu về tinh thần. Nên nhớ một điều là, mình phải lìa tướng thì mới không thấy mình làm việc đó, nhờ thế mà mình mới làm được mãi mãi; còn nếu trong tâm nghĩ rằng mình đã có giúp cho chúng sanh nhiều quá rồi bây giờ tới lúc phải nghĩ xả hơi, tâm như vậy gọi là tâm giải đãi thì không thể nào gọi là cứu hộ chúng sanh mà ly chúng sanh tướng được. Lý do là còn thấy có tướng nên còn thấy có mình làm. Thí dụ như người xuất gia có bổn phận học đạo để hoằng truyền chánh pháp của Phật là giảng giải cho chúng sanh nghe những câu kinh, những bài kệ, nhưng đừng nên nghĩ rằng vì có mình  giảng bài đó nên người ta mới hiểu. Vị nào nghĩ như vậy là còn có danh có tướng, còn chúng sanh tâm, mà còn gọi là chúng sanh tâm thì làm sao thoát ra khỏi vòng sanh tử luân hồi cho được. Không chừng còn làm cho mình tăng thêm cái ngã mạn của mình nữa là khác, do vậy mà trở thành thế gian pháp, chứ không phải là Phật pháp.

Cho nên cứu hộ chúng sanh phải ly chúng sanh tướng hồi hướng là lìa hết các tướng chúng sanh, hay là chúng ta bố thí cái vô úy cho chúng sanh, vì chúng sanh thường khi sợ đau, sợ bệnh, sợ già, sợ chết người thố lộ tâm tư đó cho mình nghe, sau khi nghe xong liền giảng cho họ một bài pháp để cho họ an tâm không còn sợ sệt nữa, chứ đừng có nghĩ nhờ có mình nói pháp vô úy mà họ mới được an tâm vui vẻ trở lại. Nhớ nghĩ như vậy gọi là tâm phàm phu chớ không phải tâm siêu xuất thế gian.

Bây giờ thầy chỉ cho quý vị thấy tại sao nó có ý nghĩ như vậy ? Vì họ chưa giác ngộ được sự tu chứng của mình, chưa có tâm lượng Bồ Tát thật sự thành ra làm bất cứ việc gì cũng nghĩ là có mình trong đó thì công việc đó mới thành công viên mãn. Người như vậy gọi là người mê, nhưng khi giác ngộ rồi thì không còn nghĩ tưởng nữa, đó là Phật, tâm mê làm chúng sanh, tâm giác ngộ làm Phật.

Vì thế mà chí nguyện của người xuất gia là phải thượng cầu Phật Đạo, hạ hóa chúng sanh có nghĩa là trên cầu cho được cái chơn lý giác ngộ, dưới giúp cho chúng sanh thoát cơn mê lầm,  chúng sanh còn mê lầm đau khổ là người xuất gia chúng ta phải cố gắng giúp đưa chúng sanh ra khỏi sông mê mới thôi, như thế mới gọi là cứu hộ chúng sanh .

2. Bất Hoại Hồi Hướng

Tâm hồi hướng của chúng ta đừng bao giờ cho nó hư hoại, lúc nào cũng nghĩ tưởng cứu giúp chúng sanh, vì vậy mà sau giờ ăn sáng là chúng ta phải đọc những câu thánh nguyện như là "Tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ" v.v... Chữ độ ở đây có nghĩa là chuyên chở bằng đò. Dùng con đò bát nhã, hay dùng trí huệ sáng suốt chở chúng sanh qua biển luân hồi. 

"Tự tánh phiền não thệ nguyên đoạn" mỗi ngày mình phải độ cái tánh của mình một chút, có nghĩa là mình phải sửa tánh nết cho trang nghiêm,  mỗi ngày mình phải đoạn cái phiền não của mình một chút, dần dần cũng phải hết. Nếu mình không đủ khả năng khai triển trí sáng suốt cao thượng để đoạn, thì ít nhất cũng tự chuyển cho mình qua biển sanh tử. Đừng để cho tánh mình tăng trưởng về phần thế gian pháp. Phải tự soi xét, sửa chữa được cho mình rồi kế tiếp mới 

"Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ" vì chúng sanh cang cường có nhiều cá tánh bệnh tật khác nhau khó giáo hóa, khó độ, mình phải cố gắng gần gũi chỉ bảo cho được mới gọi là người tu, nhưng phải cẩn thận nếu không, coi chừng chúng sanh độ ngược lại mình.

Trong kinh Phật có dạy : "Tùy thuận chúng sanh là cúng dường mười phương chư Phật", nhưng tùy thuận theo phương thức nào đây ?

Tùy thuận theo chiều sáng suốt để đưa chúng sanh đến chổ giác ngộ như Phật, chứ không phải tùy thuận theo chúng sanh đi xuống.  Chúng sanh đòi chi ta cũng làm nấy, rồi làm một đổi là đi sai với chánh pháp, đi sai chơn lý, không đúng sự thật, thế là chúng sanh có dịp độ ngược lại mình. Họ nói gì mình cũng phải chiều theo, nghe theo, bảo làm gì cũng làm mà không biết việc làm đó đúng hay sai. Đức Phật có 84 000 pháp môn vô lượng diệu nghĩa, người tu phải phát nguyện để học mới có sáng suốt cứu giúp chúng sanh, mới đúng nghĩa "Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ".

Thật ra thì người tu chúng ta cũng cần biết sơ qua  những pháp môn khác. Thí dụ : Ai nói tới Mật Tông mình cũng biết, ai nói tới Nam Tông mình cũng biết, Bắc Tông, Thiền Định, Trì Chú,  Niệm Phật, Quán Tưởng, chúng ta cần phải biết để mà tìm cách hướng dẫn họ đi cho đúng phương hướng để dễ dàng trong sự tu chứng. Trong tất cả các pháp môn tu chúng ta cần phải chọn cho mình một pháp môn nào thích hợp với trình độ tu hành, từ đó mình mới cảm thấy thích nghi tu học, thích nghi hành sự, thì sự tu mới đạt đến kết quả viên mãn.

Theo như Thầy nhận thấy trong thời buổi này chỉ có pháp môn "Niệm Phật" là dễ dàng đáp ứng cho tất cả mọi trình độ tu hành, chỉ cần chúng ta nhất tâm niệm Phật cho đến chỗ nhất như thì khi bỏ báo thân này sẽ được vãng sanh về cõi Phật A Di Đà (trong kinh A Di Đà có dạy). Tâm nguyện của những vị xuất gia là luôn luôn lúc nào cũng tự lợi, lợi tha để cứu độ chúng sanh "Bá nhơn bá bụng bá bao tử" không ai giống ai, cho nên Đức Phật mới nói ra nhiều pháp môn. Đức Phật biết tâm chúng sanh đòi hỏi đủ kiểu, cho nên điểm thứ hai này kêu là bất hoại hồi hướng là đừng làm cho tâm mình hư hoại cái công đức hồi hướng. Bất cứ làm việc gì rồi cũng đem ra hồi hướng cho tất cả chúng sanh, vì thế cho nên cái hạnh nguyện của Đức Phổ Hiền Bồ Tát có dạy :"Tùy hỷ sám hối chư thiện căn, hồi hướng chúng sanh cập Phật đạo".

Luôn luôn mình lấy cái đức tính tùy hỷ sám hối (nếu tội phạm thật sự ăn năn, hối cãi) để độ chúng sanh, kể cả huynh đệ sống chung trong chùa mình cũng tùy hỷ, kẻ làm được việc này, người làm được việc nọ, mỗi người có một năng khiếu riêng biệt, chúng ta phải lấy lòng tùy hỷ trong công việc làm đó, chứ đừng dùng tâm ganh ghét khi thấy ai hơn mình, còn như ai thua mình thì mình khinh khi ra mặt, tâm những vị như vậy là tâm chúng sanh, tâm đời.

Còn tâm đạo không phải như thế, vị nào có tâm đố kỵ như vậy thì còn lâu lắm mới lên được quả thánh. Bất cứ làm gì xong rồi cũng đem hồi hướng cho chúng sanh và còn cầu nguyện cho chúng sanh sớm thành Phật đạo, nếu nói cho dễ hiểu hơn là chúng ta hồi hướng cho chúng sanh với đạo Phật, chớ thật ra Phật đạo nằm trong con người của mình, là Phật tánh của mình. Vì Phật là sáng suốt hoàn toàn, còn đạo là chơn lý, là lý tánh tuyệt đối, là bản thể, tức là mình hồi hướng lại cho chúng sanh, hồi hướng lại cho cái chơn tâm của mình.

Phải làm sao cho sự hồi hướng không hoại, vì một là sau khi làm xong thì mình quên hồi hướng, hai là mình chỉ hồi hướng cho thân bằng quyến thuộc của mình mà thôi, còn người quen sơ thì mình không bao giờ nghĩ tới ; cũng như chỉ hồi hướng cho những người thân, thuận, chớ đối với người nghịch thì không bao giờ hồi hướng cho họ. Thầy chắc chắn rằng những việc hồi hướng như vậy là sẽ bị hoại căn tánh liền. Những việc hồi hướng nầy chúng ta cố gắng làm  sao cho nó trở lại nằm ở trong bản tâm thanh tịnh của mình nên được gọi là bất hoại hồi hướng, đó mới là công lao tu chứng. Được như vậy mới tiến lên thêm một bậc nữa là Đẳng Nhất Thiết chư Phật Hồi Hướng.

3. Đẳng Nhất Thiết Chư Phật Hồi Hướng.

Đẳng là bình đẳng, nhất  thiết chư Phật hồi hướng, nghĩa là trước kia chư Phật tu nhất nhất mỗi việc làm xong là Ngài hồi hướng cho chúng sanh, bây giờ chúng ta cũng noi gương của Ngài, có nghĩa là chúng ta phải bình đẳng đối với các đấng giác ngộ và còn được gọi là Như Lai xuất triền, chúng sanh là Như Lai tại triền, chúng sanh cũng mang cái Phật tánh ở trong đó. Vì thế mà Thầy mới nói tới "Đẳng nhất thiết Chư Phật hối hướng". 

Bình đẳng, vì tất cả Chư Phật và chúng sanh cũng nằm trong đó ; chớ đừng có nghĩ tới tán thán, khen ngợi hồi hướng lên Chư Phật mà chúng sanh thì mình không có nghĩ tới. Làm như vậy là không được, vì chúng sanh với Phật là một (Phật từ chúng sanh mà thành) cho nên có câu "Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng" có nghĩa là tánh giác ngộ như nhau, (mê là chúng sanh, ngộ là thành Phật) mà tại vì chúng sanh mê muội cho nên cứ mang nhãn hiệu chúng sanh mãi mãi, ngày giờ nào mà có chúng sanh giác ngộ thì chúng sanh đó thành Phật, nhưng trước hết phải làm sao cho có một cái tâm bình đẳng để tu tập. Môn nào cũng vậy, khi tu tập xong là phải hồi hướng đến nhất thiết chư Phật đối thượng, đối hạ và nhất thiết chúng sanh cũng đều thành Phật, vì vậy mới gọi là bình đẳng mới đạt được quả vị hồi hướng này. Nếu như chúng ta chưa có tâm bình đẳng thì không thể nào đạt được quả gì hết.

Đừng nói đâu xa, nội trong chùa đây, sống chung với huynh đệ học cùng một Thầy, ăn cùng một mâm, làm việc cùng một lúc vậy mà còn chưa nhất thiết bình đẳng đại chúng được chứ đừng nói chi xa xôi, vì còn có tâm phân biệt thương, ghét, thân, sơ, đôi khi chỉ nhìn nhau bằng nửa con mắt, thử hỏi có những vị làm như thế đó thì làm thế nào đi đến bình đẳng nhất thiết chư Phật hồi hướng, vậy mà mỗi ngày lên chánh điện nhìn Phật đọc bài kinh nọ câu kệ kia rồi không cảm thấy mắc cở xấu hổ, đối với mười phương chư Phật cũng như đối với chúng sanh lương tâm hay sao? 

Vậy, chúng ta phải hết lòng coi nhau như một chứ đừng chia ra hai, ba gì cả. Đừng sanh tâm nhơn, ngã, bỉ, thử. Giả sử như có vấn đề đó thì chúng ta nên quán là nghiệp này ta đã gieo từ tiền kiếp, nay quả chín mùi ta phải trả nếu không trả vốn thì phải trả lời còn khổ hơn thế này nữa. Tốt hơn là nên vui vẻ mà trả kiếp này cho xong. Nếu tất cả ai cũng quán xét được như vậy để đi đến sự giải thoát cho mình và cho người thì thầy bảo đảm rằng trong sự tu hành hằng ngày, hoặc ra làm đạo không bị vấp ngã việc gì cả. Còn như trong đại gia đình mà biết cách cư xử như vậy thì không bao giờ đưa đến sự anh, chị, em chia rẽ, chẳng những thế mà còn gây oán thù.

Nói chung lại thì làm việc gì xong rồi là phải xả bỏ liền, và đều hồi hướng cho khắp nhất thiết Chư Phật, và đồng hồi hướng cho tất cả chúng sanh trọn thành Phật đạo.

4 - Trí nhất thiết xứ hồi hướng

Câu nầy để chỉ cái trí nhất thiết của chúng ta dù đi đến một chỗnào, nơi nào mình hành đạo hoặc tu học xong rồi là phải hồi hướng liền cho tất cả nhất thiết xứ. Phải dùng tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả của mình để hồi hướng đừng có giữ cái tâm từ bi đó trong con người mình. Nếu mình nắm giữ thì nó không còn có công đức bao la rộng lớn nữa, cho nên trí hồi hướng là vậy đó. Nghĩa là đến tất cả chỗ lòng thành làm tất cả rồi hồi hướng.

Dĩ nhiên chúng ta ai cũng làm việc đạo hết do đó có câu gọi là "Nguyện tương dĩ thử thắng công đức, hồi hướng vô thượng chơn pháp giới", nghĩa là làm cái gì rồi mỗi chỗ mỗi chỗ nhất thiết xứ đem công đức thù thắng đó để mình hồi hướng lên vô thượng chơn pháp giới. Chơn pháp giới đây là Phật tánh của từng người. Phải đem cái lý hồi hướng đó thể nhập vào chơn tâm của mình, hồi hướng vô thượng. Vô thượng nghĩa là không có gì trên cái chơn tâm của mình được, để đạt quả vị giác ngộ quả vị Phật, có nghĩa là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì không có sự giác ngộ nào hơn nữa hết.

Những ai được như vậy đó là được hoàn toàn sáng suốt giác ngộ. Hồi hướng vô thượng chơn pháp giới tức nhiên là pháp giới ở trong cái nguồn chơn mà nguồn chơn là chỉ cho tâm thật của chúng ta, còn hiện bây giờ ta đang sống đây là vọng tâm, nhưng mọi người đều lầm đó là chơn tâm.

Chơn tâm của chúng ta thật bao la, rộng lớn. Trong lý Bát Nhã là bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thinh hương vị xúc pháp nó không có cái gì tất cả mới gọi là chơn pháp giới. Hồi hướng vô thượng chơn pháp giới và được như vậy thì mình làm việc gì là trí nhất thiết xứ hồi hướng hết việc ấy. Cần phải tiến tu đạo nghiệp cho nhiều thì mới đạt được quả thập hồi hướng nầy. Điểm cần thiết là phải giữ cho tâm mình tịch nhiên giờ nào cũng như giờ nào đừng bao giờ nghĩ đến phước cho mình hay nghĩ đến nhân quả tốt để mình hưởng, làm sao giải tỏa được nó thì mới chuyển được những cái triền phược bị ràng buộc.

Bây giờ thầy nhắc trong đại chúng từ lớn đến nhỏ, nếu mình chưa quên cái ý nghĩ đó được thì mình cũng cố gắng giữ cho tâm thanh tịnh nhưng đừng chấp chặt vào nó quá, rồi hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sanh liền, có nghĩa là mình đã giác ngộ thì tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. 

Mới nghe qua thì thấy nó rất tầm thường, nhưng thật sự nó rất cao siêu mầu nhiệm vô cùng tận chớ không phải ít đâu. Tức là mình đã sáng suốt và đem cái yến sáng giác ngộ đó giúp lại cho người khác để cho họ cũng sáng suốt giống như mình, đó gọi là giác tha. Đó là trí nhất thiết xứ hồi hướng.

5. Vô Tận Công Đức Tạng Hồi Hướng

Bao nhiêu công đức mà mình làm, đương nhiên nó đã nhập vào Như Lai Tạng rồi. Tạng đây là Như Lai Tạng tánh, vô tận, vô tận, vì nó không bao giờ cùng tận đâu. Nhưng phải làm sao cho nó thể nhập được cái công đức của những việc mình tu và hành, những công đức bố thí vô tướng, hạnh nguyện lợi tha là điều cốt yếu.

Thí dụ : Chúng ta phát lời nguyện để tụng một bộ kinh Pháp Hoa hay một bộ kinh Lương Hoàng Sám hoặc Từ Bi Thủy Sám phải nhất tâm nhất đức thọ trì tụng niệm cho đúng mức thì đó gọi là công đức, rồi từ đó triển khai công đức đó cho thể nhập với Như Lai Tạng tánh là cái tánh thật của mình xuất triền, gọi là ra khỏi ràng buộc. Hiện bây giờ mỗi người trong chúng ta, ai cũng có Như Lai Tạng tánh nhưng bị ràng buộc, tại triền bởi phiền não, vô minh, nghiệp lực, ác chướng, báo chướng che lấp v.v..., cho nên không giải tỏa được.

Do đó chúng ta mang cái như lai tạng tánh tại triền, luôn luôn bị ràng buộc cột chặt. Từ những sự việc bên ngoài cho đến cái công đức bất cứ làm việc gì, như dâng cúng Phật một bình hoa, thắp một cây nhang cúng Phật mà gọi là xứng với cái tánh Phật của mình mà làm thì đó gọi là công đức. Tiếp đó mình phải hồi hướng cho pháp giới tánh tức là cái Như Lai Tạng tánh. Như Lai Tạng tánh chung và Như Lai Tạng tánh riêng cho từng cá nhân của mỗi chúng ta nó vô tận vô tận mãi mãi cho đến khi nào đắc quả vị chánh đẳng chánh giác mới thôi, tức là không cùng tận. Như vậy mới gọi là vô tận công đức tạng hồi hướng.

Làm được như vậy rồi, tâm vẫn  an nhiên, bao la như bình thường. Đừng nghĩ đến cái sự hạn hẹp, có nghĩa là tháng này mình phát nguyện tụng một bộ Kinh Pháp Hoa nhưng đừng bao giờ nghĩ tới mình đã tụng rồi, thì tháng tới mình sẽ tiếp tục tụng như vậy; còn bằng ngược lại ghi nhớ trong đầu mình đã phát nguyện rồi thì hay thoái bồ đề tâm và bị hạn cuộc trong sự tu hành, mà bị hạn cuộc như vậy thì làm sao nó vô công đức tạng được.

Công đức này là công đức của như lai tạng tánh của mỗi người trong chúng ta, nói tên khác đó là Phật tánh của mình chứ không đâu xa, chỉ khác ở danh từ mà thôi. Vì chúng ta không làm chủ được cho chính bản thân mình nên hết nghiệp lực nọ đến nghiệp lực kia vây quanh mãi mãi cứ xoay trong vòng sanh tử luân hồi triền miên mà không hay biết gì cả, vừa mới thoát ra khỏi triền phược thế gian, để vào xuất thế gian nhưng nào ngờ đâu triền phược của thế gian quá mạnh sự tu hành của chúng ta quá kém cho nên lại bị lôi trở xuống, vì thế khó thể nhập được quả vị thập hồi hướng. Không thể nhập thì đâu có gọi là vô tận công đức tạng hồi hướng,Thầy khuyên quý vị làm gì cũng nhất tâm, nhất đức một lòng, một dạ thì việc làm đó mới có thể đi kết quả là trực nhập với cái Như Lai Tạng tánh của mình được.

Cứ như vậy thì thế nào cũng đạt đến quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đó mới gọi là vô tận công đức tạng hồi hướng.

6. Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng

 Điểm thứ sáu này nhắc Thầy nhớ đến câu  "tùy thuận chúng sanh vô quái ngại, niết bàn sanh tử đẳng không hoa". Nghĩa tất cả chúng sanh nào có cái tâm niệm thiện thì mình phải tùy thuận, tùy hỷ đừng chống báng lại. Vẫn biết rằng trong cái thuận có cái nghịch, hoặc trong cái nghịch có cái thuận, mình phải hiểu rằng tâm chúng sanh lúc nào cũng có sự ganh ghét, đố kỵ luôn luôn là sợ người khác hơn mình.

Thí dụ như thấy huynh đệ mình tu hành dạo nầy có vẻ tiến lên một chút thì sanh tâm không bằng lòng đó gọi là tùy nghịch. Thấy kẻ làm thiện thì tán thán đưa họ lên khuyên họ cố gắng tinh tấn hơn nữa, đó là mình tùy thuận trong cái Phật tánh bình đẳng của mỗi chúng sanh. Tùy thuận ở nơi tất cả cái căn lành dù cho mình thấy họ tạo được một chút ít căn lành mình cũng phải tùy thuận, cũng như mình khuyến khích để cho mình cũng như những vị khác có thể noi theo hầu có thể cùng nhau đồng đăng bỉ ngạn, đồng thành chánh giác; chớ đừng bao giờ khởi lên cái ý xấu nào cả.

Thầy nói rõ nghĩa tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng là như vậy đó. Phải tùy thuận chúng sanh vô quái ngại, chớ còn thấy người ta làm sai là mình chỉ trích, hoặc rầy la.  Như thế là không được ! Phải chỉ dẫn một cách ôn hòa, từ tốn, dù họ biết rằng họ làm sai nhưng không thể nào buồn mình được, kẻo không họ sanh tâm oán hận thì coi như là thù nghịch, mà mang trong lòng mối oán thù rồi thì khó mà gần gũi độ họ được. Kể cả huynh đệ đây cũng phải tùy thuận như tùy thuận chúng sanh vậy. Được như thế mới thể nhập được pháp lục hòa, vì Đức Phật đã dạy là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh bình đẳng.

Cho nên chúng ta cố gắng làm sao cho thuận thảo, giúp nhau khai triển cái Phật tánh cho nhau, chớ trái nghịch Phật tánh là chỉ gây thêm phiền não, rồi trở thành vô minh. Tánh sáng suốt không còn lưu lộ nữa thì cuộc đời tu hành của mình trở thành màu tối ảm đạm u buồn, vậy chúng ta luôn luôn nương đúng theo chánh pháp, sáng suốt, tùy thuận bình đẳng thiện căn để cho mỗi việc từ nhỏ đến lớn, từ trong ra ngoài, từ chuyện thế gian đến chuyện xuất thế gian cho được dung hòa, xuôi thuận.

Điểm này trong sách có nói "Như thị vô lượng công đức hải, ngã kim giai tất tận hồi hướng" có nghĩa là: Công đức này vô lượng vô biên như biển, con nguyện đem hồi hướng khắp pháp giới chúng sanh. Quý vị phải cố gắng làm sao cho dung hòa giữa Phật tử với người xuất gia cũng giống như cái biển công đức bao la không có chỗ nào ngăn ngại che lấp. Được như thế chúng ta mới chuyển hóa hết tất cả tâm tánh thù nghịch từ tiền kiếp, vô lượng kiếp cho đến đời hiện tại và vị lai đều được tiêu trừ.

Thầy nói cho quý vị biết tất cả công việc gì trước khi quyết định làm mình đều có ý nghĩ phát nguyện là làm công việc này tôi sẽ hồi hướng cho chúng sanh, vì trong khi làm đôi lúc có sự bị lệch lạc, hay lầm lẫn gì đó thì mình cũng đã có hồi hướng cho chúng sanh rồi, hồi hướng đây là hồi hướng với cái tâm thành của mình, và nhờ vào cái thành tâm đó mà chúng ta cố gắng thêm lên dù cho công việc thế gian hay xuất thế gian đều được kết quả viên mãn. Được như thế thầy tin chắc rằng quý vị sẽ tiến lên thêm một quả nữa đó là : Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh hồi hướng.

7. Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh hồi hướng

Tức là thuận theo cái bình đẳng thuận theo phép quán cho nó tới nơi tới chốn. Thí dụ quý vị đang nghe Ngũ Đình Tâm Quán, nghĩa là trong lúc nghe mình phải nhận chân, thuận theo bài học cho nó đúng lý của nó để hồi hướng cho khắp tất cả chúng sanh vì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh bình đẳng như nhau. Khi tu mình cần quán như vậy để đạt được quả vị thập hồi hướng, vì tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh là lúc nào quan sát đến tất cả muôn loài, đều bình đẳng.

Chúng sanh với mình là một, cho nên ở trong những bài kệ Tỳ Ni, hay những câu kinh, câu kệ bên đại thừa giáo đều có cầu cho chúng sanh, thí dụ như sáng sớm mới ngủ dậy chúng ta phải đọc "Ngủ nghĩ mới thức, cầu cho chúng sanh..."  đến lúc mặc áo cũng vậy "Khi mặc áo trên, cầu cho chúng sanh....", trong khi rửa mặt cũng thế "Dùng nước rửa mặt, cầu cho chúng sanh, được pháp thanh tịnh, thường không nhơ bẩn".  Trước khi chấm dứt thời tụng kinh chúng ta đọc bài tam quy y "Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh...Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh... Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh...." mình với chúng sanh là một cho nên chuyện gì cũng phải nghĩ đến chúng sanh trước nhất, đó mới gọi là tâm Bồ Tát, bởi vì Bồ Tát không bao giờ nghĩ lo cho mình trước.

Người đời mới vào tu lúc nào cũng lo cho mình trước vì tâm của họ còn sơ cơ, nên cứ lo sợ mất phần công đức tu tập. Phải nhận rõ rằng : hồi hướng cho chúng sanh, mà trong chúng sanh có mình. Những chuyện gần sát mình nhiều nhất là huynh đệ hằng ngày tu chung và cũng là thiện hữu tri thức với nhau mình phải làm sao cho có được một tâm niệm tùy hỷ, tùy thuận, thanh tịnh, nhu nhuyến luôn luôn để mà đi tới quả vị tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh hồi hướng, tùy thuận bình đẳng Phật tánh, tùy thuận những phép quán tu. Mình phải đạt cho được cái đó trước, rồi sau để mà hồi hướng cho pháp giới chúng sanh.

8. Chơn như tướng hồi hướng

Chơn như tướng đây là tướng chơn như. Làm sao cho mỗi việc, mỗi việc, trong cuộc sống hằng ngày đây, nhất cử, nhất động đều được uy nghi khi đi đứng nằm ngồi, hành, trụ, tọa, ngọa. Bốn oai nghi, chúng ta phải trở về cái chơn thật, chơn như tướng. Cái tướng chân như tức là mình trở về chơn tâm, Phật tánh đó mới gọi là Như Lai Tạng tánh, hoặc tùy theo mỗi nơi mà người ta giải thích mỗi danh từ khác nhau. Thật ra các danh từ đó đều nằm trên văn tự mà thôi, tất cả cũng chỉ vào chơn tâm của mình, đó mới là điểm then chốt tu hành.

Làm một việc gì từ thân, từ miệng, từ ý, đều phải trở về với cái tướng chân thật, chơn như, bản tánh của mỗi người. Đừng cho lệch lạc, đừng cho sai, đừng cho vọng động, đừng cho điên đảo, đừng cho phiền não !  Có như vậy là mới đúng nghĩa trọn vẹn vào chơn như tướng, xứng tánh tác Phật sự, xứng với tánh tu niệm hành sự hằng ngày, đó là cái đặc biệt.

Thí dụ quý vị đi, đứng ,nằm, ngồi, cũng phải giữ làm sao sống với cái tướng chơn như đúng với hành, trụ, tọa, ngọa, tứ oai nghi trong bất cứ lúc nào, khi làm một việc gì cần phải cẩn thận để cho nó trực nhập với chơn như tướng, tức là cái sự việc của mình làm đó thích ứng, thể nhập với cái chơn như, có nghĩa là chơn thật, không hư vọng. Còn nếu mà các việc làm đó mà từ thân, miệng, ý không thể nhập được cái chơn như thì lấy cái gì đâu gọi là công đức để hồi hướng cho chúng sanh ? Làm việc gì cũng phải đúng chân lý hợp sự thật, lời nói hợp việc làm,  là thể nhập được tướng chân như rồi hồi hướng ở trong cái không cũng hồi hướng. Cái chơn không cũng không nên giữ lại trong tâm linh mình để làm gì, nghĩa là đem cái đó hồi hướng cho pháp giới chúng sanh. Việc làm đó tuy khó hiểu khó làm nhưng một khi mình hiểu được và làm được mới là chơn như. 

Thí dụ bây giờ quý vị thọ trì đọc tụng một thời kinh đúng phương pháp, đúng chơn lý hợp sự thật, đó là quý vị đã nhập vào thật tướng chân như, cũng như quý vị tọa thiền ngồi kiết già thì chân trái để lên bắp vế chân phải, rồi chân phải để lên bắp vế chân trái sau, hoặc giả ngồi bán già thì chân phải để lên trên chân trái, tay phải luôn luôn để lên tay trái, hai đầu ngón tay cái đụng vào nhau, mắt nhìn hơi xuống không cách xa lắm, sửa mình, đầu, lưng cho ngay thẳng, thở ra hít vào trong sự điều hòa không để cho vọng tưởng xen vô làm náo loạn tâm mình đó mới gọi là đúng cách đúng phương pháp tọa thiền mới gọi là chơn như tướng.

Cái tướng hành thiền đó đúng mức thì thể hiện chơn như. Lấy chơn như này đem hồi hướng cho chúng sanh thì trở thành tâm chơn như (thái hư) lượng châu sa giới. Đừng nhớ nghĩ lăng xăng, đừng để cho bất cứ cái gì xen vô làm chủ. Trong kinh Lăng Nghiêm có nói vì do một niệm vọng động bất giác nổi lên mới sanh ra sơn hà đại địa, thế giới chúng sanh.

Chơn như tướng hồi hướng khi mà trực nhập được là sao ? Thí dụ quý vị thực hành từ phút hô chuông. Hô cho đúng ba thời, đánh cho sung mãn là đánh cho nó hiện chơn như tướng; chứ đừng đánh kiểu đầu voi đuôi chuột. Lúc mới khởi đánh vài ba tiếng thì còn coi đở đở một lát thành ra trật bậy trật bạ cho nên không còn nhìn thấy chơn như tướng ở đâu nữa cả.

Bài kệ hô chuông cũng thế cố gắng phải làm cho nó đúng phương pháp, vì vậy mà thầy kêu gọi quý vị phải học tập hoài đừng để nó đi vào quên lãng, thì uổng phí cuộc đời. Tuy nó giống như chuyện giả dối, giống như chuyện hình tướng, nhưng không thể khinh thường nó được "Hữu vi tuy ngụy, xả chi tắc Phật đạo nan thành".

Những việc hữu vi mình làm coi ra vẻ có hình tướng, giống như ngụy chớ không phải chơn, nhưng mà bỏ nó đi thì chuyện sáng suốt, con đường giác ngộ Phật đạo, ở vị giác ngộ giải thoát không thành. Vì vậy cho nên người ta học tập phải tới nơi tới chốn là vậy đó.

Bất cứ là chuyện gì cũng phải học cho đúng mức, phải làm cho đúng mức thì mới đi đến chơn như tướng. Chẳng hạn như trước bàn Phật quý vị quì gối tụng kinh chắp tay ngay ngắn đàng hoàng nhất cử nhất động tâm hướng về Phật không một vọng niệm xen vào thì đó gọi là tướng chơn như. Đừng nên làm theo kiểu thế gian thì nó sẽ trở thành cái pháp thế gian, đồng thời cũng sự việc đó nếu mà đúng pháp thì được gọi là Phật pháp bất ly thế gian pháp, thể nhập thành chơn như (nếu làm đúng) gọi đó là siêu xuất thế gian "Phật sự môn trung, bất xả nhứt pháp". Tóm lại  trong tất cả mọi Phật sự thì mình phải làm cho nó rốt ráo, đi tới cái chỗ gọi là chơn như tướng hồi hướng, làm xong rồi thì hồi hướng cho pháp giới chúng sanh đồng thành Phật đạo.

9. Vô phược giải thoát hồi hướng

Vô phược tức là không ràng buộc, mà không ràng buộc tức là giải thoát thành hai danh từ đó để chúng ta thấy hình như là dư mà không phải là dư.  Vô phược là không ràng buộc, giải thoát cũng là không ràng buộc. Nghĩa chung của bốn chữ Vô Phược Giải Thoát là : Không cái vô phược là đừng có ràng buộc ở nơi  việc làm tức là đừng làm theo kiểu hình tướng nầy nọ, phải cố gắng làm sao cho nó đừng bị ràng buộc, và tức nhiên là giải thoát tâm hồn đừng cho vướng bận.

Giải thoát thuộc về tâm hồn, vô phược đứng về hình thức để chấp trược bên ngoài. Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi khắc, mỗi giây, chúng ta luôn luôn giữ cho tâm hồn tịch mặc tự tại. Thí dụ như chúng ta có đào ao thả sen đi nữa, thì công việc nặng nhọc đó cũng đừng để cho nó ràng buộc trong tâm. Đừng cho nó ràng buộc trong cái khó, cái khổ. Được như vậy tâm hồn mới giải thoát mới là vô phược (không ràng buộc). Về điểm này ở trong kinh Phật có dạy : "Như thị tứ pháp quảng vô biên, nguyện kim hồi hướng diệc như thị" Có nghĩa là nó luôn luôn không ràng buộc, được giải thoát, trong bốn phápẠ.   Nó rộng vô biên mà từ xưa có câu "như thị tứ pháp quảng vô biên",  từ xưa đến giờ bốn thứ này đứng vào hàng đầu về phương diện mê lầm. Tối tăm nguy hiểm cho con đường luân hồi của chúng sanh.

Nguyện kim hồi hướng diệc như thị, nghĩa là hiện nay mình biết là làm xong rồi coi như là hồi hướng, đừng để cho nó ràng buộc một cái gì hết. Hư không là như vậy đó mình cũng đừng có nghĩ quanh quẫn từ hư không cho đến chúng sanh, đến nghiệp lực, và phiền não. Những pháp đó coi như là hồi hướng hết, dẹp hết cho cõi lòng thường thanh tịnh thì chúng ta mới thấy hai chữ "Tịch mặc". Cũng như diệt phiền não, để cõi lòng thường thanh tịnh hay cõi lòng thường tịch mặc cũng vậy. Đó là thanh tịnh rồi, (Dẹp bỏ buồn rầu, để lòng thường an vui), do đó cho nên không có ràng buộc giải thoát coi như giải tỏa tất cả các nghiệp chúng sanh phiền não.

Còn những vi tế phiền não sót lại cũng dẹp luôn, cũng như mình bỏ được cái buồn giận thô, nhưng trong lòng vẫn còn nghĩ chút chút, buồn chút chút đó gọi là vi tế cũng phải dẹp ngay. Đó mới gọi là không ràng buộc, để tâm hồn cho giải thoát, rồi đem cái không ràng buộc giải thoát đó cũng hồi hướng cho tất cả chúng sanh. Khi đã hồi hướng rồi thì cũng đừng có nghĩ đến bây giờ mình không còn ràng buộc nữa, mình bây giờ là giải thoát rồi, không nên nghĩ đến cái đó nữa mới gọi là giải thoát thật sự, chứ còn nghĩ đến ta đã giải thoát rồi, thì đó là chưa được giải thoát ; cũng như người tu chứng thì không bao giờ dám nói là mình tu chứng, vì còn thấy có tu có chứng tức nhiên là không tu chứng gì cả.  

Ví như một quốc gia nào đó đang bị đô hộ bởi một quốc gia khác, họ cố vùng vẫy tranh đấu để được độc lập, nhưng sự độc lập chưa đến mà cứ tuyên bố quốc gia chúng tôi đã được độc lập rồi, sự thật thì không có gì cả, còn khi nào độc lập thật sự thì tự nhiên những quốc gia khác liền biết và công nhận nơi đó só sự độc lập thật sự. Có như vậy thì mới thiệt là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, lúc đó mới có thể tiến lên quả vị thứ mười là pháp giới vô lượng hồi hướng.

10.  Pháp Giới Vô Lượng Hồi Hướng

Tất cả những gì mình tu tập trong giới pháp là :

Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,

Phiền não vô lượng thệ nguyện đoạn,

Pháp môn tu vô lượng thệ nguyện học,

Phật đạo vô thượng thệ nguyện hành..

Bây giờ coi như là mình giải tỏa hết tức là hồi hướng hết, mình làm tất cả những chuyện đó nhưng không bao giờ nghĩ tới.

Chẳng hạn như Đức Bổn Sư Thích Ca của chúng ta đã trải qua nhiều kiếp số tu hành khổ hạnh, bao nhiêu kiếp đã từng làm Bồ Tát đi cứu độ tất cả chúng sanh không ngại gian lao khó nhọc. Đây là kiếp cuối cùng của Ngài, khi mà ngồi dưới cội cây Bồ Đề là Ngài phải giải tỏa hết không còn nghĩ gì đến những chuyện tiền kiếp. Ta tu khổ như thế nào, ta hành Bồ Tát đạo như thế nào  v.v...,

Tất cả đều giải tỏa hết, cuối cùng Ngài hoát nhiên đại ngộ mới chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác tức là Viên Giác, là người giác ngộ hoàn toàn. Pháp giới vô lượng, hồi hướng vô lượng khi mà ta đạt được tâm cảnh nhất như rồi thì "Nhất tâm bất sanh, vạn pháp câu tức". (Một vọng tâm đừng cho phát sanh, thì không còn một pháp gì hết), vì còn cái nọ cái kia hơn thua phải trái, rộng hẹp là vì cái vọng tâm mình còn, muôn vật muôn sự đều dứt hết thì tâm không còn vọng động nữa.

Tóm lại trên con đường tu mà quý vị nghĩ cái nầy, nghĩ cái kia có đôi khi nghĩ càng nhiều thì càng vô ích. Càng suy nghĩ thì nó bắt mình phải suy nghĩ hoài, những khi trong đầu đang muốn suy nghĩ như vậy, thì ta liền đổi sang câu niệm Phật ngay. Được như vậy thì sự tu tập mỗi ngày thêm dễ dàng cho chúng ta, đó mới là tự độ mình, rồi sau mới có thể độ tha được. Để giải tỏa những cái vô ích đó, Thầy chỉ cho quý vị một phương pháp là đừng nên để cái lăng xăng nó xen vào tâm mình.

Hồi xưa những bậc thượng căn, thượng trí, bất luận khi đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, nói giao thiệp, qua lại đều giữ tâm thiền hết ;  còn bây giờ quý vị tu theo pháp môn Tịnh Độ không phải chuyên tâm thiền quán, mình không biết cách thức làm sao thiền quán cho nó giải tỏa thì phải thay thế bằng câu niệm Phật tam muội (niệm Phật thiền định). Có như thế thì lúc nào tâm của mình và Phật tánh của mình cũng giống như tâm Phật thì đó mới gọi là nhất như.

Hãy ngồi lại yên lặng, rồi tự hỏi rằng : Tại sao hôm nay tâm ta vọng động lăng xăng quá vậy ? Cứ nghĩ hết chuyện nọ, thế kia mãi mãi ! Mình phải đặt câu hỏi đó cho chính mình ! Theo Thầy thấy con người mình mà thiếu chánh niệm thì luôn luôn bị chuyện nọ chuyện kia xen vào như dòng suối chảy khó mà ngừng nghĩ được lắm, vì thế mà lúc nào Thầy cũng khuyên tất cả quý vị khi làm bất cứ một chuyện gì, dù Phật sự khó hay Phật sự dễ quý vị cũng cần phải giữ chánh niệm luôn luôn thì việc làm của quý vị mới cao quý tốt đẹp và còn đi đến viên mãn.

Làm lợi ích cho mình và cho chúng sanh được hàm triêm lợi lạc. Đó là nhiệm vụ của người xuất gia đi hoằng truyền chánh pháp để báo đền ơn Phật, ơn Thầy Tổ, cũng như một người mới vào tu thọ Sadi giới, phải làm sao cho hai chữ Sadi sự lý tánh tướng dung thông.

Chữ Sadi nghĩa là tức từ (tức ác hành từ, tức thế nhiễm nhi, từ tế chúng sanh) dứt các việc xấu làm các việc tốt đó là cứu giúp chúng sanh, đưa chúng sanh đến bờ giác ngộ giải thoát cũng như mình vậy dù cho vật đổi sao dời chúng ta lúc nào cũng giữ vững lời phát nguyện cứu giúp chúng sanh không lay chuyển.

Còn như các vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni cũng đã làm giống như vậy, vì chữ Tỳ Kheo có ba nghĩa : Khất sĩ, phá ác, và bố ma. Mình phải làm sao cho đúng với câu "Thượng khất chư Phật chư pháp, Hạ khất đàn việt chi thực",  có nghĩa là trên thì cầu xin cho mình học, mình hiểu, mình thâu nhận giáo pháp của Phật, dưới là xin những vật thực của đàn việt để mà sống. Bởi vì nếu là Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni lăng xăng quá cả ngày chỉ lo chuyện sanh nhai ăn uống không còn thì giờ để thượng khất chư Phật chư pháp, vì thế phải đi khất thực của đàn na tín thí, ai cho gì mình ăn nấy không khen cũng không chê, nhờ đó mà có thời gian tu tập, tọa thiền học Kinh, Luật, Luận.

Kế đến là phá ác, phá những cái xấu, cái ác, cái dở của chính mình, phải dẹp liền tức khắc.

Còn bố ma là phải làm sao cho mấy con ma ngũ ấm của mình, ma phiền não, ma tử, ma quân nó phải sợ hãi trốn đi mất như vậy mới gọi là chánh niệm, còn như ngược lại gọi là vọng niệm. Chẳng hạn như quý vị làm hương đăng thì làm sao cho phần nghi lễ từ trên xuống tới dưới tất cả những gì nằm trong đại điện thờ phượng đều được thanh tịnh trang nghiêm, sạch sẽ, tinh khiết, đừng cho khuyết một chỗ nào hết  đó gọi là giữ chánh niệm. Mỗi nơi, mỗi người, mỗi sự việc phải lo chu đáo, đúng bổn phận mình.

Nói tóm lại Thầy giảng quả vị Thập Hồi Hướng này là lúc nào cũng tự lợi và lợi tha, tất cả những chuyện gì dù khó khăn nặng nhọc đến đâu nếu chúng ta nhất tâm nhất đức thì đều vượt qua được tất cả, và từ đó chúng ta sẽ tiến lên được quả vị Thập Địa, đó là hành Bồ Tát Đạo.   

 

9. Đường lên Thập Địa 

Hôm nay là bài khai thị thứ năm trong mùa An Cư Kiết Hạ năm 1999 này, bốn quả vị trước thầy đã chỉ cho quý vị thấy cái tâm nguyện và bổn phận của người xuất gia phải thực hành như thế nào cho đúng, mỗi quả vị có mười (10) phương pháp khác nhau, nhưng chung qui cũng chỉ là một mà thôi.

Bài học nào thầy cũng chỉ cho quý vị về tâm linh, vì người thế gian phần đông chỉ lo cho thân; lúc nào cũng nghĩ đến mua miếng ngon vật lạ để bổ dưỡng cung phụng cho cái thân được no đủ, chớ ít ai nghĩ đến cái tâm linh của mình, vì chúng sanh cho cái thân này là thiệt, là tồn tại vĩnh viễn mãi mãi. Theo chỗ thầy biết hiếm có người biết được thân này do tứ đại giả hợp mà thành, mà còn có người sợ biết sự thật nữa. Vì sao? Người đời đầu tiên là sợ già, sợ "chết" đó là thế gian pháp, còn người đã hiểu đạo rồi thì lúc nào cũng lo cho nhân quả, đó là xuất thế gian, nhưng dù cho quả tốt hay quả xấu cũng đừng nên bao giờ nghĩ đến, mỗi quả vị đều lồng cái tâm của mình trong đó. Tâm từ thô đến tế rồi từ tế sẽ thể nhập được cái phần vị sáng suốt giác ngộ giải thoát ở nơi tâm linh.

Hôm nay đây, nói về Thập Địa tức là mười cái tâm địa cũng chỉ về tâm tất cả. Nói một cách dễ hiểu là tu hành sửa đổi lần lần cái tâm của mình cho nó thanh tịnh, nhẹ nhàng. Phải sửa đổi từ thô đến tế, từ cái nặng đến cái nhẹ ở trong tâm hồn của mình. Thí dụ như : Chuyện ở bên ngoài thì mình phải mượn phương pháp bên ngoài để mà chỉ dẫn, để mà giảng giải chớ thật ra cuối cùng đều quy về nơi tâm địa của mình.

Mười tâm địa này là tâm địa đưa đến quả vị Bồ Tát. Phần trước, Thập Tín là chánh tín, còn Thập Trụ là cái tâm an trụ để tu tiến chứng ngộ, tuy chia ra mười chớ thật ra mười mà là một, một là mười. Thập Hạnh cũng giống như vậy, hạnh là để chỉ tâm hành cũng đi từ một đến mười, mỗi người chúng ta thể nhập để cho tâm mình tiến đến từng quả vị.

Thập Hồi Hướng cũng vậy, tâm mình khá khai thông, nghĩa là tu tập hành sự làm những gì nhứt cử nhứt động là mình đều hồi hướng, làm việc gì xong rồi cũng đem hồi hướng cho chúng sanh, là lúc nào cũng hướng về bên ngoài cho pháp giới chúng sanh, cho tam thiên đại thiên thế giới, hồi hướng cho hết không để nơi mình chút nào, như vậy là bắt đầu Bồ Tát tâm rồi đó.

Đến Thập Địa coi như là cái tâm địa Bồ Tát, tâm địa của giác hữu tình, tâm địa lợi ích cho chúng sanh, tâm địa hoàn toàn độ tận chúng sanh. Muốn trụ vững mười cái tâm địa này thì tự nhiên mỗi vị mỗi chúng ta phải diệt trừ ba chướng ngại của mỗi người mà khó có ai tránh khỏi được, tức là làm sao dẹp cho được cái phiền não chướng, nghiệp chướng và báo chướng ở trong mỗi chúng ta. Khi mang thân này là không ai tránh khỏi hết, dù cho quý vị có thị hiện xuống cũng không sao tránh được cái phiền não, cái nghiệp chướng, cái báo chướng. Ba chướng ngại này trên con đường tu hành lúc nào cũng bị gặp phải, nhưng chúng ta tu theo hạnh Bồ Tát  thì phải dẹp bỏ nó đi.

1. Phiền não chướng tức là cái phiền não đến từ bên ngoài và từ bên trong, mà hễ cái gì làm cho cái tâm của mình bị ngăn trở hay là khó khăn, thắc mắc đó là phiền não. Những cái gì mà bất như ý đều là nằm trong phiền não cho nên người tu tập phải làm sao dẹp từ thô cho đến tế. Chúng ta phải dẹp cái đó được rồi thì thực hành Bồ Tát hạnh mới có kết quả viên mãn.

2. Nghiệp chướng là những hành động tạo tác về ý, những hành động tạo tác từ miệng, từ thân, từ ý phải làm sao dẹp bỏ nó đi. Luôn luôn giữ ba nghiệp thân, miệng và ý cho được thanh tịnh là điều quan trọng nhất. Cho nên có câu "Ba nghiệp hằng thanh tịnh, đồng phật vãng Tây phương". Nếu ba nghiệp của mỗi người trong chúng ta mà được yên ổn thì đồng với các đức Phật, được về cõi Phật.

3. Báo chướng tức những cái chướng ngại đến với mình, thì mình phải hiểu và tự giải tỏa. Có những cái nhơn mà mình tạo nhiều đời nhiều kiếp, bây giờ quả chín thì phải nhận lấy chứ đừng nên than vãn vô ích mà thôi (hễ quả nào chín trước thì phải rụng trước). Là người học Phật thì biết đó là như vậy để dể dàng giải tỏa tất cả mọi báo chướng khó khăn trong cuộc đời của mình. Cố gắng làm sao đừng có gây thêm cái nhơn nữa, cũng có những trường hợp người ngoài họ gây nhơn đó chứ không phải mình nhưng việc đó có liên can đến mình thì mình phải có tâm giải tỏa liền đừng chấp nhận cho gieo nhân thêm, bởi vì chấp nhận cho gieo nhơn, thì kiếp sau sẽ có quả.

 "Nhơn nào thì quả đấy". Khi báo chướng đến, thì phải biết ngay là nhân đời trước mình gieo, bây giờ vui lòng mà trả quả. Quả nhỏ, quả trung, quả lớn, hoặc kiểu nào đi nữa chúng ta vẫn sẳn sàng vui vẻ trả và còn cầu nguyện không bao giờ gây tạo nhân mới. Nếu ai cố tình gây tạo cho mình, khi biết đạo rồi cũng xin xả bỏ tất cả, nghĩa là đừng bao giờ nhào vô để cùng tạo tội, đó mới là người biết đạo biết tu.

Cho nên muốn thực hành hạnh Bồ Tát hay con đường của Bồ Tát đi, trước hết phải phát nguyện mỗi ngày chứ không phải chỉ có chữ tín không đâu và còn phải nguyện tiêu ba chướng trừ phiền não (Nghiệp chướng, báo chướng và phiền não chướng). Bài kinh này chúng ta đọc hàng ngày, khi nào mà giải được ba cái chướng đó thì lúc bấy giờ mới mong sao cho trí tuệ được tăng trưởng và hiển lộ. Được như vậy thì con đường tu chứng mới được dễ dàng.

"Nguyện cho trí tuệ thường sáng tỏ", nghĩa là mong muốn làm sao cho cái ánh sáng trí tuệ về tâm linh nhứt cử, nhứt động đều được sáng suốt giác ngộ mãi mãi, đặng thể nhập với  Tuệ Bát Nhã Thánh Trí, lúc ấy sự tu chứng không có gì gọi là khó khăn như  nhìn một hoa trái trong lòng bàn tay.

Chẳng những chúng ta cầu nguyện cho mình, cho những người xung quanh và cho tất cả muôn loài chúng sanh (nếu nói rộng ra) bởi vì mình với muôn loài chúng sanh cùng sống chung ở giữa cõi đời nầy.  Thực tế mà nói,  không ai có thể sống cá biệt được cả, cũng không có một vật gì có thể đứng một mình mà tồn tại được.  Con người cũng vậy, lúc nào cũng có liên quan mật thiết với nhau, vì thế quý vị nên cầu nguyện cho tội chướng của mình và của người được tiêu trừ.

Nguyện bao tội chướng được tiêu trừ, tội chướng, nghiệp chướng, báo chướng nó nằm ở trong ba chướng. Chúng rất vi tế và sâu sắc nên cần phải trừ cho hết, lúc bấy giờ chúng ta mới Đời đời thường hành Bồ Tát Đạo. Mỗi đời, mỗi thời gian mới thật hành được con đường của Bồ Tát, con đường của Bồ Tát tức nhiên con đường của Giác Hữu Tình luôn luôn để giác ngộ cho chúng sanh vì chúng sanh với mình đồng một bản thể, và chúng sanh với Phật cũng đồng một bản thể. Bởi vậy nên có câu "Tâm, Phật và chúng sanh, ba cái không sai biệt", ba cái này lý thể không sai khác. Chính lý do đó cho nên chư Phật và chư Bồ Tát thay phiên nhau ra đời, kể cả chư Tổ ra đời cũng đều một cùng một mục đích là độ tận chúng sanh. Mỗi chúng sanh đều có điển quang, linh quang và cái tánh biết, tánh giác, tánh Phật.

Do đó quý vị cố gắng tiến lên mãi, cuối cùng làm cho giác ngộ hoàn toàn để được thành Phật. Quả vị Thập Địa nầy là mười cái tên đưa đến siêu thoát giác ngộ và cũng là quả vị Bồ Tát. 

1. Hoan Hỷ Địa :  Giữ tâm luôn luôn hoan hỷ, dầu cho gặp cảnh thuận hay nghịch cũng giữ tâm hoan hỷ, nhứt như đối với chúng sanh. 

2. Ly Cấu Địa : Tâm địa phải lìa những trần cấu, lìa những vi tế phiền não. Phần  phiền não thô thiển thì ở mấy quả vị trước như Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng đã bớt rồi, giải tỏa nhiều rồi, nhưng phần phiền não vi tế thì ngay những vị đại Bồ Tát cũng vẫn còn. Cho nên mỗi người tu chứng giải tỏa được kiến hoặc, tư hoặc, rồi mới đạt được quả vị cao thêm một chút để tiến lên hàng nhị thừa, rồi mới đoạn trần sa hoặc thì tiến lên hàng Bồ Tát, nhưng phải đoạn cho được cái vô minh hoặc, tức nhiên là đoạn cái mê lầm tối tăm ở trong mỗi con người của chúng ta. Xong rồi tiếp tục dẹp bỏ cái vi tế vô minh, hay là sự mê lầm còn ở nơi cạn cợt một chút. Phần này cũng dễ đoạn trừ nhưng mà vi tế lắm. Phần ly cấu địa này tức là tâm địa xa lìa cho hết cái vi tế phiền não ở trong mười cái căn bản phiền não thuộc về phần thô, trọng.

Sau đây là mười vi tế trần cấuẠ. Mười phần vi tế phải đạt cho được thì mới gọi là đạt được quả vị ly cấu địa. Tâm địa lúc bấy giờ đã xa lìa trần cấu vi tế vô minh, lìa cái đó để chèo chống con thuyền Bát Nhã, thuyền trí tuệ để cứu vớt chúng sanh ra khỏi biển khổ luân hồi, để đến bờ giác ngộ hoàn toàn. 

3. Phát Quang Địa : Tâm địa lúc bấy giờ lúc nào cũng phát ra yến sáng từ ba nghiệpẠ.  Nghiệp thân cũng phát quang, khi đi, đứng, nằm, ngồi làm sao giữ cho được oai nghi tế hạnh siêu thoát. Nhìn thấy là liền biết cái thể chất của vị đó "đường đường tăng tướng, dung mạo khả quan". 

Đến nghiệp ý thì lúc nào ý cũng suy nghĩ điều sáng suốt giác ngộ giải thoát đi lên đừng cho thoái chuyển.

Cuối cùng là nghiệp miệng, nói câu nào cũng đều như có hào quang từ trong miệng tủa ra. Là người con Phật  làm sao khi mở miệng ra nói thì nên nói giáo pháp của Phật những điều hay lẽ phải, nhứt là đừng nên nói chuyện đời vì nói chuyện đời là vướng thị phi. "Thiệt động thị phi sanh" có nghĩa là khi cái lưỡi cử động thì tiếng nói xấu, nói tốt sanh ra từ nơi miệng.

Từ cái đó mà chúng ta gặt hái được ba nghiệp thân, khẩu, ý lành. Tuy là ba, nhưng cuối cùng nó trở thành một, vì chỉ có tâm linh không ý, chuyển qua tâm ý. Do đó  phát ra hiện ra lời nói, ý nghĩ những hành động sáng suốt giác ngộ hoàn toàn. Nếu vị nào đạt được tâm ý như vậy thì đạt được Phát Quang Địa, nghĩa là phát ra ánh sáng  cũng từ nơi ba nghiệp hằng ngày của mình vậy. Vì thế cho nên Thầy lúc nào cũng muốn quý vị cố gắng học kinh, học luật, học luận, học sử, học những gì hay, để biết, để nhớ của đức Phật rồi ra thuyết pháp độ sanh báo đền công ơn Thầy Tổ và còn gọi là (Hoằng pháp lợi sanh, báo đền công ơn chư Phật chư Tổ).  

Được như vậy thì mới gọi là đạt phát quang địa. Nói lời nào ra cũng đúng chơn lý hợp sự thật, nói ra những lời lẽ gì đều để giải tỏa tất cả những tâm bệnh của chúng sanh, giống như mình là một ông thầy thuốc, một bực y vương. Ý lúc nào cũng suy nghĩ sáng suốt để tự lợi, lợi tha. Cố gắng làm sao cho lúc nào cũng tỏa được ra cái ánh sáng giác ngộ, để cho người đời nhìn thấy cử chỉ điệu bộ, cách đi, cách đứng, cách nằm, cách ngồi,  của một vị phát Bồ Tát tâm, một vị coi như là siêu xuất thế gian. Nếu quý vị được như vậy thì thầy tin chắc rằng sự chứng ngộ của quý vị không còn xa lắm. 

4. Diệm Huệ Địa : Tâm địa của hành giả lúc nào cũng phát trí huệ như ánh lửa hừng hực.  Giờ phút nào cũng sống với trí huệ chứ không sống với thức, nhất là chúng sanh hay sống với ý thức nhiều hơn, mà ý thức thì luôn luôn ích kỷ, lo cho cá nhân, lúc nào nhỏ hẹp của mình trước tiên. Nếu người mà sống ích kỷ như vậy thì cái trí của mình không thể phát triển được. Người tu phải chuyển thức thành trí, rồi từ cái trí đó mới trở thành Trí Huệ Ba La Mật.

Diệm huệ địa tức là trí huệ chiếu sáng hừng hực, có nghĩa là phải sống với trí huệ luôn luôn thì mới làm lợi ích cho sự nghiệp tu hành của hành giả. Chúng sanh nan điều nan phục, (chúng sanh tánh tình cứng cõi, khó nói, khó độ) cho nên, nếu người xuất gia mà thiếu trí tuệ thì tự mình cũng không thể độ mình chứ đừng nói tới chuyện ra hoằng pháp lợi sanh. 

5. Cực Nan Thắng Địa : Nan thắng là nhờ vượt qua. Tâm địa một lòng đi tới để xả mê khai ngộ cho mình chuyển phàm thành thánh, chuyển tối thành sáng giúp cho mình và cho người.  Khó mà làm được, mà thắng được mới hay. Phải cố gắng hết sức mình đó mới gọi là cực nan thắng địa, là tâm địa rất là khó mà vượt qua những cái khó đó mới có thể ra hành đạo được. Đây không phải là việc dễ áp dụng, dễ thực hành mà quý vị áp dụng được, thực hành được cho đúng mức, thì đó mới gọi là người học Phật.

Cũng như nói chuyển thức thành trí, nghe thì dễ mà thực hành đâu phải là dễ, nhưng với tâm địa này và địa vị này hành giả có thể chuyển một cách dễ dàng. Chẳng những được dễ dàng mà còn thành công rực rỡ, cho nên mới gọi là cực. Cực là cùng cực, tuyệt đỉnh, tối hậu hoàn toàn để đi đến chỗ ổn định chắc chắn, không bị xê dịch. Đó mới gọi được gọi là Cực Nan Thắng Địa. 

6. Hiện Tiền Địa : Tức là tâm địa hiện tại đầy đủ tự giác, giác tha. Tâm địa đầy đủ tự lợi, lợi tha, tự độ, độ tha coi như mình và người được sáng suốt giác ngộ. Hiện tiền địa tức là địa vị liễu ngộ được vô sanh pháp nhẫn. Sanh với pháp hay là nhơn sanh với vũ trụ mà mình thấu rõ không có cái gì là rắc rối hết. Cả pháp giới tâm trí mình cũng đều sáng suốt và hiểu biết hết, nhứt là về hiện tại mình thấy công tu tập của mình tới chỗ tự giác, giác tha, tự độ, độ tha, tự lợi, lợi tha. Quý vị nên nghĩ rằng lúc nào nó cũng nằm nhan nhãn trước mắt đó mới gọi là tâm địa hiện tiền lúc nào cũng sáng suốt giác ngộ, giải thoát cho mình cho người và cho chúng sanh. Đạt được như vậy mới gọi là Hiện Tiền Địa. 

7. Viễn Hành Địa : Là đi xa. là đã rời xa khỏi phiền não, không còn phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng, nên được gọi là viễn hành. Bây giờ chỉ còn có con đường giải thoát gần, xa tất cả những con đường coi như là ràng buộc trầm luân phiền não, nghiệp chướng, báo chướng. Đến quả vị này, quả vị đoạn được vi tế vô minh, giải tỏa hết không cho chướng ngại gần gũi nữa. Khi còn là chúng sanh thì cùng chướng ngại phiền não ở một nhà ; các Ngài khá hơn thì tống ra nhưng ở gần, còn lên địa vị này thì phiền não, chướng ngại đi xa quá rồi. Các Ngài dùng đủ thần lực chuyển tất cả phiền não thành bồ đề, chuyển tất cả nghiệp thức xấu xa trở lại thành trí nhiệm mầu cho nên gọi đó là Viễn Hành Địa. 

8. Bất Động Địa : Tâm địa của mỗi người không có một chút nào lay động ở nơi thất tình lục dục, như hư không bất động. Trong sách có bài kệ :  

"Như như bất động thị Di Đà,

Giáo lý chơn truyền tự Thích Ca,

Ca Diếp Tây Thiên vi nhất tổ,

Đạt Ma Đông Độ thủ tăng già,

Huệ Năng ngộ đạo tồn y bát,

Thần Tú thất truyền triệt bát sa,

Việt Nam chư tổ hành thiền tịnh,

Ưng tu thất chúng lục ba la ".

Như như bất động, có nghĩa là chỉ cho tâm địa mình lúc bấy giờ định cho đến nổi không còn thấy động, dù trời long đất lỡ cũng không có lay động. Tâm mình không động thì chuyển nghiệp dễ dàng.  Làm sao cho tâm địa trực nhập với lại tâm Phật của mỗi người, thì đạt được Bồ Tát Bất Động Địa. 

9. Thiện Huệ Địa : Tâm địa lúc bấy giờ giống như Bát Nhã Thánh Trí hoa khai. Tâm địa của vị nầy giống như là hoa Thánh Bát Nhã nẩy nở, tức nhiên đó là quả vị giác ngộ, quả vị Phật. Thiện là khéo léo, cao quý, và thật đặc biệt, cho nên rất khó mà đạt được. Thầy cũng rất mong, sao cho quý vị mỗi ngày tu hành đạt được Thiện Huệ của mình. 

10. Pháp Vân Địa : Pháp là vũ trụ bao la, vân là mây. Áng mây lành che khắp cả trần gian, chúng sanh nhờ đó mà không có nắng mưa, lạnh nóng. Pháp vân địa chỉ cho Phật tánh, tâm của vị này lúc bấy giờ le lói sự giác ngộ, sáng suốt giải thoát, chỉ còn chút xíu nữa là hoàn toàn. Pháp vân chỉ cho "Diệu pháp Bồ Đề khắp trang nghiêm, tùy nơi chỗ ở thường an lạc". Tức là pháp nhiệm mầu ở trong cái tâm giác ngộ của mình bây giờ trải khắp tất cả, chỗ nào cũng được coi như là tự tại, tùy theo ở chổ nào cũng được an lạc hết (tâm bình thế giới cũng bình). Vì vậy cho nên các vị Bồ Tát vẫn ở nơi cảnh địa ngục như thường, ở để mà độ sanh chứ không phải ở để mà thọ tội.

Mười quả vị tâm địa này lên tới cái mức độ gần như là giác ngộ như Phật khá hoàn toàn, cả mười cái tâm địa hoan hỷ... Địa là tâm địa của mỗi người chúng ta, nếu mọi người trong chúng ta mà cố gắng đạt cho được quả vị hay là địa vị như nảy giờ thầy giảng đó tức nhiên là chứng, ngộ được quả vị Thập Địa.

Đẳng Giác là trực nhận hoàn toàn không có một mảy may nào nghi ngờ nữa, Phật với chúng sanh coi là bình đẳng như nhau, trực nhận cho đúng không sai chạy. Chẳng những chỉ có loài hữu tình mới có trực giác mà loài vô tình cũng có trực giác đồng như Phật vậy.

Còn Diệu Giác tức nhiên là nhân muôn sự, muôn vật ở giữa chỗ nầy từ phàm đến Thánh, từ nghèo đến giàu, từ tối tới sáng, có nghĩa là tất cả đều là nhiệm mầu đặc biệt. Trực nhận là sống với cảnh đó, không phải chỉ hiểu thường thôi đâu mà phải hiểu một cách cao siêu hơn, được như vậy mới gọi là Diệu Giác.

Còn Viên Giác là người đã giác ngộ hoàn toàn, không cần phải giải thích nầy nọ hoặc nói năng nhiều thêm nữa, vì cái hay, cái quý, cái cao, cái sáng, cái đặc biệt nào đó mà không thể nói lên được. Thí dụ  : Ai uống nước thì mới biết nước đó nóng hay lạnh. Sự tu chứng cũng giống như thế đó, được sự chứng ngộ này chỉ có chính hành giả mới biết và cũng không thể thố lộ cùng ai, vì không ai hiểu được sự chứng ngộ này.

Trước khi chấm dứt buổi thuyết giảng hôm nay, thầy cầu chúc cho toàn thể quý vị hiện đang ngồi trong đạo tràng này, tu hành nhật tấn, trí huệ nhật tăng và sớm giác ngộ viên mãn.

 

 

10.Hành Thập Độ đến quả vị Bồ Tát 

Hôm nay Thầy đăng đàn khai thị cho đại chúng rõ pháp môn tu tiến ngõ hầu trở thành một vị Bồ Tát Bất Thoái Chuyển, đó là thật hành pháp môn Thập Độ.

Pháp môn Thập Độ là một phương pháp độ sanh mà hàng đệ tử xuất gia cũng như hàng cư sĩ tại gia cần phải biết để hành trì, đi đúng với câu  "Nguyện tiêu ba chướng trừ phiền não" mà hằng ngày chúng ta thường đọc sau mỗi thời kinh. Những gì là ba chướng ? 

Đó là : Phiền não chướng, Nghiệp chướng và báo chướng. Và làm sao dẹp được ba cái chướng ấy trong chính mỗi chúng ta?

a) Phiền não chướng là những gì không an không vui trong chính mình thì mình cần phải dẹp liền, dù cho đối nội đối ngoại, đối thượng, đối hạ. Mỗi niệm, mỗi niệm, bất cứ trong giờ, phút, giây nào chúng ta cũng phải giải tỏa cho được chứng bệnh trầm kha này. Đừng để bị vướng mắc mê lầm.

b) Nghiệp chướng là tất cả những tâm bệnh nào làm ngăn ngại con đường tu tiến của mình thì phải mau mau đánh tan ngay, đừng chần chờ đừng cho quên.

c) Báo chướng là những hoa trái, kết quả mà chính ta đã gieo từ nhiều đời nhiều kiếp nay còn lưu lại, và ta phải gánh chịu trong cuộc đời nầy ; cho nên mới có câu "nguyện tiêu ba chướng trừ phiền não, nguyện đặng trí tuệ thường sáng tỏ". Chúng ta phải làm sao cho trí tuệ được hiển lộ ra và luôn luôn sống với trí Bát Nhã tức là trí sáng suốt sẵn có của mình. Khi ấy phiền não chướng, báo chướng, nghiệp chướng sẽ ra đi một cách tự nhiên.

Nguyện bao tội chướng được tiêu trừ, là khắp nguyện cho tất cả chúng sanh được tiêu trừ nghiệp chướng, tội chướng, báo chướng, phiền não chướng. Kiếp kiếp thường hành theo con đường Bồ Tát  là cố gắng làm sao mỗi ngày mỗi giờ phải thực hành cho đúng con đường của Bồ Tát vạch ra, dù cho người xuất gia hay cư sĩ tại gia cũng có thể làm được. Vì thế mà hôm nay Thầy khai thị cho đại chúng bài Thập Độ. Ấy là mười (10) phương pháp độ thoát cho chúng sanh, trong đó có chúng ta, và đây là con đường của Bồ Tát đã đi, nhất là người xuất gia tu theo phương pháp Đại Thừa thì cần thật hành hạnh bồ tát. Vì sao? Vì theo Đại Thừa Giáo khi thọ Cụ Túc Giới là phải thọ Bồ Tát giới xuất gia. Nếu không thọ Bồ Tát giới coi như vị đó tu theo hạnh Thanh Văn Thừa. Nếu ai muốn có quả vị Bồ Tát thì trước hết phải gieo nhân Bồ Tát, cũng giống như chúng ta gieo hột giống cây nào thì sẽ hái quả cây đó.

1)  Bố thí cúng thí :  Người mà có tâm niệm cúng thí, bố thí thì độ, trừ được xan tham, bỏn sẻn nhưng việc làm này làm sao cho được rốt ráo chứ đừng bố thí để gọi là có tên, như vậy việc làm của mình chỉ cầu chút ít phước báo hữu lậu thì không làm sao đưa đến chỗ Ba La Mật cho được. Bố thí có ba cách:

1- Tài thí : Là chúng ta đem tịnh tài bố thí cho chúng sanh được an cư lạc nghiệp.  Tài thí có hai  loại : Đó là nội tài ngoại tài.

a- Nội tài là đem những gì trong thân thể mình như : Mắt, tim, gan, phổi, máu ra bố thí cho người khác đó gọi là nội tài. Điều này khó thực hiện được khi chúng ta còn sống, nhưng chúng ta làm được khi vừa mới tắt thở, có nghĩa là khi còn sống đã ký giấy cam kết cho những bộ phận trong thân thể khi mình vừa chết, giúp cho người khác được sống như trường hợp ghép tim, ghép thận . v.v ...

b- Ngoại tài là đem tiền bạc vật dụng ra bố thí cho người nghèo khó thì đó là ngoại tài, thí cho đến nổi không thấy mình là người bố thí, không thấy của bố thí có nhiều hay ít mà cũng không biết người thọ thí đó là ai, được như vậy mới gọi là rốt ráo đến chỗ ba la mật.

2) Pháp thí : Là đem giáo pháp ban bố cho các tầng lớp người, vì sau khi nghe một thời pháp chúng ta có thể chuyển tâm phiền não thành tâm bồ đề, được sống an lạc, sống hạnh phúc ngay hiện đời này. Cao hơn nữa là chuyển con đường mê lầm đi sang con đường sáng suốt giác ngộ, giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử khổ đau vĩnh viễn muôn kiếp, chuyển phàm thành Thánh.

3) Vô úy thí : Ở trên đời này có nhiều cái khổ, nghèo cũng khổ, giàu cũng khổ, đau cũng khổ và chết cũng khổ, cho nên con người chúng ta luôn luôn lo sợ đủ mọi mặt. Người học Phật cần nên làm sao giúp cho chúng sanh không còn cái lo sợ như vậy, mình phải chinh phục sanh tử. Nói đến tử  tức là chết, thì ai ai cũng đều lo âu buồn chán, vì thế người xuất gia cần phải học Phật pháp cho đến nơi đến chốn, để đem những giáo pháp đặc biệt của Đức Phật mà giảng lại cho người đời đừng có tâm sợ sệt, lo âu nữa. Do đó có câu :

    "Tài, pháp nhị thí, đẳng vô sai biệt,

    Đàn ba la mật, cụ túc viên mãn".

Chúng ta đừng phân biệt tài thí với pháp thí.  Phải xem hai loại bố thí này bình đẳng ngang nhau. Nếu bố thí mà đi đến chỗ ba la mật là được cụ túc viên mãn, tức là đầy đủ. Như trong kinh có dạy : "Tất cả những phẩm vật cúng dường lên chư Phật Hiền Thánh Tăng và Hiện Tiền Tăng, chỉ có cúng dường giáo pháp là hơn hết" vì gíáo pháp của chư Phật có khả năng giáo hóa, hoán chuyển cho tất cả chúng sanh. Vì vậy người xuất gia phải cố gắng học hỏi cho thông suốt kinh, luật, luận. Kinh, Luật và Luận là ba kho tàng quý báu của Đạo Phật. Được như thế mới là pháp cúng dường tối thắng.

2- Trì giới : Trì giới là độ hủy giới, hoặc độ phá giới. Gìn giữ giới như gìn giữ viên minh châu, hoặc tròng con mắt. Trì giới ba la mật nằm trong ba yếu tố chánh bên Đại Thừa. Đó là :

a- Nhiếp luật nghi giới : Không có việc thiện nhỏ nào mà mình bỏ qua.

b- Nhiếp thiện pháp giới : Không có việc lành nào dù nhỏ mà mình không làm.

c- Nhiêu ích hữu tình giới : Bất cứ làm việc gì, luôn luôn phải nghĩ đến sự lợi ích cho chúng sanh và phải làm sao cho chúng sanh nhận được  trong chính họ có mang viên Ma Ni Bửu Châu (đó là phật tánh). Ba điểm này cũng giống trong ba câu,

 "Nguyện đoạn nhất thiết ác,

Nguyện tu nhất thiết thiện,

Nguyện độ nhất thiết chúng sanh".

mà mỗi ngày độ ngọ chúng ta đều phải nhớ đọc.

3) Nhẫn nhục : Nhẫn nhục ba la mật là độ sân hận, giận tức. Người nào có lòng nhẫn nhục là không bao giờ sân hận, nhưng thật rất khó làm. Vì thế trong kinh có câu.

"Nhất niệm sân tâm khởi,

Bá vạn chướng môn khai".

Khi một niệm sân giận nổi lên thì có đến trăm muôn cửa chướng ngại theo sau. Cũng như chúng ta thường hay nghe "Vi phiền não chi căn. Thị tam đồ chi quả". Giận là cái gốc phiền não, đây là quả khổ trong ba  đường, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cho nên người con Phật, Thích Tử, Thích Nữ phải dẹp cho được cái giận tức buồn phiền này thì tu rất là mau tiến. Không ai có thể dẹp cho mình, chỉ có mình mới tự làm được mà thôi. Nhưng muốn dẹp bỏ cái giận tức này thì trước tiên cần phải tu hạnh nhẫn nhục ba la mật. Nhẫn cho đến khi nào không còn thấy mình nhẫn đó mới gọi là ba la mật, cũng như chúng ta sống hàng ngày đây có ba nghiệp mà cần phải nhẫn đó là : ý nghĩ, lời nói và hành động.  Thánh nhân có câu :

"Nhẫn, nhẫn, nhẫn trái chủ oan gia tùng thử tận"

Thân, miệng, ý nhẫn thì bao nhiêu trái chủ oan gia nghiệp báo đều tiêu hết

"Nhiêu, nhiêu, nhiêu, thiên tai vạn họa nhất tề tiêu"

Thương, thương, thương ngàn tai muôn họa theo đó mà tiêu tan.

"Mặc, mặc, mặc, vô hạn thần tiên tùng thử đắc"

Lặng, lặng, lặng, đừng phát động nổi lên để cho tâm hồn trở lại sống với cảnh thần tiên.

Cho nên trong kinh Phật có dạy: "Ba nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương".

4) Tinh tấn : Người có tinh tấn thì độ được biếng nhác, trễ nải. Phải luôn luôn tinh tấn trong tâm hồn mình, lúc nào cũng phải tinh tấn hành đạo, học đạo, đừng bao giờ cho nó giải đãi.  Cái nghiệp biếng nhác này đã ăn sâu  gốc rễ từ vô thỉ tới bây giờ. Trong kinh phật có dạy ba cách tinh tấn đó là:

a) Bị giáp tinh tấn,

b) Gia hạnh tinh tấn,

c) Vô hỷ túc tinh tấn.

a) Bị giáp tinh tấn là như thế nào? Giống như người ra mặt trận lúc nào cũng mặc áo giáp để bảo vệ thân mạng, coi như ngày nào cũng phải chống lại quân giặc. Thí dụ như, mỗi buổi sáng tới giờ công phu chúng ta hay bị bệnh nhức đầu, đau bụng, đó là con ma phiền não, con ma làm biếng nổi lên, xui khiến cho tâm giải đãi không tu không học, ngay lúc đó chúng ta phải làm sao chiến thắng nó, hàng ngày, hàng giờ, hàng phút mới được ca khúc khải hoàn !

b) Gia hạnh tinh tấn : Là gia công tấn hạnh tinh tấn siêng năng luôn luôn làm sao mỗi ngày mỗi đi lên, cũng như Đức Phật dạy người xuất gia chúng ta mỗi nửa tháng cạo tóc một lần. Cạo tóc đây có nghĩa là cạo những phiền não trọng trược đã theo chúng ta từ vô thỉ kiếp.

c) Vô hỷ túc tinh tấn : Không bao giờ vui mừng cho việc tu tập của mình là đủ, thí dụ như có những vị đồng ấu xuất gia khoảng 8, 9 tuổi đến hơn 40 tuổi thì đã cho đó là tu đủ rồi không chịu tinh tấn thêm lên. Như vậy là không được, vì vô hỷ túc tinh tấn là không bao giờ thấy là đủ, cho đến khi nào nhận chân được món quà Vô Thượng Chánh Đẳng, Chánh Giác, chừng đó mới là hỷ túc tinh tấn. Làm sao cố gắng giữ cho được ba món tinh tấn này đừng cho lui sụt. Vì thế mà chư Hiền nhơn dạy chúng ta bằng những câu thơ như sau:

"Trên đường đạo không gì bằng tinh tấn,

Không gì bằng trí tuệ của đời ta,

Sống điêu linh trong kiếp sống Ta Bà,

Chỉ có tinh tấn là vượt qua tất cả".

5) Thiền định : Tâm của chúng ta có thiền định ba la mật thì mới độ được tán loạn, phải làm sao cho tâm mình định đến khi nào không còn thấy mình định mới thôi. Người mà tâm ý tán loạn thì không làm cách nào để đạt được đạo, không làm sao phát sanh trí tuệ, bởi vì nhơn định mà phát huệ, mới ngõ hầu thành tựu được thánh đạo; khỏi cô phụ chí hướng xuất gia của mình. Ngài Khổng Tử cũng có nói tâm mình lúc nào cũng giữ định tĩnh luôn luôn để "Lập thân hành đạo, dương danh ư hậu thế, dĩ hiển kỳ phụ mẫu, hiếu chi thỉ dã". Có nghĩa là tự mình phải hành đạo, cho đắc đạo để lại tiếng thơm cho đời sau, để làm rạng danh đến cha mẹ sanh mình đó là trả hiếu vậy. Vì thế mà thầy mong muốn sao cho Tăng Ni lúc nào cũng sống trong thiền định, để hoằng truyền chánh pháp, đền trả ơn sâu chư Phật, chư Tổ.

6) Bát nhã ba la mật : Khi có bát nhã ba la mật là độ được vô minh. Hễ có ánh sáng thì làm sao có bóng tối, cho nên tâm hồn lúc nào cũng sáng suốt cho đến không còn thấy mình sáng suốt đó mới gọi là Bát nhã ba la mật. Phần này chia làm ba thể thức.

a- Bát nhã vô phân biệt gia hạnh :  Dùng trí bát nhã của mình ra làm phật sự, không phân biệt làm nhiều làm ít, chuyện cần làm phải làm vì lợi ích chúng sanh, không còn suy tính. Cứ lấy trí bát nhã ra sử dụng, luôn  luôn phải gia hạnh tinh tấn.

b- Bát nhã vô phân biệt : Lúc nào mình cũng sống với trí bát nhã là không bao giờ sai. Đôi khi còn có những chuyện phải hàng phục chúng sanh, mình phải tỏ ra buồn phiền giận tức la lối lớn tiếng, nhưng nó vẫn nằm trong Bát Nhã Thánh Trí (Trường hợp này chỉ sử dụng cho người khi mà hạt giống phiền não không còn nữa; chỉ còn lại hạt giống Bát Nhã Thánh Trí).

c- Bát nhã vô phân biệt hậu đắc : Lấy trí sáng của mình tu học cho đến khi nào đạt được hậu đắc trí. Hậu đắc trí này đã sẵn có trong mỗi chúng ta, là trí sau của căn bản trí nhưng lâu ngày bị lu mờ, bây giờ mình phải làm sao giải tỏa sự lu mờ đó đi thì ánh sáng bát nhã hậu đắc trí sẽ hiện ra, đây là trí tuệ hoàn toàn sáng suốt tối hậu để giác ngộ. Cũng như Đức Thích Ca nhờ có căn bản trí cho nên trong thời gian tu lục niên khổ hạnh và sau thời kỳ thiền định 49 ngày dưới cội bồ đề thì Ngài mới đạt được cái trí hậu đắc.

7) Phương tiện ba la mật : Là để độ lòng người cố chấp, vì trên đời này không có gì là tuyệt đối, mà muốn lợi ích cho chúng sanh thì cần phải có phương tiện, vì người đời hay chấp ngã, chấp pháp, chấp danh ngôn, chấp thân này cho là thiệt có cho là thường còn, vì thế mới có ba loại phương tiện để độ những cái chấp này :

1- Đại từ bi phương tiện : Lúc nào cũng dùng tâm đại từ, đại bi của mình nhưng phải có một chút phương tiện trong đó, đặng giúp cho người đời dễ hiểu, và họ trở lại tâm bình thường.

2- Đại giác ngộ phương tiện : Đây là phương tiện trong sự đại giác ngộ, chứ không phải giác ngộ trong sự mê lầm, nếu mình không hiểu biết mà vẫn cố làm thì sẽ đi sai chánh pháp.

3- Chuyển pháp luân bát nhã phương tiện : Dùng bánh xe pháp để giáo hóa không bao giờ thoái chuyển, giống như chuyển pháp luân bất thoái phương tiện (dù gặp chuyện khó khăn gì cũng đừng nản lòng) mình phải làm sao cố gắng cho phương tiện này trở thành ba la mật thì mới không lay chuyển tâm bồ đề.

8) Nguyện ba la mật : Là độ tâm tham dục của chúng sanh của chính hành giả cho nên mới có bài thơ :

"Vui trong tham dục vui là khổ,

Khổ để tu hành khổ quá vui,

Nếu biết có vui là có khổ,

Thà rằng đừng khổ cũng đừng vui,

Mong sao giữ tánh không vui khổ,

Mới thoát ra ngoài lối khổ vui".

Người tu hành muốn có tánh 'cũng đừng vui cũng đừng khổ', thì phải phát nguyện tu hành ba la mật "Tu hành vô nguyện, đạo quả nan thành" . Tu hành mà không có phát nguyện thì đạo quả khó thành tựu, nguyện ba la mật có ba điểm :

1- Chí thành tâm nguyện : Phàm làm việc gì phải đem hết lòng thành để nguyện (chứ không phải nguyện như cái máy nói, nói xong thì ngừng nghĩ).

2- Thâm tâm nguyện : Đem cái tâm sâu sắc vững vàng đi tới, tiến tới luôn luôn để đến chỗ rốt ráo.

3- Hồi hướng phát tâm nguyện : Nghĩa là làm được cái gì cũng đều phát tâm nguyện hồi hướng cho chúng sanh, nếu muốn cho bản nguyện của mình trở thành ba la mật thì cần phải nhớ vào, bốn câu thệ nguyện mà mỗi buổi ăn sáng Tăng, Ni  đều đọc tụng :

Tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ,

Tự tánh phiền não thệ nguyện đoạn,

Tự tánh pháp môn thệ nguyện học,

Tự tánh phật đạo thệ nguyện thành.

Bốn câu trên đây thuộc về lý phát nguyện :

Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Bốn câu này thuộc về sự phát nguyện, mỗi ngày chúng ta dứt bỏ một chút để hành theo lý và sự cho đúng pháp của chư Tổ lưu truyền là đặng thành chánh quả.

9) Lực ba la mật : Độ tánh yếu hèn của mỗi người, vì đây là sức mạnh của khả năng từng cá nhân một, tất cả mọi người ai cũng có khả năng riêng biệt của chính mình. Lực này có đến năm (5) loại là:

a- Tín lực : Sức mình tin tưởng là mình sẽ làm được những chuyện mà bản thân mình muốn làm, nhờ có lòng tin nên mới thành công.

b- Tấn lực : Một sức tinh tấn luôn luôn dõng mãnh trên con đường tu học và con đường hoằng pháp lợi sanh.

c- Niệm lực : có một sức mạnh suy nghĩ sao cho việc tu, việc học và hành đạo của mình luôn luôn trong chánh niệm .

d- Định lực : Dù cho trời long đất lở, chúng ta lúc nào cũng giữ chánh định tự nhiên  không lo sợ không hoảng hốt ...

e- Huệ lực : Đây là sức trí huệ ba la mật, trí huệ kim cương, mình phải đạt cho được cái đó. Mà muốn đạt cho kỳ được cái huệ lực, chúng ta phải thực hành cho đủ ba yếu điểm là :

1- Giới lực ba la mật : Sức giữ giới cho được rốt ráo nghiêm minh.

2- Định lực ba la mật : Sức thiền định cho được rốt ráo. Đi, đứng, nằm, ngồi đều phải có định lực dù cho sắp chết cũng phải có định lực, nhờ như vậy mà thần thức được sáng suốt, an nhiên tự tại.

3- Huệ lực ba la mật : Sức điện trí tuệ Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa bao trùm cả trong và ngoài ba ngàn đại thiên thế giới.

10) Trí ba la mật : Có tầm mức trung trí tuệ, chưa phải là đại trí tuệ, nhưng có thể độ được tánh ngu si.  Đầu tiên cần phải có nhất thiết trí, tất cả mọi sự gì mình đang sống đây phải tự giác. Kế tiếp là đạo chủng trí, trí tuệ này liên quan mật thiết đến muôn loài chúng sanh, người đạt được đạo chủng trí thì có giác tha hoàn toàn.

Cuối cùng đến nhất thiết chủng trí, tất cả những chuyện thế gian cho đến siêu xuất thế gian trong vũ trụ ngoài vũ trụ đều hiểu biết hết, thì sẽ được giác hạnh viên mãn. Sau đây là một bài thơ về trí tuệ :

"Tâm trí tuệ thinh thinh rộng lớn,

Sáng trong ngần chẳng bợn mây trần,

Làu làu một tánh thiên chân,

Bao trùm muôn loại chẳng phân thánh phàm..."

                                                   

---o0o---

[ Mục Lục ] [ 01] [02] [03]

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01-03-2005


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544